Nguyễn Tường Tam không chỉ là lãnh tụ Tự Lực văn đoàn ở sáng kiến và tổ chức, ở việc làm mấy tờ Phong Hóa, Ngày nay. Ông còn là tiểu thuyết gia quan trọng của nhóm, tự mình sáng tác theo đường lối nhóm đề ra và tên tuổi lưu lại trong văn học sử như một “văn tài tiêu biểu” của nhóm.
Trang 1NHẤT LINH – NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG TIỂU THUYẾT
Nguyễn Tường Tam không chỉ là lãnh tụ Tự Lực văn đoàn ở sáng kiến và tổ chức,
ở việc làm mấy tờ Phong Hóa, Ngày nay Ông còn là tiểu thuyết gia quan trọng của nhóm, tự mình sáng tác theo đường lối nhóm đề ra và tên tuổi lưu lại trong văn học sử như một “văn tài tiêu biểu” của nhóm
Trước khi lập Tự Lực văn đoàn, trước khi sang Pháp du học, cây bút ông đã hướng
về tiểu thuyết năm 1926, ngay sau Tố Tâm và Qủa Dưa Đỏ, ông đã cho in (khi đó mới 20 tuổi) tiểu thuyết Nho Phong Và sau 8 năm lãnh đạo nhóm Tự Lực (năm 1940), ông hoạt động chính trị, viết được cả chục bộ tiểu thuyết dài và trên 20 đoản thiên
Con đường sáng tác ấy có thể được chia ra các giai đoạn như sau (để dễ nhận xét
sự chuyển biến về tư tưởng và nghệ thuật của tác giả):
1 Nho Phong, Người quay tơ, hay là giai đoạn cựu Nho.
- Nho Phong là một câu chuyện ái tình lý tưởng theo kiểu truyện Nôm xưa Dương Văn thư sinh quen biết Lê Nương – con gái một quan tri phủ hưu trí (vốn đồng khoa với cha chàng trước) Hai bên yêu nhau, quan phủ cũng muốn cho đôi trẻ thành vợ thành chồng, nhưng bỗng dưng ông thất lộc ông chú tham lam, tàn ác lãnh trách nhiệm bắt Lê Nương về nuôi Thế là đôi bên lưu lạc nàng Lê bị ép duyên, trốn đi Chàng Dương bị vu oan, suýt vào tù Trải qua bao cực khổ, họ mới được gặp nhau rồi cùng nhau gây dựng hạnh phúc Nàng vất vả tầm tơ, chàng siêng năng đèn sách Cuối cùng, khổ tận đã đến ngày cam lai, chàng đậu thủ khoa
- Người quay tơ là một tập truyện ngắn một ông Tú làm văn thân phải đi tù Côn Lôn , tự vẫn chết, vợ là Từ Nương nêu cao tiết sạch gương trinh, tuy bao người rắp danh bắn sẻ mà nàng khăng khăng từ chối, mắng mối đuổi ra, về nhà cha mẹ đẻ lấy cái guồng năm xưa ra để quay lại sợi tơ ngày trước và lên đỉnh đồi thơ thẩn đứng trông chồng
- Ngoài ra, còn có gần chục truyện ngắn khác, thường có tính cách huyền truyện (conte): Nô lệ, Giật mình tỉnh dậy, Sư bác chùa Kênh, Người ca sĩ họ Nguyễn…nhưng cũng có một hai truyện hướng vào xã hội hiện tại hoặc nói lên khuynh hướng tư tưởng của tác giả sau này: Giấc mộng Từ Lâm, Làm gì mà băn khoăn thế
Trang 2Nhận xét
- Qua những tác phẩm trên, ta thấy Nguyễn Tường Tam còn chịu ảnh hưởng đậm
đà từ Nho giáo, từ tư tưởng cho đến kỹ thuật.
