1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ hội obon nhật bản báo cáo nghiên cứu khoa học

64 2,9K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lễ hội obon nhật bản
Trường học Trường Đại Học Ngoại Ngữ - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Tiếng Nhật
Thể loại báo cáo nghiên cứu khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một sinh viên học chuyên ngành tiếng Nhật, tác giả nghiên cứu về lễ hội này, một mặt muốn hiểu rõ hơn đời sống tinh thần của người Nhật Bản, sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với một đất

Trang 1

PHẦN DẪN LUẬN

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

“Công dưỡng dục thâm ân dốc trả nghĩa sanh thành đạo cả mong đền, làm con hiếu hạnh vi tiên” 1

Trong tâm thế người Việt, dù theo bất cứ tôn giáo hay tín ngưỡng nào, ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ luôn hội tụ ở những niềm xúc động sâu lắng nhất của con người Người ta hiểu ra rằng, có một giá trị xuyên thời gian và không gian, từ khi con người xuất hiện trên trái đất cho đến khi trái đất còn con người, đó là tình mẫu tử, là

ơn sinh thành, đức dưỡng dục mà mỗi một con người trân trọng, đúc kết và nâng niu thành chữ “Hiếu” Chữ hiếu ấy, triết lý phương Đông đã nâng lên thành đạo, chính là nhắc nhở cái đạo làm con “Đạo hiếu” chi phối ứng xử của con người trong gia đình và trong xã hội Đó là một biểu hiện thật sâu đậm của đạo lý xã hội Việt Nam ta

Ðạo hiếu đã thấm sâu vào lòng người Việt Nam, sâu đến nỗi, việc hệ trọng nào trong gia đình cũng cần có cha có mẹ tham dự quyết định Còn sống cũng như đã khuất, cha mẹ vẫn là người tham dự vào đời con một cách sâu xa nhất Những khi buồn rầu hay cả những khi mừng vui, hạnh phúc, cha mẹ vẫn là những người luôn ở bên chia sẻ với con

Để thực hành đạo hiếu, các nước phương Đông thể hiện bằng những nghi thức thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ Đặc biệt hơn, ở phương Đông chúng ta còn có một ngày

lễ đặc biệt để những người con thể hiện lòng biết ơn công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, báo hiếu cho cha mẹ, đó chính là ngày Lễ Vu Lan

Ở phương Tây, tuy không có tục thờ tổ tiên, tuy chữ hiếu không nâng lên thành

"đạo", nhưng không vì thế mà không có ngày dành riêng để nhớ đến công ơn sinh thành của cha mẹ Bằng chứng là họ có “Ngày của Mẹ” (Mother's day) là ngày chủ nhật tuần thứ hai trong tháng 5, và “Ngày của Cha” (Father's day) là ngày chủ nhật tuần thứ ba trong tháng 6 Ngoài ra, tháng mười một là tháng dành riêng để cầu

1 Hòa thượng Thích Huệ Đăng, Kinh Vu Lan Bồn [1;2008]

Trang 2

nguyện cho những người đã qua đời Như vậy, có thể nói thời gian tháng mười một, là mùa Vu Lan báo hiếu đến muộn của người phương Tây

Nhật Bản, một nước với đa màu sắc tôn giáo, lĩnh hội cả văn hóa phương Đông và phương Tây thì cách thể hiện đạo hiếu của họ thế nào? Liệu họ có theo nghi thức cúng ông bà, tổ tiên hay không? Và liệu người dân Nhật Bản có tổ chức ngày lễ để báo hiếu cho cha mẹ giống như lễ Vu Lan mà một số nước phương Đông như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, vẫn tổ chức hàng năm hay không?

Như chúng ta đã biết, Nhật Bản là một nước có nền văn hóa được tiếp thu và chọn lọc một cách kỹ lưỡng văn hóa từ các nước khác để biến nó thành văn hóa riêng biệt của chính quốc gia mình

Nhật Bản cũng là một nước có quan niệm về tôn giáo khá khác biệt Tại Nhật có rất nhiều tôn giáo như: Thần Đạo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo ; nhưng hầu hết người Nhật lại không khẳng định mình theo một tôn giáo nào Trong tâm thức của người Nhật, dù đi theo hướng phát triển hiện đại của Tây phương, song những nét đặc thù tận sâu trong tâm tưởng vẫn mang đậm nét phương Đông Và vì thế, Nhật Bản cũng như Việt Nam, rất xem trọng lễ nghĩa trong gia đình, trọng chữ hiếu Ở Nhật cũng có một ngày lễ tương tự như lễ Vu Lan ở Việt Nam, được gọi là Lễ hội Obon

Lễ hội Obon về cơ bản là một lễ hội Phật giáo nhưng người Nhật đã biến nó trở thành một hoạt động chung cho toàn xã hội

Là một sinh viên học chuyên ngành tiếng Nhật, tác giả nghiên cứu về lễ hội này, một mặt muốn hiểu rõ hơn đời sống tinh thần của người Nhật Bản, sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với một đất nước có quan niệm về tôn giáo khá khác biệt như Nhật Bản; mặt khác, thông qua nghiên cứu này tác giả muốn được đóng góp chút hiểu biết của mình về văn hóa lễ hội của Nhật Bản, cụ thể là về Lễ hội Obon với hy vọng nghiên cứu này sẽ giúp ích cho những ai có quan tâm và muốn nghiên cứu về văn hóa truyền thống của Nhật Bản, về lễ hội Obon

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt viết về lễ hội Obon còn rất ít Phần lớn các tác giả

đề cập đến lễ Obon như một dẫn chứng làm phong phú thêm cho bài viết của mình như:

Trang 3

Cung Hữu Khánh, “Người Nhật với các tôn giáo” đã phân tích một số tôn giáo

chính có ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân Nhật như: Shinto giáo, Phật giáo, Khổng giáo và Cơ đốc giáo

Nguyễn Văn Mạnh, “Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại” đã nêu

lên những giá trị nhân bản của lễ hội như: giá trị cộng đồng, giá trị giáo dục, giá trị phản ánh hiện thực cuộc sống và bảo tàng văn hóa truyền thống, giá trị văn hóa tâm linh, giá trị kinh tế

Hồng Lê Thọ, “Tìm hiểu văn hóa lễ hội của người Nhật Bản một hình thái độc đáo

để giữ gìn bản sắc và truyền thống” Trong bài viết này, tác giả đã giới thiệu vài nét về

lễ hội Nhật Bản như: nguồn gốc của lễ hội tại Nhật Bản, những đặc trưng của văn hóa

lễ hội ngày nay, và đặc biệt, tác giả còn nêu rõ nguyên nhân vì sao những lễ hội truyền thống của Nhật Bản vẫn còn lưu giữ và phát triển cho đến tận ngày nay, một vài nét so sánh với Việt Nam trong cách duy trì và phát triển những lễ hội truyền thống của Việt Nam

Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á là một trong những tạp chí cung cấp khá nhiều bài viết về lễ hội truyền thống Nhật Bản, trong đó có lễ hội Obon

Hầu hết các nghiên cứu trên chỉ đề cập sơ qua, hoặc chỉ trình bày một phần nhỏ trong lễ hội Obon như thời gian diễn ra lễ hội hoặc một số món dâng cúng trên bàn thờ Bon mà chưa hình thành được một hệ thống cụ thể xuyên suốt toàn lễ hội bao gồm cả phần nghi lễ và phần hội của lễ hội này

Chính vì vậy tác giả sẽ nghiên cứu đề tài này một cách cụ thể hơn, và hệ thống lại một cách khoa học về lễ hội Obon

3 MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Người dân Nhật Bản rất yêu thích lễ hội, và lễ hội là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ Ở Nhật Bản, mỗi địa phương, mỗi vùng miền đều có những lễ hội đặc trưng của vùng miền ấy Luận văn này tập trung nghiên cứu về Lễ hội Obon Nhật Bản – một trong những lễ hội lớn nhất diễn ra trên phạm vi rộng khắp toàn nước Nhật Nghiên cứu lễ hội Obon cho ta cái nhìn khái quát hơn về lễ hội truyền thống của Nhật Bản nói chung, có những hiểu biết nhất định về lễ hội Obon nói riêng

Trang 4

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Do nguồn tư liệu bằng tiếng Việt liên quan đến lễ hội Obon còn khá ít nên tác giả

đã thực hiện nghiên cứu với nhiều phương pháp: tổng hợp từ những tài liệu nghiên cứu của các tác giả, các bài trích trên tạp chí Văn hóa dân gian, Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật; các tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Nhật, các thông tin được đăng tải trên các trang web bằng cả tiếng Anh và tiếng Nhật; sử dụng phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại để so sánh lễ hội Obon của Nhật Bản trước đây và bây giờ; một vài nét so sánh giữa Obon với Lễ Vu Lan của Việt Nam

Phương pháp so sánh: so sánh về lịch đại để thấy được những sự thay đổi của cách

tiến hành lễ hội Obon trong lịch sử Nhật Bản, những thay đổi về nghi thức hành lễ và

sự biến đổi của điệu nhảy Bon trong phần hội So sánh về đồng đại để có thể thấy được

sự khác nhau trong thời gian tổ chức cũng như cách thức tổ chức lễ Bon tùy theo từng địa phương Ngoài ra, trong chương III, luận văn còn dùng cách so sánh giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản về cách duy trì và phát triển lễ hội truyền thống, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam trong việc lưu truyền các lễ hội dân gian

