1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp phần tìm hiểu về dòng họ nguyễn duy ở làng đông linh ( xã an bài, huyện quỳnh phụ, tỉnh thái bình ) luận văn tốt nghiệp đại học

97 1,7K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góp phần tìm hiểu về dòng họ Nguyễn Duy ở làng Đông Linh (xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)
Tác giả Nguyễn Thị Nguyệt
Người hướng dẫn ThS. Võ Thị Hoài Thương
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 15,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có một số sách, bài báo viết về dòng họ nhưng mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu một vài khía cạnh trong nghiên cứu văn hóa dòng họ như: Trong cuốn “Văn hóa dòng họ ở Thái Bình” 1999, N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

KHOA LỊCH SỬ

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Gãp phÇn t×m hiÓu vÒ dßng hä NguyÔn Duy

ë lµng §«ng Linh (x· An Bµi, huyÖn Quúnh Phô,

tØnh Th¸i B×nh)

CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VĂN HÓA

Trang 2

Trờng đại học vinh

khoa lịch sử

===  ===

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Góp phần tìm hiểu về dòng họ Nguyễn Duy

ở làng Đông Linh (xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình tiến hành khóa luận tốt nghiệp đại học, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn chu đáo, khoa học của cô giáo hướng dẫn cũng như sựđộng viên, khích lệ giúp đỡ của gia đình, bạn bè và các thầy cô trong khoaLịch sử

Nhân dịp khóa luận được hoàn thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới cô giáo ThS Võ Thị Hoài Thương - Người đã trực tiếp hướng dẫn tôi

trong suốt thời gian thực hiện đề tài Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơndòng họ Nguyễn Duy, dòng họ Vũ Đình, Thư viện Khoa học Tổng hợp và tất

cả các thầy cô giáo khoa Lịch sử đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quátrình thu thập, khảo cứu tài liệu

Đây là bước đi đầu tiên của một sinh viên trên con đường nghiên cứukhoa học, do vậy khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, xin mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn đọc

Vinh tháng 5 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Thị Nguyệt

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của đề tài 6

6 Bố cục đề tài 6

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG ĐÔNG LINH (AN BÀI, QUỲNH PHỤ, THÁI BÌNH) 7

1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 7

1.1.1 Môi trường tự nhiên 7

1.1.2 Dân cư 8

1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa 10

1.2.1 Quá trình hình thành làng Đông Linh 10

1.2.2 Truyền thống lịch sử 12

1.2.3 Truyền thống văn hóa 17

1.2.4 Một số dòng họ tiêu biểu ở làng Đông Linh 23

Chương 2 NGUYỄN DUY - DÒNG HỌ VĂN HIẾN CỦA QUÊ HƯƠNG ĐÔNG LINH (AN BÀI, QUỲNH PHỤ, THÁI BÌNH) 25

2.1 Nguồn gốc 25

2.2 Sự phát triển của dòng họ 27

2.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa, giáo dục 30

2.3.1 Truyền thống khoa bảng 30

2.3.2 Truyền thống yêu nước, thương dân 33

Trang 5

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC CÁC NHÀ THỜ CỦA DÒNG

HỌ NGUYỄN DUY Ở ĐÔNG LINH (AN BÀI, QUỲNH

PHỤ, THÁI BÌNH) 41

3.1 Nhà thờ họ Nguyễn Duy - chi trưởng 41

3.1.1 Bố cục cảnh quan 42

3.1.2 Nhà bái đường 42

3.1.3 Nhà hậu cung 45

3.1.4 Các hiện vật thờ tự 47

3.1.5 Lăng mộ 48

3.2 Nhà thờ họ Nguyễn Duy - chi thứ ngành trưởng 49

3.2.1 Bố cục cảnh quan 49

3.2.2 Kiến trúc nhà thờ 51

3.2.3 Các hiện vật trong di tích 54

3.3 Nhà thờ họ Nguyễn Duy - chi thứ ngành 2 55

3.3.1 Bố cục cảnh quan 56

3.3.2 Kiến trúc nhà thờ 56

3.3.3 Các hiện vật trong di tích 60

3.3.4 Khu lăng mộ 62

3.4 Giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của các nhà thờ 62

3.4.1 Giá trị lịch sử 62

3.4.2 Giá trị văn hóa 62

3.4.3 Giá trị nghệ thuật 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa như hiện nay vấn đề giữ gìn bảnsắc văn hóa dân tộc được các quốc gia trên thế giới quan tâm, Đảng và Nhànước ta cũng đã đặt ra chủ trương phát huy và bảo tồn bản sắc văn hóa dântộc và coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, được khẳng định trong Báo cáochính trị của ban chấp hành Trung ương Đảng họp tại Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ IX (4/2001): “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [5, tr.659].

Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời Cơ

sở của nền văn hóa đó một phần được hình thành, bén rễ từ văn hóa dòng họ.Bởi dòng họ là nơi bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và gópphần giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa các vùng miền, địaphương cho các thế hệ sau, thông qua việc lưu giữ gia phả, bi ký, câu đối, giaphong… của dòng họ Qua đó chúng ta có thể thấy được truyền thống lịch sửhào hùng của dân tộc, đồng thời góp phần nhắc nhở các thế hệ sau nhớ đếncội nguồn và giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp đó của cha ông Từ đó,đóng góp sức mình vào xây dựng dòng họ, quê hương, đất nước ngày cànggiàu mạnh, tươi đẹp

Dòng họ còn là cái nôi để mỗi con người Việt Nam được nuôi dưỡngtruyền thống văn hóa của cha ông, là nơi hội nhập và trao truyền văn hóagiữa các thế hệ Cùng với gia đình, dòng họ cũng là trường học đầu tiên giáodục con người, bồi dưỡng nhân cách con người thông qua các quy tắc, giaphong của dòng họ Như vậy, nói đến văn hóa dòng họ là nói đến vấn đề cộinguồn - một vấn đề có ý nghĩa rất thiêng liêng trong tâm thức con người

Việt Nam Bởi vì ai cũng hiểu rằng: “Chim có tổ, người có tông”, người ta

Trang 7

có tổ như cây có gốc, nước có nguồn, gốc sâu thì ngọn tốt, nguồn xa thìdòng dài, gốc có bền vững thì cành lá mới xum xuê, tươi tốt, cây sẽ chonhiều hoa thơm quả ngọt.

Như một đối trọng với sự phát triển kinh tế, xu hướng “trở về nguồn”,bảo tồn bản sắc văn hóa, tìm về với truyền thống đã tác động và làm thức tỉnhmỗi con người cũng như mỗi cộng đồng người Vì vậy, vấn đề nghiên cứuvăn hóa dòng họ càng trở nên cần thiết và là một việc làm tất yếu có ý nghĩa

to lớn trong việc giữ gìn và phát huy văn hóa dòng họ nói riêng và văn hóadân tộc nói chung Do đó, hiện nay xu hướng tìm về cội nguồn đang phát triển

và đi vào chiều sâu như một làn sóng cuộn trào trong mỗi chúng ta Việc tìmhiểu văn hóa dòng họ còn có ý nghĩa “gạn đục khơi trong”, phát huy nhữngmặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của các dòng họ, làm cho xã hội vàvăn hóa Việt Nam ngày càng tốt đẹp hơn

Cũng như bao vùng quê khác trên quê lúa Thái Bình, Quỳnh Phụ làmảnh đất có nhiều dòng họ có đóng góp đáng kể đối với lịch sử dân tộc Mỗidòng họ đều có bề dày truyền thống của mình Qua đó giáo dục cho chúng takhông được quên những gì cha ông đã dày công xây dựng nên mà cố gắngphấn đấu học tập để làm rạng danh cho dòng họ, góp phần xây dựng quêhương Quỳnh Phụ ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với công lao của các thế hệ

đi trước Bản thân tôi cũng là một người con của quê hương Quỳnh Phụ, làsinh viên chuyên ngành Lịch sử văn hóa, nên nghiên cứu về dòng họ của quêhương như một lời tri ân với mảnh đất nơi tôi sinh ra và nuôi tôi khôn lớn.Mặt khác, tôi cũng muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứulịch sử - văn hóa của quê hương

Vì những lí do trên mà tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Góp phần tìm

hiểu về dòng họ Nguyễn Duy ở làng Đông Linh (xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình” làm đề tài tốt nghiệp của mình.

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều hội thảo khoa học về văn hóa dòng

họ diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước Tuy nhiên, việc tìm hiểu vănhóa dòng họ ở Thái Bình vẫn chưa đạt được nhiều kết quả đáng kể Đã có một

số sách, bài báo viết về dòng họ nhưng mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu một

vài khía cạnh trong nghiên cứu văn hóa dòng họ như: Trong cuốn “Văn hóa dòng họ ở Thái Bình” (1999), Nxb Thái Bình, các tác giả đã có những trao

đổi, nghiên cứu về họ Bùi ở Thái ấp Hàm Châu, họ Trương làng Thanh Nê,

họ Quách ở làng Phúc Khê… Hoặc cũng có nhà khoa học nghiên cứu về cácdanh nhân như: Lê Quý Đôn, Nguyễn Đức Cảnh, Lý Bí…

Về dòng họ Nguyễn Duy ở Đông Linh (An Bài, Quỳnh Phụ, Thái Bình)cũng chưa có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa

học về Văn hóa dòng họ ở Thái Bình (tháng 12 năm 1998) đã dành một phần

khiêm tốn khi chỉ nói đến vài nét về hoạt động của dòng họ Nguyễn Duy.Ngoài ra, chưa có tác giả cũng như công trình nghiên cứu nào chuyên sâu Chonên trong quá trình nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi đã gặp phải không ít khókhăn trong công tác sưu tầm và kế thừa các tư liệu đã nghiên cứu về dòng họNguyễn Duy

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài góp phần nghiên cứu về dòng họ Nguyễn Duy ở Đông Linh, AnBài, Quỳnh Phụ, Thái Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung tìm hiểu về dòng họ Nguyễn Duy ở Đông Linh trên cáckhía cạnh: nguồn gốc, truyền thống lịch sử văn hóa và đặc điểm kiến trúc củacác nhà thờ chính của dòng họ Bên cạnh đó, đề tài cũng giới thiệu về một sốdòng họ ở Đông Linh, An Bài, Quỳnh Phụ, Thái Bình nhằm làm nổi bật vị trí

Trang 9

Với đề tài này, diện nghiên cứu tuy hẹp nhưng chúng tôi hi vọng sẽ gópphần làm sáng rõ hơn bức tranh phong phú, đặc sắc về văn hóa dòng họ trênđất Quỳnh Phụ Mặt khác để thấy được rằng, vùng đất này không chỉ là vùngđất hiếu học mà còn có văn hóa dòng họ phát triển.

