Mặc dù nuôi ngao đã mang lại nguồn thu lớn, không chỉ gópphần cải thiện sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tếcho các địa phương vùng ven biển, nghề nuôi ngao
Trang 1H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM Ọ Ệ Ệ Ệ
BÙI XUÂN KHOA
ĐÁNH GIÁ HI N TR NG MÔI TR Ệ Ạ ƯỜ NG N ƯỚ C VÀ TÍNH B N V NG C A KHU V C NUÔI NGAO XÃ Ề Ữ Ủ Ự ĐÔNG MINH, HUY N TI N H I, T NH THÁI BÌNH Ệ Ề Ả Ỉ
Ngườ ưới h ng d n:ẫ PGS.TS Ngô Th Ân ế
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từngdùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đượccám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Xuân Khoa
i
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy Ngô Thế Ân đã tận tìnhhướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, thầy đãdành rất nhiều thời gian, công sức giúp tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý Đàotạo, Bộ môn Sinh Thái Nông Nghiệp, Khoa Môi Trường - Học viện Nông nghiệpViệt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoànthành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Quantrắc Môi trường và bênh thuỷ sản Miền Bắc – Viện Ngiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạomọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôihoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Xuân Khoa
ii
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng biểu v
Danh mục hình vi
Danh mục chữ viết tắt vii
Trích yếu luận văn viii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngao ở trên thế giới và việt nam 3
2.1.1 Tình hình sản xuất ngao trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình nuôi ngao ở Việt Nam 4
2.2 Đặc điểm sinh học và kỹ thuật trong nuôi ngao 7
2.2.1 Giới thiệu chung vế họ ngao 7
2.2.2 Đặc điểm sinh học của ngao 7
2.2.3 Các yếu tố kỹ thuật nuôi Ngao 8
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi 11
2.2.5 Các nghiên cứu về bệnh ngao 13
2.3 Chất lượng môi trường nước trong nuôi trồng thuỷ sản 16
2.3.1 Chất lượng môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản 16
2.3.2 Tiêu chuẩn chất lượng nước nuôi trồng thủy sản ven bờ 19
2.4 Phát triển bền vững và đánh giá tính bền vững trong nuôi trồng thuỷ sản 24
2.4.1 Khái niệm 24
2.4.2 Phương pháp đánh giá tính bền vững hệ sinh thái 24
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 29
3.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Thời gian nghiên cứu: 29
iii
Trang 53.3 Đối tượng nghiên cứu 29
3.4 Nội dung nghiên cứu 29
3.5 Phương pháp nghiên cứu 29
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 29
3.5.2 Phương pháp phỏng vấn 30
3.5.3 Phương pháp thu mẫu, bảo quản và phân tích mẫu nước 30
3.5.4 Phương pháp phân tích mẫu nước: 32
3.5.5 Phương pháp so sánh và đánh giá 33
3.5.6 Phương pháp đánh giá tính bền vững của khu nuôi ngao 33
3.5.7 Phương pháp xử lý số liệu 35
Phần 4 Kết quả và thảo luận 36
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã đông minh 36
4.1.1 Vị trí địa lý 36
4.1.2 Thời tiết, khí hậu, môi trường 37
4.1.3 Đặc điểm địa hình 39
4.1.4 Chế độ sinh vật 39
4.1.5 Kinh tế - xã hội 40
4.2 Tình hình nuôi ngao tại xã đông minh 42
4.2.1 Diện tích nuôi tại xã Đông Minh 42
4.2.2 Đặc điểm khu vực nuôi 43
4.3 Chất lượng môi trường khu nuôi ngao tại xã đông minh 44
4.3.1 Các thông số nhiệt độ, pH và độ mặn 44
4.3.2 Các thông số DO, NO2-N, NH3-N,H2, tảo độc hại, và Vibrio tổng số 48
4.3 Tính bền vững ngư trại khu nuôi ngao tại xã đông minh 54
4.4 Các giải pháp quản lý môi trường nước phục vụ nuôi ngao 59
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 62
Tài liệu tham khảo 63
iv
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Nhập khẩu ngao của Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2015 6
Bảng 2.2: Phân loại nước theo độ mặn 18
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn chất lượng nước nuôi trồng thuỷ sản ven bờ 20
Bảng 3.1 Tần xuất thu mẫu 31
Bảng 3.2 Thông số và phương pháp phân tích mẫu 32
Bảng 4.1 Giá trị sản xuất xã Đông Minh từ năm 2013 đến năm 2015 40
Bảng 4.2 Biến động nhiệt độ, pH, độ mặn khu vực nuôi ngao năm 2015 44
Bảng 4.3 : Các thông số DO, NO2 -N, NH3 -N và H2 S,Vibrio tổng số tại Đông Minh năm 2015 48 Bảng 4.4 Mật độ tảo độc hại tại Đông Minh 2015 51
Bảng 4.5 Kim loại nặng và dư lượng thuốc BVTV tại Đông Minh năm 2015 53
Bảng 4.6 Kết quả tính toán ASI-E các ngư trại NTTS nước lợ xã Đông Minh
năm 2015 54
Bảng 4.7 Kết quả tính toán ASI-H các ngư trại NTTS nước lợ xã Đông Minh
năm 2015 55
Bảng 4.8 Phân nhóm các đầm nuôi theo giá trị phúc lợi sinh thái và xã hội –
nhân văn 57
v
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Phân chia giai đoạn phát triển của bệnh BRD bằng mắt thường và
bằng kính hiển vi theo đề nghị của Paillard and Maes (1994) 14
Hình 2.2: Sơ đồ: Quan điểm về hệ thống nuôi thủy sản kết hợp phát triển bền vững .24
Hình 2.3: Mô hình quả trứng bền vững 2 lớp và 3 lớp của IUCN 25
Hình 2.4: Thước đo BS 26
Hình 2.5: Hệ thống cấp chủ đề và chỉ thị đơn của chỉ số thịnh vượng trong mô hình quả trứng bền vững 2 lớp 27
Hình 2.6: Biểu đồ BS về độ bền vững các ngư trại ở Nghĩa Hưng năm 2002 27
Hình 3.1: Vị trí các điểm lấy mẫu 30
Hình 4.1: Giống ngao Meretrix lyrata 43
Hình 4.2: Biến động nhiệt độ khu 3 từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2015 45
Hình 4.3: Biến động nhiệt độ tại cửa Lân năm 2015 46
Hình 4.4: Biến động pH tại khu 3 năm 2015 46
Hình 4.5: Biến động pH tại cửa Lân năm 2015 47
Hình 4.6: Biến động độ mặn tại bãi nuôi năm 2015 47
Hình 4.7: Biến động DO tại Đông Minh năm 2015 49
Hình 4.8: Biến động NH3 tại Đông Minh năm 2015 49
Hình 4.9: Biến động NO2 -N tại Đông Minh năm 2015 50
Hình 4.10: Biến động hàm lượng H2 S tại Đông Minh năm 2015 51
Hình 4.11: Biến động mật độ Vibrio tổng số tại Đông Minh 2015 52
Hình 4.12 Phân nhóm các trại NTTS nước lợ tại xã Đông Minh trên thước đo bền vững của IUCN 57
Hình 4.13 Phân nhóm các trại NTTS nước lợ trên thước đo bền vững của IUCN, 1996 58
vi
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ASIE Giá trị của mảng phúc lợi sinh thái
ASIH Giá trị của mảng phúc lợi xã hội và nhân văn
vii
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đông Minh là xã ven biển thuộc khu Đông huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bìnhđiều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi ngao, nhờ nuôi ngao mà nhiều