Phương pháp tổng hợp liên ngành: Luận văn có tổng hợp nghiên cứu của nhiều

ngành khoa học khác nhau như văn hóa học, lịch sử học, xã hội học, tôn giáo… để có thể có cái nhìn cụ thể hơn về văn hóa truyền thống của Nhật Bản nói chung và về lễ hội Obon nói riêng

Phương pháp lịch sử: tái hiện những giai đoạn lịch sử mang tính chuyển biến đối

với sự hình thành và phát triển của Phật giáo ảnh hưởng đến những lễ hội truyền thống của Nhật Bản, cụ thể là đối với lễ hội Obon

Phương pháp thu thập tài liệu: từ các tạp chí, báo, tài liệu, sách tiếng Việt cũng

như tiếng nước ngoài, các trang web, các loại hình ảnh…

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:

Trong xu thế hội nhập của nước ta hiện nay, ngày càng có nhiều bạn bè quốc tế đến Việt Nam, đặc biệt là Nhật Bản Hiện nay đã có rất nhiều công ty của Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam như SanYo, Sankyo, Mitsubishi Với nhu cầu giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế, ngày càng có nhiều người Việt Nam học tiếng Nhật và làm việc trong những công ty của Nhật Bản

Trang 5

Nghiên cứu lễ hội Obon một cách có hệ thống dựa trên quá trình tìm hiểu các nguồn tư liệu góp phần bổ sung các thông tin bổ ích về văn hóa của đất nước Nhật Bản nói chung và về lễ hội Obon nói riêng, và là nguồn tư liệu tham khảo cho công tác học tập cũng như nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa Nhật Bản, cụ thể là về lễ hội Obon Bên cạnh đó, thông qua việc nghiên cứu lễ hội Nhật Bản, điển hình như lễ hội Obon có thể giúp chúng ta hiểu hơn về thế giới quan của người Nhật Bản, từ đó giúp những người Việt đang sống trên đất Nhật có thể hòa nhập vào cộng đồng nước bạn,

và cũng giúp những người Việt đang làm việc trong công ty của Nhật Bản hiểu hơn về những đồng nghiệp người Nhật của mình

6 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI

Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, bản thân tác giả đã có được những hiểu biết

lý thú về lễ hội truyền thống của Nhật Bản nói chung và về lễ hội Obon nói riêng Tác giả hy vọng đề tài nghiên cứu này sẽ cung cấp nguồn tư liệu cụ thể về hoạt động lễ hội Obon tại Nhật Bản cho những ai quan tâm nghiên cứu về đề tài này

7 NHỮNG DỰ KIẾN NGHIÊN CỨU TIẾP TỤC VỀ ĐỀ TÀI

Nghiên cứu lễ hội Obon sẽ giúp tác giả có được cái nhìn khái quát về lễ hội truyền thống của Nhật Bản, làm nền tảng cho những nghiên cứu về những lễ hội truyền thống khác của Nhật Bản trong tương lai

8 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Trong luận văn này, ngoài phần “Dẫn luận” và phần “Kết Luận” thì luận văn được chia làm 3 chương lớn sau:

Chương 1: Nội dung chương I xoay quanh những vấn đề khái niệm Thứ nhất là

khái niệm chung về “Lễ hội”, về cấu trúc và chức năng của lễ hội; thứ hai là “Lễ và hội trong lễ hội truyền thống Nhật Bản”, phân loại lễ hội truyền thống Nhật Bản; thứ

ba là giới thiệu tổng quát về Lễ hội Obon về khía cạnh nguồn gốc của từ Obon và định nghĩa về lễ hội Obon

Chương 2: Tập trung giải quyết bốn vấn đề chính Thứ nhất là lược sử về sự hình

thành và phát triển của Phật giáo tại Nhật Bản, giải thích nguồn gốc lễ hội Obon Thứ hai là trình bày thời gian diễn ra lễ hội có sự sai khác tùy theo từng vùng Vấn đề thứ

Trang 6

ba chú trọng giải thích phần nghi lễ trong lễ hội Obon và vấn đề thứ tư là phần hội trong lễ hội Obon tại Nhật Bản

Chương 3: Ở phần này tập trung giới thiệu về phương pháp duy trì và phát triển lễ

hội truyền thống của Nhật Bản, liên hệ đến việc duy trì và phát triển lễ hội truyền thống Việt Nam

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC KHÁI NIỆM

Trên thế giới, bất kỳ một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ thì đời sống tinh thần vẫn luôn là một mặt vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người Hàng ngày ai ai cũng tất bật với những chuyện cơm áo gạo tiền, chính những lo toan tất bật đó dễ khiến con người ta rơi vào những trạng thái tâm lý bất ổn định, và như một nhu cầu không thể thiếu là các hoạt động vui chơi, các tụ điểm giải trí với các loại hình giải trí

đa dạng đang được rất nhiều người hướng đến Với một đất nước có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản thì nhu cầu ấy càng nhiều và mạnh mẽ hơn Có lẽ đấy là một trong những lý do mà Nhật Bản là một trong những nước có số lượng lễ hội trong năm nhiều nhất trên thế giới

Nhật Bản được thế giới biết đến và ngưỡng mộ về sự phát triển thần kỳ về kinh tế Thế nhưng đây lại là một đất nước không được thiên nhiên ưu đãi, tài nguyên khan hiếm, lại liên tục bị động đất, núi lửa Những dãy núi và đại dương bao quanh đã khiến Nhật Bản trở thành một quần đảo bị cô lập, tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài

Có lẽ với đặc điểm biệt lập về địa lý và sự khắc nghiệt của tự nhiên đã tạo nên những nét độc đáo trong tính cách và đời sống văn hóa của Nhật Bản, thể hiện qua các lễ hội mang đậm nét đặc trưng của từng vùng, từng địa phương Lễ hội truyền thống của Nhật Bản không chỉ bao gồm các lễ hội mang tính quốc gia mà còn là những lễ hội riêng của từng vùng miền khác nhau trong cả nước

Hệ thống lễ hội của Nhật Bản rất phức tạp bởi đây là một đất nước đa tôn giáo Vì vậy, muốn tìm hiểu, nghiên cứu về các lễ hội truyền thống ở Nhật Bản, trước tiên phải nắm được cơ sở lý luận của lễ hội – lễ hội truyền thống của Nhật Bản

1.1 Khái niệm chung về “Lễ hội”

1.1.1 Định nghĩa về lễ hội:

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần và là hoạt động thực tiễn nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, củng cố ý thức cộng đồng Lợi ích trước nhất mà lễ hội mang đến cho cộng đồng là sự thỏa mãn về nhu cầu tâm linh, từ đó tạo ra những hi vọng về nhu cầu sống của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng

Trang 8

Theo định nghĩa của từ điển Văn hóa dân gian thì “Lễ hội (còn gọi là hội lễ), là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước” 2

Hay như nhà nghiên cứu Alessandro Falasi nhận xét: “Lễ hội là một hoạt động kỉ niệm định kì biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống”.3

Trong tiếng Nhật, từ Matsuri (祭) có nghĩa là lễ hội Matsuri về cơ bản là lễ hội bản

xứ của người Nhật có nguồn gốc Thần đạo, được tổ chức hàng năm vào ngày tháng đã định Matsuri chủ yếu có nguồn gốc thiêng liêng, xuất phát từ các nghi lễ Thần đạo cổ xưa để làm thánh thần và linh hồn người chết nguôi giận, cũng như thực hiện xong một chu kỳ nông nghiệp Kết hợp một số nghi thức Thần đạo, cùng với nghi lễ Phật giáo và Khổng giáo du nhập từ Trung Hoa, thành lịch lễ hội hàng năm Matsuri bao gồm phần nghi thức tế lễ và phần hội Đây là một hoạt động mang tính biểu tượng, trong đó người tham gia bước vào trạng thái chủ động giao tiếp với thần thánh (神: kami), đi kèm là sự đồng cảm ở những người tham gia trong hình thức lễ hội và yến tiệc

Ngày nay, cùng với sự phát triển và đa dạng hóa của xã hội, lễ hội cũng phát triển theo hai chiều hướng khác nhau Trong đó, có hai xu hướng chính là lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại

+ Lễ hội truyền thống: còn được gọi là lễ hội cổ truyền, là các loại hình lễ hội phát triển theo hướng cổ điển hóa, gắn liền với các giá trị truyền thống của một đất nước, một dân tộc

+ Lễ hội hiện đại: thường là các lễ hội mới, phát triển theo hướng hiện đại hóa, gắn liền với các sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội hiện đại của một quốc gia

Lễ hội mang đến cho cộng đồng sự thỏa mãn về nhu cầu tâm linh, chứa đựng và phản ánh nhiều mặt trong đời sống xã hội

Trang 9

1.1.2 Cấu trúc và chức năng của lễ hội

Cấu trúc cơ bản của một lễ hội bao gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội

Lễ là phần thiêng liêng, bao gồm các nghi thức hành lễ, động tác, hành vi được quy định một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt Phần lễ được tổ chức nhằm bày tỏ sự tôn kính, tin tưởng đối với thần linh, cầu xin sự che chở, phù hộ của các thần giúp con người vượt qua những khó khăn nguy hiểm do thiên nhiên gây ra, đồng thời cũng thể hiện những khát vọng, ước mơ vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống Phần

“Lễ” luôn được thực hiện ở những nơi trang nghiêm như chùa chiền, đền điện, miếu mạo

Hội là thành phần chính còn lại trong Lễ hội Hội được thực hiện ngay sau “Lễ” và cũng thu hút được số lượng người tham dự nhiều hơn lễ, bởi hội là hình thức sinh hoạt tập thể đại trà, không “kén” người tham dự, và là phần sôi động nhất trong lễ hội Phần hội thường được thể hiện bằng đám rước – trung tâm của lễ hội Bất kì ai cũng có thể tham gia diễu hành cùng đám rước, cùng nhảy múa nhộn nhịp với tiếng kèn tiếng trống trong đám rước Bên cạnh đó, hội còn thu hút sự chú ý của đông đảo người xem nhờ hệ thống trò chơi, trò diễn phong phú và đa dạng Phần hội thường được kéo dài hơn phần lễ bởi đây là lúc để mọi người cùng thể hiện sự hoan hỉ, phấn khích, cùng giao lưu, gặp gỡ vui chơi, quên đi những lo toan thường ngày của cuộc sống

Lễ hội là công cụ giao tế giữa Thần – Người, Cá nhân – Xã hội nên bao giờ cũng hợp với thời đại và dễ thụ cảm Theo đánh giá của tác giả Đặng Văn Lung trong “Lễ hội và nhân sinh” [10;2005], một lễ hội thường bao gồm các chức năng chính như sau: chức năng trực quan; chức năng phát triển tâm linh; chức năng biểu hiện; chức năng tiếp nhận, thu hút và cải biến; chức năng phân chia; chức năng tái tạo

Có thể nói, ý nghĩa xã hội và sức hấp dẫn của lễ hội càng lớn thì quy mô của lễ hội càng được nhân rộng, đồng thời thu hút nhiều hoạt động xã hội khác Do đó, ý nghĩa của một lễ hội trong thời đại hiện nay không chỉ nằm ở yếu tố bản sắc dân tộc mà còn phải xét đến giá trị thực tiễn, thực dụng thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu về đời sống tinh thần ngày càng cao của con người

Trang 10

1.2 Lễ và hội trong lễ hội truyền thống Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những nước nổi tiếng về vấn đề duy trì và phát triển lễ hội

Lễ hội Nhật Bản là một hoạt động văn hóa vừa mang tính tín ngưỡng, vừa có tính cộng đồng trong sinh hoạt tinh thần của người dân, đồng thời thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu hài hòa giữa con người và thiên nhiên

Từ thế kỷ thứ V, văn hóa Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng không nhỏ từ nền văn hóa Trung Hoa Sau đó, vào thời Minh Trị Duy Tân (明治維新: Meijiishin) năm 1868, một lần nữa nền văn hóa Nhật Bản lại chịu ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ của văn hóa phương Tây Vào thời điểm lịch sử nào cũng vậy, Nhật Bản đã chọn cho mình cách tiếp nhận văn hóa nước ngoài độc đáo và được Thế giới đánh giá là một trong những phương thức tiếp nhận văn hóa hoàn hảo Đó là tiếp thu có chọn lọc văn hóa nước ngoài, đồng thời vẫn bảo tồn nét văn hóa truyền thống của mình Các lễ hội truyền thống Nhật Bản dù được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng nhưng vẫn không nằm ngoài tư tưởng chủ đạo tôn thờ Thần linh, tổ tiên; xem trọng văn hóa truyền thống nông nghiệp

1.2.1 Phần lễ

Từ xa xưa, lễ hội được hiểu là việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo nhằm suy tôn thần linh, hay nói cách khác, đó là hình thức giao lưu giữa thần linh và con người Lễ hội truyền thống ở Nhật Bản là một thể thống nhất giữa hai phần, phần lễ được gọi là Saigi (祭儀), phần hội được gọi là Tsukematsuri (付け祭り) Trong đó phần lễ được xem là trung tâm của lễ hội Buổi sơ khai, các nghi thức tôn giáo này được tổ chức hết sức khắt khe nhưng càng về sau lễ hội có xu hướng trở thành màn trình diễn của hiện thực đời sống, phần nào thoát ra khỏi những quy định nghiêm ngặt của thời xưa Các thầy tu Thần đạo hoặc những người đứng đầu một cộng đồng là người tiến hành các nghi thức lễ hội tại đền thờ Thần đạo trong vùng Trong buổi tế lễ, thầy tế sẽ đọc Norito (祝詞) là những bài kinh cầu nguyện, lời cảm ơn của con người gửi đến thần linh Sau đó, thần linh và các thành viên tham gia lễ hội cùng tham dự một buổi tiệc thánh Naorai (直会)

Ngày xưa, việc tổ chức một lễ hội thường tốn nhiều kinh phí và đòi hỏi nhiều nhân lực Vì vậy, việc đóng góp kinh phí của mỗi hộ dân trong làng được quy định rõ ràng

Trang 11

Ngoài ra các chức sắc trong làng phải góp thêm tiền hỗ trợ tùy theo địa vị của mình trong ngôi làng đó

1.2.2 Phần hội

Nếu lễ là phần đạo thuộc về thế giới tâm linh thì hội là phần đời, thuộc về đời sống

Do đó phần hội thường được kéo dài hơn và sôi động hơn bởi sự tham gia của đông đảo quần chúng Phần hội được thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú và đa dạng Một số lễ hội thu hút khách bởi những điệu múa sôi động, tiếng trống Taiko nhịp nhàng, các cuộc trình diễn trang phục cổ truyền đặc sắc và các đám rước náo nhiệt trên đường phố

Đám rước được xem là trung tâm của phần hội Ở Nhật Bản hiện nay, phần hội được chú trọng hơn phần lễ Trung tâm của đám rước thường là những chiếc kiệu Mikoshi (神輿) hoặc Dashi (山車) Đây là các phương tiện dùng với mục đích rước thần và tiễn thần Ngày nay, một trong những hoạt động lễ hội được yêu thích là việc tham gia khiêng Mikoshi hay Dashi Đặc biệt là giới trẻ và khách nước ngoài tỏ ra rất nhiệt tình và hăng hái khi tham gia hoạt động này

Mikoshi (神輿) là chiếc kiệu được ví như đền thờ Thần đạo Shinto di động, được

trang trí bằng những cái chuông và những sợi dây lụa đủ màu sắc bao bọc xung quanh

Những người theo đạo Shinto tin rằng Mikoshi được dùng làm phương tiện di chuyển

của một linh hồn thiêng liêng tại Nhật Bản trong cuộc tuần hành của các thần thánh

Thông thường, Mikoshi giống như một tòa nhà thu nhỏ, với các cột trụ, tường, một cái nóc, một hành lang và một bức rào chắn Những hình dạng tiêu biểu của Mikoshi là

hình chữ nhật, lục lăng, và bát giác Thân kiệu được đặt trên hai hoặc bốn cái sào để khiêng đi và được trang hoàng rất lộng lẫy, còn nóc kiệu thường được gắn một bức phù điêu chạm khắc hình phượng hoàng Một kiệu Mikoshi cần từ 10 đến 12 người khiêng Người khiêng mặc quần cộc trắng và áo Happi (半被), trên đầu quấn khăn Hachimaki (鉢巻), luôn miệng hô “washoi, washoi” tạo cho lễ hội một không khí vui

tươi và hưng phấn Họ đưa Mikoshi rời khỏi đền, khiêng nó đi quanh các khu vực lân

cận, và trong nhiều trường hợp đặt chúng lại một địa điểm được chọn trước, đặt trên những cái đòn kê trong một thời gian trước khi quay trở lại đền

Trang 12

1.2.2.1 Một chiếc Mikoshi điển hình Nguồn: http://ichinews.acc.vn/bai-viet/11734/mikoshi-–-den-tho-

shinto-di-dong/xem.htmx

1.2.2.2 Diễu hành rước kiệu ngoài đường phố Nguồn:http://www.kandamyoujin.or.jp/kandasai/h19/history/img/index03_4.jpg

Trang 13

Dashi (山車) là loại kiệu được trang hoàng lộng lẫy dành cho lễ hội Khác với kiệu

Mikoshi, kiệu Dashi được gắn bánh xe bên dưới Chiếc kiệu này sẽ được diễu hành khắp thành phố trong dịp lễ hội

1.2.2.3 Kiệu Dashi Nguồn: http://www.hanamakionsen.co.jp/blog/ 花 巻 ま つ り

山車 1 -thumb.jpg

Khi tham gia “Hội”, mọi người cùng nhau vui chơi, cùng nhau tham gia rước kiệu

Để có thể rước được những chiếc kiệu nặng như vậy đòi hỏi người tham gia phải có tinh thần đoàn kết, tinh thần tập thể cao Đây chính là hình thức tốt để giáo dục truyền thống, giáo dục tinh thần đoàn kết cho con cháu