3.3 Nhiệm vụ khoa học của đề tài

Khóa luận “Góp phần tìm hiểu về dòng họ Nguyễn Duy ở Đông Linh,

An Bài, Quỳnh Phụ, Thái Bình” tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:

- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư, quá trình hìnhthành cũng như truyền thống lịch sử - văn hóa của làng Đông Linh (An Bài,Quỳnh Phụ, Thái Bình)

- Đề tài góp phần chỉ ra nguồn gốc và quá trình phát triển của dòng họNguyễn Duy trên quê hương Đông Linh

- Tìm hiểu truyền thống văn hóa và một số nhân vật tiêu biểu của dòng

họ Nguyễn Duy

- Khảo tả về kiến trúc các nhà thờ của dòng họ Nguyễn Duy Từ đó nêulên giá trị lịch sử - văn hóa của các nhà thờ đó

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:

- Tài liệu thành văn: Gồm các công trình nghiên cứu về văn hóa dòng

họ ở Thái Bình nói chung, về dòng họ Nguyễn Duy ở Đông Linh, An Bài,Quỳnh Phụ, Thái Bình nói riêng và các tài liệu khác có liên quan đến đốitượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài đã được công bố

- Tài liệu điền dã: Chúng tôi đã điền dã tại thực địa để tìm hiểu về gia

phả của dòng họ Nguyễn Duy, qua đó nhằm làm rõ nguồn gốc, quá trình pháttriển và những đóng góp của dòng họ đối với quê hương Đông Linh Chúngtôi cũng đã khảo sát các nhà thờ của dòng họ Nguyễn Duy để thấy được cácgiá trị về kiến trúc, ghi chép bi ký, câu đối, hoành phi…, chụp ảnh và hỏi ý

Trang 10

kiến của những người đi trước có hiểu biết về dòng họ Từ đó, để có được cáinhìn chân thực, khách quan về vấn đề nghiên cứu.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp lịch sử,phương pháp logic và phương pháp điền dã thực địa Ngoài ra còn sử dụngcác phương pháp như: thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích tổng hợp rút

ra những đánh giá khách quan và chỉ ra những đóng góp cụ thể của dòng họNguyễn Duy cũng như mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữadòng họ Nguyễn Duy với các dòng họ khác ở Đông Linh, An Bài, QuỳnhPhụ, Thái Bình

5 Đóng góp của đề tài

Khóa luận được hoàn thành với những đóng góp cụ thể như sau:

- Giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của dòng họ NguyễnDuy ở Đông Linh, An Bài, Quỳnh Phụ, Thái Bình

- Nghiên cứu về một số nhân vật tiêu biểu trong dòng họ Nguyễn Duy

và những đóng góp của họ đối với quê hương, đất nước

- Tìm hiểu kiến trúc các nhà thờ của dòng họ Nguyễn Duy ở Đông Linh

để thấy được di sản văn hóa vật chất của dòng họ Từ đó, con cháu dòng họNguyễn Duy thêm tự hào về truyền thống của dòng họ mình và có ý thức bảotồn, phát huy giá trị văn hóa mà ông cha đã dày công gây dựng

Trang 11

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG ĐÔNG LINH (AN BÀI, QUỲNH PHỤ, THÁI BÌNH)

1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư

1.1.1 Môi trường tự nhiên

Làng Đông Linh thuộc xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, làmột vùng quê mang đậm các giá trị văn hóa vật chất, tinh thần tiêu biểu củavùng đất Thái Bình

Huyện Quỳnh Phụ là miền đất cổ của Thái Bình, nằm ở phía Bắc tỉnh,

có diện tích 200,1 km2, dân số có 2004665 người (năm 2003) Quỳnh Phụ có

cư dân sinh sống từ lâu đời Và cũng như bao mảnh đất khác trên quê lúa TháiBình, Quỳnh Phụ cũng có nhiều tên gọi khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử.Khi nhà nước Văn Lang được thành lập, đại bộ phận đất đai Quỳnh Phụ thuộc

bộ Lang Tuyền Trong những thế kỉ đầu công nguyên, Quỳnh Phụ thuộc quậnGiao Chỉ Đầu thế kỉ thứ VII, Quỳnh Phụ thuộc Hạ Hồng, quận Giao Chỉ,Giao Châu Năm 905, nước nhà giành được tự chủ, Quỳnh Phụ thuộc HạHồng, Hồng Châu Năm 1252 thuộc phủ Thái Bình, lộ Hồng Châu, ĐôngĐạo Cuối thời Lê sơ thuộc phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam, vùng Sơn Nam hạ.Năm 1831 thuộc tỉnh Nam Định Đến năm 1890 thuộc tỉnh Thái Bình nhưngày nay

Xã An Bài nằm ở phía Đông của huyện Quỳnh Phụ Với vị trí địa lýphía Đông giáp huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng), phía Tây giáp xã An Vũ, phíaBắc giáp xã An Ninh, phía Nam giáp xã An Thanh Hiện nay, xã An Bài có 4làng, một thị trấn và một khu công nghiệp

Đông Linh là một trong bốn làng thuần nông của xã An Bài Cũng nhưcác làng khác trong xã, làng Đông Linh có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi chosản xuất nông nghiệp Với khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không quá khắc

Trang 12

nghiệt, người dân nơi đây không phải chịu cái giá rét đến thấu xương nhưvùng núi Tây Bắc, cũng không phải chịu cái nắng như thổi lửa của gió Lào ởmiền Trung Khí hậu ở đây tương đối ôn hòa với bốn mùa rõ rệt, lượng mưatương đối lớn thuận lợi cho cây trồng vật nuôi phát triển Làng Đông Linhnằm cạnh sông Hóa rất thuận tiện cho công tác thủy lợi, tưới tiêu Là vùng đất

có lịch sử khai phá lâu đời nên người Đông Linh còn biết thâm canh gối vụ.Ngoài hai vụ chính, nhân dân trong làng còn trồng thêm các cây vụ đông đểtăng năng suất Ngoài trồng lúa còn có ngô, khoai, sắn, lạc, vừng, đay…

Đông Linh tuy là một làng nhỏ trong xã nhưng lại có hệ thống giaothông thuận lợi Làng Đông Linh nằm giáp đường quốc lộ 10, từ đây có thể điđến các tỉnh khác như Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình… rất thuận tiện ĐôngLinh nằm cạnh sông Hóa, con sông đã chứng kiến bao chiến tích trong lịch sửdân tộc, đặc biệt là thời Trần nên còn có tên là Linh Giang Chính vì thế màtrong lịch sử Đông Linh có điều kiện giao lưu tiếp xúc văn hóa, trao đổi buônbán với các vùng khác một cách dễ dàng

Đông Linh là một mảnh đất nghèo tài nguyên thiên nhiên, không có núirừng cũng không có khoáng sản Do đó, ngày nay không có điều kiện để pháttriển kinh tế công thương nghiệp Tuy cuộc sống của cư dân ở đây có khókhăn đôi chút nhưng mặt khác lại giúp cho Đông Linh vẫn giữ được vẻ thanhbình, yên ả rất đặc trưng của một làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ

1.1.2 Dân cư

Cách đây hơn 2000 năm, nơi đây vốn là vùng đất hoang sơ, quanh nămúng trũng, lại nằm bên cạnh con sông Hóa thường xuyên bị lụt lội nên còn cótên gọi là “tù hương” Để có thể sinh sống và sản xuất, con người nơi đây đãphải cố kết lại để đắp đê trị thủy, đào sông khơi ngòi, thoát úng Con đê sôngHóa là thành quả của sự cố kết cộng đồng bền chặt và sâu sắc đó Nhân dân ởđây vẫn còn nhớ mãi bài văn vần giản dị, mộc mạc về một công cuộc trị thủy

Trang 13

Cơi đê sông Hồng

Mở rộng sông Hinh Cắt phình sông Hóa

Lũ mặn đỡ phá Thôn xóm ấm no [1, Tr.34].

Quá trình trị thủy đó đã tạo nên truyền thống đoàn kết tự nhiên và sâusắc của cư dân làng Đông Linh Bằng sức lao động cần cù, bền bỉ, sáng tạo vàdẻo dai, người dân Đông Linh đã đấu tranh, vật lộn với đồng đất, giành giậtvới thiên nhiên, biến miền đất hoang dã ngập úng thành vùng đất phì nhiêumàu mỡ thuận lợi cho nghề trồng lúa Quá trình sinh tồn đầy thử thách, khókhăn, người Thái Bình nói chung và người dân Đông Linh nói riêng đã tíchlũy, đúc rút được cả một kho tàng kinh nghiệm cày bừa, cấy hái, chăm sóccây lúa hết sức quý báu:

“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”

Kinh nghiệm ấy đã giúp cho Thái Bình là tỉnh đầu tiên trong cả nướcđạt năng suất 5 tấn /ha Thành quả đó không chỉ giúp cho cuộc sống của dânlàng đầy đủ mà còn đóng góp một phần lương thực cho sự phát triển kinh tếđất nước, trong đó có sự đóng góp của người Đông Linh

Quá trình lao động sản xuất gian khổ ấy cũng đã tạo nên cho con ngườinơi đây đức tính cần cù, chịu thương chịu khó Khí hậu tương đối ôn hòa vớibốn mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt không phải hứng chịu và đối phó với sựkhắc nghiệt của thiên nhiên như các vùng đất Trung bộ đã tạo nên tính cáchcon người Đông Linh hiền hòa, nhân hậu, thật thà, chất phác Từ bao đời nay,

dân làng Đông Linh sống gắn bó, chan hòa, đùm bọc “tối lửa tắt đèn có nhau”, tạo nên khung cảnh yên bình trong đường làng ngõ xóm.

Con người Đông Linh có một phẩm chất đáng quý đó là hiếu học Concháu của mảnh đất này từ xưa đến nay đã có nhiều người thành đạt và đónggóp sức mình cho quê hương đất nước Nhân dân nơi đây rất trân trọng việc

Trang 14

học hành, khoa cử, với quan niệm học để hiểu biết, để hiểu đạo lý làm người

và học để thoát nghèo, nên nhiều gia đình dù nghèo khó đến mấy cũng cốgắng cho con ăn học Vì vậy, những người có học vấn, đỗ đạt ở Đông Linhkhông phải chỉ xuất thân trong gia đình giàu có mà cả ở những gia đình nôngdân nghèo như: Gia đình ông Mẫn, nhà nghèo quanh năm đóng gạch nhưngvẫn nuôi hai con học đại học; Gia đình cô Huấn chỉ có một mình cô nhưng côcũng cố gắng làm mọi công việc dù nặng nhọc đến mấy để nuôi hai con họcđại học, cao đẳng Truyền thống hiếu học đó vẫn được người dân Đông Linhnối tiếp đến tận hôm nay Đó là một nét đẹp đã trở thành động lực cho các thế

hệ sau phấn đấu học tập, đỗ đạt để trở thành người có ích cho xã hội và đónggóp sức mình xây dựng quê hương đất nước

Con người làng Đông Linh không chỉ dũng cảm trong lao động sảnxuất mà còn rất anh dũng trong việc đấu tranh để chống các thế lực áp bức,bóc lột Trong lịch sử, Đông Linh là một địa bàn quan trọng được các lựclượng khởi nghĩa sử dụng để xây dựng căn cứ và người dân Đông Linh đãtích cực tham gia đấu tranh để bảo vệ cuộc sống của chính mình Trong quátrình đấu tranh ấy, con người Đông Linh đã tự hun đúc cho mình những phẩmchất cao quý: cần cù, sáng tạo trong lao động, dũng cảm kiên cường trongchiến đấu và sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn Truyền thống ấy mãi mãi là di sảnquý báu mà cha ông để lại trong quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đấtnước của người dân Đông Linh