hộ nông dân trong xã đã giàu lên nhanh chóng, nhưng những năm gần đây, ngaochiết hàng loạt khiển người dân xã Đông Minh phải điêu đứng, nhiều hộ dân đã
bỏ nghề vì rủi ro cao Nghiên cứu này được tiến hành để đánh giá chất lượngnước và tính bền vững tại khu vực nuôi ngao xã Đông Minh Phương pháp chínhđược sử dụng trong đề tài bao gồm các phương pháp lấy mẫu và phân tích nước
từ 6 điểm quan trắc trong khu nuôi ngao và tại các cửa cống thoát nước Tính bềnvững được đánh giá theo phương pháp chỉ số ngư trại bền vững của IUCN(1996) Kết quả phân tích cho thấy Ngao chết tại khu vực chủ yếu là do nhiệt độ
và độ mặn biến đổi kết hợp với một số thành phần môi trường (NO2-N, H2S, TảoĐộc hại, Vibrio tổng số…) vượt quá ngưỡng cho phép Theo kết quả tính chỉ sốngư trại bền vững (ASI ) ở 23 ngư trại thì hầu hết các đầm đều có giá trị phúc lợiXH-NV cao (trọng số từ 76 – 100), trong khi đó giá trị phúc lợi sinh thái chỉ ởmức thấp (15 - 32) Những giá trị này khi đưa vào sơ đồ thước đo bền vững chokết quả 65% số ngư trại thuộc nhóm không bền vững, 35% thuộc nhóm kém bềnvững Vì vậy, cần phải có các biện pháp quản lý chất lượng nước và các giải phápứng phó nâng cao hiệu quả nuôi, đảm bảo sự phát triển bền vững cho địa bànnghiên cứu
viii
Trang 10Thesis Abstract
Dong Minh is a coastal commune in the East of Tien Hai district, Thai Binhprovince where was a favorable conditions for the development of clam farming andthanks to clam culture, many farmers in this commune has become rich quickly.However in recent years, there are many clams were died frequently that makespeople in there to be afflicted and many households have give up their recent workbecause of high risks This research was conducted to assess water quality andsustainability in region of Dong Minh Commune The main method are used in thistopic including sampling methods and water analysis from six monitoring points inthe clam areas and sewer manhole Sustainability is evaluated through AquacultureSustainable Index of IUCN (1996) The analytical results showed that deaths ofclamin this region mainly due to temperature and changein the level of salinitycombining with certain environmental components (NO2-N, H2S, Harmful Algae,amount of Vibrio ) exceeds the allowed threshold and then lead to death of clam.According to the results calculating from Aquaculture Sustainable Index (ASI) in 23
“ngư trại” (in Vietnamese) in Dong Minh province,most of the ponds havehighsocialwelfare (reach weights from 76 to 100)while ecological welfare is quite low(15-32) Moreover, when putting these values into sustainable Barometer ofSustainability diagrams, the results are 65% “ngư trại” in unsustainable group and35% inless sustainable ones
Therefore, we should have some measures to manage water quality andresponse solutions to improve the efficiency of clam culture and ensuresustainable development for research area
ix
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
2.1 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là một trong những nước có lợi thế về biển với đường bờ kéo dàitới 3.260 km và 1 triệu km2 vùng biển kinh tế đặc quyền Nhận thức được tầmquan trọng và lợi thế của mình, nước ta đang đẩy mạnh phát triển kinh tế biển.Cùng với sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu phát triểnkinh tế ngày càng cao trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạnkiệt, khuynh hướng tiến ra biển, khai thác biển và làm giàu từ biển đang rất đượcchú trọng
Thời gian gần đây người dân ở các tỉnh ven biển đang đẩy mạnh nuôi trồngthủy hải sản trong đó nghề nuôi ngao ven biển nước ta đã có những bước pháttriển mạnh mẽ về diện tích, sản lượng nuôi cũng như mức độ thâm canh trongnhững năm qua Mặc dù nuôi ngao đã mang lại nguồn thu lớn, không chỉ gópphần cải thiện sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tếcho các địa phương vùng ven biển, nghề nuôi ngao đang gặp phải những khókhăn trong một vài năm gần đây từ việc ngao nuôi bị chết hàng loạt, dịch bệnhtăng và môi trường nuôi ngày càng xấu đi, tại một số địa phương như Thái Bình,Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tĩnh… Nhiều nông hộ gặp khó khăn về nguồn vốn đểtiếp tục đầu tư vào nuôi ngao sau nhiều lần nuôi bị thất bại, thị trường tiêu thụngao thương phẩm không ổn định Các vấn đề này đã và đang làm ảnh hưởngkhông nhỏ đến sự phát triển của nghề nuôi ngao ở nước ta
Thái Bình là tỉnh đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng cận nhiệt đới ẩm,
có 5 cửa sông lớn đổ ra biển, tạo ra một vùng bãi triều rộng khoảng 25.000 ha rấtthuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản mặn, lợ, trong đó có nuôi ngao.Nhiều năm qua, nông dân vùng ven biển các huyện Tiền Hải, Thái Thụy đã đầu
tư nuôi ngao cho giá trị kinh tế hàng trăm tỷ đồng, góp phần xóa đói giảm nghèo,làm giàu cho ngư dân vùng biển như ở xã Đông Minh thuộc huyện Tiền Hải.Đông Minh là xã ven biển thuộc khu Đông huyện Tiền Hải, được thành lập
từ khoảng sau năm 1955 – 1956, có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghềnuôi ngao với 446 ha diện tích bãi triều nuôi ngao, điều kiện tự nhiên phù hợpvới đặc điểm sinh học của ngao Nuôi ngao là một nghề cho thu nhập cao Nhờnuôi ngao mà nhiều hộ nông dân trong xã đã giàu lên nhanh chóng, nhưng những
1
Trang 12năm gần đây, ngao chiết hàng loạt khiển người dân xã Đông Minh phải điêuđứng Theo báo cáo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của xã (2014) dokhí hậu khắc nghiệt, môi trường nuôi ngao xấu đi dẫn đến hiện tượng ngao chết,nguyên nhân chính dẫn đến việc ngao chết vẫn chưa được làm rõ UBND xã đãthống kê được thiệt hại và báo cáo với các ngành trức năng cần làm rõ nguyênnhân và đề xuất các giải pháp thao gỡ khó khăn cho các hộ nuôi ngao Theo tácgiả Đức Văn (2014) điều tra đầu tháng 8 năm 2014 tại xã Đông Minh ngao chếthàng loạt thiệt hại từ 20 đến 30%, nơi cao thiệt hại từ 70 đến 90%, tổng sảnlượng thiệt hại lên đến 9.497,6 tấn, thiệt hại ước tính lên đến 108,1 tỷ đồng.
Để thấy được thực trạng phát triển của hoạt động sản xuất ngao tại xã ĐôngMinh, tạo cơ sở xây dựng các giải pháp phát triển nghề nuôi ngao tốt hơn, gópphần nâng cao sản lượng và chất lượng thủy sản, phục vụ sự phát triển ổn định
của nền kinh tế quốc dân tôi tiến hành đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường nước và tính bền vững của khu vực nuôi ngao xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”.
