b Phạm vi nghiên cứu: Hình thức trình bày về cách sử dụng trợ từ [WAは] và [GAが] trong tiếng Nhật trong luận văn này không phải là toàn bộ cách sử dụng của hai trợ từ.. Phương pháp ngh
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những thị trường nhận được sự quan tâm đặc biệt của các doanh nhân Nhật Bản Tính từ đầu năm 2012 đến nay, trong số 32 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư mới vào 31 tỉnh, thành phố của Việt Nam, Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu với số vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,86 tỷ USD, chiếm 67,1% tổng vốn đầu tư mới vào Việt Nam
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã kêu gọi giới doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ hiện còn yếu kém và cam kết xây dựng một vài khu công nghiệp dành riêng cho các doanh nghiệp Nhật Bản Chính điều này cùng với việc đồng yên tăng giá đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản ồ ạt tiến vào thị trường Việt Nam với qui mô bình quân đầu tư 8,8 triệu USD/dự
án
Nhờ việc thực hiện các chính sách mời gọi đầu tư hợp lý, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến hàng đầu trong danh sách lựa chọn của các doanh nghiệp Nhật Bản trong năm 2011 với tổng kim ngạch đầu tư là 1,84 tỷ USD
Đặc biệt, sau khủng hoảng động đất, sóng thần hồi tháng 3/2011, Chính phủ Nhật
Bản tập trung tái thiết đất nước và định hướng các doanh nghiệp trong nước mở rộng đầu tư ra nước ngoài, quan tâm hơn cả đến thị trường châu Á, trong đó có Việt Nam,
tạo ra tác động lan tỏa sâu rộng đối với nền kinh tế
Nhiều năm nay, Nhật Bản không chỉ nằm trong tốp các nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất,
mà còn là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam Điều này cho thấy quan hệ
Việt Nam và Nhật Bản đã trở nên khăng khít, mật thiết hơn bao giờ hết Tình hình quốc
tế cũng như trong khu vực đã có nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước ngày một sâu sắc hơn
Trang 2Với nền kinh tế đang trên con đường phát triển và mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Nhật Bản đã thu hút số lượng người Việt Nam theo học tiếng Nhật tăng lên
Để có thể am hiểu ngôn ngữ quốc gia nói chung và Nhật ngữ nói riêng thì trước hết ngữ pháp và từ vựng là hai yếu tố không thể thiếu
Để học tốt tiếng Nhật ngoài việc học nhiều từ và ngữ pháp thì việc học trợ từ đóng một vai trò rất quan trọng Chúng ta biết được ý nghĩa của câu thông qua từ và ngữ pháp nhưng để hiểu đúng ý nghĩa đó thì phải dựa vào trợ từ
Trong đó [WA(は)]và [GA(が)] là hai trợ từ mặc dù có cùng nghĩa và có thể thay thế cho nhau nhưng khi sử dụng thì ý nghĩa của câu sẽ bị thay đổi Trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] đi sau danh từ đóng vai trò làm chủ ngữ Trong một câu có hai chủ ngữ thì yêu cầu sử dụng chính xác hai trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] là điều cần thiết để hiểu đúng ý nghĩa của câu
Là sinh viên trường Đại học Lạc Hồng, khoa Đông Phương Học, chuyên nghành Nhật Bản học Người viết nhận thấy tầm quan trọng của hai trợ từ [WA(は)] và
[GA(が)] do đó người viết muốn tìm hiểu về hai trợ từ này và điều kiện để thành lập một câu có sử dụng [WA( は)]và [GA(が)]
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
- Tài liệu tiếng Việt về đề tài gồm có:
Giang Thị Thanh Nhã, Ban Biên tập trường Đại Học Ngoại Ngữ- Đại học Quốc Gia
Hà Nội (2007), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế nghiên cứu và dạy- học tiếng nhật,
Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội, tập hợp các đề tài nghiên cứu trong đó có đề tài nghiên cứu về trợ từ [WA(は)]và [GA(が)]
Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt,Nhà xuất bản Giáo Dục là cuốn sách giới
thiệu về các loại từ, đặc điểm cấu tạo và chức năng cũng như ý nghĩa của các loại từ