1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa

1.2.1 Quá trình hình thành làng Đông Linh

Làng Đông Linh, dân gian quen gọi là làng Nghìn nằm trên lưu vựcsông Hồng và sông Thái Bình Theo các cụ cao tuổi trong làng kể lại và nội

dung ghi trong bia “Cư nhân đình bi ký” thì: hơn một ngàn năm trước vào thế

kỷ thứ VIII Đông Linh còn là một vùng đầm hồ, nước ngập mênh mông, chỉ

Trang 15

có vài gò cao nhô lên khỏi mặt nước… khắp nơi cỏ cây lau sậy um tùm, cónhiều ngòi lạch khe nước chằng chịt Những người đầu tiên đến vùng đất này,một số sống trên các gò cao, khai phá đầm cạn cấy lúa, một số sống ở sông,

hồ trên các thuyền mủng bắt tôm, bắt cá làm khô mắm để bán [6, tr.7]

Khoảng hơn 250 năm sau (cuối thế kỷ VIII - thế kỷ XI) số người đến ở

có hơn chục nhà, vài chục người, sau số người đến đông dần, họ lập thành lànggọi nôm na là làng Nghìn, cái tên ấy đã gắn bó với dân làng hơn một nghìnnăm nay Làng Nghìn là nơi đón tiếp các thuyền buôn từ Đế Đô, Kinh kỳ, PhốHiến xuôi về các bến Địa Đầu, Đài Thần, Bến Đó để trao đổi hàng hóa

Thời Lý, đầu thế kỷ XII, làng Nghìn thuộc xã Địa Linh Một vị quan họPhạm người huyện Gia Lâm đạo Kinh Bắc về lập trang Địa Linh, đã có cônggiáo hóa cho dân làng Nghìn chuyển từ nghề đánh cá, bắt cá, lấy củi sang cấylúa trồng khoai, ngô, lạc, đậu, dưa, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải lụa Sang thế

kỷ XIII làng Nghìn có đình Trạm, Linh Ứng tự (chùa Nghìn), có Giảng võđường, có Văn học đường (sau là văn chỉ), lúc này làng Nghìn đã có 4 họ lớn.Đến thời Trần, làng Nghìn là làng La Ngạn và đã có 8 họ lớn Để ghi nhớcông ơn của vị quan họ Phạm người dân Đông Linh đã phong cho họ Phạm làmột trong “ bát thị tính tiên tổ” của làng

Thời Lê, thôn La Ngạn đổi thành xã Đông Địa Linh thuộc tổng ĐịaLinh, văn bia “Cư Nhân đình” năm Vĩnh Hựu, cống sĩ Ngụy Năng Xưởng viết

“Ngô Hưng cư Địa Linh chi đông, rãi dĩ đông chi nhất tự quán ư Địa Linh chi thượng nhi xã yên” (Nghĩa là: Làng ta ở phía đông xã Địa Linh, bèn lấy

chữ đông đặt trên chữ Địa Linh gọi là xã Đông Địa Linh vậy), [6, tr.8] ThờiNguyễn dưới triều vua Tự Đức (1868) Đông Địa Linh đổi thành Đông Linh.Trải qua nhiều biến động thăng trầm của lịch sử tên làng Đông Linh vẫn cònđược lưu giữ đến ngày nay

Dấu tích làng xưa là vùng đầm hồ, gò đống còn thấy ở tên gọi các cánhđồng chỉ có đầm và rộc: Đầm Kênh, đầm Lại, đầm Trong, đầm Cuối, cánh

Trang 16

Buồm, rộc Muội, rộc Xanh… và các gò Cái Dù, Cái Hạc, Cỗ Ngựa, MảMèn… Làng Đông Linh hiện có 594 hộ, với 2106 khẩu (2010, theo số liệuthống kê của xã An Bài) thuộc hơn chục họ khác nhau Nhưng tại đình làngchỉ lập bài vị thờ Bát thị tính tiên tổ gồm các họ Phạm, Ngụy, Đàm, Hà,Nguyễn, Vũ, Bùi, Đỗ mà xa xưa tổ tiên họ là những người mở đất lập làng.

Đông Linh nằm cạnh sông Hóa, con sông đã chứng kiến bao chiến tíchtrong lịch sử dân tộc, đặc biệt là dưới thời Trần, trong một lần Trần Hưng Đạocho đại binh vượt sông Hóa tiến về Bạch Đằng lập trận địa thủy chiến chốngquân Nguyên xâm lược Lần ấy hàng vạn tướng sĩ và dân phu chuẩn bị vượtsông thì trời mưa lớn, Trần Hưng Đạo cho dừng binh và cầu đảo, trời sángmát trở lại Ông phấn khởi đặt tên cho sông Hóa là sông Linh Giang (sônglinh thiêng) Vì vậy trong lịch sử, Đông Linh sớm trở thành một trung tâmgiao lưu, trao đổi, buôn bán giữa xứ Đông (Hải Dương) với xứ Nam (TháiBình), giữa xứ Bắc với vùng biển Các bến sông Địa Đầu, Đài Thần ở làng cólịch sử hàng ngàn năm Dân làng Đông Linh ngoài làm ruộng đã sớm biếttrồng bông, trồng dâu nuôi tằm, kéo sợi dệt vải, trồng đậu, lạc, đay, khoai,sắn… Vì vậy, từ xa xưa Đông Linh đã trở thành một vùng quê trù phú, nhândân sống no đủ, vui tươi

1.2.2 Truyền thống lịch sử

Từ xa xưa, người dân Đông Linh có truyền thống yêu nước, đánh giặcngoại xâm quyết tâm giữ làng, giữ nước Ngay từ khi lập làng, người dânĐông Linh đã phải chiến đấu chống lại các cuộc cướp phá, quấy nhiễu củabọn thổ phỉ Trong đêm trường Bắc thuộc, người dân Đông Linh cùng vớingười dân cả nước bền bỉ đấu tranh làm thất bại chính sách đồng hóa của bọnphong kiến phương Bắc đô hộ, nuôi dưỡng ý chí đấu tranh Phong trào đấutranh chống Bắc thuộc bùng nổ mạnh mẽ vào năm 40 thế kỷ thứ nhất, khi Hai

Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa đền nợ nước trả thù nhà Hưởng ứng lời kêu

Trang 17

Dũng, Đào Lược ở An Bệ đã đấu tranh lật đổ chính quyền đô hộ địa phương,sau đó kéo quân đến hợp sức với quân của Hai Bà Trưng góp phần vào thắnglợi của hai Bà Đến thế kỷ thứ VI, khi Lý Bôn dựng cờ khởi nghĩa, nhiềungười con Đông Linh đã đi theo lá cờ khởi nghĩa của ông để đấu tranh giànhlại độc lập cho đất nước.

Bước sang thời kỳ độc lập tự chủ, trong hai lần đấu tranh chống Tốngvào các năm 918 và 1076 đều có sự góp sức của cư dân Quỳnh Phụ, trong đó

có cư dân Đông Linh Trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâmlược, người dân Quỳnh Phụ trong đó có dân làng Đông Linh đã cùng với TrầnHưng Đạo và các tướng lĩnh lập doanh đồn ven sông Hóa và sông Luộc chiếnđấu chống kẻ thù xâm lược góp phần vào thắng lợi chung của cả nước tạo nênmột “hào khí Đông A” vang dội một thời

Phong trào chống giặc ngoại xâm của cư dân làng Đông Linh vang dộinhất là trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược Sự bóc lột, cướpphá, cưỡng bức cư dân làm nô lệ, đốt sách vở, tàn phá chùa chiền rất dã mancủa quân Minh khiến người dân rất căm phẫn Nên ngay từ những năm 1414,

ở Đông Linh có bảy anh em họ Phạm là Phạm Bôi, Phạm Du, Phạm Châu,Phạm Quý, Phạm Lưu, Phạm Quỳnh, Phạm Khuê đã lập căn cứ kháng Minh.Góp sức cho căn cứ kháng chiến này có tới 500 binh sĩ, lập thành sáu đồnbinh Trung đồn do Phạm Bôi làm chỉ huy Các tiểu đồn: Đường Lâu, bến ĐạiThần, bến Đó, cửa Chùa, xứ Sài do các ông Phạm Du, Phạm Châu, PhạmQuỳnh, Phạm Lưu, Phạm Khuê trấn giữ Cư dân Địa Linh đã đào hào, đắplũy, sắm khí giới phối hợp cùng nghĩa quân chiến đấu, quyết không đi phu, đilính cho giặc

Năm 1416, tại hội thề Lũng Nhai, Lê Lợi cùng 18 chí sĩ trong đó cóPhạm Bôi đã quyết tâm khởi nghĩa diệt Minh Phạm Bôi đã hợp quân củamình vào với quân của nghĩa quân Lam Sơn, tham gia nhiều trận đánh quantrọng như vây thành Nghệ An, tạo thuận lợi cho đại binh của Lê Lợi giải

Trang 18

phóng các vùng xung quanh Năm 1424, trước sức tiến công của đại binh LêLợi, quân địch phải co cụm lại ở thành Đông Quan (Hà Nội) và một số thànhnằm trên đường Hà Nội - Lạng Sơn, Phạm Bôi và Trần Lực được lệnh vâyhãm thành Khâu Ôn (Lạng Sơn) Phát hiện âm mưu của giặc vờ xin hòa đểxin viện trợ, được lệnh của Lê Lợi, Phạm Bôi đã lãnh đạo nghĩa quân củamình hạ thành Khâu Ôn giành thắng lợi.

