Trong quá trình làm đề tài, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô Mai Phương Ngọc - giáo viên khoa Lịch Sử, trường đại học Vinh; Ban biên soạn và nghiên cứu lịch sử, sở văn hóa - t
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
-*** -NGUYễN THị HảI
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Dòng họ và quan hệ dòng họ
ở xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
trong thời kỳ trung đại
Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam
Vinh - 2011
Trang 2Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
-*** -NGUYễN THị HảI
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Dòng họ và quan hệ dòng họ
ở xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
trong thời kỳ trung đại
Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam
Lớp 48b1 (2007 2011)– 2011)
Vinh – 2011) 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Với khả năng và thời gian có hạn của một sinh viên trên bước đường tập sự nghiên cứu khoa học, đề tài này chắc chắn còn nhiều vấn đề cần phải
bổ sung hoàn chỉnh Tôi rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy
cô giáo trong khoa Lịch Sử của độc giả và các bạn sinh viên khoa Lịch Sử.
Trong quá trình làm đề tài, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô Mai Phương Ngọc - giáo viên khoa Lịch Sử, trường đại học Vinh; Ban biên soạn và nghiên cứu lịch sử, sở văn hóa - thông tin Thanh Hóa, các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, ủy ban nhân dân huyện Hoằng Hóa Đồng thời tôi cũng được ban văn hóa- lịch sử và một số gia đình trưởng họ, trưởng tộc ở xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với sự giúp đỡ đó.
Vinh ngày 16 tháng 05 năm 2011
Tác giả Nguyễn Thị Hải
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử vấn đề: 2
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài: 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu: 5
5 Đóng góp của đề tài: 6
6 Bố cục của đề tài: 7
B NỘI DUNG: 8
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ XÃ HOẰNG LỘC, HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA 8
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: 8
1.1.1 Vị trí địa lý: 8
1.1.2 Điều kiện tự nhiên: 9
1.1.3 Sự thay đổi địa giới hành chính ở Hoằng Lộc trong thời kỳ trung đại: 11 1.2 Truyền thống lịch sử và văn hóa của xã Hoằng Lộc: 14
1.2.1 Truyền thống lịch sử: 14
1.2.2 Truyền thống văn hóa: 16
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DÒNG HỌ Ở HOẰNG LỘC THỜI TRUNG ĐẠI 21
2.1 Khái niệm dòng họ: 21
2.2 Sự hình thành các dòng họ ở Hoằng Lộc: 23
2.3 Các dòng họ chính ở Hoằng Lộc: 26
2.3.1 Họ Nguyễn: 27
2.3.2 Họ Hà: 35
2.3.3 Họ Bùi: 37
2.3.4 Họ Lê: 39
Trang 52.4 Các nhân vật tiêu biểu: 42
CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ DÒNG HỌ Ở HOẰNG LỘC 50
3.1 Quan hệ thân tộc: 50
3.2 Dòng họ trong quan hệ làng xóm: 53
3.2.1 Dòng họ theo địa vực cư trú: 53
3.2.2 Vai trò dòng họ trong quan hệ làng xóm: 54
3.3 Dòng họ trong các mối quan hệ xã hội: 58
3.3.1 Nghi lễ trong dòng họ: 58
3.3.2 Dòng họ trong hôn nhân: 60
3.3.3 Dòng họ trong tang lễ: 61
3.3.4 Dòng họ với việc học hành thi cử: 63
C KẾT LUẬN 67
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
E PHỤ LỤC 73
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong lịch sử văn hóa của dân tộc, dòng họ có một vị trí hết sức đặc biệt,con người ngoài nhu cầu đảm bảo đời sống vật chất còn có nhu cầu khôngngừng nâng cao đời sống tinh thần về mọi mặt Trong báo cáo chính trị củaban chấp hành trung ương Đảng từ đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ 9(4.2001) đã khẳng định “ Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dântộc, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế xãhội”
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời Cơ sở củanền văn hóa ấy bắt nguồn từ văn hóa dòng họ Dòng họ là nơi lưu giữ gia phả,phả ký, câu đối Qua đó chúng ta không chỉ thấy được lịch sử hào hùng củacác thế hệ đi trước mà còn góp phần nhắc nhở các thế hệ đời sau phải nhớ đếncội nguồn của mình, phải cùng nhau giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹpcủa cha ông Từ đó đóng góp sức mình xây dựng dòng họ, xây dựng quêhương đất nước ngày càng giàu đẹp
Vì vậy, việc nghiên cứu dòng họ và những vấn đề xung quanh dòng họnhư mối quan hệ trong dòng họ, mối quan hệ giữa các dòng họ…có ý nghĩarất to lớn trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Từ đó,giáo dục các thế hệ trẻ về truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, thực hiện
“chiến lược người Việt Nam đầu thế kỷ XXI” và xây dựng “nền văn hóa đậm
đà bản sắc dân tộc”
Hiện nay, một xu hướng tìm về cội nguồn đang ngày càng mạnh mẽ và
đi vào chiều sâu Trong các dòng họ và nông thôn, người ta chắp nối gia phả,trùng tu từ đường, quy tập nghĩa trang…từ đó đã khơi dậy truyền thống dântộc Gia phả dòng họ thể hiện lòng thành kính biết ơn đối với tổ tiên Do vậyviệc nghiên cứu một cách khoa học lịch sử văn hóa dòng họ góp phần “gạnđục khơi trong” củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Trang 7Chúng ta thấy rằng, nghiên cứu dòng họ một mặt thể hiện đạo lý “uốngnước nhớ nguồn” truyền thống của dòng họ, thể hiện lòng biết ơn đối với tổtiên, song cũng không tránh khỏi những hạn chế như mất đoàn kết trong dòng
họ, kéo theo sự suy sụp về kỷ cương đạo đức Việc nghiên cứu khoa học vềcác dòng họ là việc làm nghiêm túc, nhằm tiếp tục phát huy mặt tích cực xóa
bỏ những tiêu cực, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Đó là việc làm cầnthiết, đặc biệt quan trọng trong công cuộc đổi mới hiện nay
Cũng như bao miền quê khác trên mảnh đất Hoằng Hóa, Hoằng Lộc làmột vùng đất mà ở đó có nhiều dòng họ có nhiều đóng góp cho dân tộc, mỗidòng họ đều mang bề dày truyền thống của mình, qua đó giáo dục, nhắc nhởchúng ta không được quên những gì cha ông ta đã dày công xây dựng nên màphấn đấu rèn luyện học tập để làm rạng danh cho dòng họ, góp phần xây dựngquê hương Hoằng Lộc ngày càng giàu đẹp
Vì những lý do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Dòng họ vàquan hệ dòng họ ở xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa trongthời kỳ trung đại” làm khóa luận tốt nghiệp của mình, với hi vọng tìm hiểu vềcác dòng họ và những đóng góp của dòng họ trong lịch sử dân tộc Đồng thờiqua đó tìm hiểu sâu hơn về vùng đất Hoằng Lộc trên quê hương xứ Thanh
2 Lịch sử vấn đề:
Nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ là một đề tài khó nhưng cósức hấp dẫn và lý thú đòi hỏi sự bền bỉ và công phu Hiện nay xu hướng trở
về cội nguồn, trở về với tổ tiên dòng họ đang như một làn sóng có lúc êm đềm
có lúc cuộn trào trong mỗi con người chúng ta Vì vậy, được sự quan tâm củaĐảng và Nhà nước nhiều địa phương đã tổ chức hội thảo về lịch sử văn hóadòng họ, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã có những công trình nghiên cứu vềdòng họ nổi tiếng như họ Hồ ở Quỳnh Lưu; họ Nguyễn ở Nam Đàn, NghệAn; họ Lê, họ Trịnh ở Thanh Hóa…Việc nghiên cứu về dòng họ và quan hệdòng họ ở một xã, nhất là một xã như Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnhThanh Hóa, thì hiện nay đã có nhiều người nghiên cứu nhưng chỉ mức độ kháiquát ở từng giai đoạn từng thời kỳ khác nhau chứ chưa có một tác giả nào viết
Trang 8hoàn chỉnh về vấn đề này với tư cách là một chuyên đề độc lập Vì vậy, nguồn
tư liệu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở xã Hoằng Lộc còn tản mạn, chủ yếu
là nguồn tư liệu sưu tầm tại địa phương, bao gồm:
- Những lý lịch di tích văn hóa ở Hoằng Lộc, đây là tập lý lịch di tích
về từ đường dòng họ, di tích về các đền thờ những người có công với nước,những người đỗ đạt cao ở Hoằng Lộc
- “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919” của Ngô Đức Thọ (chủbiên), nhà xuất bản văn hóa năm 1993 Tác phẩm này đã đề cập đến danh sáchnhững người đỗ cử nhân, phó bảng, Tiến sĩ, trong đó có tiểu sử, sự nghiệp củacác nhà khoa bảng quê ở Hoằng Lộc
- “Hoằng Lộc đất hiếu học” của Bùi Khắc Việt (chủ biên), nhà xuất bảnThanh Hóa năm 1996, đề cập đến mọi hoạt động chủ yếu của mọi đời sống xãhội của Hoằng Lộc qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt chú trọng đến văn hóadòng họ
- “Dư địa chí văn hóa Hoằng Hóa” của Ninh Viết Giao (chủ biên), nhàxuất bản khoa học Hà Nội năm 2000 Biên soạn có hệ thống về lịch sử giáodục khoa cử nho học, đặc biệt là làm nổi bật truyền thống hiếu học của cácdòng họ ở huyện Hoằng Hóa nói chung và Hoằng Lộc nói riêng
- Một số gia phả của các dòng họ tại Hoằng Lộc như: họ Hà, họ Bùi, họNguyễn Hầu, họ Nguyễn Thọ Trù, họ Lê…
Ngoài ra còn có tham khảo 1 số công trình sau:
“Cuốn Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh, Sài Gòn năm
Tất cả những bài viết trên đã có những đóng góp nhất định vào việcnghiên cứu dòng họ trên cả nước nói chung và ở Hoằng Lộc nói riêng Tuy
Trang 9nhiên các bài viết ấy chỉ mang tính riêng lẻ, khái quát, chưa đi sâu nghiên cứumột cách có hệ thống và toàn diện về dòng họ và quan hệ dòng họ cũng nhưnhững đóng góp của dòng họ đối với dân tộc Từ đó đặt ra cho chúng tanhiệm vụ là phải đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện hơn, có hệ thống hơn
