Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều cao của ốc nhồi ở các mật độ nuôi thí nghiệm khác nhau .... Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối bình quân ngày chiều dài của ốc ở các mật độ thí nghiệm .... T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
NGUYỄN ĐÌNH CƯỜNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN TỐC
ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ỐC GIỐNG
PILA POLITA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2VINH - 2011
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN TỐC
ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ỐC GIỐNG
PILA POLITA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người thực hiện: Nguyễn Đình Cường
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn
Kim Đường
Trang 4VINH - 2011
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, quan tâm quý báu của nhiều tập thể và cá nhân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Kim Đường người đã trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt cho tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở để tôi hoàn thành tốt đề tài khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, các anh, các chị tại cơ sở
đã quan tâm tạo mọi điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và làm đề tài tốt nghiệp tại cơ sở.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thuỷ sản đã tạo điều kiên giúp đỡ về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, giúp đỡ tôi về cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin cảm ơn cảm ơn các bạn, các em cùng thực tâp tại cơ sở đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn người thân trong gia đình, bạn bè gần xa
đã nhiệt tình ủng hộ và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Vinh, tháng 7 năm 2011
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Ng ườ ướ i h ng d n: PGS.TS Nguy n Kim ẫ ễ Đườ 3 ng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8Hình 2.4.1 Đo nhiệt độ môi trường Hình 2.4.2 Đo pH môi trường Error:Reference source not found
Hình 3.1 Khối lượng trung bình ở các mật độ thí nghiệm Error: Reference sourcenot found
Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của ốc Nhồi Error: Referencesource not found
Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tương đối về khối lượng Error: Referencesource not found
Hình 3.4 Sự thay đổi chiều dài của ốc Nhồi với các mật độ nuôi khác nhau Error:Reference source not found
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài của ốc ở các mật độ thí nghiệm
Error: Reference source not foundHình 3.6 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài ở các mật độ thí nghiệm Error:Reference source not found
Hình 3.7 Tăng trưởng chiều rộng của ốc Nhồi ở các giai thí nghiệm Error:Reference source not found
Hình 3.8.Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối về chiều rộng ở các mật độ Error:Reference source not found
Hình 3.9 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tương đối chiều rộng của ốc Nhồi Error:Reference source not found
Hình 3.10 Tăng trưởng chiều cao của ốc ở các giai thí nghiệm Error: Referencesource not found
Hình 3.11 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều cao ở các mật độ thí nghiệm
Error: Reference source not foundHình 3.12 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều cao của ốc nhồi ở các mật độ nuôi thí nghiệm khác nhau Error: Reference source not foundHình 3.13 Biểu đồ tỷ lệ sống của ốc qua các lần kiểm tra Error: Reference sourcenot found
Trang 9Bảng 3.6 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối bình quân ngày chiều dài của ốc ở các mật
độ thí nghiệm Error: Reference source not foundBảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài của ốc ở các mật độ Error:Reference source not found
Bảng 3.8 Tăng trưởng chiều rộng của ốc nhồi ở các mật độ thí nghiệm Error:Reference source not found
Bảng 3.9 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối bình quân ngày chiều rộng của ốc ở các mật độ nuôi khác nhau Error: Reference source not foundBảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều rộng của ốc ở các mật độ thí nghiệm Error: Reference source not foundBảng 3.11 Tăng trưởng chiều cao của ốc theo các mật độ thí nghiệm Error:Reference source not found
Trang 10Bảng 312 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều cao ở các mật độ thí nghiệm Error:Reference source not found
Bảng 3.13 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều cao của ốc ở các mật độ Error:Reference source not found
Bảng 3.14 Tỷ lệ sống của ốc nhồi qua các lần kiểm tra Error: Reference source notfound
Trang 11MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới, có nhiều ao, hồ, sông suối, nhiều cửa sông đổ ra biển với nền đáy đa dạng tạo nên một khu hệ động vật thân mềm phong phú Tuy nhiên, hiện nay nghề nuôi động vật thân mềm tập trung chủ yếu ở các loài nước mặn, lợ Các đối tượng nước ngọt chưa được phát triển như một nghề nuôi trong khi chúng có giá trị về mặt kinh tế và hiện đang bị suy giảm nguồn lợi một cách nghiêm trọng
Ốc Nhồi Pila polita là loài ốc nước ngọt phổ biến, phân bố ở Đông Dương,
Inđonexia, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam Chúng sống trong ao, ruộng, vùng đồng bằng và trung du (Dillon RT, 2000) Đã có những nghiên cứu khác nhau về sinh thái, phân bố, vai trò và tác hại của một số loài ốc nước ngọt trong đó có ốc