Trang 3Hoàng Văn Hành (chủ biên), Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang (2008), Từ tiếng
việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam – viện ngôn ngữ học, nhà xuất bản Văn Hóa
Sài Gòn viết về từ và cấu trúc từ trong tiếng Việt
-Tài liệu tiếng Nhật về đề tài gồm có:
野田尚史 (1985,2005), “日本語文法セルフ.マスターシリーズ1はとが”, くろしお出版 khái quát về cách sử dụng trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] và có các bài tập
Mục tiêu thứ hai là tóm tắt, giải thích ý nghĩa rõ ràng, hình thức sử dụng trợ từ
[WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật, giúp người học sử dụng chính xác từng tình huống
Mục tiêu thứ ba là so sánh, đối chiếu tìm ra những điểm tương đồng - khác biệt giữa hai trợ từ Việt- Nhật về đề tài này
b) Phạm vi nghiên cứu:
Hình thức trình bày về cách sử dụng trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật
trong luận văn này không phải là toàn bộ cách sử dụng của hai trợ từ Người viết chỉ đề cập đến những cách sử dụng cơ bản trong những trường hợp cụ thể
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này với mục đích “Tìm hiều về trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật” người viết đã sử dụng một số phương pháp sau đây:
- Thống kê: Từ những tài liệu tìm được (sách, báo, tạp chí,…) người viết thống kê và
sắp xếp những hàng mục
- Phương pháp phân tích: phân tích chức năng và ý nghĩa của hai trợ từ [WA(は)] và
[GA(が)]
- Phương pháp so sánh, đối chiếu : So sánh chức năng và ý nghĩa của hai trợ từ
[WA(は)] và [GA(が)] với trợ từ “ thì” trong tiếng Việt
5 Những đóng góp của đề tài
Khái quát lại về định nghĩa, đặc điểm, cấu tạo, chức năng, vai trò, giải thích ý nghĩa
rõ ràng và hình thức sử dụng trợ từ [WA(は)] và [ GA(が)] trong tiếng Nhật, giúp người học sẽ có thêm kiến thức về hai trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] để hiểu đúng ý nghĩa trong câu và sử dụng chính xác từng tình huống
6 Cấu trúc của đề tài
Chương I: Giới thiệu về trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] tiếng Nhật
Chương II: Hình thức sử dụng [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật và điều kiện
thành lập một câu vừa sử dụng [WA(は)] và [GA(が)]
Chương III: Một số giải pháp về cách học trợ từ trong tiếng Nhật
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Giới thiệu về trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật
Chương II: Hình thức sử dụng trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật và
điều kiện thành lập một câu vừa sử dụng [WA(は)] và [GA(が)]
Chương III: Một số giải pháp về cách học trợ từ trong tiếng Nhật
Trang 6CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ TRỢ TỪ [WA(は)] VÀ [GA(が)] TRONG TIẾNG NHẬT
Trang 71.1 Định nghĩa trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật
Trợ từ tiếng Nhật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện tính chắp dính và
có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngữ pháp tiếng Nhật Có thể nói, mọi ý nghĩa ngữ pháp, ngữ dụng… đều được thể hiện bằng trợ từ Xét một cách tổng quát thì trợ từ tiếng Nhật là những phân từ đánh dấu chức năng ngữ pháp hay biểu thị các kiểu quan hệ ngữ nghĩa của các từ mà chúng đi kèm trong câu Có thể nói, đặc trưng loại hình cơ bản của tiếng Nhật được thể hiện rõ nhất qua sự có mặt của các trợ từ và hoạt động tích cực của chúng trong câu Trợ từ tiếng Nhật có những đặc điểm cơ bản sau:
- Về hình thức, trợ từ là những từ có hình thức tương đối ngắn (từ 1 đến 4 âm tiết)
- Về mặt ý nghĩa, trợ từ khác với danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ… ở chỗ
chúng không có ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa thực để biểu thị tên gọi, biểu thị hoạt động, trạng thái hay tính chất và số lượng của sự vật hay ý nghĩa xưng hô, chỉ định thay thế tên gọi của sự vật… Tuy nhiên, không thể coi chúng là những từ hoàn toàn trống nghĩa