về dòng họ và quan hệ dòng họ ở Hoằng Lộc, để góp phần giữ gìn và pháttriển bản sắc dân tộc Việt Nam nói chung và địa phương Hoằng Lộc nóiriêng
3 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học của đề tài:
3.1 Phạm vi:
Dựa vào cơ sở tài liệu hiện có và quá trình khảo sát thực địa tại địaphương, phạm vi nghiên cứu của đề tài là dòng họ và quan hệ dòng họ ở xãHoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ trung đại (từ thế
kỷ X đến hết thế kỷ XIX)
3.2 Nhiệm vụ khoa học của đề tài:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về các dòng họ và quan hệ dòng họ, nhữngđóng góp của các dòng họ đã làm nên một xã Hoằng Lộc “địa linh nhân kiệt”của xứ Thanh Vì vậy, trong nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi muốn
đề cập đến một số vấn đế sau:
- Khái quát chung về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm chung
về truyền thống giáo dục ở Hoằng Lộc Đó là sự kỳ diệu tạo nên truyền thốngcủa dòng họ
- Tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống quá trình hình thành vàphát triển của các dòng họ ở Hoằng Lộc, thấy được vai trò của dòng họ trongquá trình xây dựng và phát triển của làng xã nói chung và Hoằng Lộc nóiriêng
- Tìm hiểu về mối quan hệ dòng họ ở Hoằng Lộc
Từ đó chúng ta có hiểu biết sâu rộng hơn về vốn văn hóa truyền thống ởHoằng Lộc
Trang 10
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Nguồn tư liệu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi dựa vào các nguồn tư liệusau:
4.1.1 Tài liệu gốc:
Nghiên cứu về dòng họ và mối quan hệ dòng họ ở Hoằng Lộc, chúng tôi
đã sử dụng các tư liệu điều tra ở xã Hoằng Lộc, gia phả các dòng họ, lý lịchcác di tích lich sử - văn hóa
4.1.2 Một số tài liệu tham khảo:
- Từ điển nhân vật của Nguyễn Quốc Thắng và Nguyễn Bá Nhạ; Biavăn miếu Hà Nội, nhà xuất bản Quốc Gia; Gia phả khảo luận và thực hànhcủa Dã Lan và Nguyễn Đức Dụ; Việc họ của Tân Việt; Lịch sử Việt Namcủa Trương Hữu Quýnh, các tài liệu của các nhà nghiên cứu ở địa phương
và trung ương
- Ngoài các tài liệu trên, chúng tôi còn sử dụng các tài liệu công cụ đểtra cứu như: Những Ông Nghè, Ông Cống triều Nguyễn; Các nhà khoa bảngViệt Nam; Khảo sát làng văn hóa xứ Thanh của Lê Huy Trâm và HoàngAnh Nhân…
- Bên cạnh đó, chúng tôi còn khai thác một số tài liệu kỷ yếu có liênquan như: Danh nhân Thanh Hóa; Kỷ yếu hội thảo khoa học (1993); Kỷ yếuhội thảo văn hóa làng xứ Thanh; Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Bộ;Tham luận hội thảo khoa học về dòng họ với truyền thống văn hóa dân tộc(1996)
4.1.3 Tài liệu điền dã:
Sau nhiều lần nghiên cứu thực địa tại địa phương, chúng tôi đã khảo sáthầu hết các từ đường, đền thờ dòng họ ở Hoằng Lộc, văn bia, câu đối, cụm
di tích lịch sử Đồng thời tiến hành gặp gỡ và trao đổi, phỏng vấn các cán bộvăn hóa xã và các cụ cao tuổi của các dòng họ ở xã để tìm hiểu nghiên cứu
về dòng họ và mối quan hệ dòng họ ở Hoằng lộc
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu:
4.2.1 Sưu tầm tài liệu:
Để có được nguồn tài liệu cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hànhsưu tầm, nghiên cứu, tham khảo và phân tích tài liệu ở thư viện, bảo tàngtổng hợp Thanh Hóa, ban nghiên cứu lịch sử tỉnh Thanh Hóa, sau đó saochép gia phả bằng chữ Hán, rập chép bia ký câu đối Nghiên cứu thực địa tạicác đền thờ, từ đường các dòng họ ở Hoằng Lộc Đồng thời tiến hành điềutra cơ bản điền dã các dòng họ trong làng, phỏng vấn các bô lão địa phương
4.2.2 Xử lý tư liệu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháplôgic để trình bày một cách có hệ thống về quá trình hình thành và phát triểncủa dòng họ theo thời gian, diễn biến lịch sử Ngoài ra chúng tôi còn sửdụng phương pháp so sánh, đối chiếu gia phả, bia ký với chính sử Từ đóđánh giá, phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu nguồn tư liệu khác nhau
để xác minh tính chính xác của sự kiện Sử dụng phương pháp điều tra, điền
dã, xã hội học, dân tộc học tại địa điểm làm đề tài và một số dòng họ, giúpchúng ta có điều kiện quan sát, gặp gỡ, ghi chép những lời kể của các cụ giàcao tuổi Từ đó, đánh giá, phân tích, tổng hợp nêu lên mối liên hệ chặt chẽ,
sự tác động qua lại giữa các dòng họ ở Hoằng Lộc với cộng đồng các dòng
họ khác trên đất nước Việt Nam
5 Đóng góp của đề tài:
5.1 Đóng góp khoa học:
- Khóa luận sẽ cung cấp và giới thiêụ cho độc giả quá trình hình thành
và phát triển của một số dòng họ lớn trên đất Hoằng Lộc, qua đó góp phầngiáo dục đạo đức, nét đẹp văn hóa truyền thống với mục đích giữ gìn vàphát triển bản sắc văn hóa dân tộc
- Tìm hiểu dòng họ và quan hệ dòng họ ở Hoằng Lộc góp phần làmsáng tỏ một số sự kiện lịch sử trong quá khứ mà chính sử mới chỉ nhắc đếnmột cách sơ sài hoặc chưa nhắc đến
Trang 12- Khóa luận cũng góp phần làm phong phú thêm lịch sử địa phương vàtrở thành nguồn tài liệu quý báu để đi sâu nghiên cứu về lịch sử, văn hoá, xãhội và con người xứ Thanh nói riêng, lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung.
5.2 Giá trị thực tiễn:
Hiện nay nhu cầu tìm về cội nguồn để phát huy hơn nữa truyền thốngtốt đẹp của dân tộc ngày càng trở nên cấp thiết Nhiều địa phương có nhiềudòng họ đang tìm tòi, khôi phục lại đền thờ, lăng mộ, gia phả…để khơi dậytruyền thống của dòng họ Bên cạnh đó không ít người xấu lợi dụng, kiếmtrác cầu vinh cho cá nhân mình làm mất đoàn kết gia tộc, làng xóm, hiệntượng “một người làm quan cả họ được nhờ” Vì vậy, luận văn sẽ góp phầnphát huy tính tích cực, xóa bỏ những tiêu cực hướng tới xây dựng khối đạiđoàn kết dân tộc để xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, dòng họ vănhóa, xã hội văn minh hiện đại
Khóa luận góp phần làm gắn bó những con người cùng dòng họ cóthành phần giai cấp, vị trí khác nhau, có phân biệt xa gần thân sơ nhưng
“máu loãng còn hơn nước lã” Khóa luận hoàn thành sẽ góp phần giữ gìn,bảo vệ, phát huy di tích lịch sử văn hóa của dòng họ với những di tích lịch
sử đã được xếp hạng Qua đó giáo dục thực tiễn cho thế hệ trẻ nét đẹptruyền thống và tìm về cội nguồn là truyền thống của dòng họ và của dân tộcViệt Nam
Trang 13B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ XÃ HOẰNG LỘC, HUYỆN
HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
và từ kinh độ 105o 59’ 50” ở Ngã Ba Đông đến 105o 59’ 30” ở Lạch Trường
Cũng như các xã khác trong huyện, Hoằng Lộc là một bộ phận cấuthành của huyện Hoằng Hóa - một huyện có nền văn hiến lâu đời Hoằng Lộcnằm ở phía Đông Nam của huyện Hoằng Hóa Xưa kia, đường thiên lý BắcNam chạy tương đối gần làng Con đường này từ Thăng Long vào, qua NgaSơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa rồi vào phía Nam Nhờ con đường huyết mạch nàycủa đất nước mà Hoằng Lộc ngày xưa đã có điều kiện tham gia vào việc lưuthông thương mại và văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa từ Kinh Bắc, ThăngLong, Nam Định vào và văn hóa từ phương Nam ra [15;22]
Giữa Hoằng Lộc với các xã lân cận, với huyện và tỉnh có mối liên hệtiếp xúc giao lưu thuận tiện và thông thoáng Ở phía Đông qua làng Ông Hòa
có thể đến hội Triều, một làng khoa cử nổi tiếng Ở Đông - Bắc, qua HoằngThịnh, Hoằng Thái vốn có tên kẻ Hành có đường ra Bút Sơn, từ đó sang HậuLộc Về phía Nam qua Hoằng Đại, xưa kia là Kẻ Đại, Phú Cả, Dương Thành
Trang 14có thể đến với các xã ven biển của Hoằng Hóa Từ Hoằng Đại, bằng mộtchuyến đò ngang vượt hạ lưu sông Mã có đường sang Quảng Xương PhíaTây là xã Hoằng Quang, nổi tiếng với vùng đất học Vĩnh Trị, Nguyệt Viên,qua bến đò Nguyệt Viên chừng 5 km thì đến thành phố Thanh Hóa.
Đặc biệt, vùng Đông - Nam xã Hoằng Lộc có 3 huyện lộ đều cắt nhautại trung tâm xã Hoằng Lộc gồm: Bút Sơn - Hoằng Đại (qua xã 1km); đườngPU18 Bút Sơn - Hoằng Lộc - cầu Hoằng Long (qua xã 2 km); đường WP2Hoằng Vinh -Hoằng Lộc - Hoằng Thanh (qua xã 1km) Đường liên xã có từthưở lập làng, đến nay vẫn được sử dụng và nâng cấp như Hoằng Lộc vớiHoằng Đại (phía Nam để đến vùng biển) qua Hoằng Thịnh (phía Đông - Bắcsang Hậu Lộc); Hoằng Quang (phía Tây qua bến đò Nguyệt Viên đến thànhphố Thanh Hóa) và qua Hoằng Thịnh (ở phía Đông) Hiện nay đường liênthôn ở Hoằng Lộc được mở rộng [23;9]
Với vị trí địa lý như vậy là yếu tố quan trọng tạo nên điều kiện thuậnlợi cho sự hình thành, giao lưu và phát triển truyền thống văn hóa của xãHoằng Lộc
1.1.2 Điều kiện tự nhiên:
Hoằng Lộc ẩn chứa vẻ đẹp tự nhiên, mượt mà của màu xanh lá cây,vừa có cái dịu dàng, duyên dáng của một vùng đất văn vật khiến du khách dùchỉ một lần nghé thăm cũng không thể nào quên Hình thể của làng vuôngvức, khiến có người nghĩ rằng vùng đất học nay giống như một cái nghiên lớn
và con đường từ Nguyệt Viên về làng tựa như một cái bút đang chấm vàonghiên mực Với cảnh quan này nó đã in những dấu ấn sâu sắc vào tâm hồn,tình cảm mỗi người dân, nó tác động đến sự phát triển của văn hóa làng xã
Hoằng Lộc còn ẩn mình dưới những rặng dừa, rặng kè quanh năm mộtmàu xanh dịu Với một quần thể kiến trúc bố trí tương đối hài hòa, gồm cácnhà thờ họ, miếu mạo, đình chùa, trường học, nhà ở với một hệ thống đường
sá sạch sẽ, phong quang, Hoằng Lộc mang phong thái thanh lịch duyên dáng
Trang 15của vùng đất học làm cho ai qua đây dù chỉ một lần cũng lưu lại trong kí ứcnhững ấn tượng khó phai.
