Hy Lạp cổ đại là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Hy Lạp không chỉ nổi tiếng với những thành tựu trong khoa học tự nhiên, trong văn học, nghệ thuật, mà còn là quê hương của một nền triết học phát triển rực rỡ (TLH phát triển ngay trong lòng TH) bao gồm những hệ thống, những trường phái triết học khác nhau gắn với tên tuổi của những nhà triết học lớn, khởi đầu cho sự ra đời và phát triển của triết học phương Tây sau này.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM CỦA TLH HY LẠP CỔ ĐẠI
VÀ VAI TRÒ CỦA TLH HY LẠP CỔ ĐẠI ĐỐI VÓI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ TLH
Hy Lạp cổ đại là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Hy
Lạp không chỉ nổi tiếng với những thành tựu trong khoa học tự nhiên, trong văn học, nghệ thuật, mà còn là quê hương của một nền triết học phát triển rực rỡ (TLH phát triển ngay trong lòng TH) bao gồm những hệ thống, những trường phái triết học khác nhau gắn với tên tuổi của những nhà triết học lớn, khởi đầu cho sự ra đời và phát triển của triết học phương Tây sau này
Triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện sự phân chia và đối lập giữa các trường phái triết học duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần… trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học: đường lối triết học duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn Các hệ thống triết học Hy lạp cổ đại nói chung đều có xu hướng đi sâu giải quyết các vấn đề
về bản thể luận và nhận thức luận, là những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Triết học Hy Lạp cổ đại nói chung còn ở trình độ trực quan, chất phác, đặc biệt đối với các hệ thống triết học duy vật và biện chứng Tuy vậy nó
đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học căn bản, nó chứa đựng mầm mống của tất
cả thế giới quan duy vật
Triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã đóng góp rất lớn cho chủ nghĩa duy vật sau này Chính vì vậy, việc nghiên cứu những giá trị và hạn chế của nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 2NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Vào thế kỷ IX – VIII tr.CN nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cực kỳ phát triển Đó là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Với việc xuất hiện các quan hệ tiền – hàng đã làm cho thương mại và trao đổi hàng hoá được tăng cường Thời kỳ này người Hy Lạp đã có thể đóng được những chiến thuyền lớn cho phép họ vượt biển Địa Trung Hải tìm đến những miền đất mới Nhờ đó lãnh thổ Hy Lạp và thuộc địa của nó được mở rộng, tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc Nhìn chung, xã hội Hy Lạp
cổ đại khá phát triển và đã đạt tới mức hoàn thiện của nó; sự phát triển đó đã làm xuất hiện hai trung tâm kinh tế- chính trị điển hình là thành bang Aten và thành bang Spác Xã hội Hy Lạp lúc này có hai tầng lớp cơ bản đó là: tầng lớp chủ nô dân chủ ở thành bang Aten và tầng lớp chủ nô quý tộc ở thành bang Spác Tương ứng với hai trung tâm kinh tế- chính trị này là hai thể chế nhà nước khác nhau về hình thức đó là nhà nước chủ nô dân chủ Aten và nhà nước chủ nô quân chủ Spác Sự khác nhau đó đã gây ra cuộc nội chiến tương tàn và cuối cùng chiến thắng đã thuộc về thành bang Spác Đó là cuộc chiến tranh Pênôpônezơ nổi tiếng trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, mở ra cơ hội xâm lược của đế chế Maxêđoan không chỉ với đất nước Hy Lạp mà cả với một vùng đất phương đông rộng lớn tới tận Bắc Ấn Độ
2 Quá trình hình thành và phát triển triết học duy vật Hy Lạp cổ đại
Trang 3Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời và tồn tại gần một thiên niên kỷ, triết học Hy Lạp cổ đại là toàn bộ những học thuyết đã phát triển trong xã hội chiếm hữu nô