Tháng 9/1426 Phạm Bôi và sáu anh em họ Phạm đã kéo quân về giảiphóng huyện Đa Dực, cư dân Đông Linh đã nổi dậy hưởng ứng lật đổ chínhquyền thống trị của quân Minh ở địa phương, quân địch ở đây bị đè bẹpnhanh chóng Đến cuối năm 1427, 15 vạn quân Minh do Liễu Thăng và MộcThạch chỉ huy hùng hổ vượt biên giới Lạng Sơn vào nước ta Phạm Bôi vàTrần Lực vừa đánh địch vừa rút lui gây cho địch nhiều tổn thất và khó khăn,sau đó nhử Liễu Thăng vào tận địa mai phục sẵn của quân ta ở ải Chi Lăng.Tại đây, Liễu Thăng và đội quân của y bị diệt gọn Mộc Thạch nghe tin bỏ vềnước, Vương Thông kinh hoàng phải đầu hàng

Cuộc kháng chiến chống Minh giành thắng lợi có sự góp sức khôngnhỏ của nhân dân và các tướng lĩnh người Đa Dực, trong đó có cư dân làngĐịa Linh Vua Lê Thái Tổ đã phong chức Tư mã cho Phạm Bôi, đứng thứ 27trong số 93 công thần khai quốc, Phạm Bôi được mang dòng họ vua là LêBôi Phạm Du được phong làm Tham tán quốc sư; Phạm Châu được phonglàm Thủy trào đại đốc vận; Phạm Qúy, Phạm Quỳnh làm Trung ương thiêntrưởng thiên quan tọa Bảy anh em họ Phạm về Địa Linh xóa bỏ chế độ điền

nô, cấp ruộng cho dân cày, lập ra các thái ấp Sau khi đánh đuổi giặc Minh,

Tư mã Phạm Bôi được cử làm tổng quản vệ quản Tây đạo, trực tiếp chỉ huyquân trấn Nghệ An, ông đã dẹp loạn ở phía tây Nghệ An giành thắng lợi Vuađiều ông về làm Tổng quản vệ quản Đông Đạo

Năm 1442, vua Lê Thái Tông mất, triều đình rối ren Thái tử Bang Cơ

Trang 19

náu ở Neo (Đồng Tiến, Quỳnh Phụ) Phạm Bôi và các tướng lĩnh lập lại trật tựtriều đình, đưa Bang Cơ về làm vua lấy hiệu là Lê Nhân Tông (1443-1459).Vua Lê Nhân Tông phong cho Phạm Bôi là “Nhập nội kiểm hiệu Thái Bảo”.Năm 1444, Thái bảo Phạm Bôi và Tổng quản Lê Khá đem quân đến Châu Hóađánh bại giặc Chiêm Thành Năm 1459, vua Nhân Tông bị sát hại, Phạm Bôi

và sáu anh em họ Phạm về quê Địa Linh tập hợp 800 quân sĩ kéo về ThăngLong cùng các tướng khác lập lại trật tự triều đình Các tướng Phạm Quý,Phạm Quỳnh, Phạm Khuê và con trai Phạm Bôi là Phạm Dư đã chống trả bọnphản nghịch và bị tử trận Sau khi bọn phản nghịch bị đè bẹp, hoàng tử Hạođược suy tôn lên làm vua lấy niên hiệu là Lê Thánh Tông (1460 - 1497) LêThánh Tông đã ban chức tước cho Phạm Du là Thái Bảo, Phạm Châu là Tả bộc

xạ, Phạm Lưu là Đô đài đại phu Bốn ông Phạm Quý, Phạm Quỳnh, PhạmKhuê, Phạm Dư bị tử trận được truy phong và cấp ruộng đất thế nghiệp

Đến tháng 9/1470, vua nước Chiêm Thành đánh úp Châu Hóa, sát hạidân thường dã man Vua Lê Thánh Tông giao cho Phạm Bôi giữ chức vụ “Cửbinh tiền phong”, đôn đốc, kiểm tra quân tiên phong; Phạm Châu làm Thốngđốc thủy bộ đại tướng quân; Phạm Lưu làm Điều binh lương vũ lộ Tất cảcùng hợp sức đánh Chiêm Thành giành thắng lợi Để ghi nhớ công lao củacác ông, nhân dân Địa Linh đã lập đình thờ các ông và tôn vinh Phạm Bôi làThành Hoàng làng

Sau những chiến thắng lẫy lừng đánh đuổi giặc Minh, đến đầu thế kỷXVI, triều Lê suy yếu, vua Lê sa đọa, triều đình rối ren, cục diện Nam - Bắctriều, Trịnh - Nguyễn phân tranh Không bằng lòng với sự suy thoái của chế

độ, nhiều nho sĩ ở Đông Linh đỗ đạt không chịu ra làm quan hoặc làm quanđược một thời gian thì xin từ quan về ở ẩn, sống cuộc sống thanh bạch, dạyhọc bốc thuốc cứu dân

Khi đất nước bị chia cắt, cuộc chiến giữa đàng Trong với đàng Ngoàikhiến cho dân chúng lầm than khổ cực Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân

Trang 20

đã nổ ra chống lại sự thối nát của chính quyền Lê - Trịnh, trong đó tiêu biểu làcuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu đã lôi kéo được đông đảo người dânĐông Linh tham gia Năm 1749, Nguyễn Hữu Cầu đã sát nhập với quân củaBùi Đá kéo quân về lập doanh đồn ở làng La Ngạn, được sự ủng hộ của nhândân làng Nghìn và các làng xung quanh Nguyễn Hữu Cầu đã lãnh đạo nghĩaquân đánh úp đồn binh của chúa Trịnh ở Quỳnh Côi, tấn công vào Ngự Thiênnơi có Hoàng Ngũ Phúc là tướng của chúa Trịnh, thống lĩnh kỳ binh ở đạoHải Dương Hoàng Ngũ Phúc đem quân vây đánh căn cứ La Ngạn, tàn sát vàđốt phá rất dã man gây nên sự căm phẫn trong lòng dân chúng Sự thối nátcủa triều đình vua Lê chúa Trịnh đã khiến cho cuộc sống của người dân ĐôngLinh nói riêng và nhân dân cả nước nói chung vô cùng cực khổ, họ sẵn sàngđứng lên đấu tranh chống lại sự bất công khi có cơ hội.

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, cùng với nhândân cả nước, người dân Đông Linh đã đấu tranh chống Pháp xâm lược.Nguyễn Phong Loan cùng nhiều trai tráng trong làng đã gia nhập nghĩa quâncủa Tạ Quang Hiện, đào hào đắp lũy, lập các đội dũng binh, sắm sửa vũ khíchống giặc Nguyễn Phong Loan được phong làm chánh hiệp quản chỉ huycác đội dũng binh, phong trào chống Pháp xâm lược diễn ra sôi nổi ở ĐôngLinh góp phần vào phong trào kháng Pháp trong cả nước

Bước sang đầu thế kỷ XX, các khuynh hướng cứu nước mới đượctruyền vào nước ta, các sĩ phu yêu nước ở Đông Linh đã sớm đón nhận cáckhuynh hướng ấy Đặc biệt Đông Linh tự hào là một trong hai chi bộ cộng sảnđầu tiên của huyện Quỳnh Phụ Đầu tháng 5/1930 chi bộ cộng sản Đông Linhđược thành lập với ba đảng viên: Nguyễn Duy Tâng, Nguyễn Văn Đang, VũNhượng do đồng chí Nguyễn Duy Tâng làm bí thư chi bộ Dưới sự lãnh đạocủa chi bộ cộng sản Đông Linh, nhân dân Đông Linh đã một lòng tin theoĐảng, góp sức to lớn vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm

Trang 21

xương máu của mình trên chiến trường vì nền độc lập tự do của đất nước.Đông Linh từng là hậu phương lớn trong các cuộc kháng chiến chống phongkiến phương Bắc đến đây vẫn phát huy được khả năng ấy, là địa phương luônhoàn thành tốt vai trò hậu phương của mình “ thóc không thiếu một cân, quânkhông thiếu một người” Nhân dân Đông Linh đã cùng với nhân dân cả nướclàm nên những thắng lợi to lớn, giành lại độc lập tự do cho tổ quốc.

Với truyền thống yêu nước ấy, hiện nay Đông Linh đang cùng cảnước vững bước trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,mỗi con người nơi đây đều có ý thức xây dựng quê hương mình ngày cànggiàu đẹp hơn

1.2.3 Truyền thống văn hóa

Trải qua hơn ngàn năm xây dựng, phát triển, Đông Linh có truyềnthống văn hóa sâu đậm Cũng giống như những vùng quê khác trên quê lúaThái Bình, ở Đông Linh cũng hội tụ nhiều nét đẹp văn hóa, điều này đượcthể hiện trong sinh hoạt văn hóa thường ngày và trong đời sống tâm linh của

người dân nơi đây Đông Linh tự hào là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, vùng

đất thiêng này đã sinh ra nhiều người hiền tài, có nhiều di tích, danh thắngnổi tiếng mà người xưa đã từng ca ngợi khắc chữ, sơn son thiếp vàng treo ởđình làng:

“Địa linh nhân kiệt kim nhi hậu Văn vật thanh danh cổ tự hoàn”

Đình Đông Linh đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóaquốc gia (năm 1991) Đình gồm ba tòa, trong cùng là tòa thanh Miếu (cungcấm) có một phần và bài vị thờ Phạm Bôi Tòa giữa thờ thất vị Thành hoàng.Phía trước tòa giữa ở sân là hồ vọng nguyệt, hai bên hồ là hai tòa giải vũ.Ngoài cùng là tòa đại bái 5 gian rộng rãi nơi bái vọng, nơi họp làng Bên phảiđình là một hồ nước rộng, hai bên sân là hai hàng bia đồng thời là lầu tướngcủa sân cờ, bên phải sân vẽ một bàn cờ để dân làng tổ chức đấu cờ trong các

Trang 22

ngày làng vào hội Trong đình làng còn rất nhiều đồ thờ, các bức đại tự, câuđối từ thời Lê Các câu đối, đại tự đều có tính giáo dục sâu sắc.

Trong đình thờ Thành Hoàng làng là Phạm Bôi - Công thần khai quốcthời Lê Phạm Bôi là một trong 18 người tham gia hội thề Lũng Nhai (năm1416) Trong mười năm nếm mật nằm gai cùng Lê Lợi và nghĩa quân LamSơn, ông được tham gia nhiều trận đánh góp phần vào thắng lợi chung củacuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược Khi Lê Lợi lên ngôi hoàng đế

đã ban cho Phạm Bôi tước huyện hầu và được ban quốc tính là Lê Bôi Ôngmất tại quê nhà Sau khi ông mất, dân làng Đông Linh đã tôn Phạm Bôi vàcác nghĩa sĩ đồng thời cũng là anh em của ông là Phạm Du, Phạm Châu,Phạm Lưu, Phạm Quỳnh, Phạm Qúy, Phạm Khuê làm Thành Hoàng làng Tạiđình làng còn có câu đối:

“Thiên cổ Lam Sơn lưu vĩ tích

Ức niên Đông Địa lẫm linh danh”

(Nghĩa là: Muôn thuở chiến công của các ông còn gắn mãi với Lam Sơn

Ngàn vạn năm tiếng thơm ấy vẫn để lại đất Đông Linh).Hàng năm, cứ vào các ngày 14, 15, 16 tháng hai âm lịch, dân làng lại tổchức hội làng để tưởng nhớ tới công lao của các ông Hội làng tổ chức vàotháng hai đây là lúc nông nhàn trong lao động sản xuất nên lễ hội làng đãcuốn hút được sự tham gia đông đảo của cộng đồng dân cư trong và ngoàilàng, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người dân Đông Linh.Trong hội cùng với việc tiến hành các nghi thức tế lễ thường tổ chức thêmnhiều hình thức đua tài và nhiều trò chơi, trò diễn dân gian như: đánh cờngười, bắt vịt dưới ao, chọi gà… tạo nên một không khí vừa trang nghiêm,vừa nhộn nhịp, sôi động Lễ hội đã thể hiện ý thức cộng đồng, cộng cảm, giaolưu của người dân làng Đông Linh Hội làng còn là nơi để cư dân hưởng thụvăn hóa dân gian trong đó hát chèo là một món ăn tinh thần không thể thiếu

Trang 23

“Chẳng thèm ăn chả ăn nem Thèm mo cơm tẻ thèm xem hát chèo”

Và mảnh đất Thái Bình cũng là cái nôi của nghệ thuật chèo xứ Bắc:

“Ăn no rồi lại nằm khoèo Nghe tiếng trống chèo bế bụng đi xem”.