Quần thể kiển trúc của làng được bố trí hợp lý cân xứng, hài hòa vớimôi trường thiên nhiên Hội Quán được xây ở xung quanh làng, cách đókhông xa là hai áng: Áng Thượng của Bột Thượng và áng Thái của Bột Thái,nơi làng tổ chức lễ hội Đại kỳ phúc Có bốn miếu áng ngữ ở bốn góc làng.Miếu đệ nhất, đệ nhị và đệ tam đều hướng ra đồng xung quanh cây cối xanhtươi Xưa kia ở cạnh các miếu đều có các cây đa xum xuê cành lá, tỏa bóngmát cho bao người qua lại nghỉ chân
Miếu đệ tứ gắn liền với đình, ở về phía bãi trên một khoảng rộng trướcchợ, tiện lợi cho việc tập trung dân cư trong những ngày lễ hội Chùa tọa lạcphía Nam làng nơi tĩnh mịch và cách xa chợ Nhà thờ họ nằm trong các ngõxóm quây quần xung quanh thường là nhà của các con cháu trong họ Sau nàychợ Quăng được chuyển về địa điểm là Cồn Mã Hàng thì chợ được ngăn cáchvới trường bằng một cái đào, xung quanh trồng dừa
Hoằng Lộc còn được mệnh danh là “làng dừa” vì ở đây nhân dân trồngrất nhiều dừa Xưa kia nhân dân trong xã thường truyền tụng nhau câu ca:
“Dừa xóm sau, Cau xóm nhỏ”
Điều đó có nghĩa là mỗi xóm trồng riêng một thứ cây, hoặc là dừa hoặc
là cau nhưng dần dần vị trí cây dừa đã chiếm vị trí cây cau, dừa còn là cảmxúc của nhiều thi nhân đến với Hoằng Lộc Khung cảnh thiên nhiên phongphú với những nét đẹp duyên dáng là môi trường thuận lợi cho phát triểntruyền thống văn hóa, phát triển những suy tư triết lý nhân sinh, những tìnhcảm nhân bản của con người, sự gắn bó với gia đình, quê hương, lòng nhân ái
và ý thức cộng đồng
Hoằng Lộc có diện tích đất tự nhiên toàn xã là 263,67 ha, trong đó diệntích đất nông nghiệp là 171,11 ha, diện tích trồng lúa là 100,06 ha, vườn lưuniên là 6,37 ha, ao hồ là 13,07 ha, nghĩa địa 2,8 ha, đất ở là 45,56 ha, dân số là
Trang 161.410 hộ, 5.224 người, mật độ dân số 1.985 người/km2 [23;7].
Đất đai Hoằng Lộc chủ yếu là đất cát thích hợp thâm canh lúa và màu
Từ một vùng lầy lội xen kẽ cồn bái qua quá trình bồi tụ của thiên nhiên hàngvạn năm, cùng với sức lao động sáng tạo của nhiều thế hệ người Hoằng Lộc
đã trở thành vùng nông nghiệp trồng lúa với xóm làng trù phú
Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa Hoằng Lộc kháthuận lợi trong sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng gặp không ít khó khăn bởinhững trận bão từ biển đông thường xuyên tràn vào Mùa khô thường hạnhán, mùa mưa lũ lụt, ngập úng, gây khó khăn trong sản xuất và đời sống
Như vậy, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã cho phép Hoằng Lộcphát triển nghề nông trồng lúa, trồng màu…rất thuận lợi trong giao lưu vớimọi miền đất nước, để Hoằng Lộc trở thành vùng đất giàu đẹp Song, nhữngkhó khăn do thiên tai gây nên cũng không ít như khí hậu khắc nghiệt, bão, lũlụt, úng, hạn hán…là thử thách thường trực đối với Hoằng Lộc Trong chiềudài lịch sử, với tinh thần cần cù sáng tạo trong lao động, cộng đồng dân cưHoằng Lộc đã đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng quêhương ngày một giàu đẹp
1.1.3 Sự thay đổi địa giới hành chính ở Hoằng Lộc trong thời kỳ trung đại:
Về mặt địa lý hành chính, ngay từ thuở sơ nguyên Hoằng Lộc đã cónhiều tên gọi, đơn vị hành chính Nằm trong huyện Hoằng Hóa - nơi có tới 35dấu tích của nền văn hóa Đông Sơn (cách ngày nay khoảng 2000 năm), cách
di chỉ Hoằng Vinh nơi tìm thấy trống đồng Hê - gơ I chỉ 2 km - loại trốngđồng điển hình nhất của văn hóa Đông Sơn, điều đó cho phép khẳng địnhrằng: Cho đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn thì đã có nhiều nhóm cư dân từphía Tây Thanh Hóa tràn xuống chiếm lĩnh, chinh phục miền đồng bằng venbiển, trên địa bàn Hoằng Lộc đã xuất hiện những chủ nhân
Xưa kia, Hoằng Lộc có tên là Kẻ Vụt, địa danh này giúp chúng ta xác
Trang 17định làng được hình thành từ rất sớm Ngày nay, chúng ta thường bắt gặpnhiều làng vốn có tên ghép với từ Kẻ như: Kẻ Đăm (làng Tây Đam); Kẻ Mẩy(làng Mễ Trì); Kẻ Sét (làng Thịnh Liệt)…Ở Bắc Bộ, hay như ở Hoằng Hóa,những Kẻ Đại (Hoằng Đại), Kẻ Cát (Hoằng Cát) Kẻ Trọng…vẫn còn đượcnhắc đến như dấu ấn của thời xa xưa.
Nhiều nhà sử học cho rằng: Địa danh có từ “Kẻ” là tên những làng cổhình thành từ thời kỳ Hùng Vương dựng nước đến thế kỷ X sau công nguyên
Từ thế kỷ X trở đi đơn vị hành chính cấp cơ sở không chỉ là làng mà còn làtrang, trại, xã, thôn, sách, động, giáp… Từ “Kẻ” không được dùng trongthống kê, khai báo hành chính mà còn trong tên tục, tên phụ [15;16]
Từ khi nước ta giành được độc lập đến năm 906, Nhà nước trung ươngquản lý tất cả các làng xã Để đăng ký vào danh sách cho chính quyền quản
lý, tên làng xã phải là tên chữ Hán, vì thời kỳ đó chữ Nôm chưa ra đời hoặc
đã ra đời nhưng chưa được dùng phổ biến Từ “Vụt” là từ Nôm, được chuyểnthành từ “Bột” là từ Hán, cả về từ dạng và âm đọc, vì vậy tên Kẻ Vụt đượcđổi thành tên Đường Bột Đường Bột trở thành một “Trang” đầu thế kỷ X, địadanh này là tên gọi chính thức của làng sau tên Kẻ Vụt
Tên Đường Bột xuất hiện trong cuốn “thần phả” ghi lại sự tích thànhhoàng làng là Đại tướng quân Nguyên Tuyên, trong đó nói rõ ông ở trangĐường Bột thuộc huyện Cổ Đằng, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa
Đến thời Lê Sơ thì Đường Bột được gọi là Đà Bột, tên Đà Bột xuấthiện trong bia “Đường Bột kiều bi” do Tiến sỹ Nguyễn Nhân Thiệm soạn vàdựng khắc vào năm 1591 “Đà Bột gồm Bột Thượng và Bột Hạ” Muộn nhấtvào thế kỷ XV, Bột Hạ đổi thành Bột Thái, Đà Bột gồm hai xã: Bột Thượng
và Bột Thái Ở sách: “Danh sỹ Thanh Hóa và việc học thời xưa” chép về vịkhai khoa đầu tiên ở Hoằng Lộc như sau: Nguyễn Nhân Lễ người BộtThượng, Hoằng Hóa đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Tân SửuHồng Đức thứ 12 (1481) Trên thực tế thì sự chia cắt này chỉ thuần túy về mặt
Trang 18hành chính, là cơ sở để nhà nước phong kiến quản lý chứ không gây sáo trộn
gì về địa lý và dân cư Tuy mang tên hai xã với một bộ máy quản lý riêng biệtnhưng tính chất cư trú của cư dân không có gì thay đổi Các hộ gia đình các
họ chung sống với nhau trong ngõ xóm Mỗi làng có một văn chỉ riêng nhưnghàng năm vẫn cùng nhau hội họp ở Bảng Môn Đình Điều đặc biệt là cư dân ởhai xã Bột Thượng và Bột Thái vẫn tôn thờ chung một vị thành hoàng đó làđại tướng quân Nguyễn Tuyên Chỗ khác biệt với phần đông các làng xã làmỗi khi chia tách, trước hết phải có một địa giới hành chính cụ thể, ranh giớithường là một con đường, một rạch ngòi…phong tục tập quán vẫn giữnguyên, nhưng không ít nơi xẩy ra tranh giành kiện tụng như: tranh nhau đấtđai, đình chùa thậm chí giành nhau cả thần vị thành hoàng làng Ở trangĐường Bột, về danh nghĩa thì là chia đôi nhưng sự thực đây vẫn là khối cộngđồng cư dân đã tồn tại ổn định và bền vững hàng ngàn năm Mọi hoạt độngđều mang tính chất cộng đồng, mọi người dân địa phương sống bên nhauchan hòa thân ái từ nhiều thế kỷ qua Tuy mỗi xã có tên riêng Bột Thái, BộtThượng nhưng mọi người vẫn gọi là Làng Bột hay Lưỡng Bột hoặc Nhị Bột
Cho tới đầu triều vua Minh Mệnh, hai xã Bột Thượng và Bột Thái vẫntồn tại bên cạnh nhau với tư cách là hai đơn vị cơ sở trong hệ thống hànhchính của nhà nước Sách “Các tổng trấn danh bị lãm” được biên soạn từ
1810 - 1813, là bộ danh mục các đơn vị hành chính thời Gia Long vẫn còn ghi
rõ hai làng Bột Thượng và Bột Thái thuộc tổng Hành Vĩ, huyện Hoằng Hóa,phủ Hà Trung, nội trấn Thanh Hoa Hơn 10 năm sau khi bộ sách hoàn thànhthì hai xã đã có sự thay đổi không chỉ về tên gọi mà cả về hành chính NămMinh Mệnh thứ 2 (1821) Thượng thư bộ hộ là Thía Đức làm bản tấu trình lênvua Minh Mệnh về việc sửa đổi một số tên tổng xã, thôn trong cả nước Trongđợi này, hầu như ở trấn nào cũng có một số làng xã thay đổi tên Tổng Lỗ Đôđổi thành tổng Lỗ Hương, sở Lỗ Đô đổi thành sở Nghĩa Hưng…hai xã BộtThượng và Bột Thái lại được tái nhập và mang địa danh mới xã Hoằng Đạo
Trang 19Ở thời Nguyễn có hai người đỗ Đại khoa là Nguyễn Thố và Nguyễn Bá Nhạ ,sách “Danh sỹ Thanh Hóa và việc học thời xưa” đều ghi Nguyễn Thố quê ởHoằng Đạo, huyện Hoằng Hóa đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân khoa Ất Mùinăm Minh Mệnh thứ 16 (1835) và Nguyễn Bá Nhạ quê ở Hoằng Đạo đỗ ĐệNhị giáp Tiến sỹ xuất thân, Đệ nhất danh khoa Quý Mão Thiệu Trị thứ 3(1843) Như vậy tên xã Hoằng Đạo có từ đây [15;19].
