1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời

130 2K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời
Tác giả Phan Thúy Trang
Người hướng dẫn TS. Trần Viết Quang
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 14,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ởtrường học, với bệnh chạy theo thành tích, với cách làm việc theo rập khuôn, lốimòn hoặc ngại thêm việc vì đã có quá nhiều phong trào của ngành giáo dục, củacác ban ngành, đoàn thể khác

Trang 1

PHAN THÚY TRANG

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

TIẾT HỌC NGOÀI TRỜI

Phường 10, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

TP HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 2

PHAN THÚY TRANG

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

TIẾT HỌC NGOÀI TRỜI (Qua khảo sát tại Trường Tiểu học Kim Đồng, Phường 10, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh)

Chuyên ngành: LL & PPDH BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Mã số : 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VIẾT QUANG

TP HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 3

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng khoa học, quý thầy côthuộc khoa Giáo dục Chính trị, khoa Sau Đại học trường Đại học Vinh, TrườngĐại học Sài Gòn, cùng quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốtquá trình học tập!

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP HồChí Minh; Ủy ban Nhân dân, Ban Lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo Quận

Gò Vấp; Hội đồng sư phạm Trường Tiểu học Kim Đồng, Phường 10, Quận GòVấp, TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi đểtôi hoàn thành khóa học cũng như trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn này!

Đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sâu sắc đến Thầy,TS.Trần Viết Quang Giảng viên, Phó chủ nhiệm khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh đã rấttận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn khoa học! Trân trọng!

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 07 năm 2012

Tác giả

Trang 4

A MỞ ĐẦU .1

B NỘI DUNG .8

Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua tiết học ngoài trời ……… 8

1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu .8

1.2 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một nhiệm vụ cơ bản của các trường tiểu học 16

1.3 Vai trò của việc tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 46

Kết luận chương 1 52

Chương 2: Nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trường Tiểu học Kim Đồng, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp 55

2.1 Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tiết học ngoài trời ở Trường Tiểu học Kim Đồng, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh 55

2.2 Quan điểm về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 90

2.3 Một số giải pháp tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trường Tiểu học Kim Đồng, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh 94

Kết luận chương 2 101

C KẾT LUẬN 104

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 108

E PHỤ LỤC ……… 111

Trang 5

BGDĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo

GVCN : Giáo viên chủ nhiệm

HĐH : Hiện đại hóa

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển theo hướng hội nhập toàn cầu nên ngày càngđặt ra nhiều yêu cầu bức thiết mang tính tất yếu cho ngành Giáo dục và Đào tạonhững nhiệm vụ trọng trách không chỉ một bậc học, ngành học thực hiện được

mà cần phải thực hiện đồng bộ từ các cấp học, bậc học

Bậc Tiểu học là một trong những bậc học phổ thông quan trọng, góp phầntạo nền tảng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người, thực hiện mụctiêu giáo dục toàn diện Từ những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của bậc học, SởGiáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Giáo dục và Đào tạo quận

Gò Vấp đã đề ra nhiều giải pháp thực hiện nhiệm vụ phù hợp với thực tế địaphương Một trong những nhiệm vụ rất quan trọng, gắn liền với quá trình đổimới trong nhà trường hiện nay là giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, khi phần lớn mỗi gia đình có 1 đến 2con, tâm lý sợ con đau, con khổ, không muốn con cái tham gia vào các hoạtđộng nào khác ngoài học trên lớp là tâm lý của đại đa số của các bậc cha mẹ Ởtrường học, với bệnh chạy theo thành tích, với cách làm việc theo rập khuôn, lốimòn hoặc ngại thêm việc vì đã có quá nhiều phong trào của ngành giáo dục, củacác ban ngành, đoàn thể khác đưa xuống trường phải tham gia không hết việcnên không còn thời gian nghĩ đến việc tổ chức các hoạt động phải bỏ ra nhiềucông sức, mà chỉ quan tâm nhiều đến việc nhồi nhét kiến thức cho học sinh, điềunày cũng thỏa mãn tâm lý của đại đa số phụ huynh, lại tránh được những rườm

rà, kiện cáo của phụ huynh khi sợ tốn kém, sợ ảnh hưởng đến chất lượng học tậpcủa con cháu

Chính những tư tưởng trên dần làm cho thế hệ trẻ hiện nay phần đông trởthành những người ỷ lại, muốn người khác phục vụ cho mình mà không nghĩ

Trang 8

đến trách nhiệm của mình đối với người khác Thậm chí có những em gái khôngbiết rửa chén, hay có những em trai không chịu mang chén dĩa vừa ăn xongxuống bồn rửa chén Vì thế, khi học sinh ở lứa tuổi này gặp phải một vấn đềkhó khăn thử thách trong cuộc sống, các em rất lúng túng trong việc tự tìmhướng giải quyết, bế tắc và thiếu trách nhiệm với bản thân dẫn đến những quyếtđịnh sai lầm gây hậu quả đáng tiếc

Có nhiều hình thức tổ chức giáo dục, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

và một trong những hình thức rất thiết thực, hiệu quả mà một số trường tiểu học

ở Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện trong thời gian qua là giáo dục kỹ năngsống cho học sinh qua mô hình tổ chức tiết học ngoài trời

Thực tế cho thấy, một số trường tiểu học đã tìm ra được hình thức tổ chứctiết học ngoài trời phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh, giúp các em có thêmmôi trường học tập thoáng mát, trong lành, tạo nên tâm trạng thoải mái, pháthuy tính tích cực, tăng thêm sự gắn kết tập thể, chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau, v.v Bên cạnh đó, hình thức tổ chức tiết học ngoài trời đang gặp phải những khókhăn, vướng mắc, đòi hỏi phải được nhận thức đúng đắn và phải tìm ra đượcnhững giải pháp khoa học, phù hợp nhằm nâng cao hiệu tiết học ngoài trời theoyêu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Từ những lý do trên và với cương vị công tác của mình, tác giả chọn vấn

đề “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua tổ chức hoạt

động tiết học ngoài trời (Qua khảo sát tại Trường Tiểu học Kim Đồng, Phường 10, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh)” làm đề tài luận văn thạc sĩ.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài nghiên cứu, trong những năm gần đây, có những vănbản chỉ đạo, định hướng của Đảng, của lãnh đạo các cấp thuộc ngành Giáo dục

Một số tác giả cũng đã quan tâm và cho ra mắt bạn đọc các công trình nghiên

Trang 9

cứu của mình dưới các hình thức như đề tài khoa học, sách, các bài viết trên cáctạp chí, các báo, v.v

Liên quan đến vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, cho thanhthiếu niên ở nước ta có các công trình nghiên cứu và sách, báo như:

- Giáo dục kỹ năng sống, NXB ĐHSP năm 2007 của tác giả Nguyễn

Thanh Bình

- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học ở tiểu học lớp

1,2,3,4 và 5, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở trường tiểu học (Tài liệu

dành cho giáo viên), NXB Giáo dục Việt Nam năm 2010 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo

- Tạp chí Thế giới trong ta, các năm 2010, 2011 của Bộ Văn hóa - Thể

thao và Du lịch

- Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học, NXB ĐHSP Hà

Nội năm 1995 của các tác giả Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang

Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập những vấn đề về giáo dục kỹ năngsống cho học sinh như yêu cầu, nội dung giáo dục, các phương thức giáo dục kỹnăng sống cho học sinh

Có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức, truyền thống vàmối quan hệ giữa giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống với giáo dục kỹ năngsống cho học sinh như:

- Sách giáo khoa và sách giáo viên môn Đạo đức lớp 1,2,3,4 và 5, NXB

Giáo dục Việt Nam năm 2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH, NXB CTQG Hà

Nội năm 2001 của tác giả Phạm Minh Hạc

Trang 10

Giáo dục kỹ năng sống góp phần đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng trườnghọc thân thiện, học sinh tích cực Liên quan đến nội dung này có những côngtrình tiêu biểu như :

- Đổi mới phương pháp quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục tích

cực, Hà Nội năm 2008 của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển

- Xây dựng môi trường học thân thiện với trẻ, Hà Nội năm 2008 của tổ

chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển

Các công trình nghiên cứu khoa học và sách báo, tài liệu trên đã phântích, làm rõ tính tất yếu và đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹnăng sống cho thanh thiếu niên nói chung, cũng như cho học sinh nói riêng sẽgóp phần tạo nên giá trị truyền thống, giáo dục đạo đức và qua đó hình thànhnhân các tốt cho các em

Trong công cuộc đổi mới xây dựng nước theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa, các văn bản chỉ đạo của lãnh đạo các cấp ngành Giáo dục đềukhẳng định sự cần thiết phải tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh,trong đó có học sinh tiểu học

Như vậy, sự chỉ đạo cũng như các ý kiến trên đã đề cập nhiều nội dung vàhình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Từ những kết quả đạt được trongthực tế, luận văn đi sâu nghiên cứu vấn đề về giáo dục kỹ năng sống cho họcsinh tiểu học thông qua việc tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời qua khảo sáttại Trường TH Kim Đồng, Phường 10, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn giáo dục kỹ năng sống cho học sinhthông qua tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời tại Trường TH Kim Đồng,

Trang 11

Phường 10, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất quan điểm vàgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu họcthông qua tiết học ngoài trời trong điều kiện hiện nay

- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp cơ bản trong việc tổ chức tiếthọc ngoài trời nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinhTrường TH Kim Đồng, Phường 10, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; cáccông trình khoa học có liên quan đến đề tài

- Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu như:

+ Phương pháp phân tích - tổng hợp

+ Phương pháp lịch sử - lôgíc

+ Phương pháp thống kê và khảo sát thực tiễn

+ Phương pháp điều tra xã hội học

Trang 12

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

thông qua việc tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời

- Đề tài nghiên cứu vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu họcthông qua việc tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời cho đối tượng cụ thể là họcsinh lớp Năm Trường TH Kim Đồng, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh

6 Giả thuyết khoa học

Công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường tiểu học thông quaviệc tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời có những hạn chế, bất cập Nếu cácgiải pháp mà luận văn đưa ra được nhận thức và vận dụng khoa học, phù hợp sẽgóp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thôngqua việc tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời trong điều kiện hiện nay

7 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục

kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua tiết học ngoài trời; góp phần nâng

cao hiệu quả tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời nhằm giáo dục kỹ năng sống

cho học sinh tiểu học

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho côngtác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua việc tổ chức hoạtđộng tiết học ngoài trời

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đềtài gồm 2 chương, 6 tiết

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểuhọc thông qua tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời

Trang 13

Chương 2: Nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thôngqua tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời ở Trường Tiểu học Kim Đồng, Quận

Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Trang 14

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA TIẾT HỌC NGOÀI TRỜI 1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.1.1 Kỹ năng

Để có một cái nhìn khoa học và hợp lý về kỹ năng sống, trước tiên chúng

ta bắt đầu tìm hiểu về thuật ngữ "kỹ năng" Hiện nay, các doanh nghiệp khi

tuyển dụng thường hay đòi hỏi ứng viên phải hội đủ các kỹ năng cần thiết, điềunày khiến cho các bạn trẻ không khỏi bối rối và lúng túng khi nộp hồ sơ tham dựphỏng vấn Thật sự còn nhiều người chưa hiểu rõ kỹ năng là gì? Bằng cách nào

để tạo ra kỹ năng? Cần phải học kỹ năng ở đâu?

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa nàythường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của mỗi người:

- A.G.Covaliop: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp vớimục đích và điều kiện của hành động

- A.V.Petrovxki: kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kỹ xảo đã có đểlựa chọn thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra

- Bùi Văn Huệ: kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức, khái niệm, địnhnghĩa, định luật vào thực tiễn

- Lưu Xuân Mới: kỹ năng là sự biểu hiện kết quả hành động trên cơ sởkiến thức đã có Kỹ năng là tri thức trong hành động

- Từ điển tiếng Việt: kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thuđược vào thực tế

Trang 15

Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thànhkhi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp

đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủđích và định hướng rõ ràng

Khi bàn về khái niệm kỹ năng, chúng ta thấy nổi rõ lên có hai cách đặtvấn đề khác nhau: cách thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật hànhđộng; cách thứ hai xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người

Theo cách đặt vấn đề thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuậthành động: kỹ năng được xem là phương tiện thực hiện hành động phù hợp vớimục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững, người có kỹ nănghoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động và thực hiện hànhđộng theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động.Theo quan niệm này có thể nhận thấy kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động,con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng

Theo cách đặt vấn đề thứ hai: khi xem xét kỹ năng nghiêng về năng lựccủa con người, nó được xem là một thành tố quan trong để thực hiện một côngviệc có kết quả với chất lượng cần thiết và với thời gian tương ứng trong điềukiện mới kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà làbiểu hiện của năng lực

Như vậy, cách xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người đểthực hiện các công việc có kết quả, đó là bao gồm cả quan niệm kỹ năng là kỹthuật hành động trong đó Bởi, chỉ khi vận dụng tri thức và thực tiễn một cáchthuần thục thì mới có được kết quả công việc đạt chất lượng Do đó “kỹ năng làkhả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng nhữngtri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiệncho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động, mà còn

Trang 16

là biểu hiện năng lực của con người” [28; 6].

