Chọn các di tích lịch sử văn hoá vật thể và phi vật thể của làng Bồng Thợng đểnghiên cứu vì qua điều tra khảo sát và nghiên cứu t liệu, tác giả thấy đây là một ngôi khởi sinh của dòng họ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Phạm thị huyền
Lịch sử văn hoá làng bồng thợng
(xã vĩnh hùng - huyện vĩnh lộc - tỉnh thanh hoá)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 2Lời cảm ơn
hớng dẫn tôi trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cám ơn sự giúp đỡ của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hoá, SởVăn hoá, Thể thao và Du lịch, Th viện trờng Đại học Vinh, Ban Nghiên cứu và Biênsoạn Lịch sử Thanh Hoá, Th viện tỉnh Thanh Hoá, Ban Quản lý di tích và danh thắngThanh Hoá, UBND huyện Vĩnh Lộc, Phòng Văn hoá huyện Vĩnh Lộc, UBND xã VĩnhHùng, các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hoá, các bậc cao niên ở địa phơng…đã giúpnhiều về t liệu và giải đáp các vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa sau đại học, khoa Lịch
sử Trờng Đại học Vinh Cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện giúp
đỡ động viên, khích lệ để tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài……….1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 2
3 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu……… 4
4 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu……… 7
5 Đóng góp của luận văn……… 8
6 Bố cục của luận văn……… 9
Chơng 1 Quá trình hình thành và phát triển làng Bồng Thợng 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên……… 10
1.2 Quá trình hình thành và phát triển làng Bồng Thợng……… 20
Chơng 2 văn hoá vật thể của làng Bồng thợng 2.1 Các di tích lịch sử - văn hoá đợc công nhận cấp quốc gia……… 38
2.2 Các di tích lịch sử - văn hoá đợc công nhận cấp tỉnh……… 48
2.3 Một số di tích lịch sử - văn hoá khác……….58
Chơng 3 văn hoá phi vật thể của làng Bồng Thợng 3.1 Tôn giáo và tín ngỡng……… 66
3.2 Phong tục tập quán……… 74
3.3 Các lễ tiết trong năm và các lễ hội……… 82
3.4 Trò chơi dân gian……… 97
Kết luận……….103
Tài liệu tham khảo ………108
Phụ lục ……… 115
Trang 4Danh Mục chữ Viết tắt
HĐND Hội đồng nhân dânMTTQ Mặt trận Tổ quốcUBND Uỷ ban nhân dânNXB Nhà xuất bảnVHTT Văn hoá thông tinTHCS Trung học cơ sở
TP Thành phố
Trang 5Mở đầu
7 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử Việt Nam kể từ buổi đầu dựng nớc cho đến ngày nay, làng xã lúcnào cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội của đất nớc Làng vốn là công xã nông thôn, là một cộng
đồng c trú cơ bản của ngời Việt, có nguồn gốc xa xa Làng ngời Việt vừa là một cộng
đồng dân c, vừa là một cộng đồng văn hoá ở đấy chứa đựng những giá trị quá khứ củacon ngời, là nơi củng cố và tái hiện những giá trị văn hoá Việt Nam Đối với ngời Việt,làng còn có một ý niệm sâu sắc và thiêng liêng là tợng trng cho quê cha đất tổ, là nơithừa nhận thành công và danh vọng của mỗi ngời Vì vậy, vị trí và vai trò của làng Việtcàng trở nên quan trọng, nó không chỉ nổi lên những vấn đề cấp thiết đối với sự pháttriển chung của đất nớc trong hiện tại mà còn gắn liền với quá khứ và góp phần định h-ớng cho tơng lai
Làng Việt từ lâu đã đợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm tìmhiểu ở nhiều góc độ khác nhau Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu vềlàng xã đợc công bố, cung cấp những t liệu mới, những nhận định có giá trị khoa học
và nâng cao nhận thức về thực thể làng xã và xã hội Việt Nam Tuy vậy, những kết quảnghiên cứu về làng vẫn cha đáp ứng đợc đầy đủ những đòi hỏi của khoa học đặt ra.Thực hiện nghị quyết VII (Khoá X) của Ban chấp hành Trung ơng Đảng, vấn đề nôngthôn, nông dân, nông nghiệp đang là vấn đề hết sức quan trọng thu hút sự quan tâmcủa nhiều ngành khoa học Vì vậy, việc nghiên cứu về làng xã ngời Việt, về lịch sử vănhoá vật thể và phi vật thể của làng có một ý nghĩa to lớn nhằm tạo tiền đề khoa học đểbảo tồn và phát huy những di sản văn hoá dân tộc, khôi phục văn hoá truyền thống củalàng xã, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn làmột công việc cần thiết và cấp bách đang đòi hỏi sự đóng góp của nhiều nhà nghiêncứu
Làng Bồng Thợng (xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá) là một lànggiàu truyền thống lịch sử và văn hoá, vừa mang đặc điểm chung của làng Việt vừa mangsắc thái riêng của một làng bán sơn địa của xứ Thanh ở đó còn lu tồn những giá trị quýgiá về lịch sử văn hoá luôn cần đợc tìm tòi, nghiên cứu Xuất phát từ nhận thức đó, tác
Trang 6giả chọn đề tài “Lịch sử văn hoá làng Bồng Thợng” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp
cao học của mình
Chọn các di tích lịch sử văn hoá vật thể và phi vật thể của làng Bồng Thợng đểnghiên cứu vì qua điều tra khảo sát và nghiên cứu t liệu, tác giả thấy đây là một ngôi
khởi sinh của dòng họ Trịnh với 12 đời chúa tạo nên những trang sử độc đáo trong lịch
sử dân tộc Đây còn là một trong số ít làng quê có nhiều di tích lịch sử - văn hoá đợcxếp hạng Xã Vĩnh Hùng có 7 di tích đợc xếp hạng thì làng Bồng Thợng đã chiếm tới 6
di tích, trong đó có 3 di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia và 3 di tích lịch sử - văn hoácấp tỉnh Ngoài ra, làng còn có nhiều lễ hội lớn in đậm truyền thống văn hoá còn lu giữ
đến ngày nay
So với các làng Việt khác thì làng Bồng Thợng là một làng bán sơn địa, là vùngchuyển tiếp giữa miền núi và miền xuôi nên có những đặc trng riêng, có ảnh hởng quantrọng đến sự tồn tại của cộng đồng c dân cũng nh sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội củahuyện Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Hùng nói chung và của làng Bồng Thợng nói riêng trong cácgiai đoạn lịch sử khác nhau
Với những đặc thù riêng đó, lịch sử văn hoá làng Bồng Thợng nói chung và các
di tích lịch sử văn hoá vật thể và phi vật thể nói riêng cần thiết phải đợc nghiên cứu,tìm hiểu để thấy đợc những truyền thống tốt đẹp cũng nh hạn chế của làng Từ đó, cónhững đề xuất, kiến nghị trong việc bảo tồn, lu giữ và phát huy những truyền thốngvăn hoá tốt đẹp, nhằm góp phần xây dựng đời sống văn hoá xã hội và phát triển kinh tếphù hợp với xu thế phát triển của đất nớc trong giai đoạn hiện nay
8 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Bồng Thợng là một vùng đất bán sơn địa, nơi chuyển tiếp từ miền núi với miềnxuôi, lại là nơi phát tích của dòng họ Trịnh - một dòng họ sinh ra 12 vị chúa tồn tạitrong suốt 249 năm cùng vua Lê cai trị đất nớc Vì vậy, nghiên cứu về làng xã nóichung và lịch sử văn hoá làng Bồng Thợng nói riêng là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc
Xuất phát từ nhận thức đó, từ trớc đến nay, đặc biệt là trong những thập kỷ gần
đây, các nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nớc đã quan tâm hơn đến vùng đất
Trang 7“quý hơng” của nhà Trịnh Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến làng Bồng
Th-ợng, đã đợc biên soạn, xuất bản nhng còn sơ lợc, tản mạn
Ngay từ thời phong kiến đã có các tác phẩm đề cập đến vùng đất và con ngời làng
loại chí” của Phan Huy Chú [22], bộ Khâm định “Việt sử thông giám cơng mục” [62], bộ
Đại Nam nhất thống chí
những công trình biên soạn sớm nhất nói tới về vùng đất Vĩnh Lộc nói chung, đất làngBồng Thợng nói riêng
“Thanh Hoá Vĩnh Lộc huyện chí” của Lu Công Đạo [27] …là những tác phẩm biên
soạn khá công phu, sâu sắc về địa lý, lịch sử, văn hoá và con ngời xứ Thanh Tuynhiên, các tác phẩm này mới chỉ dừng lại ở việc nhìn nhận lịch sử - văn hoá của vùng
đất Bồng Thợng một cách rải rác, khái quát dới góc độ lịch sử
Những năm gần đây, nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu về vùng đất,
Hùng (Đảng uỷ, UBND, HĐND, MTTQ xã Vĩnh Hùng)[26]; Kỷ yếu hội thảo: Chúa Trịnh - Vị trí và vai trò trong lịch sử (Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá)
[5]; Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Lộc (Ban chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Lộc)[4];
Sự nghiệp 12 vị chúa Trịnh trong lịch sử nớc Đại Việt (Phạm Xuân Huyên)[39]; Mời hai đời chúa và lễ hội Phủ Trịnh (Trịnh Quốc Tuấn)[84]; Danh tớng Hoàng Đình ái
[33] Một số hồ sơ xếp hạng di tích, lu tại Phòng văn hoá huyện Vĩnh Lộc Có thể
nói, đây là những công trình nghiên cứu liên quan đến làng Bồng Thợng với nhiều góc
Trang 8nghị trong công tác bảo tồn, phát huy những truyền thống văn hoá, lịch sử, các di tích,
lễ hội của Vĩnh Lộc, Thanh Hoá nói chung và Bồng Thợng nói riêng
9 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
Nguồn t liệu
Tác giả đã cố gắng tập hợp và khai thác thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khácnhau Song để hoàn thành luận văn này, nguồn tài liệu của các giả phần lớn tập trung ởmột số lĩnh vực sau:
3.1.1 Nguồn t liệu thành văn
Đây là một trong những nguồn tài liệu có ý nghĩa to lớn đối với luận văn Tài
Triều hiến chơng loại chí của Phan Huy Chú; bộ Khâm định “Việt sử thông giám
c-ơng mục”, bộ Đại Nam nhất thống chí“ ” của Quốc sử quán triều Nguyễn, …Có thểnói đây là những công trình sử liệu sớm nhất khảo về vùng đất Bồng Thợng Tuynhiên, về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của c dân làng Bồng Thợng cha đợc đềcập tới nhiều và còn rất sơ lợc
Một nguồn tài liệu khác cũng có giá trị đặc biệt quan trọng đó là gia phả cácdòng họ Tuy chỉ nói về một dòng họ, nhng trong mỗi quyển gia phả của các dòng họlớn, quan trọng nh gia phả họ Trịnh, họ Hoàng, họ Cao, họ Lê… có quan hệ chặt chẽvới các sự kiện lịch sử trong tiến trình xây dựng và phát triển làng Bồng Thợng Ngoàicác nguồn tài liệu trên, lý lịch các di tích lịch sử - văn hoá, các sắc phong, văn bia, câu
đối, hoành phi, hơng ớc… trong các từ đờng dòng họ, các di tích lịch sử ở làng BồngThợng cũng là một nguồn tài liệu quý và quan trọng để tác giả khai thác, giải quyếtnhững vấn đề mà luận văn đề ra
Vĩnh Lộc (Đảng Uỷ, UBND, HĐND huyện Vĩnh Lộc); Kỷ yếu hội thảo: Chúa Trịnh
-Vị trí và vai trò trong lịch sử (Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá), Sự nghiệp 12 vị chúa Trịnh của Phạm Xuân Huyên … cũng là những nguồn tài liệu
Trang 9nghiên cứu khá công phu về địa lý và con ngời xứ Thanh nói chung và Bồng Thợng nóiriêng để tác giả tìm hiểu và chọn lọc trong quá trình thực hiện luận văn.