Từ nửa cuối thế kỷ XIX cho đến trước năm 1945, xuất hiện hai tên xãHoằng Nghĩa và Bột Hưng trên cơ sở địa dư và thành phần cư dân của làngBột Thượng và Bột Thái thời Lê hay xã Hoằng Đạo đầu thời Nguyễn, nghĩa làhai xã tồn tại bên cạnh nhau dưới những tên gọi mới
Sách “Đại nam nhất thống chí” được đánh giá là một bộ địa lý học ViệtNam đầy đủ nhất dưới thời phong kiến Sách được biên soạn từ sau năm TựĐức 18 (1864) đến trước năm Tự Đức thứ 29 (1875), trong mục “nhân vật”tỉnh Thanh Hóa khi ghi chép về Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Viên, Hà Duy Phiênđều ghi rõ là quê ở Hoằng Nghĩa Hai tên mới là Hoằng Nghĩa và Bột Hưngtồn tại cho đến cách mạng tháng Tám 1945 rồi đuợc tách riêng ra và lập thành
xã Hoằng Lộc
Như vậy, ta thấy rằng trải qua mấy nghìn năm lịch sử quê hương HoằngLộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã bao lần thay đổi tên gọi, cùng vớiquá trình tách ra rồi lại nhập vào Nhưng quá trình ấy không gây ra một sựxáo trộn nào về măt địa dư cũng như các nếp phong tục tập quán của nhândân địa phương Chính quá trình đổi thay này lại càng chứng tỏ sự ổn địnhcủa địa phương trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội qua nhiều thế kỷ
1.2 Truyền thống lịch sử và văn hóa của xã Hoằng Lộc:
1.2.1 Truyền thống lịch sử:
Hoằng Lộc là một vùng quê văn hiến, đất học, nhiều người đỗ đạt cao,nhiều nhà nho đức nghiệp, là vùng đất có lịch sử khoa cử 438 năm Người mởđầu cho sử học làng đỗ Đại khoa là ông Nguyễn Nhân Lễ Nhiều tài liệu lịch
Trang 20sử cho biết, Hoằng Lộc là một vùng quê có lịch sử phát triển lâu đời Nhữngdấu ấn văn hoá vật chất còn lại cho thấy từ khi châu thổ sông Mã vừa mớikiến tạo, con người đã chinh phục khai phá vùng đất này, cho đến thời cácvua Hùng dựng nuớc, nơi đây đã hình thành làng cổ Sự biến đổi tên làng từ
Kẻ Vụt thời Hùng Vương dựng nuớc, Đường Bột Trang vào thế kỷ X, BộtThuợng và Bột Thái vào thế kỷ XV, Hoằng Đạo năm Minh Mệnh thứ 2(1821), Hoằng Lộc tồn tại từ cuối thế kỷ XIX cho đến ngày nay đã phản ánh
sự phát triển của làng qua các thời kỳ đó
Hoằng Lộc là vùng đất cổ và nằm trong khu vực trung tâm của nhữnglàng cổ ở xứ Thanh Làng đuợc hình thành và phát triển từ thời kỳ văn hoáĐông Sơn cách ngày nay hơn 2000 năm Trên một doi đất cách làng 2 km, ở
di chỉ Hoằng Vinh, đã tìm thấy trống đồng loại Hê-gơ I, loại trống đồng điểnhình của văn hoá Đông Sơn, điều đó cho phếp khẳng định vào giai đọan nàytrên địa bàn Hoằng Lộc đã xuất hiện những chủ nhân Lịch sử địa phuơngkhông ghi chép về làng cổ nơi đây nhưng dòng lịch sử dân gian và lịch sửdòng họ còn ghi chép truyền đời trong các gia phả cho biết: Trong các thời kỳ
từ thời Lý - Trần - Lê mà đặc biệt là thời Lý, Hoằng Lộc là một trong nhữnglàng nổi tiếng của xứ Thanh bởi đây không chỉ là một làng quê có truyềnthống khoa bảng mà còn là nơi diễn ra nhiều lễ hội và phong tục tập quán cònlưu truyền đến ngày nay như: lễ tế trời đất ở Áng Thượng, Áng Thái và ÁngTrung, lễ tế thành hoàng làng Nguyễn Tuyên, lễ hội vật
Hoằng Lộc là một vùng quê hiếu học và văn hiến: Theo thần phả, Vua
Lý Thái Tông trên đường đi dẹp giặc Chiêm Thành đã cho đóng quân tại đây
và mệnh danh vùng quê này là “địa linh nhân kiệt” Văn bia ở văn từ huyệnHoằng Hóa đã khắc họa vị thế và vị trí của Hoằng Lộc “Hình thế thì có núiPhong Châu làm án, có dòng sông Mã uốn quanh, non sông đúc kết khíthiêng, sinh trưởng nhân tài, anh tuấn…kẻ sỹ nhiều người đỗ đạt danh tiếnglẫy lừng, đứng đầu hàng Châu Ái mà sánh chung cả nước” [26;4]
Trang 21Trong lịch sử, Hoằng Lộc có nhiều người đỗ đạt, nhiều vị khoa bảng,khi ra làm quan nổi tiếng về tài năng, nhân cách, chính trực thanh liêm nhưNguyễn Nhân Lễ, Nguyễn Sư Lộ, Bùi Khắc Nhất, Nguyễn Cẩn, Nguyễn NgọcHuyền, Lê Huy Du, Hà Duy Phiên, Nguyễn Viên, Nguyễn Thanh…HoằngLộc cũng là quê hương của Nguyễn Quỳnh con người tài ba được xã hộiđương thời xếp vào “Tràng an tứ hổ”: nhất Quỳnh, nhì Nham, tam Hoàn, tứTuấn Trong lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước của Đảng bộ
và nhân dân xã Hoằng Lộc, những người con của Hoằng Lộc tiếp tục kế tục
sự nghiệp của cha anh mình, đã có những đóng góp vào công cuộc giải phóngdân tộc [26;4]
Như vậy, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá trải quamấy nghìn năm lịch sử với nhiều lần thay tên gọi khác nhau như Kẻ Vụt,Đường Bột, Lưỡng Bột (gồm Bột Thượng và Bột Hạ hay Bột Thái) đếnHoằng Đạo, Hoằng Nghĩa và Bột Hưng rồi đến Hoằng Bột Cùng với quátrình tách ra rồi nhập vào nhưng quá trình ấy hầu như không gây nên một sựsáo trộn nào về mặt địa dư cũng như các nếp phong tục, tập quán của nhândân địa phương Chính quá trình đổi thay này lại càng chứng tỏ sự ổn địnhcủa địa phương trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội qua nhiều thế kỷ
1.2.2 Truyền thống văn hóa:
Trải qua quá trình hàng nghìn năm lao động sáng tạo xây dựng xómlàng quê hương của bao thế hệ người Hoằng Lộc đã hun đúc lên những giá trịlịch sử, văn hóa giàu bản sắc
Về giáo dục: Hoằng Lộc có truyền thống lâu đời trong học hành, khoa
cử được mệnh danh là vùng đất học của xứ Thanh Lịch sử khoa cử ở HoằngLộc đã trải qua 4 thế kỷ Vị khai khoa là ông Nguyên Nhân Lễ, đỗ Tiến sỹkhoa Tân Sửu Hồng Đức thứ 12 (1481) Trong hơn 4 thế kỷ, Hoằng Lộc có 12người đỗ Tiến sỹ (triều Lê - Mạc 10 người và triều Nguyễn 2 người) số lượng
đỗ Hương cống và cử nhân gần 200 vị; đỗ sinh đồ, tú tài và các học vị tương
Trang 22đương khoảng 137 vị Ngoài ra, ở Hoằng Lộc còn có một đội ngũ nho sỹ đôngđảo, là lực lượng quan trọng đóng góp vào sự nghiệp phát triển giáo dục vănhóa cho quê hương Làm rạng danh trong học hành khoa cử ở Hoằng Lộc tiêubiểu có 12 vị được đề danh trên bảng vàng đại khoa, trong đó có 7 vị đượckhắc tên tại Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội Đó là 2 vị đỗ tam khôi: Bảngnhãn Bùi Khắc Nhất và Thám Hoa Nguyễn Sư Lộ; 2 vị đỗ Đình Nguyênhoàng giáp là Nguyễn Thứ và Nguyễn Lại; 1vị đỗ Hội Nguyên là NguyễnNhân Thiệm; 2 vị Hoàng Giáp là Nguyễn Cẩn và Nguyễn Bá Nhạ Nhữngngười đỗ đạt đều ra làm quan, nhiều quan lại quê Hoằng Lộc xưa có phẩmchất, tài năng trở thành trụ cột của triều đình, giữ chức vụ cao, được tặngphong các tước vị như Công, Hầu, Bá…Suốt thời phong kiến, nho sỹ HoằngLộc đã có cống hiến lớn lao trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân
sự, ngoại giao…Đó là các vị quan nổi tiếng về tài năng, nhân cách chính trực,thanh liêm như Nguyễn Nhân Lễ, Bùi Khắc Nhất, Nguyễn Sư Lộ, NguyễnCẩn, Nguyễn Ngọc Huyền, Lê Huy Du, Hà Duy Phiên…Đặc biệt, NguyễnQuỳnh sinh ra tại quê hương Hoằng Lộc đã nổi tiếng cả nước bởi sự tài hoa,tuy chỉ đỗ Hương cống nhưng được dân gian phong là Trạng, được xã hộiđương thời xếp vào “Tràng An tứ hổ”: Nhất Quỳnh, nhì Nham, tam Hoàn, tứTuấn
Tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thánh thiên, thiên thần, nhân thần
có công với xóm làng, đất nước qua các thời kỳ lịch sử ở đền, nghè, đình,chùa Hoằng Lộc là nét đẹp văn hóa đặc sắc Từ xưa, mỗi gia đình ở HoằngLộc đều lập bàn thờ gia tiên được đặt ở nơi quan trọng nhất Các dòng họ lớnthì có nhà thờ họ, dòng họ nhỏ thì có trưởng tộc đồng thời cũng là thờ họ.Việc thờ cúng tổ tiên không chỉ biểu hiện lòng thành kính, biết ơn tới các vị tổtiên mà qua đó giáo dục các thế hệ con cháu nối tiếp truyền thống cha ông,rèn luyện đức tài, phấn đấu thành đạt giữ trọn đạo lý Đăc biệt, Hoằng Lộc córất nhiều nhà thờ họ đồng thời thờ phụng các danh nhân nổi tiếng, đó là các
Trang 23nhà thờ họ Bùi, họ Nguyễn, họ Lê…với các danh nhân, bảng nhãn, tướngcông Bùi Khắc Nhất, hoàng giáp Nguyễn Thiệm, Nguyễn Quỳnh.