+ Tư tưởng: Tư tưởng trung, hiếu, tiết, nghĩa; sự rung động của tâm hồn trước những vẻ đẹp tưởng như bất biến của đạo Nho mặc dầu đương đi vào suy tàn
+ Kỹ thuật: Giảng giải dài dòng về thế sự nhân tình, kết luận bằng nhận xét luân lý
rõ rệt trước khi chấm dứt, nhất là câu văn gọt dũa uốn nắn, lấy sáo làm đẹp, giống cái sáo trong văn Tương Phố, văn Song An
Dẫn chứng 1: Trong Nho Phong, có những câu như: “Dương Văn thấy vườn kia bóng đèn thấp thoáng mà chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng”
Dẫn chứng 2: Trong Người quay tơ được kết luận bằng một câu văn xuôi có vần, chính là một cặp lục bát: “ Đường tần mới đến nửa chừng, mà guồng tơ cũ đã ngừng bánh xưa”
- Tuy nhiên, nếu bảo rằng Nguyễn Tường Tam ở giai đoạn này hoàn toàn là một đồ
đệ Nam Phong – một “tín đồ” Nho giáo thì không đúng Bởi lẽ, người ta đã có thể nhìn
thấy ở ông cái mầm mống của “cách mạng” sau này Cái mầm mống ấy mà ta thấy nhú
mọc ở vài truyện ngắn trong Người quay tơ là cốt yếu ở sự băn khoăn của con người không bằng lòng với hiện tại, không bằng lòng với chính mình trước
Dẫn chứng: Trong Giấc mộng Từ Lâm, anh chàng sinh viên đội lốt quần nâu áo
vá, sống trà trộn vào dân lao động, chịu khó xem xét cảm thông, là hình ảnh của những Đoàn, những Dũng sau này, nói lên cái khát vọng thoát ly, nỗi lo sợ chìm đắm trong nếp sống trưởng giả
→ Tuy nhiên, tất cả chỉ mới là mầm mống, cách tác giả giải quyết vấn đề không
có gì là tiến bộ
Dẫn chứng: Con người trong Giấc mộng Từ Lâm sẵn sàng tự an ủi bằng một mộng cảnh tiêu cực, một nếp sống xã hội sơ phác Lão Trang, trong đó tưởng có thể tiêu tan nỗi chán chường cái xã hội hiện tại quy nguyên vào văn minh mới Gi ấc mộng Từ Lâm ở đây phảng phất những giấc mộng của Tương Phố của Tản Đà
2 Ở Pháp về, Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Nắng thu
Trang 3Ra tờ Phong Hóa rồi, Nguyễn Tường Tam lại trở về viết truyện ông bắt đầu đăng trên Phong Hóa 1932 – 1933 những truyện ngắn, thoạt đầu ký bút Bảo Sơn rồi Nhất Linh
- Nhất Linh viết chung với Khái Hưng hai tiểu thuyết là Gánh hàng hoa và Đời mưa gió (đăng ở Phong Hóa 1934) Cả hai truyện đều hợp với tôn hỉ của văn đoàn đưa ra:
hướng về bình dân, chống trưởng giả quý phái.