Để thực hiện đề tài, tác giả còn khai thác triệt để nguồn t liệu dân tộc học và nguồn
hiểu bản sắc văn hoá Việt Nam của Trần Ngọc Thêm [71], Khảo sát văn hoá làng xứ Thanh của Hoàng Anh Nhân [56]…
Tóm lại, luận văn đã xây dựng trên cơ sở một hệ thống sử liệu thành văn khá phongphú và đa dạng Đồng thời, luận văn cũng khai thác triệt để nguồn t liệu địa phơng baogồm các báo cáo tổng kết, các lý lịch di tích, sắc phong, bài báo … đợc lu giữ tại th việntỉnh Thanh Hoá, Phòng Văn hoá huyện Vĩnh Lộc, Phòng văn hoá xã Vĩnh Hùng, Sở Vănhoá Thông tin Thanh Hoá…
Có thể nói, để hoàn thành đợc luận văn, tác giả đã cố gắng tập hợp và khai thácthông tin triệt để từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau
3.1.2 Nguồn t liệu vật chất (di tích, di vật lịch sử)
Luận văn không phải là một công trình chuyên sâu về các hiện vật khảo cổ củaLàng Bồng Thợng nên các di tích và di vật chỉ đợc sử dụng nh những tài liệu làm sáng
tỏ thêm về lịch sử - văn hoá của vùng đất này
Tác giả đã đi khảo sát thực địa chủ yếu ở làng Bồng Thợng và một số làng nh:làng Sóc Sơn, Việt Yên (xã Vĩnh Hùng), làng Bồng Trung (xã Vĩnh Tân) để làm rõthêm những vấn đề liên quan đã đặt ra trong luận văn Tác giả đã đến khảo sát thực địatại các di tích lịch sử - văn hoá nh: Nghè Vẹt, Chùa Báo ân, đền thờ Hoàng đình ái,
đền thờ Hoàng đình Phùng, Từ đờng họ Lê, di tích Phủ Trịnh (làng Bồng Thợng), khulăng Nhà Trịnh (làng Sóc Sơn), Từ đờng họ Tống (Tống Duy Tân) (làng Bồng Trung,
-ợng, tạo hình, bệ thờ, tợng phổng, ngựa kéo, hơng án, bia ký, sắc phong, …
Có thể nói, trong quá trình khảo sát thực địa, tác giả luận văn mới chỉ dừng lạiqua các cuộc điều tra khảo sát di tích trên bề mặt và chủ yếu đợc giới hạn trong phạm
Trang 10tạo nh ngữ di tích này nh ngư bớc đầu đã định hớng cho việc tìm hiểu, nghiên cứu vềquá trình hình thành và phát triển của một làng cổ, vùng tiếp giáp giữa miền xuôi vàmiền ngợc, giữa vùng núi và đồng bằng, để hiểu rõ hơn về lịch sử, di tích và lễ hội
3.1.3 Nguồn t liệu điền dã
Ngoài những nguồn t liệu kể trên, tác giả còn sử dụng cả nguồn t liệu điền dãthông qua việc khảo sát thực địa, tìm hiểu, ghi chép, gặp gỡ và phỏng vấn các cụ caotuổi trong làng, trong các dòng họ để làm sáng rõ những vấn đề đã đặt ra của luận văn
3.2 Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nguồn tài liệu su tầm đợc, đề tài cố gắng trình bày theo phơng pháplogic kết hợp với phơng pháp lịch sử nhằm phác hoạ lại một cách chân thực, kháchquan bức tranh tổng thể về lịch sử văn hoá làng Bồng Thợng, xã Vĩnh Hùng, huyệnVĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng kết hợp nhiều phơngpháp khác nh: phơng pháp thống kê, đối chứng, so sánh, phân tích, tổng hợp, … Vớitất cả những phơng pháp tiếp cận này, các vấn đề nghiên cứu luôn đợc xem xét trongmối quan hệ tơng tác với nhau và trong quan hệ với điều kiện tự nhiên và môi trờngsinh thái ở địa bàn nghiên cứu
Đặc biệt, để luận văn đợc phong phú, đa dạng và thể hiện sâu sắc tính chân thực,tác giả luận văn đã sử dụng phơng pháp điền dã, khảo sát thực địa trong quá trình nghiêncứu Tác giả đã trực tiếp khảo sát thực địa tại các di tích, di vật lịch sử - văn hoá, tham giacác lễ hội, sinh hoạt văn hoá, quan sát thực tế, tìm hiểu phong tục, tập quán, tín ngỡng,tôn giáo… những thành tố cơ bản tạo nên lịch sử, văn hoá truyền thống của c dân làngBồng Thợng Từ đó, đánh giá và rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học, kháchquan
4 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống, phân tích các nguồn tài liệu và khảo sát thực tế, luận vănnhằm đạt tới mục tiêu sau:
Trang 11Hệ thống các thành quả của điều tra xã hội học, của các công trình nghiên cứu
làng Bồng Thợng trong tiến trình phát triển của lịch sử
Cung cấp thêm t liệu và qua đó để hiểu sâu hơn về truyền thống lịch sử, cũng nhnhững di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của làng Bồng Thợng
Xây dựng một hệ thống t liệu địa phơng, từ đó góp phần nâng cao chất lợng dạy
và học lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phơng trong nhà trờng, giáo dục, bồi dỡng và nângcao hiểu biết những giá trị văn hoá, làm giàu cho hành trang trí thức văn hoá truyềnthống của dân tộc, đặc biệt là các thế hệ ngời Bồng Thợng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đợc đề tài, tác giả đã sử dụng tổng hợp nhiều nguồn t liệu: t liệuthành văn, t liệu vật chất, t liệu dân gian kết hợp với điền dã, điều tra khảo sát thực địa.Tác giả hớng tới những nhiệm vụ sau:
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức một cách đầy đủ và chính xác hơn vềlịch sử nguồn gốc xuất hiện, quá trình định c và phát triển của c dân làng Bồng Thợng
- Trên cơ sở nhận thức đầy đủ, chính xác quá trình hình thành và phát triển củalàng Bồng Thợng, góp phần làm sáng tỏ, hiểu rõ hơn về đời sống văn hoá vật chất, vănhoá tinh thần, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp, di tích lịch sử của làng,góp phần làm phong phú thêm nguồn t liệu lịch sử về vùng đất “quý hơng” của nhàTrịnh
- Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, toàn diện về nguồn gốcdân c, quá trình hình thành, phát triển của các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể củalàng Bồng Thợng, góp một cái nhìn tổng quan về lịch sử, truyền thống văn hoá củavùng đất cổ Bồng Thợng
- Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu về lịch sử văn hoá làng Bồng Thợng, từ đó, đềxuất những kiến nghị, giải pháp nhằm gìn giữ, bảo lu và phát huy các giá trị văn hoátruyền thống nhằm góp phần xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc
Trang 124.3 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu về Lịch sử văn hoá làng Bồng Thợng nay thuộc xã Vĩnh Hùng,huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá Bởi vậy, đối tợng trọng tâm của đề tài là tìm hiểuquá trình hình thành, phát triển của làng cùng với hệ thống các di tích lịch sử văn hoávật thể và phi vật thể của làng Bồng Thợng
4.4 Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn của đề tài luận văn là “Lịch sử văn hoá làng Bồng Thợng” nên phạm
vi nghiên cứu chỉ bó hẹp trong làng Bồng Thợng thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc,
từ khi thành lập đến nay Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có liên hệ tìmhiểu, khảo sát các vùng đất, địa danh có liên quan đến những vấn đề đặt ra của luận văn
nh các làng Sóc Sơn, Việt Yên, Bồng Trung,…để làm nổi bật những đặc điểm cơ bản củalàng Bồng Thợng
5 Đóng góp của luận văn
Nh đã trình bày ở trên, cho đến nay cha có một công trình nghiên cứu chuyên
nhiều có đề cập đến vấn đề này nhưng còn khái lợc và tản mạn Bằng những sự kiện đã
đợc đối chiếu, xác minh, luận văn tái hiện quá trình hình thành phát triển của làngBồng Thợng, tìm hiểu những di tích lịch sử - văn hoá vật thể và phi vật thể của làngBồng Thợng một cách có hệ thống, toàn diện hơn
Luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ cho nghiên cứu, biênsoạn và giảng dạy bộ môn lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phơng… góp phần hiểu biết thêm
về các thắng tích, văn hoá lễ hội và con ngời xứ Thanh
Đặc biệt, luận văn còn có tác dụng tuyên truyền, giáo dục lòng tự hào dân tộc,tình cảm trân trọng và biết giữ gìn những giá trị văn hoá, truyền thống của dân tộc ViệtNam nói chung, c dân Bồng Thợng nói riêng trong mọi tầng lớp nhân dân Thanh Hoánói chung và nhân dân huyện Vĩnh Lộc nói riêng, đặc biệt là thế hệ trẻ - những chủnhân tơng lai của nớc nhà
Trang 136 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, mục lục và tài liệu tham khảo.Luận văn của tác giả đợc triển khai trong 3 chơng:
Chơng 2: Văn hoá vật chất của làng Bồng Thợng
Chơng 3: Văn hoá phi vật thể của làng Bồng Thợng
Trang 14Chơng 1: qúa trình hình thành và phát triển
Làng Bồng Thợng
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý và địa danh
Làng Bồng Thợng là một làng Việt cổ, nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện VĩnhLộc, tỉnh Thanh Hoá Làng là trung tâm văn hoá kinh tế, chính trị - xã hội của xã VĩnhHùng, nằm trong vùng “địa linh nhân kiệt” của xứ Thanh Xung quanh làng là nhữngvùng đất giàu truyền thống văn hoá nh làng Bồng Trung, Kênh Thuỷ, Sóc Sơn, Việt
kinh tuyến Đông, cách thành nhà Hồ (Tây Đô) 14 km về phía Tây, cách quốc lộ 1A tạicầu Đò Lèn 18km về phía Đông” [32, tr.12] Từ Thành phố Thanh Hoá ô tô đi quarừng Thông, qua cầu Vạn Hà bắc ngang sông Chu rồi cầu Kiểu sang sông Mã, cách thịtrấn Vĩnh Lộc 2km rẽ phải qua sông Công khoảng 6 km tới xã Vĩnh Hùng Con đờngthứ hai là đi dọc theo quốc lộ 1A qua huyện Hoằng Hoá, Hậu Lộc, đến huyện HàTrung rẽ theo đờng 217 khoảng 16 km
Làng có vị trí địa lý khá đặc biệt, hớng mặt ra sông theo hớng Nam, tựa lng vàonúi trong thế “Ngũ phơng long mạch” theo thuyết phong thuỷ Vì vậy, có thể xem đây
là một vùng đất “tụ thuỷ” linh khí trong vùng
Phía Đông làng Bồng Thợng giáp với làng Bồng Trung (nay là thuộc xã VĩnhTân), nơi sinh ra ngời anh hùng Tống Duy Tân - linh hồn của cuộc khởi nghĩa HùngLĩnh Làng Bồng Thợng và làng Bồng Trung phân cách bởi con đờng dài gần 2kmthẳng tắp, từ bờ đê vào tận đầu làng Đa Bút, do Thái Phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo (congái Nguyễn Kim, vợ chúa Trịnh Kiểm, mẹ của chúa Trịnh Tùng) cho đắp đê để phânranh giới 2 làng Theo các cụ xa truyền lại, khi làng Đông Biện xa (Bồng Trung ngàynay) mới đợc thành lập, ranh giới giữa làng Biện Thợng (Bồng Thợng) và Đông Biện
có nơi còn mập mờ, thờng xảy ra sự tranh chấp về địa giới giữa hai làng Vì vậy, bà
Trang 15Nguyễn Thị Ngọc Bảo đã cho nhân dân hai làng xây dựng con đờng này, xem đó là ờng chính thức giữa hai làng Bồng Trung và Bồng Thợng ngày nay Nhân dân 2 lànggọi con đờng này là đờng Cán Cờ, nhng từ khi nào hiện cha ai biết Con đờng này là đ-ờng độc đạo để ngời ngoài đi vào làng Đa Bút và làng này thông ra quốc lộ 217 vàsông Mã, nên có vị trí khá quan trọng Thời kỳ trớc đây là con đờng hành quân củanghĩa quân Hùng Lĩnh Trên con đờng này còn có cây “Cáo đồn” vị trí tiền tiêu củanghĩa quân.
đ-Phía Tây, giáp làng Sóc Sơn, là quê hơng đất tổ của Chúa Trịnh Đây là vùng
đất có địa thế hiểm trở và đợc lu truyền nhiều đời trong chuyện kể với câu ca:
Bờ Lăng, Sao Sứa, Đá Nàng
Mom cò, Chóp Đụn về làng Quý hơng
Ngời dân địa phơng lại quen gọi:
Bò lăn, Sao Sỉa, Đá Nàng
Mắt voi, Đá dựng về làng Sóc Sơn.
đã trở nên quen thuộc với ngời dân xã Vĩnh Hùng
Phía Bắc làng Bồng Thợng giáp với làng Đa Bút dới chân núi Mông Cù hay còn gọi
huyện Thạch Thành kéo đến, nổi vọt lên ngọn núi cao, phía Đông có thể trông thấy biểncả, phía Tây có thể thấy miền thợng lu của dòng sông Mã và sông Bởi, phía Nam, phíaBắc có thể trông thấy hai tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, lên đỉnh núi trông xa thì bốn bề bátngát”[61, tr.126 - 227]
Phía Nam là dòng sông Mã chảy qua, với cảnh trên bến dới thuyền tấp nập,vang vọng những điệu hò sông Mã "dô ta dô hầy", đã tạo cho cảnh quan nơi đây một
vẻ đẹp thơ mộng Dọc theo bờ bắc sông Mã, có nhiều di tích lịch sử văn hoá của làng
nh Chùa Báo, Phủ Báo, Nghố Vẹt, đền thờ quan Thái Giám (nằm ở xóm Vạn, naykhông còn)… Hầu hết các di tích đã đợc công nhận là di tích lịch sử văn hoá
Làng Bồng Thợng xa có tên gọi thay đổi từ Biện Thợng mà thành ở thế kỷXVI, Biện Thợng có địa giới rộng lớn, tính từ trung tâm (là làng Bồng Thợng, xã VĩnhHùng ngày nay) về phía Đông Nam chạy dài theo bờ sông Mã, vợt qua chợ Ông Cungxã Vĩnh Minh ngày nay [62, tr.44] Làng Đông Biện (làng Bồng Trung, xã Vĩnh Tân
Trang 16ngày nay) cũng đợc tách ra từ Giáp Đông xã Biện Thợng, Đông và Đông Bắc giáphuyện Hà Trung, Nam và Tây Nam giáp Sông Mã, Bắc và Tây Bắc giáp huyện ThạchThành.
