1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng dạy và học môn nghe tiếng nhật tại khoa đông phương trường đại học lạc hồng, thực trạng và giải pháp báo cáo nghiên cứu khoa học giáo viên

34 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất lượng dạy và học môn nghe tiếng Nhật tại khoa Đông phương trường đại học Lạc Hồng, thực trạng và giải pháp
Trường học Trường đại học Lạc Hồng
Chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật Bản
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 694,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra còn có một số bài viết liên quan đến việc giảng dạy môn nghe của một số giảng viên, giáo viên đang giảng dạy tại Việt Nam như bài viết: Những khó khăn khi học tiếng Nhật – Điều

Trang 1

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

Hiện tại, mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản đang trên đà phát triển tốt đẹp Các công ty Nhật Bản có mặt ngày càng nhiều trên khắp cả nước Do đó nhu cầu học tiếng Nhật của người Việt Nam không ngừng gia tăng, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Để người học có thể sử dụng tiếng Nhật như là một công cụ giao tiếp, đòi hỏi

cả người dạy lẫn người học luôn chú trọng vào 5 kỹ năng thực hành giao tiếp cơ bản: Nghe, nói, đọc, viết và ngữ pháp Luôn đặt các kỹ năng này trong mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, không nên xem trọng hay xem nhẹ một kỹ năng nào Và ở mỗi kỹ năng đều có những đặc điểm riêng để người dạy lẫn người học khám phá tìm tòi và học hỏi Trong số 5 kỹ năng nêu trên, kỹ năng nghe được cho rằng khó dạy và khó học nhất

Thực tế giảng dạy tiếng Nhật tại trường Lạc Hồng cho thấy, sinh viên không chú trọng rèn luyện kỹ năng nghe, mà chú trọng vào kỹ năng viết, đặc biệt là chú trọng vào việc học ngữ pháp Rất nhiều sinh viên cho rằng họ không thể nào nghe được, mặc dù họ viết rất tốt Chính vì lẽ đó mà sinh viên có tâm lý rất sợ môn nghe, luôn né tránh, không thích học môn này, do đó chất lượng học môn nghe của sinh viên không tốt, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng học môn nói, làm cho sinh viên thiếu tự tin trong giao tiếp Thậm chí có cả những người sau khi ra trường cũng không có khả năng nghe tốt dẫn đến không thể giao tiếp được Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp giúp người học

có hứng thú trong giờ học môn nghe cũng như giúp họ có phản xạ nghe hiểu tốt hơn đã thôi thúc tác giả đến với đề tài “CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN NGHE-TIẾNG NHẬT TẠI KHOA ĐÔNG PHƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”

2 Lịch sử nghiên cứu

Hiện tại có khá nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy kỹ năng nghe hiểu, tuy nhiên hầu hết các công trình ấy đều lấy đối tượng là tiếng Anh và tiếng Pháp, rất hiếm thấy tiếng Nhật Dẫu biết rằng kỹ năng nghe tiếng Anh hay Pháp cũng đều

là nghe ngoại ngữ, tuy nhiên mỗi ngôn ngữ đều có một đặc trưng riêng, do đó cũng cần phải nghiên cứu một cách chi tiết đối với một ngoại ngữ cụ thể

Trong số rất ít các công trình nghiên cứu về kỹ năng nghe tiếng Nhật, có thể kể đến công trình nghiên cứu về phương pháp dạy nghe của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản Tuy nhiên theo đánh giá của chúng tôi, những người đang trực tiếp giảng dạy, thì những

Trang 2

phương pháp ấy còn rất nhiều hạn chế, còn nặng về mặt lý thuyết, nên có thể nói những phương pháp ấy thích hợp cho việc dạy nghe ở chính đất nước Nhật hơn là áp dụng tại nước ngoài

Ngoài ra còn có một số bài viết liên quan đến việc giảng dạy môn nghe của một số giảng viên, giáo viên đang giảng dạy tại Việt Nam như bài viết: Những khó khăn khi học tiếng Nhật – Điều tra thăm dò nguyên nhân không nghe được và ý thức của sinh viên đã tốt nghiệp đối với việc dạy nghe, của tác giả Đỗ Hoàng Ngân và Fukami Kanetaka, đăng trên yếu hội thảo khoa học quốc tế nghiên cứu và dạy học tiếng Nhật, 2007 Tác giả đã tiến hành khảo sát những sinh viên đã tốt nghiệp, dựa vào kết quả khỏa sát ấy tác giả đưa

ra được những khó khăn mà sinh viên đã gặp phải trong quá trình học tập 4 năm tại trường Bài viết đặt trọng tâm vào nguyên nhân sinh viên không nghe được và ý thức của sinh viên đối với việc học môn nghe, để từ đó tác giả có thể nêu lên một số phương pháp nhằm khắc phục những khó khăn đó Tuy nhiên bài viết quá ngắn, không cho người đọc biết được nội dung của bảng khảo sát, mà chỉ nói kết quả khảo sát câu số 1,2…làm cho người đọc khó theo dõi, dẫn đến khó hiểu

3 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả tiến hành điều tra xã hội học, xử lý và phân tích kết quả điều tra, từ đó đưa ra giải pháp