lệ cổ Hy Lạp từ thế kỷ VII – IV tr.CN và thời kỳ Hy Lạp hoá từ thế kỷ III – I tr.CN Cơ sở kinh tế của nền triết học đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người nô lệ Nếu như trước đây các tổ chức xã hội cũ như bộ tộc, bộ lạc… mang tính cộng đồng cao, cuộc sống của mỗi cá nhân “ hoà tan” vào cuộc sống cộng đồng, thì giờ đây xuất hiện các tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu về của cải, buộc mỗi người cần ý thức về bản thân mình, cần có một quan điểm sống phù hợp với hoàn cảnh mới Nhu cầu đó đòi hỏi sự ra đời của triết học, giúp con người không chỉ biết tuân theo những quan niệm trước đây, mà phê phán những giá trị và chuẩn mực xã hội cũ, đồng thời xây dựng một nền tảng thế giới quan mới Trong xã hội có sự phân chia thành giai cấp, có sự phân công lao động giữa lao động trí óc và lao động chân tay, dẫn tới sự hình thành một bộ phận các nhà trí thức chuyên nghiên cứu triết học và khoa học, làm phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ
Do nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất xã hội nên lực lượng sản xuất từng bước phát triển, do đó yêu cầu ngày càng cao đối với khoa học và tư tưởng tiên tiến Ở đảo Crét thế kỷ thứ III tr.CN người dân ở đây đã biết sử dụng đồ đồng làm công cụ lao động sản xuất, nghề trồng trọt, ngư nghiệp, thương nghiệp và hằng hải phát triển Đó chính là nhu cầu của đòi hỏi của sản xuất vật chất nên các ngành: thiên văn, khí tượng, toán học, vật lý cũng phát triển Tư tưởng Hy Lạp cổ đại cũng đan xen hình thành phát triển với các khoa học khác do yêu cầu sản xuất vật chất phát triển Những tri thức này tuy ở hình thái sơ khai nhưng đều được trình bày trong hệ thống triết học tự nhiên của các nhà triết học cổ đại Khoa học lúc đó chưa phân ngành, các nhà triết học đồng thời là nhà khoa học
Trang 4như: toán học, vật lý học, thiên văn học Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, triết học duy vật Hy Lạp cổ đại nói riêng ngay từ khi mới ra đời đã gắn với nhu cầu thực tiễn và gắn liền với khoa học Sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại liên tục gắn liền với cuộc đấu tranh giữa các lực lượng xã hội đối lập, đó là lực lượng đại diện cho chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc bảo thủ muốn duy trì xã hội chiếm hữu nô lệ Chính đó là cuộc đấu tranh gay gắt giữa nô lệ và chủ nô, đấu tranh gay gắt giữa khoa học và tôn giáo, giữa tư tưởng duy vật với tư tưởng thần thánh Các tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị trong xã hội Hy Lạp và
La Mã lúc bấy giờ Như vậy, ngay từ đầu nó mang tính giai cấp sâu sắc Những mâu thuẫn trong xã hội cổ đại được thể hiện trong cuộc đấu tranh về tư tưởng của các nhà triết học cổ Hy Lạp, tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học Đêmôcrít và đường lối triết học Platôn Đây cũng là cuộc xung đột của hai thế giới quan xuất hiện đầu tiên trong triết học
Sự nảy nở rực rỡ của các trào lưu tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại có liên hệ mật thiết và chịu ảnh hưởng của triết học phương Đông cổ đại Vào thời kỳ khoa học phát sinh ở Hy Lạp, thì ở phương Đông đã tích luỹ được những tri thức đáng
kể về thiên văn học, hình học, đại số, y học các nhà bác học lớn của Hy Lạp cổ đại phần nhiều đã tới Ai Cập, Babilon nghiên cứu và học tập Những mầm mống
về quan niệm duy vật và vô thần của các nhà triết học Ai Cập và Bibalon có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của triết học duy vật ở Hy Lạp cổ đại Vì vậy,
có thể nói triết học phương Đông, trước hết là triết học Ai Cập, Babilon là một trong những tiền đề của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại
Nhìn chung, triết học duy vật Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát
và biện chứng sơ khai Ngay từ khi mới ra đời, nó đã tìm cách giải thích thế giới