Ý nghĩa cơ bản của trợ từ là biểu thị quan hệ, tuỳ theo vị trí của chúng trong câu và các
từ loại mà chúng đi cùng
- Về chức năng, trợ từ tiếng Nhật không có khả năng làm trung tâm của cụm từ hay làm thành phần chủ ngữ và vị ngữ trong câu Trợ từ chủ yếu biểu hiện ý nghĩa ngữ Pháp, các quan hệ ngữ pháp, xác định vị trí của các thành phần câu
- Trong câu, trợ từ không có khả năng đứng độc lập mà luôn tồn tại bên cạnh một từ nào đó, như cái “nhãn” của nó Chính nhờ có trợ từ mà trật tự từ của các thành phần câu – trừ vị ngữ - là tương đối tự do Sự thay đổi vị trí của các thành phần câu không làm ảnh hưởng đến ý nghĩa cơ bản của câu Nói chung, vị trí của trợ từ thay đổi, chức năng ngữ pháp và chức năng ngữ nghĩa cũng thay đổi
- Về loại, trợ từ tiếng Nhật có nhiều loại, với những chức năng khác nhau Dựa trên tiêu chí hình thức (vị trí của trợ từ trong câu) và tiêu chí chức năng (khả năng kết hợp với các từ loại nào), trợ từ được chia thành nhiều nhóm khác nhau
Trang 8[WA(は)] nghĩa là "thì" trong tiếng Việt là trợ từ đi sau danh từ đóng vai trò làm chủ ngữ trong câu, là một trợ từ có nhiều chức năng được dùng để chỉ một người hay sự việc đã được giới thiệu từ trước mà người nói lẫn người nghe đều quen thuộc (danh từ, tên ) dùng để chỉ những thông tin, giải thích, thực tế, phong tục có thể dùng với những trợ từ như [NI(に)], [DE(で)], [KARA(から)], [MADE(まで)] (hai trợ từ) để làm nổi rõ Ngoài ra [WA(は)] còn có thể dùng thay trợ từ [O(を)] để nhấn mạnh đối tượng
[ GA(が)] có thể dịch là “về phần ” hay “ Nói về…” được dùng khi tình trạng hay
sự việc mới vừa xảy ra hay mới được giới thiệu.Chủ đề có thể là bất cứ gì mà người đối thoại muốn nói, thường dùng cho quán ngữ (cụm từ được dùng theo thói
quen).Trong tiếng Nhật trợ từ [ GA(が)] có thể thay thế trợ từ [WA(は)] và làm cho ý nghĩa của câu thay đổi
1.2 Đặc điểm cấu tạo và chức năng của trợ từ[WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng
Nhật
1.2.1 Đặc điểm cấu tạo của trợ từ [WA(は)] và [ GA(が)] trong tiếng Nhật
[WA(は)] nghĩa là "thì" trong tiếng Việt, là trợ từ hay được dùng đệm cho trạng từ thời gian (ví dụ thay vì nói [ima(今)] thì dùng [ima wa (今は)] ", trạng từ nơi chốn ví
dụ thay vì nói [ ベトナムで( Betonamu de)] thì nói [ベトナムでは( Betonamu deha)]
và dùng cho nhiều trường hợp khác, được dùng trong câu kể và nhấn mạnh chủ thể và cụm từ đứng trước nó có cấu trúc như sau:
[Chủ thể] [WA(は)] [tính chất]/[hành động]
Trong trường hợp đưa đối tượng lên để nhấn mạnh, thì chủ thể sẽ được theo sau bởi trợ từ [GA(が)] có sự kết hợp giữa trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] để nhấn mạnh đối tượng cũng giống như tiếng Việt cũng đảo đối tượng lên trước để nhấn mạnh (thường dùng trợ từ "thì"), sẽ có cấu trúc sau:
Trang 9Câu thông thường:
[Chủ thể] [WA(は)] [đối tượng] [O(を)] [hành động]
Câu nhấn mạnh:
[Đối tượng] [WA(は) [chủ thể] [GA(が)] [hành động]
Chúng ta có thể thấy, trong tiếng Việt, đảo đối tượng lên để nhấn mạnh thường là trong câu hỏi hoặc sử dụng khi đang nối tiếp nội dung từ trước đó
Trong tiếng Nhật chủ ngữ ngôi thứ nhất trong câu khẳng định được ẩn đi do đó trợ từ cũng được ẩn theo chủ ngữ
(Chủ thể ẩn) [vế câu làm đối tượng của hành động] [O(を)] [hành động] [GA(が)] được dùng trong câu trả lời cho một câu hỏi về chủ thể và sử dụng trong câu có dạng sau:
[chủ thể] [GA(が)] [tính chất]/[hành động] {koto/mono}
1.2.2 Chức năng của trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật
1.2.2.1 Chức năng của trợ từ [WA(は)]
a) Một trong những chức năng cơ bản của [ WA(は)] là biểu hiện chủ ngữ trong câu Chủ ngữ là phần giới hạn phạm vi( đối tượng) muốn trình bày trong câu Sau chủ ngữ
Trang 10Trợ từ [WA(は)] trong câu 1 được dùng trong trường hợp khi người nghe muốn biết thông tin về “ những đứa trẻ” thì người nói sẽ thông báo cho người nghe biết “ những đứa trẻ đang làm gì” hoặc là “ những đứa trẻ đang làm món gì”
