Trải qua thời gian, với tinh thần lao động cần cù, sángtạo, vượt qua khó khăn thử thách, cư dân nơi đây đã cải tạo những bãi bồihoang vu, đất đai cằn cỗi thành ruộng vườn trù phú, làng x
Trang 1tr êng §¹i häc Vinh
Trang 2tr êng §¹i häc Vinh
Trang 3Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn này, tôi đãnhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý rất nhiệt tình của các thầy côtrường Đại học Vinh cùng các tập thể, cá nhân khác.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giảng dạy khoa Lịch
sử - trường Đại học Vinh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiêncứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể cán bộ Trung tâm Thưviện Nguyễn Thúc Hào (Đại học Vinh), Thư viện tỉnh Nghệ An, Thư việntỉnh Hà Tĩnh, anh chị em ở Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Hà Tĩnh, Bảotàng Hà Tĩnh đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thu thập tàiliệu nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn Văn phòng Huyện ủy Nghi Xuân,Phòng Văn hóa huyện Nghi Xuân, tập thể cán bộ Đảng uỷ - UBND - HĐND -UBMTTQ xã Cổ Đạm (huyện Nghi Xuân), gia tộc họ Phan, họ Nguyễn, họTrần ở xã Cổ Đạm đã cung cấp tư liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình đi thực
tế tại địa phương
Tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân trong gia đình, các bạn
bè và đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu đểtôi hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TSNguyễn Trọng Văn, người đã hết sức tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn tôitrong suốt quá trình làm luận văn
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình vànăng lực của mình, tuy nhiên sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếusót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng bạn bè,đồng nghiệp
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Trần Thị Tâm
Trang 4NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2 NXB: Nhà xuất bản
3 UBND: Ủy ban nhân dân
4 BCH: Ban Chấp hành
5 HĐND: Hội đồng nhân dân
6 UBMTTQ: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn 7
6 Bố cục luận văn 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC XÃ HỘI LÀNG CỔ ĐẠM 8
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 8
1.1.1 Vị trí địa lý 8
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 11
1.2 Nguồn gốc dân cư và quá trình hình thành làng Cổ Đạm 15
1.2.1 Khái niệm làng 15
1.2.2 Sự hình thành dân cư và làng xóm 16
1.3 Vài nét về cơ cấu tổ chức xã hội làng Cổ Đạm 24
1.3.1 Tổ chức theo dòng họ 24
1.3.2 Tổ chức Giáp 26
1.3.3 Tổ chức theo địa vực cư trú và cơ cấu hành chính 32
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2: TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ LÀNG CỔ ĐẠM 38
2.1 Làng Cổ Đạm trong đấu tranh bảo vệ đất nước thời trung đại (trước 1858) 38
Trang 62.2 Làng Cổ Đạm trong đấu tranh bảo vệ đất nước thời cận đại (1858 – 1945)
40
2.2.1 Phong trào yêu nước của nhân dân Cổ Đạm cuối thế kỷ XIX 40
2.2.2 Các phong trào yêu nước của nhân dân Cổ Đạm đầu thế kỷ XX 41
2.2.3 Sự ra đời của chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Nghi Xuân và phong trào cách mạng của nhân dân Cổ Đạm trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) 49
2.2.4 Phong trào cách mạng của làng Cổ Đạm từ sau Xô Viết Nghệ Tĩnh đến Cách mạng Tháng Tám (1932 - 1945) 55
2.3 Làng Cổ Đạm trong đấu tranh bảo vệ đất nước thời hiện đại (1945 – 2011) .61
2.3.1 Làng Cổ Đạm trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975) 61
2.3.2 Làng Cổ Đạm trong thời kỳ xây dựng, phát triển đất nước (1975 – 2011) .77
Tiểu kết chương 2 85
CHƯƠNG 3: TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA LÀNG CỔ ĐẠM 87
3.1 Văn hoá vật chất 87
3.1.1 Sản xuất kinh tế 87
3.1.2 Đời sống sinh hoạt vật chất 97
3.2 Văn hoá tinh thần 103
3.2.1 Các mối quan hệ xã hội của cư dân làng Cổ Đạm 103
3.2.2 Các hình thái tôn giáo, tín ngưỡng 109
3.2.3 Phong tục tập quán 128
3.2.4 Các sinh hoạt văn hoá 132
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 71.2 Cổ Đạm là một làng quê nằm ven biển huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà
Tĩnh Các tài liệu lịch sử để lại đã cho chúng ta biết, cách đây trên 500 năm,một dải đất ven biển Nghi Xuân từ Hội Thống đến Cương Gián (vùng bãingang) đã hình thành nên các làng mạc bởi sự quần tụ cư dân từ nhiều nơi đếnkhai phá, mở mang bờ cõi Vùng đất Cổ Đạm cũng được hình thành trong tiếntrình lịch sử chung đó Trải qua thời gian, với tinh thần lao động cần cù, sángtạo, vượt qua khó khăn thử thách, cư dân nơi đây đã cải tạo những bãi bồihoang vu, đất đai cằn cỗi thành ruộng vườn trù phú, làng xóm đông đúc đồngthời tạo dựng nên kho tàng di sản văn hóa đặc sắc của một vùng quê nơi HồngLam xứ Nghệ
Cổ Đạm không phải là làng khoa bảng với các vị danh nho có tiếng,nhưng lại đóng góp cho văn hóa truyền thống nước nhà những giá trị văn hóatinh thần đặc sắc với những làn điệu hát ví đối đáp nghĩa tình, đặc biệt lànhững điệu ca trù du dương từng làm đắm say biết bao thế hệ Ca trù khôngchỉ đóng khung trong một làng mà có sức lan tỏa rộng rãi Nơi đây từng cómột giáo phường nức tiếng tài hoa, một đình nhà trò, một Đền Xứ thờ tổ sư ca
Trang 8trù của các ca công 12 huyện trong vùng Nghệ Tĩnh Tiếng tăm ca trù vang
xa và được nhiều người mến mộ cất lời ca ngợi:
“Miền Nghệ Tĩnh phong lam đệ nhất
Có đâu hơn mảnh đất Giáo phường”
Người ta nhớ đến ca trù là nhớ đến : “Đờn Cổ Đạm, phách Kỳ Anh - đưa với
đón trọn tình chung với thủy” Ca trù Cổ Đạm cũng đã sinh ra những con
người tài hoa, như bà Phan Thị Tự được triều đình phong là Ngọc Hoa công
chúa, hay Phan Phú Giai được mệnh danh là “Giáo phường ty đệ nhất - Tiếng
tài hoa từ thưở con con”, một gia tộc họ Phan được triều đình phong tặng mỹ
tự “Mỹ tục khả gia”…Đó là những minh chứng sống động cho sự phát triển
rực rỡ của bộ môn nghệ thuật này trên vùng đất Cổ Đạm Đây còn là mộtmiền quê có bề dày lịch sử văn hóa và được xếp vào số các làng cổ ở Hà Tĩnhnói riêng và Việt Nam nói chung
Cổ Đạm cũng là nơi có làng nghề làm nồi đất nổi tiếng, đã từng vinh dựđược nước bạn Lào mời sang để truyền nghề cho cư dân xứ sở Triệu Voi.Nhân dân trong vùng còn truyền tụng câu ca về làng nồi đất Cổ Đạm:
“Cơn (cây) Da ba nhánh bảy chồi
Con gái Cổ Đạm làm nồi khéo tay”
Tìm hiểu về làng cổ Cổ Đạm cũng là tìm hiểu về một làng quê giàutruyền thống đấu tranh cách mạng, cái nôi của phong trào cách mạng NghiXuân trong các thời kỳ Đây chính là nơi ra đời Tổ Tân Việt và Đông Dươngcộng sản Đảng đầu tiên của huyện Nghi Xuân, là nơi thành lập Đảng bộhuyện Nghi Xuân và là trung tâm chỉ đạo cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 –
1931, là chỗ rút lui của Xứ uỷ Trung Kỳ trong giai đoạn khủng bố trắngnhững năm 1932 – 1935… và là địa phương tiên phong trong việc đóng gópsức người sức của phục vụ hai cuộc kháng chiến trường kỳ để bảo vệ độc lập
tự do cho dân tộc
Tiếc rằng, cùng với bao thăng trầm của lịch sử, các giá văn hóa tinh thầncũng như vật chất trên đất Cổ Đạm bị lớp bụi thời gian che phủ và chìm dần
Trang 9vào quên lãng Vì vậy, xua tan lớp bụi, giải mã các thông điệp mà người xưagửi cho hậu thế, nhìn nhận các giá trị văn hóa cổ truyền sẽ là một công việc
vô cùng lý thú và cần thiết đối với cuộc sống hôm nay
1.3 Trong xu thế toàn cầu hóa, đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội
nhập sâu rộng và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy vậy, một số giá trịlịch sử - văn hóa, trong đó có văn hóa làng xã đang dần bị lãng quên, maimột Mặt khác, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước luôn phải gắn liềnvới sự nghiệp xây dựng, củng cố và phát triển nền văn hóa dân tộc vừa hiệnđại vừa có âm hưởng truyền thống Vì vậy, những giá trị văn hóa, những bàihọc lịch sử, những đóng góp của các thế hệ cha ông, những truyền thống quýbáu của quê hương Cổ Đạm nói riêng và nước nhà nói chung rất cần đượcmọi người hiểu, giữ gìn và phát huy
1.4 Thông qua việc tìm hiểu, nhận thức sâu sắc văn hóa truyền thống
quê hương sẽ giúp cho chúng ta biết nâng niu, trân trọng, tự hào và biết ơnnhững đóng góp của các thế hệ cha ông đi trước, giáo dục niềm tin, tình yêuquê hương đất nước, biết sống có đạo lý, trọng nghĩa trọng tình và góp sứcnhiều hơn cho công cuộc gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, xâydựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Lịch sử văn hoá làng Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh)” làm đề tài Luận văn tốt
-nghiệp Thạc sĩ cho mình
2 Lịch sử vấn đề
Làng xã Việt Nam là một thực thể xã hội, một đối tượng nghiên cứu củakhoa học lịch sử, vừa phong phú vừa phức tạp, từ hàng trăm năm qua đã đượcnhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm và có nhiều thành tựu.Cũng như các làng trên toàn quốc, làng Cổ Đạm đã được giới nghiên cứu địaphương và cả nước quan tâm, đặc biệt là trong thời gian gần đây, khi ca trùđược UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thì Cổ Đạm càngđược nhiều người biết tới
Trang 10Trong các tài liệu gốc trước đây như “Nghi Xuân địa chí” (Đông Hồ Lê Văn Diễn), “An - Tĩnh cổ lục” (H.Lơ - Brơtông), “Nghệ An kí” (Bùi Dương
Lịch) đều nhắc tới Cổ Đạm là một tổng lớn của huyện Nghi Chân, hay NghiXuân, Hà Tĩnh
Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến cảnh quan, lễ hội, phong tục,tín ngưỡng, các công trình kiến trúc lịch sử – nghệ thuật ở Cổ Đạm, như:
“Nghi Xuân Bát Cảnh” (Thành Đức Tử), “Nghi Xuân di tích và danh thắng” (UBND huyện Nghi Xuân xuất bản năm 2005), “Đền Miếu Việt Nam” (Vũ Ngọc Khánh), “Non nước Việt Nam” (Tổng cục du lịch xuất bản), “Lễ hội
dân gian ở Hà Tĩnh” (Thái Kim Đỉnh chủ biên).