Ngoài tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng thì đạo thờ cúng tổ tiên, ông

bà cha mẹ là tín ngưỡng lâu đời nhất và bền vững nhất của cư dân nơi đây.Nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên, các ngày giỗ, ngày rằm, mùng một hàngtháng, con cháu đều có nén hương dâng lên bàn thờ ông bà tổ tiên để tưởngnhớ những người đã khuất Đây là nét đẹp trong văn hóa tâm linh của ngườiĐông Linh nói riêng và của người dân Việt Nam nói chung

Đông Linh không chỉ là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” mà từ lâu đã nổitiếng với nhiều cảnh đẹp Làng có đình, chùa, miếu, văn chỉ hàng huyện.Những đền miếu ấy đều là những đồn lũy trong cuộc kháng chiến chống quânMinh đầu thế kỷ XV, sau dân lập miếu thờ các nghĩa sĩ Các đền miếu thờ nàyđến nay hầu như không còn nhưng chùa và đình làng thì vẫn còn Chùa ĐôngLinh có tên là “Linh ứng Tự” tương truyền được xây dựng vào thời vua LýHuệ Tông (1211 - 1224) và đã được trùng tu nhiều lần

Thời Lý, Trần có hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” (Phật giáo, Đạogiáo, Nho giáo) trong đó Phật giáo phát triển rực rỡ nhất Làng Đông Linhcũng không là một ngoại lệ Dấu tích còn lưu lại cho tới nay là ngôi chùaNghìn Trong cuộc sống thường ngày, một số người dân vẫn có tục ăn chayhoặc đi chùa thắp hương vào các ngày rằm, mùng một và các ngày lễ tết Điều

đó chứng tỏ, Phật giáo đã ăn sâu, bén rễ vào tiềm thức và đời sống tinh thầncủa người dân Đông Linh, gắn bó mật thiết với hội làng, với các hoạt động tínngưỡng tâm linh khác

Ở Đông Linh, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng tôn giáo nhiềukhi đã gắn liền, hòa nhập trong tâm linh của không ít người Họ có thể vừa

Trang 24

thờ cúng tổ tiên tại gia, vừa tham gia nghi lễ ở đình và vẫn đi thắp hương,niệm phật tại chùa Điều này thể hiện sự hướng thiện, cầu phúc, ít cuồng tíncủa người dân làng Đông Linh.

Đông Linh còn được mọi người biết đến bởi đây là một làng quê củanhững dòng họ truyền thống, ở làng có ba dòng họ lớn: Nguyễn Duy, VũNhư, Nguyễn Bá Mỗi dòng họ đều có những đóng góp nhất định cho quêhương và cũng là những dòng họ có những con người được lịch sử lưu danh.Mỗi dòng họ lại có những truyền thống và nét đẹp riêng của mình nhưng tất

cả đều là niềm tự hào của người dân nơi đây Phấn đấu để trở thành làng vănhóa và dòng họ văn hóa, gia đình văn hóa đang trở thành phong trào và làmục tiêu phấn đấu của mỗi gia đình, dòng họ

Các gia đình, dòng họ ở Đông Linh đều coi trọng nề nếp, gia phong, lấy

đó làm đạo lý để giáo dục con cái Điều này được thể hiện trong hương ước của

làng: “Những nhà có con cháu, anh em phải dạy bảo các sự tử tế không được

để hoang toàng du thử du thực Nếu để xảy ra trộm cướp thì 18 tuổi trở lên đã

có nhà nước bắt tội không kể, còn từ 18 tuổi trở xuống thì làng phạt vào bố mẹ, anh em, về tội không biết dạy bảo, để con cháu làm xằng” [13, tr 11].

Đông Linh còn là một làng khoa bảng nổi tiếng Thời phong kiến làngĐông Linh có 2 hoàng giáp, 2 tiến sĩ, 15 cử nhân, hơn 50 giám sinh, sinh đồhiếu sinh, nhất nhì trường Trong số ấy nhiều người nổi tiếng về tài đối đáp,học giỏi từ khi còn nhỏ, hoặc lúc đang đi học, như tiến sỹ Nguyễn Duy Hợp,Nguyễn Kim Phương Dân làng vẫn còn nhớ câu ca:

“Hà Nội ba sáu phố phường Không ai sánh nổi cống Phương làng Nghìn”.

Nhiều ông nghè, ông cống ở làng Đông Linh còn nổi tiếng ở chốn quantrường hoặc để lại tiếng tốt trong dân Hoàng giáp Nguyễn Doãn Khâm thi đỗ

Trang 25

khoa Giáp Tuất (1514) làm đến Tả thị lang bộ Lại, đã từng được cử đi sứ sangnhà Minh, khi về trí sĩ ông được phong Thượng thư Hoàng giáp Nguyễn DuyHòa đỗ khoa Ất Mùi (1535) làm đến Tổng binh thiêm sự, trấn thủ Cao Bằng.Nhiều người là tri phủ tri huyện ở những phủ huyện có truyền thống hiếu họcnhư: Ngụy Năng Xưởng tri huyện Từ Liêm, Nguyễn Duy Thục tri huyệnĐông Quan, Vũ Công Đường tri phủ Thiên Trường, Nguyễn Duy Tân tri phủỨng Hòa.

Từ xưa Đông Linh đã có phong trào khuyến học, những người là sinh

đồ thì được dự các kỳ tế tự ở đình làng chung, được cấp ruộng Nhiều nhà haianh em, cha con đi học, truyền thống ấy được nối tiếp đến ngày nay LàngĐông Linh hiện nay có gần hai chục người có hàm giáo sư, học vị tiến sỹ,thạc sỹ, số người có bằng cử nhân có tới vài trăm, trong đó họ Nguyễn Duy

đã có tới hơn một trăm người Nhiều gia đình có cả ba thế hệ cha con, ông cháu đều có bằng cử nhân Có những gia đình nông dân, cha, mẹ, ông, bàkhông có ai đỗ đạt nhưng lại có con cái đỗ cử nhân, tiến sĩ Đó là truyền thốngham học, hiếu học của con người nơi đây Truyền thống ấy của làng đã được

-kế thừa và phát huy, biểu hiện rõ nhất ở thành tích của trường Tiểu học vàtrường Trung học cơ sở An Bài đã trở thành trường anh hùng

Làng Đông Linh còn nổi tiếng với món bánh chưng Bánh chưng làngNghìn to, nặng tới 70kg mà ăn vẫn ngon Xưa làng có lệ thi bánh chưng vàongày Mồng 6 Tết Mỗi giáp chỉ gói một chiếc, bánh được đem tế thần ThànhHoàng làng, sau được đưa về các giáp, chia đều cho mọi người, mọi nhà Cóngười nói tục này có từ thời chống giặc Minh đầu thế kỷ XV, Phạm Bôi đãgói bánh để khao quân Có người lại nói tục này có từ thời Hùng Vương Hiệnnay chưa xác định được chính xác thời điểm xuất hiện của tục này

Trang 26

Hiện nay, những di sản văn hóa còn lưu giữ, bảo tồn được ở làng ĐôngLinh phải kể đến hệ thống bia đá Xưa các bia được đặt rải rác ở đền, miếu,

nay được quy tập về sân đình Tiêu biểu là bia “Toàn huyện duệ Tiên hiền bi ký” được khắc dựng vào năm Long Đức thứ 3 (1734) thời vua Lê Thuần

Tông Bia khắc cả hai mặt, mặt chính khắc tên, tên hiệu, quê quán, năm đỗ đạtcủa 27 đại khoa từ Tiến sĩ đến Trạng nguyên của huyện Phụ Dực Mặt sau củabia ghi tên, quê quán, học vị, chức tước của 102 cống sinh, sinh đồ, giám

sinh Ngoài ra còn có bia “Cư nhân đình bi ký” khắc năm 1737 Bia ghi lịch

sử ngôi đình, tóm tắt sự phát triển của làng qua các thời kì Phần chính của biaghi rõ: “Đặt tên đình làng là Cư Nhân để con cháu sau này tu dưỡng cái đức,biết sống ôn hòa, nhân hậu”, dần dần sẽ trở thành thuần phong mỹ tục củalàng

Để nhắc nhở đời sau phải biết giữ gìn những giá trị truyền thống do chaông để lại, tại đình làng còn đôi câu đối:

“Văn vật thịnh hưng truy vãng tiết

Tử tôn phục tủy liệu tư đình”

(Nghĩa là: Những truyền thống, những di sản văn hóa quý báu mà chaông đã dày công xây dựng, còn hay mất phát triển lên cao tầm hay không là ởcon cháu)

Truyền thống văn hóa của làng Đông Linh được thể hiện trong nhữngcâu thơ giản dị mà ngọt ngào:

“… Tháng hai nhớ cánh đồng bông Nhớ dưa chuột, nhớ bánh chưng làng Nghìn Nhớ cây đa đứng sân đình

Nhớ sân cờ tướng nổi danh kì tài Thi lợn giữa rằm tháng hai Thi gà Đồng Tuế xóm ngoài xóm trong

Trang 27

Tháng giêng mồng 6 bánh chưng Bánh to nhất nước khắp vùng đến xem Cạnh chùa văn chỉ tiên hiền

Văn từ hàng huyện liền bên cạnh đình Làng Nghìn khoa bảng đề danh

Cử nhân tiến sĩ sử xanh bia đề [hỏi ông Nguyễn Duy Trữ].

Nhân dân Đông Linh ngày nay luôn luôn ghi nhớ lời dạy của cha ông,

đã và đang phát huy để quê hương Đông Linh mãi mãi là một làng văn hiến,một điểm sáng về xây dựng làng văn hóa

1.2.4 Một số dòng họ tiêu biểu ở làng Đông Linh

Đông Linh là một làng có nhiều dòng họ giàu truyền thống Trong làng

có ba dòng họ lớn có nhiều đóng góp với quê hương, đất nước và cũng cónhững con người được lịch sử lưu danh

Họ Vũ Như: Đây là một họ được tách ra từ họ Vũ - một trong 8 họ đến

mảnh đất Đông Linh sớm nhất để khai phá đất đai và lập làng Họ Vũ Như cómặt ở đây cùng với người dân trong làng khai phá đất đai và sinh sống tại đây

đã gần 400 năm, đến nay được 16 đời, là họ lớn thứ hai trong làng có tới hơn

60 hộ với gần 200 nhân khẩu Dòng họ Vũ Như có truyền thống hiếu học, cónhiều cụ nho học vừa bốc thuốc chữa bệnh cứu dân vừa làm nghề dạy học.Tiêu biểu có: Cụ Vũ Công Đường đỗ Hương cống làm tri phủ Thiên Trường;

Cụ Vũ Năng Diễn đỗ Hương cống làm tri huyện Đường An thuộc huyện NamSách, Hải Dương ngày nay và tạo thành một chi họ Vũ Như ở đó [Theo ông

Vũ Như Thân]

Truyền thống hiếu học đó được con cháu dòng họ Vũ Như nối tiếp đếnngày nay Trong họ có nhiều người đỗ đại học, cao đẳng Ông Vũ Như Thân làthành viên của câu lạc bộ thơ Đường nhà giáo Việt Nam, ông còn dày côngnghiên cứu chữ Hán Trong nhà ông có tủ sách gồm nhiều quyển sách quý, hầu

Trang 28

hết câu đối, hoành phi, sắc phong… bằng chữ Hán trong làng đều do ông dịch.Hiện nay họ Vũ Như ở Đông Linh có ba nhà thờ là nơi thờ tự các vị tiên tổ.

Họ Nguyễn Bá: Đây là một họ được tách ra từ họ Nguyễn - một trong 8

họ đầu tiên đến Đông Linh khai phá đất đai lập làng Họ Nguyễn Bá lập nghiệpnơi đây đã gần 400 năm và đến nay đã được 15 đời, là dòng họ lớn thứ ba ởlàng Đông Linh, có hơn 30 hộ với hơn 100 nhân khẩu Đây cũng là dòng họ cótruyền thống hiếu học Trong thời phong kiến, dòng họ Nguyễn Bá có nhiềunho sĩ, nhiều người có học Đặc biệt cụ Nguyễn Bá Hành, tổ đời thứ 7 của dòng

họ đã hai lần được vua Tự Đức ban sắc phong: sắc phong Tả quân hữu nhuệ cơnhị Đội cấp bằng Đội trưởng năm 1847, sắc phong Tả quân tả nhuệ cơ cựu Độithí sai chính Đội trưởng suất đội năm 1854 Hiện nay hai sắc phong này đangđược lưu giữ và bảo tồn tại nhà trưởng họ Nguyễn Bá ở Đông Linh

Họ Nguyễn Duy: Là họ lớn nhất trong làng Ngyễn Duy cũng là một họ

tách ra từ họ Nguyễn - một trong 8 họ đầu tiên của làng Họ Nguyễn Duy sinhsống ở Đông Linh đã được gần 600 năm, từ cụ thủy tổ đầu tiên đến nay đãđược 20 đời Hiện nay dân số họ Nguyễn Duy đông nhất làng, chiếm tới hơnmột nửa dân số của làng Nguyễn Duy cũng là họ có truyền thống hiếu học vàphong trào học tập sôi nổi nhất trong làng Trong thời đại phong kiến, họNguyễn Duy có nhiều người đỗ đại khoa, làm đến những chức vụ cao trong

xã hội, có uy tín trong nhân dân Ngày nay, con cháu dòng họ Nguyễn Duycũng có nhiều người đỗ đạt, phát triển và sinh sống trên mọi miền của tổquốc Trong nội dung chương 2, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về những đónggóp của dòng họ Nguyễn Duy đối với làng Đông Linh nói riêng và quê hươngThái Bình nói chung

Tiểu kết chương 1

Trang 29

Đông Linh là một vùng đất nghèo tài nguyên thiên nhiên, chỉ có đấtnông nghiệp là phương thức sản xuất chính Con người nơi đây đã phải vất vảcho cuộc mưu sinh, chính vì thế đã hun đúc nên đức tính cần cù, tiết kiệm,sáng tạo trong lao động sản xuất.

Mảnh đất Đông Linh với bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa Cácgiá trị văn hóa vật chất và tinh thần luôn được người dân Đông Linh giữ gìn,

kế thừa và phát huy Trong đó, truyền thống hiếu học đã được con ngườiĐông Linh phát huy qua các thế hệ giúp cho làng trở thành một làng khoabảng nổi tiếng, một vùng đất “địa linh nhân kiệt”

Chương 2 NGUYỄN DUY - DÒNG HỌ VĂN HIẾN CỦA QUÊ HƯƠNG ĐÔNG LINH (AN BÀI, QUỲNH PHỤ, THÁI BÌNH)

sơ qua về nguồn gốc dòng họ Nguyễn Duy

Tục truyền rằng từ thời nào không rõ, có tám người không rõ từ đâuđến vùng đất làng Đông Linh để khai hoang lập ấp Tám người đó là tám ông

tổ của tám họ - “Bát thị tính tiên tổ”, bao gồm các họ: Phạm, Ngụy, Đàm, Hà,

Nguyễn, Vũ, Bùi, Đỗ Từ tám ông tổ ấy mà con cháu ngày càng đông đúc Vàcũng không biết từ khi nào họ Nguyễn Duy tách ra từ họ Nguyễn để trở thànhmột họ riêng

Theo gia phả họ Nguyễn Duy do Nguyễn Duy Hợp (cháu đời thứ bảy)phụng soạn những năm 1800 còn để lại đến nay thì biết rằng: Cách đây hơnmột ngàn năm, nhân dân miền trung du xuống bờ biển khai phá đất trồng trọt,

Trang 30

tổ tiên ta là một trong số ít người đầu tiên đến định cư xây dựng nên quêhương xứ sở này Tiên tổ vốn là người cần cù lao động, giàu lòng mến khách,cưu mang đùm bọc những người khó khăn hoạn nạn Nhờ lòng nhân từ bác ái

đó nên được một thầy địa lý người Tàu trả ơn bằng cách tặng cho họ nhà mộtngôi đất ở bụng voi xứ Mã Cả Ngôi đất đó có hai huyệt, một huyệt chính mộthuyệt phụ, hai đầu to giữa nhỏ như hình cái chày Khi qua đời, cụ tổ đã dặncon cháu an táng vào ngôi đất đó Ngôi mộ đất phát tích đó không biết an táng

từ bao giờ nhưng đến nay vẫn được con cháu hương khói chăm sóc

Cách vài năm sau, thầy địa lý người Tàu lại đến cắm hướng cho mộtngôi nhà thờ Trước nhà thờ có hai cây bút kinh thiên Nhờ có dương khí, âmkhí hào hùng của ngôi nhà thờ và của ngôi đất phát tích ấy mà từ đó sinh concháu nhiều người hiển đạt, học rộng tài cao, làm quan rường cột trong triềuđình, ở quê nhà cũng giàu sang phú quý, già trẻ gái trai cùng tiến bộ, là một

họ lớn có tiếng ở phủ Thái Bình Những đời trước, tên húy, tên hiệu tiên tổđều có gia phả ghi chép đầy đủ Nhưng đến triều Lê Ý Tông niên hiệu VĩnhHựu, chế độ Lê - Trịnh suy đồi, chính trị trái ngược, thuế khóa nặng nề, thiêntai địch họa liên tiếp xảy ra, lòng dân li tán, nghĩa quân nông dân nổi dậykhắp nơi, trong đó có nghĩa quân của Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751) ở căn cứChí Linh tiến xuống giải phóng Sơn Nam Các cuộc giao chiến diễn ra liênmiên, khói lửa ngập trời, gia phả của dòng họ bị cháy Từ đó chiến tranh kéodài, ngày tháng trôi qua không ai hiểu biết sưu tầm ghi chép lại được

Hơn năm mươi năm sau, tiến sĩ Nguyễn Duy Hợp từ quan về quê ở ẩn,sau đó mười năm mới sưu tầm trong sổ sách cũ còn sót lại, trên bia đá, trong

sử sách triều Lê để biên soạn lại gia phả Vì thế gia phả dòng họ Nguyễn Duychỉ ghi chép được chi thứ của dòng đức thủy tổ Hoàng giáp Nguyễn DuyThuần và lấy thủy tổ Nguyễn Duy Thuần là đời thứ nhất

Như vậy, họ Nguyễn Duy lấy tổ Nguyễn Duy Thuần làm thủy tổ đời

Trang 31

cháu họ Nguyễn Duy dù sinh sống, lập nghiệp ở đâu nhưng cũng đều khôngthể quên được nơi sinh ra tổ tiên mình Đó chính là làng Đông Linh.

Tổ đời thứ nhất: Tên húy là Duy Thuần, sau đổi thành Duy Hòa Cụ

sinh năm 1496, sau khi trấn thủ Cao Bằng 13 năm, cụ xin trí sĩ về quê Cụ mấtngày 30/7 (âm lịch) năm Ất Hợi, được táng tại xứ Đồng Rưa phía Bắc làngĐông Linh

Tổ đời thứ hai: Tên húy là Trạch Cụ học rộng ra làm quan triều Mạc

đến chức án trấn xứ Sơn Nam Cụ kết hôn với hai bà, bà cả hiệu Từ Mĩ mấtngày 20 tháng giêng, bà kế hiệu Từ Huệ mất ngày 10 tháng chín Thi hài ba

cụ đều được táng tại xứ Mã Cả làng Đông Linh

Tổ đời thứ ba: Tên húy là Hộ (tức Thọ), xuất thân trong gia đình nhà

nho, học rộng tài cao nhưng không đi thi Cụ mất ngày 15/5/1628, thi hàiđược táng tại xứ Mã Cả

Từ đó đến nay các thế hệ kế tiếp luôn có ý thức ghi chép, giữ gìn và bổsung gia phả

Ngày nay, con cháu họ Nguyễn Duy không chỉ sinh sống trên đất ĐôngLinh ngày càng đông đúc mà còn phát triển, lập nghiệp ở nhiều nơi trong vàngoài nước

2.2 Sự phát triển của dòng họ

Nguyễn Duy trở thành họ lớn nhất ở làng Đông Linh, đó là kết quả củahàng trăm năm dòng họ không ngừng được giữ gìn, vun đắp và phát triển

Đời thứ nhất: Thủy tổ Duy Thuần sau khi thi đỗ ông ra làm quan triều

Mạc, giữ chức Cao Bằng Sứ đô tổng binh khuông mỹ doãn tán trị đại phu.Ông kết hôn với bà họ Nghiêm quê xã Tây Mỗ huyện Từ Liêm, sinh được bangười con trai Con trai thứ nhất cụ đặt tên là Duy Riễn, con trai thứ hai vàthứ ba là hai cụ song sinh Duy Tân và Duy Trạch

Trang 32

Đời thứ hai: Tổ Duy Riễn sinh năm Kỷ Mão (1519), cụ thi hương đỗ

giải nguyên năm Qúy Mão (1543) Năm 1546, cụ đưa mẹ và hai em lên CaoBằng quần tụ gia đình và ra làm quan cùng cha trấn thủ Cao Bằng giữ chứcphó tướng Cụ hi sinh trong khi chiến đấu bảo vệ thủ phủ Cao Bằng lúc vợđang có mang Khi bố chồng cùng các em về quê thì bà Riễn đã xin ở lại đểhương khói cho mẹ chồng và chồng Đến đầu năm Tân Hợi, bà Riễn sinh contrai Như vậy, chi cả của đời thứ hai dòng họ Nguyễn Duy đã ở lại Cao Bằng,con cháu ngày càng đông, văn hào cũng nhiều và vẫn phát huy được truyềnthống văn hiến, hiếu học của cha ông

Nhớ lời dặn của tiên tổ, con cháu ở Cao Bằng nhiều lần tìm về quê chađất tổ nhưng do đường sá xa xôi, núi rừng hiểm trở loạn lạc liên tiếp, đi lạikhó khăn nên đã bị phiêu dạt dọc đường, dần dần sinh con đẻ cháu thành từngnhánh nhỏ ở nhiều nơi như ở: Quỳnh Côi, Thụy Anh, Kiến Thụy (Thái Bình),