Dẫn chứng 1: Trong Gánh hàng hoa có thể gọi là mối tình nghèo Nhân vật chính
là cô gái lao động trồng hoa Trong Đời mưa gió, cô gái giang hồ bị xã hội rẻ rung được một ông giáo sư thương, muốn cứu vớt ra khỏi vũng lầy chương yêu Tuyết và có ác cảm với bọn quan liêu như huyện Khiết
Dẫn chứng 2: Ca tụng vẻ đẹp đất nước mà có tính cách bình dân: cành làng Yên Phụ trồng hoa, cảnh đồng quê tịch mịch, vẻ đẹp của thiên nhiên, hương cây màu lá
- Sau Đời mưa gió, Phong Hóa đăng Nắng Thu của Nhất Linh (1934) Đây là truyện dài đầu tiên Nhất Linh tự viết từ khi lập Tự Lực văn đoàn Truyện như sau: Phong
là môt sinh viên Cao đẳng ở Hà Nội về chơi, yêu Trâm, con gái nuôi bà Hàn (mợ chàng) Trâm câm từ năm lên tám, làm việc trong gia đình bà Hàn như một con ở Phong thương Trâm định cưới làm vợ, nhưng bị em họ là Viễn, con trai bà Hàn, háo sắc Trâm, không được toại nguyện nên nói xấu Trâm lẳng lơ, đĩ thõa, còn bà Hàn lục vấn, Trâm ấm ớ không biết trả lời nên bị mang tiếng là chửa hoang Phong tưởng Trâm hư thật chán nản
bỏ về Hà Nội trong khi Trâm bị đuổi ra khỏi nhà bà Hàn Rồi một ngày kia, Viễn đau sắp chết gọi Phong về để nhận tội mình đã vu cáo Trâm và nhờ Phong tìm Trâm Phong hết nghi ngờ Trâm, tìm được nàng, đôi tình nhân xưa bước lên con thuyền đưa họ đến với bến bờ hạnh phúc
Nhận xét
- Nghệ thuật Nắng Thu kém cỏi: Kết cấu giả tạo, tâm lý hời hợt
Dẫn chứng:
+ Tất cả câu chuyện chỉ được dựng trên sự hiểu lầm do Viễn vu cáo gây ra, khiến Phong nghi ngờ Trâm
+ Việc cô gái câm mù chữ, học vài tháng quốc ngữ mà viết được thơ tình hành trang lâm ly
Trang 4+ Cái ý kiến những cô gái câm thường lẳng lơ, đĩ thõa mà Viễn đưa ra nhưng Phong cũng tin
+ Viễn đau gan chết để rửa vết ô nhục cho Trâm
+ Bỗng dưng, Phong từ Hà Nội đi đưa đám ma cha một người bạn ở Bắc Ninh bắt gặp Trâm ở một cái quán bên đường
→ Truyện quá đơn sơ, tình trong Nắng Thu quá gò ép
- Điều ích lợi khi đọc Nắng Thu chỉ là cho ta biết vài khuynh hướng và thói quen
mà Nhất Linh sẽ trở lại về sau rõ rệt
+ Lối tả cảnh điểm xuyết vài hành với cây cọ thủy mặc tinh vi
+ Khuynh hướng cúi xuống những con người khốn khổ nhất là người con gái bị áp chế trong gia đình
+ Vài mẫu nhân vật như Phong, chàng sinh viên Hà Nội một sớm trở về thăm quê thấy tâm hồn rung động trước cây cỏ đồng quê, nhất là trước sắc đẹp dậy thì của cô bạn nhỏ hàng xóm thời thơ ấu (những Dũng, Trương sau này); như Viễn, anh con trai học dở
về quê làm ông chủ ấp sống nhàn rỗi, vô vị,qua ngày bằng cách vặn máy hát, khoan sáo diều, uốn cây cảnh (những Thân, Định, Trương sau này)
=> Tóm lại, trong giai đoạn này, nghệ thuật của Nhất Linh chưa có gì đặc sắc Ta
có cảm tưởng toàn là những tác phẩm dễ dãi, tác giả chưa đem vào tất cả công phu ngòi bút về bề sâu tâm hồn, những tác phẩm chịu theo khuynh hướng lãng mạn của thời đại, điều hòa với bản tôn chỉ của văn đoàn: chống sầu não, gây tính yêu đời, hướng về phong cảnh đất nước, cuộc sống bình dân – một nghệ thuật giải trí nhẹ nhàng tươi tắn điều đáng chú ý là mặc dầu đưa ra khẩu hiệu chống Nho giáo, chống cổ tục nhưng thái độ của tá gải trong những tác phẩm trên còn rất ôn hòa, chẳng hạn như những cô gái như Tuyết (Đời mưa gió), như Trâm (Nắng Thu) đành phải chấp nhận thành kiến bất công của xã hội hoặc quyết định độc đoán của gia đình
3 Đoạn tuyệt, Lạnh lùng – giai đoạn luận đề dữ dội.