Nhồi P polita Theo Burch JB và Upatham ES (1989), Pusadee Sri-aroon và ctv (2005), P polita được xem là một trong những loài ốc nước ngọt có vai trò rất quan trọng trong y học Thaewnon-ngiw và ctv, 2003 cho biết P polita hiện đang
được xem như một biệt dược để chữa bệnh về da của người dân địa phương miền Nam Thái Lan
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây một số người dân đã nuôi thử loài ốc Nhồi này từ việc sử dụng nguồn giống khai thác từ tự nhiên bằng hình thức nuôi kết hợp trong ao với cá lóc, lươn, ba ba ở Thanh Hóa, Ninh Bình, Hải Phòng với giá bán thương phẩm khoảng 40-60 ngàn đồng/kg Những món ăn được chế biến từ ốc Nhồi
có chất lượng thơm ngon, cung cấp chất đạm, canxi, axit amin, … và đặc biệt là chứa các chất béo không no có lợi cho sức khoẻ Bên cạnh đó, ốc Nhồi còn được người dân sử dụng để chữa trị các bệnh về dạ dày và khớp, cho nên chúng rất được thị trường trong nước ưa chuộng Hiện nay nguồn giống không cung cấp đủ về số lượng lẫn chất lượng cho người nuôi Việc sản xuất thành công giống nhân tạo có ý nghĩa rất quan trọng vì nó giúp ích rất nhiều trong việc khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn lợi ốc tự nhiên cũng như thuần hóa trở thành đối tượng nuôi đem lại giá trị kinh tế
Việc tìm được mật độ nuôi thích hợp trong quá trình ương nuôi để đem lại hiệu quả kinh tế cao là một điều hết sức cần thiết, vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài:
Trang 12“Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ốc
giống Pila polita”
Mục tiêu của đề tài
Nhằm tìm được mật độ thích hợp để nuôi ốc giống đạt hiệu quả cao
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Vài nét về đặc điểm sinh học của ốc nhồi
Loài: Pila polita Deshayes, 1830
Tên tiếng Việt: Ốc nhồi, ốc bươu ta
Tên tiếng Anh: Apple snails
1.1.2 Đặc điểm hình thái, phân bố
* Đặc điểm hình thái ngoài
Trên thế giới hiện nay giống Pila được biết đến có khoảng 23 loài bao gồm:
P africana, P africana martens, P ampulacea, P ampullacea, P angelica, P cecillei, P congoensis, P conica, P globosa, P gracilis, P leopoldvillensis, P letourmenxi, P luzonica, P occidentalis, P ovata, P pesmei, P pesmi, P polita,
P saxea, P scutata, P speciosa, P virens, P.wernei [23].
Đặc điểm của các loài thuộc giống Pila được mô tả như sau:
Trang 14Thân: Đầu (cephalis)
Hình 1.1 Ốc nhồi Pila polita
Vỏ ốc nhồi Pila polita tương đối lớn, mặt vỏ nhẵn bóng, màu xanh đen pha
lẫn vàng, có 5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng mang miệng vỏ rất lớn, các vòng xoắn trên nhỏ dần, vuốt nhọn dài Ốc nhồi có vòng xoắn thuận Do vậy khi đặt vỏ
ốc với đỉnh quay lên trên, miệng vỏ quay về phía ta, sẽ thấy miệng vỏ nằm ở bên phải trục vỏ Nắp miệng bằng sừng, hơi dài, tâm hơi lệch về một bên Vành miệng sắc, không lộn trái, lớp sứ bờ trụ dày [15]
* Đặc điểm cấu tạo trong
Theo Đặng Ngọc Thanh và Trương Quang Ngọc (2001), khi ốc Nhồi thò đầu ra khỏi vỏ thì thấy giữa là thùy miệng, hai bên là ống xiphông Ống bên trái rất lớn thông với xoang phổi là ống hút Ống bên phải nhỏ hơn, thông với xoang mang
Trang 15là ống thoát Phần miệng nằm ở phíá trước, nếp da bao quanh miệng kéo dài thành hai mấu lồi, phía ngoài hai mấu lồi này là hai tua đầu, khi vươn dài ra có thể dài tới 5cm Ở gốc tua cảm giác có hai mắt đính trên hai cuống ngắn [1].
Phía dưới phần đầu là phần chân Ở chân có rãnh dọc chia chân làm hai mảnh Khi di động chân bè rât rộng và đẩy nắp miệng về phía sau
Tiếp theo phần đầu là phần áo Cửa áo nằm ngay phía trên miệng và chạy dài từ trái sang phải Bề mặt của áo cũng như toàn thân ốc lúc nào cũng có một lớp chất nhày Bên trong là xoang áo Bên phải áo có lỗ sinh dục cái hoặc cơ quan giao phối nằm trong một túi (ở con đực) và hậu môn Bên trái áo có cơ quan cảm giác hóa học osphradi là một mấu ngắn màu vàng nhạt [1]
Khối nội quan:
Phần lớn khối nội quan nằm ở vòng xoắn cuối Qua lớp màng mỏng có thể phân biệt được một số các bộ phận nội quan: Đó là khối gan - tụy màu vàng xen lẫn màu xanh đen Dạ dày màu đỏ nằm trong khối gan - tụy Đơn thận màu đen phủ một đoạn ruột Ở con cái có tuyến anbumin màu vàng Bao tim ở gờ bên trái Ống dẫn sinh dục đực hoặc cái ở bên phải Nội tạng gồm các cơ quan chức năng sau:
Hệ tiêu hóa: trong thùy miệng có hành miệng, gồm có hai răng kitin ở hai bên Giữa là lưỡi gai Tiếp đó là thực quản nối hành miệng với dạ dày Thực quản hẹp, dài Dạ dày màu đỏ thịt nằm trong khối gan - tụy Sau dạ dày là ruột uốn khúc nằm ngoằn ngoèo trong khối gan - tụy, rồi đổ ra trực tràng chạy về phía trước cơ thể Cuối cùng là hậu môn nằm bên phải cửa áo [15]
Ở vùng miệng có một đôi tuyến nước bọt màu vàng, đổ vào thực quản Khối gan tụy chia làm hai phần: phần tiêu hóa màu vàng pha đỏ, phần bài tiết màu đen
- Hệ hô hấp: họ ốc Pilidae có đặc điểm là vừa có phổi, vừa có mang Bên trái của xoang áo là phổi thông với ngoài qua ống xiphông thoát Trong xoang mang có một dãy lá mang chạy song song với đoạn ruột thẳng [15]
- Hệ tuần hoàn: tim nằm trong bao tim ở bên trái cơ thể Tim gồm một tâm nhĩ màu trắng nằm ở trước tâm thất Các động mạch phổi ở mang qua một tĩnh
Trang 16mạch chủ rồi đổ vào tâm nhĩ Tâm thất có thành dày, màu nâu thông với một bầu động mạch ở phía sau [15].