2.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài này được tiến hành với các mục đích sau:
Đánh giá được chất lượng môi trường nước tại vùng nuôi ngao xã ĐôngMinh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và đánh giá được tính bền vững tại khuvực xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình thông qua chỉ số ngư trại bềnvững; Từ đó đề xuất được giải pháp giảm thiểu tác động xấu tới môi trườngnước, khắc phục và nâng cao hiệu quả kinh tế trong nuôi ngao
1.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Khu vực nuôi ngao bãi triều xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
2.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
- Đề tài có ý nghĩa khoa học là xây dựng được cơ sở dữ liệu tổng hợp vềmôi trường nước phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường cho địa bànnghiên cứu Ngoài ra, đề tài cũng góp phần minh chứng thêm khả năng áp dụngchỉ số ngư trại bền vững một cách linh hoạt trong đánh giá các đầm nuôi ngaovùng nước lợ
- Về mặt thực tiễn, đề tài này góp phần đề xuất các giải pháp quản lý môitrường khu nuôi ngao, tạo cơ sở xây dựng kế hoạch chiến lược trong giảm thiểurủi ro, ổn định sinh kế người dân hướng tới phát triển bền vững cho địa phương
2
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGAO Ở TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
2.4.1 Tình hình sản xuất ngao trên thế giới
Tình hình sản xuất và tiêu thụ năm 2014
Trần Xuân Điểm (2014) tổng hợp nhanh mặt hàng nhuyễn thể hai mảnh vỏtại một số nước như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… có sựtăng trưởng khá về sản lượng, giá trị nhập khẩu cũng như xuất khẩu các mặt hàngnhuyễn thể 2 mảnh vỏ (ngao, nghêu, sò, điệp…) Tuy nhiên tại một số nước khác
là Nhật Bản, Hàn Quốc, Chile… lại giảm số lượng và giá trị nhập khẩu các mặthàng này
Trung Quốc : với 7,62 triệu ha nuôi trồng thủy sản đáp ứng nhu cầu của thịtrường thì Trung Quốc đã tập trung nuôi những loài có giá trị kinh tế cao như hà,
sò, ngao,… tính đến hết tháng 12/2013, Trong top 10 thị trường nhập khẩu nghêu
sò sống, tươi và ướp lạnh của thế giới giai đoạn này, Trung Quốc là thị trường nổibật nhất với tốc độ tăng trưởng nhâp khẩu lên đến 70,5% tương ứng giá trị nhậpkhẩu đạt trên 12 triệu USD, nhập khẩu mặt hàng này vào Trung Quốc trong năm
2013 đã tăng lên rõ rệt so với năm 2012 Giá trị nhập khẩu trong từng quý từ đầunăm đều tăng trưởng khá cao, trong đó quý I tăng mạnh nhất 528%, tiếp đến quý
II tăng 398% và quý III tăng 35%, quý IV tăng 5% so với cùng kỳ năm 2012.Xuất khẩu nghêu sò sống tươi và ướp lạnh của Trung Quốc giảm 3,9% về sảnlượng so với cùng kỳ 2012, đạt 94.418 tấn Tuy nhiên giá trị xuất khẩu mặt hàngnày lại tăng nhẹ 3,03% so năm với 2012 và đạt 151 triệu USD
Indonesia: Với diện tích 7,7 triệu km2 trong đó có 5,8 triệu km2 là biển,Năm 2014, Indonesia đặt mục tiêu đạt sản lượng 20,95 triệu tấn thủy sản với giátrị xuất khẩu ước tính 5,65 tỷ USD so với 4,9 tỷ USD năm 2013 theo Kim Thu(2014) Trong đó, thủy sản khai thác chiếm 6,08 triệu tấn và thủy sản nuôi là13,97 triệu tấn Để phát triển thì Indonesia đã thành lập các trung tâm phát triểnnuôi trồng ở các tỉnh và địa phương Ngoài ra Indonesia còn có các viện nghiêncứu quốc gia và nhiều trạm nghiên cứu khác về nuôi trồng thủy sản trong đó cócon ngao Các trung tâm nghiên cứu và phát triển của Indonesia đã xây dựng và
3
Trang 14phổ biến rộng rãi công nghệ kỹ thuật tới tận người nuôi thông qua việc đào tạo,thông tin, trình diễn và giám sát Nhờ các trung tâm, viện nghiên cứu chuyển giaocác kinh nghiệm và khoa học kỹ thuật, người dân nắm bắt và áp dụng vào quátrình nuôi thả, nên nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi ngao nói riêng ởIndonesia phát triển một cách bền vững, tránh được nhiều rủi ro do bệnh tật gâynên và bảo vệ môi trường.
Chile : Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng tính đến tháng 5/2015 đạt358.200 tấn, Sản lượng thủy sản có vỏ đạt 156.600 tấn Đầu năm 2016 Bộ Quốcphòng Chile thông báo thủy triều đỏ đã làm hàng tấn ngao chết tại vùng biểnGrande de Cucao, thuộc quần đảo Chiloé Huyền Anh (2016) Các nhà khoa họcđưa ra do nguyên nhân cho mô hình thời tiết El Nino mạnh bất thường và nhiệt
độ mặt biển ấm lên do nước ấm kéo theo lượng tảo sinh ra lớn hơn Với đường
bờ biển dài 4.000 km, Chile đặc biệt dễ chịu nhiều tổn hại từ tác động của cáchiện tượng trên.
2.1.2 Tình hình nuôi ngao ở Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình sản xuất
Tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ theo Bùi Đắc Thuyết và cs (2013), TháiBình có diện tích và sản lượng ngao nuôi lớn nhất miền Bắc và Bắc Trung Bộ(1984ha, 30130 tấn), tiếp theo là các tỉnh Nam Định (1708ha, 20015 tấn), ThanhHóa (960ha, 7700 tấn), Quảng Ninh (1271ha, 5123 tấn) và thấp nhất là Hà Tĩnh(200ha, 2800 tấn)
Hiện nay phần lớn các địa phương đều nuôi ngao Trắng hay ngao Bến Tre(Meretrix lyrata) Một số hộ còn thả nuôi loài ngao Dầu (Meretrix meretrix), đặcbiệt là ở tỉnh Quảng Ninh với hầu hết các hộ nuôi hiện nay thả nuôi ngao Dầu.Hiện nay, trạm khuyến nông huyện Vân Đồn, Quảng Ninh còn thả nuôi thửnghiệm thêm loài ngao Hoa (Paphia undulate) Đây là đối tượng nuôi mới, có giátrị kinh tế cao, thời gian nuôi ngắn và có khả năng thích ứng tốt với môi trườngvùng nuôi.Tuy nhiên, đối tượng này vẫn đang còn nuôi thử nghiệm và chưa đượcnuôi đại trà tại các địa phương
Do đặc điểm của nghề nuôi ngao ở miền Bắc và Bắc Trung bộ chủ yếu docác nông hộ quản lý nên diện tích của các bãi nuôi ngao thường nhỏ Trung bìnhdiện tích nuôi ngao của các hộ là 3,5ha Các địa phương có số hộ nuôi ngao
4
Trang 15nhiều như Nam Định, Thái Bình thì diện tích nuôi ngao rất bé Diện tích nuôingao ít thay đổi.
Theo Bùi Đắc Thuyết và cộng sự (2013), đa số các hộ nuôi ngao chỉ nuôitại 1 điểm nuôi, một số hộ đặc biệt nuôi tại 2 đến 3 điểm nuôi Phần lớn các vâynuôi ngao (67,5%) nằm ở vùng trung triều, 17,6% số vây nuôi nằm ở vùng caotriều, 10,6% số vây nuôi nằm ở vùng hạ triều và 4,3% số vây nuôi nằm ở vùngtriều giới, luôn ngập nước Hai tỉnh Thái Bình và Hà Tĩnh có số vây nuôi thuộcvùng cao triều nhiều nhất (46% tại Thái Bình và 44% tại Hà Tĩnh)
Thời gian phơi bãi tại các vây nuôi thuộc vùng cao triều có thể kéo dài đến14-15 tiếng/ngày Như vậy, các vây nuôi ở vùng cao triều sẽ gặp khó khăn, đặcbiệt là vào mùa hè, thời gian phơi bãi quá dài, nắng nóng sẽ làm ảnh hưởng tớingao nuôi
Một số tỉnh ở miền Nam như Cà Mau dù lượng ngao giống giảm hơn nămtrước nhưng vụ ngao giống vừa rồi, nhiều xã viên Hợp tác xã kiếm được hơn 20triệu đồng từ việc cào và ương ngao, Hợp tác xã nuôi ngao Đất Mũi chịu tráchnhiệm quản lý, khai thác có hiệu quả bãi ngao rộng 3.000ha (từ kinh Ô Rô đếnRạch Mũi, xã Đất Mũi) Trong đó, khoảng 600ha là vùng nuôi ngao thươngphẩm, diện tích còn lại để khai thác ngao giống, ngoài ra, hợp tác xã còn tổ chứcương, bán ngao giống và bao tiêu nuôi ngao thương phẩm
2.1.2.2 Tình hình xuất khẩu
Theo số liệu Ngọc Thuỷ (2016) tổng hợp, xuất khẩu (XK) nhuyễn thể haimảnh vỏ trong 11 tháng đầu năm 2015 đạt giá trị 74,75 triệu USD, giảm 0,5% sovới cùng kỳ năm 2014
EU là thị trường nhập khẩu (NK) nhuyễn thể hai mảnh vỏ hàng đầu từ ViệtNam 11 tháng đầu năm 2015, XK nhuyễn thể hai mảnh vỏ sang EU đạt giá trị47,95 triệu USD, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm 2014 XK nhuyễn thể hai mảnh
vỏ sang EU có dấu hiệu giảm từ những tháng cuối năm 2014, trong đó giảm chủyếu ở nước NK nhiều nhất nhuyễn thể hai mảnh vỏ trong khối EU là Bồ ĐàoNha,
Nhật Bản là thị trường NK nhuyễn thể hai mảnh vỏ lớn thứ 2 sau EU,chiếm 12,1% tỷ trọng Tuy nhiên, Nhật Bản là thị trường có mức tăng trưởng NKnhuyễn thể hai mảnh vỏ cao nhất trong 3 thị trường NK nhuyễn thể hai mảnh vỏhàng đầu của Việt Nam Trong 11 tháng đầu năm 2015, Nhật Bản NK nhuyễn
5
Trang 16thể hai mảnh vỏ từ Việt Nam đạt giá trị 9,06 triệu USD, tăng 12% so với cùng kỳnăm 2014.