Đông Phương, trường đại học Lạc Hồng

Chương 3: Một số đề xuất về giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy

môn nghe tại trường Đại học Lạc Hồng

Trang 3

Khi tìm hiểu về môn nghe, người nghiên cứu quan tâm đến hai khía cạnh, đó là nghe băng và nghe trực tiếp Do đó khi đề cập đến việc nâng cao chất lượng môn nghe cũng đòi hỏi sự phân biệt giữa việc nâng cao chất lượng nghe thể hiện qua thành tích của môn nghe trong các kỳ thi (nghe qua băng đĩa) và hiệu quả của việc giao tiếp trực tiếp với người bản xứ (nghe trực tiếp)

Hiện tại trong phạm vi trường học, thông thường công cụ để giảng dạy môn nghe là băng đĩa nghe và máy casset Đôi khi cũng dạy nghe qua băng đĩa hình, nhưng không thường xuyên Vì vậy chỉ đáp ứng được một khía cạnh (luyện tập nghe phục vụ cho thi

cử vì chỉ có nghe băng), nên cần phải tạo điều kiện phát huy hiệu quả khía cạnh còn lại (nghe trực tiếp thông qua giao tiếp với người bản xứ)

1.2 Kỹ năng nghe trong tiếng Nhật

Tiếng Nhật thuộc loại hình ngôn ngữ chấp dính, nó khác hẵn với loại hình ngôn ngữ đơn lập của tiếng Việt Trong tiếng Nhật, nổi bật nhất chính hệ thống kính ngữ Nhờ vào

hệ thống này, người Nhật thể hiện được thứ bậc, địa vị xã hội giữa những người đang giao tiếp Do đó trong tiếng Nhật thường xuất hiện những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối quan hệ giữa người nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại Người ta cho rằng chính hệ thống kính ngữ đã làm cho tiếng Nhật trở nên phức tạp hơn Hơn thế nữa, trong giao tiếp cũng có sự phân biệt giới tính, có những từ chỉ dành riêng cho nam giới sử dụng, và có những từ chỉ dành riêng cho nữ giới Chính vì lẽ đó đã làm cho người nghe khó nắm bắt kịp nếu như không trực tiếp giao tiếp

mà chỉ nghe qua băng đĩa

Trang 4

Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: Hán tự hay Kanji và hai kiểu chữ mềm Hiragana và đơn âm cứng Katakana, trong đó Kanji chiếm hơn 80% Mỗi chữ Kanji đều thể hiện một ý nghĩa khác nhau và hình dạng của chúng cũng tương đối khác nhau, thế nhưng có rất nhiều chữ được phát âm giống nhau Ví dụ có đến 41 chữ mang âm Ko,

48 chữ mang âm shi…Ngoài ra cũng có khá nhiều từ đồng âm như từ Gakki có nghĩa là học kỳ và nhạc cụ… Vì vậy khi đọc sẽ dễ dàng nhận ra nghĩa, nhưng khi nghe cần phải chú ý ngữ cảnh, ngữ điệu

Trọng âm của tiếng Nhật chủ yếu là trọng âm không đều Trọng âm được xác định theo từ Những trường hợp từ đồng âm có thể phân biệt nhờ sự khác nhau về trọng âm

Ví dụ như trong phương ngữ Tokyo, ame (雨, "mưa") và ame (飴, "kẹo") thì được đọc tương ứng là 「a\me」 (phần đầu đọc cao hơn) và 「a/me」 (kiểu âm bằng), những chữ đều được phiên âm là hashi o 「端を」 (góc đường), 「箸を」 (đôi đũa), 「橋を」

(cây cầu) thì đọc tương ứng là 「ha/shio」「ha\shio」「ha/shi\o」.ha/naga (花が, hoa) dễ bị hiểu nhầm thành "lỗ mũi" 「鼻が」 (ha/naga) Mặc dù như vậy, không phải

lúc nào khác trọng âm cũng là khác nghĩa nhau Như kyō'iku (教育, "giáo dục") hay

zaisei (財政, "tài chính") giọng Tokyo đọc là 「kyo/ーiku」 và 「za/iseー (za/isei)」,

nhưng theo các nhà chuyên môn cũng thường được đọc là 「kyo\ーiku」 và 「za\ise

ー」 Ngoài ra, sự bằng hóa trọng âm dường như đang là xu hướng của thời đại, densha (電車, "xe điện") và eiga (映画, "phim") từ cách đọc 「de\nsha」 và 「e\ーga (e\

iga)」 đang dần trở thành 「de/nsha」 và 「e/ーga Do đó nếu bản thân người nghe phát

âm không đúng sẽ dẫn đến không hiểu hay có thể hiểu sai hoặc nhầm lẫn ý nghĩa của từ Trật tự từ tiếng Nhật cơ bản là Chủ ngữ - Bổ ngữ - Động từ Sự liên kết Chủ ngữ, Bổ ngữ hay các yếu tố ngữ pháp khác thường được đánh dấu bằng trợ từ Trật tự từ này khác hẵn với tiếng Việt, tiếng Anh…nên cũng góp phần gây khó khăn cho người Việt trong việc nghe và nhận biết Bên cạnh đó, tiếng Nhật cũng không có những từ riêng biệt để biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp, cụ thể là những từ đóng vai trò biểu hiện thì và thể như từ đã,

từ chưa…trong tiếng Việt, mà lại sử dụng hình thức chia động từ ở cuối câu Trong tiếng Nhật người ta chia động từ ra rất nhiều thể để thể hiện nhiều ý nghĩa ngữ pháp Tuy nhiên

có một số thể có cách chia rất giống nhau Ví dụ động từ thể bị động, động từ ở dạng kính ngữ và động từ nhóm 2 chia ở thể khả năng giống hệt nhau, do đó khi nghe thoáng qua động từ đã được chia, nếu như không nhận biết rõ ngữ cảnh, hay chưa nắm rõ cấu trúc