Cần thiết phải phân biệt kỹ năng với một số thứ có vẻ giống kỹ năng

- Sự khác nhau giữa kỹ năng và phản xạ: Phản xạ là phản ứng của cơ thểvới môi trường Phản xạ mang tính thụ động Kỹ năng ngược lại là phản ứng có

ý thức và hoàn toàn mang tính chủ động Ví dụ: Cùng là đám cháy, nếu theophản xạ thì con người có xu hướng bỏ chạy khỏi đám cháy, nhưng nếu là línhchữa cháy, đã được rèn luyện kỹ năng đấu tranh với lửa thì anh ta lại chạy lạiđám cháy và dùng các kỹ năng để dập lửa

- Sự khác nhau giữa kỹ năng và thói quen: Hầu hết các thói quen hìnhthành một cách vô thức và khó kiểm soát Trong khi đó kỹ năng được hình thànhmột cách có ý thức do quá trình luyện tập

- Kỹ năng rất khác với kiến thức, thậm chí có một số người còn nhầm lẫnkiến thức là kỹ năng cứng Vậy đâu là khác biệt Kiến thức là biết, là hiểu nhưngchưa bao giờ làm, thậm chí không bao giờ làm Trong khi đó kỹ năng lại là hànhđộng thuần thục trên nền tảng kiến thức Vì không tác động vào thực tại kháchquan nên kiến thức thường ít tạo ra những thành quả cụ thể cho cuộc đời Ta cóthể thấy rất nhiều những giáo viên suốt đời dạy về lý thuyết kinh tế mà khôngtham gia làm kinh doanh nên cho dù họ có hiểu rõ về nguyên lý của thị trườngđến mấy nhưng bản thân họ cũng không làm ra nhiều tiền Nhiều học giả chorằng chỉ có kiến thức suông thì chưa mạnh, sử dụng kiến thức mới là sức mạnh.Nói một cách khác kỹ năng chính là sức mạnh

1.1.2 Kỹ năng sống

Sống là một quá trình hoạt động đòi hỏi con người phải có những kỹ năngnhất định Khó có thể liệt kê một cách đầy đủ những kỹ năng con người cần cótrong quá trình sống, nhưng thuật ngữ “sống” ở đây được nhìn nhận dưới góc độtâm lý - xã hội Sống có nghĩa là tồn tại cho nên những kỹ năng sống được phân

Trang 17

tích ở đây là những kỹ năng giúp cho người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lý

Thuật ngữ kỹ năng sống bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thôngViệt Nam từ những năm 1995 - 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo

vệ sức khỏe và phòng chống HIV / AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoàinhà trường” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc phối hợp với Bộ Giáo dục và Đàotạo phối hợp cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện Từ đó đến nay, nhiều

cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với giáodục các vấn đề xã hội như: phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòngchống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích, phòngchống tai nạn bom mìn, bảo vệ môi trường… Giáo dục phổ thông nước ta nhữngnăm vừa qua đã được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy họcgắn với bốn trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để tựkhẳng định, học để cùng chung sống, mà thực chất là một cách tiếp cận KNS.Đặc biệt, rèn luyện KNS cho học sinh đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định

là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thânthiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013

Vậy KNS là gì?

Có nhiều quan niệm khác nhau về KNS:

- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Kỹ năng sống là khả năng có hành

vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhucầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”[26; 7]

- Theo Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF): “Kỹ năng sống là cáchtiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến

sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng”[26; 7]

- Theo Tổ chức Giáo dục, xã hội và Văn hóa Quốc tế (UNESCO): “Kỹnăng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết, gồm các kỹ năng tư

Trang 18

duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,nhận thức được hậu quả…; Học làm người, gồm các kỹ năng cá nhân như: ứngphó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…; Học để sống vớingười khác, gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳngđịnh, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm, gồm kỹnăng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhậntrách nhiệm,…”[26; 7].

Phân tích các quan niệm trên cho thấy: Quan niệm của WHO nhấn mạnhđến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghitích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình Quan niệmnày mang tính khái quát nhưng chưa thể hiện rõ các kỹ năng cụ thể, mặc dù khiphân tích sâu thì thấy tương đối gần với nội hàm KNS theo quan niệm củaUNESCO Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấnmạnh thêm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ Còn quan niệm củaUNICEF nhấn mạnh rằng kỹ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập

mà hình thành, tồn tại trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiếnthức và thái độ Kỹ năng mà một người có được phần lớn có được cũng nhờ cókiến thức (ví dụ: muốn có kỹ năng thương lượng phải biết nội dung thươnglượng) Việc đề cập thái độ cũng là một góc nhìn hữu ích vì thái độ có tác độngmạnh mẽ đến kỹ năng (ví dụ: thái độ kỳ thị khó làm cho một người thực hiện tốt

kỹ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người khác)

Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy KNS bao gồm một loạt các kỹnăng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất củaKNS là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tựlực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiểu quả Nói cách khác, “Kỹ năngsống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp vớinhững người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống

Trang 19

của cuộc sống”[26; 8].

Như vậy ta thấy rõ, con người cần có những kỹ năng nhất định để sống, khixem xét nó trong ba mối quan hệ : con người với chính bản thân mình; con ngườivới tự nhiên và con người với các mối quan hệ xã hội Dù nhìn ở bất cứ góc độ nàothì các kỹ năng sống đều nhằm giúp chủ thể học chuyển dịch kiến thức từ nhữngđiều đã biết, đã nghĩ, đã học được trong sách vở… Kể cả những thái độ, tư tưởng,tình cảm mới chỉ có được dưới dạng tiềm năng trong mỗi cá thể, trở thành nhữnghành động trong thực tế theo cách làm hiệu quả, mang tính chất xây dựng, nhằmgiúp mỗi người có thể phát triển hài hòa, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh,phát triển bền vững KNS không phải là năng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại

mà là những năng lực thích nghi cho mỗi thời đại mà cá nhân đó sống, bởi vậy, KNSvừa mang tính cá nhân, vừa mang tính dân tộc - quốc gia, vừa mang tính xã hội -toàn cầu

KNS trong phạm vi lứa tuổi học sinh tiểu học thường gắn liền với phạm trùkiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh được rèn luyện trong quá trình được giáodục Tổng hợp các kết quả giáo dục từ bài học trên lớp và từ những hoạt động ngoàigiờ lên lớp, học sinh hình thành được một số KNS cơ bản phù hợp, những kỹ năngnày bao giờ cũng gắn cụ thể với một nội dung giáo dục nhất định như bảo vệ môitrường, lòng nhân ái, truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống uống nước nhớnguồn, sống an toàn, có sức khỏe…

Có nhiều cách phân loại kỹ năng khác nhau Ở đây xin nêu ra một số cáchđiển hình Nếu xét theo tổng quan thì kỹ năng phân ra làm 3 loại: kỹ năngchuyên môn, kỹ năng sống và kỹ năng làm việc Nếu xét theo liên đới chuyênmôn: kỹ năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗn hợp Theo tính hữu ích cộngđồng: hữu ích và phản lợi ích xã hội Cần nói thêm rằng kỹ năng mềm hay kỹnăng sống cũng chỉ là một nhóm kỹ năng với tên gọi khác nhau Chúng ta cũngnhận thấy rằng kỹ năng mềm hay kỹ năng sống là những nhóm kỹ năng thiết yếu

Trang 20

giúp cho chủ thể tồn tại và thăng hoa trong cuộc sống Tại sao lại gọi kỹ năng

sống là kỹ năng “mềm”? Trước hết cũng có thể đây là nhóm kỹ năng mang tínhlinh hoạt, cơ động và một số quốc gia không bắt buộc mọi người phải học những

kỹ năng này Cũng có thể đây là góc nhìn và thuật ngữ của những người quản trịsản xuất trước đây, họ cho rằng chỉ có cái gì liên quan đến máy móc thiết bị mới

là “cứng” còn phần còn lại là “mềm” Một giả thiết khác là cách gọi của dâncông nghệ thông tin khi mà mọi chuyện thường được qui ra “phần cứng” và