Bên cạnh đó có một số công trình nghiên cứu nêu một cách khái quát vềlịch sử ra đời của làng và một số nét cơ bản về đời sống văn hóa của làng Cổ
Đạm, như: “Làng Giáo phường Cổ Đạm” của Thái Kim Đỉnh trong cuốn
“Làng cổ Hà Tĩnh’’, Kỷ yếu Hội thảo ca trù toàn quốc tổ chức tại Cổ Đạm
năm 1999 tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu ca trù trong cả nướcnhư Vi Phong, Ninh Viết Giao, Võ Hồng Huy
Nhìn chung các tài liệu trên đã đề cập đến văn hóa làng Cổ Đạm xưa.Tuy nhiên, tất cả đó đều là những mảng riêng lẻ chứ chưa đi sâu nghiên cứu
và hệ thống hóa một cách đầy đủ, toàn diện về lịch sử và văn hóa truyềnthống của làng Tuy vậy, bấy nhiêu đó cũng đã chứng minh rằng Cổ Đạm đãgây được sự chú ý của giới nghiên cứu ở Hà Tĩnh và cả nước Từ đó đòi hỏicác thế hệ tiếp nối tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện hơn về vănhóa làng Cổ Đạm xưa để góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa
đó trong giai đoạn hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài
3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về làng cổ Cổ Đạm, huyện NghiXuân, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 11- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu về những giá trị lịch sử, truyền thốngđấu tranh và văn hóa truyền thống của làng Cổ Đạm từ thế kỷ XV đến đầu thế
kỷ XXI, cụ thể là đến năm 2011
3.2 Nhiệm vụ
Từ việc tìm hiểu văn hóa làng Cổ Đạm, luận văn nhằm giải quyết nhữngnhiệm vụ sau:
- Nắm rõ được về mảnh đất và con người Cổ Đạm xưa
- Khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về văn hoá truyền thống từ xưa đếnnay của làng Cổ Đạm, qua đó rút ra một số nét đặc trưng đặc sắc về văn hóacủa vùng quê này
- Trên cơ sở nắm vững văn hóa làng truyền thống, đâu là điểm tiến bộtích cực để gìn giữ và phát huy, đâu là điểm lạc hậu, lỗi thời cần loại bỏ đểgiúp cho việc phục hồi những giá trị văn hoá đã bị mai một
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
4.1.1 Tài liệu gốc
Chúng tôi tham khảo các bộ dư địa chí cổ như “Hoan Châu phong thổ
ký” (Trần Danh Lâm, Ngô Trí Hạp), “Nghi Xuân địa chí” (Đông Hồ Lê Văn
Diễn), “Nghi Xuân huyện thông chí” (Thành Đức Tử), “An - Tĩnh cổ lục” (H.Lơ - Bretông) Các bộ chính sử như: “Đại Nam nhất thống chí”(Quốc Sử quán Triều Nguyễn), “Lịch triều hiến chương loại chí”(Phan Huy Chú).
Ngoài ra chúng tôi cũng khai thác các tài liệu như: Hồ sơ di tích lịch sử vănhóa các nhà thờ họ, các Hoành Phi, câu đối ở các đền, miếu ở xã Cổ Đạm,huyện Nghi Xuân
4.1.2 Tài liệu nghiên cứu
Chúng tôi tham khảo những tài liệu nghiên cứu lịch sử – văn hóa như
“Việt Nam văn hóa sử cương” (Đào Duy Anh), “Nghệ An ký” (Bùi Dương
Trang 12Lịch) “Nghi Xuân di tích và danh thắng” (UBND huyện Nghi Xuân), “Làng
cổ Hà Tĩnh” (Thái Kim Đỉnh), “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” (Nguyễn Từ Chi) Ngoài ra tham khảo những tài liệu về văn hóa – du
lịch: “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” (Dương Văn Sáu), “Non
nước Việt Nam” (Tổng cục Du lịch), Bên cạnh đó còn tham khảo một số tài
liệu về thơ địa chí: “An - Tĩnh sơn thủy Vịnh” (Tiến sĩ Dương Thúc Hạp),
“Thơ Bùi Dương Lịch” (Võ Hồng Huy dịch).
4.1.3 Tài liệu điền dã
Đây là nguồn tư liệu chính dùng để viết luận văn của chúng tôi, chúng tôinhiều lần nghiên cứu thực địa tại các đền, đình, miếu ở Cổ Đạm, Đền HàngTổng, đền Nhà Bà, gặp gỡ, tiếp xúc, phỏng vấn những người cao tuổi, tộctrưởng một số dòng họ tại địa phương, đồng thời khảo sát điều tra một số vănhóa bản báo báo, số liệu thống kê của chính quyền địa phương thu thập đượctrong thời gian vừa qua tại làng Cổ Đạm
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để có nguồn tư liệu phục vụ cho luận văn, chúng tôi đã tiến hành sưutầm, tích lũy, sao chép tư liệu ở thư viện tỉnh Nghệ An, thư viện tỉnh Hà Tĩnh,thư viện Nguyễn Thúc Hào, thư viện huyện Nghi Xuân, bảo tàng tỉnh HàTĩnh, sử dụng các phương pháp phỏng vấn, điều tra xã hội học, thực tế điền
dã để thu thập tư liệu các đền, đình, miếu ở xã Cổ Đạm
Để xử lý thông tin, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chính của khoahọc lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic đồng thời kết hợpcác thủ pháp chuyên ngành để đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp để phụcdựng lại bức tranh lịch sử - văn hóa truyền thống tại vùng quê Cổ Đạm từ xưađến nay
Ngoài ra chúng tôi còn dùng phương pháp mô tả, thống kê so sánh, điềutra xã hội học, phỏng vấn hỏi chuyện những người cao tuổi, các cụ trưởng họ
Trang 13tại địa phương có am hiểu về lịch sử và văn hóa làng nhằm hệ thống hóa cácnội dung về văn hóa làng Cổ Đạm.
5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn
- Cung cấp một lượng thông tin nhất định cho bạn đọc, nhất là bạn đọckhông có điều kiện tiếp xúc thực tế tại địa phương hiểu được mảnh đất và conngười ở làng Cổ Đạm
- Hiểu một cách toàn diện về làng Cổ Đạm trên các mặt về đời sống vănhoá vật chất, văn hoá tinh thần
- Từ đó góp phần nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng củavăn hoá làng đối với sự hình thành và phát triển của văn hoá dân tộc, làmphong phú thêm lịch sử địa phương, cung cấp nguồn tư liệu phục vụ nghiêncứu văn hoá, nghiên cứu lịch sử quê hương
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC
Làng Cổ Đạm trước đây thuộc Tổng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, nay là
xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Phía Bắc Cổ Đạm giáp hai xãXuân Thành, Xuân Mỹ, phía Nam giáp xã Xuân Liên của huyện Nghi Xuân.Phía Đông Cổ Đạm giáp biển Đông mênh mông lộng gió với chiều dàikhoảng 2.800m Phía Tây và Tây Nam Cổ Đạm dựa lưng vào dãy Hồng Lĩnhsừng sững uy nghiêm, với các đỉnh núi Mồng Gà (Kê Quan), Rú Đưng (ĐăngSơn), Trà Sơn, Lài Sơn (Chọ Lài), Lạp Sơn, núi Yên Ngựa (Yên Mã Sơn),Phượng Tượng và núi Ông Bên kia núi là các xã Minh Lộc, Thiên Lộc vàHồng Lộc của huyện Can Lộc
Dãy núi Hồng Lĩnh bao quanh phía Tây Nam như một bức thành dài đã gâynhiều cảm hứng cho các tao nhân mặc khách ngày xưa làm nhiều bài thơ vịnhcảnh về vùng quê này Như Nguyễn Khắc Minh ở Hội Thống đã có câu thơ:
Dãy Hồng Lĩnh nguy nga hùng vĩ Bức màn xanh giăng thắng c ảnh trời Nam.