Về địa danh Thanh Hoá: nguyên trớc là đất Tợng Quân, thời Bắc thuộc nhà Tần,Hán gọi đất Thanh Hoá là Quận Cửu Chân, nhà Lơng đặt là đất Châu ái, nhà Tuỳ lại gọi
là Cửu Chân, sang nhà Đờng lại đổi là Châu ái [22, tr.33]
Đến thời Lý Trần thay đổi tên gọi là phủ (lộ, trấn) Thanh Hoa và lập thêm mộthuyện mới (trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc ngày nay) gọi là huyện Vĩnh Ninh Địa giớihuyện Vĩnh Ninh bao gồm cả một số xã ở Tây Nam huyện Hà Trung bây giờ
Cuối thời Trần, khi dời đô về đóng ở Tây Đô (thành nhà Hồ - Thanh Hoá) đổiThanh Hoa thành Thanh Đô trấn, gồm có 6 phủ, 22 huyện và 4 Châu, trong đó có cảPhủ Trờng Yên gồm 3 huyện: Gia Viễn, Yên Khang và Yên Mô (về sau là đất NinhBình) Nhà Hồ đổi phủ Thanh Hoa là phủ Thiên Xơng Phủ Thiên Xơng bao gồm cảdiện tích đất khi Thanh Hoa có tên gọi là Quận Cửu Chân và khi có tên gọi là ái Châu.Nhà Lê trung Hng đổi tên huyện Vĩnh Ninh thành Vĩnh Phúc, đến Tây Sơn đổi thànhhuyện Vĩnh Lộc Huyện Vĩnh Lộc thuộc phủ Thiệu Thiên, năm Gia Long thứ 14(1815)
đổi là phủ Thiệu Hoá Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) lấy đất 4 huyện: Vĩnh Lộc, CẩmThuỷ, Quảng Địa và Thạch Thành để lập phủ Quảng Hoá Lỵ sở Quảng Hoá đặt tại
Quảng (hay phố Giáng) chính là huyện lỵ Vĩnh Lộc).
Về tổ chức hành chính từ huyện xuống cơ sở làng xã từ thời Trần đến thờiNguyễn nh sau: Thời Trần: huyện, hơng, xã
Đầu thời Lê: huyện, hơng, xã, thôn, phờng, trang
Đầu thế kỷ XIX: huyện, hơng, xã, trại, sở, vạn
Thời Tự Đức nhà Nguyễn: huyện, tổng, xã, thôn, trang [61, tr.254]
Bồng Thợng cũng vậy, tổ chức hành chính, địa danh, địa giới cũng thay đổi theocác triều đại, theo tỉnh, theo huyện Từ xứ Biện Thợng, thành hơng Biện Thợng, xã BiệnThợng, rồi lại hơng cho đến đời vua Tự Đức nhà Nguyễn đổi thành Tổng Biện Thợng.Năm ất Dậu (1885) - niên hiệu Hàm Nghi thứ I, xã Đông Biện đổi thành làng BồngTrung, Tổng Biện Thợng đổi thành tổng Bồng Thợng gồm có 10 làng: Bồng Thợng, Bồng
Trang 17Trung, Bồng Hạ (Ba Bồng), Cung, Vực (còn gọi là làng Bền), Đa Bút, Bản Thuỷ (KênhThuỷ), Hang, Nổ và Bông (ngã ba Bông - nơi giáp ranh giữa địa giới huyện Vĩnh Lộc,huyện Hà trung và huyện Hoằng Hoá).
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng quy định tên gọi
và địa giới hành chính Bồng Thợng là xã Hùng Lĩnh, đến tháng 6 năm 1946 đổi tên làxã Vĩnh Hùng Ban đầu, xã Vĩnh Hùng đợc thành lập trên cơ sở làng Bồng Thợng hiệnnay cộng với làng Sóc Sơn, Việt Yên và làng Đa Bút Thực tế, hai làng Sóc Sơn vàBồng Thợng ở liền nhau đến nỗi khó phân biệt ranh giới giữa hai làng Quá trình hìnhthành, xây dựng và phát triển đến nay, làng Sóc Sơn có tới hơn 430 hộ dân sinh sống
đông vui nhng hầu hết là ngời gốc Bồng Thợng, chỉ có dăm, bảy hộ là ngời gốc SócSơn
Hiện nay, xã Vĩnh Hùng gồm có 5 làng: Bồng Thợng, Sóc Sơn, Đồng Mực, ViệtYên và làng Mới Biện Thợng xa, Bồng Thợng nay còn có tên gọi khác là làng Báo,gắn liền với núi Báo (Hùng Lĩnh) hay chùa Báo “Báo ân tự” Làng nằm trên địa hìnhbằng phẳng, làng đợc thiết kế trong khuôn viên chữ điền, vuông vức có đờng ngangdọc với năm ngõ song song: ngõ Đông, ngõ Thẳng, ngõ Chửa, ngõ Chùa và 3 bếnsông: bến Đông, bến Hát, bến Chùa Làng có 7 thôn (xóm): trong đó có 5 thôn nội đê(thôn Đông, thôn Thẳng, thôn Đoài, thôn Trung, thôn Hát) và 2 thôn ngoại đê (thônVạn và thôn Nam) chạy dọc theo dòng sông Mã
Từ làng Bồng Thợng sang xã Xuân Châu nơi hành tại của nhà Lê Trung Hng cách nhau 30km Năm 1554, Thái s Trịnh Kiểm dời Tổng hành dinh của mình về BồngThợng Có thể nói, vùng kinh đô Vạn Lại - Yên Trờng (Thọ Xuân) và đất Bồng Thợng
Vĩnh Hùng (Vĩnh Lộc) từng trở thành trung tâm chính trị của triều đình Lê Trịnhtrong gần nửa thế kỷ chiến tranh với nhà Mạc ở phía Bắc
Theo quyết định của nhà nớc về việc phân vùng địa lý thì xã Vĩnh Hùng hiệnnay thuộc xã miền núi Thanh Hoá Nhng thực tế địa hình nơi đây có nhiều cánh đồngtrồng lúa và cây thuốc lá, ngô, lạc khá rộng và bằng phẳng, xen lẫn bởi đồi, gò núi đá,lại nằm bên tả ngạn bờ sông Mã nên đã đợc bồi đắp những bãi đất rộng, màu mỡ Vìvậy, có thể nói Vĩnh Hùng nói chung, làng Bồng Thợng nói riêng là một vùng đất cóphong cảnh đẹp, có núi, có sông, có khe suối, đồng bằng, sơn thuỷ hữu tình Mặt khác,
Trang 18đây còn là vùng chuyển tiếp giữa miền xuôi và miền ngợc, giữa đồng bằng và niềm núinên Bồng Thợng có diện mạo riêng biệt Là một làng quê vừa có nét chung của mộtlàng quê nông nghiệp miền núi, vừa có nét riêng của làng quê vùng đồng bằng châuthổ sông Mã
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1 Đất đai, đồi núi
Do đặc điểm địa hình và quá trình biến động địa chất lâu dài đã để lại cho vùng
đất Bồng Thợng nhiều loại đất đai phức tạp, phong phú và đa dạng
Toàn xã Vĩnh Hùng có diện tích đất tự nhiên là 1.981,94 ha, trong đó làngBồng Thợng chiếm 1.103 ha, đất canh tác toàn xã là 543,5 ha, riêng làng Bồng Thợng
là 314,5 ha, đất thổ c 22 ha, ao vờn 18 ha, đồi núi 748,5 ha [91,tr.2]
Làng Bồng Thợng thuộc vùng đất trung du, ở địa thế “Bắc Giáp rừng, Nam giápsông”, nơi nối tiếp từ rừng núi xuống đồng bằng ven sông nên làng có hai dạng địahình cơ bản: bán sơn địa và đồng bằng chiêm trũng
Với rừng núi trùng điệp từ mạn Tây Bắc, hạ thấp xuống Đông Nam, vơn ra bờsông Mã, tạo nên những dãy đồi, núi đất thấp, với khe suối nớc chảy quanh năm, hìnhthành những hồ đầm nhỏ và những cánh đồng xen kẽ Bên cạnh khe Chân Chó, GiếngSôi, Giếng Miễu, là những hừa Nghè, hừa Làng, hừa Họ, Bồng Thợng còn có các cánh
đồng cạn và đồng chiêm trũng nh: Đồng Cán, Đa Th, Bàn Cờ … Vì vậy, Bồng Thợng
có đủ các loại ruộng để canh tác nh ruộng Chiêm, ruộng mùa, đồng sâu, đồng cạn,
đồng cao chân đồi, đất bãi và đất núi, … nên ngời dân lao động rất vất vả, mùa đônglàm ở đồng chiêm trũng, mùa hè nắng cháy cấy cày trên đồng cạn Sự vất vả khó nhọc
ấy phải đánh đổi với thiên nhiên khắc nghiệt để có đợc hạt gạo, bát cơm đối với c dânnơi đây thật là gian nan Vì vậy, dân gian có câu:
“ăn cơm Báo, tháo xơng hom”.