Mặt khác, người Nhật quan niệm rằng thần linh không xuất hiện trong phần lễ mà thực hiện vai trò giao lưu với con người thông qua phần hội Do đó, phần hội càng diễn ra rầm rộ, sôi động bao nhiêu thì thần linh sẽ hài lòng bấy nhiêu Trong thời gian diễn ra lễ hội, các điệu múa ra đời như là một cách thức để con người tập trung tinh thần cho việc thờ cúng Ý tưởng dâng của ngon vật lạ cho thần linh xuất phát từ nguyện vọng mong muốn thần và người xích lại gần nhau hơn Với quan niệm đó, trong phần hội, người Nhật tham gia diễu hành cùng các đám rước, cùng ăn bánh ngọt

và uống rượu sake, tạo nên một quang cảnh lễ hội hết sức sôi động và vui tươi Người Nhật xưa cũng có thói quen đi xem lễ hội được tổ chức ở các làng lân cận Vì không

Trang 14

phải là thành viên của làng đó nên họ không tham gia phần lễ mà chỉ tham gia phần hội Do đó khi nhắc đến lễ hội, phần hội thường được liên tưởng nhiều hơn phần lễ

1.2.3 Phân loại lễ hội truyền thống Nhật Bản

Tương tự với nhiều quốc gia khác, vấn đề nghiên cứu và phân loại lễ hội truyền thống ở Nhật Bản cũng đi theo nhiều hướng khác nhau Mỗi định hướng đều dựa trên các cơ sở lý luận khá thuyết phục nhằm đưa ra cách phân loại lễ hội sao cho thỏa đáng nhất

Nếu căn cứ vào mặt phạm vi diễn ra lễ hội thì lễ hội được chia thành lễ hội toàn quốc và lễ hội địa phương; căn cứ vào thời gian mở hội có lễ hội theo các mùa xuân,

hạ, thu, đông; mặt khác, nếu dựa vào nội dung phản ánh của lễ hội có lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo, lễ hội lịch sử

Cách phân chia nào cũng có mặt đúng nhưng đều không tránh được một số điểm chồng chéo, bất hợp lý Điều này cũng không có gì là khó hiểu bởi trong số hàng trăm, hàng ngàn lễ hội diễn ra ở Nhật Bản hàng năm, tuy quy mô lớn nhỏ khác nhau, nhưng hầu hết chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tư tưởng Thần đạo, một tín ngưỡng bản địa của Nhật Bản Sự tôn thờ thần linh, ông bà tổ tiên và các lực lượng siêu nhiên là chủ đề chính xuyên suốt trong bộ mặt của lễ hội truyền thống ở quốc gia này

Đồng thời, trong quá trình phát triển của lịch sử, lễ hội thu nhận vào mình những nội dung lịch sử, xã hội, văn hóa mới, tạo nên sự hòa quyện, đan xen giữa cái cũ và cái mới, giữa nét văn hóa bản địa và nét văn hóa du nhập Do đó, ngoài những lễ hội mang đậm dấu ấn của Thần đạo, trong hệ thống lễ hội Nhật Bản cũng xuất hiện không ít các

lễ hội phản ánh tư tưởng của Phật giáo vốn du nhập vào Nhật Bản từ nền văn minh Trung Hoa Ngoài ra, các xu hướng huyền thoại hóa, địa phương hóa cũng có khả năng chi phối đến đến hình thức và nội dung của một lễ hội

Theo các nguồn tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Nhật, đơn cử như cuốn “Japan An Illustrated Encyclopedia – カラーぺディア 英文日本大事典”, Kodansha Ltd.,

1993.[22] thì lễ hội của Nhật Bản thuộc vào hai nhóm chính là Matsuri (祭) và Nenchuugyouji (年中行事)

Trang 15

Trong tiếng Nhật, từ Matsuri (祭) có nghĩa là lễ hội Đó là từ dùng để chỉ một loạt các nghi lễ tôn giáo đa dạng thậm chí cả các lễ hội có liên quan tới các nghi lễ tôn giáo Thuật ngữ Matsuri ra đời với mục đích diễn tả và làm tăng thêm mối quan hệ giữa việc thờ cúng tổ tiên, thần linh và những người thực hiện việc thờ cúng đó Còn Nenchuugyouji (年中行事) mang tính bao quát hơn, với nghĩa là những sự kiện diễn

ra hàng năm và những sự kiện diễn ra theo mùa, phần lớn có nguồn gốc từ Trung Quốc hay có liên quan đến Phật giáo

Có những tài liệu lại phân loại lễ hội Nhật Bản theo phạm vi không gian Ngoài các

lễ hội truyền thống mang tính quốc gia mà người Nhật thường gọi là Nenchuugyouji (年中行事), ở mỗi khu vực hành chính, mỗi vùng miền đều có lễ hội của riêng mình Tạp chí Autoroute, một tạp chí uy tín ở Nhật Bản đã phân loại lễ hội truyền thống theo

6 đơn vị hành chính: 1 Hokkaidou (北海道) và Touhoku (東北); 2 Kantou (関東); 3 Chuubu (中部); 4 Kinki (近畿); 5 Chuugoku (中国) và Shikoku (四国); 6 Kyuushuu (九州) và Okinawa (沖縄)

Cũng có nhà nghiên cứu phân loại lễ hội theo tính chất và nội dung thể hiện, ví dụ

lễ hội chiếu sáng bao gồm các lễ hội liên quan đến đêm tối, lửa và sao; hay lễ hội tái hiện các sự kiện lịch sử, lễ hội nhảy múa, lễ hội biểu diễn, lễ hội mùa, lễ hội tôn giáo,

lễ hội nông nghiệp

Nếu phân loại dựa trên chu kỳ thiên nhiên, lễ hội được chia thành lễ hội mùa xuân,

lễ hội mùa hè, lễ hội mùa thu và lễ hội mùa đông Trong đó mùa xuân và mùa thu có nhiều lễ hội nhất vì có liên quan đến sản xuất nông nghiệp Nếu các lễ hội mùa xuân được tổ chức nhằm cầu mong thuận lợi trong công việc đồng áng thì các lễ hội mùa thu phần lớn liên quan đến việc tạ ơn thần linh và chúc mừng mùa bội thu Do mùa hè

là mùa dễ sinh bệnh dịch nên đa số các lễ hội mùa hè tiêu biểu ở Nhật Bản liên quan đến việc đuổi tà và phòng chống bệnh tật Lễ hội mùa đông thường là các lễ hội đốt lửa, pháo hoa, tuyết, với ý nghĩa đón thần mặt trời trở lại sưởi ấm mặt đất, mang lại sự hồi sinh cho con người và thiên nhiên

Mặt khác, nếu dựa trên quy định về các nghi lễ Thần đạo, lễ hội truyền thống được phân chia thành ba loại lễ hội theo ba cấp: lớn, trung bình và nhỏ là Taisai (大祭 – Lễ hội lớn), Chuusai (中祭 – Lễ hội trung bình) và Shousai (小祭 – Lễ hội nhỏ)

Trang 16

Việc phân loại lễ hội truyền thống Nhật Bản là khá phức tạp Tùy theo mục đích nghiên cứu mà tiêu chí và định hướng phân loại sẽ khác đi Tuy nhiên dù được phân loại theo bất kỳ tiêu chí nào, một lễ hội truyền thống ở Nhật Bản cũng ít khi nằm ngoài

ba yếu tố căn bản sau đây:

1 Thể hiện sự thành kính, biết ơn của thế hệ sau đối với thần linh, tổ tiên

2 Thể hiện nét đặc trưng của địa phương thông qua các hình thức nghi lễ, nghi thức, tập tục truyền thống tái hiện lại cảnh sinh hoạt, các sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, cũng như cách suy nghĩ và thế giới quan của người xưa

3 Mang đến cho cộng đồng và du khách một loại hình giải trí văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu vui chơi của đời sống hiện đại

Với đối tượng nghiên cứu là lễ hội Phật giáo, luận văn sẽ đi theo hướng phân loại

lễ hội truyền thống Nhật Bản theo tính chất và nội dung thể hiện của lễ hội Theo cách phân loại như vậy thì lễ hội truyền thống của Nhật Bản sẽ được chia thành các loại hình chính như sau:

™ Lễ hội nghề nghiệp: gồm lễ hội nông nghiệp và lễ hội ngư nghiệp

™ Lễ hội tôn giáo

™ Lễ hội lịch sử

Lễ hội Obon là một lễ hội thuộc loại hình Tôn giáo nên tác giả xin đi sâu vào giới thiệu về loại hình này

Tôn giáo chính của Nhật Bản là Shinto (神道: Thần đạo) Thần đạo là một tôn giáo

cổ đại của người Nhật Bản, là một tôn giáo dân tộc phát nguyên từ đời sống tâm linh của dân tộc Nhật Thần đạo nguyên nghĩa là “con đường của thần thánh”, nó không có nguyên tắc rõ ràng, cũng không có danh tính xác định của các vị thần, nó là tôn giáo dựa vào các quyền năng thiêng liêng cao cả của thần linh để tăng cường thế lực, quyền

uy của Thiên hoàng, đồng thời cũng khuyến khích thần dân bách tính hãy nhớ đến ân đức của Thần linh để trung thành với Hoàng tộc, làm lợi cho quốc gia Trên thực tế, Thần đạo không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa của nó (không có người sáng lập, không có giáo lý) nhưng lại đóng vai trò lớn nhất với 9 vạn đền thờ và 10 vạn tu sĩ Thần đạo có thể nói là một tổng thể các tín ngưỡng và nghi lễ thờ cúng các vị thần, tổ