- Hệ bài tiết: gồm một tuyến Bojanus đen sẫm phủ trên đoạn ruột cạnh bao tim và đổ ra đáy xoang áo [15]
- Hệ sinh dục: Ốc nhồi là động vật phân tính Ốc Nhồi đực và cái có thể phân biệt bằng hình dạng bên ngoài Nếu cùng tuổi thì ốc cái lớn hơn ốc đực, đỉnh
- Hệ thần kinh: ốc nhồi có hai hạch não nằm phía trên hành miệng Giữa hai hạch đó có cầu nối với nhau vắt ngang qua hành miệng và các dây thần kinh đi đến các tua đầu và mắt [4]
- Hai khối hạch chân bên nằm ở hai bên phía dưới hành miệng Mỗi hạch này là do một hạch áo và một hạch chân gắn lại với nhau Hai khối hạch chân bên
có cầu nối với nhau và nối với hạch não Hạch trên ruột có dây thần kinh điều khiển mang, áo và cơ quan cảm giác hóa học (osphradi) Hạch này có dây thần kinh nối với khối hạch chân – áo Khối hạch phủ tạng có dây thần kinh nối với hạch trên ruột [5]
- Cơ quan cảm giác: Ốc nhồi có một đôi mắt Mắt có cuống ngắn nằm ngay dưới gốc tua cảm giác Cơ quan cảm giác hóa học osphradi nằm ở vách xoang áo bên phải (xoang phổi), gần miệng Cơ quan thằng bằng nằm trong một hốc màu vàng [5]
* Đặc điểm phân bố
Trên thế giới ốc Nhồi phân bố ở các nước Thái Lan, Lào, Ấn Độ, Nam Trung
Trang 17Quốc Ở Việt Nam, chúng thường sống ở ao, hồ và đồng ruộng cả vùng đồng bằng, trung du và miền núi [4]
Tập tính phân bố: thích sống ở các vùng nước tù đọng, nơi có hàm lượng mùn bã hữu cơ nhiều Khi điều tra về sự phân bố của các loài ốc nước ngọt thuộc
họ Ampullariidae ở 18 tỉnh Thái Lan, Thaewnon-NgiwB và ctv (2002) cho biết,
các loài Pila angelica, P ampullacea và P pesmei có giới hạn phân bố còn Pila
polita, trước đây không thấy xuất hiện ở miền Nam, nhưng có thể bắt gặp chúng ở
Phangnga, một tỉnh miền Nam của Thái Lan [19]
1.1.3 Thức ăn và tập tính dinh dưỡng
Ốc Nhồi là đối tượng Động vật thân mềm có phổ thức ăn khá đa dạng, phương thức ăn của chúng cũng hết sức đặc biệt Thức ăn của ốc Nhồi là các loại thực vật thủy sinh: Bèo cây, rau muống, các loại rong, rêu bám ở nền đá hay các giá thể bám khác và nhiều loại thực vật nước sống ven bờ, mép ao [11]
Nhiều loại thực vật thượng đẳng trên cạn cũng là thức ăn ưa thích của ốc như
lá sắn, lá chuối non, lá mùng tơi, lá rau ngót, lá mùng trắng Một số loại thức ăn khác như mùn bã hữu cơ, hay kể cả các loại rơm, rạ, cỏ mục cũng nằm trong nhóm thức ăn
mà chúng có thể sử dụng Trong điều kiện nuôi nhân tạo ốc nhồi có thể ăn thêm các loại thức ăn bổ sung như: Bột cám gạo, bột đậu nành, bột ngô, thịt hến, hàu, bột cá, Thành phần thức ăn của ốc ít thay đổi từ lúc ốc con đến ốc trưởng thành Ốc con mới
nở đã có thể ăn được các loại thức ăn đặc trưng cho loài, tuy nhiên trong giai đoạn này chúng chủ yếu ăn các thức ăn có kích thước nhỏ vừa cỡ miệng của chúng và thức
ăn có tính chất mềm: Tảo, rong, rêu, và các loại thức ăn tinh bổ sung Khi lớn dần lên cùng với sự tăng lên về kích thước và khối lượng thì thức ăn của ốc cũng càng ngày càng đa dạng hơn và đặc trưng cho loài [18]
Ốc ăn thức ăn suốt ngày nhưng chúng tập trung ăn nhiều vào hai khoảng thời gian chính đó là lúc sáng sớm 5-8h và chiều tối 18-22h [20]
Khi thực hiện hoạt động ăn ốc Nhồi thường treo mình lơ lửng trên mặt nước nhờ cấu tạo đặc biệt của màng chân chúng dùng màng chân có tiết dịch keo
để bao lầy vùng thức ăn và kéo về gần lỗ miệng Khi tiếp cận thức ăn ốc thường
Trang 18mở loe miệng ra và hút thức ăn vào khoang miệng rồi đưa tới bộ phận tiêu hóa của
cơ thể Đôi khi ốc không chủ động bơi để ăn thức ăn mà chúng chỉ bám vào giá thể bám mà hút thức ăn đưa vào miệng một cách tương đối bị động Đó là hình thức ăn của ốc với thức ăn có kích thước nhỏ vừa cỡ miệng của ốc như tảo hay thức ăn tinh, còn đối với những loại thức ăn có kích thước lớn hơn và tương đối cứng như các loại thức ăn xanh (bèo cây, rau muống, lá sắn, ), rong, rêu, rơm rạ,