Bên cạnh đó, thiên nhiên cũng rất u đãi cho đất Bồng Thợng có một cảnh quan
đẹp, có đủ các loại địa hình, có núi, có sông suối và cả đồng bằng Núi Hùng Lĩnhkhởi mạch từ huyện Thạch Thành chạy xuống phía Nam đâm sâu ra vùng đồng bằngven sông Mã, khi đến Vĩnh Hùng đã tạo ra núi Rùa, núi Voi và trớc khi tới sông Mã lạinổi cao lên thành ngọn Hùng Lĩnh (cao 124m), còn có tên gọi khác là núi Báo, núi Tác
Trang 19Hùng, núi Hùng Sơn Sách “Thanh Hoá Vĩnh Lộc huyện chí” có ghi: “Từ phía tây núi
Mông Cù xuống đến Tợng Đầu kéo ngang Eo Lon rồi xuôi xuống núi Mã Yên Đến
đây nổi lên một ngọn núi vững chãi, hình thể độc tôn, tất cả tựa nh chiếc nhà xoay, tụcgọi là Chấp Tuần, rất nhiều sản vật nhân Sâm” [27, tr.23] Chính nơi đây, Tiến sĩ TốngDuy Tân đã xây dựng căn cứ để tiến hành cuộc khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộcmang tên khởi nghĩa Hùng Lĩnh hởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi trong chiếuCần Vơng
Đồng chiêm trũng của làng Bồng Thợng nằm dới chân núi Mông Cù với hàngtrăm héc ta nớc nổi quanh năm và rậm rạp Trớc đây, ngời ta chỉ khai thác đợc mộtphần diện tích để cấy lúa chiêm và những chỗ quá sâu không cấy đợc lúa (gọi là mau)thờng để nuôi sen Mỗi mùa hè về sen mọc tự nhiên tạo nên những mau sen bạt ngàn t-
ơi tốt, hơng thơm nức cả vùng và hè về, đây là nơi tụ tập của đàn Chích làm tổ Nguồnlợi thuỷ sản ở đồng chiêm trũng không bao giờ cạn Từ con tép con tôm, con cua, conốc… đến các loại cá liên tục sinh sôi nảy nở Vì điều kiện và sức ngời có hạn nênkhông khai phá đợc Bái rậm đã hình thành từ lâu đời ngoài đồng chiêm trũng và nếu
lớp lớp cỏ dày đặc, cộng với cây bặn mọc um tùm, chằng chịt Tuy nhiên, Bái rậmcũng cho ngời dân những nguồn lợi nh các loài chim, thú, củi đun nấu, cỏ chăn bò vàphía dới Bái rậm là nơi trú ngụ sinh tồn của các loài cá, lơn, tôm tép,… Nhiều ngờidân ở làng Bồng Thợng và các làng khác nh Việt Yên, Đồng Mực chuyên làm nghề
đơm đó, đánh bắt cá nuôi sống gia đình Ngoài ra, hầu hết các gia đình ở Bồng Thợng
đều sắm dụng cụ đánh bắt cá ngoài đồng chiêm nh nơm, giậm, lới, te, ống lơn, … đểtranh thủ những ngày nông nhàn ra đồng chiêm đánh bắt các loại thuỷ sản về cải thiệnbữa cơm gia đình hoặc đem bán
Sau nhiều thập kỷ do biến động địa chất, thời tiết, khí hậu, thuỷ văn, nớc ở
đồng chiêm bị cạn dần, diện tích mau bị thu hẹp, diện tích cấy lúa xuân ngày càngtăng, đến nay đã cấy lúa chiêm đợc trên hầu hết diện tích cánh đồng, thậm chí hừaNghè, hừa Họ, đồng Nhọ vốn đã trở thành đồng cạn từ lâu
Nh vậy, diện tích đất đai của làng Bồng Thợng chiếm phần lớn diện tích đất tựnhiên của xã Vĩnh Hùng, Tuy nhiên, diện tích đồi núi và đồng chiêm trũng nhiều, c
Trang 20dân chủ yếu làm nghề nông nên cuộc sống của ngời lao động ở đây rất vất vả phải mộtnắng hai sơng nhng nguồn thu nhập không nhiều, đời sống của ngời dân còn nghèo
1.1.2.2 Khí hậu
Bồng Thợng nằm ở miền khí hậu nhiệt đới - á nhiệt đới, trong vùng khí hậu
vào tháng giêng và cao nhất vào tháng 7 Mùa ma từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từtháng 11 đến tháng 4 Độ ẩm không khí khoảng 80% Gió thay đổi theo mùa, gió mùa
Đông Nam thổi vào mùa hè và mùa thu, đem nhiều hơi nớc gây ma Gió mùa ĐôngBắc thổi từ cuối thu đến cuối xuân, mang theo khí lạnh của phơng Bắc và hơi nớc biểnvào, gây ma phùn và rét Nhiều năm có các đợt rét đậm, rét hại kéo dài, kèm theo sơng
mùa, từ tháng 5 đến tháng 7 thờng có các đợt gió Tây Nam (gió Lào) khô và nóng, từtháng 7 đến tháng 10 có bão từ biển Đông đổ bộ vào với cờng độ mạnh gây ma lớn vàbão lụt [26, tr.31-32]
Xã Vĩnh Hùng nói chung và làng Bồng Thợng nói riêng thờng bị lụt từ sông Mã
và ma lớn ngập đồng vào mùa ma Bão lụt phá hại mùa màng, tàn phá nhà cửa, lụt lớn
là tràn ngập xóm Vạn (xóm Bình) ngoài đê Mỗi khi có lụt, bà con trong làng phải huy
động thuyền bè, cứu giúp bà con ngoài đê chạy lụt, giúp lơng thực, san sẻ cứu đóitrong những ngày bão lụt hoặc bão lụt làm mất mùa Ngợc lại, sau những trận lũ lụt là
những vờn cây xanh mớt, cho vụ sau bội thu
Tóm lại, khí hậu là một trong những yếu tố tự nhiên quan trọng và có ý nghĩa tolớn đối với quá trình phát triển của làng Bồng Thợng, xã Vĩnh Hùng trên tất cả mọi ph-
ơng diện nh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,…
1.1.2.3 Hệ thống sông suối
Huyện Vĩnh Lộc là nơi hợp lu của sông Mã và sông Bởi Sông Mã chảy dọctheo địa giới phía Tây của huyện, sông Bởi chảy theo hớng Bắc – Nam vào đổ vàosông Mã ở khu vực xã Vĩnh Khang và xã Vĩnh Hoà [4, tr.17], rồi xuôi dòng chảy qualàng Bồng Thợng, xã Vĩnh Hùng đến Ngã Ba Bông rẽ làm hai Một nhánh phía Bắc đi
Trang 21qua huyện Hà Trung cắt quốc lộ 1A ở cầu Đò Lèn để xuống Hậu Lộc, Nga Sơn rồi rabiển Một nhánh phía Nam xuôi đến chợ Chùa Gia gặp sông Chu đi qua đất HoằngHoá và Đông Sơn xuống quốc lộ 1A lại rẽ đôi, rồi cùng đổ ra biển.
Sông Mã đoạn chảy qua Bồng Thợng chỉ dài khoảng 3 km, từ khe thác qua bến
đò Hoành, đến bến Bồng Trớc đây, trên dòng sông Mã, tại các bến đò ngày đêm tấpnập đò ngang, đò dọc với tiếng "dô ta, dô hò, dô khoan dô huầy" của những con đòbuôn bông, buôn cau và các mặt hàng nông sản đi về xuôi ngợc Những tiếng hô hốihả, neo, cày, những mảng bè gỗ, luồng nứa dài hàng trăm mét từ núi rừng Quan Hoá,Bá Thớc, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành về bến Tiếng động cơ ầm ĩ vang vọng của nhữngchiếc ca nô chở khách hàng ngày xuôi, ngợc, rẽ sóng cập bờ vào các bến bãi, đa đónkhách và hàng hoá ven hai bờ sông Mã, từ miền ngợc xuôi về Đò Lèn, ra quốc lộ 1, vềHàm Rồng, thị xã Thanh Hoá tạo nên cảnh sầm uất bán buôn, trên bến dới thuyền và
âm vang đọng mãi trong lòng ngời những điệu hò sông Mã của dân dò dọc trongnhững đêm gió mát trăng thanh
Bóng Trăng em ngỡ bóng đèn Bóng nớc em ngỡ bóng thuyền anh lên Thuyền ngợc anh bỏ sào xuôi Khúc sông bỏ vắng cho ngời sầu riêng.
Ngoài ra, cũng nhờ vào sự bồi đắp, kiến tạo của dòng sông Mã mà Bồng Thợng
có những cánh đồng màu mỡ, bãi bồi phù sa Hơn thế nữa, sông Mã còn cung cấp nớccho sản xuất và sinh hoạt Trạm bơm Vĩnh Hùng ở Chùa Báo, là trạm bơm đầu mối,lấy nớc từ Sông Mã, dẫn trên hệ thống kênh Nam (còn gọi là kênh 3-2), không chỉ tớicho đồng đất của làng Bồng Thợng, toàn xã Vình Hùng, mà còn tới cho những cánh
đồng rộng lớn vùng Đông Nam huyện Vĩnh Lộc, gồm các xã Vĩnh Tân, Vĩnh Minh,Vĩnh Thịnh và kéo dài tới Hà Lĩnh (huyện Hà Trung) Đồng thời, đây cũng là tuyếngiao thông đờng thuỷ vô cùng quan trọng đối với Vĩnh Hùng, nhất là trớc năm 1980.Ngày ấy, c dân Bồng Thợng muốn đến các địa phơng khác trong huyện, trong tỉnhhoặc ra Quốc lộ 1A để vào Nam ra Bắc thì chỉ có một con đờng bộ duy nhất là đờng
đê, đi dọc bờ sông Mã, đờng rất xấu, chênh vênh nguy hiểm, hoặc phải đi theo đờng
Trang 22núi sau làng, đờng mòn qua truông, xuyên rừng vợt dốc, đi lại vô cùng khó khăn, cáchtrở, ách tắc, nhất là mùa ma, nên dân gian có câu:
Chàng Lang, núi Lở, Báo Bồng Qua ba chốn ấy nhẹ lòng ngợc xuôi.
Ngày nay, mạng lới đờng bộ đã phát triển từ thôn xóm, làng xã đến huyện, tỉnh
đến các quốc lộ đã phát triển vợt bậc cả về số lợng và chất lợng Giao thông đi lạithuận lợi nên có hạn chế việc sử dụng đờng thuỷ và điệu hò trên sông Mã cũng vắngbóng dần Để đảm bảo việc đi lại thuận lợi giữa miền ngựơc và miền xuôi, kể cả trongmùa ma lũ, đồng thời mở ra vùng kinh tế mới ở xã Vĩnh Hoà, xã Vĩnh Hùng, sau Đạihội Đảng bộ huyện lần thứ 17 (1983), Vĩnh Lộc đã mở tuyến đờng từ trung tâm huyện
lỵ đi về miền xuôi qua vùng đồi núi Vĩnh Hoà, Vĩnh Hùng về đến các xã Vĩnh Tân,Vĩnh Minh và Vĩnh Thịnh Đờng đợc mang tên đờng 17 Năm 1987, Nhà nớc mởQuốc lộ 217 từ Quốc lộ 1A tại Đò Lèn đi Na Mèo (Giáp biên giới nớc bạn Lào) Toàn
bộ tuyến đờng 17 của huyện Vĩnh Lộc đợc sát nhập vào Quốc lộ 217, trong đó xãVĩnh Hùng có gần 5 km Quốc lộ 217 đi qua Năm 2003, Nhà nớc lại làm tiếp con đ-ờng nối Quốc lộ 217 từ dốc 20 Vĩnh Hùng đi Thành An (huyện Thạch Thành)
Đến nay, hầu hết các con đờng và các ngõ xóm ở Bồng Thợng đã đợc rải nhựa,
bê tông hoá, đổ đá cấp phối và đều nối với Quốc lộ 217 Hệ thống đờng giao thông cấpNhà nớc, của địa phơng hiện nay rất thuận lợi cho c dân Bồng Thợng trong việc giao luvới các vùng miền trong tỉnh cũng nh trong cả nớc
1.1.2.4 Tài nguyên thiên nhiên
Do địa hình làng Bồng Thợng nằm trong vùng bán sơn địa, nơi tiếp giáp giữamiền xuôi và miền ngợc, phần đồi núi nhiều nên trớc đây từng có rất nhiều sản vật,
động vật quý nh Hổ, Báo, chim muông … các loài gỗ quý, cây thuốc quý, cây ăn quả
và đặc biệt nổi tiếng với loại Sâm Báo, chỉ riêng ở núi Báo (Hùng Lĩnh) mới có SâmBáo có mùi vị hơi chua, tính hàn Xa ngời dân nơi đây thờng dùng sâm Báo tẩm nớcgừng xếp thành từng miếng nhỏ, đem đồ với gạo nếp để ăn trong những ngày hè nóngnực, hoặc có thể dùng Sâm Báo để hãm nớc uống có tác dụng giải nhiệt rất tốt [27,tr.131] Theo các cụ cao tuổi ở làng Bồng Thợng kể lại: Sâm Báo vừa là một loại dợcliệu hiếm có, vừa là một đặc sản của làng nói riêng và của cả nớc nói chung, khi ngời
Trang 23ta đi làm đồng bị say nắng về đợc uống nớc hoặc ăn một miếng sâm Báo thì ngời khoẻlại ngay Vì vậy, vua chúa phong kiến khi thởng thức vị của Sâm Báo làng Bồng Thợng
đã đặt cho loài sâm nay cái danh “Đại Việt đệ nhất danh sâm”
Đầu thế kỷ 20, Bồng Thợng còn nhiều đất rừng tự nhiên bao quanh, nhất là phíaBắc và Tây Bắc với nhiều nguồn lợi của rừng Núi rừng ngày ấy còn hoang dã, rậm rạp
và rất hiểm trở, còn nhiều cây lấy gỗ (lát hoa, khơ mu, trám…), lấy củi, nhiều câythuốc quý, cây ăn quả, nhiều thú rừng kể cả thú dữ, đêm đêm hổ về vồ bò, ngựa…Hàng ngày, những ngời đi hái củi trên núi Hùng Lĩnh thờng bắt gặp trong các khe núi,hang đá nhiều loài xơng súc vật do Hổ ăn thịt còn lại Nhng rồi trải qua năm tháng,những thay đổi diễn ra theo quy luật tiến hoá, cùng với việc khai thác thiếu khoa học,thiếu trách nhiệm của con ngời làm cho núi rừng cùng những sản vật trong lòng nóngày một cạn kiệt, một số nơi đã trở thành vùng trống Những năm gần đây, do thựchiện chính sách của Nhà nớc trong việc trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, nhìnchung đồi núi Bồng Thợng đã có màu xanh trở lại, phủ xanh hầu hết các vùng đồi, núi
Bên cạnh những nguồn lợi từ rừng núi, ở Bồng Thợng có rất nhiều hồ (hừa), đầmlầy, sông suối, đồng chiêm trũng, … Vì vậy, nguồn lợi thuỷ sản rất phong phú, đadạng nh cá tôm, cua, ốc, hến, lơn, trạch… Những năm 1950 trở về trớc, nghề đánh bắtthuỷ sản ở Bồng Thợng khá phát triển, nhiều ngời dân đã sinh sống bằng nghề này.Hàng năm, cứ đến 25 tết, dân làng tổ chức ngày “hội” đánh bắt cá để bà con có vĩ cánớng vào dịp tết
Do thiên nhiên u đãi, lại nằm bên bờ sông Mã, đợc sông bồi đắp phù sa nên
đồng, bãi ở Bồng Thợng phì nhiêu, màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng nhkhoai, lúa bông, thuốc lá… đã đi vào thơ ca và in sâu vào tâm thức ngời dân nơi đây
Ta về nhớ táo Phơng Giai Nhớ gạo Đa Bút, nhớ Khoai làng Bồng
***
Ma từ trong Huế ma ra
Ma khắp thiên hạ ma qua Báo - Bồng.
Gạo Báo - Bồng ai đong cho hết, Gái Đông Biện ai biết cho thông.