Đứng bên bờ sông Lam, khúc sông Bến Thuỷ, nhìn xuống phía Nam ta
sẽ thấy một dãy núi trùng điệp như đàn ngựa đang đuổi nhau - đó chính là
Trang 15“Hồng sơn liệt chướng”, một trong tám cảnh đẹp của Nghi Xuân (Nghi Xuân
bát cảnh), trong đó, những đỉnh núi cao nhất của dãy Hồng Sơn chính là ở khuvực làng Cổ Đạm Viết về cảnh đẹp này, Giáo thụ Phủ Kiến Xương Thành
Đức Tử đã có bài “Hồng Sơn liệu chướng” (Các bức trướng núi Hồng Lĩnh)
như sau:
Cửu thập cửu phong đệ nhất phong Xung thiên phá hải như phi hồng Bài thanh án nhập song long bắc Điệp chướng bình thân lam thủy đông Hương tích tự tiền dao thảo tú
Trang Vương dài thượng bích vân phong
Cổ lai mạc nhạ chung kỳ tú Khai trướng tây lai nhất lộ hùng [63, tr 4]
(Dịch thơ: Một đỉnh non trong chín chín trùng - Vươn ngang trời biểndáng chim hồng - Song long mạn bắc phô rêu biếc - Lớp trướng dàng đôngcách mặt sông - Hương Tích sân phơi màu cỏ biếc - Trang Vương đài đậm sắcmây phong - Xưa nay cảnh sắc nơi này đẹp - Lớp lớp màn giăng cảnh lạ lùng)
Ở Cổ Đạm còn có một số ngọn núi cao và và được khá nhiều thi nhânquen tên biết tiếng như: phía Tây Bắc có núi Mồng Gà (Kê Quan) Các cụ caotuổi trong làng cho rằng, sở dĩ gọi núi này là Mồng Gà vì trên đỉnh ngọn núinày lởm chởm như mồng gà Còn đứng từ xa nhìn lại, ngọn núi trông tựa nhưđầu voi Bởi thế, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã có câu thơ tả cảnh đẹp này
như sau: “Ngoan Thạch cô cao lộ Tượng đầu” (Tạm dịch là: Non cao đá cúi
tựa đầu voi) [12, tr 50]
Gần núi Mồng Gà là Rú Đưng, còn gọi là Đăng Sơn (Rú Nậy) Trong bài
thơ “Vịnh cảnh Liêu Đông” (hiện chưa rõ tác giả) có câu: “Mạch Hồng Sơn lạc
xuống non Trà” Trên dãy này có Bằng quan trên, Cồn Đánh mõ, Bằng Yên
Ngựa Tại Bằng Yên Ngựa có Khe Lam bò vốn là nơi đóng quân một thời của
Trang 16nghĩa quân Hà Văn Mỹ (Thượng Hà, người Tiên Điền) thời Cần Vương Tạiđây có đường mòn đi qua các xã Thiên Lộc, Hồng Lộc và đường Hàng Cầy,Hàng Nhạn có thể đi qua xã Đậu Liêu (Can Lộc) Thửơ xưa, đây là đường nhândân qua lại hái củi, bứt tranh và giao lưu chợ búa Thời kỳ 1930 - 1931 và suốtthời kỳ sau đó đây là con đường đi lại hoạt động bí mật của cán bộ hai huyện
và trạm giao liên Can Lộc và Nghi Xuân Đây cũng là con đường mòn mànhân dân Cổ Đạm đến thăm chùa Hương Tích của xã Thiên Lộc, huyện CanLộc mỗi dịp sóc vọng, Tết đến Xuân về
Dãy núi Yên Ngựa (Mã Yên Sơn) còn có những đỉnh núi như Trà Sơn,Lạp Sơn là những đỉnh núi cao nhất trong 99 đỉnh của dãy Hồng Lĩnh Trảiqua hàng trăm năm, các thế hệ người dân Cổ Đạm đã truyền cho nhau mộtkinh nghiệm, mà theo các cụ cao niên ngày nay thì rất đúng, đó là: trên cácđỉnh núi cao này, nếu khi trời quang đãng mà bỗng có mây phủ trên đỉnh hayngang lưng núi thì nhất định là sẽ có gió, mưa Bởi thế, nhân dân mới có câu
nhắc nhau rằng: “Núi Hồng mang đai, rú Cài đội mũ”, hay “Làm trai không
biết thì khờ – Mây đặp Rú Hồng bao giờ cũng mưa” để dự báo tình hình thời
tiết mỗi khi trái gió chuyển mùa
Dưới chân núi Yên Ngựa là đỉnh Kim Sơn (hay gọi là Rú Gâm) và đỉnh
Cầm Sơn (Rú Nấy) Trong bài “Cổ Đạm phong cảnh ca” có câu:
Chốn thanh cao sơn thuỷ ngó lạ lùng Hàm Rồng nọ, Kê Quan chiếu lại Đôi bên tựa nam Hồng đông hải Bảng Kim Sơn ngó lại với Cầm Sơn [14, tr 20]
Khu vực này là nơi hội tụ núi, biển, suối bao quanh, tạo thành một cảnh đẹpsơn thuỷ hữu tình
Ngoài ra ở Cổ Đạm còn có núi Lài Sơn (Chọ Lài), một đỉnh núi gần dân
cư, thế núi đứng vững, như một bức tường sừng sững chắn gió Nam, gió bấccho dân làng Quan tri huyện Nghi Xuân Thiên bản Trần Vỹ dạo cảnh đến núi
Trang 17Lài Sơn đã có câu: “Sơn hình, hùng cứ, truyền xưng danh địa” (Thế núi đứng
vững, nổi tiếng là nơi danh thắng)
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1 Đất đai
Cổ Đạm là vùng cát bồi trên nền chân dãy Hồng Lĩnh Vào đến đoạn đấtcuối của tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, dãy Trường Sơn cố nống ra gần sát biển, đểlại một dải đất hẹp Tính từ núi đến biển, một phần ba của dải đất này là núiđồi - đá sỏi, một phần ba là đồng bằng cằn cỗi, một phần ba còn lại là bãi cátven biển Vùng chúng tôi đang bàn, vùng Cổ Đạm nằm trên bãi cát trải dài từXuân Hội đến tận chân Đèo Ngang này Với vị trí ấy, đương nhiên nó phảichịu đựng sự khắc nghiệt của khí hậu gió mùa trước hết
Là vùng bán sơn địa nên địa hình của Cổ Đạm cùng rất đa dạng: có vùngđồng bằng ở phía Bắc và phía Nam, có hệ thống đồi núi ở phía Tây và TâyNam, có bờ biển ở phía Đông Nhìn từ trên cao, vùng đất Cổ Đạm kéo dài từphía Tây chân núi Hồng Lĩnh ra đến biển, địa hình nghiêng dần về phía Đông
và Đông Nam, bởi thế, mỗi năm đến mùa mưa, nước từ các khe suối đổ vềKhe Hoa, rồi theo lạch Động – Kèn xuôi về biển lớn Trong số 17 khe suốilớn nhỏ chảy qua Cổ Đạm thì Khe Hoa là khe lớn nhất với chiều dài 11 km
Trong bài “Du Liêu Đông sơn”, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có câu:
“Hương Tích từ nguồn rồng rẽ phải
Hoa Khê qua vực nước về đông” [23]
Đặc điểm địa hình này là điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát triển sảnxuất bằng nhiều hình thức canh tác như trồng lúa, ngô, khoai và các loại câyhoa màu ngắn ngày khác, vùng sườn đồi thì chăn nuôi trâu bò, ở các vùng núicao hơn thì trồng rừng và cây nguyên liệu, còn lại ở các vùng trũng như cácbàu đầm thì nuôi trồng thuỷ sản Tuy vậy, với địa hình bị chia cắt nhiều, đồngruộng lại theo kiểu bậc thang, phân tán nhỏ lẻ nên cũng gây nhiều khó khăntrong việc ứng dụng cơ giới hoá vào sản xuất để tiến lên một nền nông nghiệphiện đại
Trang 18Nguồn tài nguyên sinh thực vật ở Cổ Đạm khá phong phú Trên đất liền
và rừng núi Cổ Đạm, nhiều loại động thực vật quý hiếm vẫn còn tồn tại, dướinước có hàng trăm loại thuỷ sản, cả các loài nước ngọt cũng như nước mặn.Trên các sườn núi của dãy Hồng Sơn, các loại thú rừng như hươu, nai, hổ,báo… các loại bò sát như trăn, rắn, kỳ đà… cũng không thua kém gì đại ngàn.Rừng núi còn là nơi cung cấp nhiều loại gỗ quý để nhân dân dựng nhà, tre, nứa,mây, than củi, các loại củ, hạt, cây dược liệu… để phục vụ cuộc sống củangười dân Dưới khe suối, ruộng đồng, đầm đìa… có nhiều loại cá, tôm, cua,
ốc, lươn, chạch… là nguồn thức ăn tự nhiên giúp nhiều gia đình nghèo vượtqua những vất vả của những ngày giáp hạt Đã có những câu ca dao để thanthở, an ủi cuộc đời nghèo khổ, khó khăn của cư dân Cổ Đạm một thời như sau:
“Rau mưng, rau má, nác (nước) dam Nuôi con cho nậy (lớn), đừng ham chi nhiều”
Cũng như một số xã thuộc vùng ven biển của huyện Nghi Xuân, Cổ Đạm
có đặc thù riêng của khu vực bán sơn địa ven biển: đồi núi chiếm gần một nửadiện tích tự nhiên, có nhiều khe suối chảy qua, tuy nhiên, do ảnh hưởng củađịa hình nghiêng dần về phía Đông, cũng như chịu tác động của việc hìnhthành các bãi bồi thấp trũng ven biển nên đến mùa mưa lũ, nước từ các khesuối trên dãy Hồng Lĩnh đổ về Cổ Đạm, tràn xuống đồng bằng để thoát rabiển Tổng lưu lượng nguồn nước tuy dồi dào nhưng lại phân bố không đồngđều giữa các khu vực và các mùa nên tình trạng khô hạn về mùa hè và úngngập vào mùa mưa lũ xảy ra thường xuyên Vì vậy, ngay từ buổi đầu mới lập
làng, người dân Cổ Đạm đã phải đối mặt với cảnh “chưa nắng đã hạn, vừa
mưa đã úng” Đất đai chủ yếu là đất cát hay đất pha cát, giá trị dinh dưỡng
nghèo nàn, cho nên, lúc thiếu nước, thì không kết dính vào nhau, ngược lạikhi có nước thì lại nín xuống rất nặng Đã thế, trên cát hay đất pha cát, cónhiều loại cỏ rễ chắc, bám đất rất chặt, lan rất nhanh Trên mảnh đất này,
Trang 19người dân Cổ Đạm đã quanh năm một nắng hai sương, đổ mồ hôi, sôi nướcmắt để làm ra hạt gạo củ khoai, cứ thế tiếp nối từ đời này sang đời khác.
đổ vào vịnh
Ở đây, khí hậu chia làm 4 mùa không đồng đều Mùa xuân ngắn ngủi:xuân về trước tết Nguyên đán một tý, hoa chanh, hoa bưởi trong vườn chưakịp kết trái, thì mùa hè đã về Từ giữa tháng 2 âm lịch (tháng 3 dương lịch) hè
đã bắt đầu, và kéo dài cho đến tháng 7 Vào những ngày tháng 6, tháng 7 âm
lịch, người nông dân xưa còn phải “lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống
-Lấy ruộng tôi cày” (ca dao) Cả khoảng thời gian dài của mùa hè, nắng thiêu
đốt dữ dội Thêm vào đấy, thiên nhiên còn hun thêm những đợt gió Làokhủng khiếp Vốn là từ tháng 4 cho tới tháng 6, gió mùa Tây – Nam ở VịnhThái Lan mang theo hơi nước biển thổi vào lục địa sông Mê Công ở phía TâyTrường Sơn Vấp phải núi, hơi nước đọng lại trút xuống ở đấy một trận mưa
dữ dội Gió vốn đã hết hơi nước vượt Trường Sơn sang đông Trường Sơn lạicòn được nắng hè hun thêm Gió này hoạt động từ tháng 5 đến tháng 9, mạnhnhất là vào các tháng 6, 7, 8 Khi gió vào vùng biển huyện Nghi Xuân lại bịdãy Hồng Lĩnh chắn ngang, hội tụ thành những luồng lớn, tìm các eo, trẹm,truông có độ thấp (như địa hình Cổ Đạm) để trút ào ra biển, tạo nên sức giócấp 4 đến cấp 6 Gió thổi mạnh vào khoảng từ 10 giờ đến 16 giờ trong ngày
Trang 20Mỗi đợt kéo dài từ 4 đến 10 ngày, có khi kéo dài đến 15 ngày Vào nhữngngày có gió mùa tây Nam, nhiệt độ có khi lên tới 37 - 390C, làng xóm bị hunnóng, cây cỏ khô héo rất bất lợi cho sinh hoạt và sản xuất của người dân.