Trang 17

tiên và linh hồn người chết; nó là tôn giáo chiếm vị trí hàng đầu trong lịch sử Nhật Bản

từ xưa đến nay và là tôn giáo đầu tiên của người Nhật

Tuy nhiên cùng với sự du nhập văn hóa từ Trung Hoa và Triều Tiên, hệ thống đạo

lý của Thần đạo cũng chịu không ít ảnh hưởng từ tư tưởng của Phật giáo và Khổng giáo Yếu tố đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến lễ hội truyền thống của Nhật Bản Mặc

dù vậy, Thần đạo vẫn luôn giữ vai trò là tín ngưỡng đặc trưng nhất và tiêu biểu nhất của dân tộc Nhật Có thể khẳng định rằng bất kỳ lễ hội truyền thống nào ở Nhật Bản cũng mang một ý nghĩa tôn giáo nhất định Đó là do phần lễ của lễ hội là phần thuộc

về tín ngưỡng, tâm linh, mà tín ngưỡng thực chất là một hình thức nguyên thủy của tôn giáo Những lời cầu nguyện trong lễ hội chủ yếu xoay quanh ba vấn đề:

• Xua đuổi bệnh tật, các bệnh dịch xảy ra trong năm

• Cầu siêu cho những người đã chết

• Cầu mong sức khỏe, hạnh phúc, sung túc trong cuộc sống

1.3 Lễ hội Obon

Phần này tác giả sẽ giới thiệu về lễ hội Obon thông qua việc giải thích nguồn gốc của từ “Obon” và định nghĩa lễ Obon là gì

1.3.1 Nguồn gốc của từ Obon

Bàn về nguồn gốc của từ Obon (cách nói tắt của chữ Urabon (盂蘭盆) hay Vu Lan Bồn), có rất nhiều ý kiến khác nhau Trong luận văn này tác giả chỉ sử dụng cách giải

thích được nhiều học giả đồng tình nhất

Chữ "Bon" (盆) là từ rút ngắn của "Urabon" (盂蘭盆) trong tiếng Nhật Urabon, hay "Vu Lan Bồn" là tiếng Hán dịch của chữ Phạn (Sanskrit) "Ullambana", có nghĩa là

"Giải Đảo Huyền" Vu Lan Bồn là một lễ hội Phật giáo đã xuất hiện từ rất lâu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam Trong các tác phẩm văn học Phật giáo Trung Hoa, thuật ngữ Vu Lan thường được dịch là “đảo huyền”, nghĩa là treo ngược hay nằm lơ lửng, chỉ trạng thái đau đớn của những vong hồn trong địa ngục đang

mong được cứu độ

Theo Phật giáo Trung Hoa, thuật ngữ Vu Lan Bồn được biết đến đầu tiên khi ngài Trúc Pháp Hộ dịch “kinh Vu Lan Bồn” vào đời Tây Tấn Khi viết Sớ giải kinh Vu Lan

Trang 18

Bồn, ngài Tông Mật (780-841) giải thích rằng Vu Lan là thuật ngữ của Tây Vức, Trung Hoa dịch là “đảo huyền” (treo ngược) “Bồn” là âm của xứ Đông Hạ (thuộc Trung Hoa) có nghĩa là vật cứu độ (cứu khi) Thông thường, toàn bộ thuật ngữ này có nghĩa là “bồn hay vật để cứu những ai đang bị treo ngược” Sách “Pháp Uyển Châu Lâm” cũng dùng từ “Phật bồn” và “Tấn bồn” khi bàn về lễ cúng dường vào ngày rằm tháng bảy Trong “Phật Thuyết Báo Ân Phụng Bồn kinh”, một bản kinh được dịch vào thời Đông Tấn, chữ Bồn cũng mang nghĩa là vật đựng đồ cúng dường Ngài Pháp Vân, tác giả bộ Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập cũng có cách giải thích hợp với quan điểm của

ngài Tông Mật

Tuy nhiên, trong tác phẩm “Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa”, ngài Huyền Ứng (TK VII) lại đưa ra một lối giải thích khác Theo ngài, Vu Lan Bồn là lối phiên âm sai và cách phiên âm đúng phải là Ô Lam Bà Nã, nghĩa là treo ngược Đây là nghi lễ của các nước phương Tây (so với Trung Quốc) được tổ chức vào ngày tự tứ của chư Tăng Những ai đã tạo tội lỗi nếu lúc qua đời không có con cháu cúng tế thường phải chịu nỗi khổ bị treo ngược trong cảnh ngạ quỉ Việc thiết lễ cúng dường đức Phật và chư Tăng vào ngày cuối của mùa an cư nhằm mục đích cứu vớt những vong hồn đó ra khỏi nỗi khổ trên Ngài Huyền Ứng còn cho rằng nếu hiểu Vu Lan Bồn là vật chứa thức ăn thì đó là một sự lầm lẫn Như thế theo cách giải thích này, thuật ngữ Vu Lan Bồn hay

Ô Lam Bà Nã không mang nghĩa là vật cứu độ hay vật đựng thức ăn để dâng cúng Đức Phật và chư Tăng như cách giải thích của các tác giả Trung Hoa khác mà nghĩa của nó là sự cứu độ (cho những ai đang chịu đựng nỗi khổ bị treo ngược).4 Học giả An Chi (Huệ Thiên) cũng có cách giải thích về thuật ngữ Vu Lan Bồn tương tự như cách

giải thích của ngài Huyền Ứng

Trong tiếng Nhật, lễ Vu Lan có tên là “Obon” (お盆) hay “Ura- bon-e” (盂蘭盆会), nghĩa là lễ cầu nguyện cho những người đã quá vãng Urabon-e hay Vu Lan Bồn đều

là những thuật ngữ chỉ cho một lễ hội Phật giáo với mục đích là cứu độ những người quá cố đang phải chịu những quả báo nặng nề và giúp họ chuyển hóa tâm thức, thoát khỏi cảnh giới khổ đau và thác sinh trong cõi lành Theo kinh Vu Lan Bồn, việc thiết

4 Thích Đồng Thành, “Tìm hiểu thuật ngữ Vu Lan Bồn”,

bn&catid=41:nghien-cuu&Itemid=53

Trang 19

http://phapluanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=814:tim-hiu-thut-ng-vu-lan-lễ Vu Lan không chỉ vì mục đích cứu độ cha mẹ, tổ tiên trong bảy đời quá khứ mà còn

để cầu nguyện cho cha mẹ trong đời hiện tại

1.3.2 Định nghĩa lễ hội Obon

Nhật Bản là một đất nước có truyền thống coi trọng gia đình và dòng tộc, do vậy việc cúng giỗ tổ tiên luôn được coi trọng và có nhiều biểu hiện phong phú, trong đó

đáng chú ý nhất là lễ hội Obon Obon (お盆) hay "Bon Matsuri" (盆祭り), là một

trong những ngày đại lễ Phật giáo tại Nhật Bản Nghi thức rước linh hồn ông bà tổ tiên giống như lễ Bon đã tồn tại ở Nhật Bản từ trước khi Phật giáo du nhập vào đất nước này Người ta cho rằng lễ hội Obon đầu tiên được tổ chức vào thời Hoàng hậu Suiko (推古) năm 606, và nghi thức lập trai đàn mời các Tăng Ni đã được giữ nguyên vẹn trong lễ Bon ngày nay Lễ Obon đầu tiên được tổ chức là ở Triều đình, sau này được

mở rộng ra, nhưng cũng chỉ dành cho giai cấp thượng lưu như tầng lớp võ sĩ, quý tộc, tăng lữ, cung đình Mãi tới thời Edo (江戸), lễ hội này mới được phổ biến rộng rãi trong dân chúng

Tùy phong tục của từng địa phương và tùy quan điểm của từng giáo phái mà cách tiến hành lễ hội Obon có khác nhau Về căn bản, Bon cũng như lễ năm mới, là thời gian mời Thần hay Phật, đặc biệt là tổ tiên trở về nhà, là dịp chủ nhà tiến hành nghi lễ thiết đãi và đối xử với các vong linh một cách thân tình Người Nhật nghĩ rằng tổ tiên

họ luôn trên trời, dõi theo cuộc sống của con cháu, được con cháu mời về để thiết đãi trong những dịp như tết và lễ Bon để họ lại tiếp tục phù hộ độ trì cho con cháu trên trần gian

Linh hồn được cúng trong lễ hội Bon trước hết là tổ tiên, nhất là linh hồn những người mới khuất, và những hồn ma không có người thân chăm sóc Linh hồn tổ tiên được mời ngự ở bàn thờ Phật trong nhà Người Nhật quan niệm rằng linh hồn của người mới mất chưa được lên Niết Bàn, vẫn lang thang giữa thế giới của con người và tha giới (thế giới của người chết) nên không được mời đến bàn thờ Phật mà có một nơi thờ riêng ở phòng khách hay hiên nhà Linh hồn của những kẻ không có người chăm sóc, còn gọi là cô hồn đi theo linh hồn tổ tiên và linh hồn người mới chết về nhà trong dịp này, vì không có liên hệ huyết thống với gia đình, do vậy không được mời vào trong nhà Tuy nhiên, người ta tin rằng những hồn ma này có thể gây tai ách cho gia