Trang 24Làng Bồng lắm lúa nhiều bông,
Có quan nghè Tống Duy Tân anh hùng.
Nh vậy, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên u đãi đã tạo cho Bồng Thợng có vịthế rất thuận lợi, có núi, có sông, đồng ruộng, nơng bãi phì nhiêu, dân c đông đúc, trênbến dới thuyền, giao thông thuận tiện Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi cũng không ítkhó khăn, thử thách trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nôngthôn đa Bồng Thợng nói riêng và xã Vĩnh Hùng nói chung trở nên giàu mạnh, ấm no,hạnh phúc
1.2 Quá trình hình thành và phát triển làng Bồng Thợng
1.2.1 Nguồn gốc dân c
Theo sử sách, phả hệ, di tích, khảo cổ đã chứng minh đất Biện Thợng xa, BồngThợng ngày nay là vùng đất cổ, có con ngời tụ c từ rất sớm, là một trong những địabàn c trú của c dân Việt Cổ
Cách đây khoảng 7.000 năm, ngời nguyên thuỷ, chủ nhân của văn hoá Hoà Bình
- Bắc Sơn, dời hang động mái đá ở vùng cao, chuyển dần xuống vùng núi thấp, dọctheo triền sông Mã và một trong những điểm dừng chân trong quá trình chinh phụcvùng đồng bằng giàu sản vật này chính là Biện Thợng (Bồng Thợng)
Năm 1926, các nhà khảo cổ của Viện Viễn Đông Bác cổ đã phát hiện và khaiquật di chỉ Đa Bút (nằm sát chân núi Mông Cù liền kề với đồng chiêm trũng làng BồngThợng, cách sông Mã 2km và tồn tại dới dạng cồn hến ven sông dài 50m), đã phát hiệnnhiều bộ xơng ngời ở Đa Bút Qua nghiên cứu các nhà Khoa học đã xác định xơng củangời Indoxesien và ngời Ménanésiens Các phân tích khoa học bằng phơng phápcácbon phóng xạ, đã cho biết di chỉ này có niên đại gần 7.000 năm Di chỉ Đa Bút đãthành nổi tiếng trong giới khảo cổ học thế giới Làng Biện Thợng chỉ cách di chỉ ĐaBút 1km nên chắc chắn Biện Thợng đã có ngời ở từ thời cổ
Gần đây, dới chân núi Hùng Lĩnh (sau trụ sở UBND xã Vĩnh Hùng), ngời ta đã
đào đợc nhiều cổ vật bằng đồng và mảnh gốm cổ, trong đó có cả trống đồng Lẫn lộnvào những cổ vật bằng đồng ấy, còn có nhiều vũ khí bằng sắt, đã sét gỉ hoàn toàn Vớicác cổ vật đợc tìm thấy ở trên, chứng tỏ ở đây có tầng văn hoá khá dầy và các tầng vănhoá đan xen vào nhau: thời kỳ đồ đồng, thời kỳ đồ sắt và thời kỳ phong kiến Những
Trang 25thông tin ấy, cho ta biết chắc chắn rằng tại làng Biện Thợng ở chân núi Hùng Lĩnh, từ
xa xa đã có con ngời sinh sống và những tầng văn hoá khảo cổ của các thời đại đanxen nhau, chứng tỏ thời cổ đại, trung đại, ở đây đã có nhiều hoạt động của con ngời
Lớp dân c đầu tiên đến Bồng Thợng ngày nay thì cha thấy tài liệu thành văn nàocủa thời Lý, Trần nói đến, nhng đến thời Lê Trung Hng, Bồng Thợng là quê hơng củacác vị Chúa Trịnh nên sử sách thờng xuyên nói đến Theo di tích lịch sử văn hoá NghèVẹt thờ thành hoàng Trịnh Ra và các chúa Trịnh cũng nh theo thần tích của làng thìTrịnh Ra xa làm thổ ty (Quan lang) ở xứ Long Xá, làng Đức Chiêu (nay là NhậtChiêu) trên bờ sông Bởi, cách cửa sông Bởi đổ ra sông Mã không xa ông là ngờithẳng thắn, trung thực, từng làm quản gia cho Cao Biền ông bị hại vứt xác xuốngsông trong một vụ xích mích ở địa phơng Nhân dân ven sông Mã cảm kích tấm lũngtrung thực của ông, đã thờ ông làm Phúc thần Hiện nay, Nghè Bồng Thợng, NghèBồng Trung (bị phá năm 1954) và một số làng khác đều thờ Trịnh Ra Nh vậy, làngBiện Thợng đã có ngời ở từ thời Bắc thuộc Nhà Đờng, vì Cao Biền sang Giao Chỉ vàonăm Bính Tuất - Đờng Hàm Thông - thứ 7 (866), mà Trịnh Ra lại là quản gia của CaoBiền
Phả họ Trịnh cho biết: Tổ xa họ Trịnh là Trịnh Kỷ ngời làng Sóc Sơn, nhng đến
đời Trịnh Liễu, do ăn ở hiền lành, phúc đức nên đợc Tống Thiên Vơng cho ngôi đất quý
để mộ, lại tìm cho một dơng cơ ở ngõ Thẳng (xóm Thẳng) làng Biện Thợng (Bồng ợng) để ở và dặn phải lấy vợ họ Hoàng, nên ông đã lấy con gái ông đồ họ Hoàng, sau nàytrở nên quý hiển sinh ra Chúa
Th-Nh vậy, ngoài phần truyền thuyết của chuyện kể, phả hệ họ Trịnh cho ta biếtmột điều rất rõ ràng là từ thời Trịnh Liễu (cụ nội chúa Trịnh Kiểm), khoảng đầu thời
Lê sơ, làng Biện Thợng đã có ngõ Thẳng (sau là nơi đặt Phủ Chúa), đã có gia đình cụ
đồ họ Hoàng và họ Trịnh cùng họ Hoàng ở đây đã thông gia với nhau Phả họ Đỗ ởLàng Bồng Trung (Vĩnh Tân) lại ghi: Cụ Tổ Viên Thịnh họ Đỗ, thời chiến tranh chốngquân Minh (1418 -1428) phải lu lạc sang Lào Khi hết chiến tranh, nhà Vua cho dânchúng trở về khai khẩn ruộng vờn làm ăn, Đỗ viên Thịnh đã dem gia đình về hồi hơngtại xóm Vạn ở Biện Thợng, sau di c đến vờn Nang (Giáp Đông làng Biện Thợng), ít lâusau con cháu cụ Viên Thịnh lại đến xứ Mã Rốc nơi mộ tổ của họ Đỗ hiện nay (ngõ
Trang 26Phủ làng Bồng Trung bây giờ) Khu vực Mã Rốc này vào năm Hồng Thuận thứ 2 đờivua Lê Tơng Dực (1510) do dân c đông đúc, phồn thịnh, đã tách ra khỏi Giáp Đông đểlập làng Đông Biện (Bồng Trung)
Tóm lại, từ thời đầu Lê Sơ, ở Biện Thợng đã có xóm Vạn (xóm Bình ngay nay), tức
là xóm của dân c vạn đò ở ven sông Mã, có xứ Vờn Nang, Mã Rốc thuộc Giáp Đông…
Có nghĩa cùng với Phả họ Trịnh, phả họ Đỗ ở Bồng Trung đã nói lên vào đầu thời Lê Sơ ởBiện Thợng đã tồn tại đủ các xóm, ngõ nh trên, dân c đông đúc, phải tách lập thêm làngmới, tách Biện Đà phờng thành làng Đông Biện (Bồng Trung) Điều đó chứng tỏ, trớc đóthời Lý (1010 -1226), thời Trần (1226 - 1400) ở Biện Thợng dân c phải rất đông đúc
Quá trình vận động tiếp theo của lịch sử, c dân làng Bồng Thợng, tiếp tục đón nhậnnhiều c dân từ các địa phơng khác chuyển đến, trong đó có ngời thuộc hoàng tộc về nhậnruộng đất đợc phân phong (chủ yếu là hoàng thân quốc thích của Vua Lê, chúa Trịnh vàthái tể Hoàng Đình ái), có cả những ngời tha phơng kiếm sống hoặc tìm nơi lập nghiệp,thấy cảnh đất đai, sông nớc trù phú, tình ngời rộng mở, ấm áp mà trụ lại sinh sống, nhữngngời ngoài Bắc nh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình… phiêu dạt trong nạn đói 1945, đợcnhân dân bản địa cu mang, sống sót sau trận đói khủng khiếp năm ấy
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở thế kỷ 20, nhân dânlàng Bồng Thợng cũng đã đón nhận rất nhiều đồng bào tản c, cùng các cơ quan, đơn vị
bộ đội, trờng học, công xởng, bệnh viện, của tỉnh, của Trung ơng, của Liên khu Ba,khu Bốn và do chiến tranh liên tiếp kéo dài, nhiều gia đình tản c, gia đình cán bộ, côngnhân, viên chức, nhiều anh “Bộ đội Cụ Hồ”, dựng vợ, gả chồng, làm ăn sinh sống, gắn
bó với hậu phơng và lấy hậu phơng Bồng Thợng nói riêng và Vĩnh Hùng nói chunglàm quê hơng thứ hai
Chính những yếu tố đa dân c này, đã hình thành sự cố kết cộng đồng, sự giao luhoà nhập những tiềm năng, những kinh nghiệm cuộc sống, tạo nên động lực thúc đẩy,khích lệ, làm tăng tinh thần thợng võ và ý chí vơn lên của nhân dân Bồng Thợng trongsuốt quá trình lịch sử
1.2.2 Quê hơng chúa Trịnh
Trang 27Đối với bất kì một vơng triều nào, thì quê hơng của ngời mở đầu khai thác đểgây dựng có một ý nghĩa quan trọng, nó giúp chúng ta hiểu đợc nguyên nhân dẫn đếnthành công hay thất bại trong sự nghiệp của họ.
Thanh Hoá đợc xem là vùng đất quý, đất “tam vơng, nhị chúa”, là quê hơng củavua chúa thời Tiền Lê, Sơ Lê, Lê Trung Hng, Lê Hoàn, Hồ Quý Ly, Lê Thái Tổ, XứGia Miêu ngoại trang ở Hà Long, Hà Trung là quê hơng chúa Nguyễn (bắt đầu từNguyễn Hoàng kết thúc là Nguyễn Phúc Thuần tức Định Vơng), và vơng triềuNguyễn, từ Gia Long (bắt đầu từ 1802) đến Bảo Đại (kết thúc 1945) Rồi Sóc Sơn,Bồng Thợng ở Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc là quê hơng của Trịnh Kiểm, ngời mở đầu cho 12
đời chúa Trịnh với 249 năm ròng Đây là vùng đất cổ, Nam giáp sông, Bắc giáp núi,
địa thế đẹp, núi non trùng điệp bao quanh và dòng sông Mã uốn lợn trớc làng tạo nênmột cảnh quan kỳ vĩ, sơn thuỷ hữu tình Vì thế, từ xa đã có câu ca rằng:
“Dòng sông Mã mênh mang sóng bạc
Dãy Hùng Sơn man mác điệp trùng
Núi sông hun đúc khí hùng Sóc Sơn, Biện Thợng một vùng Thanh Hoa”.