cỏ mục hay mùn bã hữu cơ thì ốc sử dụng cái lưỡi bào đa năng của mình để bào mòn dần thức ăn và đưa vào miệng tiêu hóa một cách tương đối đơn giản [1]
Phương thức ăn này của ốc Nhồi là một phương thức rất độc đáo và hiệu quả, phương thức này không thay đổi lớn đối với ốc con và ốc trưởng thành chỉ khác một điểm là ốc Nhồi trưởng thành thời gian sống đáy là chủ yếu chúng ăn nhiều mùn bã hữu cơ, thực vật bậc cao, cây cỏ, rơm rạ mục nên chúng dùng lưỡi bào bào mòn thức ăn để ăn là chính Còn đối với ốc con do tập tính phần lớn thời gian là sống nổi hay gần mặt nước nên chúng phải dùng phương thức ăn nổi để ăn thức ăn là phần nhiều [1]
1.1.4 Đặc điểm sinh sản
Ốc nhồi Pila polita là loài có giới tính phân biệt, thụ tinh trong Ốc nhồi đực và
cái có thể phân biệt bằng hình dạng ngoài Trong cùng một lứa, con cái có kích thước
và khối lượng lớn hơn con đực, đỉnh vỏ thấp và không nhọn bằng con đực [11]
Hình 1.2.1 Ốc cái Hình 1.2.2 Ốc đực
Ở giai đoạn thành thục, có thể phân biệt được con đực và con cái dựa vào
Trang 19đặc điểm cơ quan sinh dục:
1.3.1 Ốc đực sau khi bóc vỏ 1.3.2 Ốc cái sau khi bóc vỏ
Con cái có một tuyến trứng hình khối nhỏ màu trắng nằm cạnh tuyến anbumin màu vàng đậm Ống dẫn trứng màu trắng chạy xuyên qua tuyến anbumin rồi theo chiều từ trái sang phải, hướng về phía trước, đổ ra ngoài qua lỗ sinh dục cái
Con đực có một tuyến tinh nhỏ màu trắng nằm cạnh ruột xoắn gần dạ dày Ống dẫn tinh nhỏ, màu trắng chạy qua tuyến gan-tụy và dưới trực tràng, cuối cùng
đổ vào túi chưa tinh tới cơ quan giao phối Cơ quan giao phối hình máng dài có rãnh để dẫn tinh trùng [11]
Trong mùa sinh sản ốc thường kết cặp vào chiều tối và ban đêm và ốc cái
đẻ trứng sau đó một thời gian Tập tính kết cặp bắt đầu khi con đực và con cái đã thành thục sinh dục Đối với các loài tôm, cá khác là có quá trình rượt đuổi của
con đực và con cái, còn ốc Nhồi Pila polita thì bò gần lại với nhau Để giao phối,
con đực và con cái quay miệng vỏ ngược nhau, con đực thò cơ quan giao phối hình máng dài có rãnh ra, đồng thời con cái mở nắp vỏ Tinh trùng của con đực theo ống dẫn tinh, qua cơ quan giao phối (gai giao cấu) chuyển sang cơ thể con cái
và được giữ lại trong buồng thụ tinh Thời gian kết cặp có thể kéo dài hàng giờ đồng hồ So với ốc bươu vàng thì chúng dễ tách rời nhau ra trong khi giao phối khi
có một tác động như chạm nhẹ vào mặt nước hay chỉ là một ánh đèn rọi vào
Trang 20Chúng thưòng kết cặp nhiều lần trước khi đẻ Trứng thành thục, theo ống dẫn trứng ra buồng thụ tinh và tại đây trứng gặp tinh trùng và được thụ tinh trước khi
đẻ ra ngoài [11]
Hình 1.4 Ốc nhồi Pila polita sau khi sinh sản
Trứng của ốc có màu trắng, được bao bọc bởi vỏ canxi, các trứng được dính với nhau bởi một chất keo nhầy tạo thành chùm trứng có dạng hình khối Khối lượng của buồng trứng từ 4,550(g)-12,162(g), khối lượng trung bình của các chùm trứng là 8,637(g), chiều dài của chùm trứng từ 36.5-40.28mm, trung bình là 38.65mm, chiều rộng của chùm trứng từ 23.85-27.35mm, trung bình 25.31mm Tách riêng từng quả trứng ta thấy kích thước, khối lượng của một quả trứng trung bình là 5,56mm và 0,072 (g) [11]
1.2 Tình hình nghiên cứu về ốc Nhồi trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về ốc Nhồi trên thế giới
Trong sản lượng thủy sản hàng năm trên Thế Giới thì động vật thân mềm đóng vai trò khá quan trọng Theo số liệu thống kê của FAO năm 2000, động vật thân mềm chiếm 30% về sản lượng và 19% về giá trị tổng sản lượng nuôi thủy sản trên thế giới Sản lượng động vật thân mềm tăng từ 3,6 triệu tấn năm 1990 lên 10,7 triệu tấn năm 2000, tỷ lệ tăng trưởng bình quân đạt 11,5%/năm Các nước có sản
Trứng ốc
Ốc vừa sinh sản vừa ôm trứng
Trang 21lượng động vật thân mềm nuôi lớn là Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, CHND Triều Tiên, Pháp và Italia [22].