Mặt khác trợ từ [WA(は)] dùng trong câu 2 trong trường hợp người nghe muốn biết về món cà ri thì người nói thông báo “ món cà ri như thế nào” hoặc là “ ai đã làm món cà ri”
Như vậy [WA(は)] là chủ ngữ chỉ thị hoàn toàn độc lập với cách chỉ thị của trợ từ [GA(が)] và [O(を)] Vì vậy điều cơ bản ở đây cho dù danh từ nào đi nữa thì nó Cũng có thể trở thành chủ ngữ của câu
Ví dụ: (Kodomotachi wa) trong câu số 1 danh từ chỉ chủ thể của hành động
(kodomota chi) là chủ ngữ (Kare-wa) trong câu số 2 danh từ chỉ đối tượng của hành động (kare-) cũng trở thành chủ ngữ
Khi phân tích như vậy ta thấy [WA(は)]là trợ từ biểu hiện chủ ngữ trong câu khác với [GA( が)] và [O( を)] biểu thị vế câu
b) Chức năng thứ hai của [WA(は)] là có ý nghĩa so sánh
[WA(は )] là trợ từ chỉ ra chủ ngữ trong câu nhưng không nhấn mạnh chức năng biểu thị chủ ngữ mà nhấn mạnh ý so sánh
Ví dụ 3:子供たちはカレーは 作っているがごはんはんは 炊いていない。
(kodomotachi wa kare- wa tsukutteiru ga gohan wa taite inai)
Cà ri thì bọn trẻ nấu nhưng cơm lại không nấu
Ví dụ trên ta cảm thấy người nói muốn nhấn mạnh ý so sánh( kare- )với (gohan)
Ta có cấu trúc so sánh sau đây:
…… A [WA(は )] X keredo, B [WA(は )] Y
A và B trong câu 4 đều thuộc thành phần giống nhau còn X và Y chỉ những động tác
và trạng thái đối lập như “ nấu” , “ không nấu”, cấu trúc [ A wa X] và [ B wa Y] được nối với nhau bằng các từ [KEDO(けど)],[GA(が)]
Trang 11Tức nhiên ý nghĩa so sánh được nêu ra không chỉ bị giới hạn trong cấu trúc 4 Ví dụ trong câu 5 (kare-wa) có ý nghĩa so sánh
Ví dụ 5: 子供たちはカレーは作っています。 ( kodomotachi wa kare- wa tsukutte imasu)
Cà ri thì bọn trẻ đang làm
Khi nghe câu này thì người nghe vẫn hiểu được nghĩa của câu ngoài cà ri ra thì bọn trẻ không làm món nào khác.Ngoài ra , so với câu khẳng định thì trợ [WA( は)] thường được dùng trong câu phủ định hơn
Bọn trẻ không nấu cà ri
Trong câu 8 và 9 là câu phủ định nhưng câu 8 sử dụng [WA(は ) là một câu bình
thường , trợ từ [WA( は )] được sử dụng trong câu phủ định như câu 8 có ý nghĩa so sánh “ Không làm cà ri nhưng lại làm những món khác” Tuy nhiên trợ từ [WA( は)] được sử dụng trong câu khẳng định như câu 7 nhiều khi ta không cảm thấy nó nhấn
Trang 12mạnh ý so sánh.Do đó chức năng của [WA(は )] không nhấn mạnh nhiều đến chủ ngữ nhưng lại nhấn mạnh ý phủ định
1.2.2.2 Chức năng của trợ từ [GA(が)]
[WA(は)] là trợ từ biểu hiện chủ ngữ trong câu nhưng [GA(が)] là trợ từ biểu thị
thành phần chính của vị ngữ [WA(は)] và [GA(が)] vì có mức độ hoàn toàn khác nhau nên có lẽ không có quan hệ đối lập với nhau Tuy nhiên trong thực tế nó lại có
quan hệ đối lập
Ví dụ 10:八木はホームラン打った。 (hachiki ha ho-muran utta)
(Hachiki wa) trong câu 10 biểu hiện chủ ngữ trong câu, đồng thời( hachiki wa)là thành phần chính biểu hiện chủ thể của động tác [WA(は)] không phải là trợ từ biểu hiện cấu tạo chính nhưng trong câu này (hachiki wa) đối với động từ (utsu) thì nó là thành phần cấu tạo chính [WA(は)] không phải là trợ từ biểu thị thành phần chính một cách chủ động nhưng trong câu 10 này ( hachiki wa) đối với động từ ( utsu) nó là thành phần chính còn (Hachiki ga) trong câu 11 thì nó sẽ như thế nào?
Ví dụ 11: 八木がホームランを打った。 (Hachiki ga ho-muran o utta)
(Hachiki ga) chỉ ra thành phần chính của ( utsu) đồng thời (hachiki ga) này cũng biểu hiện nó không phải là chủ ngữ của câu
Tóm lại sử dụng (hachiki ga) này vì nó không biểu hiện chủ ngữ (hachikiwa) Với ý nghĩa như vậy thì [GA(が)] của (hachimoku ga) biểu thị nó không phải là chủ ngữ của câu
Do đó (hachiki wa) của câu 10 và (hachiki ga) câu 11 có điểm một chung là chúng đều là thành phần chính của động từ (utsu) nhưng có sự đối lập giữa (hachiki wa) là chủ ngữ của câu còn (hachiki ga) không phải là chủ ngữ của câu.Vì vậy sự đối lập giữa chủ ngữ và không phải chủ ngữ, không chỉ có [WA( は ) và [GA(が )] mà (ho-muran wa) của câu 12 và (ho-muran o) của câu 13 có điểm một chung là chúng đều là