“phần mềm” nhưng cách gọi như trên đã gây nhiều thất thiệt cho một nhóm kỹ

năng quan trọng như “kỹ năng sống” Nếu gọi đó là kỹ năng “mềm” thì nhiều

người sẽ cho rằng đó là những thứ không cần thiết, có cũng được mà khôngcũng không sao Với một khoảng thời gian dài thì quan niệm này sẽ tác động lên

cả hệ thống giáo dục chứ không còn là chuyện nhỏ của mỗi cá nhân nữa Mộtkhi không coi trọng, không dành sự quan tâm đúng mức, không đầu tư thíchđáng, không tìm tòi thực sự, không nghiên cứu và học hỏi đến nơi đến chốn thìkhông thể sở hữu “kỹ năng sống” một cách đầy đủ Và hậu quả của nó là mỗi cánhân dễ trở thành những con người lệch lạc, thiếu hoàn thiện và cuộc sống bịbấp bênh và chất lượng sống không cao

1.1.3 Giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục KNS được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xã hội

và cấp độ nhà trường Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục KNS nêu ra quátrình tổng thể được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục

Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thểnhằm tổ chức, điều khiển, để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức (cái họcsinh biết) và thái độ, giá trị (cái học sinh suy nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thànhhoạt động thực tế (làm gì và làm cách nào) một cách tích cực và mang tính chấtxây dựng

Trang 21

Giáo dục KNS là trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và

kỹ năng phù hợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thóiquen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong cácmối quan hệ, trong các tình huống và hoạt động hàng ngày Giáo dục KNS còn

là sự kết hợp giữa hoạt động dạy - học trên lớp và hoạt động thực hành tạo nên

sự hài hoà, cân đối giữa quá trình sư phạm toàn diện, nhằm thực hiện mục tiêugiáo dục

Giáo dục KNS không phải là nói cho trẻ biết thế nào là đúng thế nào làsai như ta thường làm Cũng không phải là rao truyền những lời hay ý đẹp đểchúng vào tai này rồi ra tai kia Các phương pháp cổ điển như giảng bài, đọcchép sẽ thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin vànhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn

Giáo dục KNS là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa nhữnggiải pháp khác nhau Quyết định phải xuất phát từ trẻ Vì thế học phải hết sứcgần gũi với cuộc sống hay ngay trong cuộc sống Nội dung phải xuất phát từchính nhu cầu và kinh nghiệm của trẻ Trẻ cần có điều kiện để cọ xát các ý kiếnkhác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng Trẻ phải tham giachủ động vì có thế trẻ mới thay đổi hành vi

1.1.4 Tiết học ngoài trời

Chưa có bất cứ định nghĩa hay khái niệm nào nói về thuật ngữ “Tiết họcngoài trời” vì nó khá xa lạ với việc giảng dạy ở các trường phổ thông Trong thực tế

đã có một số trường Mầm non, TH, THCS, Đại học trong TP Hồ Chí Minh và ởmột số ít nơi khác được cho rằng đã tổ chức loại hình dạy và học này Theo tìm hiểuthì đây là hoạt động do sự sáng tạo của mỗi trường nên nội dung, hình thức mỗi nơimỗi có sự khác nhau; có nơi tiết học ngoài trời là tham quan dã ngoại, có nơi là tổchức cho học sinh thực nghiệm bài học trên sân trường, hoặc tổ chức giảng dạy

Trang 22

ngoài lớp học, có nơi cho đó là tổ chức các trò chơi vận động hoặc là một hình thứccủa hoạt động ngoài giờ lên lớp… Thật ra, chưa có sự chỉ đạo định hướng nào từphía các cấp lãnh đạo của ngành giáo dục về tiết học ngoài trời

Theo như cách tổ chức tại Trường TH Kim Đồng, Quận Gò Vấp, TP.Hồ ChíMinh và qua tham khảo tại một số trường học thì có thể hiểu tiết học ngoài trời làhình thức tổ chức các hoạt động dạy và học thật nhẹ nhàng với không gian họckhông bị bó hẹp bởi bốn bức tường của phòng học mà phải rộng rãi, tạo chongười học thật sự thoải mái về tâm lý Địa điểm có thể là sân trường, công viên,siêu thị…, thậm chí nó có thể là nơi một di tích văn hóa hay một đơn vị quân độitại địa phương… Nội dung dạy học có thể tích hợp tối đa các môn học, các hoạtđộng tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp trong cùng một tiết học hoặc một buổihọc và đặc biệt là nơi để học sinh và cả giáo viên học tập, rèn luyện các kỹ năngsống cần thiết

1.2 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một nhiệm vụ cơ bản của các trường Tiểu học

1.2.1 Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Để thấy được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểuhọc, trước hết cần làm rõ những đặc điểm nổi bật của học sinh ở lứa tuổi này như:

- Đặc điểm về nhận thức, tâm lý của học sinh tiểu học:

Tâm lý lứa tuổi trẻ học Tiểu học, lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi là giai đoạn màcác nhà chuyên môn gọi là Troisième Enfance Đây cũng là lứa tuổi mà những

ai thật sự muốn dấn thân trở thành người cộng tác mật thiết với gia đình các em

để chăm lo việc giáo dục cho các em, nhất là cha mẹ và các thầy cô giáo, rất cầnquan tâm tìm hiểu Do vậy, chúng ta sẽ xem xét vấn đề chi tiết và sâu xa hơn vớitừng đặc điểm của lứa tuổi này:

- Mang đậm mặc cảm Edipe:

Trang 23

Tự bẩm sinh, các em đã mang mặc cảm Edipe (le complexe d’Edipe).Thần thoại Hy Lạp kể rằng: Edipe, do cuộc đời oan nghiệt đưa đẩy, đã ngộ sátcha mình là Laios để lên ngôi vua và cưới luôn mẹ là Jocaste làm hoàng hậu Các nhà Tâm lý học mượn điển tích này để diễn tả hiện tượng tâm lý bẩm sinhphổ biến nơi lứa tuổi thiếu nhi

Các em luôn tìm sự gần gũi, yêu thương, chiều chuộng của người lớnkhác phái: bé gái gần bố mà xa mẹ, còn bé trai lại gần mẹ xa bố Đây không phải

là một tội lỗi ghê gớm đáng lên án và nghiêm phạt như cách nghĩ thiển cận củamột số người chủ trương đạo đức quá khắt khe cổ hủ

Cần phải biết khéo hướng dẫn để giúp các em từ từ nhận ra sự cần thiếtphải có đủ các tính cách giáo dục qua cả bố lẫn mẹ, anh và chị trong gia đình, cảthầy lẫn cô ở trường, ở lớp Sau này, khi bước vào tuổi dậy thì, các em sẽ dầndần chuyển hóa sang thế quân bình về phái tính

Nếu người lớn quá khắc nghiệt hoặc lơi lỏng thiếu quan tâm, có thể sẽ gây

ra nơi các em những ấn tượng lệch lạc, di hại suốt đời các em về mặt nhân cáchtâm lý và ứng xử Ngược lại, cần bắc một nhịp cầu hết sức tế nhị để gặp gỡchính tâm hồn bé bỏng non nớt của các em, biết mở chuyện hỏi han các em bằngngôn ngữ và cung cách của chính các em Khi đó, các em mới dễ bộc lộ mộtcách hồn nhiên những tâm sự, những bí mật có khi rất ngô nghê của các em, màkhông hề e dè, giấu giếm, sợ người lớn la rầy, kết tội hoặc chế giễu

Ở điểm này, các em cần có người yêu thương, chăm sóc, ân cần tận tụy vàtinh tế nhạy cảm, nắm bắt cho được mọi biểu hiện tích cực lẫn tiêu cực nơi các em

- Tin tưởng người lớn tuyệt đối:

Các em đã dần dần không còn muốn loanh quanh luẩn quẩn ở xó nhà gócbếp, nhưng bắt đầu thích làm quen nhiều bạn nhỏ và nhiều người lớn khác Vìvậy, nếu các em nhận ra nơi các người lớn như cô chú, thầy cô giáo, anh chị

Trang 24

một sự bảo bọc chở che, nhất là sự quan tâm, cảm thông thật sự, các em sẽ dầndần quấn quít, tin cậy đến mức tuyệt đối.