Theo Dillon RT, 2000, Pila polita là loài ốc nước ngọt phổ biến Chúng
phân bố ở Đông Dương, Inđônêxia, Trung Quốc (Quảng Đông, Vân Nam), Thái Lan và Việt Nam Chúng sống trong ao ruộng, vùng đồng bằng và trung du [16]
Đã có những nghiên cứu khác nhau về sinh thái, phân bố, vai trò và tác hại
của một số loài ốc nước ngọt, trong đó có loài ốc nhồi Pila polita Theo Burch và Lohachit, 1983; Kaewjam, 1986, Pila polita được xem là một trong 8 loài ốc nước ngọt có vai trò quan trọng trong y học Thaewnon-ngiw Bet all, 2002 cho biết Pila
polita hiện đang được biết đến như một biệt dược để chữa bệnh về da cho người
dân địa phương miền Nam Thái Lan [17]
Loài ốc Nhồi Pila polita hiện chưa được nghiên cứu về khả năng sinh sản
nhân tạo
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về ốc nhồi ở Việt Nam
Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới, có nhiều ao hồ, sông suối, nhiều Cửa sông đổ ra biển với nền đáy đa dạng tạo nên một khu hệ động vật thân mềm phong phú Tuy nhiên, tập đoàn các đối tượng nuôi nước ngọt còn nghèo nàn chưa tương xứng với tiềm năng đa dạng sinh học và sự đa dạng về điều kiện sinh thái của đất nước cũng như nhu cầu cần sản xuất
Theo Bách Khoa toàn thư Việt Nam, Pila polita là loài ốc nước ngọt thuộc
họ ốc nhồi (Pilidae), phân lớp ốc mang trước (Prosobranchia), lớp chân bụng, ngành động vật thân mềm Vỏ tương đối lớn Mặt vỏ bóng, màu xanh vàng hoặc nâu đen, mặt trong hơi tím Lỗ miệng dài hẹp, tháp ốc vuốt nhọn, có 5-6 vòng xoắn, các vòng xoắn hơi phồng, rãnh xoắn nông; vòng xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm tới 5/6 chiều cao vỏ, các vòng xoắn trên nhỏ dần, vuốt nhọn dài Vành miệng sắc, không lộn trái, lớp sứ bờ trụ dày Lố rốn dạng rãnh hẹp dài Nắp khe miệng dài Ăn mùn bã hữu cơ Phân bố ở Đông Dương, Indonexia, Trung Quốc Sống trong ao, ruộng, vùng đồng bằng và trung du Hiện nay, chúng được sử dụng làm các món ăn được ưa chuộng phổ biến (ví dụ: bún ốc, ốc xào, ốc hấp gừng, ốc
Trang 22om chuối đậu, ốc hấp thuốc bắc, v.v) [11].
Trong những năm gần đây, ở một số địa phương, người dân đã nuôi thử loài ốc nhồi này từ việc sử dụng nguồn giống khai thác từ tự nhiên bằng hình thức nuôi kết hợp trong ao với cá quả, lươn, ba ba ở Thanh Hóa, Ninh Bình với giá bán thương phẩm khoảng 40-50 ngàn đồng/kg, nên mang lại hiệu quả kinh tế khá cao (theo ghi chép của nhóm nghiên cứu) [11]
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 23Hình 2.1 Ốc nhồi Pila polita
- Ốc nhồi Pila polita
2.2 Thiết bị, dụng cụ dùng trong nghiên cứu
- Giai thí nghiệm: Kích thước 1 x 1 x 1m; Số lượng 9 cái
- Dụng cụ đo các yếu tố môi trường: Nhiệt kế thủy ngân, Test đo pH
- Cân điện tử GX - 600, thước đo palme độ chính xác 0,1 mm
- Một số dụng cụ khác như vợt, xô chậu
2.3 Nội dung nghiên cứu
- So sánh ảnh hưởng của ốc mật độ khác nhau đến quá trình sinh trưởng và
tỷ lệ sống của ốc nhồi
- Đánh giá hiệu quả khi nuôi ở ốc mật độ khác nhau
- Theo dõi diễn biến môi trường trong quá trình nuôi
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trong ốc giai , bố trí ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức khác nhau và được lặp lại 3 lần với mật độ :
Mật độ 1 ( kí hiệu MĐ1 ): 100 con/m2/giai
Mật độ 2 ( kí hiệu MĐ2 ): 150 con/ m2/giai
Mật độ 3 ( kí hiêu MĐ3 ): 200 con/ m2/giai
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Giai 1 Giai 2 Giai 3 Giai 4 Giai 5 Giai 6 Giai 7 Giai 8 Giai 9
Trang 24MĐ 1 MĐ 2 MĐ 3 MĐ 1 MĐ 2 MĐ 3 MĐ 1 MĐ 2 MĐ 3
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
2.4.2 Sơ đồ khối nghiên cứu
Hình 2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu
2.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
* Phương pháp xác định các thông số môi trường
Mật độ 1(100 con/m2) (150 con/mMật độ 22)
Mật độ 3(200 con/m2)
Giai4
Giai
1 Giai7
Giai 6
Trang 25Hình 2.4.1 Đo nhiệt độ môi trường Hình 2.4.2 Đo pH môi trường
Bảng 2.1 Xác định ốc chỉ tiêu môi trường cần theo dõi
* Phương pháp xác định các chỉ tiêu tăng trưởng
Để theo dõi tăng trưởng của ốc nuôi thí nghiệm, ốc thí nghiệm được cân, đo chiều dài khi bắt đầu bố trí thí nghiệm và khi kết thúc thí nghiệm Trong quá trình thí nghiệm ốc được thu ngẫu nhiên 30 ốc thể, và cứ 10 ngày tiến hành cân và đo 1 lần
- Đo chiều dài: sử dụng thước palmer chính xác đến 0,1 mm
- Cân khối lượng: sử dụng cân điện tử GX - 600 chính xác đến 0,01 mg
Trong quá trình cân phải dùng giấy để thấm nước, động tác nhanh, tiến hành cân ở góc khuất tránh gió lùa nhằm đảm bảo sự chính xác của số
* Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG (Average Daily Growth)
W 2 - W 1
ADG W = (g/ngày)
∆t
Trong đó: W1: Khối lượng ốc trước thí nghiệm
W2: khối lượng ốc sau thí nghiệm ∆t : Thời gian nuôi.