“Nam Lào”, “Gió Lào”, “Bão Lào”, “Nam Sóc”, “Bão Sóc” là những từ khácnhau để gọi cùng một kiểu gió, cùng một loại nóng làm cho người dân ở đâymới nghe đã hãi hùng Có những năm gió hoạt động sớm vào cuối tháng 4,đầu tháng 5 (dương lịch) đúng vào tiết Lập hạ, lúa Đông Xuân bắt đầu trổbông thì mùa màng thường bị thất thu, có khi mất trắng, khiến người nông
dân lâm vào cảnh thiếu đói cả năm Ca dao có câu: “Lúa trổ lập hạ, buồn bã
cả làng” hay “Ba ngày gió Nam, mùa màng mất trắng” để nói về nỗi lo lắng
của người nông dân Cổ Đạm mỗi độ gió Tây Nam tràn về
Mùa hè thiêu đốt chưa kịp qua, thì vào khoảng tháng 7 âm lịch, mùa thuhung hãn đã về Mùa thu – mưa bão liên tiếp, dữ dội bởi những tác động củagió mùa Đông Bắc Gió mùa Đông Bắc hoạt động ở Cổ Đạm từ cuối tháng 9đến cuối tháng 4 năm sau Thời kỳ đầu, gió mùa thường gây ra mưa, bão, lũlụt lớn, có năm bão lụt rất lớn trong các tháng 9, 10, 11 (tháng 7, 8, 9 âmlịch) Tai ương rình rập, mùa màng thất bát, xóm làng xơ xác Phải chờ tới 20tháng 10 âm lịch mới chắc là bão đã chấm dứt
Dư âm của những đợt gió mùa kéo dài cho hết mùa Đông trong cái rét têtái với mưa dầm, gió bấc triền miên, rét sương muối, hanh khô Có những đợtrét kéo dài từ 10 đến 15 ngày, nhiệt độ xuống thấp dưới 100C, ảnh hưởngnghiêm trọng đến đời sống của nhân dân và quá trình sản xuất nông nghiệp,chăn nuôi, có khi làm trâu bò và cá nuôi nước ngọt chết rét hàng loạt…
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nắng hạn, mưa lũ, gió bão thất thường đãgây ra những thiệt hại không nhỏ cho mùa màng của bà con nông dân Nhân
dân còn nhớ mãi “Đói năm Mão, bão năm Thìn (1867- 1868) là những năm
khó khăn, đói kém và lũ lụt lớn nhất trong lịch sử Cổ Đạm Nói chung, vùngđất này năm nào cũng có bão, bão kéo theo lụt, làm cho đồng ruộng bị ngập
Trang 21úng, hoa màu bị xoá sạch, đất đai vốn đã kém màu mỡ lại bị xói mòn rửa trôitrở nên bạc màu hơn.
Lượng mưa trung bình cả năm ở Cổ Đạm khoảng 50 - 60 ml, lớn nhất là120ml, đặc biệt có năm lên đến 500 - 600 ml Hàng năm có từ 100 đến 120ngày mưa, song lượng nước mưa và ngày mưa lại tập trung chủ yếu vào cáctháng 9, 10, 11 trong năm [8, tr 12]
Trước kia người dân Cổ Đạm chỉ biết trông chờ vào thời tiết, khắc chếthiên nhiên để duy trì sản xuất bằng một vụ lúa mùa kéo dài 6 tháng Hạn hánlâu ngày thì cầu mưa, bão lũ thì chặt cây làm cột chống nhà để vuợt lên sựkhắc nghiệt của khí hậu Khó khăn là vậy nhưng người dân cổ Đạm trải quabao thế hệ vẫn quanh năm một nắng hai sương, cần cù lao động sản xuất.Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như trình độ nhậnthức của người dân ngày càng được nâng cao nên những khó khăn về điềukiện tự nhiên dần được khắc phục, đời sống sinh hoạt cũng như hoạt động sảnxuất của người dân dần bớt lệ thuộc vào tự nhiên hơn
1.2 Nguồn gốc dân cư và quá trình hình thành làng Cổ Đạm
Bộ, xã của người Việt có thể bao gồm từ một đến nhiều làng, tuỳ từng trường
hợp Mặt khác, trong nhiều trường hợp xã lại chỉ gồm một làng, vì “xã là cách
gọi làng và thôn là tên gọi của xóm (xét về mặt hành chính) Đôi khi một xã cũng có thể gồm vài làng và một thôn cũng có thể gồm vài xóm” [11, tr 12].
Tìm hiểu lịch sử về một làng xã cổ truyền, những giá trị văn hoá truyềnthống của làng đòi hỏi chúng ta phải tìm về nguồn gốc xa xưa của nó Cùng
Trang 22với quá trình lập làng và thay đổi quy mô, kết cấu của làng xã là những quátrình phát triển của kinh tế, văn hoá và xã hội, nhất là đời sống văn hoá cũngđược xác lập từ buổi đầu Qua việc nghiên cứu lịch sử và văn hoá làng CổĐạm, chúng ta sẽ thấy cụ thể hơn về vấn đề này.
Với thời gian và trải qua bao nhiêu biến cố thăng trầm lịch sử của dântộc, các tài liệu thư tịch viết về làng Cổ Đạm bị thất lạc Nhưng đáng kể ở đâycòn lưu giữ được một kho tàng văn hoá dân gian phong phú, giúp chúng tahình dung được sự tích diện mạo của làng Cổ Đạm ngày xưa
1.2.2 Sự hình thành dân cư và làng xóm
1.2.2.1 Nguồn gốc dân cư
Hiện nay chưa có bằng chứng phát hiện về sự tồn tại của người nguyênthủy và những dấu tích của người Việt cổ qua các thời kỳ Văn Lang - Âu Lạctrên đất Cổ Đạm Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyệnNghi Xuân nói riêng đã trải qua một quá trình phát triển lịch sử lâu dài Theocác thư tịch cổ thì trước kia Nghi Xuân thuộc vùng đất cổ của bộ tộc ViệtThường Thời Văn Lang - Âu Lạc, Nghi Xuân là vùng đất thuộc bộ Cửu Đức.Dưới thời Bắc thuộc, Nghi Xuân có những tên gọi như Hàm Hoan, DươngThành, Phố Dương Trong thời kỳ nhà Minh đô hộ nước ta, Nghi Xuân laimang tên gọi là Nha Nghi, Nghi Chân Đến năm 1649, vua Lê Thánh Tôngđặt tên vùng đất Nghi Chân là Nghi Xuân như tên gọi ngày nay Như vậy, nếutính từ năm chính thức có tên huyện là Nghi Xuân trên thì danh xưng này đãtrải qua hơn 500 năm
Vậy, con người đã đặt chân lên đất Cổ Đạm từ bao giờ? Tên gọi Cổ Đạm
có từ thời điểm nào? Tên gọi ấy có ý nghĩa là gì?
Xem xét vị trí Cổ Đạm ta thấy, bao quanh vùng này là một loạt các di chỉkhảo cổ về thời kỳ sơ khai của xã hội loài người Phía Tây Cổ Đạm là di chỉkhảo cổ bãi Phôi Phối ở Xuân Viên - vết tích về sự cư trú của người nguyênthủy tại vùng đất này cách đây 5 - 6 ngàn năm Ngoài ra, các di chỉ luyện
Trang 23đồng ở Xuân An, luyện sắt ở Xuân Giang cách đây 3 - 4 ngàn năm cũng đãchứng tỏ sự phát triển rực rỡ của nền văn minh kim khí trên mảnh đất này.Riêng ở Cổ Đạm, nếu qua sát địa hình từ Kẻ Lạt (Cẩm Bào, nay là thôn 2
xã Cổ Đạm) đi về hướng Đông, ta sẽ thấy rất nhiều bãi cát tự nhiên trải rộngnhư bãi cát Mồng Gà, Đồng Bàu, Đồng Nò và các cánh đồng, doi đất cát tựnhiên chạy dọc theo chiều dài của xã Điều này cho thấy vùng đất này hàngngàn năm trước là biển, với mực nước ăn sâu vào tận chân núi Hồng Lĩnh.Sau này, cùng với quá trình kiến tạo vỏ trái đất, biển tiến biển lùi, nước rút cátbồi đã hình thành nên các vùng đất mới Ngoài ra, những thăm dò địa chấtgần đây cho thấy rằng, khi khoan sâu xuống lòng đất dọc chân núi ở vùng nàythấy có rất nhiều vỏ ngao vỏ sò Gần đây nhất, những người dân ở vùng ĐồngBàu khi đào giếng và đào đất làm nhà đã đào lên được rìu, cuốc bằng đồng vàtiền cổ thời Hán, Đường [3, tr 8] Khu vực đào được lại chỉ cách Di chỉ bãiPhôi Phối nói trên về phía Tây Bắc chừng 4 km Phát hiện này góp phầnchứng minh rằng từ hàng ngàn năm trước, trên dải đất này đã có con ngườisinh sống
Trải qua hàng ngàn năm khai phá, lấn biển, lấp sông cư dân vùng đấtnày đã tạo nên ruộng đồng, lập nên làng mạc như Cẩm Bào (Kẻ Lạt), Đô Liêu(Đầu Lều) Các làng này đều nằm bên con khe Mài Rạ ở phía Tây Cổ Đạmhiện nay, và nằm chung trong quần thể các làng cổ ven chân núi Hồng Lĩnh:Phía Bắc là làng Kẻ Mứ (Mỹ Dương), phía Tây là các làng Kẻ Sênh, KẻĐờng, Kẻ Dằng (thuộc Xuân Hồng) Phía Tây bên kia núi Hồng Lĩnh có cáclàng Kẻ Bấn, Kẻ Treo (nay thuộc Thị xã Hồng Lĩnh), phía Nam có làng Kẻ
Lù (thuộc huyện Can Lộc)
Ngoài hai làng trên, thời kỳ này ở Cổ Đạm còn có làng Liêu Đông cũng
là một làng trù phú Dân cư làng Liêu Đông ở dọc theo khe Đồng Biền và vựcĐồng Vành, sau lưng được bao bọc bởi núi Hồng Lĩnh
Từ làng Kẻ Lạt, Đô Liêu, Liêu Đông nằm dọc theo chân núi Hồng Lĩnh,dân cư dần phát triển đông đúc đã phải dời đến dải đất Lòi - Xun qua Đồng
Trang 24Bàu rồi xuống Đồng Cầu, Đồng Me, Phú Nhiêu rồi từ đó tản dần ra các dảiđất khác dọc bờ biển, hợp lại với các gia đình từ các nơi khác đến định cư rảirác ở đây, cùng khai phá đất hoang, lập thành làng xã.