Trang 5như một chỉnh thể thống nhất trong đó các sự vật vận động và biến đổi không ngừng Nhưng đời sống chính trị ở Hy Lạp bấy giờ sôi động, những quan hệ thương mại với nhiều nước khác nhau trên Địa Trung Hải, sự tiếp xúc với điều kiện sinh hoạt và những tri thức muôn vẻ của nhân dân các nước ấy, sự quan sát các hiện tượng tự nhiên một cách trực tiếp như một khối duy nhất và lòng mong muốn giải thích chúng một cách khoa học đã góp phần qui định và làm phát triển thế giới quan duy vật tự phát và biện chứng sơ khai của Hy Lạp cổ đại Mặc dù xuất hiện trong điều kiện các tri thức khoa học sơ khai, triết học duy vật Hy Lạp
cổ đại đã đề cập tới những vấn đề cơ bản của thế giới quan theo nghĩa hiện đại tuy còn ở trạng thái mầm mống Triết học duy vật Hy Lạp cổ đại tuy thô sơ, mộc mạc, tự phát nhưng về cơ bản nó đã phản ánh đúng thế giới trong sự vận động và phát triển thế giới nên những giá trị và những tư tưởng triết học tích cực của nó cũng có ý nghĩa rất to lớn trong đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tư tưởng thần thánh tạo cơ sở cho khoa học và triết học phát triển
II NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC DUY VẬT
HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Những giá trị của triết học duy vật Hy Lạp đối với sự phát triển tư tưởng triết học
1.2 Về bản thể luận
Trước tiên phải kể đến trường phái triết học Milê Một trong những cái nôi triết học đầu tiên của Hy Lạp cổ đại là Iônia Nơi đây đã sinh ra các nhà triết học đầu tiên của phương Tây như các nhà triết học thuộc phái Milê, Hêraclít… Trường phái milê là trường phái của các nhà triết học ở Milê, một địa danh thuộc vùng Iônia gồm một số nhà triết học tiêu biểu như Talét, Anaximan, Anaximen
Trang 6Các nhà triết học này đều xuất phát từ các tầng lớp tiến bộ trong giai cấp chủ nô,
họ có nhiều tư tưởng khác với các quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ thống trị hồi đó Họ lý giải các vấn đề bản chất và khởi nguyên của thế giới dựa trên một số các tri thức khoa học sơ khai có được thời đó, coi toàn bộ thế giới chúng ta như một chỉnh thể thống nhất, sinh ra từ một khởi nguyên duy nhất như: nước, lửa, không khí, Apâyrôn để giải thích thế giới
Talét( khoảng 625 – 547 tr.CN) là người sáng lập trường phái triết học Milê Ông là một nhà toán học, nhà triết học vùng Iônia thuộc Hy Lạp cổ đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hoá Trung Cận Đông Một trong những thành tựu nổi bật của ông là giải thích tự nhiên bằng nghiên cứu hiện thực, xuất phát từ việc quan sát trực tiếp sự vật, ông cho rằng nước giữ vai trò trực tiếp quan trọng trong tự nhiên cũng như trong đời sống con người Vì thế, Talét cho rằng nguồn gốc của thế giới chúng ta là nước Nước là bản chất chung của tất cả mọi vật, mọi hiện tượng trong thế giới Mọi cái trên thế giới đều sinh ra từ nước
và khi bị phân huỷ lại biến thành nước Như vậy theo Talét, nước tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó tạo nên thì không ngừng biến đổi, sinh ra và chết đi Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại tựa như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn đó Những quan niệm triết học duy vật nói trên tuy còn mộc mạc, thô sơ, nhưng có chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát, ngây thơ
Khác với quan niệm của Talét, Anaximan (khoảng 610 – 546 tr.CN), (là học trò của Talét) cho rằng, nguồn gốc và cơ sở của mọi sự vật là apeiron Theo ông, apeiron không phải là cái gì cụ thể mà đó là cái vô định hình, vô cùng tận, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt Bởi vì, ông coi vật chất khởi nguyên không phải là một dạng vật chất cụ thể như nước, cũng không phải là một vật thể có kích thước có khối