L 2 - L 1
ADG L = (cm/ngày)
∆t
Trang 26Trong đó: L1 là chiều dài trước thí nghiệm.
L2 là chiều dài sau thí nghiệm
* Tốc độ tăng trưởng đặc trưng SGR (Specific growth rate)
Thời gian nuôi
Trong đó: W1 và W2 là khối lượng trước và sau thí nghiệm,
L2 và L1 chiều dài ốc trước và sau thí nghiệm
* Hệ số thức ăn FCR (Feed conversion rate)
Tổng khối lượng thức ăn đã sử dụng (g)
2.5 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.5.1 Thời gian nghiên cứu
Trang 27Từ ngày 01/03/2011 đến ngày 30/06/2011.
2.5.2 Địa điểm nghiên cứu
Trại thực nghiệm nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt Hưng Nguyên, Khối 2 - thị trấn Hưng Nguyên - Nghệ An
Trang 28Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
Trong quá trình thí nghiệm các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, DO được theo dõi thường xuyên và kết quả thể hiện trên Bảng 3.1
Bảng 3.1.Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
* Nhiệt độ: Qua bảng 3.1 ta thấy, nhiệt độ buổi sáng dao động trung bình từ
19,52 ± 2,08 oC, nhiệt độ biến thiên từ 15 oC đến 22 oC Nhiệt độ buổi chiều dao động trung bình từ 21,12 ± 3 oC, nhiệt độ biến thiên 16 oC đến 28 oC Nhiệt độ trung bình ở các công thức tương đối ổn định, sự chênh lệch không đáng kể Điều kiện nhiệt độ trong thời gian bố trí thí nghiệm thích hợp cho việc ương nuôi ốc
* pH: Giá trị pH trong các giai thí nghiệm biến đổi nhỏ theo thời gian trong
ngày và tương đối đều trong thời gian thí nghiệm Giá trị pH dao động vào buổi sáng là 6,8 – 8,2, buổi chiều pH biến thiên từ 6,8 đến 8,4 Theo Lawson (1995) thì giới hạn pH thích hợp cho nuôi thủy sản trong khoảng 6,5–9 Qua Lawson và kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị pH trong suốt quá trình thí nghiệm đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển của ốc nhồi và không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của ốc
Oxy hòa tan (DO): Ngưỡng DO thích hợp trong nuôi trồng thuỷ sản là 4
đến 8 mg/l, theo Bảng 3.1 thì DO trong quá trình thí nghiệm từ 4–5 mg/l đối với buổi sáng và 4–7 vào buổi chiều Giá trị DO trung bình trong ngày biến động không lớn và thích hợp với sự phát triển và sinh trưởng của ốc Điều này thấy kết quả của DO không ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu
Trang 293.2 Tốc độ tăng trưởng của ốc nhồi ở giai đoạn ốc giống
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng về khối lượng của ốc
nhồi (Pila polita)
Trong quá trình triển khai thí nghiệm nhìn chung ốc tăng trưởng tương đối tốt Lúc bắt đầu thả ốc có khối lượng trung bình trong các nghiệm thức tương đối đều cỡ ốc dao động từ 1,83132 đến 1,98231 g/con Sau 50 ngày nuôi với mật độ khác nhau ốc tăng trọng dao động 3,81858 đến 4,67417 g/con
Bảng 3.2 Tăng trưởng về khối lượng của ốc nhồi ở các mật độ thí nghiệm
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E) Các chữ mũ
khác nhau trên giá trị cùng hang thì khác nhau với P <0,05.