Hà Nam, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn… Duy có một bộ phận tìm vềđược đến Phụ Dực nhưng không tìm thấy quê gốc tiên tổ đã phiêu dạt về làngSài (xã An Qúy, Quỳnh Phụ) và hình thành một nhánh của chi cả sinh sôi pháttriển ở đây Chi cả đến nay đã được 21 đời với nhiều ngành, nhánh khác nhau

Tổ Duy Tân sinh năm 1525, sau khi theo cha về quê thì được cử lên

làm trưởng Theo gia phả dòng họ Nguyễn Duy “kim truyền trưởng thứ nhị chi”, con trai thứ được cử lên làm trưởng có trách nhiệm phụng dưỡng cha

mẹ và hương khói, thờ cúng tổ tiên Do hoàn cảnh lịch sử, đến nay quá trìnhphát triển của chi trưởng không biết được một cách chi tiết Qua cây phả hệcủa chi trưởng được lập một cách sơ sài ta chỉ có thể biết rằng chi trưởng đếnnay đã được 16 đời với nhiều ngành, nhánh khác nhau, con cháu đông đúc

Tổ Duy Trạch là em song sinh với cụ Duy Tân Qua ba đời chỉ có độcđinh thuộc thế hệ thứ hai, ba và bốn Đến nay chi thứ đã được 17 đời, cũng cónhiều ngành, nhánh lớn bé khác nhau Đặc biệt chi thứ phát triển mạnh không

Trang 33

vấn, nhiều người giữ chức vụ quan trọng trong triều đình phong kiến xưa vàtrong xã hội nay Con cháu đã nối tiếp truyền thống hiếu học của cha ông làmrạng danh tổ tiên, dòng họ.

Trải qua gần 600 năm phát triển hiện nay con cháu họ Nguyễn Duysinh sống trên nhiều tỉnh thành trong cả nước như: Hải Phòng, Hà Nội, TháiNguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Nam, Bắc Ninh… và nhiều người sinhsống ở nước ngoài như Đức, Mỹ… với hàng nghìn nhân khẩu và trở thànhmột họ lớn của cả nước Tuy lập nghiệp và sinh sống ở nhiều nơi khác nhaunhưng họ luôn nhớ về làng quê Đông Linh với một niềm kính trọng

Trang 34

Trên đây là cây phả hệ thể hiện sự phát triển của dòng họ Nguyễn Duythuộc chi thứ ngành trưởng, do ông Nguyễn Duy Trữ lập năm 1996.

Trang 35

Hiện nay, làng Đông Linh là nơi thờ phụng thủy tổ đời thứ nhất, tổ củachi trưởng và chi thứ dòng họ Nguyễn Duy Còn chi cả thì được thờ phụngtrên Cao Bằng.

2.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa, giáo dục

2.3.1 Truyền thống khoa bảng

Dòng họ Nguyễn Duy là dòng họ nổi tiếng về khoa bảng, là dòng họ cótruyền thống hiếu học Từ xa xưa dòng họ đã có nhiều bậc hiền tài, đỗ đạtcao, giữ các chức vụ cao trong triều đình phong kiến, làm rạng danh cho dòng

họ Tiêu biểu như:

- Nguyễn Duy Hòa:

Nguyễn Duy Hòa còn có tên Nguyễn Di Lượng hay Duy Thuần Hiệu

là Ngạn Khê tiên sinh Cụ sinh năm Bính Thìn triều Lê Thánh Tông niên hiệuHồng Đức thứ 27 (1496) Sinh ra trong gia đình nho giáo cụ rất chăm chỉ họchành, làm bạn với Nguyễn Bỉnh Khiêm, cụ đã theo học nhiều thầy trong đó cóLương Đắc Bằng - một quan văn danh tiếng triều Lê Sau nhiều năm đènsách, cụ không những lỗi lạc văn chương mà còn tinh thông kinh sử, lý số

Sinh ra và lớn lên dưới triều Lê suy tàn, các quyền thần chém giết lẫnnhau, các phe phái xung đột, cát cứ từng vùng, thiên tai địch họa liên tiếp,nhân dân đói khổ, giặc cướp quấy nhiễu nhiều nơi Cụ đã cùng cụ NguyễnBỉnh Khiêm nhiều năm suy ngẫm, nhiều đêm trăn trở, nhiều lần bàn định vấn

đề khoa cử nhưng đều do dự nên đã bỏ lỡ nhiều khoa thi của triều Lê, haikhoa thi của triều Mạc Cuối cùng cụ chọn khoa thi năm Ất Mùi (1535) đi thi

và cụ đỗ Hoàng giáp: “Bọn Nguyễn Di Lượng 7 người đỗ tiến sĩ xuất thân”[4, tr.598] cụ đứng thứ tư trên bảng vàng Hơn hai năm sau cụ được Nguyễn

Bỉnh Khiêm tiến cử, vua Mạc tin dùng vời ra làm quan, bao phong trọng trách

cử lên trấn thủ Cao Bằng với mục đích vỗ về dân chúng, xây dựng bảo vệ căn

cứ, bảo vệ biên cương tổ quốc Cụ được phong chức “đô tổng binh xứ,khuông mỹ doãn tán trị đại phu”

Trang 36

Khi được vời ra làm quan, vua Mạc đã ưu đãi cụ cho xây dựng một ngôinhà cột bằng gỗ thông, lợp rạ để thờ phụng tổ tiên Khi vua Mạc tiễn cụ lên Cao

Bằng đã có thơ rằng: “vạn lý dư đồ nãi nhất khanh” (nghĩa là: đường xa ngoài

vạn dặm nhờ cậy có khanh) Cụ giúp triều Mạc trấn thủ Cao Bằng 13 năm (1538

- 1550) Trong 13 năm đó, cụ đã thi hành nhiều chính sách sáng suốt, nhân đạo,nhìn xa trông rộng như: Cho dựng các mốc cố định ở biên giới Việt - Trung; Didân miền xuôi lên để phát triển dân số ở Cao Bằng; Mở rộng giao thông làngbản, mở mang kinh tế văn hóa, nâng cao đời sống và thuần phong mỹ tục chocác dân tộc ở Cao Bằng, làm cho nhân dân Cao Bằng ngày một đông đúc, cácdân tộc đoàn kết yêu thương nhau, kinh tế ổn định, văn hóa tiến bộ, đời sốngđầm ấm, yên vui Cụ được đồng bào các dân tộc quý mến tin yêu

- Nguyễn Duy Hợp:

Nguyễn Duy Hợp hiệu là Đông nhạc tiên sinh Ông sinh năm Ất Sửu(1745) triều Lê Cảnh Hưng thứ 6 Sinh ra trong một gia đình nhà nho cótruyền thống hiếu học và nhiều người đỗ đạt nên đã ảnh hưởng rất lớn tới conngười Nguyễn Duy Hợp Lúc nhỏ ông là người khôi ngô tuấn tú, có thiên tínhthông minh lại ham học hỏi, khi mới bảy tuổi, gặp năm gia đình bị nạn, ông

Đồ Cư (cha Nguyễn Duy Hợp) cùng con phải lưu lạc tới một vùng quê ởThụy Anh (Thái Bình) dạy học Một lần, thấy một đám cúng tế linh đình, hỏithăm được biết một bà quả phụ lập đàn tế lễ trả nghĩa cho chồng để đi bướcnữa Các chức sắc trong làng đã đến viết giúp bài văn tế nhưng chưa nghĩ ranhững lời hay ý đẹp Chủ nhà nghe tin có thầy đồ đi qua bèn mời vào viếtgiúp Cụ Đồ Cư xin phép cho con chấp bút Cậu bé Duy Hợp suy nghĩ một látliền cầm bút viết:

“Trước cùng chung chăn gối Nay kẻ mất người còn

Thương xót lập đàn cúng tế trả nghĩa cũ

Trang 37

Mọi người nghe xong đều tấm tắc khen và lấy làm lạ Ông được chatrực tiếp dạy dỗ, đến khi 15 tuổi thì ông được cha gửi đi học trọ nhiều thầynổi tiếng như: Cấp sự trung Phạm tiên sinh, Viên ngoại lang quốc công Lạitiên sinh, quan đại học sĩ họ Nguyễn, quan đại học sĩ họ Lê Được sự giúp đỡcủa các thầy cùng với ý chí miệt mài kinh sử nên ông học giỏi nổi tiếng NămCảnh Hưng thứ 26, ông thi Hương và đỗ Hương cống Do hoàn cảnh gia đìnhnên ông không dự kỳ thi Hội ngay được Phải đến năm 1772 triều Lê CảnhHưng thứ 33 ông mới dự kỳ thi Hội Lúc đó ông 28 tuổi, và đỗ Tam giáp đồngtiến sĩ xuất thân Sau khi thi đỗ ông được triều đình cấp áo, mũ, võng lọng vềvinh quy bái tổ Ông được vua Lê Hiển Tông vời ra làm quan và bổ nhiệmchức Đông các hiệu vị Vài năm sau ông được thăng chức Tả tham chính sựkiêm nhập thị bồi tụng, sau đó ông lại giữ chức Công bộ hữu thị lang và đượcphong chức Đông nhạc hầu đứng hàng nhị phẩm triều đình và được cử chínhtrấn thủ xứ Sơn Nam.

Đất nước nội chiến kéo dài ông xin cáo quan về quê ở ẩn Theo lễ giáophong kiến “tôi trung không thờ hai chúa” nên khi vua Quang Trung lên ngôivời ông ra làm quan, ông một mực từ chối mặc dù vậy ông vẫn được triềuNguyễn Tây Sơn kính trọng cho thu tô ba huyện là: Quỳnh Côi, Tứ Kỳ, VĩnhLại (Vĩnh Bảo) làm bổng lộc, nhưng ông đã miễn thu tô cho nhân dân ba huyện

đó Ông sống cuộc sống thanh bạch trong suốt 14 năm triều Nguyễn Tây Sơn

Đến triều Nguyễn, Gia Long nhiều lần ra chiếu dụ vời ông ra làm quan,ông nhất định từ chối lấy lý do tuổi già, mặc dù vậy vua Gia Long vẫn sắcphong ông chức Học sĩ sau đổi thành Kinh Bắc đạo thị trung trực Học sĩ nhưngông vẫn từ chối không ra làm quan Sau gần năm năm ông lại được giao chứcĐốc học Quảng Nam Dù được giao nhiều trọng trách nhưng ông vẫn một mực

từ chối, vẫn giữ kiên định giáo lý Nho giáo “tôi trung không thờ hai chúa”.Lòng trung thành của ông với nhà Lê đã khiến cho vua Nguyễn cảm động nên

Trang 38

cuối cùng Gia Long đành cho ông về quê trí sĩ mở trường dạy học Ngày naycon cháu đang phấn đấu để nối tiếp truyền thống đó của cha ông.