Theo tổng hợp Ngọc Thuỷ (2015) Mỹ là thị trường NK nhuyễn thể hai mảnh vỏ lớn thứ 3 của Việt Nam
Bảng 2.1 Nhập khẩu ngao của Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2015
Trang 17Nguồn: Vasep (2015)
6
Trang 18Mặc dù xuất khẩu ngao của Việt Nam sang Mỹ giảm cả về khối lượng lẫngiá trị nhưng giá trung bình xuất khẩu ngao của Việt Nam sang thị trường Mỹ lại
có xu hướng tăng
Trong 9 thị trường NK hàng đầu nhuyễn thể hai mảnh vỏ, đáng chú ý nhất
là thị trường Trung Quốc và Hồng Kông XK nhuyễn thể hai mảnh vỏ sang thịtrường này trong 11 tháng đầu năm 2015 đạt giá trị 1,35 triệu USD, tăng 97,1%
so với cùng kỳ năm 2014 XK sang thị trường này tăng trưởng mạnh từ đầu nămđến khoảng gần cuối quý 3, sang đến quý 4 XK lại có xu hướng sụt giảm
2.5 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT TRONG NUÔI NGAO
2.5.1 Giới thiệu chung vế họ ngao
Ngao là tên gọi dùng để chỉ các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ(nhuyễn thể) thuộc họVeneridae chuyên sống ở vùng nước ven biển có độ mặncao, nhiều đất cát sỏi, phân bố khá phổ biến ở vùng biển nhiệt đới hoặc cận nhiệtđới Cao Thị Nga (2012) họ ngao có 40 loài thuộc 7 nhóm giống phân bố dọc bờbiển từ Bắc vào Nam.Vùng ven biển phía Bắc có ngao dầu, ngao mật, vùng venbiển phía Nam có Nghêu Ngao và Nghêu là nhóm nhuyễn thể có tiềm năng lớn ởvùng triều nước ta, kỹ thuật nuôi không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít lại
có giá trị xuất khẩu Nuôi Ngao, Nghêu (sau đây gọi tắt là ngao) còn là biện pháptích cực bảo vệ nguồn lợi này và làm sạch môi trường đáy vùng triều
Ngao phân bố trên các bãi triều, trong các eo vịnh có đáy là cát pha bùn (cátchiếm 70-80%), sóng gió nhẹ, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào Nếu đáynhiều bùn, ngao dễ bị chết ngạt, nếu đáy cát (100%) ngao bị khô nóng
Ngao là loài nhuyễn thể sống rộng nhiệt, thích nghi được nhiệt độ từ 5 đến
350C, ở khoảng 18-300C ngao sinh trưởng tốt nhất Giới hạn chịu nhiệt của ngao
là 430C, ngao chết 50% ở nhiệt độ 440C và chết toàn bộ ở nhiệt độ 450C, ở nhiệt
độ -2 đến -30C, ngao chỉ chết khoảng 10% trong 3 tuần
2.5.2 Đặc điểm sinh học của ngao
Ngô Trọng Lư (1996) Ngao là loài sống đáy, chân phát triển để đào cát vùimình xuống dưới, để hô hấp và kiếm mồi, ngao thò vòi nước lên mặt bãi tạothành một lỗ hình bầu dục (từ lỗ này biết được chỗ ở của ngao), tuy nhiên do vòirất ngắn nên ngao không thể chui sâu vào cát mà thước nằm sâu dưới mặt cát vài
cm, khi trời lạnh, ngao chui xuống sâu hơn, song không quá 10 cm
7
Trang 19Trong quá trình sinh trưởng khi gặp môi trường không thích hợp, ngaothường di chuyển đến vùng bãi khác bằng cách tiết ra một túi nhầy hoặc một giảichất nhầy làm giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể và nổi lên trong nước theo dòng triều dichuyển đi nơi khác.
Ngao là loài ăn lọc, phương thức bắt mồi bị động, khi triều lên ngao thòvòi lên mặt cát hút nước để lọc mồi ăn, thức ăn của ngao chủ yếu là các loại Tảo,các mảnh vụn và chất vẩn cặn hữu cơ trong nước Ngao ăn mạnh vào khoảng từtháng 2 đến tháng 5, các tháng mùa lũ và sau lũ, ngao ngậm vỏ không ăn trongmột thời gian dài, ngao có độ béo cao nhất vào tháng 4-6, thấp nhất vào tháng 10-12
Ngao là loài phân tính đực, cái riêng, mùa đẻ của ngao là hè - thu, ngao 1năm tuổi đã sinh sản tốt, ngao đẻ từng đợt cách nhau nửa tháng, có khi mộttháng, mỗi đợt kéo dài khoảng 1 giờ
Trong điều kiện thuận lợi, từ trứng đến ngao “cám” (25.000 con/kg) là 2tháng, từ ngao “cám” đến ngao “tấm” (loại 10.000 con/kg) 2 tháng, từ ngao
“tấm” đến ngao “cúc” (loại 800-1.000con/kg) là 3 - 5 tháng trở thành ngao giốngđạt tiêu chuẩn chuyển sang nuôi thương phẩm, từ ngao giống đến ngao thịt (cỡ 50con/kg) qua 10-11 tháng nữa, ngao lớn nhanh vào tháng 4 - 9 và thời gian đầu,sau đó chậm dần
2.5.3 Các yếu tố kỹ thuật nuôi Ngao
Trong nuôi ngao các yếu tố kỹ thuật lựa chọn giống đóng vai trò quan trọngquết định thắng lợi vụ nuôi Trong tài liệu tập huấn kỹ thuật nuôi ngao (2015)Trung tâm khuyến nông khuyến ngư quốc gia hướng dẫn khai thác giống ngao :Khai thác giống tự nhiên
Ngao giống sau khi hình thành vỏ rơi xuống đáy phân bố ở các triền sông
và bị dòng triều cuốn ra phân bố trên dải cát thấp dọc bờ biển, ngao sinh sản vàođầu mùa mưa (khoảng tháng 4) đến tháng 5 sẽ thành ngao “ cám” nhỏ bằng nửahạt gạo (1mm), có thể khai thác giống đưa vào bãi ương Thời gian khai tháctrong các tháng 5, 6, 7
Phương pháp khai thác giống bằng cào lưới thủ công với mặt lưới thích hợp
để thu bặt ngao “cám”: dùng cào gắn lưới nạo sâu xuống mặt cát khoảng 2-3 cm,cát lọt qua lưới, giống được giữ lại bên trong lưới, ngao giống thu được sẽ đồngđều, ương nuôi đạt hiệu quả và chất lượng cao Giống được đóng trong bao thấm
8
Trang 20nước, không quá 10kg/bao, nên vận chuyển vào ban đêm bằng phương tiện thuỷ,tránh mưa, thời gian từ lúc thu giống đến khi thả ương không quá 12-16 giờ.Lựa chọn bãi giống
Bãi giống được lựa chọn ngoài việc dựa trên các kinh nghiệm, còn có thểlựa chọn bãi giống theo các điều kiện sau:
Bãi giống có thể là bãi ngao trưởng thành hoặc gần bãi ngao trưởng thành.Đáy là cát bùn (trong đó cát chiếm 70 – 80%) Nước triều lên xuống đều,không phơi đáy quá 4 giờ/ngày, độ mặn trung bình từ 15 - 25‰, có lượng nước ngọtnhất định đổ vào Bãi có độ sâu nhất định trong toàn vùng bãi triều, có thể là vùngnước quẩn: ấu trùng ngao trong giai đoạn sống phù du chịu ảnh hưởng rất lớn củadòng chảy, thông thường theo chiều của dòng thuỷ triều, ấu trùng thường bị cuốn đi
xa so với bãi đẻ, đó chính là lý do khi thấy con giống tập trung theo bãi
Ngoài ra, còn có thể lựa chọn bãi giống tại một vị trí nhất định, có bờ chắn
lũ, đắp các bờ có bề rộng từ 30 – 40cm, cao 40cm song song với bờ chắn lũ, chiacác ngăn thành từng ô nhỏ, có thể dùng lưới hoặc cây gỗ để làm giảm lưu tốcnước của thủy triều Đối với các bãi giống đã được lựa chọn cần có biện phápquản lý thích hợp như thường xuyên kiểm tra bờ bãi, chống nóng, không chongười đi vào
Phương pháp thu con giống
Có thể chia làm 2 phương pháp thu con giống như sau:
- Phương pháp lấy giống khô
Khi nước triều rút cạn, dùng cào cào cả cát và giống tập trung vào giữa các
ô nhỏ đã được chia, trong trường hợp ngao giống vùi sâu có thể cào tiếp lần nữavào kỳ nước triều rút lần tiếp theo Đào một hố nhỏ sâu 20cm, chiều dài 3m vàchiều rộng khoảng 2m ngay bên cạnh ô giống, khi nước triều lên, ngao giống sẽtập trung lên bề mặt trên để lọc thức ăn, dùng sàng hoặc rổ có cỡ mắt sàng thíchhợp rửa sạch cát ở nơi hố đào bên cạnh