Ngoài số dân chính cư có gốc gác tổ tiên ở Cổ Đạm, sang cuối thời Lê,đất nước loạn lạc, nhiều võ tướng nhà Lê, rồi con cháu chúa Nguyễn cũng tìmvào đất Hoan Châu – vùng phên dậu phía Nam đất nước - để lánh nạn, chờthời, trong đó có Cổ Đạm Qua nghiên cứu gia phả một số dòng họ ở Cổ Đạm,chúng ta có thể thấy rõ điều này
Theo gia phả họ Nguyễn, trong bối cảnh lịch sử thế kỷ XVI với nhiềubiến động, các thế lực phong kiến Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn tranh chấp, cát
cứ khiến cho xã hội loạn lạc, dân tình cơ cực trong cảnh nội chiến liên miên.Trước tình thế đó, sau khi Nguyễn Hoàng cát cứ phương Nam, một nhánh nhỏcủa dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hoá cũng đã rời vùngtranh chấp chạy vào Cổ Đạm sinh cơ lập nghiệp từ năm 1569 Đó là gia đìnhông Nguyễn Biến cùng với các con là vợ chồng Nguyễn Phái, Nguyễn KhắcKhoan, các cháu là vợ chồng Nguyễn Gương, Nguyễn Bá Lân, cháu rể PhanCông Ngật… Ngoài ra còn có Đặng Đại Nhân là cháu 4 đời của Đặng Dung
và một số dân làng Tống Sơn, Thanh Hoá Về sau, người họ Trần, họ Hoàng
ở Phú Nhiêu, họ Đào ở Liêu Đông, họ Phạm, họ Nguyễn, họ Trương… ở cácnơi lần lượt đến ở, lập thành xóm làng đông đúc Họ khai hoang, dựng nhà,lập làng trên vùng đất hoang vu, rậm rạp ven biển từ Cầu Rào, Ba Vụng đến
An Lạc ngày nay, đặt tên làng là Phúc Hải, đến đời Nguyễn Phúc Ánh vìkiêng tên huý của vua nên đặt tên là Vân Hải cho đến bây giờ Ông NguyễnBiến được xem là thuỷ tổ và được tôn làm Tiên chỉ và Đặng Đại Nhân làmhương trưởng Năm Bính Dần (1926), nhà thờ họ Nguyễn ở Vân Hải đượcvua Bảo Đại tặng bức hoành phi ba chữ Hán: “Khai - Tất - Tiên” (Ắt mởđầu) [28, tr 2]
Còn theo Gia phả họ Trần lập năm 1746, gốc tổ họ Trần là Nguyễn ĐăngQuang người làng Hoa Thượng, xã Thạch Nội, phủ Ngọc Sơn, tỉnh Thanh
Trang 25Hoá làm quan dưới triều Lê sơ Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, cụ NguyễnĐăng Quang đã chạy nạn vào vùng đất Cổ Đạm để tránh hoạ “tru di tam tộc”của nhà Mạc và đổi thành họ Trần Đình, trở thành thuỷ tổ nhánh họ TrầnĐình ở Cổ Đạm Về sau, một số con cháu của dòng họ này đã trở thành các
võ tướng dưới triều Nguyễn như Chánh Đội trưởng các đội Thuỷ sư Nghệ AnTrần Sửu, Thư lại Đội 6 Tả thuỷ quân Nghệ An tòng Cửu phẩm Trần Liêu,các đầu quân trong Quân thứ Nghi Xuân thời Cần Vương như Trần Thạc,Trần Dật… [27, tr 4]
Gia phả họ Hoàng cũng viết rằng, thuỷ tổ của họ là ông Hoàng ĐìnhĐiều từ Giang Hà quận (?) đã về vùng đất Cổ Đạm lập nghiệp Ông đã cùngcon cháu dòng họ khai khẩn, lập nghiệp, chiêu dân lập làng mở đầu cho dòng
họ Hoàng Đình ở Vân Hải Về sau, con cháu họ Hoàng có những người làmquan lớn dưới triều Hậu Lê như Tiền vệ uý phấn dũng võ bá Hoàng Đình Lúa(1660 - ?), Tả Thị lang, Thông chánh sứ Hoàng Đình Quỳnh… [26, tr 2 - 3].Tóm lại, đến thế kỷ XVI, đất nước có nhiều biến động, việc tranh chấpquyền lực giữa các dòng họ và sự thanh trừng lẫn nhau của các thế lực diễn ragay gắt Trước tình thế đó, một số quan lại nhà Lê thất thế đã chọn vùng biênviễn phía Nam như Nghệ An, Hà Tĩnh nói chung và Cổ Đạm nói riêng làmnơi ở ẩn chờ thời, tránh hoạ diệt vong Tại vùng đất mới này, họ đã thay tênđổi họ, nhanh chóng thích nghi, chăm lo sản xuất và hoà nhập với các dòng
họ khác để xây dựng Cổ Đạm sớm trở thành một vùng phát triển phồn thịnhtrong các thế kỷ sau đó
1.2.2.2 Sự hình thành làng xóm
Từ một làng nhỏ ven chân núi Hồng Lĩnh trong buổi đầu, cùng với thờigian, dân số Kẻ Lạt tăng lên nhanh chóng và đã di cư xuống các vùng đồngbằng phía Đông của làng, lập thêm nhiều làng xóm mới Thêm vào đó, “đấtlành chim đậu”, tiếng lành đồn xa, đến thế kỷ XVI, XVII, đất nước loạn lạc,
xã hội bất ổn, nhiều quan tướng cận thần nhà Lê đã chiêu mộ dân chúng, đưa
Trang 26nhau vào Cổ Đạm tìm chốn dung thân, sinh cơ lập nghiệp, góp phần làm choxóm làng nơi đây ngày càng trù mật.
Hai thôn Đô Liêu (Đầu Lều) và Cẩm Bào (Kẻ Lạt) thời Lê Sơ là mộtvùng giàu có, dân cư đồng đúc, ruộng đất phì nhiêu, có nhiều bá hộ Trênmảnh đất này còn truyền lại dấu tích trại Bá hộ, đồng Phổ Quan (nơi ngườiTàu lập phố buôn bán), rú Thành, đồng Lầu là những nơi có phong cảnhđẹp, sơn thủy hữu tình Nơi này, các ông Hoàng Ngạn Chương (người MỹDương) đỗ Tiến sĩ năm 1487, ông Phan Chính Nghị (người Phan Xá) đỗ Tiến
sĩ năm 1511 và ông Thái Xuyên Lê tiên sinh đã về đây ở ẩn
Đến đầu thời Nguyễn, vùng Liêu Đông vẫn còn là một đại xã với 24 dòng
họ đồng cư Do dân số phát triển đông, nhân dân mới di cư ra làng Me và vùngPhú Nhiêu khai phá, ăn ở Đến năm Quý Sửu, Giáp Dần (1853 - 1854) cả làng
bị dịch tả, đậu mùa chết gần hết, chỉ còn lại một số hộ mới dời về sinh sống ởPhú Nhiêu Thôn Phú Nhiêu thời Lê gọi là Phong Nậm (làng Nầm), sau mớiđổi thành Phú Nhiêu
Theo các cụ cao tuổi trong làng, sự phát triển thăng trầm của hai làng ĐôLiêu (Đầu Lều), Kẻ Lạt (Cẩm Bào) đều gắn với thầy địa lý Tả Ao Võ ĐứcHuyên Thầy địa lý Tả Ao quê ở Xuân Giang, cách vùng này chỉ khoảng hơnmười cây số Lúc mới học được thuật phong thủy, thầy Tả Ao có dịp đi qualàng này, thấy dân tình nghèo đói nhưng lương thiện, chăm chỉ làm ăn liền chỉcho làng một hướng đất phát quan, giàu có Chỉ một thời gian sau đó, dân
vùng này từ chỗ quanh năm một nắng hai sương, “bán mặt cho đất bán lưng
cho trời” đã làm ăn ngày càng thịnh vượng, nhiều người đỗ đạt làm quan, Kẻ
Lạt, Đầu Lều trở thành một vùng trù phú với 18 Bá hộ giàu có lẫy lừng mộtvùng Còn Thánh Tả Ao, sau một thời gian chu du thiên hạ, về thấy dân làng
ở đây giờ đã khấm khá nên cũng rất mừng, nhưng vì muốn xem bụng dạ tâmtính dân làng nay thế nào, liền cải trang thành một lão già ăn xin khổ cực ráchrưới đến xin ăn từng nhà, liền bị họ thẳng thừng đuổi ra Thấy thế, thầy Tả Ao
Trang 27liền rút lại huyệt đất năm xưa và nguyền rằng tương lai vùng này sẽ có lúc
mạt vận đến “Lạt đứt Lều xiêu” mới thôi Chính vì thế mà chỉ một thời gian
không lâu sau đó, vùng này ngày càng sa sút, học hành thi cử cũng không có
ai đỗ đạt cao, đồng thời thiên tai dịch bệnh thường xuyên giáng xuống khiếnngười chết, kẻ bỏ nhà bỏ cửa ra đi, và đến giữa thế kỷ XIX thì tên làng gầnnhư bị xóa sổ Thực hư chuyện này ra sao, hiện nay chúng tôi cũng chưa thuthập được cứ liệu để chứng minh, chỉ biết rằng, khi dân làng Đô Liêu, CẩmBào di tản, họ đã chọn vùng đất Cổ Đạm để tụ cư, và làm cho xóm làng ở đâythêm đông đúc
Làng Phú Lạp trước đây có ba thôn: Phú Nhiêu, Phú Giáo và Thiên Linh.Dân cư ở trên dải đất từ Miếu Nầm đến chợ Đạm cũ và Phú Hòa ngày nay.Thời Khánh Đức nhà Lê (1662), Phú Nhiêu là một thôn đông dân giàu cógồm 4 gia tộc lớn: hai họ Phạm, họ Hoàng và họ Nguyễn Đến năm ChínhHòa nguyên niên (1676) có ông Nguyễn Nhuận người Thanh Hóa vào LiêuĐông tìm đất phát triển nghề chum vại, thấy đất Liêu Đông không ở được lâudài mới dời về Phú Nhiêu, đổi tên họ là Trần Đại, trở thành thủy tổ họ Trần ởPhú Nhiêu [28, tr 5] Cuối thời Lê, Phú Nhiêu đổi tên là Kỳ Pha và sau nàygọi chung là làng Cổ Đạm
Thôn Phú Giáo thời Lê gọi là giáo phường, do ca công họ Phan, họNguyễn ở Tiên Cầu di cư vào Lúc đầu họ ở Đồng Chai, do khí hậu xấu haysinh bệnh tật, lại nhận thấy Cầm sơn Trai thủy (vùng Đồng Bệ) sơn thủy hữutình, có Cầm Sơn làm tác án như mày ngài (Nga mi tác án) nên đàn ngọt háthay mới dời đến ở Quả nhiên, từ đó, nghiệp cầm ca trở nên hưng thịnh, cacông 12 huyện thuộc 4 phủ xứ Nghệ mỗi họ vài người như họ Nguyễn ở ThanhChương, họ Trần ở Hưng Nguyên, họ Hà ở Cẩm Xuyên lần lượt về ở, lậpthành Giáo phường chuyên nghề ca hát Đầu thời Gia Long (1802 - 1820), cácphường này đã có tổ chức, do Cai ty giáo phường, sau gọi là Quản ca đứngđầu Đến thời Minh Mạng (1820 -1840) các Giáo phường đổi thành Đội
Trang 28Thanh Bình Đến năm Tự Đức thứ mười (1857) mới gọi tên là Phú Giáo Cacông Phú Giáo đi khắp mọi miền ca hát, nức tiếng gần xa, nhưng thường được
các nơi biết đến với tên gọi “Ca Trù Cổ Đạm” [17, tr 41].