Hệ thống đền, nghè, chùa, đình Hoằng Lộc xưa thờ thần, phật rất cổkính và kiến trúc khá lớn Đó là các miếu đệ nhất, đệ nhị, đệ tam là những nơithờ Đống Lửa (mộng vua Lý thấy trong đêm cho là “linh địa” phong thần lậpmiếu thờ) Miếu đệ tứ thờ thành hoành làng Nguyễn Tuyên (tại khu chợQuăng nay là thôn Đình Bảng là công thần nhà Lý, có công dẹp giặc ChiêmThành, được sắc phong là “Đương cảnh thành hoàng, Thượng đẳng phúc thầnđại vương” Một vị thần nữa là Bùi Khắc Nhất - công thần thời Lê Trunghưng (thế kỷ XVI) được triều Cảnh Hưng (1740-1786) sắc phong là “Thượngđẳng phúc thần Tuy dụ Hùng lược đại vương” thờ tại miếu đệ ngũ (cũng lànhà thờ họ Bùi) và phối thờ ở Đình
Hoằng Lộc xưa cũng là địa điểm trung tâm sinh hoạt phật giáo với 2ngôi chùa cổ: Thiên Vương và chùa Nhờn (có từ trước thế kỷ XVII) do sưtăng Trần Công Hoa trụ trì Chùa Thiên Vương nằm cách làng 1km về phíaTây có kiến trúc đơn giản: 3 gian nhà, tường xây gạch mái lợp ngói, bên trong
có tượng Thiên Vương cao lớn, đeo cân đai, ngồi tựa trên ngai, đầu đội mũchạm nóc chùa Chùa Nhờn theo văn bia do Tiến sỹ Phạm Công Trứ soạnhiện còn lưu giữ tại chùa thì chùa là “những tòa phật đoàng hoàng, tônnghiêm, lộng lẫy, có đủ đất làm ra của cải, hoa quả sớm hôm dâng cúng…cóphòng la Hán trang nghiêm ngày đêm tụng niệm Rồng múa hổ chầu lung linhbảo tọa, tùng bách xanh tươi, trăng trong gió mùa, mai trúc đẹp xinh, quếhương ngọt ngào…” [23;27] Chứng tỏ chùa có quy mô lớn về kiến trúc vớinhiều tăng ni, phật tử, là trung tâm phật giáo có ảnh hưởng lớn trong vùng
Đình làng Hoằng lộc xưa có kiến trúc khá lớn Đó là Bảng Môn Đìnhrất nổi tiếng của xứ Thanh Bảng Môn Đình tọa lạc trên khuôn viên khá rộngmặt quay hướng Nam, với bố cục theo kiểu chữ “đinh”(J) Bảng Môn Đìnhgồm 1 tòa đại đình nằm ngang, phía sau là tòa hậu cung Bảng Môn Đình thờ
Trang 24thành hoàng làng Nguyễn Tuyên - vị đại tướng có công bình Chiêm dưới thời
Lý Sau khi mất ông được phong tặng Thượng đẳng phúc thần đại vương,được dân làng tôn làm thành hoàng Hàng năm làng tổ chức tế lễ vào ngày 10tháng 3 và ngày 21 tháng 12 (âm lịch) là ngày sinh và ngày hóa của thần
Là vùng đất được coi là “địa linh nhân kiệt”, Hoằng Lộc đã có nhữngđóng góp nhất định vào kho tàng văn học dân gian quý giá Đó là những câuphương ngôn, tục ngữ, cao dao ca ngợi quê hương, tự hào về truyền thốnghiếu học, phản ánh nghề thủ công truyền thống như nghề dệt, mộc, nề, buônbán…
“Dừa xóm sauCau xóm nhỏ
Nề Hoằng LộcMộc Đạt tài…” [23;29]
Nhân dân Hoằng Lộc sáng tác vè rất nổi tiếng làm vũ khí đấu tranh vớithói hư, tật xấu…ca ngợi tinh thần yêu nước chống giặc kiên cường như bài
“văn thân Hoằng Bột” ca ngợi phong trào Cần Vương chống Pháp tại địaphương có giá trị cao về nội dung và nghệ thuật
Truyện kể dân gian Hoằng Lộc rất phong phú Đó là các truyện kể thuởlập ấp, dựng làng xây dựng quê hương thành vùng đất trù phú với sự phù trợlinh thiêng của các vị thánh thần Truyện kể về đề tài chống ngoại xâm, về tàinăng của các doanh nhân đã đóng góp cho quê hương trở thành vùng đấthọc… Trong đó, nổi bật là truyện dân gian Trạng Quỳnh với nghệ thuật tràophúng gây cười và phản ánh hiện thực, truyện Trạng Quỳnh đã đứng về phíanhân dân đấu tranh phản phong ác liệt chống lại mọi thói hư tật xấu và bạoquyền của Nhà nước phong kiến, với hơn 40 mẩu giai thoại được khởi phát từHoằng Lộc lan tỏa ra cả nước lập thành một hệ thống truyện cười độc đáo, cógiá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc Truyện Trạng Quỳnh được coi là “hoàn
Trang 25thiện nhất trong kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam”, trong đó nhân dânHoằng Lộc có đóng góp lớn rất đáng tự hào.
Ngoài ra, Hoằng Lộc còn có giai thoại về các nhân vật hài hước nhưNguyễn Chung (thuộc dòng họ Nguyễn Quỳnh ở Bột Thượng); Nguyễn Xiển(ở Bột Thái) Tuy không phong phú hoàn thiện như truyện Trạng Quỳnhnhưng đã nối tiếp được tài sáng tác truyện cười độc đáo của quê hương HoằngLộc Cùng với văn học dân gian, nhiều tác phẩm văn học viết ở Hoằng Lộc
đã ra đời Đó là 2 bản “Thúc ước văn” của hai xã Bột Thượng và Bột Thái, làhai bài phú đường luật có vần cổ vũ việc học hành khoa cử…Các bài văn biaChùa Nhờn (Tiến sỹ Phạm Công Trứ soạn; bia cầu Đường Bột (1591); biavăn từ huyện Hoằng Hóa (cử nhân Nguyễn Huy Lịch soạn) đã phản ánh mọimặt kinh tế, văn hóa, địa lý, lịch sử đương thời của địa phương Đặc biệt, tácphẩm văn học đặc sắc là thơ phú Nguyễn Quỳnh (1677- 1748), ông đã để lạibài “Tự thuật”, một số bài tế cha, mẹ, em trai; một số bài thơ, phú bằng chữHán, chữ Nôm
Hoằng lộc còn có dòng thơ yêu nước xuyên suốt giai đoạn lịch sử vớicác tác giả Lê Huy Du, Nguyễn Ngôn Nhân, Nguyễn Huy Cừ, Nguyễn TứKính, Lê Huy Cận…
Trang 26CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DÒNG HỌ
Ở HOẰNG LỘC THỜI TRUNG ĐẠI
2.1 Khái niệm dòng họ:
Ở Việt Nam vấn đề dòng họ vẫn là vấn đề quan trọng, biểu hiện quaviệc tái lập gia phả, trùng tu từ đường, nhà thờ họ, quy tập mồ mả, chấn chỉnhgia phong dòng họ, nghi lễ thờ cúng…Một số dòng họ đã tổ chức được cuộcgặp gỡ thường niên để tưởng niệm tổ tiên trên phạm vi toàn quốc Tổ chứcUNESCO Việt Nam đã lập ra câu lạc bộ các dòng họ, được nhiều dòng họ ởcác địa phương hưởng ứng Tất cả các biểu hiện đó đã nói tới sự “phục hưng”,
“chấn hưng” dòng họ trong xã hội Việt Nam hiện nay
Trên lĩnh vực kinh tế, xã hội và nhân văn, việc một số nhà nghiên cứu
đi sâu tìm hiểu dòng họ như một hiện tượng lịch sử, xã hội và văn hóa đặc thùcủa các dân tộc ở nước ta và đã được báo cáo tại các hội thảo khoa họcchuyên đề Ví như hội thảo khoa học về các dòng họ văn hiến ở Hà Nội(1996), hội thảo về dòng họ Nguyễn Xí ở Nghệ An (1997) và hội thảo khoahọc “văn hóa các dòng họ ở Nghệ An với sự nghiệp thực hiện chiến lược conngười đầu thế kỷ XXI” do hội văn nghệ dân gian, sở khoa học công nghệ vàmôi trường cùng ban dân số kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An phối hợpthực hiện với viện nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam tổ chức
Vây, dòng họ là gì? Bản chất của dòng họ ra sao? Tác động của dòng
họ trong đời sống sinh hoạt hiện nay như thế nào?
Theo Trần Từ, tổ chức “Họ” không phải là cái “đại gia đình phụquyền” của các tư tưởng cổ điển mà “Họ” có thể được xem là một dạng đặcbiệt của “gia đình mở rộng” Vậy, “gia đình mở rộng” ở đây là gì?
Trang 27“Gia đình mở rộng” là một tập hợp nhiều gia đình hạt nhân hoặc giađình nhỏ cùng chung tổ tiên nhưng không nhất thiết cùng chung sống dướimột mái nhà.
Còn theo quan niệm của Giáo sư, Tiến sỹ Ngô Đức Thịnh: “dòng họ làmột thực thể xã hội mang tính phổ quát cao của loài người Nó hình thànhtrên cơ sở quan hệ huyết thống của một quần thể người nhất định, thể hiệnqua ý niệm về dòng dõi từ một ông tổ chung Dòng họ là một thực thể vừamang tính sinh học, vừa mang tính xã hội” [16;46]
Giáo sư Phan Văn Các quan niện: Dòng họ là một hiện tượng lịch sử xãhội đặc biệt mang tính phổ quát cao của nhân loại, ý thức về dòng họ là dấuhiệu quan trọng đánh dấu bước phát triển của xã hội loài người từ mông muộiđến văn minh [16;59]
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Dòng họ là một hiệntượng lịch sử - xã hội đặc biệt mang tính phổ quát cao của loài người Nói đếndòng họ là nói đến những người cùng huyết thống, huyết hệ, có cùng chung tổtiên
Dòng họ, khi xã hội phân chia thành giai cấp và nhà nước đã tiêu vongthì dòng họ với tư cách là sự liên tục giữa ông cha và con cháu vẫn tồn tại.Với các dân tộc ở nước ta thì dòng họ là một tập hợp các gia đình có cùnghuyết thống Một số dân tộc như người Việt, người H’mông…khởi thủy cácgia tộc cư trú thành một làng riêng như: Ngô Xá, Dương Xá, Lưu Xá…saunhiều biến động về dân cư, hiện nay phần lớn các làng đều có nhiều dòng họ,tuy nhiên vẫn còn các dòng họ lớn Do vậy, gia tộc dòng họ vẫn tồn tại gắnchặt với làng xã, hòa vào và tạo dựng nên mối quan hệ làng - xã theo kiểu
“trong họ - ngoài làng”
Theo quan hệ huyết thống, dòng họ có thể mở rộng với cả tộc người và
cả quốc gia với các ý niệm và biểu tượng, “đồng bào”, “con rồng cháu tiên”,
“tháng tám giỗ cha tháng ba giỗ mụ”, nghi lễ giỗ tổ Hùng Vương vào ngày
Trang 28mùng 10 tháng 3 hàng năm…Như vậy, huyết thống, gia tộc, dòng họ đồngnghĩa với ý niệm cội nguồn “suống nước nhớ nguồn”, “tổ tông”, lòng yêunước và ý thức cộng đồng.