Trong trường hợp mặt bãi khô, dùng cào 4 răng lật cả cát và ngao giốnglên, cho ít nước vào đánh tan thành bùn, đợi ngao giống bò lên mặt bùn rồi thucon giống
-Phương pháp thu giống nước nông
9
Trang 21Khi nước triều cạn, dùng cào ngao cào cả cát và con giống tập trung ởgiữa bãi thành một đống hình tròn có đường kính khoảng 6m Sau đợt triều rútlần sau dùng cào phân ở giữa bãi giống đã tập trung thành một ô trống có đườngkính 3 m, sâu 30 cm, trong đợt triều lần sau, khi nước triều rút chỉ còn khoảng 1
m, dùng chân đạp nước xung quanh bãi giống, ngao giống kiếm ăn ở mặt ngoàiquanh đống giống do bị dòng nước kích thích sẽ tập trung ở ô trống ở giữa, dùngsọt tre để với giống, khi nước triều còn rất thấp, tiếp tục dùng tay vỗ nước quanhđống giống để ngao giống tập trung tiếp vào ô trống ở giữa để vớt con giống lênthuyền
Kỹ thuật nuôi ngao thịt
- Chọn bãi nuôi: Bãi nuôi có nền đáy là cát bùn hoặc cát - cát bùn, hơixốp,tương đối bằng phẳng, ít dốc ở vùng trung và hạ triều Bãi nuôi thường đượcchọn ở những bãi triều gần cửa sông, bằng phẳng, độ dốc thấp và ít sóng gió Khichọn điểm cần chú ý đến một số nhân tố sau:
Độ cao mặt bãi: bãi nuôi chọn ở tuyến trung và hạ triều Nếu nuôi ở nhữngbãi có cao trình tương đối cao (thời gian phơi bãi hơn 6 giờ/ngày) Nghêu sẽ sinhtrưởng chậm, tỉ lệ chết sẽ cao, nhưng nếu nuôi ở bãi triều quá thấp thì Ngao,Nghêu dể bị địch hại tấn công và khó quản lý
Chất đáy: chất đáy tốt nhất cho Ngao, Nghêu là cát bùn, cát chiếm 70-90%.Nồng độ muối: nồng độ muối thích hợp cho nuôi Ngao, Nghêu là từ 15-30%o Cần tránh những nơi có dòng nước ngọt đổ ra trực tiếp
Chất thải: cần tránh những nơi bỉ ảnh hưởng của chất thải, chất độc dosinh hoạt, nông nghiệp hay công nghiệp (thuốc trừ sâu, hóa chất, dầu khí )
Ngoài ra cần chú ý đến yếu tố dinh dưỡng và các yếu tố môi trường khác(vật chất hữu cơ, muối dinh dưỡng , yếu tố thủy lý hóa )
- Sau khi chọn bãi phải làm vệ sinh mặt bãi Rào chắn xung quanh bằngđăng hay lưới để giữ Ngao, Nghêu di chuyển ra khỏi bãi nuôi nhất là bãi ươnggiống Khi chuẩn bị bãi xong thì tiến hành thả giống
Trước khi thả giống dùng cọc tre (gỗ) cắm xung quanh vùng nuôi khoảngcách 4 đến 6 m/cọc căng lưới có chiều cao 0,6 - 0,7 m trên mặt bãi và vùi sâu 0,2đến 0,3 m dưới bãi để bảo vệ ngao giống Mắt lưới tuỳ thuộc vào cỡ giống trướckhi thả và sau 2 đến 3 tháng, ngao phát triển ổn định có thể thu hoặc vùi lưới
10
Trang 22xuống mặt cát, căng dây cuối đường triều rút để giữ ngao không cho di chuyển rakhỏi vây nuôi.
Nuôi ngao thịt có nhiều giai đoạn: sau giai đoạn thu ngao “ cám” tự nhiênương nuôi 2 đến 3 tháng thành ngao “ tấm” (giai đoạn 1) được người nuôi muahoặc thu bắt từ bãi ương ra thả ở vây nuôi ngao thịt sau 4 - 5 tháng thành ngao “cúc” (giai đoạn 2) đạt khối lượng 800 - 1.000 con/kg thì san thả xuống vùng bãisâu hơn và mật độ thả thưa hơn (giai đoạn 3), sau 10 - 12 tháng thành ngao thịt cókhối lượng 30 - 60 con/kg là thu hoạch
- Chọn giống và mật độ thả: Không thả giống đã bị há vỏ và có mùi ươn,loại giống đạt 800 - 1.000 con/kg thả 3.500 - 3.600kg/ha, loại đạt 3.000 - 4.000con/kg thả 900 đến 1.000 kg/ha
- Thời gian thả giống khoảng tháng 1, 2 và tháng 11, 12
- Chăm sóc và quản lý: công việc chủ yếu là kiểm tra hệ thống lưới, dâybảo vệ để sửa chữa kịp thời và cào vén, san thưa Việc cào vén, san thưa rất quantrọng khi phát hiện ngao tập trung mật độ cao dọc theo rìa lưới chắn hoặc mộtvùng nào đó trong vây nuôi, tuy nhiên chỉ thực hiện khi cần thiết Khi chuyểnmùa, nhiệt độ cao, mưa nhiều, có sương muối phải kiểm tra tình trạng sức khoẻcủa ngao nuôi
Thu hoạch và bảo quản: thu hoạch ngao có thể quanh năm, song vào mùaxuân, mùa thu dễ bảo quản, dùng phương pháp xới lật ngao lên lưới và xối nướcthu ngao Sản phẩm thu hoạch cần đóng bao ngay, giữ ở nơi râm mát, tránh bịnắng, mưa trước khi đưa đi tiêu thụ phải nuôi lưu, loại bỏ những con mở vỏ, cómùi ươn để đảm bảo chất lượng thương phẩm
2.5.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi ngao theo Lương Thị Khuyến(2014) gồm yếu tố tự nhiên và yếu tố kinh tế - xã hội
2.2.4.1 Yếu tố tự nhiên
Bao gồm các chỉ số về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, là những yếu tố rấtquan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể của ngao và có ảnh hưởng lớn đếnquá thình phát triển của ngao
11
Trang 23b) Thủy văn
Nguồn nước là một trong những điều kiện thiết yếu cho nuôi ngao, nguồn nước đủ và không có biến động lớn là điều kiện lý tưởng cho nuôi ngao
c) Thổ nhưỡng, môi trường
Điều kiện về thổ nhưỡng và môi trường là những điều kiện cơ bản chonuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi ngao nói riêng Bao gồm các chỉ số vềthành phần cơ học, thành phần hóa học các thủy vực, thủy sinh vật
Ngày nay do sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sinh sảnnhân tạo, thuần hóa giống nên nguồn thủy sản tự nhiên đã giảm đi phần nào vaitrò của nó Nuôi ngao cũng không nằm ngoài sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Năng suất, chất lượng của ngao phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của bãinuôi, điều này chỉ có thể thực hiện được khi người nuôi ngao đủ vốn để thực hiệncải tạo bãi nuôi sao cho phù hợp với đặc điểm sinh sống của ngao Vì vậy để duytrì được hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao được hiệu quả kinh tế trong cácngành sản xuất nói chung và ngành nuôi ngao nói riêng thì yếu tố vốn không thểthiếu được trong mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành
b) Thị trường
Là yếu tố quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, cho cả yếu tố đầuvào và sản phẩm đầu ra của sản xuất, tuy nhiên đối với nuôi ngao thì thị trườngtiêu thụ đóng vai trò quyết định.thị trường tiêu thụ sản phẩm quyết đinh quy mô
cơ cấu thủy sản nuôi trồng Người sản xuất nuôi trồng thủy sản luôn căn cứ vào
12
Trang 24giá cải cà nhu cầu của thị trường để điều chỉnh hành vi sản xuất kinh doanh vànuôi trồng thủy sản cho phù hợp nhằm hạn chế tối đa rủi ro do tác động của thịtrường Vì vậy, việc nghiên cứu tìm kiếm, tiếp cận thị trường và xúc tiến thươngmại cho sản phẩm thủy sản luôn là đòi hỏi mà những nhà kinh doanh nuôi trồngthủy sản phải quan tâm.