Trang 13thành phần chính của động từ (utsu) nhưng đối lập nhau về chủ ngữ và không phải chủ ngữ
Ví dụ 12:ホームランは 八木が打った。(ho-muran wa hachimoku ga utta)
Ví dụ 13.ホームランを八木が打った。(ho-muran o hachiki ga utta)
Ví dụ 14: 昨日の試験では 八木がホームランを打った。(kynou no shiken dewa
hachiki ga ho-muran o utta)
Ví dụ 15: 昨日の試験で 八木がホームランを打った。 ( kynou no shiken dehachiki ga ho-muran o utta)
Chủ ngữ (kynou no shikenn dewa) và ( kynou no shiken de) không phải là chủ ngữ
có sự đối lập nhau, đây là sự đối lập giữa trợ từ [DEWA( では )] và trợ từ [DE(で )]
Sự đối lập này cơ bản là do các trợ động từ và bảng về sự đối lập đó như sau
[GA(が)] [O(を)] [NI(に)] [DE(で)] Chủ ngữ ―wa ―wa ―niwa ―dewa
Không phải
chủ ngữ
―ga ―o ―ni ―de
Sự đối lập như bảng trên là sự đối lập về cấu tạo, sự đối lập trên dưới là sự đối lập
về chủ ngữ và không phải chủ ngữ
Sự đối lập giữa [ -WA] và [ GA] giống như bảng trên mà chúng ta biết về cấu tạo của trợ từ [GA( が )] là sự đối lập giữa chủ ngữ và không phải chủ ngữ Nó có chung điều cơ bản sau:
Về trợ từ [O( を) có sự đối lập giữa [O(を )] không phải chủ ngữ và [WA(は)] là chủ ngữ Về trợ từ [NI(に)] có sự đối lập giữa [NI(に)] không phải chủ ngữ và
[WA(は)] là chủ ngữ Như vậy trợ từ [GA( が )] có chức năng biểu hiện danh từ đó nhưng không phải là chủ ngữ của câu
Trang 14CHƯƠNG II HÌNH THỨC SỬ DỤNG TRỢ TỪ [WA(は)] VÀ [GA(が)] TRONG TIẾNG NHẬT VÀ ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP MỘT CÂU
VỪA SỬ DỤNG [WA(は)] VÀ [GA(が)]
Trang 15Có thể nói “trợ từ” là một loại từ rất quan trọng và không thể thiếu trong tiếng Nhật
Mặc dù trợ từ tiếng Nhật là một tiểu hệ thống đã được phân định rõ ràng thành các nhóm chức năng khác nhau, chuyên biểu đạt các ý nghĩa ngữ pháp, ngữ dụng riêng biệt nhưng trong thực tiễn sử dụng thường xảy ra hiện tượng cạnh tranh, luân phiên thay thế cho nhau Để có thể phân biệt được trợ từ nào nên dùng trong trường hợp nào không phải là một việc dễ dàng, nhất là đối với những người mới học tiếng Nhật Trong số các trợ từ thì trợ từ [WA(は)] và trợ từ [GA(が)] là hai trợ từ được sử dụng nhiều nhất, đồng thời cũng dễ bị nhầm lẫn nhất
2.1 Hình thức sử dụng trợ từ [WA(は)] trong tiếng Nhật
Trong câu hỏi có các từ nghi vấn nằm ở phần vị ngữ như là [(dare) ai] [(nan) cái gì] [doko (ở đâu)] [itsu (khi nào)] [dore (cái nào)] [ikura (bao nhiêu)] [nan no (loại nào)] [dare (của ai)] [donna hito (người như thế nào)] thì trợ từ [WA(は)] được đặt sau chủ ngữ của câu hỏi và câu trả lời
Câu hỏi: あの人はだれですか。(Ano hito ha dare desu ka)
Người kia là ai vậy?
Câu trả lời: あの人は京都大学の山田先生です。(Ano hito hakyoutodaigaku
no Yamadasensei desu)
Người kia là thầy Yamada trường Đại học Kyoto
Trong câu hỏi ở phần vị ngữ có các từ nghi vấn đi cùng với trợ từ như : [Nani o] [dare ni] [dare to] [doko de] [nanji ni] [ikura de] [donnahon o] [donopasu ni] thì ta sẽ thêm trợ từ [WA(は)] sau chủ ngử của câu hỏi và câu trả lời
Trang 16Câu hỏi: [Chủ ngữ] [WA(は)] [Từ nghi vấn] [Trợ từ] [Động từ] [Ka]
Câu trả lời: [Chủ ngữ] [WA(は)] [Phần trả lời] [Trợ từ] [Động từ]
Ví dụ 17:
Câu hỏi: 山下さんはどんな音楽をよく聞きますか。( Yamashita san ha donna ongaku o yoku kiki masuka)
Anh Yamashita thường nghe nhạc gì vậy ?
Câu trả lời: 私はクラシック音楽をよく聞きます。( Watashi ha kurashikku ongaku
o yoku kiki masu )
Tôi thường nghe nhạc cổ điển
Ví dụ 18:
Câu hỏi: 山田さんは肉と魚とどちらをよく食べます。(Yamada san ha niku to sakana to dochira o yoku tabemasu ka)
Anh Yamada thịt với cá thì thường ăn cái nào?
Câu trả lời: 私は魚をよく食べます。(Watashi ha sakana o yoku tabemasu)
Tôi thường ăn cá
Trong ví dụ này (watashi ha) nhiều khi được bỏ đi
Trong câu hỏi có hai vị ngữ và buộc phải chọn một trong hai vị ngữ đó thì trợ từ [WA(は)] được đi sau chủ ngữ trong câu hỏi và câu trả lời
Câu hỏi: [Chủ ngữ] [WA(は)] [A ka] [B ka]
Câu trả lời: [Chủ ngữ] [WA(は)] [A/B ]
Ví dụ 19:
Câu hỏi: これはソースですか、しょうゆですか。(Kore ha so-su desu ka shouyu desu ka)
Cái này là nước sốt hay nước tương vậy ?