Các số liệu trên Bảng 3.2 cho thấy khối lượng trung bình của ốc nhồi khi ương nuôi ở các mật độ khác nhau có tốc độ tăng trưởng khác nhau Khối lượng trung bình sau khi kết thúc thí nghiệm ở các mật độ có sự khác biệt, mật độ 1 có khối lượng trung bình lớn nhất (4,674 g/con) sau đó đến mật độ 2 (4,355 g/con), khối lượng trung bình nhỏ nhất là mật độ 3 (3,819 g/con) Khi tiến hành phân tích ANOVA một nhân tố thì ở giai đoạn 0–10 ngày ương sự sai khác về khối lượng ở
3 mật độ không có ý nghĩa thống kê (P >0,05) những lần kiểm tra thứ 3 và thứ 4 mật độ 1 so với mật độ 3 đã có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05), mật độ 1
so với 2 và 2 so với 3 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Ở lần đo thứ 5 thì mật độ 1 và mật độ 2 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05), mật độ 1 và mật độ 2 so với mật độ 3 có ý nghĩa sai khác có ý nghĩa thống kê (P
<0,05) Như vậy, khi ương ốc với mật độ khác nhau thì khối lượng tăng trọng theo thời gian cũng khác nhau
Trang 30Hình 3.1 Khối lượng trung bình ở các mật độ thí nghiệm
Nhìn trên Hình 3.1 ta thấy, diễn biến tăng trưởng về khối lượng của các mật
độ trong ương nuôi ốc giống Khối lượng ban đầu khi ương nuôi ốc giống có sự chênh lệch không lớn, ở mật độ 2 khối lượng trung bình ban đầu lớn nhất (1,982 g/con), sau đó đến mật độ 3 (1,818 g/con) và nhỏ nhất là mật độ 3 (1,831 g/con) Khối lượng của cá ở các mật độ thay đổi không nhiều từ 0–10 ngày, chỉ có sự khác biệt là khối lượng trung bình ở mật độ 1(2,596 g/con) lớn hơn so với mật độ 3 (2,494 g/con) còn lớn nhất vẫn là mật độ 2 (2,607 g/con) Qua đây chúng ta thấy rằng thời gian đầu ốc còn nhỏ, môi trường rộng nên mật độ chưa ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng ở mật độ 1 và mật độ 2, do mật độ dày nên bước đầu mật
độ 3 đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng của ốc Từ ngày ốc ương nuôi được hơn 10 ngày cho thấy rõ mật độ 1 có khối lượng tăng trưởng nhanh hơn mật độ 2 và mật độ 3
* Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG về khối lượng của ốc ở các
mật độ thí nghiệm
Qua Bảng 3.3 và Hình 3.2 ta thấy, tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ở các mật độ khác nhau thì có sự khác nhau (P < 0,05), chỉ trừ ở lần đo thứ 2 và 4 thì tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng tương đối đồng đều Khi kết thúc thí nghiệm ốc đạt tốc độ tăng trưởng đặc trưng dao động ở mật độ 1 (0,055 - 0,086 g/ngày), mật độ 2 (0,047 - 0,067 g/ngày), mật độ 3 (0,029 - 0,068 g/ngày)
Trang 31Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng của ốc
ở các mật độ thí nghiệm
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E) Các chữ
mũ khác nhau trên giá trị cùng hàng thì khác nhau với P <0,05.
Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của ốc Nhồi
Mặt khác, ta thấy mật độ cao nhất thì tốc độ tăng trưởng tuyệt đối bình quân ngày chậm nhất và không ổn định, như mật độ 3 ( lần 1 đạt 0,068 g/ngày, lần
2 là 0,055 g/ngày, lần 3 là 0,0495 g/ngày, lần 4 0,029 g/con) Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối ở lần đo thứ 3 mật độ 1 so với mật độ 2 và mật độ 1 so với mật
độ 3 có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05), mật độ 2 so với mật độ 3 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05) Các lần đo còn lại sự sai khác không
Trang 32Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng của ốc nhồi giai đoạn ương nuôi ốc giống ở các mật độ khác nhau được thể hiện ở Bảng 3.4 và Hình 3.3
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E) Các chữ
mũ khác nhau trên giá trị cùng hàng thì khác nhau với P <0,05.
Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng ở các mật độ thí nghiệm
Từ kết quả thu được ở trên Bảng 3.4 và Hình 3.3.cho thấy, tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng có sự sai khác giữa các mật độ thí nghiệm Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tương đối ở các lần đo đầu tiên tương đối cao, cụ thể ở lần đo thứ 2 mật độ 1 (3,489 %/ngày), mật độ 2 (2,741 %/ngày) và mật độ 3 (3,160 %/ngày) Nguyên nhân chủ yếu do ở giai đoạn đầu ốc còn nhỏ, về sau kích thước tăng lên, mật độ cao hơn, không gian sống bị thu hẹp nên làm cho ốc kém ăn hơn Ở lần đo thứ 4 cả 3 mật độ tương đối thấp, mật độ 1 là 1,471 %/ngày, mật độ
Trang 332 là 1,371 %/ngày, mật độ 3 là 1,497 %/ngày Sau khi kết thúc thí nghiệm thì tốc
độ tăng trưởng tương đối ở các mật độ biên độ dao động tương đối chênh lệch mật
độ 1 (1,417-3,489 %/ngày), mật độ 2 (1,371-2,741 %/ngày) và mật độ 3 3,160 %/ngày) Khi phân tích SGR ở lần đo thứ 3 mật độ 1 so với mật độ 3 đã có
(0,785-sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05), mật độ 1 so với 2 và 2 so với 3 có (0,785-sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05) Các lần đo còn lại giữa các mật độ có
sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05)
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng chiều dài của ốc
Tăng trưởng về chiều dài của ốc thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 3.5, Hình 3.4, Bảng 3.6, Hình 3.5, Bảng 3.7 và Hình 3.6
Bảng 3.5 Chiều dài trung bình của ốc Nhồi ở các mật độ thí nghiệm
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E) Các chữ mũ
khác nhau trên giá trị cùng hang thì khác nhau với P <0,05.