c) Công nghệ và kỹ thuật tiên tiến
Bao gồm các khâu từ chuẩn bị sản xuất tới bảo quản và chế biến, vậnchuyển và tiêu thụ sản phẩm., đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quảsản xuất, nó ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng, chất lương và giá thành cũng nhưgiá bán sản phẩm mới
d) Chính sách
Đây là yếu tố tác động không nhỏ tới quy mô cũng như chất lượng củangành nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thủy sản phụ thuộc vào nhiều chính sáchkhác nhau nhưng quan trọng nhất là chính sách đất đai, đồng thời để phát triểnnuôi trồng thì phải kết hợp với cách chính sách tìn dụng đấu tư, chính sách vảohiểm… Vì vậy đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách luôn là vấn đề màngười nuôi trồng thủy sản đòi hỏi đối với các cấp các ngànhvà địa phương
e) Lao động
Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến quátrình phát triển nuôi trồng thủy sản, lao động trong nuôi trồng thủy sản đòi hỏiphải am hiểu về kỹ thuật nuôi trồng hoặc đã có kinh nghiệm trong vệc nuôi trồngloại thủy sản mà mình đang nuôi Do đặc điểm của nuôi trồng thủy sản mà trong
đề tài là nuôi ngao chủ yếu là đơn vị kinh tế hộ nên lao động chủ yếu là nôngdân, vì vậy công tác đào tạo, huấn luyện phát triển nguồn lao động cho nuôitrồng ngao là vấn đề cần đặc biệt quan tâm
2.5.5 Các nghiên cứu về bệnh ngao.
2.2.5.1 Các nghiên cứu của thế giới
a) Bệnh do tác nhân là vi khuẩn
Do đặc tính ăn lọc nên nhiều loại vi khuẩn phổ biến trong nước biển đãđược tìm thấy trong cơ thể của động vật thân mềm, như vi khuẩn thuộc giốngVibrio, Pseudomonas, Flavobacterium và Bacillus (Kinnee, 1983) Vi khuẩn
13
Trang 25thường xâm nhập làm những cơ quan của động vật 2 mảnh vỏ bị tổn thương vàgây chết.
Bệnh vòng nâu ở động vật 2 mảnh vỏ (Brown Ring Disease-BRD)
Bệnh BRD đã được biết do vi khuẩn gây ra với các dấu hiệu bệnh lý đặctrưng là xuất hiện một vòng sắc tố màu nâu đọng lại ở phần màng áo của ngaobệnh (Paillard et al., 1989) , do đó bệnh này đã được đặt tên là bệnh BRD
Hình 2.1: Phân chia giai đoạn phát triển của bệnh BRD bằng mắt thường và
bằng kính hiển vi theo đề nghị của Paillard and Maes (1994)
c) Bệnh do tác nhân gây bệnh là virus:
Lo (1988,1990) đã phát hiện một loại viruss gây hoại tử tuyến tuỵ ở ngaoMeretrix lusoria Virus này đã được có tên viết tắt là IPNV (Infectious PancreaticNecrossis Virus)
Lựa chọn con giống tốt, không mang virus được coi là giải pháp tối ưu đểhạn chế bệnh virus này ở ngao Những trại giống ứng dụng công nghệ khép kín
có thể đảm bảo sản xuất giống ngao không mang virus này để cung cấp cho cácvùng nuôi
14
Trang 26d) Bệnh do các yếu tố môi trường
Những năm gần đây, một số thông tin khoa học ghi nhận về sự ảnh hưởngcủa các chỉ số môi trường lên sức khoẻ và tỷ lệ sống của ngao nuôi Tomaru &CS., (2002) cho rằng nhiệt độ nước đã ảnh hưởng tơi sinh trưởng về chiều cao,rộng và dày của ngao nuôi, đã thông báo rằng khi các yếu tố môi trường nước tạivùng nuôi vượt quá ngưỡng thích hợp của động vật thân mềm thì bệnh sẽ xuấthiện với tần xuất cao Thực tế cho thấy, kèm theo một số hiện tượng ô nhiễm môitrường như: sự cố tràn dầu, ô nhiễm thuốc trừ sâu hoặc kim loại nặng là hiệntượng ngao nuôi bị chết hàng loạt
2.2.5.2 Các nghiên cứu về bệnh ngao của Việt Nam
Bên cạnh những thành công của nghề nuôi ngao, đã mang lại hiệu quả kinh
tế và xã hội cho các địa phương ở Việt Nam như: Quảng Ninh, Thái Bình, HảiPhòng, Bến Tre, thì những năm gần đây hiện tượng ngao chết rải rác hoặc hàngloạt xuất hiện ở nhiều nơi, gây hoang mang cho người dân và các nhà quản lý ởcác địa phương
Theo thông báo của UBND xã Đông Minh, huyện, Tiền Hải, tỉnh Thái Bìnhnăm 2009, hàng trăm tấn ngao sắp thu hoạch đã bị chết đột ngột trong 2 ngày ở
135 ha trên tổng số 250 ha ngao nuôi tại xã Đông Minh, Tiền Hải, Thái Bình.Hiện tượng ngao chết này đã gây thiệt hại khoảng 100 tỷ đồng cho người nuôingao tại địa phương Những nghiên cứu ban đầu cho thấy thời điểm ngao chếttrùng với thời tiết nắng nóng và độ mặn của nước tăng cao.Tuy nhiên, nguyênnhân làm ngao bị chết vẫn chưa được xác định
Tại Tiền Giang vào đầu năm 2010, người nuôi ngao đã bị thiệt hại nặng nề,gây thất thoát 259,62 tỷ đồng do hiện tượng ngao nuôi bị chết, ước tính có tới70% diện tích nuôi ngao tại địa phương đã bị thiệt hại (927 ha) và làm chếtkhoảng 11.925 tấn ngao nuôi tại địa phương theo tác giả Trí Quang (2010) Cácmẫu ngao bị chết tại Tiền Giang đã được thu và phân tích tại phân viện thuỷ sảnMinh Hải, tại đó ký sinh trùng Perkinsus sp được nghi ngờ Hiện tượng ngao nuôi
bị chết có nhiễm ký sinh trùng Perkinsus sp cũng đã được phát hiện ở vùng nuôingao của tỉnh Bến Tre
Ngoài ra, nghiên cứu của Phạm Kim Phượng (2007) đã chỉ ra rằng, ngaonuôi có thể bị chết nếu hàm lượng các kim loại nặng trong nước cao Cụ thể khinồng độ cadimium ≥ 0,1 ppm thì ngao nuôi có thể chết
15
Trang 27Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về bệnh ngao ở Việt Nam còn rấthạn chế, một số công trình nghiên cứu ngao nuôi ở Miền Nam nhưng chỉ là cácchuyên đề nghiên cứu nhỏ.