Trang 7lượng Apeirôn là một yếu tố vật chất khởi nguyên, khó nhận thức bằng giác quan, phản ánh ở mức độ trừu tượng hơn Talét Với quan niệm như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học duy vật Hy Lạp cổ đại, vật chất không bị đồng nhất với một vật thể cụ thể Mặc dù còn mang nặng tính chất ngây thơ, chất phác, nhưng quan niệm như vậy đã là một bước tiến mới rất tích cực trong quá trình nhận thức vật chất, bước nhảy vọt mới về trình độ tư duy trừu tượng của người
Hy Lạp cổ đại Về phép biện chứng, Anaximan cho rằng Apeirôn là nguồn gốc
và sự thống nhất của các sự vật đối lập nhau như giữa cái đơn và cái đa (nhiều), giữa cái nóng và cái lạnh, giữa cái khô và cái ướt, giữa sinh ra và chết đi, Chính những mặt đối lập ấy đã làm cho sự vật thành những dạng vật chất khác nhau Ông bác bỏ quan niệm về tính đồng nhất tuyệt đối, thuần tuý, không có khác biệt của sự vật
Còn Anaximen (khoảng 588 525 tr.CN), (là học trò của Anaximan) cũng như các nhà duy vật tiền bối thuộc phái Milê, cố công tìm kiếm bản nguyên đầu tiên của thế giới Theo ông, không khí là bản chất chung nhất của tất cả mọi vật, không khí là cái vô định hình mà bản thân apeiron cũng chỉ là tính chất của không khí Khi nào không khí loãng đi thì nó trở thành lửa, sau đó là một dạng ête, còn nếu đặc lại thì nó thành gió, mây, sau đó là nước, đất, đá Như vậy điểm tiến bộ tích cực của ông cống hiến cho triết học duy vật là dành nhiều công sức để nghiên cứu nguồn gốc vũ trụ trên quan điểm vô thần Ông bác bỏ những chuyện hoang đường về thần thánh và khẳng định rằng mọi nguyên nhân của sự vật đều quy về không khí vô hạn
Khác với các nhà triết học phái Milê, Hêraclít cho rằng không phải là nước, apeiron, không khí mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất cả mọi sự vật, ông nói
“cái chết của lửa là sự ra đời của không khí, cái chết của không khí là sự ra đời
Trang 8của nước, từ cái chết của nước sinh ra không khí, từ cái chết của không khí- lửa
và ngược lại” ( Lịch sử triết học, Nxb CTQG, Hà Nội 1998, tr.156) Như vậy, ông cho rằng thế giới vật chất là do chính vật chất sinh ra, mà dạng vật chất đầu tiên sinh ra các dạng vật chất khác đó là lửa, lửa là bản nguyên vật chất, là nguyên tố vật chất đầu tiên của mọi dạng vật chất Hêraclít là đại biểu điển hình nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong giai đoạn đầu của triết học
Hy Lạp cổ đại Cống hiến lớn nhất và nổi tiếng của ông là triết học duy vật với rất nhiều yếu tố biện chứng có giá trị Ông đã nêu lên khá rõ nét về tính thống nhất của vũ trụ và có quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất Bằng quan sát trực tiếp và căn cứ vào kinh nghiệm cảm tính, Hêraclít đã có kết luận về vật chất vận động: mọi vật đã trôi đi, chảy đi, không có cái gì giữ nguyên tại chỗ, tất
cả mọi vật đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố định Ông khẳng định: không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông, bởi vì nước không ngừng chảy trên sông Với quan niệm như vậy, nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ đại coi ông là nhà triết học vận động và gọi ông là “học thuyết về dòng chảy” Hêraclít còn nêu lên những phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, về sự chuyển hoá từ mặt đối lập này sang mặt đối lập khác, về sự trao đổi những mặt đối lập Khi Hêracrít quan niệm về linh hồn con người, ông cho rằng trong con người ngoài lửa ra còn có cả những chỗ ẩm ướt cho nên mới sinh ra người tốt, người xấu Linh hồn con người là sự thống nhất của hai mặt đối lập- cái ẩm ướt và lửa Lênin đánh giá cao quan niệm này của ông, cho rằng chúng đã thể hiện một trong những điểm cơ bản của phép biện chứng
Như vậy, cũng như trường phái triết học Milê, các trường phái triết học khác ở Hy Lạp cổ đại đều coi vật chất là tính thứ nhất, thế giới vật chất được hình thành từ một nguyên thể vật chất Nhưng Hêraclít còn đi xa hơn các vị tiền
Trang 9bối ở phép biện chứng, chính ông là người sáng lập ra phương pháp biện chứng,