Dòng họ không chỉ là một thực thể xã hội, mà còn là môi trường vănhóa mang tính đặc thù Gia phong, truyền thống văn hóa của dòng họ trởthành một nhân tố văn hóa, hạt nhân góp phần tạo nên huyết thống văn hóalàng xã, truyền thống địa phương và dân tộc Hầu như ở mỗi làng xã, cácdòng họ lớn đều có nhà thờ họ Mỗi năm đều tổ chức hội họp nhằm tôn vinhnhững người có công với đất nước và giáo dục truyền thống cho con cháu
Ở nước ta từng tồn tại các dòng họ lớn văn hiến với các nhân vật kiệtxuất đã mang lại niềm tự hào cho gia đình, dòng họ, làng xã và cả quốc gia
Do vây, văn hóa dòng họ còn đồng nghĩa với sự đa dạng văn hóa, bản sắc vănhóa dân tộc, một nhân tố động lực thúc đẩy sự phát triển văn hóa và xã hộiViệt Nam
2.2 Sự hình thành các dòng họ ở Hoằng Lộc:
Hoằng Lộc là vùng đất cổ, ngay từ giai đoạn đầu của nền văn hóa ĐôngSơn tức là nền văn minh trống đồng trên địa bàn này đã có cư dân sinh sống,làng được hình thành từ giai đoạn này, nằm trong bộ Cửu Chân, là 1 trong 15
bộ của nước Văn Lang
Theo thần phả, thuở ban đầu, trang Đường Bột chỉ có 4 dòng họ:Nguyễn, Bùi, Lê, Nguyễn Đến thế kỷ XV, tại Đà Bột (Hoằng Lộc) đông đảocác dòng họ đã đến đây khai hoang, lập ấp và dần dần xây dựng thành xómlàng trù phú Quá trình xây dựng và phát triển làng cũng gắn liền với quá trìnhxây dựng và phát triển dòng họ ở Hoằng Lộc Tính đến nay, Ở Hoằng Lộc đã
có 72 dòng họ lớn nhỏ Các dòng họ từ nơi khác đến đều mang theo nhữngngành nghề, phong tục nếp sống riêng Sự hòa đồng cùng với quá trình chắtlọc, chọn lựa những tập quán tốt đẹp đã xây dựng Hoằng Lộc thành một làngthuần phong mỹ tục
Trang 29Theo gia phả ông Nguyễn Điền, vào đầu thế kỷ XV có 4 người là hậuduệ của tướng quân Nguyên Thuyên từ xứ Bắc vào sinh cơ lập nghiệp ởThanh Hóa, trong đó có người về Bột Thượng Nguyễn Thuyên là danh tướngdưới triều Trần Nhân Tông (1278 - 1293) [15;32].
Vào đầu thế kỷ XV, khi nước ta rơi vào ách thống trị của đế chế TrungQuốc, nhiều bậc trí thức đã không chịu cộng tác với nhà Minh đã vào xứThanh, lúc này xứ Thanh đang là căn cứ kháng chiến của nghĩa quân LamSơn Những vị tổ của dòng họ Nguyễn đã tìm đến Hoằng Lộc sinh sống, trướchết cũng vì lý do trên Trong số những người này, có vị dưới triều Trần, đãtừng giữ chức “khâm sai Tứ thành đề lĩnh, sắc phong Hoan Ái đại tướngquân” Tính đến nay, dòng họ Nguyễn nhập cư vào Hoằng Lộc được 18 đời
Dòng họ ông Nguyễn Huy Lịch có nguồn gốc từ Nguyễn Bặc, từng giữchức quốc công đời vua Đinh Tiên Hoàng từ Ninh Bình về làng Bột đến nay
đã được 16 đời
Bước sang thể kỷ XVI, XVII thành phần cư dân ở Hoằng Lộc lại được
bổ sung mà phần nhiều là những người có quan chức và học vấn cao Khoảngcuối thế kỷ XVI, ông Nguyễn Cẩn, nguyên quán ở trại Ba Tiêu, huyện ThủyNguyên, Hải Phòng đến lập nghiệp ở Bột Thái Sau khi thi đỗ Hoàng Giáp,khoa Diên Thành thứ 3 (1580), ông đã ra làm quan với nhà Mạc một thời gianngắn, nhưng vì tình hình Bắc Triều vô cùng phức tạp, chính sự rối ren, chiếntranh xảy ra liên miên làm cho dân tình điêu đứng, nên ông từ bỏ nhà Mạcvào Tây Đô theo vua Lê Thế Tông Sau khi ở xóm Chùa bị hỏa loạn, ôngchuyển sang xóm Chúa và gây dựng nên dòng họ Nguyễn ở đây [15;33]
Vào khoảng năm 1528 - 1583, dưới Triều Lê Trung Hưng, ông NgôChính quê ở Hưng Yên đã theo ông Nguyễn Cẩn vào sinh cơ lập nghiệp ởxóm Lay, xã Bột Thái (Hoằng Lộc), đổi sang họ Nguyễn, thành lập họNguyễn đến nay kế tiếp 12 đời Nhà thờ tại xóm Lay còn treo bức đại tự “NgôNguyễn gia từ” con cháu có đốc học Nguyễn Năng Nhượng
Trang 30Định cư ở Hoằng Lộc sớm còn có dòng họ Trịnh “Hành trạng kỷ”quan thượng thư Bùi Khắc Nhất cho hay “cụ Thượng Bùi có một người congái là Bùi Thị Khuê, cháu ngoại Yên quận công Lại Thế Khanh Khi mẹ làLại Thị Sản mất, bà Khuê được ông ngoại đưa về nhà nuôi khi cháu lớn Yênquận công đưa vào Vương phủ làm Nội thị cung tần Khi bà Khuê sinh đượcmột người con trai là Trịnh Công Tựu được chúa Trịnh cho phép về lậpnghiệp ở quê mẹ là làng Bột Thái và gây dựng nên dòng họ Trịnh ở đây[15;34].
Theo gia phả, Trịnh Giàu vốn quê ở Thanh Hóa, từng giữ chức Namquân đô đốc tướng quân tước Viêm quận công, đã đến ở quê vợ là làng BộtThái năm 1620, triều Lê Thần Tông Nhà thờ họ Trịnh, nằm gần nhà thờ họBùi là nơi Trịnh Công Tựu dựng nhà khi mới đến
Vào thời Trịnh Tráng (1623 - 1657) có họ Nguyễn ở Bắc nhập cư vàolàm nhà ở gần khu văn chỉ của làng tại xóm Mẫu, nên gọi là Mẫu Tộc Họ nàysau đổi là họ Nguyễn, ngày nay có ba chi phái lớn Nhà thờ đại tôn hiện còntại xóm Mẫu Tính đến nay, dòng họ này đã cư trú ở Hoằng Bột được 14 đời
Khoảng đầu đời Bảo Thái (1720), ông Hoàng Khắc Đốc quê ở Nghệ
An ra sinh sống lập nghiệp ở làng Bột Trước kia ông ngoại ông Đốc là ngườilàng Bột vào làm Hiến sát sứ Nghệ An và nhập cư ở đó Khi ông mất, con gáiông ở lại quê chồng và cho con trai của bà về quê ở để tạo đường đi lại HọHoàng hiện nay là một trong những dòng họ lớn ở Hoằng Lộc
Ở Hoằng Lộc, có rất nhiều họ Lê, họ Nguyễn có nguyên quán khácnhau Cuối thời Lê Trung Hưng, ông Lê Phúc Khánh vốn là người Đình Cẩm,Phù Lưu, Bắc Ninh, đỗ Hương Cống, làm Tri huyện huyện Hoằng Hóa, thấyHoằng Lộc là đất hiếu khách, ông đã cư trú tại đây và gây dựng nên dòng họLê
Họ Đinh, vốn ở Ninh Bình tới lập nghiệp đến nay đã được 5 đời
Trang 31Ngoài những dòng họ nói trên còn rất nhiều tộc họ, có nhiều người tàinhập cư vào Hoằng Lộc với nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do vì mếncảnh, mến người và Hoằng Lộc là nơi hiếu học, có nhiều điều kiện cho họchành và phát triển tài năng của con cháu sau này [15;35].
Như vậy, với những lý do nêu trên thì cộng đồng dân cư Hoằng Lộcmặc dù từ nhiều địa phương về đây quần tụ đã sẵn sàng cùng nhau chia sẻngọt bùi, đùm bọc yêu thương, kề vai sát cánh để xây dựng quê hương
Song song với quá trình nhập cư là quá trình chuyển cư của người dânHoằng Lộc đến các vùng mới để làm ăn sinh sống như dòng họ Nguyễn ởHoằng Tân, họ Bùi có một chi nhánh ở Quảng Xương, họ Nguyễn và họ Lê ởCẩm Thủy, Thọ Xuân, Nông Cống, Thạch Thanh, Triệu Sơn…
Do vị trí địa lý lịch sử và cảnh quan, Hoằng Lộc có điều kiện giao lưuvăn hóa tương đối rộng rãi, thu hút nhiều người tài từ các vùng khác đến.Người Hoằng Lộc đi làm ăn xa, làm thợ, đi buôn, dạy học, làm thuốc, làmquan, góp phần vào giao lưu phát triển văn hóa chung đồng thời tiếp thu đượcnhiều thông tin mới, kinh nghiệm hay vun đắp cho quê hương Đó là nhữngyếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các dòng họ ở xã HoằngLộc
2.3 Các dòng họ chính ở Hoằng Lộc:
Khảo sát các dòng họ ở Hoằng Lộc, chúng tôi thấy hiện nay có 72 dòng
họ lớn nhỏ cùng chung sống đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, cùngnhau ý thức được vai trò, trách nhiệm của họ tộc mình với làng xóm và trongviệc thực hiện quy ước làng xã
Trong 72 dòng họ ấy bên cạnh các dòng họ gốc ở Hoằng Lộc như họNguyễn, họ Bùi, họ Lê, họ Nguyễn còn có các dòng họ khác từ nơi khác đến
cư trú như họ Trịnh, họ Đinh, họ Hà, họ Ngô, họ Hoàng… sự hội nhập mộtloạt các họ tộc đó đã làm cho cư dân Hoằng Lộc thêm đông đúc và làm choquan hệ hành chính ở làng đậm nét hơn quan hệ huyết tộc Trải qua quá trình
Trang 32cộng cư, các dòng họ ở Hoằng Lộc cùng khai phá đất hoang, cải tạo ruộngđồng, chống thiên tai, dịch họa, sản xuất nông nghiệp, tạo dựng xóm làng,phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Trong các dòng họ cùng chung sống trênvùng đất Hoằng Lộc có khoảng gần 10 dòng họ lớn đã định cư ở đây sớm từthời kỳ trung đại như họ Nguyễn Bảo Toàn, họ Nguyễn Hầu, họ Ngô -Nguyễn, họ Lê, họ Lê Huy, họ Bùi, họ Hà…
2.3.1 Họ Nguyễn:
Họ Nguyễn là dòng họ lớn ở Hoằng Lộc, có truyền thống khoa bảng từxưa Vì thế, họ Nguyễn được xếp vào hàng dòng dõi “danh gia thế phiệt’ vớinhững tên tuổi nổi tiếng như Nguyễn Sư Lộ, Nguyễn Thứ, Nguyễn NgọcHuyền, Nguyễn Cẩn, Nguyễn Nhân Thiệm, Nguyễn Thanh…Dòng họNguyễn ở Hoằng Lộc bao gồm 4 dòng họ lớn: họ Nguyễn ở thôn Thị Chủ; họNguyễn Thọ Trù; họ Nguyễn Bảo Toàn; họ Nguyễn Hầu
Tương truyền rằng: Mộ tổ đời trước cụ Thái Bảo (tước phong đời Tiền
Lê, là quan viên phụ), được chôn cất ở Mũi Voi, là ngôi mộ phát phúc, MũiVoi ở thôn Ông Hòa, tổng Bái Trạch, huyện Hoằng Hóa Đất này là đất NgọLong Khi định huyệt ở đây, con cháu sẽ được phong Hầu, nếu để linh khí bay
đi e rằng về sau con cháu không phát [30;2]
Thời Lê mạt, ở xã Nguyệt Viên có quan Tả Lễ, thấy Mũi Voi là đất tốtnên định dâng đất ấy cho quan phủ, nhưng Thái Quận Công ở họ ta khôngnghe Viên quan nay ghen tức, bèn xui họ Trịnh, vốn có phần mộ táng trướcgần đấy, bao rộng mộ ra, choán cả phần mộ cụ Tổ họ ta…Vì thế, hàng năm cứ
Trang 33đến ngày 15 tháng giêng con cháu đi thăm mộ thì đến đây bái yết, ngưỡngmộ.