2.3.2 Truyền thống yêu nước, thương dân

Nguyễn Duy là dòng họ có truyền thống yêu nước, thương dân, được

mở đầu bằng cụ thủy tổ Nguyễn Duy Hòa Sau khi đỗ Hoàng giáp, ông đượcvời ra làm quan với nhà Mạc Là người thông minh, có đầu óc sâu rộng, cólòng nhân từ bác ái, cộng với lòng thanh bạch liêm chính, lòng chung thủy vớidân với nước Ông chán ghét cảnh đất nước bị chia cắt, chiến tranh loạn lạc,nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn, khiến cho đời sống của nhân dân vô cùngcực khổ lầm than Điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng tình cảm củaông Ông thể hiện lòng yêu nước của mình bằng cách làm tốt trọng trách đượcgiao Do đó, trong 13 năm giúp vua Mạc trấn thủ Cao Bằng, ông không nhữnglàm tốt bổn phận trấn thủ biên giới Việt - Trung bằng cách cho xây dựngnhiều cột mốc cố định biên giới Việt - Trung, mà còn giúp phát triển vùng đấtnày Để làm được điều đó ông đã cho di dân từ miền xuôi lên để phát triểndân số Cao Bằng, mở rộng giao thông làng bản, mở mang văn hóa cho đồngbào các dân tộc, giữ vững thuần phong mỹ tục Do đó đời sống của đồng bàongày càng được nâng cao, kinh tế ổn định, văn hóa tiến bộ, đời sống đầm ấmyên vui, các dân tộc đoàn kết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau Ông được đồngbào các dân tộc kính trọng tin yêu, quý mến

Nguyễn Duy Hợp cũng là một người yêu nước, thương dân hết mực.Sau khi thi đỗ, ông ra làm quan với triều Lê đến chức Công bộ Hữu thị Lang

và được phong tước Đông nhạc hầu đứng hàng nhị phẩm triều đình Ôngđược cử ra chính trấn thủ xứ Sơn Nam, lúc đầu đóng ở thủ phủ trấn Sơn Namthượng là Phố Hiến, sau chuyển về Vị Hoàng đóng bên bờ sông Vị (thuộcthành phố Nam Định ngày nay)

Trấn Sơn Nam là hành lang trọng yếu của thủ đô Thăng Long, điều đóchứng tỏ Nguyễn Duy Hợp là người được vua Lê rất trọng dụng và giao cho

Trang 39

nhưng ông cũng nhận rõ được sự suy thoái cực độ của triều đình Lê mạt, cácphe phái ham danh trục lợi, vua kém tôi hèn, không thể nào cứu vãn được,lòng dân ly tán Nên ngày 5/7/1786, nghĩa quân Tây Sơn ra gần tới Bắc Hà,ông đã rút quân khỏi Vị Hoàng về án binh bất động tại Bái Bồ trang thuộchuyện Quỳnh Côi và Hạ Hồng thuộc huyện Ninh Giang nằm trên bờ sôngLuộc để bảo toàn lực lượng Vì vậy mà ngày 11/7/1786, nghĩa quân Tây Sơnvào Vị Hoàng không đổ máu Ngày 21/7/1786, đại quân Tây Sơn tiến ra giảiphóng Thăng Long Sau khi đè bẹp được ngôi Chúa của tập đoàn họ Trịnh,ngày 31/7/1786, Nguyễn Huệ mời các quan văn võ nhà Lê về Thăng Longchào mừng Lê Hiển Tông trở lại nhận chức vụ cũ Người được giữ chức vụĐồng xu mật viện Sau khi Chúa Trịnh bị lật đổ, cụ Nguyễn Duy Hợp thựclòng muốn khôi phục lại nhà Lê nên khi Lê Chiêu Thống về thành, ông cũngtheo về Nhưng khi bè phái họ Trịnh trở lại và vua Lê Chiêu Thống sang cầuviện nhà Thanh, ông nhìn rõ thời vận nhà Lê đã hết không thể tiếp tục tôn phòđược nữa Nên đầu tháng 10/1787, ông đã treo ấn từ quan, thay đổi họ tên vềquê ở ẩn, một lòng trung thành với nhà Lê và không chịu ra làm quan với cácvương triều khác.

Ông còn có lòng yêu thương nhân dân hết mực Tấm lòng ấy chính làkết quả của quá trình được giáo dục trong một gia đình giàu truyền thống Nhohọc Sau khi thi đỗ, ông được triều đình cấp cho hai mẫu điền thổ cắm lăng vàlàm cho ba gian nhà thờ làm bằng gỗ dừa chạm long vân Gặp năm thiên taiđói kém, không có tiền thóc cứu tế cho dân, ông đã cho bán ngôi nhà đi để lấytiền giúp nhân dân cứu đói Nhiều nơi đến thăm nhưng đều chê không mua vìlàm đình thì quá nhỏ, làm nhà thì phạm luật quốc cấm, cuối cùng ông đànhphải bán cho ngư dân Diêm Điền bổ củi hun thuyền Khi bổ củi ông dặn để lạimột mảnh gỗ chạm long vân làm kỷ vật lưu niệm cho con cháu các thế hệ đờisau, nhưng do bảo quản không tốt mảnh gỗ đó đã bị hư mục, thất lạc

Khi Nguyễn Huệ lên làm vua, do kính trọng ông nên đã cho ông thu tô

ba huyện là Quỳnh Côi, Vĩnh Lạc, Tứ Kỳ làm bổng lộc nhưng ông đã miễn

Trang 40

thuế cho nông dân ba huyện này, giúp cho đời sống của nông dân ở ba huyệnnày có phần sung túc hơn.

Cuộc đời Nguyễn Duy Hợp tuy giữ nhiều chức vụ quan trọng trongtriều đình vào hàng rường cột Nhưng với tấm lòng yêu nước thương dân,sống cuộc sống thanh bạch, liêm chính nên đến cuối đời ông vẫn sống mộtcuộc sống hàn vi, trong sạch, ông mở trường dạy học làm kế sinh nhai Concháu đời sau đã ca ngợi ông:

“…Ơn cao như núi Thái Sơn Nghĩa rộng như nước về nguồn biển Đông

Đương thời chí khí hào hùng Tận trung với nước, hết lòng vì dân Trọn đời “liêm, chính, kiệm, cần”

Gian nan, nhưng lòng một phân chẳng dời Dọc ngang, ngang dọc một thời Anh minh để tiếng muôn đời mai sau” [6, tr.30]

Khi Tôn Thất Thuyết thay mặt vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương, PhụDực là một trong những huyện có phong trào Cần Vương sôi nổi, dòng họNgyễn Duy có gần mười người tham gia mộ binh ứng nghĩa, tấn công chiếmphủ lỵ Thái Bình, bị phục kích ở chợ Trực Nội (Đồng Xuân nay) Nhiềungười bị bắt, lưu đày, hay thương vong, tử trận, tên tuổi còn lưu trong tộc phả,tinh thần khí khái bình Tây

Đến những năm 1928 - 1930, dòng họ Nguyễn Duy có ông NguyễnDuy Tâng được giác ngộ cách mạng, tham gia và trở thành yếu nhân của tổchức Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ở Phụ Dực Tháng 5/1930, chi

bộ cộng sản Phụ Dực được thành lập do đồng chí Nguyễn Duy Tâng làm bíthư Ông là người đầu tiên đưa phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo vềlàng, về xã Do đó làng Đông Linh được coi là cái nôi của cách mạng Khinông hội đỏ ra đời, dòng họ Nguyễn Duy có 13 người tham gia, trong đó có

Ngày đăng: 18/12/2013, 12:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành đảng bộ Thái Bình (1999), Lịch sử Đảng bộ Thái Bình (1927 - 1954), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Thái Bình (1927 - 1954)
Tác giả: Ban chấp hành đảng bộ Thái Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Quỳnh Phụ (2004), Lịch sử Đảng bộ huyện Quỳnh Phụ (1927 - 1954), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Quỳnh Phụ (1927 - 1954)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Quỳnh Phụ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
3. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình (1984), Người dân Thái Bình trong lịch sử, Hội thảo khoa học, Nxb Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người dân Thái Bình trong lịch sử
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình
Nhà XB: Nxb Thái Bình
Năm: 1984
4. Đại việt sử ký toàn thư (1993), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại việt sử ký toàn thư
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
6. Gia phả dòng họ Nguyễn Duy (1979), bản đánh máy, lưu tại nhà thờ chi thứ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả dòng họ Nguyễn Duy
Tác giả: Gia phả dòng họ Nguyễn Duy
Năm: 1979
7. Gia phả dòng họ Vũ Đình, bản viết tay, lưu tại nhà ông Vũ Đình Tui Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả dòng họ Vũ Đình
8. Nhiều tác giả (2005), Làng Việt Nam nổi tiếng, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam nổi tiếng
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
9. Nhiều tác giả (1981), Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1981
10. Nguyễn Đức Thiềm (2000), Góp phần tìm hiểu bản sắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu bản sắc kiến trúc truyền thống Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Thiềm
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2000
11. Phan Chí Thành (2003), Thực chất của kết cấu dòng họ người Việt trong đời sống làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ, Tạp chí Dân tộc học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực chất của kết cấu dòng họ người Việt trong đời sống làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Phan Chí Thành
Năm: 2003
12. Trần Hồng Đức (2002), Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam
Tác giả: Trần Hồng Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
13. Thư viện tỉnh Thái Bình, (1992), Hương ước làng Đông Linh, bản chép tay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước làng Đông Linh
Tác giả: Thư viện tỉnh Thái Bình
Năm: 1992
15. Phạm Hóa (1989), Trạng nghè ở Thái Bình, Sở VHTT Thái Bình xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trạng nghè ở Thái Bình
Tác giả: Phạm Hóa
Năm: 1989
16. Phạm Minh Đức - Bùi Duy Lan (2003), Đất và người Thái Bình, Nxb Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử - văn hóa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và người Thái Bình
Tác giả: Phạm Minh Đức - Bùi Duy Lan
Nhà XB: Nxb Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử - văn hóa Việt Nam
Năm: 2003
17. Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn (1997), Khởi nghĩa Lam Sơn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi nghĩa Lam Sơn
Tác giả: Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
18. Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Bình (1990), Ngàn năm đất và người Thái Bình, Công trình chào mừng kỷ niệm 100 năm thành lập tỉnh, Nxb Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngàn năm đất và người Thái Bình
Tác giả: Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Bình
Nhà XB: Nxb Thái Bình
Năm: 1990
19. Vân Hạnh (2009), Văn hóa dòng họ, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dòng họ
Tác giả: Vân Hạnh
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2009
20. Văn hóa dòng họ ở Thái Bình (1999), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Sở VHTT Thái Bình và viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dòng họ ở Thái Bình (
Tác giả: Văn hóa dòng họ ở Thái Bình
Năm: 1999
14. Trương Hữu Quýnh (2001), Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

14 Bảng học vị 1 cỏi Gỗ Mới - Góp phần tìm hiểu về dòng họ nguyễn duy ở làng đông linh ( xã an bài, huyện quỳnh phụ, tỉnh thái bình ) luận văn tốt nghiệp đại học
14 Bảng học vị 1 cỏi Gỗ Mới (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w