Theo “Trịnh Gia chính phả” của Trịnh Nh Tấu cũng nh nhiều nguồn sử liệukhác, nhà Trịnh phát tích từ Trịnh Kiểm Tằng tổ là cụ Hng tổ Phúc ấm vơng TrịnhLiễu, ngời làng Sáo Sơn (Sóc Sơn), huyện Vĩnh Phúc, phủ Thiệu Hóa, trấn Thanh Hoa,lúc bé cha mẹ mất sớm, lấy nghề cày cấy chăn nuôi để sinh nhai, lại vốn có lòng nhân
từ hiền hậu Một hôm, trời gần tối, chợt gặp ông già hơn bảy mơi tuổi trên bờ sông, xinngủ trọ một đêm
Cụ chào mời vui vẻ, cùng đi về nhà, tiếp đãi rất hậu Đêm khuya, ông già bảo cụ
ngôi đất, để mả ở đấy, bốn đời sau, có thể làm lên Vơng nghiệp Tôi muốn lấy chỗ
đất đấy trả ơn ông, ông nghĩ sao?- Cụ tha rằng: “Tôi chỉ là kẻ cô đơn đâu dám mong thế!”- ông già lại bảo rằng: “Trời cho ngời cho, không phải tìm cũng đợc” Cụ theo lời
ông cùng đi lấy hài cốt thiên nhân về chôn chỗ đó, song cùng đi đến bên Đông núi Lệ
có thể lập ngôi dơng c đợc” Lại đi đến Mả Thắm, ông già nói rằng: “Chỗ này quý
Trang 28địa, trăm năm sau có thể làm âm phần tiếp phúc đợc”, rồi hai ngời cùng trở lại Sáo
Sơn Mọi chuyện xong xuôi, hai ngời quay về Sáo Sơn uống trà hàn huyên vui vẻ.Cuối cùng thì ông già lặng lẽ ra ngoài rồi đi đâu mất không thấy quay lại Ngời nhà họTrịnh mới ngộ ra rằng đó là thần trên trời giáng xuống, (sau phong là Tống Thiên ThầnVơng) [69, tr.9 - 10]
Con cháu hậu duệ nhà Trịnh nghiệm thấy lời tiên tri đã trở thành sự thật Cụ TrịnhLiễu lấy con gái họ Hoàng làng Biện Thợng rồi rời sang ở đấy và sinh ra đức Diễn Khánhvơng Trịnh Lan Trịnh Lan sinh ra Đức vơng Trịnh Lâu Trịnh Lâu lấy con gái họ Hoàngthôn Hổ, làng Vệ Quốc (huyện Yên Định), sinh ra Đức thế Tổ Minh Khang Đại VơngTrịnh Kiểm Trịnh Kiểm gây lên Vơng nghiệp truyền mời hai đời, cộng hai trăm bốn mơichín năm
Trịnh Lâu chẳng may mất sớm, Trịnh Kiểm cùng mẹ sống tại Biện Thợng sau đó
di chuyển về quê cũ làng Sáo Sơn Ông dần trởng thành, mỗi khi chăn trâu ở chân núi ờng tập hợp trẻ nhỏ, lấy trâu bò làm voi ngựa, bẻ cỏ lau làm cờ, bày binh bố trận, luyệntập quân sĩ, võ nghệ ngày một tinh thông
th-Trịnh Kiểm sinh thời đã theo Hng quốc công Nguyễn Kim dựng cờ phù Lê.Nguyễn Kim cảm phục đã gả con gái Nguyễn Thị Ngọc Bảo cho ông Khi NguyễnKim mất đã trao nhiệm vụ trung hng nhà Lê cho Trịnh Kiểm Với 30 năm gây dựngbinh quyền, Thái vơng Trịnh Kiểm đã có công lao rất lớn, là giờng cột dựng triều LêTrung Hng vững mạnh nên đợc phong là Thái s Lợng Quốc Công
Nối nghiệp bậc hiền tài Thế tổ Minh Khang Thái vơng Trịnh Kiểm, nhà Trịnhtiếp tục hng thịnh với 11 đời chúa góp công sức cùng dựng xây đất nớc Thành TổNghị Vơng Trịnh Tùng (1570-1623) đã đánh bại nhà Mạc, khôi phục cơ đồ nhà Lê với
20 năm cầm quyền tồn tại theo kiểu cai trị cả vua lẫn chúa Chúa Trịnh Tùng ngự ởThăng Long 33 năm, mất năm 74 tuổi Tiếp theo là Văn Tổ Nghị Vơng Trịnh Tráng(1623-1657), Trịnh Cơng (1709 - 1729)… Các chúa Trịnh đã cùng vua Lê trị vì đất n-
ớc nhng tấm lòng luôn hớng về quê cha đất tổ, Trịnh Kiểm cho lập hành dinh ở BiệnThợng làm nơi thờ phụng tổ tiên và nơi nghỉ ngơi khi chúa về quê hơng Hành dinhgồm có nhiều dãy nhà ngang dọc, có vờn hoa, bãi mía tiến chúa, có hồ rộng đậuthuyền bè của của vua chúa dạo chơi ngắm cảnh Dọc dòng sông Mã, nơi quê hơng
Trang 29Chúa, luôn tấp nập thuyền bè qua lại buôn bán, tạo nên cảnh sầm uất trên bến dớithuyền rất nhộn nhịp Vì vậy, đất Bồng Thợng thời Lê - Trịnh đã đợc xem là nơi “phồnhoa” “đô hội”, “ngựa xe chầu về Bồng Báo”, nơi giao lu giữa văn hoá làng Bồng Th-ợng với kinh thành Thăng Long Bên cạnh đó, Chúa Trịnh còn cho xây dựng lại cáclăng miếu, đền nghè ở Bồng Thợng, Sóc Sơn Khi Trịnh Tùng mất, linh cửu cũng đợc
đem về an táng tại quê hơng, về với tổ tiên dòng họ
Đến nay, nhiều di tích lịch sử - văn hoá thời Lê - Trịnh vẫn còn tồn tại và đã đợctrùng tu lại nh Phủ Trịnh, đền thờ Hoàng Đình ái, Nghè Vẹt - nơi thờ thần hoàngTrịnh Ra và bài vị các chúa Trịnh, Khu lăng mộ nhà Trịnh… Các vị chúa luôn cóchính sách u đãi hơn đối với vùng đất Bồng Thợng nh giảm nhẹ tô thuế, tạp dịch…Mặt khác, thời Lê - Trịnh đất Bồng Thợng còn là nơi sinh ra nhiều tớng tài cho nhàTrịnh nh danh tớng Hoàng Đình ái, quận công Hoàng Đình Phùng, đề thống ngựdoanh tớng Trịnh Quang, Thiếu Phó Trịnh Vĩnh Thiệu Bên cạnh các quan võ thì đấtBồng Thợng cũng là quê hơng của nhiều nhà nho đức nghiệp nh Trịnh Cẩn, TrịnhKhắc Tuy, Trịnh Thị Ngọc Trúc, Trịnh Tuệ…
Nếu so sánh với các vùng đất “Quý hơng” khác ở xứ Thanh ta thấy, đất Biện ợng xa, Bồng Thợng nay cũng có nhiều điểm tơng đồng với đất “Quý hơng” các chúaNguyễn và vơng triều Nguyễn, hay đất làng Cham ở Lam Sơn của vơng triều Lê sơ.Các vùng đất này đều là những vùng đất cổ của c dân lạc Việt, có nhiều dấu ấn đậmnét về lịch sử văn hoá, có con ngời tụ c từ lâu đời, với nhiều dấu vết của nền văn hoá
Th-Đông Sơn đợc tìm thấy ở đây nh trống đồng, đồ gốm và các hiện vật bằng sắt đã sét rỉthuộc văn hoá Đông Sơn đợc tìm thấy ở Đa Bút, chân núi Hùng Lĩnh, hồ Bến Quân …
đã chứng minh điều đó Mặt khác, các vùng đất quý hơng này đều núi rừng trùng điệp
thế “Ngũ phơng long mạch” theo thuyết phong thuỷ
Vì những lợi thế đó, vùng đất này đã trở thành những mạch máu giao thôngquan trọng giữa miền núi và miền biển, giữa miền xuôi và miền ngợc của xứ Thanh, làcăn cứ địa trong các cuộc chiến tranh, nh đất Biện Thợng trở thành căn cứ địa của nhàTrịnh hơn 60 năm chiến tranh Trịnh - Mạc, là nơi khởi nguồn của cuộc khởi nghĩa
Trang 30Hùng Lĩnh, trong phong trào yêu nớc kháng Pháp của nhân dân Thanh Hoá cuối thế kỷXIX
1.2.3 Nhân dân Bồng Thợng trong cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh chống Pháp
Thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, ngay từ những ngày đầu phong trào Cần Vơng(phò vua cứu nớc) đã dấy lên khắp nơi trong các sĩ phu yêu nớc Tiêu biểu cho phongtrào Cần Vơng ở Thanh Hoá là cuộc khởi nghĩa Ba Đình và khởi nghĩa Hùng Lĩnh
Sau khi thực dân Pháp lấy mất 6 tỉnh Nam Bộ và khi kinh thành Huế thất thủ,Tôn Thất Thuyết với Trần Xuân Soạn và Hoàng Đình Đởn phò vua Hàm Nghi ra vùngnúi Quảng Bình lập phòng tuyến chống Pháp Ngày 13/7/1885, vua Hàm Nghi hạchiếu Cần Vơng lần thứ nhất, kêu gọi đồng bào, sĩ phu cả nớc đứng lên "đánh đuổi bọnTây Dơng cứu nguy cho xã tắc" Việc đa vua Hàm Nghi ra Quảng Bình không thành,Tôn Thất Thuyết cùng một số chiến hữu chạy ra Thanh Hoá Thay mặt nhà vua, TônThất Thuyết hạ chiếu Cần Vơng lần thứ hai vào ngày 19 tháng 9 năm 1885 Điều quantrọng của chiếu Cần Vơng là đóng đô tại Thanh Hoá Và từ đây, Tôn Thất Thuyết trởthành thủ lĩnh của phong trào Cần Vơng Tôn Thất Thuyết đã từng là Tổng đốc ThanhHoá nên ông đã liên kết với những ngời có tâm huyết, có chí khí trong tỉnh Ông đãmời Tống Duy Tân ra làm Đốc học rồi sau đặc cách cử làm Chánh sứ Sơn phòng
Ngày 22/11/1885, đội quân viễn chinh Pháp tiếp tục tiến quân ra Bắc với ý đồhoàn thành cuộc xâm lợc Bắc kỳ lần thứ hai Chúng tập trung hớng cuộc tiến công vàoThanh Hoá, nơi có phong trào Cần Vơng chống Pháp đang dâng cao, tiêu biểu chotoàn quốc
Tống Duy Tân (1837-1892), tự là Cơ Mệnh, hiệu là Báo Tiều trong một gia đìnhnông dân làng Đông Biện (nay là Bồng Trung, xã Vĩnh Tân) Thuở thiếu thời, ông theohọc với ông Lê Khắc Uý ngời làng Bồng Thợng Về sau, ông ra Nam Định học với cụHoàng Giáp Phạm Văn Nghị (thờng gọi là cụ Nghè Tam Đăng) một nhà nho có trình
độ học vấn uyên thâm, có lòng yêu nớc nồng nàn, đợc nhân dân và các văn thân trongtỉnh đặc biệt kính trọng Tống Duy Tân là một trong những ngời học trò tâm đắc củaPhạm Văn Nghị [44, tr.107] Ông đậu cử nhân khoa Canh Ngọ (1870) và đỗ tiến sỹkhoa thi hội năm ất Hợi (1875)
Trang 31Sau khi đậu tiến sĩ Tống Duy Tân đợc phong hàn lâm biên tu và bổ nhiệm giữchức Thừa biện tại bộ hình dới triều Tự Đức Năm 1876, ông đợc cử là phúc khảo VĩnhTờng (tỉnh Vĩnh Phú) Khác hẳn với nhiều viên quan thời ấy, trong thời gian hai nămlàm tri phủ, ông đã thể hiện lòng thơng dân, ghét bon cờng hào sâu mọt nên đợc nhândân mến phục Biết rõ tài năng và đức độ của ông, nên tổng đốc Vũ Trọng Bình đã tâulên vua đề nghị cho ông đợc thăng chức án sát Đề nghị đó đã đợc triều đình Huế phêchuẩn, nhng ông kiên quyết từ chối [44, tr.109]
Sở dĩ, ông có thái độ nh vậy là vì bấy giờ triều đình Huế đã lộ rõ sự ơn hèn, bấtlực của trớc hoạ xâm lợc, càng đối lập với lợi ích của nhân dân, nên ông không thể thihành đợc những ý định tốt đẹp đối với dân với nớc nh lòng ông mong muốn Vì thế,
ông xin về quê nghỉ mở trờng dạy học Một lần về Thanh Hoá, Tôn Thất Thuyết có dịptiếp xúc với Tống Duy Tân, biết ông là ngời có tinh thần yêu nớc, có uy tín với nhândân nên đã đặt cách cử ông làm đốc học Thanh Hoá, rồi làm thơng biện tỉnh vụ vàChánh sứ Sơn phòng phủ Quảng Hoá Năm 1886, hởng ứng chiếu Cần Vơng, ông từquan về quê tập hợp lực lợng khởi nghĩa chống Pháp, lấy vùng núi Hùng Lĩnh (núi Báo
ở Bồng Thợng) làm căn cứ và đặt tên cho cuộc khởi nghĩa
“Dãy núi Hùng Lĩnh, một phần của mạch núi đá chạy dài từ vùng bắc Thanh Hoátới bờ sông Mã, tạo thành một vòng cung phía Tây Bắc của các làng Bồng Thợng,Bồng Trung, Bồng Hạ và Đa Bút thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá Tên của dãynúi đó cũng là tên gọi tiêu biểu cho vùng đất của ba làng Bồng”[44, tr.100]
“Ngay sau khi nhận đợc lời kêu gọi cứu nớc của vua Hàm Nghi, đợc sự đồng tìnhcủa dân làng, Tống Duy Tân đã lấy ngay quê hơng mình, Tổng Bồng Thợng làm nơi
mộ quân và luyện tập, xây dựng đồn luỹ, biến xóm làng thành chiến trờng diệt giặc ở