Trang 20

chủ nếu bị phật ý nên cũng phải được thiết đãi một cách cẩn thận Chính vì vậy mà khắp vùng Kanto thường thấy những bàn thờ ma đói đặt trong vườn Điều này giống với tục cúng cháo trước cửa nhà dành cho cô hồn được tiến hành đồng thời với việc cúng tổ tiên vốn được tổ chức một cách trang trọng trên bàn thờ gia đình vào dịp cúng Rằm tháng Bảy ở Việt Nam

Người Nhật còn gọi Lễ Bon hay là ngày "Lễ lồng đèn" (Festival of Lanterns), thường được tổ chức hằng năm vào các ngày 13, 14 và 15 tháng 7, hoặc có nơi vào ngày 15 tháng 8 dương lịch Ngày nay, lễ Bon đã trở thành một trong những ngày lễ lớn, phổ thông và vui nhất tại Nhật Trong dịp này, ngoài việc đi thăm viếng nghĩa trang, cúng lễ cầu siêu cho ông bà cha mẹ ra, người ta còn tổ chức phóng đăng (lồng đèn), và hội hè, múa hát khắp nơi

1.3.2.1 Đi thăm mộ trong mùa lễ Bon Nguồn: http://genkona.cocolog-

nifty.com/photos/uncategorized/2007/08/21/photo.jpg

Về phương cách tổ chức ngày lễ Bon (Vu Lan) tùy từng vùng và địa phương ở Nhật, chi tiết các buổi lễ và cuộc vui có phần sai khác, song đặc tính chung căn bản của ngày lễ này thì khắp nơi vẫn giống nhau Để chuẩn bị cho mùa lễ Bon, dân chúng Nhật trước hết lo dọn dẹp sạch sẽ, trang hoàng nhà cửa và nghĩa trang tại các chùa nơi tro cốt thân nhân ông bà, cha mẹ của họ được ký thờ Sau đó, người ta đi chợ Bon hay Bon-Ichiba (盆市場)để mua sắm các thức ăn, lễ vật (bông hoa, trái cây) dùng trong các ngày lễ

Trang 21

1.3.2.2 Chợ Bon Nguồn: http://www.otaru.ne.jp/data/news/photo/image0901.jpg

Trên đây là vài nét khái quát về Lễ hội Obon Phần tiếp theo chúng ta sẽ đi một cách kỹ hơn về các nghi lễ và phần hội diễn ra trong lễ hội này

Trang 22

CHƯƠNG II: LỄ HỘI OBON TẠI NHẬT BẢN

2.1 Nguồn gốc lễ hội Obon

2.1.1 Sự hình thành của Phật giáo tại Nhật Bản

Nhật Bản là một đất nước đa tôn giáo Các tôn giáo, từ tôn giáo bản địa như Thần Đạo (神道: Shinto) tới các giáo phái ngoại lai như Phật, Khổng, Cơ Đốc vẫn đang đóng góp những ảnh hưởng to lớn tới cuộc sống người Nhật

Đa số người Nhật thường ít quan tâm tới các tổ chức tôn giáo của mình, ngoại trừ một số ít người có sự quan tâm đặc biệt, còn phần lớn người dân Nhật không hiểu nhiều về các vấn đề tôn giáo hoặc sự khác biệt giữa các chi phái trong cùng một giáo phái Nhưng thay vào đó, người Nhật lại có một niềm tin tôn giáo sâu sắc và phóng khoáng Họ sẵn sàng đón nhận mọi hoạt động phổ biến, các lễ nghi tôn giáo khác nhau như: tổ chức Hôn lễ theo Thiên Chúa giáo, đón năm mới theo nghi lễ Thần Đạo, tổ chức tang ma giỗ chạp theo nghi lễ nhà Phật

Có thể nói tôn giáo đã gắn liền với đời sống người dân Nhật Lễ hội Obon mà tác giả giới thiệu trong nghiên cứu này là một lễ hội Phật giáo, vì vậy chỉ xin đề cập đến

sự hình thành và những ảnh hưởng của Phật giáo đối với Nhật Bản thông qua lễ hội Obon

Theo biên niên sử sớm nhất của Nhật Bản (日本書記: Nihon Shoki) (720), đạo Phật được truyền bá vào Nhật Bản từ Triều Tiên vào năm 552, khi vua Peakche gửi tặng Hoàng đế của Nhật Bản bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng vàng và đồng và một số sách Kinh Phật

Người có công lớn trong việc truyền bá kiến thức Phật học đầu tiên vào Nhật Bản

là Thánh Đức Thái tử (聖徳太子: Shoutoku Taishi), sinh năm 574, mất năm 622, là con trai thứ hai của Nhật hoàng Youmei (用明) Ông là một nhà chính trị, nhà cải cách, nhân vật Phật giáo nổi tiếng của Nhật Bản

Shoutoku Taishi tên thật là Umayado (厩戸) Thánh Đức Thái tử là tên người đời sau gọi để ca tụng ông Thánh Đức Thái tử vốn học đạo với một vị tăng Cao Li đến Nhật Bản để truyền bá Phật pháp Ông đã gửi nhiều đoàn sứ giả sang Trung Hoa để thu thập kinh điển Phật giáo Ông còn kiến lập 7 ngôi chùa Phật giáo

Trang 23

Thời đó với Nhật Bản, Phật giáo không chỉ là tôn giáo mà còn là một thứ văn hóa mới mẻ và có nhiều điểm tiến bộ Các kỹ thuật về nông nghiệp, kiến trúc, chữa bệnh

đã theo Phật giáo vào Nhật Bản và được dân chúng đón nhận

Triều đình chính thức đón nhận Phật giáo qua việc Nhật hoàng Youmei (用明) lễ Phật năm 585 Trong giới quý tộc, dòng họ Soga (曽我) mà tiêu biểu là Soga no Umako (曽我の馬子) rất hâm mộ Phật giáo Dòng họ Soga chỉ rõ rằng Nhật Bản nên chấp nhận đạo Phật, thế nhưng dòng họ Mononobe (物部) và Nakatomi (中冨) không chấp nhận bởi họ cho rằng những vị thần quê hương sẽ bị xâm phạm bởi sự tôn thờ đối với thần thánh ngoại lai Sự đối địch dẫn tới chiến tranh Thánh Đức Thái tử Shoutoku đứng về phe ủng hộ Phật giáo, tự cầm quân ra trận và đánh bại lực lượng đối lập Trước khi ra trận, ông làm lễ cầu Tứ Thiên Vương và thề sẽ dựng chùa thờ Tứ Thiên

Vương nếu thắng trận Sau chiến thắng, ông cho dựng chùa Shitenou (四天王寺: Tứ Thiên Vương tự, ở khu Shitenou, thành phố Osaka ngày nay) và đưa chùa này lên hàng

quốc tự Phật giáo từ đó có cơ sở vững chắc để phổ biến ở Nhật Bản

2.1.1.1 Thánh Đức Thái Tử ShouToku Nguồn:

http://ja.wikipedia.org/wiki/%E3%83%95%E3%82%A1%E3%8

2%A4%E3%83%AB:Umayado_Miko.jpg

Trang 24

Nhật Bản là một nước chấp nhận song tầng văn hóa, tức là chấp nhận những nền văn hóa cùng tồn tại song song Điều này tạo ra một truyền thống lâu dài ở Nhật Bản

đó là sự thờ cúng nhiều tôn giáo cùng lúc ở dân chúng và triều đình Nhật Bản

Người Nhật đi lễ ở đền Thần đạo vào dịp năm mới; lễ cưới hỏi thì coi ngày tốt xấu theo đạo giáo (Lão giáo); trong quan hệ gia đình, cha mẹ, thân thích theo nề nếp chữ Hiếu của Khổng giáo; quan hệ xã hội, làm ăn, ở trường học theo sự tôn kính, trung thành của Khổng giáo; khi nhớ ơn cha mẹ tổ tiên thì cầu khẩn Phật Dầu là theo Thần đạo, nhưng trong cuộc sống tinh thần, người Nhật gắn liền với nhân sinh quan Phật giáo và mục đích là sự giải thoát, bình an trong cõi Niết bàn

Phật giáo hiện nay vẫn là một tôn giáo chính trong xã hội Nhật Bản Nó như là một

sự khỏa lấp khoảng trống tinh thần của con người trước những biến đổi phức tạp, căng thẳng của nhịp sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong xã hội Nhật Bản

Phật giáo từ khi du nhập vào Nhật Bản đã có những ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội Với giáo lý về Nghiệp, Luân hồi, Giải thoát, Phật giáo đã làm cho người

ta tin vào một tương lai tốt đẹp ở thế giới bên kia – phương Tây cực lạc, hay còn gọi là cõi Niết Bàn Phật dạy rằng, ai cũng phải qua kiếp luân hồi, luân hồi là điều không thể tránh được Luân hồi là quy luật tự nhiên mà mỗi kiếp được trải qua bốn giai đoạn cơ bản: sinh, lão, bệnh, tử; hết rồi lại bắt đầu một vòng mới (kiếp mới), và cứ như vậy diễn ra không phụ thuộc vào con người và bản thân con người cũng không thể cưỡng lại được Cuộc đời là bể khổ, kiếp người là trầm luân nhưng lại theo một quy luật căn bản là “nhân - quả”, tức là sự kết thúc của một kiếp là nguyên nhân ra đời của kiếp sau theo sự tác động của duyên