Câu trả lời: それはしょうゆです。(Sore ha shouyu desu)
Trang 17Cái đó là nước tương đấy
(Sore ha) trong câu này có thể lược bỏ
Trong câu hỏi muốn xác định phần vị ngữ của câu có chính xác hay không ta thường thêm trợ từ [WA(は)] vào sau chủ ngữ của câu hỏi và câu trả lời
Câu hỏi: [Chủ ngữ] [WA(は)] [Phần muốn hỏi] [Ka]
Câu trả lời: [Vâng/không] [Chủ ngữ] [WA(は)] [Phần trả lời]
Ví dụ 20:
Câu hỏi: このみかんはおいしいですか。(Kono mikan ha oishii desu ka)
Quả quýt này có ngon không ?
Câu trả lời: ええ、このみんかんはとてもおいしいです。(Ee, kono minkan ha totemo oishii desu)
Dạ, quả quýt này ngon lắm đó chị
Trong ví dụ này thì (kono mikan ha) có thể lược bỏ
Khi muốn truyền đạt một điều gì đó về chủ ngữ [watashi/ watashitachi ( tôi/Chúng tôi)] [anata (bạn)] [watashi/watashi no- (- của tôi/ của chúng tôi)] và [kore/sore/are (cái này/cái đó, cái kia) ] [koko/soko/asoko (Chỗ này/ chỗ đó/ chỗ kia)] thì ta thêm trợ
từ [WA(は)] vào sau chủ ngữ đó
Ví dụ 21: 私は今月の末までにこの論文を仕上げなければなりません。(Watashi
ha kongetsu no suemadeni kono ronbun o shiagenakerebanarimasen)
Tôi đến cuối tháng này phải hoàn thành xong bài luận văn
Ví dụ 22: これは200年ぐらい前の日本の地図です。(Kore ha nihyaku nen gurai mae no nihon no chizu desu)
Đây là bản đồ Nhật Bản 200 năm trước
Trong câu có chủ ngữ là danh từ giống với danh từ đưa ra trước đó hoặc danh từ thay thế như [kare (anh ấy)] [kanojo ( cô ấy)] [kore/sore ( cái này, cái đó)] [kono-/sono-
Trang 18(chỗ này, chỗ đó)] thì khi muốn truyền đạt một điều gì về chủ ngữ đó ta thêm trợ từ [WA(は)] vào sau chủ ngữ
Ví dụ 23: 日本で一番大きな湖は琵琶湖です。琵琶湖は京都府の東の滋賀県にあります。(Nihon de ichiban ookina mizuumi ha Biwako desu Biwako ha Kyoutofu no higashi no Shigaken ni arimasu)
Hồ lớn nhất ở Nhật là hồ Biwa Hồ Biwa nằm ở tỉnh Shiga phía đông phủ Kyoto
Ví dụ 24: 松本さんは今日はお休みですか。 ( Matsumoto san ha kyou ha
oyasumidesu ka)
Anh Matsumoto hôm nay nghỉ hả?
ええ、彼は ゆべ 交事故で入院したんです。(Ee, kare ha yube
koutsuujiko de nyuuin shitan desu)
Ừ, Vì tối hôm qua anh ấy bị tai nạn nên nằm viện rồi
Trong câu có chủ ngữ là một danh từ có quan hệ với danh từ đã được nói trước đó thì khi muốn truyền đạt điều gì về danh từ đó ta đặt trợ từ [WA(は)] sau chủ ngữ của câu
Ví dụ 25: 私には子供が2人います。うえの子は女で、去年結婚して今横浜に住んでいます。下のはおとこで、阪大の大学院で電気工学を勉強しています。(Watashi niha kodomo ga futari imasu Ue no ko ha onnade, kyounen kekkonshite ima Yokohama ni sunde imasu Shita no ha otoko de , handai no daigakuin de
denkikougaku o benkyoushiteimasu)
Tôi có hai người con Đứa lớn là con gái, năm ngoái cháu nó đã lập gia đình và hiện giờ thì đang sống ở Yokohama Còn đứa nhỏ là con trai thì đang học nghành Kỹ thuật điện tử ở viện Đại học Osaka
Trong câu biểu hiện một việc diễn ra thường xuyên hoặc thói quen của ai đó thì ta thêm trợ từ [WA(は)] vào chủ ngữ của câu
Ví dụ 26: 地球は太陽の周りを回っている。(chikyuu ha taiyou no mawari o
mawatte iru)
Trang 19Trái đất xoay quanh mặt trời
Ví dụ 27: 私の祖父は毎日9時に寝て、5時に起きます。(Watashi no sofu ha mainichi kuji ni nete, goji ni okimasu)
Hàng ngày ông của tôi ngủ lúc 9 giờ và dậy lúc 5 giờ
Những câu diễn tả sự việc có tính phán đoán và đang nghĩ trong đầu mà không phải