Trang 5

ngữ pháp sẽ làm cho người nghe trở nên không hiểu nghĩa Hơn thế nữa trong tiếng Nhật

có những động từ nếu viết chữ thì chữ viết khác nhau và mang ý nghĩa cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng chia cùng một thể thì phát âm rất giống nhau Ví dụ từ mua và từ nuôi, nếu chia ở thì hiện tại tiếp diễn thì phát âm đều là Katteiru Chính vì lẽ đó mà đòi hỏi người nghe phải đặc biệt chú ý vào ngữ cảnh và đặc biệt chú ý biểu hiện của động từ cuối câu để nhận biết thì và thể

Tiếng Nhật được nói theo từng nhịp đều nhau Ngữ điệu trong tiếng Nhật là ngữ điệu cao thấp Điều này tạo cho người nghe cảm giác rằng người Nhật nói quá nhanh và âm của chữ trước dính liền với chữ sau khó nhận ra nghĩa

Ở Nhật Bản có rất nhiều phương ngữ (方言 hōgen) Có sự khác nhau rất lớn giữa

miền Đông và miền Tây của Nhật Bản cũng như ở nhóm đảo Ryūkyū Các phương ngữ thường khác nhau về ngữ điệu, hình thái biến đổi, từ vựng, và cách dùng các trợ từ

Tiếng Nhật mang đặc tính mạnh của ngôn ngữ âm tiết mở, có 111 kiểu mora (phách) Tiếng Nhật là một ngôn ngữ lược bỏ đại từ, có nghĩa là chủ ngữ hay bổ ngữ của một câu không cần phải được nêu ra nếu nó là hiển nhiên trong ngữ cảnh đó Ngoài ra, người

ta thường cảm thấy, đặc biệt trong văn nói tiếng Nhật, câu càng ngắn càng hay, tạo ra xu hướng loại bỏ các từ ra khỏi câu một cách tự nhiên chứ không dùng đại từ Do đó làm cho người nghe khó theo dõi, dẫn đến khó hiểu

Trang 6

Chương 2:

Thực trạng việc dạy và học môn nghe của ngành Nhật học, khoa

Đông Phương trường đại học Lạc Hồng

Để tìm hiểu về thực trạng học môn nghe của sinh viên, chúng tôi đã tiến hành điều tra thông qua bảng hỏi

2.1 Về đối tượng khảo sát và phiếu khảo sát

2.1.1 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát là sinh viên ngành Nhật trường Đại học Lạc Hồng Phiếu khảo sát được phát ra và phân bổ đều cho các đối tượng từ sinh viên năm 1, những người mới bắt đầu làm quen với tiếng Nhật cho đến sinh viên năm 4, những sinh viên sắp tốt nghiệp ra trường Đồng thời chúng tôi cũng tiến hành khảo sát cả nam và nữ, cả sinh viên có học lực từ yếu kém đến khá giỏi để có thể bao quát được phản ứng của sinh viên các khóa đối với môn nghe, cũng như đánh giá thái độ của từng loại sinh viên đối với môn nghe như thế nào

Trong năm học 2011- 2012, tổng số sinh viên đang theo học ngành Nhật Bản học là

336 sinh viên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 265 sinh viên (chiếm 78.9% trên tổng

số sinh viên), trong đó:

Số sinh viên khảo sát/

Trang 7

2.1.2 Phiếu khảo sát

Phiếu khảo sát được chia làm 2 phần:

+ Phần thông tin cá nhân gồm: Giới tính, sinh viên năm thứ, nơi cư trú, điểm trung bình học tập Để tìm hiểu và phân tích nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập liên quan đến hoàn cảnh của đối tượng được hỏi

+ Phần điều tra về thực trạng học môn nghe của sinh viên (Bảng hỏi đính kèm)

Bao gồm hệ thống các câu hỏi chi tiết liên quan đến chuyên môn của kỹ năng nghe nhằm khảo sát cụ thể về kỹ năng nghe của từng đối tượng khảo sát

Kết quả điều tra được sử lý bằng phần mềm SPSS

2.2 Thực trạng việc dạy và học môn nghe thông qua kết quả khảo sát

Trong những năm gần đây tiếng Nhật được đưa vào giảng dạy ở khắp mọi miền đất nước, và cũng đã được đưa vào giảng dạy ở một số trường phổ thông như là một môn ngoại ngữ bắt buộc Tuy nhiên có đến 96,6% số sinh viên cho biết trước khi vào học tiếng Nhật tại trường đại học Lạc Hồng họ đều chưa từng biết qua tiếng Nhật Tiếng Nhật đối với họ hoàn toàn mới lạ, họ phải bắt đầu từ những chữ cái đơn giản