vị trí trung tâm của huyện Vĩnh Lộc, các làng Bồng và Đa Bút có dòng Sông Mã chảyuốn lợn trớc mặt, có núi Mông Cù sau lng, núi Hùng Lĩnh bên phải và núi Bền bên trái.Trong hoàn cảnh mới bắt đầu xây dựng lực lợng, quy mô cuộc khởi nghĩa còn nhỏ,dòng sông ấy, các dãy núi ấy đợc coi là hào sâu, luỹ cao để bảo vệ nghĩa quân, chốngtrả với các cuộc tấn công của quân thù Mặt khác, ở vị trí này nghĩa quân không bị côlập, từ đây có thể toả đi các vùng để liên hệ phối hợp với các đội quân của các cuộckhởi nghĩa khác hoặc chuyển quân đi hoạt động trên địa bàn rộng lớn hơn Dãy núi
Trang 32Mông Cù và những mạch núi lớn chạy dài về phía tây bắc có nhiêù thung lũng xen kẽ
là nơi che dấu lực lợng khi nghĩa quân gặp khó khăn, và từ đây cũng mở ra những con
đờng kín đáo chạy lên vùng thợng du Thanh Hoá hoặc đi về các huyện khác” [44,tr.101]
Cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh kéo dài 6 năm và đã liên kết đợc các thế lực khángchiến khác ở trên đất Thanh Hoá, gây cho địch nhiều tổn thất Nghĩa quân Hùng Lĩnh
đã chiến đấu rất dũng cảm và đã lập đợc những chiến công oanh liệt
Tuy nhiên, sau đó thực dân Pháp đã tập trung nhiều binh lính, với vũ khí hiện
đại để tiến công tiêu diệt nghĩa quân Ngày 2/11/1889, tên Barberet đem quân Pháp cósúng đại bác tấn công ba Bồng, bắn phá dữ dội, đàn áp cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh rấtkhốc liệt Trớc đội quân nhà nghề với vũ khí hiện đại của thực dân Pháp, thế lực nghĩaquân yếu dần và phải vợt qua núi Mông Cù (làng Đa Bút) sang Thạch Thành phân tánrút dần lên mạn ngợc sang châu Quan Hoá, Bá Thớc hoạt động Tháng 10/1892, TốngDuy Tân bị bắt và bị thực dân Pháp hành hình tại tỉnh lỵ Thanh Hoá Ông bị giết saucái chết vì nớc của ngời con trai độc nhất của ông, cử nhân Tống Nhữ Mai Tống DuyTân hy sinh, các thủ lĩnh khác cũng lần lợt bị thực dân Pháp bị sát hại, hoạt động củanghĩa quân Hùng Lĩnh lắng hẳn Nhng phong trào văn thân chống Pháp vẫn còn kéodài cho mãi đến năm 1895 mới thật sự tan rã
Nhân dân Tổng Bồng Thợng nói chung và làng Bồng Thợng nói riêng đã hănghái tham gia khởi nghĩa Hùng Lĩnh, tham gia nghĩa quân, đã dũng cảm chiến đấu anhdũng hy sinh, trong đó nhân vật tiêu biểu là Đề Lĩnh Lê Văn Dơi, cụ Lê Văn Đáp(xóm Hát) ngời luyện võ cho nghĩa quân, cụ Tú Trịnh Đình Quát (xóm Trung) đã cấtgiấu vũ khí và mũ áo Tiến sĩ của Tống Duy Tân, bí mật che giấu, giúp đỡ nghĩa quân.Với lòng căm thù giặc, dù không có vũ khí, chỉ có gậy gộc, giáo mác, nhân dân BồngThợng đã nghĩ ra nhiều cách đánh giặc nh dùng rơm rạ phục kích nghi binh đốt cháytàu chiến của Pháp trên bờ sông Mã Khi chúng đổ quân vào làng càn quét, các ngõxóm nhân dân đã cùng nghĩa quân rải những đoạn tre, luồng để quân Pháp đi giầy đinh
sẽ trợt ngã, ta xông ra bắt sống hoặc tiêu diệt
Cùng với Bồng Trung, Đa Bút, bà con nhân dân Bồng Thợng, ngời trực tiếp giúp
đỡ nghĩa quân, đã phải cắn răng chịu đựng nhiều đợt đánh phá, đàn áp tàn bạo của
Trang 33quân Pháp Để ngăn chặn và đàn áp nhân dân Ba Bồng liên lạc và giúp đỡ nghĩa quân,giặc Pháp đã cho đóng đồn ngay tại ngã ba đầu làng Bồng Thợng giáp Bồng Trung và
đờng vào Đa Bút, nơi có cây Cáo (cây Gạo) Vì vậy, từ đó dân làng gọi đấy là cây Cáo
đồn
Cũng nh các cuộc khởi nghĩa khác trong phong trào Cần Vơng, cuộc khởi nghĩaHùng Lĩnh đã bị Pháp đàn áp đẫm máu và thất bại Nhng cuộc khởi nghĩa đã thể hiệnlòng kiên trung, bất khuất chống ngoại xâm và lòng yêu nớc thơng nòi, đã trở thànhtruyền thống quý báu của nhân dân vũng đất Biện Thợng Đánh giá về Tống Duy Tânvới khởi nghĩa Hùng Lĩnh, Bác Hồ (Nguyễn ái Quốc) khi còn hoạt động ở Pháp đã
Tổ quốc họ sống lại, lòng can đảm của họ bất diệt".
Sau khởi nghĩa Hùng Lĩnh thất bại, cử nhân Nguyễn Sự Chí, ngời Bồng Trung,xã Vĩnh Tân, ngời đợc Tôn Thất Thuyết phong làm Tán tơng quân vụ, phụ trách phongtrào Cần Vơng huyện Vĩnh Lộc tham gia khởi nghĩa Hùng Lĩnh đã láng nạn về ẩn náu,dạy học và tu ở chùa Báo, làng Bồng Thợng, đợc nhân dân che chở, giúp đỡ, ông là tácgiả của tác phẩm "Báo Sơn thi tập" nổi tiếng, nhiều bài thơ vẫn đợc lu truyền cho tớibây giờ
Tiếp nối truyền thống đấu tranh anh dũng của cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh, một
số sĩ phu yêu nớc ở Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc đã đi tìm con đờng cứu nớc theo xu hớngmới, xu hớng tiến bộ, tiến dần tới con đờng Cách mạng, do ngời cộng sản Nguyễn áiQuốc lãnh đạo, tiếp tục lập tổ chức, xây dựng phong trào, tiếp thu và truyền bá chủnghĩa Mác - Lênin
Thật đáng tự hào với những trang sử chống thực dân Pháp của quê hơng Địadanh Hùng Lĩnh cùng bao tên tuổi các thủ lĩnh, nghĩa quân và sĩ phu, văn thân yêu nớctrên đất Biện Thợng xa, Bồng Thợng nay, sẽ còn sống mãi với quê hơng đất nớc, sẽ làcầu nối truyền thống cho các thế hệ con cháu tiếp theo trong cuộc chiến đấu thầnthánh chống Pháp, chống Mỹ cứu nớc và cả trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nớc hiện nay và mai sau
1.2.4 Truyền thống hiếu học, thợng võ của c dân Bồng Thợng
Trang 34Bồng Thợng vốn là vùng đất cổ, đất “địa linh nhân kiệt” của xứ Thanh, vì vậy,
từ xa ngời dân nơi đây đã ý thức đợc lợi ích của việc học Có học mới nên ngời, làmrạng danh cho gia đình và dòng tộc Ngời xa có câu:
Làng ta ít ruộng, ít trâu
Cố mà chăm học, ngõ hầu nuôi thân.
Do coi trọng hiền tài, làng đã có nhà văn chỉ hàng huyện (ở xóm Nam), nhà vănchỉ hàng xã ở xóm Vạn Nhà văn chỉ là nơi thờ Khổng Tử, có bia danh thần, danhnhân, lu danh những ngời đỗ đạt, những vị quan văn, quan võ, những bậc tài danh nhânkiệt qua các thời đại Với truyền thống hiếu học, quý trọng hiền tài, từ xa Bồng Thợng
đã xuất hiện nhiều bậc nho sĩ, nhiều tài danh nhân kiệt mà sử sách các triều đại phongkiến còn ghi lại những danh nhân kiệt xuất của vùng đất Biện Thợng nh:
- Trịnh Khắc Tuy (1413 - ?) Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm NhâmTuất (1442) niên hiệu Đại Bảo đời vua Lê Thái Tông, năm ông 31 tuổi
- Lê Đăng Phụ (1662 - 1731) đỗ đệ tam Giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thinăm Quí Hợi (1683) niên hiệu Chính Hoà đời vua Lê Hy Tông, lúc 22 tuổi làm chứcHiến sứ, làm quan đến năm 70 tuổi
- Trạng nguyên Trịnh Tuệ (1704 - ?) (còn có tên là Trịnh Huệ) đỗ Trạng nguyênkhoa thi năm Bính Thìn (1736) niên hiệu Vĩnh Hựu dới thời vua Y Tông Ông là trạngnguyên cuối cùng trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, đợc cử giữ chức Tham Tụng, Th-ợng Th Bộ Hình và từng giữ chức Tế Tửu (hiệu trởng) Quốc Tử Giám
- Nữ học giả Trịnh Thị Ngọc Trúc chính cung Hoàng Hậu của vua Lê ThầnTông (1619 - 1643), tác giả bộ từ điển song ngữ đầu tiên là “Chỉ Nam Ngọc Âm giảinghĩa” bộ từ điển song ngữ cổ nhất nớc ta thế kỷ 17 và còn là tác giả cuốn sách “Phậtthuyết Báo phụ Mẫu Ân Trọng kinh” Bà xứng đáng là một danh nhân văn hoá, làm vẻvang truyền thống của phụ nữ trí thức Việt Nam Sau bà đi tu, đợc tôn là chúa bà KimCơng, đạo hiệu Pháp Tính, ở chùa Ninh Phúc, làng Bút Tháp (Bắc Ninh)
Ngoài ra, Bồng Thợng còn có nhiều ngời đỗ hơng cống, cử nhân nh Trịnh Cẩn,Nguyễn Đăng Sĩ, Lê Khắc Uý … và nhiều ngời về quê làm nghề dạy học nh các thầy
đồ họ Trịnh, họ Hoàng, họ Lê … Chính những thầy đồ này đã đào tạo nên nhiều nhân
Trang 35tài cho quê hơng đất nớc thời bấy giờ nh đốc học Lê Khắc Uý là thầy học của TốngDuy Tân…
Với truyền thống yêu nớc, với tinh thần thợng võ và lòng dũng cảm kiên trung,bất khuất chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc, bảo vệ quê hơng đất nớc, đã cónhững thời khắc, những sự kiện, những giai đoạn lịch sử dân tộc, gắn liền với tên tuổicủa những con ngời và vùng đất Biện Thợng xa, Bồng Thợng nay của xã Vĩnh Hùng
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lịch sử của Lê Lợi (1414 - 1428) đã giải phóng cho nhândân Đại Việt khỏi ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, Triều Lê sơ
đợc thiết lập và tồn tại đợc một thế kỷ (1428 - 1527) Đầu thế kỷ XVI, nhà Lê ngày mộtsuy yếu Năm 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, xã hội khủng hoảng, rối ren, bất ổn.Trong công cuộc trung Hng nhà Lê, đất Biện Thợng xa xuất hiện nhiều nhân vật nổi
triều hiến chơng loại chí” của Phan huy Chú, phần nhân vật chí đã ghi: “Họ trịnh, tên
Kiểm, ngời làng Sóc Sơn huyện Vĩnh Phúc (Thanh Hoá), nhà ở Biện Thợng” [22, tr.211].Phả họ Hoàng và họ Trịnh ở Bồng Thợng đều ghi: “Trịnh, Hoàng nhị tộc, cô cửu chi tử”(Trịnh Kiểm và Hoàng Đình ái, con cô con cậu)
Trịnh Kiểm (1503 - 1570) là một tớng tài, giúp vua dẹp Mạc, ngời kế nghiệp sựnghiệp trung Hng nhà Lê từ Nguyễn Kim (bố vợ) đã đợc phong chức Đại tớng quân rồiLơng Quốc Công và Thợng tớng Thái Quốc Công trải giúp ba triều vua: Trang tông,Trung Tông và Anh Tông Sau khi ông mất, con cháu ông đợc tập phong là chúa 11
đời, kéo dài 188 năm (nếu tính từ năm Trịnh Kiểm cầm quyền (1539) đến năm nhàTrịnh mất nghiệp là 249 năm) Đây là một thời kỳ đặc biệt trong lịch sử tổ chức bộmáy Nhà nớc phong kiến Đại Việt - thời kỳ vừa có cung vua vừa có phủ chúa Mối
Đánh giá về Trịnh Kiểm, Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá cho
Đông dẹp Bắc khắp từ Thanh Nghệ đến Sơn Nam, Kinh Bắc để khôi phục ngai vàng cho nhà Lê Việc Duy Bang, Anh Tông phong ông làm Thợng tớng Thái Quốc Công, tôn là Thợng Phụ là một đánh giá công bằng về tấm lòng trung nghĩa và tài thao lợc của ông” [12, tr.174].