sự việc mình trực tiếp nghe và nhìn thấy, thường sử dụng với các động từ [omotte iru (đang nghĩ)] [kangaeteiru(đang suy nghĩ)] [-tsumori da (dự định)] [kanjiteiru (đang cảm thấy) ] [ki ni shiteiru(đang quan tâm)] [aishiteiru (đang yêu)] [nikun deiru (đang ghét)] [odoroita (ngạc nhiên)] [bikkurishita (ngạc nhiên)] thì trợ từ [WA(は)] được đặt sau chủ ngữ của câu
Ví dụ 28: 木村さんは就職しないで大学院の試験を受けるつもりらしい。
( Kimura san ha shuushoku shinaide daigakuin no shiken o ukeru tsumori rashii)
Có lẽ chị Kimura dự định thi cao học mà không đi làm
2.2 Hình thức sử dụng trợ từ [GA(が)] trong tiếng Nhật
Trong câu hỏi mà các từ nghi vấn [dore (cái nào)] [dochira (cái nào, ở đâu, ai)] [donohito (người nào)] [dochira no- (của-)] [dare (ai)] [nani (cái gì)] [donnahito( người như thế nào)] [doko(ở đâu)] [itsu (khi nào)] nằm ở phần chủ ngữ thì trợ từ [GA(が)] thường được đi sau chủ ngữ trong câu hỏi và câu trả lời
Câu hỏi: [Từ nghi vấn] [GA(が)] …… [ka]
Câu trả lời: [ Phần trả lời] [GA(が)] …
Ví dụ :
Câu hỏi 29: だれがそんなことを言ったんですか。(dare ga sonnakoto o ittan desu ka)
Ai đã nói ra việc đó ?
Câu trả lời: 山口君が言ったんです。(Yamaguchi kun ga ittan desu)
Cậu Yamaguchi đã nói
Trang 20Trong ví dụ này trước từ nghi vấn (dare) không có thành phần nào khác thì động từ phía sau sẽ được đổi thành dạng (no desu) hoặc (n desu) và trong câu trả lời (ga ittan) nhiềukhi được lược bỏ
Ví dụ 30 :
Câu hỏi: あしたのパーテイーにはどんな人が来ますか。 (ashita no pa-tei- niha donna hito ga kimasu ka)
Bữa tiệc ngày mai người nào sẽ đến vậy ?
Câu trả lời: 大学生や大学院性が50人ぐらい来ます。( Daigakusei ya
daigakuinsei ga gojuu nin gurai kimasu)
Khoảng 50 sinh viên đại học và cao học sẽ đến
Khác với ví dụ 29 trước, trong câu này (donna hito ga) có (ashita no pa-tei- niha) thì động từ phía sau sẽ không đổi thành (no desu) hoặc (n desu) nhưng khi trả lời câu phần (ga kimasu) ít khi bị lược bỏ
Trong câu hỏi có hai chủ ngữ và buộc phải chọn một trong hai chủ ngữ đó thì thường thêm trợ từ [GA(が)] vào chủ ngữ trong câu hỏi và câu trả lời
Câu hỏi: [N1] [GA(が)] [A KA] [N2] [GA(が)] [A KA]
Câu trả lời: [N1/ N2] [GA(が)] [A]
Ví dụ 31 :
Câu hỏi: この白い建物が工学部ですか。それとも、あの赤い建物ですか。( kono shiroi tatemono ga kougakubu desu ka Soretomo, ano akai tatemono desu ka) Tòa nhà màu trắng này là khoa Kỹ thuật hay tòa nhà màu đỏ kia vậy?
Câu trả lời: あの赤い建物です。( ano akai tatemono desu)
Tòa nhà màu đỏ kia
Ở danh từ thứ hai thì nhiều khi phần (ga kougakubu) được lược bỏ do đó chỉ nói (ano akai tatemono desu ka)
Trang 21Những câu có dạng「AよりBのほうがーか」(B thì….hơn A không ?)「Aのな
かで ~が~」( Trong số A thì B… phải không ?) là câu hỏi xác định phần đã chọn trong chủ ngữ có chính xác hay không Dạng câu này thì trợ từ [GA(が)] theo sau chủ ngữ trong câu hỏi và câu trả lời
Ví dụ 32: 駅前までタクシーで行きましょうか。(Ekimae made takushi- de
ikimashou ka)
Chúng ta cùng đi taxi đến nhà ga nha ?
バスよりタクシーのほうがはやいですか。 (Basu yori takushi- no hou ga hayai desu ka)
Vậy đi taxi nhanh hơn đi xe buýt hả ?
ええ、タクシーのほうがずっとはやいですよ。(Ee,takushi- no hou ga zutto hayai desu yo)
Ừ, nhanh hơn nhiều chứ
Khi vị ngữ có danh từ và động từ, tính từ giống như danh từ và động từ đã đưa ra trước đó và phần muốn diễn tả cho người nghe nằm ở phần chủ ngữ thì ta thêm trợ từ [GA(が)] vào sau chủ ngữ đó
Ví dụ 33 : これから富士山が見えますか。(Kore kara fujisan ga miemasu ka)
Từ chỗ này nhìn thấy được núi Phú Sỹ hả ?