Triết lý của đạo Phật khiến người Nhật dễ cảm thông và tâm đắc, tác động mạnh đến tình cảm của người Nhật Đạo Phật là động cơ thúc đẩy sự tiến bộ của nền văn hóa dân tộc Nhật Bản Để tồn tại ở Nhật Bản, Phật giáo đã biến đổi, hòa đồng một cách tinh tế với tín ngưỡng bản địa, cụ thể là Thần đạo để tồn tại và phát triển

2.1.2 Xuất xứ lễ hội Obon

Như trên đã trình bày, theo quan niệm của đạo Phật, con người sinh ra, lớn lên và chết đi, đó là một vòng đời Nhưng chết đi không phải là không còn tồn tại Mà chết là

đi đến một thế giới khác tồn tại song hành cùng thế giới của những người đang sống

Trang 25

Con người khi còn sống nếu làm nhiều việc thất đức, khi chết đi rồi sẽ phải gặp quả báo, bị đày ải xuống chín tầng địa ngục, và không được siêu thoát để đầu thai một kiếp người khác

Obon là một lễ hội Phật giáo tại Nhật Bản có xuất xứ từ câu chuyện Phật giáo của

Ấn Độ về lòng hiếu thảo của ngài Mục Kiền Liên Sau khi Đạo Phật du nhập vào Nhật Bản qua ngã Đại Hàn vào năm 552, câu chuyện mang đậm triết lý nhân sinh của đạo Phật này cũng được truyền bá vào Nhật Bản và nội dung chuyện cũng không bị thay đổi

Chuyện kể rằng: Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên (tiếng Nhật là 目連尊者: Mokuren MikotoSha: Mục Liên Tôn Giả) vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông, được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng

đệ tử của Phật Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên đã dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ tìm mẹ thì thấy mẹ đã bị đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì với thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm, nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ

“Ta từng nghe lời tạc như vầy:

Một thuở nọ Thế-tôn an-trụ Xá-vệ thành Kỳ-thụ viên trung, Mục-liên mới đặng lục-thông, Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm-luân

Công dưỡng-dục thâm-ân dốc trả, Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền, Làm con hiếu-hạnh vi tiên,

Bèn dùng huệ-nhãn dưới trên kiếm tầm

Thấy vong-mẫu sanh làm ngạ-quỷ,

Trang 26

Không uống ăn tiều-tụy hình-hài

Mục-liên thấy vậy bi-ai, Biết mẹ đói khát ai-hoài tình thâm

Lo phẩm-vật đem dâng từ-mẫu, Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu

Thấy cơm mẹ rất lo âu, Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn

2.1.2.1 Mục Liên cầu xin Đức Phật cứu mẹ Nguồn: http://www.e-sogi.com/arekore/obon.html

Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sinh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ

dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động

5 Hòa thượng Thích Huệ Đăng, Kinh Vu Lan Bồn [1(2008)]

Trang 27

đến thần thánh Phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát

“Rằm tháng bảy là ngày Tự-tứ Mười phương Tăng đều dự lễ này Phải toan sắm sửa chớ chầy Thức ăn trăm món trái cây năm màu Lại phải sắm giường nằm nệm lót Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu, Món ăn tinh-sạch báu mầu

Ðựng trong bình-bát vọng-cầu kính dâng” 6

Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sinh về cảnh giới lành Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi

là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan

Lễ hội Obon hay còn được gọi là Lễ Vu Lan là một lễ hội thấm nhuần tư tưởng đạo Phật Đây là dịp xá tội vong nhân, cửa ngục âm phủ mở để các vong hồn bị giam hãm được phép trở về thăm người thân ở trần gian Đối với các nước khác như Trung Quốc hay Việt Nam, lễ Vu Lan là dịp để bày tỏ lòng biết ơn công sinh thành dưỡng dục của mình đối với ông bà, cha mẹ Bên cạnh đó còn có lễ Rằm tháng Bảy (hay còn gọi là Lễ

xá tội vong nhân), là lễ xá tội cho vong hồn người quá cố, an ủi cho những vong linh

6

Hòa thượng Thích Huệ Đăng, Kinh Vu Lan Bồn [1 (2008)]

Trang 28

không có thân nhân cúng viếng Hai lễ này hoàn toàn tách biệt nhau nhưng vẫn có một

số người nhầm lẫn chúng là một Riêng đối với Nhật Bản thì hai lễ này lại là một Mặc dù thuyết nhân quả của nhà Phật, kiếp sau con người sẽ chịu quả báo hạnh phúc hay đau khổ, tùy thuộc hành động thiện hay ác mà người đó đã tạo ra trong đời này; nhưng vì chịu ảnh hưởng sâu xa những lời đức Phật dạy cho Ngài Mục Kiền Liên qua kinh Vu Lan, mà dân chúng Nhật thường có tục lệ mời chư Tăng về nhà, và thỉnh cầu họ làm lễ cầu siêu cho hương linh thân nhân quá cố trong mùa lễ Bon Phần đông Phật tử Nhật đều tin rằng nhờ sức chú nguyện tụng kinh của chư Tăng mà vong hồn ông bà cha mẹ của họ sẽ được thoát khỏi các cảnh giới khổ đau: ngạ quỷ, địa ngục, súc

sanh, để vãng sinh lên các thế giới an lành, hạnh phúc hơn

2.2 Thời gian diễn ra lễ hội

Tùy theo quan niệm của từng địa phương mà thời gian cử hành lễ hội khác nhau, nhưng tựu chung lại có 3 mốc chính là: Shichigatsu Bon: 七月盆 (Lễ Bon vào tháng 7), Hachigatsu Bon: 八月盆 (Lễ Bon vào tháng 8), và Kyuu Bon: 九盆 (Lễ Bon vào tháng 9)

Shichigatsu Bon (七月盆): Lễ hội diễn ra vào khoảng 15 tháng 7 Dương lịch, thường được tổ chức ở Tokyo, Yokohama, Tohoku

Hachigatsu Bon (八月盆): Lễ hội diễn ra vào ngày 15 tháng 8 Dương lịch, thường được tổ chức ở hầu hết các địa phương trên nước Nhật

Kyuu Bon (九盆): Lễ hội diễn ra vào 15 tháng 7 Âm lịch (tuy nhiên, tùy theo từng năm mà thời gian diễn ra lễ hội có sự thay đổi, phần lớn là diễn ra vào cuối tháng 8 – đầu tháng 9 Dương lịch) Lễ hội thường được tổ chức ở phía Bắc Kanto, ở Chuugoku, Shikoku, Kyuushuu và những địa phương nằm phía Tây Nam Nhật Bản

Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do sự chuyển đổi từ dùng Âm lịch sang Dương lịch Trước thời Minh Trị, người Nhật sử dụng Âm lịch và lịch Tempo (Tempo Reki) Lúc đó Obon được cử hành chung vào tháng 7 Âm lịch

Tới triều đại Minh Trị, chính phủ mới đã chuyển đổi từ sử dụng lịch âm sang lịch dương, và Dương lịch trở thành Quốc lịch Đồng thời với việc thay đổi lịch, chính phủ cũng đã quyết định đổi mùng 3 tháng 12 năm Minh Trị thứ 5 thành mùng 1 tháng 1

Trang 29

năm Minh Trị thứ 6 Việc thay đổi lịch như vậy đã dẫn đến những rắc rối trong việc tiến hành những lễ hội mà trước đây vẫn được cử hành theo Âm lịch Cụ thể là đối với

lễ hội Obon

Đối với những địa phương tuân thủ theo lịch mới (Dương lịch) như Tokyo, Yokohama hay Tohoku, họ đã chuyển đổi ngày tiến hành lễ Obon từ 15 tháng 7 Âm lịch thành 15 tháng 7 Dương lịch Vì vậy lễ Bon của họ sẽ diễn ra sớm hơn thời gian của lễ Bon trước kia 1 tháng Đặc biệt là từ khi Tokyo trở thành Kinh thành thì người dân nơi đây càng nhận thấy rằng họ phải tuân theo lịch mà nhà nước đã quy định Đối với những vùng như Kansai, họ thay đổi việc sử dụng từ Âm lịch sang Dương lịch, nhưng để vẫn có thể tiến hành lễ Bon theo thời gian như cũ, họ đã lùi lịch lại 1 tháng (Tsuki okure: Lễ muộn 1 tháng), và quyết định tổ chức lễ Bon vào ngày 15 tháng Tám

Một số địa phương vẫn muốn tổ chức lễ Bon vào 15 tháng 7 Dương lịch, nhưng họ lại nghĩ rằng thật chẳng vui gì khi tổ chức lễ hội dưới 1 bầu trời đầy mây vào mùa mưa tháng 7, nên họ đã dao động sang tháng 8

Vùng phía Bắc Kanto, Chuugoku, Shikoku, Kyushu và những đảo phía Nam thì cho rằng cần phải giữ nguyên việc sử dụng Âm lịch nên họ đã không đổi lịch sang lịch dương, và họ vẫn tổ chức lễ Bon vào 15 tháng 7 Âm lịch như trước Và vì vậy, tùy theo từng năm mà thời gian tiến hành lễ Bon có sự thay đổi so với lịch dương, thường

là vào khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 Dương lịch)