2.2.1 Mức độ hứng thú với môn nghe

Trong tiếng Nhật, kỹ năng nghe được xem là một trong những kỹ năng khó Đến 86,3% số sinh viên cho rằng trong 5 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, ngữ pháp, kỹ năng nghe

là kỹ năng khó nhất

Chính vì họ cho rằng kỹ năng nghe là kỹ năng khó, nên họ không có hứng thú với việc học môn nghe Trong số các sinh viên được khảo sát, chỉ có 25,5% số sinh viên cho rằng thích học môn nghe, 60% số sinh viên cho rằng họ không thích học môn nghe lắm,

và 7,1% số sinh viên rất ghét học nghe

MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VỚI MÔN NGHE CỦA SINH VIÊN

Trang 8

Sự yêu thích môn nghe giữa nam và nữ cũng có sự khác nhau Sinh viên nam trả lời không thích học môn nghe lắm chiếm 63.8% và 6.9% rất ghét, 25.9% trả lời thích và 3.4% trả lời rất thích Trong khi đó sinh viên nữ trả lời không thích học nghe lắm chiếm 58.9%, ít hơn nam 4.9%, và 8.2% trả lời là rất ghét, 24.6% trả lời là thích và 8.2% rất thích

MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VỚI MÔN NGHE CỦA

SINH VIÊN NAM VÀ NỮ

0 10 20 30 40 50 60 70

Rất thích Thích Không thích lắm Ghét

Nam Nữ

Mức độ hứng thú đối với môn nghe cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào học lực của sinh viên Cụ thể nhƣ sau:

+ Sinh viên có học lực yếu phần lớn rất ghét học môn nghe, số sinh viên không thích học nghe chiếm 66.7%, còn lại 33,3% thích học

+ Sinh viên có học lực trung bình đa số cũng không thích học môn nghe lắm, con số này chiếm đến 67.7% và 15.6% cho là rất ghét học nghe, chỉ có 13.5% cho là thích học

và 3.1% cho là rất thích

+Sinh viên có học lực khá cũng không thích môn nghe lắm, nhƣng tỉ lệ không nhiều bằng sinh viên trung bình và yếu, chỉ chiếm 59.2% và chỉ có 2.8% là rất ghét học nghe Ngƣợc lại, tỉ lệ thích học môn nghe tăng lên đáng kể, chiếm 31% và rất thích chiếm 7% +Sinh viên có học lực giỏi phần lớn thích học môn nghe 33.3% cho là thích và 25% cho là rất thích, còn lại 41.7% cho là không thích lắm, không có sinh viên giỏi nào rất ghét học nghe

Trang 9

MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VỚI MÔN NGHE PHÂN THEO

HỌC LỰC CỦA SINH VIÊN

Tuy nhiên nếu tìm hiểu riêng từng khóa chúng ta sẽ nhìn nhận rõ đƣợc thái độ sinh viên các khóa đối với môn nghe cũng có sự khác nhau

+ Sinh viên năm nhất: thích học môn nghe chiếm 30.8% và rất thích học chiếm 15.4%; không thích học nghe lắm chiếm 51.3% và rất ghét chiếm 2.6%

+Sinh viên năm hai: thích học môn nghe chiếm 34.5% và rất thích chiếm 7.3%, không thích học nghe lắm chiếm 49.1% và rất ghét học nghe chiếm 9.1%

+ Sinh viên năm ba: thích học môn nghe chiếm 11.6% và 5.8% rất thích, không thích học nghe lắm chiếm 69.8% và ghết chiếm 12.8%

+ Sinh viên năm tƣ : thích học nghe chiếm 29.4% và 4.7% rất thích, không thích học nghe lắm chiếm 61.2% và rất ghét học chiếm 4.7%

MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VỚI MÔN NGHE CỦA SINH VIÊN THEO TỪNG KHÓA

Sinh viên năm 2

Sinh viên năm 3

Sinh viên năm 4

Rất thích Thích Không thích lắm Rất ghét

Trang 10

2.2.2 Nguyên nhân làm cho môn nghe trở nên khó

Theo đánh giá của sinh viên, sở dĩ môn nghe trở nên khó bởi nguyên nhân chủ yếu sau đây:

+ Do cấu trúc của tiếng Nhật khác hẵn với cấu trúc tiếng Việt (62%)

+ Người Nhật nói khá nhanh, cách phát âm từ vựng của họ làm tăng độ khó của môn nghe lên nhiều lần Những biến đổi âm trong lời nói nhanh và liên tục khác hẵn so với cách phát âm rõ ràng từng âm tiết của giáo viên ở lớp (81%)

+ Do sinh viên không thuộc từ vựng, và do bản thân phát âm sai, nên khi nghe không nhận ra được Có rất nhiều từ nhìn vào có thể hiểu được nhưng khi nghe thì không hiểu nghĩa.(85%)

+ Tâm lý căng thẳng khi nghe có thể biến những từ quen thuộc trở thành từ mới không nhận ra nghĩa trong quá trình nghe.(78%)

+ Do bản thân sinh viên chưa nắm vững các cấu trúc ngữ pháp dẫn đến không hiểu rõ