Thái Bảo Nguyễn tướng công và cụ bà là Từ Hạnh phu nhân sinh đượchai người con trai Người con trai trưởng tên là Nguyễn Sư Lộ và người contrai thứ là Nguyễn Cẩn Trai Từ đây, họ Nguyễn chia làm hai dòng:
Dòng cụ Nguyễn Sư Lộ làm dòng trưởng
Dòng cụ Nguyễn Cẩn Trai làm dòng thứ [30;3]
Cụ tổ của dòng trưởng là cụ Nguyễn Sư Lộ (1519 - ?) tên thụy là VănĐạt, ông thi đỗ Chế khoa Đệ nhất giáp Tiến sỹ, cập đệ đệ tam danh, năm 1554được ghi tên trên văn bia Tiến sỹ ở văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, giữchức Lại thị hữu thị lang được phong tước Đoan phúc Hầu thời Tiền Lê
Cụ tổ đời thứ hai dòng trưởng là Nguyễn Thứ, là con trai cụ Nguyễn Sư
Lộ, tên thụy là Văn Nguyên, ông thi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sỹ năm 1598, đượcghi tên trên văn bia Tiến sỹ ở văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, từng giữchức “Hàn lâm viện Hiệu Lý Thị Giảng, cao nhất là Thái Thuờng Tự Khanh”thời Tiền Lê
Con rể cụ Nguyễn Sư Lộ là Bùi Khắc Nhất, đỗ Tiến sỹ, Bảng nhãn, giữchức Hộ bộ thượng thư và Binh bộ thượng thư
Dòng thứ, cháu đời thứ 6 cụ Nguyễn Cẩn Trai là cụ Nguyễn NgọcHuyền, tên húy là Trung Đạt, tên thụy là Trực Phương Năm 15 tuổi đã thiHương đỗ Tam trường Năm 18 tuổi cùng anh trai là Ngyễn Ngọc Toản thi đỗHương Cống Năm 27 tuổi được bổ nhiệm Tri huyện Năm 1721 thi Hội đỗ
Đệ tam giáp Tiến sỹ Năm 1729 thăng Đông các đại học sỹ Thái thuờng tựkhanh lĩnh Đốc trấn Cao Bằng Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1742) miền Cao Bằng
có loạn, do các tù trưởng làm phản, được triều đình đặc sứ Đốc trấn Cao Bằnglần thứ 2, được ban quyền tuy nghi hành sự Ông lấy ân đức cảm hóa, thuyếtphục đã dẹp được giặc
Trang 34Chúa Trịnh đánh giá: “Ngọc Huyền làm đốc trấn Cao Bằng 7 năm, cótài, có đức vỗ về dân chúng, dẹp yên giặc dã, nhờ đó mà dân tình yên ổn làm
ăn, triều đình và chúa rất yên tâm trọng dụng Nay về triều làm việc tronghoàng cung là điều đáng tin cậy” Cụ mất 24 tháng 7 năm 1743, thọ 59 tuổi.Sau khi ông mất triều đình cử phái bộ đặc mệnh mang sắc dụ về quê nhà làm
lễ tấn phong: “ Đệ Tam giáp Tiến sỹ; Đông các đại học sỹ; Thái Quận công;Thiếu phó” [30;54]
Ngoài các tiến sỹ ra, hai nhánh họ này có gần 40 người đỗ nho sinh,giám sinh Quốc Tử Giám, cử nhân, tú tài qua hai triều Lê - Nguyễn Từngđược bổ nhiệm là Tri phủ, Tri huyện, Đốc học, Huấn - Đạo, được phong cáctước Bá, Tử, Nam và các phong hàm khác Người đời xưa đã từng ca ngợi:
“Tổ là Thái Bảo, tông là Tiến sỹ
Ba đời Công Hầu Tiến sỹNhà tích đức, họ vinh quangCon cháu các đời sau vinh quang”
Hiện nay họ tên, quê quán của 3 vị Tiến sỹ Nguyễn Sư Lộ, NguyễnThứ, Nguyễn Ngọc Huyền còn ghi trong sách “Đăng khoa lục” và khắc trênbia Tiến sỹ dựng tại văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội
Như vậy, dòng họ Nguyễn là dòng họ lớn, có tiếng ở Hoằng Lộc vàcũng là một trong những dòng họ lớn có công xây dựng đất Hoằng Lộc thànhvùng đất học nghìn năm văn vật của xứ Thanh cùng bao dòng họ khác như họBùi, họ Hà, họ Lê…và đây cũng là dòng họ được nhân dân trong vùng quýtrọng
Trang 35gọi là Đường Trù) nên gọi là Nguyễn Phúc Trù, nguyên bản chữ Hán có 4chữ: “phồn diễn danh thăng” (có nghĩa là phồn thịnh đông đúc dài lâu cóthăng tiến đủ đầy) và trong gia phả cũ các Cụ có lời di chúc: Trải qua mấynghìn đời cha con ông cháu vẫn ở chung với nhau rất đầm ấm, kính trênnhường dưới vui vẻ hòa thuận Các cụ mong muốn con cháu ngày càng đôngvui, noi gương các cụ đời trước, cha mẹ giáo dục con cháu học hành chămchỉ, ăn ở lương thiện hòa thuận, giữ gìn đạo đức phẩm chất tốt đẹp đời sống
no ấm trong sạch để tiếng thơm cho đời sau [12;5]
Theo thần phả, cụ tổ đầu tiên là Nguyễn Cẩn, thụy là Huệ Lâm (1537 1585) ở Ba Tiêu Trại (Trại Chuối) huyện Thụy Nguyên, Hải Phòng Cụ sinh
-ra trong một thời kỳ rối ren của lịch sử nước nhà, từ Thanh Hóa vào Namthuộc nhà Lê gọi là Nam Triều Từ Ninh Bình trở ra Bắc thuộc về nhà Mạc,gọi là Bắc Triều Lúc này, cả Nam, Bắc Triều đều mở khoa thi và cụ NguyễnCẩn đậu Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân năm 1580 đời Lê Thế Tông ở BắcTriều, làm quan với nhà Mạc được vài năm thì thấy triều đình Mạc Mậu Hợp
có nhiều gian thần cụ đã cáo quan về quê ở ẩn Rồi sau đó vào khoảng năm
1583 cụ đã đưa một người con và một người cộng sự tìm đường vào ThanhHóa phò vua Lê, được vua Lê Thế Tông giao cho chức “hình khoa đô cấp sựtrung” ông bị bệnh và mất ở kinh đô Vạn Lại, được đưa về an táng tại nơi trúquán (làng Bột Thái, nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh ThanhHóa), được phong “Thượng đẳng phúc thần”
Cụ tổ đời thứ 2 là cụ Nguyễn Quý Công (Thuần Chiết) cụ đỗ HươngCống, giữ chức Tri huyện, huyện Chân Phúc, Nghi Lộc, Nghệ An Cụ mấtngày 12 tháng giêng (ngày nay họ Nguyễn Thọ Trù lấy ngày này làm ngàygiỗ hàng năm)
2 cụ tổ đời thứ 3 là cụ Nguyễn Yến, tự Học Hải, hiệu Khoa Tiên đậu cửnhân và cụ Nguyễn Oánh, tự là Xuân Oánh, thụy là Thuần Nhã, đậu cử nhânđời Lê Con trai cụ Nguyễn Oánh là cụ Trung Hậu là cụ tổ đời thứ 4, ông giữ
Trang 36chức Tướng sỹ lang, điển mục sứ tại Hưng Yên sở, đời Lê Cụ Thuần Chính
là ông tổ đời thú 5, cụ giữ chức Tướng sỹ lang đời Lê, làm Trị sự tại điện
“kim long” (điện trông coi nhà thờ và lăng miếu cho nhà vua thuộc bộ lễ) vàsau đó làm: Ban phủ hiệu sinh (trông coi việc học hành thi cử ở huyện)
Cụ Nguyễn Cẩn là đời thứ nhất, các cụ ở đầu chi là đời thứ 6 cho đếntrước cách mạng tháng Tám 1945 với sự kiện vua Bảo Đại thoái vị thì dòng
họ Nguyễn Thọ Trù trải qua 10 đời
Từ đời thứ 1 đến đời thứ 10 ông bà, cha mẹ, con cháu họ Nguyễn ThọTrù đều quần tụ sinh sống lập nghiệp tại xóm Chúa Bính (xóm Bắc Nam ngàynay) quay quần xung quanh nhà thờ đại tôn, chỉ có những sự biến động nhỏ
Đôi câu đối nổi bật sau đây nói lên nguồn gốc của họ Nguyễn Thọ Trùnhắc nhở con cháu đời sau không bao giờ được quên Hiện nay đôi câu đốinày vẫn được treo ngay cửa chính vào nhà thờ:
“Địa ư Đường Bột thanh danh ấp
Hệ xuất Thọ Trù lễ nghi gia”
Lược dịch: “Làng thanh danh ở ấp Đường Bột
Nhà thi lễ dòng họ Thọ Trù” [12;5]
Như vậy, qua lịch sử ta thấy dòng họ Nguyễn Thọ Trù là dòng họ cólịch sử lâu đời ở Hoằng Lộc Dòng họ này không chỉ góp phần quan trọng vàoviệc xây dựng vùng đất Hoằng Lộc trở thành vùng đất học Thanh Hóa mà còn
có nhiều đóng góp công sức vào quá trình dựng nước và giữ nước của dântộc
- Dòng họ Nguyễn Bảo Toàn:
Đối với dòng họ Nguyễn Bảo Toàn đã trải qua các triều đại: Trần Lê Trịnh - Nguyễn, binh biến triền miên Các vị tiền nhân đã trải qua nhiều thăngtrầm, đã phải lưu hương về Thanh sinh cơ lập nghiệp Đất tổ dòng họ NguyễnBảo Toàn tại xóm Đà Thắng, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh ThanhHóa Trải qua các thời đại nhà Trần, có những cuộc binh biến thăng trầm,
Trang 37-luôn bị giặc ngoại xâm đốt phá, nhiều gia đình dòng họ phải lưu tán, tộc phả
họ Nguyễn Bảo Toàn bị thất lạc vào khoảng cuối triều Trần đầu triều Lê.Tiên tổ họ Nguyễn Bảo Toàn cũng nhập cư và sinh trưởng ở miền đất “địalinh nhân kiệt”:
“Lưỡng Bột khoa danh Nam địa quý Nhất Quỳnh hùng biện Bắc thiên văn” [32;2]
Vào thời Lê Thiền Tông (1658) tiền nhân họ Nguyễn Bảo Toàn đến lậpnghiệp ở Bột Đà trang, đã có các vị đại học vị khoa danh như sau:
+ Hiển cao tổ khảo Quốc Tử Giám Giám sinh: Nguyễn Quý Công thụy Văn Chất
+ Hiển cao cổ khảo Quốc Tử Giám Giám sinh: Nguyễn Quý Công thụy Văn Trung
+ Hiển cao tổ khảo Quốc Tử Giám Giám sinh: Nguyễn Quý Công thụy Văn Trực
-Ba vị tiền nhân trên đều là anh em ruột, đều đỗ đạt khoa danh được nhàvua cho phép dùng tên thụy theo tên các vị là thủy tổ của họ Nguyễn BảoToàn hiện nay Đó là:
* Hiển cao tổ khảo Đệ nhất tiên tông Quốc Tử Giám - Giám SinhNguyễn Quý Công, thụy Văn Chất Mộ táng tại Nổ Ná Xứ
* Hiển cao cổ khảo Đệ nhị tiên công Quốc Tử Giám - Giám SinhNguyễn Quý Công, thụy Văn Trung Mộ táng tại Cồn Me
* Hiển cao tổ khảo Đệ tam tiên công Quốc Tử Giám - Giám sinhNguyễn Quý Công, thụy Văn Trực Mộ táng tại Bản Thôn
Hiện nay di tích còn tại nhà thờ họ Nguyễn Bảo Toàn và những đôi đũathờ: một đôi bằng ngà voi, một đôi bằng gỗ kim giao, một đôi bằng gỗ mun
Đó là những kỷ vật được vua ban tặng cho các đại thần Trong nhà thờ còn lạimột sắc phong của vua Cảnh Hưng phong tặng cụ Trực Lượng tiên sinh hoàn
Trang 38thành nhiệm vụ đi sứ Bắc Quốc về nhập chức Tả Lang Nông Cống Tri huyện.Phong tặng năm Cảnh Hưng thứ 40 (1790) [32;3].