- Bước sang Đoạn tuyệt và Lạnh lùng, Nhất Linh đả kích dữ dội gia đình cũ, luân
lý cũ:
Trang 5+ Đoạn tuyệt nêu trường hợp một cô gái mới vào làm dâu một gia đình cũ,phải nếm trải đủ sự cơ cực do chế cũ gây ra (mẹ chồng hành hạ, gia trưởng áp chế, hủ tục phiền nhiễu hoặc tai hại), sau nhờ cái chết của chồng mới thoát ly được
+ Lạnh lùng nêu trường hợp một người đàn bà góa trẻ tuy còn xuân, còn rạo rực yêu đương nhưng vì lễ giáo ràng buộc, dư luận áp chế nên không dám tái giá, ở vậy để sống một cuộc đời trong sạch, giả dối
→ Đây rõ ràng là những tiểu thuyết luận đề Tác giả đưa ra những trường hợp xung đột giữa hai chiến tuyến tư tưởng, nói nôm na hai phe, hai phái mới và cũ, đặt vấn
đề đòi hỏi người ta phải giải quyết, mà sự giải quyết tác giả đưa ra qua cốt truyện và tình cảm đối với nhân vật, tất nhiên là bênh vực phái mới
Dẫn chứng: Tác giả muốn đòi hỏi cho người phụ nữ nhưLoan, quyền được sóng đời tự lập, cho người đàn bà góa trẻ như Nhung, quyền được hưởng hạnh phúc yêu đương, tất cả được sống dễ dàng và tự nhiên theo sở thích cá nhân, thoát khỏi sự kèm kẹp của lễ giáo và cổ tục
- Lí do của sự chuyển biến:
+ Phong Hóa ra đã hai năm, đã chiếm được nhiều cảm tình và sự tin cậy của độc giả, có thể nhân đó lái dư luận rẽ sang một hướng quyết liệt hơn Cần phải đụng tới tâm người đọc, tác động bằng phương tiện nghệ thuật, bằng tiểu thuyết
+ Tờ Nam Phong, thành trì của văn hóa cũ vẫn sống và muốn phục hưng Đầu năm
1934, một nhóm Tây học với Nguyễn Tiến Lãng đứng ra làm tờ Nam Phong, toan trở lại thuyết dung hòa, ca tụng luân lý phương Đông Chính vì điều đó đã gặp sự công kích chủ trương dung hòa của Nhị Linh Cuối năm 1934, Nam Phong đóng cửa hẳn, tin ấy được Phong Hóa in chứ lớn, đóng khung ở trang đầu như một hỉ tín, một tiếng reo mừng đắc thắng → Đoan tuyệt viết năm 1934 có thể coi như một tiếng trả lời dữ dội cho những ai còn mơ tưởng một sự dung hòa
+ Từ khi trong Nam ra tờ Phụ nữ Tân văn, ảnh hưởng đến ngoài Bắc khá mạnh mẽ
→ Nhất Linh trong tiểu thuyết đã chọn nhân vật người phụ nữ để đoạn tuyệt với cái cũ vì người phụ nữ là nạn nhân của chế độ cũ, hiến những luận cứ vững vàng cho luận đề của
Trang 6ông, song tác giả cũng phần nào hưởng ứng phần nào phong trào phụ nữ đang nổi lên khắp cả nước
- Vậy từ Nắng thu đến Đoạn tuyệt có sự chuyển biến như thế nào? Cái lối viết luận
về tiểu thuyết, viết truyện để biện hộ để chứng tỏ một tư tưởng gì đó, hai mươi năm sau, kiểm điểm lại những kinh nghiệm sáng tác, chính Nhất Linh cũng phải công nhận lối ấy vốn tự nó đã là một sự nhầm lẫn
Dẫn chứng: Tính cách gò ép của câu chuyện, những chi tiết thâu nhập vội vàng để chứng minh một ý định (cái khốn nạn của gia đình cũ, cái chí phi thường của một cô gái mới), những nhân vật nộm (bà Phán Lợi, Thân, Bích, bà Hai,….) ngay cả nhân vật Loan cũng đầy mâu thuẫn, cứng nhắc và giả dối duy có bóng dáng Dũng, tác giả đã đem chính tâm hồn mình vào để ấp ủ, vẽ vờn nên có chút sinh khí sinh hoạt và hấp dẫn song chỉ đứng ngoài lề câu chuyện