2.6 CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRONG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
2.6.1 Chất lượng môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản
Chất lượng môi trường nước trong nuôi trồng thuỷ sản là yếu tố quan trọng
và quyết định đến sự thành công trong nuôi trồng thuỷ sản, trong đó nghề nuôingao ven biển ở Việt Nam
Hiện nay nghề nuôi ngao ven biển đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn, làm hồisinh nhiều vùng đất ven biển vốn bị bỏ hoang bấy lâu nay,tạo việc làm và thunhập ổn định cho một bộ phận cư dân nghèo sinh sống ở ven biển, góp phần xóađói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân màhiện nay nghề nuôi ngao ở nước ta đang đứng trước rất nhiều thử thách: Nguy cơtàn phá và ô nhiễm môi trường nước dẫn tới hiện tượng ngao nuôi bị chết hàngloạt gây thiệt hại lớn cho người nuôi
Huỳnh Minh Sang (2011) đã thực hiện “Nghiên cứu xác định nguyên nhângây chết ngao Meretrix lyrata, sò huyết Andara granosa và đề xuất các giải phápkhắc phục để phát triển bền vững nghề nuôi ngao và sò huyết ở Bến Tre” Kếtquả đề tài xác định nguyên nhân gây chết ngao hàng loạt là do: nhiệt độ nướccao, thời gian phơi bãi dài, kết hợp với độ mặn cao, là điều kiện tốt kích thíchcho ngao sinh sản Khi ngao sinh sản, sức khỏe ngao yếu đi, trong điều kiện mật
độ tương đối cao, ngao không thể vùi xuống đáy để tránh sự thiêu đốt của mặttrời và chết Khi ngao chết bị phân hủy và sinh ra sản phẩm độc hại (chủ yếuH2S) Khí độc này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của ngao khác và tăng thêm mức
độ chết
Để góp phần tìm ra được những giải pháp tối ưu cho nghề nuôi ngao pháttriển bền vững, nhiệm vụ “Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh cho ngao nuôi ởmiền Bắc Việt Nam” do Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản I đã được thựchiện trong năm 2011 Trong đó, báo cáo chuyên đề “Đánh giá hiện trạng môitrường một số vùng nuôi ngao miền Bắc Việt Nam” do Nguyễn Đức Bình vàcộng sự (2011) thực hiện đã nêu ra: độ mặn một số vùng nuôi có sự biến động
16
Trang 28lớn nhưng sự biến động này không nằm ngoài quy luật tự nhiên của vùng triềucửa sông.
Nhiệt độ (do năng lượng mặt trời tạo ra) là yếu tố có thể là nguyên nhânchính gây nên hiện tượng ngao chết hàng loạt
Sau đó Nguyễn Công Thành và cs (2013) đã “Nghiên cứu đánh giá ảnhhưởng của môi trường đến ngao nuôi ở ven biển và đề xuất giải pháp phòngtránh, giảm thiểu ảnh hưởng” Nhóm nghiên cứu đã phân tích, đánh giá chấtlượng môi trường vùng nuôi ngao (môi trường nước, môi trường trầm tích, thủysinh vật), mức độ tích tụ kim loại nặng và một số độc tố sinh học trong ngao…trên 2 vùng cửa sông Bạch Đằng và sông Văn Úc Kết quả phân tích chỉ ra,nguyên nhân gây chết ngao chủ yếu là do biến động của nhiệt độ, độ muối, mật
độ nuôi, các độc chất trong môi trường và dịch bệnh
Nguyễn Đức Bình và cs (2011) các thông số môi trường có ảnh hưởng tớiquá trình sinh trưởng của ngao bao gồm: Nhiệt độ nước, độ mặn, pH, NH3, NO2,
H2S, tảo, vi khuẩn Mặt khác, Ngao sống ở vùng cửa sông nơi hội tụ của nhiềunguồn nước có chứa chất thải đổ vào Do vậy, các tác động từ chất lượng nước,chất gây ô nhiễm ảnh hưởng rất lớn tới môi trường sinh sống của ngao
- Nhiệt độ nước: Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong sinh học, nó ảnhhưởng tới quá trình, tốc độ phản ứng sinh hóa của động vật Sinh vật dưới nước
có một phạm vi nhiệt độ nước tối ưu nhất định, bên ngoài phạm vi này, sinh vậtkhông thể tồn tại và phát triển bình thường
Ngao là động vật nhuyễn thể rộng nhiệt Thích nghi được với nhiệt độ từ
5-350C ở nhiệt độ 18-30 0C sinh trưởng tốt nhất Giới hạn chịu nhiệt cao là 430C.Khi nhiệt độ lên tới 440C ngao chết 50%, ở 450C chết toàn bộ Ở nhiệt độ 37,50Csống được 10,4 giờ, 400C sống được 5,3 giờ, 420C sống được 1,5 giờ Khi nhiệt
độ giảm xuống 00C, các tơ mang ngừng hoạt động Ở nhiệt độ âm 2-30C sau 3tuần chỉ chết 10%
- Độ mặn S‰: là tổng lượng (tính theo gram) các chất hòa tan chứa trong1kg nước biển Độ mặn chịu ảnh hưởng của thủy triều, lượng mưa, dòng chảy Ngao phát triển tốt với giá trị độ mặn từ 20 - 30‰ Ngao bắt đầu chết ở vùng biển với độ mặn nhỏ hơn 5‰ và lớn hơn 40‰
17
Trang 29Bảng 2.2: Phân loại nước theo độ mặn Mức độ mặn
Nguồn: Nguyễn Khắc Lâm (2013)
- Độ pH của nước là một đặc tính hóa học cơ bản, ảnh hưởng đến sựphát triển của trứng, sinh sản và khả năng hấp thụ ôxy của sinh vật Độ pH củanước biển ổn định nhất, dao động trong khoảng từ 7,5 đến 8,5 Độ pH các vùngcửa sông phụ thuộc vào sự kết hợp của nước biển và nước ngọt từ thượng nguồn
pH có thể dao động đáng kể giữa ngày và đêm, kết hợp với tảo nở hoa pH có thểảnh hưởng đến các chu trình hóa học và cân bằng ion của các hợp chất trong môitrường nước Độ pH từ 6,25 - 8,75 là điều kiện môi trường cho ấu trùng ngao tồntại và pH từ 6,75-8,50 là khoảng tối ưu cho sự phát triển
- Khí độc Ammonia NH3 được sinh ra khi có hiện tượng ngao chết hàngloạt Ngao chết hàng loạt thường xảy ra vào những tháng mùa hè, khi có dòngchảy từ sông đổ ra biển, hàm lượng ôxy hòa tan ở mức thấp và nhiệt độ thườngrất cao Ngao chết hàng loạt xảy ra vào thời gian nhiệt độ cao, làm gia tăng hàmlượng NH3 trong môi trường nước, khi tốc độ dòng chảy thấp NH3 có thể tồn tạitrong nước một thời gian dài Hàm lượng ôxy hòa tan thấp có thể làm gia tăngđộc tính của NH3 được giải phóng ra từ ngao chết
- Nitrite (NO2- ) là sản phẩm trung gian trong quá trình phân hủy chấthữu cơ chứa đạm Trong môi trường nước giàu oxy, ammonia (NH4+) được oxyhóa tạo ra nitrite và sau đó là nitrate Ngược lại, trong điều kiện yếm khí, nitrate
sẽ bị khử và tạo thành nitrite Trong điều kiện môi trường có ôxy hòa tan phongphú, hàm lượng nitrate thường cao và nitrite thường thấp Nitrite cao phản ánhtình trạng môi trường nước nước xấu, thiếu oxy và nhiễm bẩn, nitrite là yếu tố
18
Trang 30gây độc với động vật thủy sản Mặc dù ít độc hại hơn so với ammoniac (NH3),nitrite vẫn còn nguy hiểm, ảnh hưởng đến hemoglobin trong máu Nitrite làmgiảm khả năng vận chuyển oxy, có thể gây chết động vật thủy sinh, nhẹ hơn cóthể gây sốc và sinh vật không thể hồi phục hoàn toàn