Từ năm Kỷ Mão (1819) có sự phân chi để phụng lễ nhà thờ họ, nhữngngày tết đầu năm (Nguyên Đán) con cháu đến nhà thờ thắp hương Hàng năm
cứ vào ngày rằm tháng bảy con cháu dòng họ Nguyễn Bảo Toàn từ khắp nơilại về làm giỗ tổ họ, tưởng nhớ tới cội nguồn và ôn lại truyền thống của chaông
Như vậy, qua các thời kỳ phát triển của lịch sử, con cháu dòng họNguyễn Bảo Toàn đã và đang phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng tộc đểcùng nhân dân Hoằng Lộc viết tiếp những trang sử vẻ vang của quê hương
- Dòng họ Nguyễn Hầu:
Nguyễn Hầu là một trong những dòng họ có truyền thống khoa bảngnổi tiếng của vùng đất Hoằng Lộc, với 4 người đỗ Tiến sĩ là Nguyễn Nhân Lễ,Nguyễn Thanh, Nguyễn Lại, Nguyễn Nhân Thiệm Theo gia phả cũng như tàiliệu điền giã thì dòng họ Nguyễn Hầu có nguồn gốc ở thôn Hưng Thịnh, xãHoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Từ xưa, đã nổi danh có nhiềungười tài giỏi, đức độ luôn giúp đỡ mọi người Nhưng đặc biệt đến đờiNguyễn Nhân Lễ và Nguyễn Thanh trở đi thì danh tiếng của dòng họ pháttriển đến đỉnh cao Hiện tại từ đường dòng họ Nguyễn Hầu là nơi thờ Tiến sĩNguyễn Nhân Lễ và Tiến sĩ Nguyễn Thanh
Qua các tài liệu như “Đăng khoa lục”, “Các nhà khoa bảng Việt Nam”đều thống nhất Nguyễn Nhân Lễ sinh năm 1461, mất năm 1522, đỗ Đệ tamgiáp đồng Tiến sỹ xuất thân, khoa Tân Sửu Hồng Đức thứ 12 (1481) lúc 21tuổi Nguyễn Nhân Lễ làm quan hơn 40 năm, trải qua 7 triều vua từ Lê ThánhTông đến Lê Cung Hoàng từng giữ các chức Tri huyện Kim Động, ThọXương, Phú Bình Năm Thống Nguyên thứ nhất triều Lê Cung Hoàng, ôngđược phong Án sát xứ Sơn Nam
Trang 39Trong tập sách “Các danh sĩ Thanh Hóa và việc học thời xưa” (1995),
có nói đến việc Tiến sỹ Nguyễn Nhân Lễ làm đến chức Hữu thị lang - mộtchức quan đứng hàng thứ 3 trong bộ giới thượng thư và quan tri
Khi tìm hiểu về Tiến sĩ Nguyễn Thanh, các nguồn sử liệu cho biết: thờitrai trẻ ông gia nhập nghĩa quân, dưới triều Lê Cung Hoàng (1522- 1527).Năm 25 tuổi, ông dời quân ngũ về quê bắt đầu đi học Khoa thi Tân sửu,Quảng Hòa (1541) triều Mạc Phúc Nguyên mở khoa thi, Nguyễn Thanh đã dựthi và đỗ Tiến sỹ Sau khi đỗ Tiến sỹ ông được nhà Mạc bổ nhiệm chức HànLâm viện kiểm hiệu thảo - một chức quan trong viện giữ việc kiểm thảo cácvăn thư - một văn phòng bên cạnh vua Xét về thứ bậc, quan chức thì NguyễnThanh thuộc hàng Chánh Tứ Phẩm, ông còn là người được nhà vua phongtước bá mà chế độ phong kiến ban tặng cho những người có công lớn: Công,Hầu, Bá, Tử, Nam
Sau một thời gian làm việc ở triều đình, ông được thăng giám sát Ngự
Sử Đạo Lạng Sơn, rồi Hiến sát phó sứ Thanh Hoa Ông giỏi chính trị có tàithao lược, được bạn đồng lưu kính phục
Ngoài hai nhân vật Nguyễn Nhân Lễ và Nguyễn Thanh, dòng họNguyễn Hầu là một tộc họ có truyền thống kế thừa đăng khoa đã có 4 người
đỗ đại khoa Theo gia phả dòng họ cho biết: trước kia họ có 8 sào ruộng, theotộc ước, người nào đỗ Đại khoa thì được ban cho một phần trong số ruộng ấy
để xây nhà ở Số còn lại họ dùng làm “học điền” cho con em trong dòng tộc[24;7]
Có thể nói dòng họ Nguyễn Hầu là dòng họ lớn có truyền thống hiếuhọc và khoa bảng ở Hoằng Lộc Ngày nay nhân dân xã và con cháu trongdòng họ Nguyễn Hầu đã và đang theo gương cha ông “ăn quả nhớ kẻ trồngcây”, “uống nước nhớ nguồn” để xứng đáng với truyền thống tốt đẹp củadòng tộc, với mảnh đất ngàn năm văn vật mà cha ông đã dày công tạo dựng
Trang 402.3.2 Họ Hà:
Đây là dòng họ gốc ở Hoằng Lộc Dòng họ này đã có nhiều công laođóng góp lớn cho vùng đất Hoằng Lộc ngay từ khi sơ khai lập ấp, lập làng
Theo phả ký của bản tộc thì, gia tộc này vốn mang họ Kép, lúc đầu là
họ Hà Nguyễn, đến khoảng niên hiệu Minh Mệnh, ngoài Bút Phong chủ nhân(tức là Nguyễn Phan) bắt đầu được bổ làm lang trung ở Bộ Hình, theo hầuloan giá được hoàng đế yêu mến hỏi đến tính danh, rồi đổi cho thành họ HàDuy Thế là danh hiệu hiển đạt vậy Khởi gia ở làng Hoằng Nghĩa, chín đờiđều có người làm quan nên phát thành một vọng ấp lừng lẫy ức vạn năm Làmquan nhất phẩm triều đình mà thành tựu trên con đường hoan lộ; Tôn quýnhất thiên hạ mà gia thanh lừng lẫy, có lẽ là bởi nhờ ở nguồn gốc vậy [11;2]
Truyền ngôn rằng: Tổ tiên họ Hà vốn ở Kim Thành, huyện Yên Định,các chi hệ họ Hà cũng từ đây mà ra Nay căn cứ vào vị thứ của tổ tiên trongphả ở bản giáp chép về cụ tổ họ Hà (tổ thứ nhất tên tự là Phổ Minh) thì thủy
tổ vốn ở giáp Nghĩa Đạo, trăm đời không đổi mà đức hậu vẫn còn lưu lại, để
từ đó có thể biết được Ngày giỗ của các thế hệ trong bản tộc gia phả vẫn cònghi lại: cụ đời thứ ba lĩnh ấn Đồng Tri phủ Cụ đời thứ 5, thứ 6 kế tiếp trúngHiệu sinh (nay là tú tài) cho đến đời thứ 7 được trời bù đắp cho có ba hệ chiđược hưởng phúc lâu đời Hệ chi thứ nhất lấy được Hương giải (nay là cửnhân), hệ chi thứ 2, thứ 3 đều trúng Hiệu sinh Đến đời thứ 8 lại càng mạnhthêm và hưng thịnh nhất là hệ chi thứ 2, 4 chi phân lập vinh đạt được 3 chi; vịlệnh công ở chi thứ nhất trúng Tam trường khoa thi hội, vị lệnh công chi thứ 3thì đỗ Hiệu sinh; vị lệnh công chi thứ 4 đỗ Hương giải, đều là những bậc anhtài đương thế Thời Ngụy Tây (chỉ Tây Sơn) kẻ sỹ phần nhiều không ra làmquan cam chịu trốn tránh, chỉ có vị lệnh công Tam trường của họ ta là khônglàm quan cũng không bỏ trốn, chính khí đoàng hoàng, ngôn ngữ cương trực,khiến cho chúng phải kính, phải sợ, tùy phục uy thế của ngài, dân địa phươngcũng nhờ vậy mà được yên Sang đến triều Nguyễn, bình xong Tây Sơn lên