- Sang Lạnh lùng, nghệ thuật tác giả đã vượt lên nhiều:
+ Cái lối dàn sự kiện như những con cờ để bao vây và tranh thủ một đối tượng luận để không còn nữa
+ Tác giả ngả sang tả chân tình cảm: Tâm lý ái tình được ghi nhận và diễn tả một cách khá vi điệu như những lời nói buột miệng, những cử chỉ vô ý, những ngẫu hợp giữa cảnh và âm, những cảm giác hoàn toàn chủ quan và phát sinh dưới góc cạnh con mắt của một người đương yêu Người ta thấy ảnh hưởng của Proust của Freud trong bút pháp mà tác giả miêu tả ái tình, tình dục, trỗi dậy, nung nấu lòng Nhung Văn
4 Đôi bạn, Bướm trắng – trở về phô diễn tâm tư
- Sau Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Nhất Linh xem chừng đã chán lối tiểu thuyết luận đề
xã hội, nên ông trở về khai sâu mạch tâm tư cá nhân đã thấy ở nhiều tác phẩm về trước Năm 1938 – 1939, hai tiểu thuyết dài Đôi bạn và Bướm trắng có thể coi như giai đoạn thành tựu của một văn tài đã chín
- Ông trở về với cái nhìn hướng nội, tiếp tục nét bút của Giấc mộng Từ Lâm và Nắng thu, mô tả người thanh niên đương thời ray rứt nỗi băn khoăn, tâm hồn chia sẻ giữa tình yêu, nghệ thuật và cách mạng:
Trang 7+ Đôi bạn ra đời đầu năm 1937, tác giả thể hiện được tâm hồn, khát vọng của một lớp thanh niên lớn lên vào khoảng 1925 – 1930, thời gian họ Phan về nước và Quốc dân đảng hy sinh 13 chiến sĩ ở Yên Bái
Dẫn chứng: Dũng, nhân vật chính, con quan lớn, có mặc cảm về sự phú quý mà mình được hưởng, cùng với mặc cảm tội lỗi đối với những bất công người dân phải chịu (bởi vì cha chàng thuộc tầng lớp áp bức, bóc lột) sự giáo dục theo những tư tưởng dân chủ tự do Tây phương khiến chàng càng ngột ngạt trong lễ giáo gia đình và muốn phá vỡ
nó, kiến tạo cho mình một cuộc sống mới, cho xã hội một trật tự mới Băn khoăn cá nhân, băn khoăn xã hội, và băn khoăn quốc gia – Tâm trạng của Dũng cũng như cả nhóm bạn chàng tuy mỗi người một cảnh ngộ, nhưng đều nuôi khát vọng chung là thoát ra khỏi cuộc sống bế tắc, ngột ngạt Thái, Xuân bỏ học sang Tàu, Trúc bãi khóa , về coi ấp Quỳnh Nê cho ông Tuần, Tạo chán cái địa vị thừa tự, làm giỗ, giữ một tổ cho mấy bà dì lắm mồm, sống lang thang với chiếc máy ảnh, Cần và Hà có lẽ chỉ chờ mẹ già chết là lên đường
→ Đó là những thanh niên khẳng khái nhưng cũng là những thanh niên lãng mạn
Nghệ thuật:
▪ Thuật điểm cảnh vào tình, thuật ném chiếc cầu liên lạc vô hình giữa cảnh và tình, giữa tâm hồn qua một câu nói, một cái nhìn, cây bút họa sỹ rất nhạy bén với ánh sáng, màu sắc và điệu bộ, song vẫn giữ một mực thước điều tiết, tất cả những sở trường ấy của Nhất Linh trong tác phẩm Đôi bạn đã đạt tới cao độ tuyệt diệu
▪ Cái tài điểm chân dung từng nhóm từng người, đưa ra đến 20 nhân vật, mới đầu rời rạc vì không chịu khai lý lịch cho họ, nhưng nếu người đọc cầm bút ghi chú sẽ thấy dần dần hiện lên trong nhóm từng người với hoàn cảnh, tâm lý riêng Trong bọn bạn của Dũng sáu bảy chàng thanh niên nhưng đều cùng một tâm hồn, một chí hướng, song mỗi người vẫn có một đặc thù
+ Tiếp theo Đôi bạn là Bướm trắng viết năm 1939, đăng trên Ngày nay 1940 đây cũng là câu chuyện của một thanh niên trí thức thời đại nhưng không mang một băn khoăn xã hội nào vì tâm trí bị đè nặng bởi bệnh hoạn,bởi cái chết
Trang 8Dẫn chứng: Trương sinh viên trường Luật bỏ học vì bệnh lao Vừa lúc biết chắc mình sắp chết thì chàng cũng nhận ra rằng mình được Thu yêu Biết mình sắp chết, Trương tiếc rẻ mình đã tiến đến gần hạnh phúc Nhưng lại bỏ Thu đi, phần vì giận Thu không trả lời, chạm đến tự ái, phần vì đeo cái mặc cảm phạm tội, sợ làm hại đời Thu Thế
là sự mất Thu cùng hình ảnh cái chết đẩy Trương vào cuộc đời trác tang Thu được tin Trương trụy lạc cho là Trương làm vậy là hy sinh vì mình nên đi tìm Trương với hy vọng
sẽ cứu vớt Trương Nhưng sức khỏe Trương ngày càng sa sút, cái chết đe dọa thu không thể nào kéo Trương về cuộc đời lành mạnh nữa trương ăn chơi hết tiền đành phải đi làm cho một hãng buôn ở Hải Phòng Rồi Trương thụt két lấy tiền về Hà Nội nướng cá ngựa hết nên bị ba tháng tù ở tù ra, Trương khỏi bệnh, giác ngộ mình ăn chơi như trước là ngu dại, muốn hướng tới Thu nhưng Trương đã xuống quá thấp, tự biết mình không sao có thế đàng hoàng hỏi cưới Thu Trương muốn rủ Thu đi chơi, gạt Thu một bận rồi tự tử chết nhưng Trương không thực hành nổi ý định ấy đành bỏ Thu về với Nhan – cô bé quê mùa luôn sẵn sàng chờ đón chàng
Nghệ thuật:
▪ Thêm vào những khung cảnh đồng quê quen thuộc để giác quan nhuộm tươi ánh sáng đồng nội hay ký ức ôn lại kỷ niệm ấu thơ, ao nước in bóng chòm tre những đêm sao, luống cải nở hoa vàng có bướm trắng bay lượn
▪ Ngòi bút phân tích tâm lý vào địa hạt nhân bản muôn thuở với trường hợp bi đát con người bị giằng co giữa tình yêu và cái chết, co người muốn phá hoại nhân phẩm,tự thân trụy lạc, mà vẫn không thể nào không hướng về những nẻo thiện mỹ, con người tủi thân giận phận muốn tìm xuống đáy địa ngục mà nằm cho xong nhưng hồn mộng vẫn chập chờn đôi cánh bướm trắng – hình ảnh về thiên đường hạnh phúc đã để lỡ
▪ Về kỹ thuật, ta vẫn thấy những sở trường của ngòi bút là sự chuyên chú vào phân tích tâm lý phức tạp của nhân vật tác giả đã có cái nhìn sâu sắc và can đảm
Dẫn chứng: Ta thấy rõ ảnh hưởng của Dostoievsky, của Gide khi đọc những đoạn nhân vật Trương xem xét cái thiện cái ác dưới con mắt hòa đồng hay cúi xuống thăm cái
hố sâu tội lỗi trong tâm hồn mình
Trang 9→ Bút pháp so với Đôi bạn thêm một độ cao chừng mực, thanh thoát đến khắc khổ Những chỗ tả cảnh để khoe tranh để làm màn không còn nữa tất cả cái gì vẽ ra viết
ra chỉ cần đủ cần để diễn tả cái nhìn hướng nội