Hãy tránh đừng bao giờ đùa chơi với các em bằng cách xí gạt để các emmắc lừa cho vui Cũng đừng bao giờ tạo cho các em cảm tưởng bị người lớn ápđặt, ăn hiếp, lấn lướt, sai bảo vặt và khống chế các em bằng luật lệ mà chínhngười lớn chưa chắc đã tuân thủ đàng hoàng

Do vậy, thông qua những hoạt động về giáo dục, làm việc, sinh hoạt vuichơi, người lớn cần biết tạo ra cơ hội để gần gũi các em, xóa bỏ mọi ngăn cách

về tuổi tác và tâm lý, hòa mình trở nên đơn sơ như trẻ nhỏ, biết cách gợi ý tổchức cùng chơi, cùng làm với các em, từ đó mới có dịp để giúp đỡ, dạy dỗ các

em một cách đầy đủ và kịp thời Bên cạnh đó, cũng cần kích thích cho các emluôn háo hức chịu làm quen thêm với nhiều bạn trai bạn gái mới đồng trang lứa

ở trường lớp và khu xóm

Ở điểm này, người sống với các em phải là một quản trò đa năng, biếtbiến báo, lôi cuốn, trang bị nhiều kỹ năng thành thạo, thu hút được đám đôngcác em, đồng thời lại có vốn liếng kinh nghiệm về tâm lý để có thể tiếp cận màlắng nghe và đối thoại với từng em

- Ôm ấp nhiều mơ mộng:

Các em rất giàu trí tưởng tượng, nhiều khi quá tin vào những điều huyềnhoặc, những truyện cổ tích thần tiên, những truyện thần thoại dân gian được kểtrong các lớp học hoặc trước khi đi ngủ buổi tối Từ đó các em tự thêu dệt những

mơ mộng rất dễ thương đến bất ngờ

Sau này, lớn hơn một chút, tính thần thoại chuyển dần sang khía cạnhthần tượng hóa một cách đơn giản Khi các em được tiếp xúc thân tình với mộtngười lớn nào đó có nhân cách cao thượng, các em sẽ nhanh chóng hình thànhcác ước mơ sẽ có được nhân cách ấy (ví dụ: Lớn lên em sẽ làm cô giáo như cô

Trang 25

Mai mốt con sẽ đi tu như cha ; Em sẽ là một Ronaldo của Việt Nam ).

Do đó, nếu người lớn biết khéo nương theo trí tưởng tượng và những mơmộng hồn nhiên trong sáng của các em, có thể hướng dẫn các em dần dần gạnlọc đi những nét viễn vông huyền hoặc để chuyển những giá trị tốt đẹp hiện thựcnơi nhân cách các em

Bước đầu thấu hiểu được những nhu cầu khát vọng ngây thơ của các emrồi, vẫn chưa đủ, bởi tính khí các em luôn bị đột biến, thay đổi hoặc bị tổnthương Do vậy, ngoài việc hòa mình cùng chơi, cùng trò chuyện với các em,người lớn còn cần khéo léo tạo sức thu hút lâu dài bền bỉ, bằng cách lồng cáchoạt động tập thể vào các trò chơi (học và làm mà là chơi, chơi mà lại là học vàlàm một cách hữu ích )

Đồng thời, cũng đừng quên tiếp xúc riêng từng em, giúp các em tập nỗlực nho nhỏ để vươn lên trong từng khát vọng, từng ước mơ hồn nhiên của chínhmình, mỗi ngày một chút theo phương pháp giáo dục tiệm tiến Ở điểm này,người sống với các em phải là một người bạn trẻ trung, tâm huyết, đáng tin cậytrong mọi mặt sinh hoạt vui nhộn cũng như tâm linh sâu lắng của các em

- Rất đa cảm, dễ xúc động:

Tâm hồn các em còn hết sức trong sáng hồn nhiên như trang giấy còn mớitinh Ngay cả trường hợp một số em phải chịu những di chứng do sự đổ vỡ tronggia đình, thì chắc chắn tâm hồn các em vẫn luôn luôn đa cảm, rất dễ bị xúc động

Do đó, bất cứ hành động thô bạo nào đối với chính bản thân các em, đốivới các em khác, đối với súc vật và đối với thiên nhiên đều gây tổn thương nơicác em, để lại trong tâm trí các em vết sẹo không bao giờ phai nhạt Cần tránhcho các em phải đối mặt với những nghịch cảnh và bất hạnh, những thực tế quáphũ phàng, những hình ảnh dã man bạo lực trên sách báo, truyền hình, nhữngbiến cố quá gay cấn ngoài đường phố, trong gia đình, nơi trường học

Trang 26

Riêng với các câu truyện kể, cần nhớ rằng: một nội dung quá bi lụythương tâm có thể gợi ra nơi các em lòng trắc ẩn nhân ái, nhưng cũng có thể âmthầm hình thành trong tiềm thức và vô thức của các em tính hiếu chiến, hiếu sát,thích trả đũa, nhẫn tâm, hoặc ngược lại, sự mủi lòng ủy mị, mau nước mắt vì quásức đa sầu đa cảm Mặt khác, bên cạnh sự đa cảm, các em vẫn còn thiên nhiều

về giác quan, thích sờ tận tay nhìn tận mắt, nên các em rất vui thích khi đượcthưởng cụ thể bằng vật chất hơn là khen ngợi tuyên dương suông suông vậythôi Các em rất hãnh diện thấm thía khi được người lớn khéo léo góp ý khích lệhơn là phê bình chê trách hay nổi cáu lên quát tháo om sòm

Chúng ta thấy, nhà trường đã từng áp dụng những cách khen thưởng khá

cụ thể như các bông hoa điểm 10 cho từng môn học, sách truyện làm phầnthưởng cuối năm Bản thân chúng ta khi còn bé, hẳn ai cũng đã từng ao ướchoặc hãnh diện khi thấy tên mình được ghi trên Bảng Danh Dự treo tại một nơitrang trọng và dễ thấy ở trường Còn Sổ Học Bạ hoặc Sổ Liên Lạc thì không aimuốn cha mẹ mình lại phải đọc thấy những dòng chữ thầy cô chủ nhiệm phê xấu

và yếu kém Do vậy, đây là những cách khen thưởng có vẻ vật chất nhưng lạihàm ý về chiều sâu tinh thần nhiều lắm

Ở lứa tuổi này, người sống với các em phải là một "bề trên" hiểu theonghĩa rộng nhất, nghiêm minh mà quảng đại, công bình mà bao dung, vẫn luônđòi hỏi cao mà lại biết khích lệ nâng đỡ