ý nghĩa của câu (68%)

+ Do sinh viên chưa quen với cách nghe qua để nắm ý, mà phần lớn lại tập trung vào nghe từng câu, câu chữ, nên khi gặp từ không hiểu thì không tập trung nghe tiếp được, làm tuột mất thông tin tiếp theo (73%)

+ Một số sinh viên ngay từ ban đầu nghe mà không hiểu nghĩa, hoặc thường xuyên vừa nghe vừa đọc phần lời, lâu dần trở thành thói quen luôn không tập trung khi nghe, nghe phải kết hợp với đọc mới hiểu.(48%)

GV trên lớp

Không thuộc

từ, không nắm cách phát âm của từ

Tâm lý căng thẳng

Không nắm cấu trúc ngữ pháp

Không biết cách nghe

để nắm ý chính

Có thói quen vừa nghe vừa đọc phần lời

Trang 11

THÀNH TÍCH HỌC MÔN NGHE DỰA TRÊN

ĐIỂM THI CUỐI HỌC KỲ

Nếu xét cụ thể đối với từng khóa học ta thấy điểm nghe cũng có sự thay đổi:

+ Sinh viên năm thứ nhất: Ở bậc phổ thông, trong giờ học ngoại ngữ, chủ yếu học về ngữ pháp và đọc hiểu, kỹ năng nghe và nói hầu như không được luyện tập Thế nhưng, bước vào đại học, các em đã học ngoại ngữ với từng kỹ năng riêng biệt, có hẵn một giờ học nghe riêng, và một giờ thi nghe riêng Do chưa quen nên kết quả thi môn nghe ở học

kỳ đầu tiên vừa qua cho thấy sinh viên có điểm khá giỏi môn nghe rất ít, có đến 38,5% số sinh viên có điểm thi dưới 5, sinh viên đạt được mức điểm từ 5 đến dưới 7 điểm chiếm 43,6%, mức điểm 7 đến 8 điểm chiếm 15,4%, chỉ có 2,6% đạt điểm 9 đến 10

+ Sinh viên năm 2: Dường như sinh viên đã quen dần với cách thi môn nghe nên so với điểm thi môn nghe của năm thứ nhất, điểm thi môn nghe của sinh viên năm hai có phần cao hơn Điểm thi môn nghe dưới trung bình chỉ còn 10.9%, so với 38.5% của năm thứ nhất, 49.1% số sinh viên đạt điểm thi môn nghe đạt mức trung bình, 38.2% số sinh viên đạt điểm khá, 1,8% sinh viên đạt điểm giỏi

Trang 12

+ Sinh viên năm 3: Điểm thi môn nghe dưới trung bình của năm 3 có phần cao hơn năm thứ 2, chiếm tỉ lệ 16,3%, điểm thi môn nghe đạt mức trung bình chiếm 53.5%, điểm thi môn nghe đạt loại khá chiếm 29.1%, sinh viên đạt điểm thi loại giỏi chiếm 1.2% + Sinh viên năm 4: điểm thi môn nghe dưới trung bình ở năm 4 giảm đi đáng kể so với năm 3 Sinh viên có điểm thi nghe dưới trung bình chỉ còn 7.1%, sinh viên đạt điểm nghe thuộc loại trung bình chiếm 76.5%, sinh viên đạt điểm nghe khá chiếm 16.5%, không có sinh viên có điểm thi giỏi

THÀNH TÍCH HỌC MÔN NGHE CỦA SINH VIÊN

Nếu xét điểm thi môn nghe trong mối quan hệ với học lực của sinh viên chúng ta

có điểm nghe giỏi

+ Sinh viên có học lực khá:7.7% có điểm dưới trung bình, 64.8% có điểm nghe trung bình, 27.5% có điểm nghe khá, không có sinh viên có học lực khá có điểm nghe giỏi

+ Sinh viên có học lực giỏi: không có sinh viên giỏi có điểm nghe dưới trung bình, 12.5% có điểm nghe trung bình, 75% có điểm nghe khá, 12.5% có điểm nghe giỏi

Trang 13

Điểm nghe với học lực của sinh viên

Từ 5 đến dưới 7

Từ 7 đến 8 Từ 9 đến 10

Học lực yếu Học lực trung bình Học lực khá Học lực giỏi

Cụ thể đối với từng năm:

+ Sinh viên năm 1: Trong số những sinh viên năm nhất có điểm học tập thuộc loại trung bình có đến 56,5% có điểm thi môn nghe dưới 5, điểm nghe từ 5-7 điểm chiếm 34,8% , điểm nghe từ 7-8 điểm chiếm 7,8% Trong số những sinh viên khá thì cũng có 14,3% có điểm nghe dưới 5, điểm nghe từ 5 đến 7 chiếm 57,1% , điểm nghe từ 7-8 điểm chiếm 8,7% Trong số 2 sinh viên có thành tích học tập giỏi thì có 1 sinh viên có điểm nghe đạt ở mức điểm trung bình