Làng Thiên Linh nằm ở giáp bờ biển, là một thôn mới thành lập vào cuốithời Lê Trung Hưng Thuở ban đầu, có hai gia đình người họ Hoàng, họ Trần
ở Phú Nhiêu được làng cử ra canh giặc Tàu ô và thu hoa lợi từ đánh cá biểncủa ngư dân các nơi khác đến Lâu dần hai gia đình này định cư ở đó và trởthành hai ông tổ đầu tiên của họ Trần và họ Hoàng làng Thiên Linh Về sau
có người họ Trần, họ Hồ, họ Hoàng, họ Lê, họ Trương lần lượt đến ở, nênlàng Thiên Linh ngày càng đông đúc, trù phú
Xã Cổ Đạm thời Lê có 4 thôn: Kỳ Pha, Yên Phú, Mỹ Cầu và Vân Hải.Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), dân số thôn Vân Hải đông mới tách ra mộtthôn riêng
Thôn Mỹ Cầu ở về phía Tây giáp Khe Hoa, thời Lê gọi là Hoa Cầu Saunày Mỹ Cầu chia làm hai giáp: Ninh Cầu (làng Cầu) và Mỹ Lộc (làng Me).Năm Tự Đức thứ 8 (1855), vì bị dịch bệnh nên dân làng ở đây chết nhiều, chỉcòn lại họ Lê, họ Phạm, họ Đào nhập về làng Kỳ Pha (tức làng Phú Nhiêu,hay Cổ Đạm) Thôn Kỳ Pha ở vào trung tâm xã, thuộc khu vực dân cư KỳTây ngày nay Khoảng năm 1903 – 1904, do dân số phát triển mới lấn lên dọiđất phía đông khai phá, lập thành xóm Đồng Bại, ngày nay gọi là Kỳ Đông.Thôn Yên Phú thời Lê gọi là Yên Lam, nằm về phía Bắc xã, giáp xãXuân Thành, Xuân Mỹ Trước đây là một thôn giàu có, nhiều trâu lắm ruộng.Đến năm Bính Thìn (1916) bị dịch tả, đậu mùa chết gần hết, chỉ còn lại họTrần, họ Phan mới di cư về các Kỳ Pha sinh sống
Thôn Vân Hải mới thành lập vào cuối thời Lê trung Hưng Thời Lê gọi làPhúc Hải, đến thời Nguyễn vì kiêng tên huý của vua nên mới đổi tên là VânHải, thường gọi là làng Cửa Mây Trong làng hiện nay vẫn còn những gò cátnổi lên, chạy dọc theo làng, chứng tỏ nơi đây xưa kia là bãi biển bồi Đây là
Trang 29khu vực tập trung đông đúc nhất các dòng họ từ phía Bắc di cư vào khai phá
và sinh sống như họ Hoàng, họ Dương, họ Trần, họ Nguyễn…
- Vậy tên gọi Cổ Đạm có từ bao giờ?
Viết về Nghi Xuân ở thế kỷ XIX, Đông Hồ Lê Văn Diễn đã khái quát
trong “Nghi Xuân địa chí”: “Đất hẹp người thưa, nhân khẩu và ruộng đất
không hơn một tổng của huyện lớn Trong năm tổng chỉ có tổng Tam Đăng là vùng đất sét Bốn tổng phía dưới huyện (Xuân Viên, Đan Hải, Phan Xá và Cổ
Đạm) đều đất cát Các dọi đất cát ở các tổng Đan Hải, Phan Xá trong đất có
đá bọt (nguyên văn: phù mạt thạch) Các bờ đá tảng dọc chân núi Hồng Lĩnh phần lớn còn có dấu vết sóng biển xả xói thành hàm ngấn Hiện tượng đó cho thấy vùng này trước kia nguyên là biển, sau biển rút dần tạo thành đất ở Người dân ở đây, giọng nói tập tục đều khác nhau Hẳn là trước đây khi đã thành bãi bồi, người các nơi lần lượt đến ở cho nên như vậy” [12, tr 24 - 25].
Về huyện Nghi Xuân, sách “Đại Nam nhất thống chí” cũng viết: “Huyện
Nghi Xuân ở cách phủ 46 dặm về phía Đông, Đông Tây cách nhau 30 dặm, Nam Bắc cách nhau 20 dặm, phía Đông đến biển 7 dặm, phía Tây đến địa giới huyện La Sơn 26 dặm, phía Nam đến núi Hồng Lĩnh giáp địa giới Chân Lộc 1 dặm Xưa là đất huyện Hàm Hoan, thời thuộc Minh là huyện Nha Nghi (xét Thiên hạ quân quốc lợi binh thư, thì năm Vĩnh Lạc thứ 15 nhà Minh đặt
ty tuần kiểm ở cửa biển Đan Huy, Huyện Nha Nghi, cửa biển Đan Huy tức cửa Hội bây giờ Lại xét: Nghi Xuân xưa cùng Chân Lộc hợp làm một huyện
là Nghi Chân), đời Lê đặt tên hiện nay, nay vẫn theo như thế, lãnh 5 tổng, 41
xã thôn trang [43, tr 126].
Như vậy, dựa vào hai thư tịch trên, cũng như dựa vào các tài liệu ghichép thành văn, chúng ta có thể khẳng định rằng tên gọi Cổ Đạm đã xuất hiệnvào thời Lê, tức là khoảng thế kỷ XV
Trang 30Cổ Đạm nghĩa là gì?
Theo các cụ cao tuổi trong làng, từ “Cổ” có nghĩa là xưa, còn “Đạm” cónghĩa là Lạt Cổ Đạm chính là từ ghép để nói về Lạt xưa - tức làng Kẻ Lạttrước đây
Tại sao lại lấy tên Cổ Đạm đặt cho làng, cho xã rồi cho tổng?
Theo chúng tôi, tên gọi này phản ánh nguồn gốc của nhân dân trongvùng Cổ Đạm Từ Kẻ Lạt, một vùng đất cổ ven núi Hồng Lĩnh, cùng với thờigian, dân số dần phát triển, cư dân Kẻ Lạt đã di cư xuống các vùng đất mới ởgần đó để định cư lập làng Đến thế kỷ XIV – XV, khi cơ quan hành chínhcấp tổng ra đời thì Cổ Đạm đã là một đại xã Một tổng bao gồm nhiều xã, và
để đặt tên cho tổng, người ta lấy tên xã lớn nhất, đông dân nhất, nằm ở vị trítrung tâm nhất, thế nên tên tổng mới trùng với tên xã như vậy
1.3 Vài nét về cơ cấu tổ chức xã hội làng Cổ Đạm
1.3.1 Tổ chức theo dòng họ
“Dòng họ là tập thể những người còn sống và đã chết, liên kết với nhau
bằng mối quan hệ dòng máu và cùng có chung một vị thuỷ tổ Trong các làng
xã người Việt trước đây, dòng họ trở thành cái đảm bảo giá trị tinh thần cho mỗi thành viên trong dòng họ Trong ứng xử, mỗi thành viên xuất hiện ngoài
xã hội với tất cả chỗ đứng tinh thần của mình, thế lực của gia đình và dòng họ” [25, tr 200].
Ở Cổ Đạm, từ một bộ phận dân cư nhỏ sinh sống tại Kẻ Lạt - vùng đấtven chân núi Hồng Lĩnh buổi đầu, cùng với thời gian, dân số Cổ Đạm dầntăng lên đã di cư dần xuống các doi đất cát ở phía đông, lập nên các thôn xómnhư Phú Nhiêu, Phú Giáo, Kỳ Pha Đến nay, ở Cổ Đạm có 51 dòng họ cùngchung sống
Thời Khánh Đức nhà Lê (1662), Phú Nhiêu là một thôn đông dân giàu cógồm 4 gia tộc lớn: hai họ Phạm, họ Hoàng và họ Nguyễn Đến năm ChínhHòa nguyên niên (1676) có ông Nguyễn Nhuận người Thanh Hóa vào Liêu
Trang 31Đông tìm đất phát triển nghề chum vại, thấy đất Liêu Đông không ở được lâudài mới dời về Phú Nhiêu, đổi tên là Trần Đại, trở thành thủy tổ họ Trần ởPhú Nhiêu.
Dưới sức hút của nghệ thuật ca trù, nhiều dòng họ khác ở khắp các nơitrong vùng Nghệ Tĩnh cũng đã đưa nhau về Cổ Đạm lập nghiệp ở Phú Giáo.Thôn Phú Giáo do ca công họ Phan, họ Nguyễn ở Tiên Cầu di cư vào, dựavào địa thế Cầm sơn Trai thủy để lập nghiệp, từ đó, nghiệp cầm ca trở nênhưng thịnh, ca công 12 huyện thuộc 4 phủ xứ Nghệ mỗi họ vài người như họNguyễn ở Thanh Chương, họ Trần ở Hưng Nguyên, họ Hà ở Cẩm Xuyên lần lượt về ở, lập thành Giáo phường chuyên nghề ca hát, nức tiếng gần xa
Theo gia phả họ Phan thì: “Vùng đất Cổ Đạm là nơi đậm đà bản sắc văn hóa
ca trù Nói đến ca trù Cổ Đạm thì phải đi ngay về tứ trụ: Phan Trần – Hà Nguyễn - linh hồn xây nên nền văn hóa đó Nó gắn liền và ăn sâu với con người, đất trời Cổ Đạm xưa và nay” [14, tr 2].
-Đến thế kỷ XVI, XVII, đất nước loạn lạc, xã hội bất ổn, nhiều văn thần
võ sĩ nhà Lê đã rời bỏ kinh thành, chiêu mộ dân chúng, đưa nhau vào Cổ Đạmtìm chốn dung thân, sinh cơ lập nghiệp như họ Trần, họ Lê, họ Nguyễn, họHoàng…
Điều đặc biệt đối với các dòng họ ở Cổ Đạm là do tính chất của nghệthuật ca trù, các nghệ nhân thường theo gánh hát đi kiếm ăn khắp nơi, có khi
đi cả năm mới về, nên khi đi ra ngoài, con người ta phải nương nhờ, dựa vàonhau mà sống, mà bon chen với cư dân ở các nơi khác Tầm nhìn, cách nghĩcủa những người dân nơi đây, đặc biệt là những người có dịp đi đây đi đónhiều do đó cũng không bị bó buộc, đóng kín bởi bốn lũy tre làng như dân cácvùng nông nghiệp khác Điều đó ảnh hưởng rất lớn trong sinh hoạt xã hộitruyền thống và cả hiện tại của cư dân nhất là quan hệ dòng họ Mối quan hệtrong họ ngoài làng ở đây không nặng nề như ở các làng quê chuyên nông,
Trang 32cho nên ở đây người ta ít có sự phân biệt giữa các dòng họ lớn họ nhỏ, họ đếntrước hay họ đến sau.