- Sunfide ( H2S) : thông thường H2S có mặt trong môi trường nước ởđiều kiện yếm khí Dạng không ion hóa, H2S (hydrogen sulfide) có tính độc caođối với động vật thủy sản H2S ảnh hưởng đến sự tồn tại và tốc độ tăng trưởng củacác loài hai mảnh vỏ (bao gồm cả ngao nuôi), khi nồng độ của nó đạt đến mức độđộc hại Điều này thường xảy ra trong những tháng mùa hè khi nhiệt độ nước caohoặc nồng độ chất hữu cơ cao, khi ngao chịu tác động của H2S nồng độ cao(30mg H2S/l), tiêm mao và mang của ngao bị phá hủy, hoạt động ăn (lọc nước)của chúng bị suy giảm và chúng không thể lấy thức ăn, ngay cả khi môi trường
đã được phục hồi ở điều kiện tối ưu
- Tảo độc : sự có mặt của tảo độc hại trong các thủy vực gây những ảnhhưởng bất lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhiều sinh vật khác Bên cạnh đó, sựtồn tại của các loài tảo gây hại đã làm tổn hại đến sức khỏe, đời sống, kinh tế củacon người
- Vi khuẩn : Nguyễn Khắc Lâm(2013) bao gồm nhóm vi khuẩn dịdưỡng (Heterotrophic) là những vi khuẩn sử dụng các chất hữu cơ làm nguồnnăng lượng và nguồn cacbon để thực hiện quá trình tổng hợp Vi khuẩn hiếu khí(Aerobes) cần oxy khi phân hủy chất hữu cơ để sinh sản và phát triển Vi khuẩn
kỵ khí (Anaerobes) chỉ hoạt động trong điều kiện thiếu oxy Vi khuẩn tủy nghi(Facultative) là nhóm vi khuẩn có cơ chế phát triển trong điều kiện có hoặckhông có oxy Bệnh do giống Vibrio gây ra hợp với một hoặc nhiều tác nhânkhác Nguyên nhân đầu tiên của bệnh này chính là các yếu tố môi trường, yếu tố
cơ học hay sinh vật ký sinh gây thương tổn trên bề mặt cơ thể động vật thủy sảnnuôi, tạo điều kiện cho vi khuẩn vibrio xâm nhập và gây bệnh
2.6.2 Tiêu chuẩn chất lượng nước nuôi trồng thủy sản ven bờ
Tiêu chuẩn chất lượng nước là mức độ chứa cho phép các chất nhiễm bẩntrong nước, nồng độ giới hạn cho phép các chất độc hại và trạng thái vệ sinhchung Mỗi đối tượng sử dụng nước có yêu cầu cụ thể về giới hạn cho phép.Theo QCVN 10 : 2008/BTNMT, QCVN 08 : 2008/BTNMT
19
Trang 31Bảng 2.3: Tiêu chuẩn chất lượng nước nuôi trồng thuỷ sản ven bờ
Trang 32Aldrin/Diedrin Endrin
B.H.C
DDT
Endosulfan
20
Trang 33Lindan Clordan Heptaclo
24 Hoá chất bảo vệ thực vật phospho hữu cơ
Paration Malation
25 Hóa chất trừ cỏ
2,4D 2,4,5T Paraquat
9 Nitrit (NO-2 ) (tính theo N)
10 Nitrat (NO-3 ) (tính theo N)
11 Phosphat (PO 4 3- ) (tính theo P)
Trang 34BHC DDT Endosunfan(Thiodan) Lindan
Chlordane Heptachlor
27 Hoá chất bảo vệ thực vật phospho
hữu cơ Paration Malation
2,4D 2,4,5T Paraquat
Trang 36Endrin Heptachlor Toxaphene
Hóa chất trừ cỏ
2,4,5 T Paraquat
Trang 3723
Trang 382.7 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG TRONG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
2.7.1 Khái niệm
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại củacon người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương laiTheo Lý Vĩnh Phước (2015) quan điểm, một mô hình sản xuất nông nghiệpnói chung và thủy sản kết hợp nói riêng mang tính phát triển bền vững khi môhình sản xuất kết hợp đó thỏa mãn được 3 yếu tố căn bản như sau
Nguồn: Lý Vĩnh Phước (2015)
Hình 2.2 Sơ đồ: Quan điểm về hệ thống nuôi thủy sản
kết hợp phát triển bền vững 2.7.2 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG HỆ SINH THÁI
Tính bền vững ngư trại ban đầu được IUCN mô tả bằng mô hình quả trứngbền vững hai lớp, với quan điểm chủ đạo là phát triển bền vững bằng sự thịnhvượng xã hội và sự phong phú sinh thái, hàm ý quả trứng chỉ tốt nếu cả lòng đỏ
và lòng trắng đều tốt Năm 1996, IUCN đề xuất chỉ số BS để đánh giá phát triểnbền vững theo mô hình quả trứng bền vững 2 lớp
24
Trang 39Vai trò của phương pháp đánh giá tính bền vững là tạo ra một bức tranh củatoàn hệ thống chứ không chỉ là những phần riêng biệt được đo lường bằng nhữngchỉ thị riêng biệt.
Đối xử bình đẳng các phúc lợi sinh thái với phúc lợi nhân văn
Thước đo bền vững bao gồm các chỉ thị về phúc lợi sinh thái và phúc lợinhân văn, các chỉ thị này được gắn kết thành các chỉ thị tổng hợp về tính bềnvững mà không gây sức ép lên nhau
Thước đo bền vững cung cấp một cách thức có tính hệ thống cho việc tổchức và tổng hợp các chỉ thị sao cho người sử dụng có thể dễ dàng rút ra các kếtluận về điều kiện nhân văn - sinh thái, nhằm trả lời câu hỏi là cộng đồng hiện nayđang ở đâu và họ đang đi đến đâu, xu hướng phát triển của khu vực
Mỗi loại phúc lợi gồm 5 chỉ thị phức hợp, biến thiên từ 0 đến 100% Các
hệ thống phát triển có thể đạt giá trị phúc lợi từ 0 đến 100% Mức độ phát triểnbền vững hệ thống được biểu diễn bằng quả trứng 2 lớp, đặt tại tọa độ (giá trịphúc lợi nhân văn, giá trị phúc lợi sinh thái) trên hệ tọa độ vuông góc, trong đótrục tung biểu thị phúc lợi sinh thái, trục hoành biểu thị phúc lợi nhân văn, cácgiá trị phúc lợi biến thiên từ 0 đến 100%, chia thành 5 vùng là: không bền vững(0 đến 20% mầu đỏ), không bền vững tiềm tàng (21 đến 40% mầu tím), bền vữngtrung bình (41 đến 60% mầu vàng), bền vững tiềm năng (61 đến 80% mầu xanhnước biển) và bền vững (81 đến 100% mầu xanh lá cây) Tiếp theo, mô hình củaIUCN đã được phát triển thành quả trứng bền vững ba lớp (Hình 2.3),
Hình 2.3: Mô hình quả trứng bền vững 2 lớp và 3 lớp của IUCN
Nguồn: UINC (2002)
25
Trang 40Hình 2.4: Thước đo BS
Nguồn: IUCN (2002)IUCN đã tài trợ cho nhóm chuyên gia do Robert Prescott-Allen chỉ đạo,đánh giá sự thịnh vượng cho 180 quốc gia, xây dựng bản đồ BS toàn cầu năm
2002 Kết quả nghiên cứu đã được xuất bản trong cuốn Sự thịnh vượng của cácdân tộc: Một chỉ số về chất lượng cuộc sống và môi trường của từng quốc gia Vềnguyên tắc, thước đo BS được xác định riêng cho hai chủ đề cấp 1 là: Sự thịnhvượng xã hội và sự phong phú của hệ sinh thái Chủ đề cấp 2 của mỗi chủ đề cấp
1 được cấu trúc từ 5 chủ đề nhánh, mỗi chủ đề cấp 2 lại được đặc trưng bởi haichủ đề cấp 3 (hình 2.5)
Tổng các tiêu chí đánh giá thịnh vượng lên tới 88 thành phần Trong 180nước được nghiên cứu, giá trị BS của Hoa Kỳ đứng ở hàng thứ 27, Hungari 44 vàBraxin 92, và nhìn chung phát triển bền vững nhất là các nước Bắc Âu (ThuỵĐiển, Phần Lan, Na Uy, Aixơlen), phát triển kém bền vững nhất là Uganđa,Afganistan, Xyri, Irăc
26