+ Sinh viên năm 2: Trong số các sinh viên năm hai có học lực trung bình thì điểm thi môn nghe dưới 5 chiếm 26.7% Điểm thi môn nghe trung bình chiếm 66.7% Điểm thi môn nghe khá chiếm 6.6%, và không có điểm thi môn nghe đạt mức giỏi Trong số các sinh viên có học lực khá thì có 6.9% có điểm thi nghe dưới trung bình, 55.2% có điểm thi trung bình, 37.9% có điểm thi khá Trong số các sinh có điểm học lực giỏi thì có đến 90%

có điểm thi nghe đạt từ 7-8 điểm; 10% đạt 9-10 điểm

+ Sinh viên năm 3: Sinh viên có học lực yếu toàn bộ đều có điểm nghe dưới trung bình; trong số sinh viên có học lực trung bình có 28.1% có điểm thi môn nghe dưới trung bình, 56% có điểm thi nghe đạt mức trung bình, 15.6% có điểm nghe khá, không có sinh viên trung bình có điểm nghe giỏi; trong số sinh viên có điểm học lực khá có 6.5% có điểm nghe dưới trung bình, 60.9% có điểm nghe trung bình, 32.6% có điểm nghe khá, không có sinh viên khá có điểm nghe giỏi; trong số sinh viên có học lực giỏi 83.3% có điểm nghe loại khá, 16.7% có điểm nghe loại giỏi

+ Sinh viên năm 4: Trong số sinh viên có học lực trung bình của năm 4 có 7.7% sinh viên có điểm nghe dưới 5, sinh viên có điểm nghe trung bình chiếm 88.5%, sinh viên có điểm nghe khá chiếm 3.8%, không có sinh viên trung bình có điểm nghe giỏi; trong số những sinh viên có học lực khá có 7.7% có điểm nghe dưới trung bình, 88.5% có điểm

Trang 14

nghe trung bình, 3.8% có điểm nghe khá, không có sinh viên có điểm nghe giỏi; trong số sinh viên có học lực giỏi có 33.3% có điểm nghe trung bình, 66.7% có điểm nghe khá, không có sinh viên giỏi có điểm nghe giỏi

Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng phần lớn đề thi cuối kỳ môn nghe hiện nay của ngành Nhật Bản học đều có kết cấu trung bình khoảng 60-80% nằm trong giáo trình dạy, chỉ có 20-40% năm ngoài chương trình Với đề thi hiện tại, thì thành tích mà sinh viên đã được qua bài thi cuối kỳ môn nghe chưa đánh giá được năng lực nghe thật sự của sinh viên Có nhiều sinh viên tỏ ra rất hài lòng về thành tích nghe của mình, từ đó tạo cho họ tính chủ quan, đánh mất ý thức rèn luyện nghe, nhưng thật sự khả năng nghe của họ chưa đạt đến mức đó Do đó, có thể khẳng định bảng điểm cuối kỳ chưa đánh giá được thật chất thành tích học môn nghe của sinh viên Chính vì thế để đánh giá năng lực nghe của sinh viên, chúng tôi đã khảo sát thêm điểm thi môn nghe trong kỳ thi năng lực tiếng Nhật quốc tế

So với đề thi học kỳ, đề thi năng lực phần nào có thể đánh giá được một cách khách quan năng lực nghe của sinh viên Tuy nhiên không phải tất cả sinh viên ngành Nhật đều tham gia kỳ thi năng lực, mà chỉ có 73.9% sinh viên thuộc đối tượng khảo sát đã dự thi Đặc biệt, sinh viên năm nhất không tham gia thi, nên kết quả sau đây chỉ có tính tương đối, chưa phản ảnh trung thực được năng lực chung của toàn sinh viên ngành Nhật Điểm nghe của kỳ thi năng lực được tính theo thang điểm 60, điểm liệt là 19 Sinh viên bị điểm liệt môn nghe chiếm 24.5%, sinh viên không bị điểm liệt nhưng có điểm môn nghe dưới trung bình chiếm 61.2%, sinh viên có điểm nghe từ trung bình đến được 2/3 số điểm chiếm 12.8%, sinh viên đạt trên 2/3 số điểm chỉ đạt 1.5%

ĐIỂM THI MÔN NGHE- KỲ THI NĂNG LỰC QUỐC TẾ

41 trở lên

Tóm lại, kết quả thi cuối kỳ môn nghe cho thấy phần lớn sinh viên đạt ở mức trung bình, sinh viên đạt điểm nghe khá không nhiều lắm, sinh viên đạt điểm nghe loại giỏi rất hiếm Sinh viên có thành tích môn nghe kém nhất trong ngành Nhật là sinh viên năm nhất

Trang 15

Sinh viên năm 2 học nghe tương khá so với sinh viên năm 3 và 4 Đa số sinh viên năm 4

có thành tích nghe đạt mức trung bình Sinh viên có học lực giỏi thì điểm nghe chỉ ở mức khá, sinh viên học lực khá điểm nghe chỉ đạt mức trung bình, sinh viên có học lực trung bình, phần lớn điểm nghe cũng đạt mức trung bình, sinh viên có học lực yếu phần lớn điểm nghe yếu

2.2.4 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giờ học môn nghe trên lớp