Về phương diện hành chính, đứng đầu dòng họ là ông “trùm họ” (tộc
biểu) Về nguyên tắc phải là chi trưởng cả, chịu trách nhiệm tổ chức và chủ trìcác buổi sinh hoạt dòng họ Ông là người đại diện cho họ ở nơi việc họ, việclàng xã, việc hương khói thờ cúng tổ tiên, thăm viếng xã giao với các họ khác
Sau trùm họ là “ban lễ” do họ bầu ra, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, tổng kết sinh hoạt dòng họ và là “cơ quan” duy nhất có quyền thay mặt dòng
họ quyết định thái độ ứng xử của họ mình với quan hệ làng xã, đồng thời có
quyền bổ sung, sửa chữa gia phả, “luật tục” của dòng họ, giải quyết mọi bất
hoà và mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ dòng họ Như vậy có thể thấy ban lễ
là một bộ máy chỉ huy tối cao của dòng họ Nếu họ lớn có thêm chức danhtrưởng chi, giúp việc cố vấn cho các trưởng chi có các người già ở chi ấy Tất
cả các chi phí cho dòng họ đều do các thành viên (nam) đóng góp và trang trải.Với chức năng đứng đầu một dòng họ, tộc biểu ở đây vừa là người thaymặt cho dòng họ trước chính quyền cấp trên vừa đại diện cho chính quyềntrong dòng họ Nếu họ nào trong làng có số đinh đông, làm ăn khấm khá thì
họ ấy trở nên có uy tín trong làng, và thông thường, khi có dịp bầu cử chứcsắc cho làng thì họ có khả năng trúng cử của họ cũng cao hơn do tập hợpđược phiếu bầu từ anh em họ mình Đó cũng là một khía cạnh khác biệt của tư
tưởng “Một người làm quan cả họ được nhờ” tồn tại nhiều đời qua trên vùng
Trang 33bởi lẽ tư cách thành viên của giáp là tư cách cha truyền con nối Như vậy, bất
cứ người dân quê Việt nào, miễn là đều sinh ra trong một giáp nhất định vàqua đời với trong tư cách thành viên của giáp ấy Thứ nữa, giáp với tư cách làmột môi trường xã hội đặc biệt, khác hẳn môi trường xã hội tiểu nông và
“quân chủ hoá” bao quanh nó chỉ là một trường tiến thân – con người không
tiến thân bằng cách tích luỹ của cải vật chất, trước tiên là ruộng đất hay bằngcách chạy chọt một chức vụ chính quyền, một phẩm hàm do nhà nước quânchủ ban cấp mà tiến thân bằng tuổi tác
Dân cư Cổ Đạm lúc đầu từ một làng nhỏ ở Kẻ Lạt, Đô Liêu dần dần đãphát triển và di cư xuống phía Đông, lập nên các làng mạc, thôn xóm như CổĐạm, Vân Hải Đến thế kỉ XIX, Cổ Đạm có 2 giáp là Kỳ Đông và Kỳ Tây,cách biệt nhau bằng vùng đất trống giữa làng Cơ sở để phân chia 2 giáp nàythứ nhất là về địa vực cư trú, thứ hai nữa là do nguồn gốc dân cư, bởi Kỳ Tâytập hợp đa số dân cư mới ra khai phá vùng đất mới, còn Kỳ Đông là vùng đấttập trung dân cư từ hàng trăm năm trước [13, tr 20]
Tại đây, giáp hoàn toàn tuân thủ theo nguyên tắc địa vực, nó là một đơn
vị hành chính do Nhà nước quản lý Ở đây giáp tương đương với một xómcủa làng nông nghiệp, có nhiều dòng họ Người đứng đầu giáp – cơ cấu của
xã hội truyền thống cũng đồng thời là người đứng đầu tổ chức hành chính củađơn vị xã hội này Trong chính quyền phong kiến ông ta là thủ khoản, dưới làtộc biểu
Tuy giáp hoàn toàn tuân thủ nguyên tắc địa vực, nó là một đơn vị hànhchính do Nhà nước quản lý nhưng đồng thời tổ chức lớp tuổi này vẫn vậnhành theo quy luật của nó
Về nguyên tắc, chú bé trai mới lọt lòng được vào giáp ngay Trong thực
tế bố chú phải chờ một phiên họp của toàn giáp biện một lễ mọn mà “trình
làng” (nghĩa là trình giáp) cho con mình Sau đó chú bé mới được ghi tên vào
sổ bộ của giáp (cũng gọi là sổ “nhân danh”) Lớn lên một ít, chú ta có thể
Trang 34theo cha, anh đến sinh hoạt giáp và từ đó cùng với tuổi đời anh ta sẽ trưởngthành trong không khí của giáp Đến 18 tuổi, anh ta lại phải trình giáp một lầnnữa để được lên đinh, lên tráng Sau lễ trình giáp lần này anh đã là trai, traibạn, được hưởng mọi quyền lợi và phải trả mọi nghĩa vụ như những người đãtrưởng thành, nên mọi phương diện đương nhiên là cả phương diện tiến thân.Tại làng Cổ Đạm, thang bậc của trường tiến thân – giáp có thể được phácthảo qua bàn quan lão Bàn quan lão có 5 thang bậc, bàn nhất, bàn nhị, thường làcác vị lão làng Còn bàn tam dành cho các vị trong độ tuổi làm Thầy làng Làmthầy làng là vinh dự đồng thời cũng là nghĩa vụ Gánh vác xong trách nhiệmnày, các vị này nghiễm nhiên lên bàn Nhị có nghĩa là lên lão làng Các vịtrong bàn Tứ quảng đường tiến thân còn dài Bộ phận này thường chịu tu làmthầy đạo, tức người nắm sổ sách giáp, làm xong khoá thầy đạo họ được xưnglên bàn Tam để tiếp tục gánh vác trách nhiệm của thân phận làm thầy làng.Đứng trên tất cả các thang bậc trong bàn quan lão là Cố Cả - tức ngườiđàn ông nhiều tuổi nhất làng Dưới Cố Cả mỗi bàn quan lão (bàn Nhất, bànNhị, bàn Tam, bàn Tứ) được chia thành các chiếu, mỗi chiếu có 4 người đượcxếp theo thứ hạng tại các bữa ăn cộng cảm của giáp Gọi là Bàn quan lão,nhưng không nhất thiết phải lên lão rồi mới vào bàn quan lão Theo sổ sáchnhân danh cứ tính từ người đàn ông nhiều tuổi nhất trở xuống để sắp xếp vàocác bàn Thực tế ở làng Cổ Đạm cho đến lúc tổ chức này còn tồn tại (khoảngtrước thế kỷ XX) trong một giáp với khoảng trên dưới trăm suất đinh thì cácthành viên trong bàn quan lão phần nhiều chưa đến tuổi lão.
Bàn quan lão được kính trọng, được tham khảo ý kiến Họ có quyền uyquyết định mọi việc trong phạm vi giáp Ngoài vai trò là thủ lĩnh tinh thần,các thành viên trong bàn quan lão thường nắm giữ các chức dịch trong bộmáy hành chính, bởi ở đây vừa có quyền uy của người nhiều tuổi lại vừa cóthế của kẻ nắm quyền hành trong thực tế
Trang 35Thay mặt giáp quyên góp tiền nhân suất, sắm sửa lễ lạt cúng tế theo từngnăm là ông Số, cũng gọi là ông Câu hoặc ông Câu Đương Thông thường thầyđạo – người đứng đầu giáp với ông Câu Đương chỉ là một Nhưng cũng có lúcbên cạnh thầy đạo còn có ông Câu Đương chuyên trách thu nhận sự đóng gópcủa mọi người biện lễ ở làng Thầy đạo và ông Câu được bầu hàng năm trong
kỳ tế lễ đầu năm Dĩ nhiên không phải bất kỳ ai cũng có thể được gánh váctrách nhiệm ấy, mà những người có thể đảm đương chỉ là những người ởtrong một lớp tuổi nhất định
Với các quan viên làng xã, giáp là cương lĩnh tinh thần trong vô thức.Giữa một xã hội đã thiết lập tôn ti, đầy rẫy sự bất bình đẳng trong cuộc sốnghàng ngày, thì giáp đem lại cho người đàn ông một niềm an ủi về quyền bìnhđẳng giữa cộng đồng Anh ta có quyền như bất cứ một ai trải qua các bướctiến thân để vươn tới những bậc thang cao nhất trong quan niệm: lão làng.Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, giáp dần mất di vị trí của mìnhtrong cộng đồng làng xã Đến nay, dư âm của nó chỉ còn đọng lại qua tên gọi
mà thôi
- Tổ chức theo phường hội
Phường hội là một dạng tổ chức theo nghề nghiệp Theo Trần Ngọc
Thêm, “ở nông thôn có thể gặp hàng loạt phường như phường gốm làm đồ
sành sứ, phường nề làm nghề xây cất, phường chài làm nghề đánh cá Có những nghề không phải là kế sinh nhai nhưng người ta cũng họp thành phường như phường chèo, phường tuồng” [54, tr 205 - 206].
Ở Cổ Đạm xưa cũng đã từng tồn tại nhiều phường hội, như phường làmnồi đất, phường cấy, phường gặt Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôichỉ xin đề cập đến một phường hội nổi bật nhất, có tiếng nhất ở vùng quê này
đó là phường hát ca trù – Giáo phường Cổ Đạm
Do đặc thù của nghề hát nhà trò, phải đi lưu diễn khắp nơi, đi thành đoànthành hội để tổ chức nên một chương trình có nhiều tiết mục, nhiều màu sắc
Trang 36Vì thế, các ca công bất kỳ thân phận của họ ai đều tự nguyện tham gia vào hộinhững người cùng bạn thuyền gọi là Giáo phường.
Đứng đầu Giáo phường là trùm phường, một người cao tuổi có tài năng,
có nhiều kinh nghiệm và có uy tín có thể liên hệ, tìm kiếm công việc cho cảphường Trùm phường chỉ là thủ lĩnh tinh thần của Hội nghề nghiệp, không
hề gắn với bất kỳ một quyền lợi vật chất nào Trong lịch sử ca trù, nhiều tàinăng có uy tín như Phan Phú Giai, Phan Phú Truyền… được coi là những
trùm phường có tiếng, mệnh danh là “Giáo phường ty đệ nhất – Tiếng tài hoa
từ thửơ con con” đã góp phần đưa danh tiếng ca trù lan xa đến tận kinh đô
Huế và nhiều vùng khác, tạo nên một “thương hiệu” riêng của ca trù Cổ Đạm.