Trang 36Với vị trí và vai trò trong lịch sử, trong suốt 249 năm Vơng triều Lê - Trịnh, cácchúa Trịnh đã có công lao to lớn trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ vững nền
độc lập dân tộc Bằng các hoạt động ngoại giao khôn khéo và dựa vào thực lực lực củamình khiến nhà Minh và nhà Thanh Trung Quốc phải trả lại vùng đất Tụ Long, vùnglãnh thổ Đại Việt bị các vơng triều phong kiến Phơng Bắc chiếm đoạt Ngoài ra, cónhững vị chúa tài năng đức độ đã có nhiều công tích với đất nớc và đợc lịch sử minhchứng nh Minh Khang Thái vơng Trịnh Kiểm có “tầm nhìn xa trông rộng”, nh Bình
An Vơng Trịnh Tùng có tài thao lợc “nối đợc nghiệp cha, giúp nên nghiệp vua”, hoặc
nh chúa Trịnh Cơng có đầu óc “cải cách”…và đất nớc Đại Việt đã có thời hng thịnhbởi những chính sách khuyến khích đối với công thơng nghiệp nên mới có câu ca dao
“Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”.
hiến chơng loại chí” phần nhân vật chí của Phan Huy Chú đã chép: “ông có học thức, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì giúp mu mô, ngoài thì đánh dẹp, tự mình trải vài trăm trận đánh đến đâu đợc đến đấy, làm cả tớng võ, tớng văn Đối với ngời không phân biệt thứ bậc, uy quyền, u đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ, mọi ngời đều cho
là giỏi” [22, tr.273]
Cuối năm 1607, ông ốm nặng ”Trớc khi qua đời, chúa Trịnh Tùng thăm hỏi:
- Hữu tớng quốc một đời công lao dồn lại to hơn núi Thái, Hữu tớng có muốn
đợc gia ơn chức tớc gì cho con cháu?
đẳng Dới triều Nguyễn, năm Gia Long thứ 1 (1802) liệt ông vào hàng công thầnTrung Hng bậc thứ nhất, năm Minh Mệnh thứ 4 (1824) cho thờ phụng ở Miếu lịch Đại
Trang 37đế vơng (cố đô Huế) cùng với các công thần Tô Hiến Thành, Trần Nhật Duật, TrơngHán Siêu và nhân dân nhiều nơi trong nớc, đã nhiều đời nay lập đền thờ Thái tể.
Con trai ông là Hoàng Đình Thái, Hoàng Đình Phùng đều đợc phong QuậnCông, Hoàng Đình Thái là ngời “tài gồm văn võ” là nhân vật tài năng, đợc phongtrọng quận công Ngoài ra, suốt giai đoạn lịch sử hơn hai thế kỷ này, ở Biện thợng cònxuất hiện nhiều tớng lĩnh là những công thần Trung Hng nhà Lê nh Tớng công LêQuang Lộc, thiếu phó Trịnh Vĩnh Thiệu, Đề thống ngự doanh Trịnh Quang, Quậncông Hoàng Đình Phùng, Đề đốc Tuyên quận công, Thọ kỳ Hoàng Đình Thọ…
Trong kháng chiến chống Pháp do Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân,chúng hạn chế đến mức tối đa việc phát triển giáo dục Vì vậy, nhân dân hầu nh mùchữ, việc học hành cho trẻ em ở Bồng Thợng không có trờng lớp, chủ yếu là đi học ởcác nhà thầy đồ dạy chữ Nho về sau có thêm chữ quốc ngữ Năm 1930, cả Tổng Bồngmới chỉ có trờng tiểu học đặt tại làng Bồng Trung (Vĩnh Tân) nhng cũng chỉ có 3 lớphọc cấp dới Năm 1941, Hơng trờng làng Bồng Thợng ra đời đã thu hút một số trẻ emtheo học chữ quốc ngữ, đến sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền tỉnhThanh Hoá cho giải thể các Hơng trờng để tập trung vào công tác xoá nạn mù chữ chonhân dân thông qua các lớp bình dân học vụ
Tuy nhiên, dù trờng học có ít, lại ở đô thị, nhng các trờng học cấp dới cùng cácHơng trờng ở làng, xã nói chung, và ở Bồng Thợng, Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc nói riêng đãgóp phần tạo nên đội ngũ thanh niên trí thức (cả Nho học và Tân học) Lớp ngời này,
đã sớm giác ngộ cách mạng, hăng hái tham gia hoạt động trong tổ chức cách mạng và
đã sớm trở thành Đảng viên Cộng sản, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc cách mạngtháng Tám năm 1945, cũng nh trong kháng chiến chống thực dân Pháp nh anh Lê VănBảo, sinh năm 1909 trong một gia đình có truyền thống yêu nớc ở xóm Nam, là contrai cụ đốc học Lê Văn Bích và ông nội là Lê Văn Dơi, tức Đề Dơi - ngời hoạt độngtrong bộ chỉ huy của nghĩa quân Hùng Lĩnh trong cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh chốngPháp do Tống Duy Tân lãnh đạo (1886 - 1892) và đã có nhiều đóng góp đối với phongtrào [26, tr.115] Năm 1931, anh Bảo bị bọn mật thám bắt và bị đánh đập tra khảohòng bắt anh khai báo tổ chức của mình Nhng anh Lê Văn Bảo vẫn luôn giữ khí tiếtcủa ngời chiến sĩ cách mạng Bị tra tấn dã man, anh đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà
Trang 38lao Quy Nhơn khi anh vừa tròn 22 tuổi Ngoài ra, Bồng Thợng còn có những ngời con
u tú khác nh Trịnh Đình Đản, Hoàng Đạt Ước, Nguyễn Văn Dởn, Lê Văn Tý, Hoàng
Đạt Phang, Trịnh Phỏng, Lê Văn Bút, Trịnh Đình Vanh…
Trong kháng chiến chống Mỹ cùng với các phong trào khác thì sự nghiệp giáo dụccủa Bồng Thợng, Vĩnh Hùng có sự phát triển mạnh Năm 1961, Vĩnh Hùng là xã đầu tiêncủa huyện Vĩnh Lộc xây dựng đợc 5 phòng học lợp ngói và có đủ bàn ghế cho học sinhhọc tập, thu hút đông đảo con em trong các làng đến học Trong phong trào học bổ túcvăn hoá cho ngời lớn cũng đạt đợc những kết quả đáng khích lệ, góp phần cùng với cảhuyện hoàn thành công tác xoá nạn mù chữ vào năm 1958, dẫn đầu toàn miền Bắc [26,tr.139]
Sau khi đất nớc thống nhất, đặc biệt là khi đất nớc bớc vào công cuộc đổi mới,Nhà nớc ta đã xác định đợc vai trò của giáo dục và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.Thực hiện chủ trơng đó của Đảng và Nhà nớc Việt Nam, Đảng uỷ, UBND xã VĩnhHùng đã đề ra những biện pháp tích cực bảo đảm cho tất cả các cháu trong độ tuổi đợc
đến trờng học và không có cháu nào bỏ học Vì vậy, nhận thức về giáo dục trong cáctầng lớp nhân dân đã đợc nâng lên, cùng với điều kiện kinh tế phát triển, đã thúc đẩy
sự nghiệp giáo dục xã Vĩnh Hùng nói chung và làng Bồng Thợng nói riêng phát triểnvợt bậc Quy mô giáo dục phát triển ổn định, công tác phổ cập giáo dục tiểu học,chống mù chữ, phổ cập giáo dục THCS có nhiều chuyển biến về chất lợng Số học sinhcác cấp của làng Bồng Thợng ngày càng tăng nhanh “Cùng với việc tăng nhanh về sốlợng học sinh, bằng nguồn vốn của địa phơng, sự đóng góp của nhân dân toàn xã vàvốn hỗ trợ của nhà nớc năm 1995 và năm 1998 Vĩnh Hùng đã xây dựng trờng học caotầng THCS và trờng Tiểu học Hàng năm, xã cũng đã trích ngân sách từ 10 -15 triệu
đồng để nâng cấp, tu sửa, bảo đảm trờng Mần non có đủ phòng học, bàn ghế Mặtkhác, làng, xã đều có chế độ khen thởng kịp thời cho các em học sinh học giỏi, đạtdanh hiệu học sinh giỏi cẩp tỉnh, cấp huyện, những em thi đậu vào trờng Đại học, Cao
đẳng”[26, tr.210] …
Do có phong trào động viên khuyến khích kịp thời các thầy, cô giáo, học sinh dạyhỏi, học giỏi, giúp đỡ học sinh nghèo vợt khó học giỏi, nên chất lợng giảng dạy cũng nhhọc tập của các trờng đợc nâng lên rõ rệt Từ năm 2000 đến nay, số học sinh học giỏi các
Trang 39cấp và học sinh đậu Đại học, Cao đẳng trong toàn xã ngày càng tăng Riêng làng BồngThợng năm học 2001 - 2002 có 20 em đậu vào Đại học, năm 2006 - 2007 có 25 em đậu
đại học, năm học 2007 - 2008 có 31 em đậu Đại học, năm 2008 - 2009 có 30 em đậu Đạihọc và nhiều em đậu vào các trờng cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp [91, tr.6]
Có đợc kết quả đó là nhờ sự quan tâm, chăm sóc từ các gia đình, dòng họ, Hộikhuyến học, các đoàn thể và đặc biệt là sự dạy dỗ của các thầy cô giáo đã động viêncác em học sinh phấn đấu học tập thật tốt, noi gơng lớp ngời đi trớc, làm rạng rỡ vùng
đất vốn đợc xem là “quý hơng” của nhà Trịnh xa nh: Giáo s, Tiến sĩ Lê Dũng Tráng,Tiến sĩ Trịnh Hiếu, Tiến sĩ Trịnh Hoà Bình…
* * *
Nh vậy, từ điều kiện địa lý tự nhiên và quá trình hình thành phát triển tạo choBồng Thợng có vị thế rất nhiều thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đadạng, diện tích đồi núi nhiều nên đã từng có rất nhiều lâm thổ sản quý, tiêu biểu nhloài sâm Báo, chỉ riêng núi Hùng Lĩnh mới có Mặt khác, Bồng Thợng lại nằm trongvùng “địa linh nhân kiệt” có nhiều ngời đỗ đạt cao và nhiều võ tớng giỏi nh: Lê Khắc
Uý, Trịnh Tuệ, Trịnh Kiểm, Hoàng Đình ái, C dân Bồng Thợng luôn chịu thơng,chịu khó trong lao động, sản xuất, anh dũng trong đấu tranh giữ nớc, làm cho quê h-
ơng của nhà Trịnh ngày càng phồn vinh, giàu đẹp, góp phần tạo nên truyền thống vănhoá cho vùng đất Vĩnh Lộc nói riêng và Thanh Hoá nói chung
Trang 40Chơng 2: Văn hoá vật thể của làng Bồng Thợng
Từ xa vùng đất Bồng Thợng đã có rất nhiều dấu vết, di vật, di tích của một làngViệt cổ ven bờ sông Mã, đợc bao quanh bởi các dãy núi hùng vĩ, tạo nên một vẻ đẹptrầm mặc, nguyên sơ của cảnh quan nơi đây Nhng qua thời gian, những thăng trầmcủa lịch sử, những dấu vết xa đã bị tàn phá đi nhiều, chỉ còn lại một số di tích, di vậtchủ yếu đợc xây dựng thời Lê - Trịnh và sau này đợc sự quan tâm của các cấp chínhquyền, bà con làng xã và con cháu của quê hơng Bồng Thợng đã góp tiền của, côngsức, khôi phục và xây dựng lại
Hiện nay, xã Vĩnh Hùng có tới 7 di tích đợc công nhận là di tích lịch sử văn hoátrong đó có 3 di tích cấp quốc gia và 4 di tích cấp tỉnh Riêng làng Bồng Thợng chiếm 6
di tích đợc xếp hạng, trong đó có 3 di tích cấp quốc gia và 3 di tích cấp tỉnh Ngoài ra,còn rất nhiều di tích khác nh Đình Trung, Đình Phúc, Văn chỉ hàng huyện, Văn chỉhàng xã… Các di tích lịch sử này đã tạo nên chiều sâu văn hoá cho một vùng đất cótruyền thống lịch sử, tiêu biểu nh Nghè Vẹt - nơi thờ thành hoàng Trịnh Ra và các vịchúa Trịnh, Phủ Chúa Trịnh uy nghi, đợc xây dựng trong thế kỷ XVI - XVII, biểu tợngcủa dòng họ Trịnh trong suốt 2 thế kỷ cùng vua Lê trị vì đất nớc, di tích lịch sử văn hoá
đền thờ Thái tể Hoàng Đình ái - ông là một tớng giỏi trong phong trào phù Lê diệt Mạcgiúp Trịnh Kiểm làm nên sự nghiệp Đền thờ đờng công Quang Lộc, ông làm quan thờivua Lê Tơng Dực (1509 - 1516), có công dẹp loạn giặc biển từ Sầm Sơn đến Nghệ Tĩnh,
ông còn là tổ s nghề võ vật làng Lơng Trung, Sầm Sơn Ngoài ra, còn có đền thờ củaQuận công Hoàng Đình Phùng, Lăng mộ Đề Dơi, vị phó tớng trong phong trào Cần V-
ơng chống Pháp.…