85% sinh viên cho rằng cơ sở vật chất hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu học nghe cũng như chưa tạo điều kiện để sinh viên luyện tập kỹ năng nghe Trên thực tế, mặc dù trường có trang bị phòng Lab để phục vụ cho giờ học nghe, nhưng phần lớn giờ nghe chỉ diễn ra tại phòng học thường, đồ dùng dạy học chủ yếu là máy Casset Tuy nhiên đa số các máy casset đều đã cũ, có nhiều máy ở trong tình trạng không tốt, không đọc được đĩa, chất lượng âm thanh kém, thậm chí có những giờ học phải thay đổi máy 2,3 lần, làm mất thời gian học…

Hiện tại, cả ngành Nhật, Hàn, Trung Quốc của khoa Đông phương có tổng cộng 23 lớp học 23 lớp học này sử dụng chung 1 phòng Lab Trong đó có những lớp học trong phòng Lab suốt cả học kỳ học, có những lớp cả một năm chưa một lần được học phòng lab, và có rất nhiều ngày trong tuần phòng lab bị bỏ trống Đặc biệt rất nhiều giáo viên cũng như sinh viên không thích học trong phòng Lab Nguyên nhân là do nếu đăng ký sử dụng phòng lab thì phải đăng ký cố định suốt cả học kỳ, chất lượng của hệ thống máy trong phòng lab rất kém, rất nhiều máy bị hư chỉ nghe được nhưng màn hình không nhìn được Trong giờ học nghe, không chỉ nghe băng, đĩa mà giáo viên còn cho sinh viên luyện tập với nhau, phân vai để nói lại các tình huống vừa nghe, tuy nhiên phòng lab lại

bố trí giữa hai sinh viên có một vách ngăn, bất tiện cho việc trong đổi, luyện tập với nhau Hơn thế nữa, giáo viên và sinh viên không thể trao đổi với nhau nếu không sử dụng tai nghe, tuy nhiên nếu đeo tai nghe suốt 4 tiết học thì rất khó Đặc biệt phòng Lab không trang bị Iternet, nên không hỗ trợ được nhiều trong giờ dạy nghe Do đó mặc dù có phòng Lab nhưng lại có đến 78% sinh viên cho rằng thiếu trang thiết bị nghe nhìn, sinh viên cũng ít có cơ hội để vừa nghe vừa nhìn vì không phải phòng học nào cũng có trang bị hệ thống máy chiếu Hơn thế nữa, số lượng băng đĩa video rất ít, nên không đáp ứng được nhu cầu dạy và học của giáo viên lẫn sinh viên Hệ thống mạng tại các lớp học rất yếu, nên không thể sử dụng internet để phục vụ giờ học nghe nhìn, làm cho giờ học nghe

Trang 16

phong phú hơn Hiện tại phòng tư liệu có 11 máy vi tính, nhưng sinh viên chưa tận dụng được để tự luyện nghe

62% sinh viên cho rằng chất lượng băng đĩa không được tốt, có nhưng đĩa nghe rất cũ, chất lượng âm thanh kém, nên rất khó nghe

59% sinh viên nhận xét số lượng sinh viên trong mỗi lớp học khá đông, có lớp trên 40 sinh viên, nên ảnh hưởng đến chất lượng giờ nghe Những sinh viên ngồi phía sau không thể nghe rõ, dẫn đến không tập trung trong giờ học nghe Giáo viên không quan sát được những sinh viên ngồi phía sau, nên không nhận biết được sinh viên có nghe và hiểu được hay không Lớp đông nên sinh viên ít có cơ hội luyện tập nói lại sau khi nghe xong 86% sinh viên cho rằng tài liệu học môn nghe chưa phong phú Ngoài giáo trình chính

sử dụng để học giờ nghe, sinh viên rất ít nghe các tài liệu khác Tại phòng tư liệu Nhật Bản cũng có khá nhiều tài liệu nghe, nhưng tài liệu chỉ phục vụ tại chỗ, trong khi đó phòng tư liệu không trang bị máy để sinh viên có thể nghe, dẫn đến sinh viên không thể

sử dụng tài liệu nghe ở phòng tư liệu Nhật Bản

Tóm lại, cơ sở vật chất hiện tại chưa đáp đáp ứng được nhu cầu vừa nghe vừa nhìn của sinh viên trong giờ học nghe, chưa tạo điều kiện để có thể ứng dụng Internet trong giờ dạy Tài liệu nghe, băng đĩa nghe chưa phong phú

2.2.5 Giờ học nghe trên lớp

Trong chương trình học tiếng Nhật, môn nghe sinh viên năm 1, 2 được học 45 tiết/ học kỳ, sinh viên năm 3,4 được học 60 tiết/ học kỳ Thời lượng học môn nghe nhiều hơn môn đọc và viết, ít hơn môn ngữ pháp, tương đương với giờ học môn nói Thế nhưng có thể nói sinh viên ngành Nhật rất thụ động, phần lớn sinh viên chưa tìm ra cho mình một môi trường học môn nghe, cũng như để luyện tập nghe mà phụ thuộc vào giờ nghe trên lớp