ええ、あれが富士山です。(Ee, are ga Fujisan desu)
Ừ, cái đó là núi Phú sĩ đấy
Ví dụ 34: いい時計を持っていますね。(Ii tokei o motteimasu ne)
Bạn có cái đồng hồ đẹp nhỉ
ええ、父が入学祝いに買ってくれたんです。(Ee, chichi ga nyuugaku iwai
ni kattekuretan desu)
À, Ba mình đã mua cho mình lúc nhập học
Trang 22Trong câu diễn tả sự việc mà chủ ngữ sử dụng các động từ chỉ sự tồn tại [aru (có)] [iru (có)] hay động từ tri giác như [mieru (nhìn thấy) ], hay các tự động từ khác như [hajimaru (bắt đầu)] [kimaru (quyết định)] thì trợ từ [GA(が)] sẽ đi sau chủ ngữ đó và chủ ngữ đó nhiều khi là những danh từ không đưa vào trong câu
+Khi động từ biểu hiện trạng thái hiện tại như [mieru (nhìn thấy)] [natteiru (đang reo)] thì người nói muốn diễn ta sự việc hiện giờ mình đang nhìn và nghe thấy chứ không phải là do phán đoán
Ví dụ 35 : あっ、冨士さんだ。冨士さんが見える。( Attsu, Fujisan da Fujisan ga mieru)
A, núi Phú Sỹ Tôi có thể nhìn thấy núi Phú Sỹ
+Khi động từ ở dạng quá khứ như [kimashita (đã đến)] [atta (đã có)] thì người nói muốn diễn tả sự việc đã xảy ra trong quá khứ
Ví dụ 36 : きのう川本さんから手紙が来ました。(Kinou kawamoto san kara tegami ga kimashita)
Hôm qua, thư từ anh Kawamoto đã đến
Trong câu diễn tả sự việc mà chủ ngữ sử dụng những động từ về người như [hanasu (nói)] [miru ( nhìn)] [yasumu( nghỉ)] [benkyousuru( học)] thì trợ từ [WA(は)] đi sau chủ ngữ đó Tuy nhiên, trong câu diễn tả động tác của con người giống như các câu sau đây thì sau chủ ngữ đó là trợ từ [GA (が)]
+Trong câu người nói muốn diễn tả đã nhìn thấy người khác xuất hiện và ở trước mặt mình đi cùng với những động từ như [kita (đã đến)] [-tekita] [haittekita (đã vào)] [hanashikaketekita (đã bắt chuyện)] [ -iru] [-teiru] [neteiru (đang ngủ)] [tatteiru (đang đứng)] thì trợ từ [GA(が)] được đặt sau chủ ngữ
Ví dụ 37 : 渋谷駅で友達を待っていると、30歳ぐらいの女の人が話しかけてきた。 (Shibuya eki de tomodachi o matteiru to, sanjussai gurai onna no hito ga
hanashikakete kita)
Trang 23Khi tôi đang đợi bạn ở nhà ga Shibuya thì có một người phụ nữ đã đến bắt
chuyện
+ Trong câu diễn tả sự việc ngạc nhiên và những việc không mong muốn đã xảy ra như [nakunatta (đã mất)] [nyuuinshita (đã nhập viện)] thì trợ từ [GA(が)] được đặt sau chủ ngữ
Ví dụ 38 : きのうの午後、木下先生が亡くなった。(Kinou no gogo, kinoshita sensei ga nakunatta)
Chiều hôm qua thầy Kinoshita đã mất rồi
Trong câu diễn tả việc ngạc nhiên mà sử dụng tính từ biểu hiện sự việc khác với bình thường, thì trợ từ [ GA(が)] cũng được đặt sau chủ ngữ của câu
Ví dụ 39 : あっ、西の空が真赤だ。(Attsu, Nishi no sora ga makka da)
A, bầu trời ở phía Tây đỏ rực luôn kìa
本当だ。きれいな夕焼けだ。(Hontou da Kirei na yuuyake da)
Đúng thật Hoàng hôn đẹp quá ha
2.3 Điểm tương đồng và khác biệt giữa trợ từ [WA(は)] và trợ từ [GA(が)]
2.3.1 Điểm tương đồng
a)Trợ từ [WA(は)] và trợ từ [GA(が)] được đặt sau danh từ
Ví dụ 40 : 私は学生です。(watashi ha gakusei desu)
Tôi là sinh viên
Ví dụ 41:私が先生です。(Watashi ga sensei desu)
Tôi là giáo viên
b) Được dùng trong câu hỏi và trợ từ trong câu trả lời giống như trợ từ của câu hỏi
Ví dụ 42 :
Câu hỏi: 山田さんの趣味は何ですか。(Yamada san no shumi ha nan desu ka)
Sở thích của anh Yamada là gì vậy?