Cũng có tài liệu cho rằng sở dĩ lễ Obon được tổ chức vào 15 tháng 8 Dương lịch thay vì 15 tháng 7 Dương lịch là do thời bấy giờ, hơn 80% dân số Nhật Bản làm nghề nông Tháng 7 lại là thời kỳ bận rộn của nhà nông nên nếu tổ chức lễ rước tổ tiên, ông

bà vào thời điểm này là không thuận tiện Người Nhật cho rằng nếu sơ ý làm các vong hồn nổi giận thì họ sẽ gặp phải nhiều tai ương, vì vậy họ đã tổ chức lễ Bon muộn khoảng 1 tháng (người ta còn gọi là Tsuki OkureBon: Lễ Bon muộn) để có thể có nhiều thời gian lo chu đáo lễ vật dâng cúng ông bà tổ tiên

Trang 30

2.3 Phần nghi lễ trong lễ hội Obon:

Lễ Obon cơ bản diễn ra trong ba ngày: 13, 14 và 15 tháng 7 Dương lịch, có nơi là

15 tháng 8 Dương lịch Dưới đây, tác giả sẽ trình bày cụ thể về nghi thức lễ trong lễ

hội Bon

Nhìn chung, trong nhà mỗi người Nhật vào ngày này thường có bàn thờ Phật Trước đây, trong ngày lễ này, người ta lập bàn thờ Phật và bàn thờ linh hồn ông bà tổ tiên tách biệt nhau Ngày nay do sự đơn giản hóa các nghi thức cúng lễ nên có nhiều địa phương đặt bàn thờ ông bàn tổ tiên chung với bàn thờ Phật Tùy theo từng giáo phái mà cách thức dâng cúng có phần khác nhau, nhưng về cơ bản là có năm vật

không thể thiếu khi dâng lên bàn thờ Phật, gọi là “Ngũ cung” (五供: Goku)

Thứ nhất là “hương” (nhang): Người ta tin rằng ông bà, tổ tiên ở thế giới bên kia sẽ cảm nhận được mùi hương mà quay trở về cùng con cháu Khi cúng lễ Phật người ta thường dùng hương vòng, nhưng thường thì họ sử dụng hương cây dài Lưu ý là không được dùng miệng để thổi tắt lửa mà phải dùng tay hoặc đồ dập lửa (như quạt cầm tay ウチワ: uchiwa)

Thứ hai là “hoa”: Họ dâng những bông hoa tượng trưng cho sự thanh khiết như là hoa sen, hay những bông hoa trong vườn nhà, những bông hoa của các loại rau củ mà người đã khuất thích lúc còn sống Và phải chú ý thường xuyên thay nước cho hoa,

không được để hoa khô héo

Thứ ba là “nến”: Thắp sáng nến trước bàn thờ Phật tượng trưng cho sự tinh thông của Đức Phật Khi nến cháy hết, không được dùng miệng để thổi tắt bởi người ta cho rằng hơi thở của con người không được sạch nên nếu làm vậy sẽ vô cùng thất lễ với

Đức Phật

Thứ tư là “nước sạch”: Dâng nước sạch với ý nghĩa làm thanh tịnh tâm hồn Hàng

ngày phải chú ý thay nước Nếu là nước suối chảy từ nguồn ra thì càng tốt

Thứ năm là “đồ ăn”: Dâng những món ăn như thường ngày gia đình vẫn dùng, nhưng phải dâng trước bữa ăn của cả nhà Tránh dâng lên bàn thờ Phật những món ăn

có mùi tanh như thịt bò và cá Những món được dâng cúng không được để quá lâu,

làm lễ xong thì phải hạ xuống

Trang 31

Trên đây là những lễ vật cơ bản dâng trong ngày lễ Bon, và nhìn chung thì rất giống với cách thức dâng lễ cúng ở Việt Nam Ngoài ra, tùy từng địa phương, từng giáo phái mà có sự khác biệt Tiếp theo tác giả sẽ đi chi tiết vào nghi thức lễ của từng

ngày trong lễ Bon

Ngày 13: Lễ Bon bắt đầu vào ngày 13 tháng 7 dương lịch, được xem như khai điển

mùa Vu Lan Báo Hiếu của con cháu đối với ông bà cha mẹ Sáng ngày 13, tại phòng

chính trong nhà, trước bàn thờ Phật (仏壇: Butsudan), người ta trải chiếu, bày một chiếc bàn nhỏ, trên đó đặt một bài vị bằng gỗ (位牌: Ihai), có ghi tên tuổi và pháp

danh của những bà con đã mất trong gia đình Mâm cơm cúng cho các vong hồn, ngoài những đĩa thức ăn đặc biệt cho người đã mất, gia chủ còn bày cúng thêm các thứ khác như khoai tây nấu với mè, một đĩa cà, bầu hay bí chiên, mì sợi, chè kê, canh bí ngô, canh dưa gang, trái cây và bánh kẹo Ngoài ra, còn có món Mizu no Ko (水の子) được

làm từ dưa leo và cà tím thái nhuyễn

2.3.1 Mâm cúng trong lễ Obon Nguồn: http://www.e-sogi.com/arekore/obon.html

Đặc biệt, trên mâm cúng bao giờ cũng có một quả dưa leo được tạo hình giống con ngựa, và một quả cà tím được tạo như hình một con trâu với ý nghĩa: rước ông bà tổ tiên về với con cháu thì đi bằng ngựa cho nhanh; sau khi được đoàn tụ với gia đình rồi, ông bà tổ tiên sẽ lại thong thả trở về phần mộ của mình trên lưng của chú trâu Cũng

có người cho rằng ngựa sẽ là phương tiện để rước tổ tiên, ông bà về nhà, còn trâu là để chuyên chở hành lý của họ

Trang 32

2.3.2 Trâu và ngựa bằng cà tím và dưa leo Nguồn:http://www.e-sogi.com/arekore/obon.html

Riêng ngày 13 có cúng món chè xôi nước đặc biệt để đón các vong hồn mới về Sau khi làm lễ rước vong hồn của các thân nhân, từ nghĩa trang ở các chùa về nhà, người Phật tử Nhật, cũng như tín đồ các nước Phật giáo Á Châu khác, trong mùa Vu Lan báo hiếu, thường có tập tục cúng lễ cầu siêu cho các vong hồn tại nhà

2.3.3 Phẩm vật dâng cúng trong lễ Bon Nguồn: http://www25.big.or.jp/~tenzo/blogimg/H21/0810-12.jpg

Vào chiều tối ngày 13, người ta tấp nập đổ dồn về viếng thăm các nghĩa trang được thiết lập tại hàng trăm ngàn ngôi chùa địa phương trong thành phố, quận huyện, làng

xã để thắp hương mời ông bà tổ tiên về nhà Trên bàn thờ, người ta để những chiếc đèn lồng đã được thắp sáng (盆提灯 Bon Chouchin); trong sân và trước cổng nhà, người ta chất thành những đống cỏ và vỏ cây (おがら: Ogara) đốt sáng lên hàm ý dẫn đường

Ngày đăng: 18/12/2013, 13:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.2.1. Một chiếc Mikoshi điển hình - Lễ hội obon nhật bản báo cáo nghiên cứu khoa học
1.2.2.1. Một chiếc Mikoshi điển hình (Trang 12)
1.2.2.1. Một chiếc Mikoshi điển hình - Lễ hội obon nhật bản báo cáo nghiên cứu khoa học
1.2.2.1. Một chiếc Mikoshi điển hình (Trang 12)
Không uống ăn tiều-tụy hình-hài. Mục-liên thấy vậy bi-ai,  - Lễ hội obon nhật bản báo cáo nghiên cứu khoa học
h ông uống ăn tiều-tụy hình-hài. Mục-liên thấy vậy bi-ai, (Trang 26)
Đặc biệt, trên mâm cúng bao giờ cũng có một quả dưa leo được tạo hình giống con ngựa, và một quả cà tím được tạo như hình một con trâu với ý nghĩa: rước ông bà tổ  tiên về với con cháu thì đi bằng ngựa cho nhanh; sau khi được đoàn tụ với gia đình rồi,  ôn - Lễ hội obon nhật bản báo cáo nghiên cứu khoa học
c biệt, trên mâm cúng bao giờ cũng có một quả dưa leo được tạo hình giống con ngựa, và một quả cà tím được tạo như hình một con trâu với ý nghĩa: rước ông bà tổ tiên về với con cháu thì đi bằng ngựa cho nhanh; sau khi được đoàn tụ với gia đình rồi, ôn (Trang 31)
大文字), gần với chùa Vàng và kết thúc bằng đám lửa có hình Torii (とりい), có nghĩa là Cổng lên trời - Lễ hội obon nhật bản báo cáo nghiên cứu khoa học
g ần với chùa Vàng và kết thúc bằng đám lửa có hình Torii (とりい), có nghĩa là Cổng lên trời (Trang 38)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN LỄ HỘI OBON NHẬT BẢN - Lễ hội obon nhật bản báo cáo nghiên cứu khoa học
MỘT SỐ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN LỄ HỘI OBON NHẬT BẢN (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm