Tiểu sử: Tên thật: Trần Khánh Giư Quê huyện: Vĩnh Bảo, Hải Phòng Là nhà tiểu thuyết trụ cột của nhóm Tự lực văn đoàn, cùng với Nhất Linh, Hoàng Đạo làm nên một kiểu tiểu thuyết gọi là tiểu thuyết TLVĐ nhưng ông là người có sức viết dồi dào nhất Cũng như Nhất Linh và các tiểu thuyết gia trong nhóm TLVĐ, KH là tri thức tân học được đào tạo chính qui trong nhà trường Pháp – Việt, được tiếp thu căn cơ kĩ lưỡng văn hóa phương Tây, tiếp thu một cách tự nhiên và đi con đường đã được dọn sẵn của tiểu thuyết phương Tây
Trang 1KHÁI HƯNG (1896 - 1947)
Tiểu sử:
- Tên thật: Trần Khánh Giư
- Quê huyện: Vĩnh Bảo, Hải Phòng
- Là nhà tiểu thuyết trụ cột của nhóm Tự lực văn đoàn, cùng với Nhất Linh, Hoàng Đạo làm nên một kiểu tiểu thuyết gọi là tiểu thuyết TLVĐ nhưng ông là người có sức viết dồi dào nhất
- Cũng như Nhất Linh và các tiểu thuyết gia trong nhóm TLVĐ, KH là tri thức tân học được đào tạo chính qui trong nhà trường Pháp – Việt, được tiếp thu căn cơ kĩ lưỡng văn hóa phương Tây, tiếp thu một cách tự nhiên và
đi con đường đã được dọn sẵn của tiểu thuyết phương Tây
- Tác phẩm chính: Hồn bướm mơ tiên (1933), Nửa chừng xuân
(1934), Tiêu Sơn tráng sĩ (1940 – theo Vũ Ngọc Phan), Trống mái (1935), Gia đình (1936), Thoát ly (1937), Thừa tự (1938), Đẹp (1939), Thanh Đức (1943)
Một số nhận định về tác giả:
Vũ Ngọc Phan: “Hiện nay, nhà văn mà được nam nữ thanh niên yêu chuộng, được họ coi là người hiểu biết tâm hồn hơn cả, chỉ có Khái Hưng”
Khái Hưng quyến rũ những độc giả của mình vì độc giả thấy mình trong
tp Hơn nữa, thanh niên tư sản và tiểu tư sản thành thị sống xa rời thực tế, rất
có óc mơ mộng, tình yêu là lẽ sống của họ Tâm lí ái tình được khơi sâu, đề tài tình yêu đa dạng: cái tình lẩn tránh của Lan, cái tình trắc trở của Mai, tình của họa sĩ, tình của văn sĩ, Đặc biệt, ngay ở những cảnh éo le nhất, người
ta không chìm vào cái buồn ảo não mà bị một cái gì nhẹ nhàng, hóm hỉnh
Trang 2của tg lôi cuốn Mọi vấn đề được giải quyết theo nhân sinh quan giai cấp, lối thoát được tìm thấy trong ảo mộng
Bạch Năng Thi: “Văn KH nhẹ nhàng bay bướm, giàu hình ảnh và nhạc điệu, phù hợp với nội dung lãng mạn”.
“Truyện dài hay truyện ngắn của Khái Hưng đều bố cục gọn gàng hợp lí ( )lối kể chuyện nhanh, vui, sống; tả cảnh, tả người, tả tâm lí đều có chừng mực; giữa câu chuyện chen lẫn những đoạn đối thoại sinh động, làm toát ra một cá tính, nổi bật một trường hợp Những đoạn tả diễn biến tâm lí của nhân vật thường tỉ mỉ và hấp dẫn: con người tiểu tư sản trí thuwscc thời ấy
ít hành động thực tế, nặng đời sống bên trong, được biểu hiện khá rõ nét”.
Một số vấn đề về sự nghiệp sáng tác:
Đóng góp cho tiểu thuyết luận đề:
- KH và NL đã đề xuất và kiên trì theo đuổi tiểu thuyết luận đề và đã đem lại những đóng góp nhất định cho mảng tiểu thuyết này Tiểu thuyết luận đề
là loại tiểu thuyết thể hiện một ý tưởng XH mà người trí thức đeo đuổi Ý tưởng đó có trước và được nung nấu trong đầu Lắm lúc để ý tưởng có sức thuyết phục, họ chấp nhận hi sinh nghệ thuật Họ đấu tranh, vận động mọi người cùng theo đuổi để ý tưởng được hiện thực hóa
- 3 nội dung chính mà tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng (cũng như Nhất Linh) tập trung thể hiện:
+ Luận đề cải thiện đời sống nông dân:
Ở mảng này, nhà văn tập trung khắc họa chân dung những người trí thức trẻ hiểu nông thôn, có lòng với đồng bào, đấu tranh để cuộc sống bớt tăm tối hơn Tuy nhiên, các tác phẩm chưa gây được thành công và tiếng vang Vì họ đề ra những biện pháp nặng chủ nghĩa cải lương cũng như chưa nhìn ra nguyên nhân Phải đến những tác phẩm sau này của các nhà văn
Trang 3thuộc bộ phận văn học hiện thực cách mạng thì vấn đề, biện pháp mới thực
sự triệt để
Gia đình (1936): trong tp này, KH đối lập cuộc sống được miêu tả
như là thanh thản, đầy hạnh phúc của cặp vợ chồng Hạc, Bảo “làm ruộng” với cuộc sống nhỏ nhen kình địch về địa vị xã hộ của anh chị em một đại gia đình PK Hạc đang học đốc tờ, bỏ về ấp cùng với Bảo thực hiện những công cuộc cải cách để nâng cao đời sống tinh thần dân quê Họ vẫn thu tô nhưng sau khi đã nạp đủ thuế còn bao nhiêu đem dốc cả vào công việc cải thiện đời sống cho tá điền, phát thuốc, cưới chợ, đắp đường, dựng cả khu nhà nghỉ mát Như tất cả những nhân vật thơ mộng khác của KH, Bảo và Hoàng đã thành công một cách dễ dàng Họ sống thoải mái, thanh thản trong công cuộc từ thiện ấy: “Hạnh phúc của họ chính là hạnh phúc của ta còn gì sung sướng bằng trông thấy ở trước mắt những người dân quê mặt mũi sạch sẽ nô đùa trò chuyện thảnh thơi”
+ Luận đề đấu tranh cho quyền sống của nam nữ thanh niên, đặc biệt
là nữ giới
Ở mảng tiểu thuyết luận đề này, Khái Hưng đã đạt được thành công
Nửa chừng xuân (1934): Với tiểu thuyết này, KH muốn lên án quan
niệm “môn đăng hộ đối”
> Tóm tắt: Nhân vật chính của cuốn truyện là Mai, con một nhà nho (cụ
Tú Lãm) khảng khái, khoáng đạt Cha chết đi thì của cải cũng khánh kiệt Mai phải lo tiền ăn học cho em trai là Huy đang học năm thứ 3 trường Trung học Bảo hộ Trên một chuyến xe lửa, nàng tình cờ gặp Lộc là con một vị quan, bạn cũ của cha nàng Lộc say mê cái đẹp dịu dàng của Mai nên tìm cách giúp đỡ nàng Hai người yêu nhau Lộc rủ Mai lên Hà Nội thuê nhà
Trang 4chung sống với Huy Nhưng bà Án, mẹ Lộc, không cho phép chàng chính thức hóa cuộc hôn nhân vụng trộm Bà tìm cách lợi dụng tính đa nghi của con trai để đuổi Mai đi trong khi nàng đã có thai Hai chị em ra đi thì gặp được một người đàn bà bình dân (bà Cán) tận tình giúp đỡ Nàng vui lòng chịu khổ làm nghề bán hàng quà để có tiền nuôi em và nuôi con Tuy giận Lộc, nàng vẫn một lòng thủ tiết Trong khi Huy bịnh, nàng còn được một gái giang hồ (Diên) tỏ lòng thương yêu Nàng khước từ lời xin lập gia đình của một bác sĩ (Minh) đã hết lòng chữa cho em khỏi bệnh, và của họa sĩ Bạch Hải đã thuê nàng làm mẫu trong một thời gian
Sau khi đỗ bằng Cao đẳng tiểu học Huy được bổ làm giáo học tại Phú Thọ, Mai cùng em, con trai (Ái) và người lão bộc trung thành (ông Hạnh) sống một cuộc đời bình thản Nàng cố quên người cũ Về phần Lộc, chàng mắc mưu li gián của mẹ, vui lòng lấy con một vị tuần phủ rồi đi làm tri huyện Nhưng vợ chàng đẻ được hai đứa con gái đều chết cả Bà Án lo lắng
đi lễ chùa, bói quẻ thẻ bà xin được nối đường tử tức của con bà Bà hỏi chuyện Lộc về Mai Sau khi dò hỏi, Lộc mới được biết nàng vẫn một lòng giữ “tiết sạch giá trong” và hiện đương sống với em Bà Án tới Phú Thọ định bắt cháu về nhưng không được Lộc viết thơ xin lỗi Mai Hai người gặp nhau, Mai vẫn còn yêu Lộc nhưng nhất định khước từ cuộc tái hợp Nàng bày tỏ cho chàng một quan niệm nhân sinh lí tưởng: hi sinh ái tình và hạnh phúc riêng cho kẻ khác, cho xã hội Lộc vui vẻ hứa sẽ cách mạng đời sống theo quan niệm cao đẹp của nàng
Đánh giá:
- Đây là “một tiểu thuyết luận đề tuyên chiến với lễ giáo phong kiến, đòi quyền tự do yêu đương và hạnh phúc cá nhân” (Nguyễn Hoành Khung)
Trang 5Trong tiểu thuyết này, bà Án đại diện cho phái cũ, Mai, Lộc và Huy đại diện cho phái mới Bà Án là một hình tượng nghệ thuật khá chân thật Bà trước hết là người có ý thức đầy đủ sức mạnh của kẻ giàu sang có quyền thế, đồng thời bà cũng có ý thức xác lập vai trò tuyệt đối của mình trong việc lấy
vợ cho con Đối với bà, hôn nhân không thể là “kết quả của ái tình” mà là phương tiện để thăng quan tiến chức, phải là môn đăng hộ đối Bà Án luôn lớn tiếng đề cao nghi lễ cổ, nào là “ngũ luân ngũ thường”, “tam tòng tứ đức” nhưng thực chất bà đã không từ bỏ một thủ đoạn xảo quyệt tàn ác nào để có thể đạt được mục đích Từ việc lừa dối Lộc, đến việc đang tâm bày mưu đuổi Mai ra khỏi nhà khi cô đang bụng mang dạ chửa, đến việc tìm chỗ Mai ở dùng lời lẽ đường mật để thuyết phục, thậm chí định dùng tiền của để cướp đứa cháu “nối dõi tông đường” bà Án đã hiện nguyên hình một nhân vật ích kỉ độc ác tiêu biểu cho những quan niệm luân lí cổ hủ vô nhân đạo, chà đạp lên nhân phẩm của con người và quyền sống, quyền hạnh phúc của lứa đôi
Nhân vật bà Án cũng phần nào phản ánh tính chất bảo thủ xấu xa của các thế lực phong kiến đương thời Bởi vậy Nửa chừng xuân ít nhiều có giá trị phản phong
Tiêu biểu cho phái mới là Mai Mặc dù là một cô «gái mới », có ý thức khá sâu sắc về hạnh phúc cá nhân, Mai chỉ có thể chấp nhận cuộc sống « vợ một, chồng một, yêu mến nhau » và cô vẫn giữ được những vẻ đẹp của đạo đức truyền thống Hình ảnh một người phụ nữ tần tảo nuôi em ăn học, có tình yêu chung thủy sắt son, sống chan hòa đầy đặn với những người chung quanh, có bản lĩnh, biết vượt qua mọi nỗi cay nghiệt của cuộc đời đã gây xúc động trong lòng người đọc Tuy trực diện đấu tranh không khoan nhượng chống lễ giáo pk, đòi giải phóng cá nhân, nhưng nhân vật Mai không bao giờ sống buông thả như một số nhân vật nữ sau này của Khái
Trang 6Hưng (Liên trong Thanh đức) Nhân vật Mai thể hiện những yếu tố lành mạnh nhất của Nửa chừng xuân nói riêng và của Tự lực văn đoàn nói chung Giá trị cơ bản của tp chính là ở chỗ đó
- Dù khuynh hướng sáng tác của nhóm TLVĐ là chủ nghĩa lãng mạn nhưng tác phẩm này đậm đặc chất hiện thực và nêu lên được vấn đề được rất nhiều thanh niên quan tâm vì nó đề cập đến hạnh phúc, hôn nhân
- Quan niệm về hôn nhân gia đình của Mai, đồng thời cũng là của nhà văn KH trong tp này là một quan điểm tiến bộ mang ý nghĩa nhân đạo và dân chủ Đấy cũng là đặc điểm của tiểu thuyết của TLVĐ ở thời kì đầu
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất sắc sảo khi đặt nhân vật vào những tình huống éo le:
+ Bà Án: một người đàn bà ít học nhưng ở địa vị cao nên dễ ra mặt hách dịch, chua ngoa Bà đã cứng cỏi với Lộc vì chàng không vâng lời bà; bà đã hống hách với Mai khi nàng tỏ ra lí sự Đôi chỗ bà làm cho độc giả không
ưa vì cử chỉ đài các của một mệnh phụ quyền quí Nhưng người ta lại có cảm tình với bà ở mối tình mẫu tử bà dành cho Lộc, bà luôn luôn lo lắng cho chàng, cũng như tỏ ra rất hiền lành với nàng dâu, ta không gặp cảnh mẹ chồng nàng dâu như trong Đoạn tuyệt Yêu mến bà, người ta lại thương bà những lúc bà vất vả tranh đấu với Mai, nhất là lần bà phải lên tận Phú Thọ xin Mai và cháu Ái Bà đã biện minh cho hành động dữ dằn của mình lúc đuổi Mai đang khi bụng mang dạ chửa qua hàng lệ: “Khổ cho tôi chưa con tôi cũng vậy mà cô cũng vậy, các người cho tôi là một vị hung thần trời sai xuống để phá cuộc hạnh phúc của các người Nhưng tôi nào có ác nghiệt
gì Tôi chỉ là một người bao giờ cũng nghĩ tới hạnh phúc của con, của cháu, nghĩa là tôi nghĩ tới bổn phận của một người mẹ, của một người bà”
+ Lộc: đại diện cho cả một lớp thanh niên tân học thời đó Họ mới giao tiếp với văn học Tây phương, bị quyến rũ trước vẻ hào nhoáng xa hoa nên
Trang 7muốn mặc lấy bộ áo tân tiến đó Nhưng đồng thời trước giá trị tinh thần cổ kính đáng quí, họ không muốn bỏ, họ muốn lưu lại Tâm trạng họ thật bâng khuâng, nhiều khi như vô lí tưởng Ta thấy chàng tỏ ra thông cảm với Mai nhân lúc nàng túng thế, muốn tự do yêu nàng như đám thanh niên mới, đồng thời chàng lại lưỡng lự vì còn chữ hiếu, còn gia phong, còn địa vị, Chàng vừa muốn theo mới nhưng không dám dứt khoát, chàng rụt rè tiếc rẻ cái cũ Khái Hưng đã ghi lại khá trung thực tâm lí của lớp trai trẻ thế hệ này
+ Mai: vai chính trong truyện, nàng chủ động suốt từ đầu tới cuối tp Tâm
lí nàng có 2 giai đoạn thay đổi: đầu tiên, nàng tỏ ra là một người chị gương mẫu như đa số các người chị ở miền quê Việt Nam, rất đảm đang lo liệu mọi việc thay cha mẹ được ngay từ lúc mới lớn Tuy là cô gái bận bịu với những vấn đề trọng đại của gia đình, Mai vẫn là một thiếu nữ mới lớn, nên trước cái nhìn say đắm của người bạn nam nào, Mai đã thẹn thùng Rồi khi được Lộc xin giúp đỡ, nàng đã sung sướng vô cùng, chỉ mong được dịp đền ơn Nào ngờ một hôm Lộc ngỏ lời cầu hôn Mai, Mai nhỏ lụy quay đi, Mai sung sướng quá Ái tình đã đánh ngã nàng nên khi Huy khuyên Mai nên ý tứ với người đến hỏi nàng xem chừng không phải là mẹ Lộc, nàng đã cố biện hộ rằng nàng lấy chàng để trả ơn! Cuộc tình duyên ấy đã đưa đến kết quả là nàng có thai với Lộc, nhưng Lộc muốn trốn tránh trách nhiệm làm cha, Mai cười nhạt Rồi một sự hiểu lầm do mưu li gián của bà Án, Mai bỏ nhà ra đi với hai bàn tay trắng Khi Mai ra khỏi nhà Lộc, nàng bỗng trở nên cứng rắn khác thường, không hề tỏ ra bị xúc động, yếu đuối trước tình yêu chân thành của Minh cũng như của Hải dành cho nàng Nàng mạnh mẽ xếp đặt mọi công việc riêng chung của hai chị em một cách vững vàng Không chỉ thế, ở cuối truyện, nàng rất lí tưởng trong quyết định: nàng hi sinh vì tha nhân và cũng chinh phục được Lộc cũng vì sự hi sinh cao cả này
Trang 8+ Luận đề về người chiến sĩ XH: trong một số tp của KH và NL, ta thấy
có sự xuất hiện của nhân vật chiến sĩ: Lộc (Nửa chừng xuân), Quang Ngọc (Tiêu sơn tráng sĩ) Gần kết thúc truyện, Lộc nghĩ mình không sống vì mình nữa, mình sẽ đi hoạt động cách mạng Đây là điều không hợp lí vì trước đó Lộc chưa bao giờ có tư tưởng này Sự vô lí này là kết quả chủ quan của các nhà lãng mạn chủ nghĩa
Một số khuynh hướng đáng chú ý trong tiểu thuyết của Khái Hưng
- Đọc tiểu thuyết của KH, người ta nhận thấy ban đầu ông là một nhà tiểu thuyết về lí tưởng, dần dần ngả về phong tục là loại ông có nhiều đặc sắc nhất, rồi đến khi viết Hạnh, ông bắt đầu khuynh hướng tâm lí, cũng như Nhất Linh khi viết đến tập Bướm trắng vậy
- Tiểu thuyết về lí tưởng của KH : Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái
tình yêu của Ngọc và Lan trong Hồn bướm mơ tiên là thứ ái tình
vô cùng thanh cao Khi Ngọc khám phá ra Lan là con gái và Lan cũng rất yêu Ngọc nhưng nàng say đạo Phật hơn, Ngọc đã khuyên nàng không nên xa lánh chàng, chàng hứa sẽ “chân thành thờ cái linh hồn dịu dàng của Lan trong tâm trí”, “suốt đời chàng sẽ không lấy ai, chỉ sống trong cái thế giới mộng ảo của ái tình lí tưởng ” Trong Nửa chừng xuân, Mai là một người bạn tình lí tưởng nhưng sau khi Lộc đã hối hận vì những lầm lỗi gây ra, Mai vẫn nhất định xa chàng: “Em ở xa anh, nhưng tâm trí hai ta lúc nào cũng gần nhau, thì trọn đời hai ta vẫn gần nhau” còn Lộc thì nguyện “đem hết nghị lực, tài trí ra làm việc cho đời” Nhà văn không muốn có sự tái hợp giữa hai người ở cuối truyện vì muốn tính tình hai người được cao thượng
Trang 9 cái lí tưởng trong Trống mái là cái lí tưởng về thân hình đẹp theo quan điểm mĩ thuật của hạng gái mới Việt Nam mà hiền là người tiêu biểu Hiền là một cô gái VN thuộc hạng phong lưu, ưa thích thể thao và có tư tưởng mới, có quan điểm mới về cái đẹp của thân thể Thấy Vọi, một chàng đánh cá có những bắp thịt rắn chắc và một bộ ngực nở nang, nàng đăm say
mê, say mê mà không yêu, cũng không có một ý tưởng thầm vụng nào về xác thịt Đó cũng là một lí tưởng vì chỉ say mê mà không yêu là một điều khó, bước đầu của tình yêu là sự say mê cái đẹp hình thức hay tinh thần
- Tiểu thuyết phong tục: Thừa tự
+ Tóm tắt: truyện xoay quanh các nhân vật: bà Án Ba – một người dì ghẻ, những kẻ nịnh hót vẫn tâng bốc là “cụ lớn” và mấy người con chồng
Bà Ba chỉ có một mụn con gái là Cúc nên trong số hai người con chồng (Trình và Khoa) không được hiển đạt như Bỉnh (con trưởng, làm tri huyện),
bà muốn chọn một người để cho ăn thừa tự (tài sản đó có được nhờ cho vay nặng lãi, bòn rút của chồng) Bà ngỏ ý về thừa tự với Bỉnh để chàng nói lại với 2 em Từ khi anh nói cho biết, hai cặp vợ chồng Trình và Khoa đâm ra nghi kị lẫn nhau Sau hai bên đều hiểu cả và cả hai định không thèm ăn miếng thừa tự ấy Rốt cuộc bà Ba đem miếng mồi này đi kén rể Tuy gặp một bà mối (bà Hai) rất tài lợi và đáo để, những bà cũng gả được Cúc cho cậu cử Phan là con một bà huyện chuyên môn đi “đào mỏ” mà không mất một đồng xu nào cho chàng rể
+ Trong đoạn kết, tác giả đặt câu này vào miệng Khoa: “kể đáng thương thì đáng thương tuốt, từ bà Ba, Cúc, Phan, bà Huyện, cho chí cả anh em mình” Thật thế, vì trong từng ấy người, không người nào thật bụng yêu thương nhau mà chỉ trông thấy điều lợi trong sự liên lạc với nhau thôi Thừa
tự - người lợi dụng nó coi nó như một miếng mồi và người bị nó lung lạc cũng đã biết nó là một miếng mồi, một miếng mồi đáng đem ra để nhử, một
Trang 10miếng mồi đáng thèm thuồng, mà người ta tưởng như không có sự xấu xa và nhục nhã
+ “Thừa tự” vào số những tiểu thuyết phong tục có giá trị và rất hiếm trong lúc này
Hồn bướm mơ tiên (1933) – tp mở đầu cho tiểu thuyết của KH,
không phải là tiểu thuyết luận đề nhưng vẫn tạo được tiếng vang
- Tóm tắt: Tác giả mượn bối cảnh chùa chiền để miêu tả tình yêu giữa Ngọc và chú tiểu Lan Tại chùa Long Giáng, miền Trung du Bắc Việt, Ngọc một thanh niên Tây học về thăm bác là sư cụ trụ trì chùa Chú tiểu Lan đẹp giai, thông minh dễ thương trở thành bạn thân của Ngọc, chàng hoài nghi cho rằng Lan là gái giả trai vì giọng nói nước da của chú có vẻ giống con gái
Ngọc ở chùa đã mười hôm và nguyện trong mười ngày phải tìm ra sự thật Chàng được biết Lan ở nhà kho, tối ngủ cài then kỹ lưỡng càng sinh nghi Chàng theo dõi Lan một buổi tối nọ ở chùa trên khi chú cầu khấn Đức Phật phù hộ cho chú đủ nghị lực xa lánh cõi trầm luân, chàng biết chú mặc cảm tội lỗi vì đã có cảm tình với mình, Ngọc hay bịa chuyện nói bóng nói gió với chú tiểu để dò xét chú, nào chàng có người yêu bỏ đi tu nên cứ đi các chùa
để tìm cô ấy Ngọc và Lan dần dần có thân tình vì gần nhau, chàng bèn viết một bức thư tỏ lộ lòng mình rồi lên vườn sắn tìm Lan, Ngọc chưa kịp đưa thư thì Lan vội về chùa, chàng tức quá xé bức thư làm bốn, chàng quay về chùa thì Lan quay lại vườn sắn vì bỏ quên con dao, Lan chắp bốn mảnh thư lại đọc và hiểu, Ngọc vẫn chưa biết Lan đã đọc thư mình Một hôm sư cụ sai chú tiểu Lan mang bánh sang tạ sư ông chùa Long Vân, Ngọc xin đi cùng Tới chùa, hai người ăn cơm nước do sư ông đãi xong ra ngoài ánh trăng ngồi nói chuyện, Ngọc cầm tay Lan, chú dựt tay chạy, hai bên lôi kéo nhau, áo Lan tuột cúc trễ vạt ra, Ngọc thấy ngực Lan quấn vải