là nhà biện chứng đầu tiên trong lịch sử Cái quý giá nhất trong triết học của ông
là phép biện chứng, mặc dù chỉ là phép biện chứng tự phát, ngây thơ, ông cũng xuất phát từ tự nhiên chứ không phải từ thần thánh để giải thích tự nhiên Ông chống lại những quan niệm siêu hình và chỉ ra mối liên hệ của vũ trụ và sự vận động, phát triển của thế giới Phép biện chứng của ông có giá trị to lớn được các nhà triết học cổ điển Đức sau này kế thừa và các nhà sáng lập triết học Mác xít đánh giá cao Lênin đánh giá phép biện chứng của Hêraclít là “phép biện chứng hoàn toàn khách quan coi như là nguyên lý của tấ cả cái gì tồn tại” (Lênin toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ M.1981, tr.277)
Nói đến giá trị của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại phải nói đến đại biểu sáng giá nhất của trường phái nguyên tử luận, đó là Đêmôcrít (460 – 370 tr.CN)
Là một trong những nhà duy vật lớn nhất thời cổ đại, ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là một sự vật cụ thể nào đó như nhiều nhà triết học trước
đó quan niệm mà là các nguyên tử Theo ông, nguyên tử là hạt vật chất nhỏ nhất không thể phân chia thêm được nữa Chúng tồn tại vĩnh viễn và trong lòng chúng không hề có vận động Các nguyên tử có nhiều hình dạng khác nhau như hình cầu, hình tam giác, hình cong, hình lõm,…Chính sự đa dạng về hình thức của chúng là yếu tố tạo nên sự đa dạng của các sự vật mà chúng cấu thành Các nguyên tử không chỉ khác nhau về hình dạng mà cả về trình tự và thể trạng nữa Chúng không có màu sắc, âm thanh, mùi vị… Dưới con mắt của Đêmôcrít, mọi
sự vật trong thế giới chúng ta đều được tái tạo từ các nguyên tử và khoảng không; nguyên tử vô hạn về số lượng và hình thức nhưng mỗi nguyên tử lại có hình thức xác định Theo ông các sự vật hiện tượng đều do nguyên tử cấu tạo nên, các nguyên tử kết hợp với nhau theo một trật tự xác định, sự liên kết khác
Trang 10nhau đã quy định bản chất khác nhau của sự vật Sự xuất hiện hay mất đi của sự vật này hay sự vật khác là kết quả việc kết hợp hay phân tán của các nguyên tử trong quá trình vận động trong khoảng không và tuân theo những quy luật tự nhiên Mọi biến đổi của sự vật thực chất là sự thay đổi trình tự sắp xếp của các nguyên tử tạo nên chúng Còn bản thân mỗi nguyên tử thì không thay đổi gì cả Như vậy, một mặt Đêmôcrít duy trì các nguyên lý bảo tồn “tồn tại”, coi các nguyên tử là bất biến, vĩnh viễn, mặt khác lại ủng hộ quan niệm của Hêraclít cho rằng mọi sự vật đều biến đổi không ngừng
Về vũ trụ nói chung, theo Đêmôcrít là khoảng không vô cùng vô tận trong
đó chứa đựng vô số thế giới khác nhau được cấu tạo từ vô vàn từ các loại nguyên
tử Theo ông động lực vận động vĩnh viễn của nguyên tử là động lực tự thân nó Quan niệm ấy có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu vận động trên quan điểm duy vật, ông cho rằng vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, nguyên nhân vận động là tự bản thân nó, nguồn gốc của sự vận động của các nguyên tử là do
sự va chạm
Với thành tựu triết học rực rỡ của Đêmôcrít đã đưa chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại lên một đỉnh cao mới Mặc dù chủ nghĩa duy vật của ông chưa thoát khỏi tính chất thô sơ, chất phác, còn mang tính chất máy móc siêu hình nhưng so với triết học duy vật của các trường phái trước đó, đã thể hiện được tính trừu tượng và tính khái quát cao trong quan niệm về khởi nguyên của thế giới Ông cũng là người đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho chủ nghĩa vô thần Ông cho rằng, sở
dĩ con người tin vào thần thánh là vì con người đã bất lực trước những hiện tượng khủng khiếp của tự nhiên Theo ông, thần thánh chỉ là sự nhân cách hoá những hiện tượng tự nhiên hay là những thuộc tính của con người Công lao lịch
sử của ông được thể hiện rõ trong cuộc đấu tranh bền bỉ để bảo vệ, truyền bá chủ