Giáo phường tập hợp những cô đào, anh kép, hoạt động dưới sự chỉ đạogiám sát chặt chẽ của trùm phường Giáo phường có những quy định riêngcủa mình, hoàn toàn không có chim chuột lăng nhăng như khi ca trù vào chốnthanh lâu sau này Người đi hát chỉ làm đào nương chứ không làm đào rượu,làm ca nương chứ không làm kỹ nữ Nhà nào, làng nào có đình đám, đến mờimọc nhiệt tình thì các phưêng mới đến hát Làng có nhiều phường, đi nhiềunơi suốt cả dịp tết, suốt cả mùa xuân, có khi là suốt cả năm nếu là phường cóđào đẹp kép hay
Ở một góc độ khác ta thấy, chính sự chặt chẽ của giáo phường đã tạo nênhình ảnh rất khác của gánh hát: những cô đào rất mực tài năng nhưng lại đoantrang, gia giáo Lịch sử còn viết về người ca nương đầu tiên làm rạng danhlàng là bà Phan Thị Tự, con gái của Phan Tôn Chu vừa đẹp người đẹp nết lạivừa hát rất hay, được Vua cho mời vào cung để dạy đàn hát cho các cung tần
mỹ nữ trong triều Vua mến tài đàn hay hát giỏi, hoàng hậu cũng tâm phục sựnết na gia giáo của bà, nên sau khi bà mất, để ghi nhận công lao và nhữngđóng góp của bà Phan Thị Tự, vua phong cho bà danh hiệu Ngọc Hoa côngchúa, hiện nay còn có nhà thờ riêng Chính sự nết na gia giáo ấy của các ca
nương Cổ Đạm nên dù trong xã hội phong kiến, với quan niệm “xướng ca vô
Trang 37loài”, nghề con hát bị rẻ rúng những các nghệ nhân ca trù vẫn được trọng
vọng nhiều ca nương còn kết duyên với các hoàng thân quốc thích, quan lại
và văn nhân sĩ tử, trở thành các “mệnh phụ phu nhân” trong lầu son gác tía.
Đầu thế kỷ XX, khi ca trù đã dần lui vào quá khứ, nhà văn Nguyễn Tuân vẫn
còn những ưu ái với những cô đầu Nghệ, qua bài viết trên “Thời vụ báo” năm 1938: “Ta không thể nhầm đào nương đó với một cô đầu mới của xứ Bắc.
Đấy là cô đầu Nghệ Một thứ cô đầu làng Cổ Đạm huyện Nghi Xuân vốn biệt
ra một tông phái riêng trong Giáo phường…” [18, tr 42] Những lớp nghệ
nhân ca trù cuối cùng của thời vàng son đến nay vẫn còn có các bà như bàMơn (đã mất vào tháng 1/2012), bà Phẩm, bà Xoan, Bà Khánh… từng rấtquen thuộc với lớp tài tử cuối cùng của lịch sử phong kiến, trong đó có Tuần
vũ Hà Tĩnh, nhà thơ xứ Huế Ưng Bình Thúc Giạ Thuỵ đã từng viết rất nhiều
ca khúc tặng riêng cho “ả đào” Cổ Đạm.
Ở làng, khi rảnh rỗi, các đào kép thường cùng nhau đàn hát, ôn luyệnhoặc tập tành cho lớp con em hay tiếp đãi các tao nhân mặc khách đến thăm
làng Đặc biệt, trong dịp giỗ Tổ hàng năm, “giáo phường Cổ Đạm náo nức
đón các giáo phường bạn từ mười hai huyện về hội đền Xứ Ngoài các cuộc hát chầu tổ, hát thi ở đền còn có những buổi gặp gỡ bạn bầu, cùng hát và trao đổi nghề nghiệp trong các gia đình đào nương, kéo dài hàng chục ngày liền” [18, tr 42].
Cùng với sự phát triển của xã hội, ca trù dần đi vào quá khứ, để lại nỗibăn khoăn day dứt cho những ai yêu thích nghệ thuật này, nhất là lớp nghệ
nhân từng “vang bóng một thời” nay đã ở tuổi xa trời gần đất Giáo phường ca
trù xưa cũng chỉ còn là kỷ niệm khó quên của các nghệ nhân cao tuổi vànhững ai mến mộ tài năng nghệ thuật Tháng 10 năm 2009, Ca trù đượcUNESCO công nhận là văn hoá phi vật thể cần được bảo tồn khẩn cấp là mộttín hiệu mừng đối với những ai yêu thích nghệ thuật ca hát này
Trang 381.3.3 Tổ chức theo địa vực cư trú và cơ cấu hành chính
Có thể nói rằng làng xã và quốc gia Việt Nam là hai đối tượng quantrọng nhất và được tổ chức chặt chẽ nhất đối với người Việt Chính vì thế màngười ta thường nói làng với nước đi đôi với nhau Gs Phan Đại Doãn chorằng “làng là cộng đồng dân sự tự trị” Còn Gs Bùi Xuân Đính nêu lên kháiniệm Làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vựcriêng, cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức riêng, lệ tục riêng… nhưng chặt chẽ
và hoàn chỉnh nhất Xã là chỉ đơn vị hành chính cơ sở của Nhà nước phongkiến ở cùng nông thôn, không phải làng đồng nhất với xã Có thể mỗi xã làmột làng nhưng cũng có thể mỗi xã gồm nhiều làng hợp lại
Mỗi làng xã đều có tính độc lập riêng, có thể gọi là biệt lập Tính biệt lập
ở các làng mạnh đến nỗi mỗi làng có thể được coi như một quốc gia thu nhỏvới một “luật pháp riêng” được gọi là hương ước (lệ làng được ghi bằng vănbản) và luật tục (lệ làng được quy định bằng lời nói); và một “triều đìnhriêng” với hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hànhpháp Nhiều làng còn bầu bốn cụ cao tuổi nhất gọi là tứ trụ Sự can thiệp củanhà nước phong kiến, và sau này của thực dân không làm ảnh hưởng nhiềuđến tổ chức của làng xã
Xét về mặt cơ cấu hành chính, Cổ Đạm thời Lê có 4 thôn là Kỳ Pha, MỹCầu, Yên Phú và Vân Hải Đến thời Nguyễn, Tổng Cổ Đạm lúc này có 8 xã,thôn, trang: Cổ Đạm, Phú Lạp, Liêu Đông, Cương Đoán, Cương Gián, ĐộngGián, Vân Hải và Cam Lâm
Ở Cổ Đạm, sự phân biệt làng và xóm không quá rạch ròi, bởi hầu như họ
có nguồn gốc chung từ Kẻ Lạt, Đô Liêu xưa Các dòng họ di cư từ nơi khácđến như họ Trần, họ Đào cũng đã sinh sống ở đây suốt hàng trăm năm đãtạo ra mối quan hệ xóm làng sâu sắc và bền chặt Mặt khác, quan hệ hôn nhân
từ nhiều đời trước cũng đó tạo nên mối quan hệ chồng chéo, phức tạp giữa
Trang 39dòng họ này với dòng họ khác, tạo nên quan hệ anh em, thông gia, xóm giềngthân mật và gần gũi.
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, thiết chế chính trị của Cổ Đạm ngàycàng chặt chẽ hơn Các nguồn tài liệu cho biết cơ cấu tổ chức của làng baogồm các thiết chế cơ bản sau:
- Hội đồng lý hương
Đứng đầu xã là lý trưởng – nhân vật do dân làng xã bầu ra và được Nhànước quân chủ chấp nhận giúp việc cho ông ta có phó lý và Hội đồng chứcdịch Hội đồng chức dịch ở Cổ Đạm (Hội đồng Hào mục) có 5 chức viên gọi
là Ngũ Hương
Hương bộ có trách nhiệm quản thư văn của xã
Hương bản giữ quỹ của xã
Hương kiểm chịu trách nhiệm cảnh sát, hành chính và tư pháp ở trong làng.Hương Mục trông coi, tu bổ công sở, đền miếu trong làng
Hương dịch phụ trách thông tin và vệ sinh trong làng
Để có thể hoạt động, Hội đồng chức dịch lại lập thêm một nhóm giúpviệc: Tuần đinh, Tuần tra, Thủ khoán Ngoài ra còn phải kể đến anh Seo hoặcanh Mõ là người đưa tin trong làng
Dưới xã là giáp, đứng đầu là Thủ khoản (thầy đạo) Ngoài những tráchnhiệm theo truyền thống ra thủ khoản còn có chức năng đứng đầu giáp về mặthành chính Dưới thủ khoản là các tộc biểu – những người có uy tín trong mỗidòng họ, được bầu ra để đại diện cho cả họ về mặt hành chính trước giáp Khi
có lệnh của quan trên về xã, ví dụ việc điều đi phu chẳng hạn, lý trưởng được
sự cộng tác của Hội đồng ngũ hương, phân bổ số nhân công cho các giáp rồithông báo cho các thủ khoản biết để thi hành Nhận được thông báo, thủkhoản họp các tộc biểu lại để cùng các vị này cử người cụ thể Sau đó, trưởnggiáp thủ khoản nộp danh sách cho lý trưởng, đồng thời động viên nhữngngười lên đường vui vẻ làm nghĩa vụ
Trang 40- Hội đồng kỳ mục
Theo quy định của triều đình, thành phần của hội đồng kỳ mục chỉ gồmnhững viên quan lại đã nghỉ hưu hoặc đương chức ở làng, ai có phẩm hàm caonhất thì đứng đầu hội đồng này, gọi là tiên chỉ và một hai ông thứ chỉ (phótiên chỉ) Tiên chỉ (Viên mục) là người có phẩm tước cao nhất trong làng, cótuổi nhất trong số các hưu quan, các chức sắc, các khoa mục và theo hươngước thì đó là người có đạo đức nhất Đây là người có quyền thế nhất làng, cótoàn quyền quyết định mọi việc lớn nhỏ trong làng
Dưới bộ phận tiên - thứ chỉ là ba bàn lão, gồm bàn nhất, bàn nhì và bàn
ba, mỗi bàn có bốn cụ Người già thuộc lớp quan viên thì uy tín, địa vị cànglớn Người già lớp bình dân cũng được kính nể nhưng thường không có quyềnhành gì Theo tìm hiểu chúng tôi được biết, mặc dù làng Cổ Đạm có quanniệm trọng người già (trọng xỉ), người già được ngồi cùng chức sắc dù làthuộc lớp bình dân (ngồi vào “ba bàn”) Tuy nhiên, lớp già bình dân này chỉngồi ăn uống chứ ít biết và ít dám bàn đến công việc của làng
Hội đồng kỳ mục lãnh đạo cả hội đồng lý dịch và quản lý cả các phường,hội, phe, giáp ở làng Sau Cách mạng tháng Tám 1945, hệ thống chính quyềncách mạng ra đời thì Hội đồng kỳ mục hoàn toàn bị xoá bỏ
Đại biểu trong Hội đồng tộc biểu sẽ chọn một người làm chánh hươnghội và một người làm phó hương hội, thay thế cho tiên chỉ và thứ chỉ trướckia Đây thực chất là công việc để chính quyền thực dân can thiệp vào bộ máy
tự quản của làng, không phải vào bộ máy hành chính cấp xã Cho đến trước