- Rất hiếu động:

Năng lực ở độ tuổi đang tăng trưởng nơi các em luôn dồi dào Bên cạnh

đó, các em cũng đang trải qua một cơn khủng hoảng về trí tuệ, còn gọi là khủnghoảng về ý thức cử động

Về mặt sinh hoạt thể lý, các em, kể cả các bé gái, cần phải luôn tay luônchân, chạy nhảy, leo trèo, nô đùa và hò hét thỏa thích, hoặc im lặng ngồi táy

Trang 27

máy, hì hục nghịch phá một trò nào đó, hay làm một việc gì đó vừa sức mình.Riêng bên nam, các em rất thích các trò chơi đối kháng, mang tính giao chiến vàđua tranh giữa hai phe (ví dụ: kéo co, cướp cờ, đánh trận giả ) Các em sẵnsàng chơi hăng say hết mình, bởi đối với các em, chuyện thắng thua rất là quantrọng, nó nhằm mục đích tự khẳng định cá tính cho dù các em chưa đủ lý luậncao xa gì lắm về bản thân Với các em nữ, vấn đề cũng tương tự như khi các emđặc biệt thích các trò chơi tuy nhẹ nhàng hơn con trai, nhưng cũng là chuyệnluân phiên thi đua giành phần thắng cho mình (ví dụ: nhảy cò cò, đánh chuyền,nhảy dây, chơi ô ăn quan ).

Trong thực tế, người lớn đang bận việc, rất ghét sự ồn ào náo động, lạicho rằng các em đang chơi những trò quá hiếu động, có hại về sức vóc lẫn tâm

lý, nên thường la rầy ngăn cấm các em Người lớn không ngờ đã đẩy các emsớm rơi vào tình trạng dồn nén, có thể tạo ra những tình cảm rối loạn, rất có hại

về lâu về dài

Về sinh hoạt học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các

ý tưởng, các kiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mòthắc mắc Một khi nơi các em lý trí bắt đầu hoạt động âm thầm, các ý tưởng nhưthế dần dần sáng tỏ ra, cho dù các em chưa thể lý luận suy diễn theo dạng đặt vấn

đề "vì vậy", "cho nên", "do đó" như người lớn Nhưng mặt khác, các em đã khôngcòn thỏa mãn với dạng câu hỏi "tại sao?" mà đã chuyển dần sang câu hỏi khó hơnnhiều: "làm thế nào ?" tức là có khuynh hướng khách quan hơn, sâu xa hơn

Dù vậy, các em chưa thể tập trung tư tưởng lâu để kịp phân tích vấn đề và quansát một cách kiên nhẫn, các em cũng chưa thể tự mình biết cách học hỏi sao chođúng mức nếu không được người lớn hướng dẫn dưới dạng "học mà chơi" đầyhấp dẫn

Ở điểm này, người sống với các em phải là một thầy giáo, một cô giáovừa có kiến thức quảng bác, lại vừa có tâm hồn sâu sắc để truyền đạt tri thức,

Trang 28

gợi mở sáng kiến và nhất là vun đắp cho các em những tâm tình nhân ái vị tha,vui tươi và dễ thương, đúng với độ tuổi các em

- Có thể trung tín đến cùng:

Khi gặp một hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong một trường hợp bất ngờ, nếucác em được người lớn tin cậy trao phó một trách nhiệm quan trọng nào đó, vớilời giải thích kỹ lưỡng và căn dặn chi tiết, các em sẽ hết sức ý thức về công việc,cảm thấy vinh dự và hãnh diện để cố gắng chu toàn hơn cả mong đợi của ngườilớn Ấn tượng sâu sắc này sẽ theo các em suốt cuộc đời, hình thành một nhâncách khó gì có thể làm biến dạng

Hiểu được điều này, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy cácphong trào giáo dục đứng đắn trên thế giới đều có những nghi thức tập tục rấtlong trọng như đội mũ, trao cờ, tuyên hứa thiếu nhi, thắt khăn quàng, gắn sao

Tại trường học, có nơi, nếu biết huấn luyện tinh thần và kỷ luật tới nơi tớichốn, người lớn có thể tin tưởng giao phó cho các em ở các lớp tiểu học đảmnhận chuẩn bị âm thanh, xếp đội hình danh dự, kéo cờ, bắt nhịp và đồng ca bàiQuốc ca mà không sợ gặp sự cố trục trặc, bởi các em ý thức khá chững chạc

về tính cách quan trọng và trang nghiêm của công việc cùng với niềm hãnh diệnđược đại diện cho toàn trường

Như vậy, ở điểm này, người sống với các em phải là một người lãnh đạođúng nghĩa, biết cách huấn luyện, chỉ dẫn cho các em thành thạo, tháo vát trongcác việc nhỏ, vừa tầm hiểu, vừa sức làm của các em mà lại có tầm quan trọngkhông thua gì việc của người lớn, sau đó, biết mạnh dạn tin tưởng giao phó côngviệc đó để các em tự chơi, tự làm, tự giải quyết trong khả năng của các em

Giáo dục kỹ năng sống có vai trò rất quan trọng đối với học sinh tiểu

học Bởi lẽ:

+ Kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội Có thể nói KNS

Trang 29

chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi vàthói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trướcnhững khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực vàphù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủcuộc sống của chính mình Ngược lại, người thiếu KNS thường bị vấp váp, dễ bịthất bại trong cuộc sống Ví dụ: Người không có kỹ năng ra quyết định sẽ dễmắc sai lầm hoặc chậm trễ trong việc đưa ra quyết định và phải trả giá cho quyếtđịnh sai lầm của mình; người không có kỹ năng ứng phó với căng thẳng sẽ hay

bị căng thẳng hơn những người khác và thường có cách ứng phó tiêu cực khi bịcăng thẳng, làm ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, học tập, công việc,… củabản thân Hoặc người không có kỹ năng giao tiếp sẽ khó khăn hơn trong việcxây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh, sẽ khó khăn hơntrong hợp tác cùng làm việc, giải quyết những nhiệm vụ chung,…

Không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân, KNS còn góp phần thúc đẩy

sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các cần đề xã hội và bảo vệ quyền conngười Việc thiếu KNS của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn

đề xã hội như: nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc,… Việc giáo dụcKNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chấtlượng cuộc sống xã hội và giảm các vần đề xã hội Giáo dục KNS còn giải quyếtmột cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trongluật pháp Việt Nam và Quốc tế

+ Giáo dục kỹ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ Các emchính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định,

sự phát triển của đất nước trong những năm tới Nếu không có KNS, các em sẽkhông thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đấtnước

Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách,

Trang 30

giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâusắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động… Đặc biệt làtrong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thườngxuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn đượcđặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khókhăn, thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục KNS, nếuthiếu KNS các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sốngích kỷ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách Một trong cácnguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổthông trong thời gian vừa qua như: nghiện hút, bạo lực học đường, đua xe máy,

ăn chơi sa đọa,… chính là do các em thiếu những KNS cần thiết như: kỹ năngxác định giá trị, kỹ năng từ chối, kỹ năng kiên định, kỹ năng giải quyết mâuthuẫn, kỹ năng thương lượng, kỹ năng giao tiếp,…