Môi trường luyện tập kỹ năng nghe của sinh viên

70.2%

20.4%

8.7% 0.8% Chủ yếu học nghe trên lớp

Tự học nghe qua băng đĩa

Tự học nghe qua phim ảnh

Tự học nghe qua giao tiếp với người bản xứ

Trang 17

Có đến 70.2% sinh viên cho rằng họ học nghe và luyện nghe chủ yếu trên lớp học 20.4% sinh viên tự luyện tập nghe qua băng đĩa, 8.7% cho rằng họ luyện nghe nhờ vào việc xem những bộ phim của Nhật, chỉ có 0.8% cho rằng họ đã tìm cơ hội giao tiếp với người Nhật để luyện nghe nói Mặc dù phần lớn sinh viên cho rằng môn nghe rất khó nên

họ không hứng thú với việc học nghe lắm, tuy nhiên sinh viên cũng cho rằng họ luyện tập nghe chủ yếu trên lớp học, từ đó cho thấy, dưới con mắt của sinh viên giờ học nghe trên lớp hiện nay mang tính hiệu quả, phần nào có thể giúp sinh viên luyện nghe

Như đã đề cập ở phần trước, giờ học nghe hiện nay chủ yếu là học qua đĩa tiếng, sử dụng máy casset Môn nghe được dạy theo giáo trình quy định sẵn, phần lớn thời gian trên lớp giáo viên dành để giải quyết các yêu cầu mà giáo trình đặt ra Thỉnh thoảng cũng

có giáo viên dạy nghe qua video, qua những đoạn phim hoạt hình ngắn, hay dạy nghe qua những bài hát…nhưng do giáo viên phải dạy để kịp chương trình quy định, và cở sở vật chất còn nhiều hạn chế, nên thời gian dành cho việc nghe thêm ngoài chương trình học không nhiều

Chính vì lẽ đó có khá nhiều sinh viên cho rằng trong giờ học nghe các em chỉ nghe và làm bài tập trong giáo trình là chủ yếu 4 tiết nghe được bố trí chung cho một buổi học không hợp lý, sinh viên nghe liên tục 4 tiết sẽ rất mệt mõi và không thể tập trung được

Vì thế cần kết hợp giữa nghe và nói trong giờ học nghe Tuy nhiên hiện nay, trong giờ nghe ít có thời gian dành cho luyện nói, chẳng hạn nói lại những gì đã nghe, hay được phân vai để luyện tập lại các mẫu đối thoại ngắn xuất hiện trong giáo trình…đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho giờ nghe trở nên tẻ nhạt 27% sinh viên cho là họ hoàn toàn không được luyện nói trong giờ nghe, 19.2% sinh viên cho rằng được luyện nói lại những gì đã nghe nhưng rất hiếm khi 33.2% sinh viên cho rằng thỉnh thoảng họ được luyện tập nói trong giờ nghe, 20.4% cho rằng học thường xuyên được luyện tập nói trong giờ nghe

Ngày đăng: 18/12/2013, 13:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hương Hoa, Phương pháp giảng dạy tiếng Anh theo định hướng thực hành giao tiếp, http://www.pup.edu.vn/tap-chi-khoa-hoc-giao-duc-canh-sat-nhan-dan/tap-chi-so-5/doi-moi-phuong-phap-giang-day-tieng-anh-theo-dinh-huong-thuc-hanh-giao-tiep Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy tiếng Anh theo định hướng thực hành giao tiếp
Tác giả: Lê Hương Hoa
2. Đỗ Hoàng Ngân và Fukami Kanetaka, Những khó khăn khi học tiếng Nhật – Điều tra thăm dò nguyên nhân không nghe được và ý thức của sinh viên đã tốt nghiệp đối với việc dạy nghe, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế nghiên cứu và dạy học tiếng Nhật, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn khi học tiếng Nhật – Điều tra thăm dò nguyên nhân không nghe được và ý thức của sinh viên đã tốt nghiệp đối với việc dạy nghe
3. Tôn Nữ Xuân Phương, Khảo sát những khó khăn trong quá trình dạy kỹ năng nghe hiểu cho sinh viên học tiếng Anh không chuyên ngữ,http://www.svxd.com/showthread.php?tid=737 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát những khó khăn trong quá trình dạy kỹ năng nghe hiểu cho sinh viên học tiếng Anh không chuyên ngữ
4. Nguyễn Minh Vân, Những vấn đề trong việc bồi dưỡng năng lực nghe hiểu cho sinh viên và các giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề này (dành cho đối tượng học luyện thi Năng lực tiếng Nhật), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế nghiên cứu và dạy học tiếng Nhật, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề trong việc bồi dưỡng năng lực nghe hiểu cho sinh viên và các giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề này (dành cho đối tượng học luyện thi Năng lực tiếng Nhật)
5. Đỗ Quang Việt, Bàn về một hướng nghiên cứu giảng dạy kỹ năng nghe hiểu cho sinh viên khoa Ngôn ngữ và văn hóa Pháp, trường đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 23 (2007) 84-93.Tài liệu tiếng Nhật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một hướng nghiên cứu giảng dạy kỹ năng nghe hiểu cho sinh viên khoa Ngôn ngữ và văn hóa Pháp, trường đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 23 (2007) 84-93

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Phần điều tra về thực trạng học môn nghe của sinh viên. (Bảng hỏi đính kèm) - Chất lượng dạy và học môn nghe   tiếng nhật tại khoa đông phương trường đại học lạc hồng, thực trạng và giải pháp báo cáo nghiên cứu khoa học giáo viên
h ần điều tra về thực trạng học môn nghe của sinh viên. (Bảng hỏi đính kèm) (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w