Vì vậy, việc giáo dục KNS cho học sinh TH là rất cần thiết, giúp các emrèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổquốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộcsống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tíchcực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh

+ Giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổthông Đảng đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự pháttriển xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cầnphải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng.Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng

và Quốc hội, trong Luật Giáo dục năm 2005

Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đãkhẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục,

Trang 31

sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế

hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổthông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới

Văn kiện Đại hội Đại biểu lần XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ranhiệm vụ: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung,phương pháp dạy học

Tóm lại, từ những lý do đã trình bày ở trên có thể khẳng định việc giáodục KNS cho học sinh trong các trường tiểu học là rất cần thiết và có tầm quantrọng đặc biệt để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và giáodục tiểu học nói riêng

1.2.2 Mục đích, yêu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Giáo dục Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếusang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học để đáp ứng

sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu giáodục của Việt Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỷ XXI là học để biết, học

để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống

Giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường tiểu học nhằm các mục đích sau:

▪ Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phùhợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh,tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, cáctình huống và hoạt động hàng ngày

▪ Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận củamình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học phải tuân thủ những yêu cầu

Trang 32

cơ bản như:

▪ Tương tác: KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và

tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác Việcnghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn đềnào đó Nhiều KNS được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với bạncùng học và những người xung quanh (kỹ năng thương lượng, kỹ năng giảiquyết vấn đề…) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trongnhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịpthể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá

và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìnnhận khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trongnhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả

▪ Trải nghiệm KNS chỉ được hình thành khi người học trải nghiệm quacác tình huống thực tế Học sinh chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó, chứkhông chỉ nói về việc đó Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành độngtrong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹnăng phù hợp với điều kiện thực tế

Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoàigiờ học sao cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm vàbiết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác

▪ Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong ngày một, ngàyhai mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổihành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chutrình mới Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xích nào trong chutrình trên như thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành

vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ

Trang 33

▪ Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp ngườihọc thay đổi hành vi theo hướng tích cực Giáo dục KNS thúc đẩy người họcthay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình Thay đổihành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, khôngđồng thời Có thời điểm người học lại quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giátrị trước Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt độngliên tục để học sinh duy trì hành vi mới và có thói quen mới; tạo động lực chohọc sinh điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây,thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới Giáo viên khôngnhất thiết phải luôn luôn tóm tắt bài giúp cho học sinh, mà cần tạo điều kiện chohọc sinh tự tóm tắt những ghi nhận cho bản thân sau mỗi giờ học, phần học.

▪ Thời gian - môi trường giáo dục: Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọinơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dụcđược tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năng vàocác tình huống “thực” trong cuộc sống

Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộngđồng Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, là thầy cô, là bạn cùng họchay các thành viên cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNS đượcthực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể -

xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác

1.2.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Nội dung giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông tậptrung vào các kỹ năng tâm lý - xã hội, là những kỹ năng được vận dụng trongnhững tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết có hiệuquả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống Việc hình thành những kỹnăng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình

Trang 34

thành các kỹ năng học tập như: đọc, viết, tính toán, máy tính…

Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục KNS

ở Việt Nam những năm qua, nội dung giáo dục KNS cho học sinh trong các nhàtrường phổ thông có thể bao gồm các KNS cơ bản, cần thiết sau:

* Kỹ năng tự nhận thức.

Tự nhận thức là tự nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân Kỹ năng tự nhậnthức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tưtưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng vềtiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, đểm mạnh, điểm yếu,… của bản thânmình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bảnthân đang cảm thấy căng thẳng

Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để conngười giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thểcảm thông được với người khác Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con ngườiđúng có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khảnăng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại, đánh giákhông đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thấtbại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác

Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế,đặc biệt là qua giao tiếp với người khác

* Kỹ năng xác định giá trị.

Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bảnthân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bảnthân trong cuộc sống Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chínhkiến, thái dộ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…

Trang 35

Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnhvực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,…

Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng Kỹ năng xác định giá trị làkhả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình Kỹ năng xácđịnh giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người Kỹnăng này còn giúp người ta biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng ngườikhác có những giá trị và niềm tin khác

Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo cácgiai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dục, vào nềnvăn hóa, vào mội trường sống, học tập và làm việc của cá nhân

* Kỹ năng kiểm soát cảm xúc.

Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mìnhtrong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bảnthân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảmxúc một cách phù hợp Kỹ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như:

xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lý cảm xúc

Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng, giúpgiao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa

và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn

Kỹ năng xử lý cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năngứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phầncủng cố các kỹ năng này

* Kỹ năng ứng phó với căng thẳng.

Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp những tình huống gâycăng thẳng cho bản thân Tuy nhiên, có những tình huống có thể gây căng thẳng

Trang 36

cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và ngược lại.

Khi bị căng thẳng mỗi người có tâm trạng, cảm xúc khác nhau: Cũng cókhi là những cảm xúc tích cực nhưng thường là những cảm xúc tiêu cực, gâyảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người Ở mộtmức độ nào đó, khi một cá nhân có khả năng đương đầu với căng thẳng thì đó cóthể là một tác động tích cực, tạo sức ép buộc cá nhân đó phải tập trung vào côngviệc của mình, bứt phá thành công Nhưng mặt khác, sự căng thẳng còn có mộtsức mạnh hủy diệt cuộc sống cá nhân nếu căng thẳng đó quá lớn, kéo dài vàkhông giải tỏa nổi

Khi bị căng thẳng, tùy từng tình huống, mỗi người có thể có cách ứng phókhác nhau Cách ứng phó tích cực hay tiêu cực khi căng thẳng phụ thuộc vàocách suy nghĩ tích cực hay tiêu cực của cá nhân trong tình huống đó

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵnsàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộcsống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả củacăng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bịcăng thẳng

Chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cáchsống và làm việc điều độ, có kế hoạch, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao,sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xungquanh, không đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao so với điều kiện và khảnăng của bản thân,…

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng rất quan trọng, giúp cho con người:

- Biết suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi căng thẳng

- Duy trì được trạng thái cân bằng, không làm tổn hại sức khỏe thể chất và

Trang 37

tinh thần của bản thân.

- Xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp, không làm ảnh hưởng đếnngười xung quanh

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng có được nhờ sự kết hợp của các KNSkhác như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xử lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, tưduy sáng tạo, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ và kỹ năng giải quyết vấn đề

* Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.

Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phảicần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợbao gồm các yếu tố sau:

- Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ

- Biết xác định được những địa chỉ hỗ trợ đáng tin cậy

- Tự tin và biết tìm đến các địa chỉ đó

- Biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp

Khi tìm đến các địa chỉ hỗ trợ, chúng ta cần:

- Cư xử đúng mực và tự tin

- Cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn

- Giữ bình tĩnh khi gặp sự đối xử thiếu thiện chí Nếu vẫn cần sự hỗ trợ củangười thiếu thiện chí, cố gắng tỏ ra bình thường, kiên nhẫn nhưng không sợ hãi

- Nếu bị cự tuyệt, đừng nản chí, hãy kiên trì tìm sự hỗ trợ từ các địa chỉkhác, người khác

Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận đượcnhững lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề,tình huống của mình; đồng thời là cơ hội để chúng ta chia sẻ, giãi bày khó khăn,giảm bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc Biết tìm kiếm sự giúp

Trang 38

đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiềutrường hợp, giúp chúng ta có cách nhìn mới và hướng đi mới.

Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề, giảiquyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng Đồng thời, để phát huy hiệu quả của

kỹ năng này, cần kỹ năng lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý kiến tư vấn, kỹnăng ra quyết định lựa chọn cách giải quyết tối ưu sau khi được tư vấn

* Kỹ năng thể hiện sự tự tin.

Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình

có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy

có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ

Kỹ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạnbày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giảiquyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩtích cực và lạc quan trong cuộc sống

Kỹ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thươnglượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm

* Kỹ năng giao tiếp.

Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hìnhthức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh vàvăn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bấtđồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu,mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết

Kỹ năng giao tiếp giúp con gnười biết đánh giá tình huống giao tiếp vàđiều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ,cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác Kỹ năng này

Trang 39

giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mốiquan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình - nguồn hỗ trợ quan trọng chomỗi chúng ta; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây

là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống Kỹ năng này cũng giúp kếtthúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng

Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác như bày tỏ

sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâuthuẫn, kiểm soát cảm xúc Người có kỹ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối vớimong đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và

ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến nhữngđiều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốnmột cách chính đáng

* Kỹ năng lắng nghe tích cực.

Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kỹ năng giao tiếp Người

có kỹ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sựquan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ,điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánhgiá, đồng thời có đối đáp hợp lý trong quá trình giao tiếp

Người có kỹ năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôntrọng và quan tâm đến ý kiến của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp,thương lượng và hợp tác của họ hiệu quả hơn Lắng nghe tích cực cũng gópphần giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và xây dựng

Kỹ năng lắng nghe tích cực có quan hệ mật thiết với các kỹ năng giaotiếp, kỹ năng thương lượng, kỹ năng hợp tác, kỹ năng kiểm soát cảm xúc và kỹnăng giải quyết mâu thuẫn

* Kỹ năng thể hiện sự cảm thông.

Trang 40

Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình tronghoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn lànhững người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảmcủa người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.

Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giaotiếp và ứng xử với người khác; cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặcbiệt trong bối cảnh xã hội đa văn hóa, đa sắc tộc Kỹ năng thể hiện sự cảm thôngcũng giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi vớinhững người cần sự giúp đỡ

Kỹ năng thể hiện sự cảm thông được dựa trên kỹ năng tự nhận thức và kỹnăng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kỹ năng giao tiếp, kỹnăng giải quyết vấn đề, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng thương lượng, kỹnăng kiên định và kỹ năng kiểm soát cảm xúc

* Kỹ năng thương lượng.

Thương lượng là khả năng trình bày suy nghĩ, phân tích và giải thích,đồng thời có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suynghĩ, cách làm hoặc về một vấn đề gì đó

Kỹ năng thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của kỹ năng giao tiếp như lắngnghe, bày tỏ suy nghĩ và một phần quan trọng của giải quyết vấn đề và giải quyếtmâu thuẫn Một người có kỹ năng thương lượng tốt sẽ giúp giải quyết vấn đề hiệuquả, giải quyết mâu thuẫn một cách xây dựng và có lợi cho tất cả các bên

Kỹ năng thương lượng có liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự cảmthông, tư duy sáng tạo, kỹ năng hợp tác và khả năng thỏa hiệp những vấn đềkhông có tính nguyên tắc của bản thân

* Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn.

Ngày đăng: 18/12/2013, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo số: 36 /BC-KĐ, Tổng kết năm học 2010 – 2011, của trường TH Kim Đồng, quận GòVấp, TP.Hồ Chí Minh ngày 27/9 /2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết năm học 2010 – 2011
2. Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống, NXB. ĐH SP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB. ĐH SP
Năm: 2007
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Sách giáo khoa và sách giáo viên môn Đạo đức lớp 1,2,3,4 và 5, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa và sách giáo viên môn Đạođức lớp 1,2,3,4 và 5
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2003
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Sách Đổi mới phương pháp quản lí lớp học bằng các biện pháp giáo dục tích cực, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp quản lí lớp họcbằng các biện pháp giáo dục tích cực
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học lớp 1,2,3,4 và 5, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩnăng các môn học ở tiểu học lớp 1,2,3,4 và 5
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Sách Phương pháp dạy học các môn ở Tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học các môn ở Tiểuhọc
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở trường tiểu học (Tài liệu dành cho giáo viên), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ởtrường tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Sách Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, ở trường, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống trong hoạtđộng giáo dục ngoài giờ lên lớp, ở trường
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
10.Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt-Bỉ (2010), Dạy và học tích cực-Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học, NXB. ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực-Một sốphương pháp và kỹ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt-Bỉ
Nhà XB: NXB. ĐHSP
Năm: 2010
11.Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (2010, 2011), Tạp chí Thế giới trong ta, Các số 97, 98, 101, 102, 107, 108, 113, 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thế giới trong ta
12.Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (2011), Báo Giáo dục TP.Hồ Chí Minh, Số 1049 (bộ mới) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Giáo dục TP.Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Năm: 2011
14.Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15.Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16.Phạm Minh Hạc (2001), Phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH-HĐH, NXB. CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH-HĐH
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB. CTQG Hà Nội
Năm: 2001
17.Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang (1995), Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học, NXB. ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giáo dục ngoàigiờ lên lớp ở trường Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang
Nhà XB: NXB. ĐHSP Hà Nội
Năm: 1995
18.Hướng dẫn số: 4919/BGDĐT- GDTH, Về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011 đối với giáo dục tiểu học, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 17/8/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc hướng dẫn thực hiện nhiệmvụ năm học 2010-2011 đối với giáo dục tiểu học
19.Hướng dẫn số: 5438/BGDĐT- GDTH, Về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2011-2012 đối với giáo dục tiểu học, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 17/8/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc hướng dẫn thực hiện nhiệmvụ năm học 2011-2012 đối với giáo dục tiểu học
20.Kế hoạch số: 2832/GDĐT-HSSV, Thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” năm học 2011-2012, của Sở Giáo dục và Đào tạo TP.Hồ Chí Minh, ngày 23/9/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện phong trào thi đua “Xâydựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” năm học 2011-2012
21.Kế hoạch số: 572/KH-GD&ĐT, Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực năm học 2010 – 2011, của Phòng Giáo dục và Đào tạo, ngày 29/10/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng trường học thân thiện, học sinhtích cực năm học 2010 – 2011
22.Kế hoạch số: 600/KH-GD&ĐT, Thực hiện phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực năm học 2011 – 2012, của Phòng Giáo dục và Đào tạo, ngày 08/10/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện phong trào thi đua xây dựngtrường học thân thiện, học sinh tích cực năm học 2011 – 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành ý thức rèn luyện sức khỏe từ các cô chú, ông bà tập thể dục, thân thiện với các em nhỏ trong công viên. - Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua tổ chức hoạt động tiết học ngoài trời
Hình th ành ý thức rèn luyện sức khỏe từ các cô chú, ông bà tập thể dục, thân thiện với các em nhỏ trong công viên (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w