Ốc nhồi (Pila polita) khi bố trí thí nghiệm có chiều dài trung bình ở mật độ
1 là 18,62 mm/con, mật độ 2 là 19,11 mm/con, mật độ 3 là 18,67mm/con ở các mật độ thí nghiệm chiều dài chênh lệch không đáng kể Sau 50 ngày bố trí thí nghiệm giá trị đạt cao nhất ở nghiệm thức mật độ 1 (26,45 mm) sau đó đến nghiệm thức mật độ 2 (25,84 mm) và thấp nhất là nghiệm thức mật độ 3 (24,11 mm) Từ kết quả phân tích thống kê cho thấy chiều dài trung bình ở giai đoạn từ 0 – 10 ngày của ốc ở các mật độ sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05), lần đo thứ 3 mật độ 1 so với mật độ 3 đã có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05), mật độ 1
so với 2 và 2 so với 3 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05) còn lần
Trang 34đo thứ 4 và 5 mật độ 1 so với mật độ 2 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05), mật độ 1 và mật độ 2 so với mật độ 3 có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05) Như vậy, mật độ ương ốc giống khác nhau có ảnh hưởng về chiều dài thân của ốc.
Hình 3.4 Chiều dài trung bình của ốc Nhồi với các mật độ nuôi khác nhau
Qua Hình 3.4 ta thấy, khi ương ốc giống ở mật độ 1 có tốc độ tăng trưởng
về chiều dài qua các lần đo là lớn nhất, chiều dài tăng theo thời gian nuôi và độ tuổi của ốc Qua các lần kiểm tra ta thấy mật độ 1 có chiều dài cao nhất qua các lần đo (18,62; 21,11; 24,40; 25,22; 26,45 mm/con) sau đó đến mật độ 2 (19,11; 20,75; 23,15; 24,56; 25,84 mm/con) và thấp nhất là mật độ 3 (18,67; 20,53; 22,45; 23,7; 24,11 mm/con Theo Hình 3.4 thì khi ương ở mật độ thấp thì ốc có sự tăng trưởng cao hơn về chiều dài
* Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG về chiều dài của ốc
Qua Bảng 3.6 và Hình 3.5 ta thấy có sự sai khác được thể hiện rõ về tốc độ tăng trưởng chiều dài ở các mật độ thí nghiệm Ốc ở giai đoạn 20 ngày kể từ sau khi bắt đầu ương nuôi tương đối đều, cao nhất là mật độ 1 (2,382 mm/ngày) sau
đó đến mật độ 2 (2,125 mm/ngày) và nhỏ nhất là mật độ 3 (1,784 mm/ngày) Thực nghiệm cho thấy mật độ 3 có sự đồng đều hơn so với mật độ 1 và mật độ 2 Ở lần
đo thứ 4 và 5 thì tốc độ tăng trưởng của 3 mật độ tương đối thấp, lần đo thứ 4 thấp nhất mật độ 1(0,732 mm/ngày) sau đó đến mật độ 3 (1,259 mm/ngày) và lớn nhất
Trang 35là mật độ 2 (1,503 mm/ngày) Đến lần đo thứ 5 tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối về chiều dài ở mật độ 1 (1,503 mm/ngày) cao nhất sau đó đến mật độ 2 (1,214 mm/ngày) và thấp nhất là mật độ 3 (0,409 mm/ngày).
Bảng 3.6 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối bình quân ngày chiều dài của ốc ở các
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E) Các chữ mũ
khác nhau trên giá trị cùng hàng là khác nhau với P <0,05.
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài của ốc ở các mật độ thí nghiệm
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối về chiều dài thấp là do giai ương nuôi ốc bẩn, mức nước trong ao thấp Mặt khác, do
Trang 36thời tiết thay đổi đột ngột lai nuôi với mật độ cao nên ốc bị stree nên ăn kém so với các giai đoạn khác Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối về chiều dài khi phân tích thống kê cho thấy ở lần đo thứ 2 chưa có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P >0,05) thời gian ương nuôi còn lại mật độ 1 so với mật độ 3 đã có sự sai khác
có ý nghĩa thống kê (P <0,05), mật độ 1 so với 2 và 2 so với 3 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05)
* Tốc độ tăng trưởng đặc trưng SGR về chiều dài của ốc nhồi
Kết quả theo dõi SGR của ốc nhồi ở các mật độ thí nghiệm khác nhau đã thu được các kết quả trên Bảng 3.7 cho thấy, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối đặc trưng của ốc cũng khác nhau Trong quá trình theo dõi biên độ dao động giữa mức
độ tăng trưởng thấp nhất và cao nhất giữa các mật độ có khoảng biến động khác nhau, mật độ 1 (0,296-1,462 %/ngày), mật độ 2 (0,481-1,033 %/ngày) và mật độ 3 (0,171-0,984 %/ngày) Như vậy, các mật độ ương khác nhau có tác động khác nhau đến tốc độ tăng trưởng đặc trưng của ốc
Bảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài của ốc ở các mật độ
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E) Các chữ mũ
khác nhau trên giá trị cùng hàng thì khác nhau với P <0,05.
Hình 3.6 thể hiện rõ hơn về sự sai khác về tốc độ tăng trưởng đặc trưng của
ốc ở các mật độ thí nghiệm
Trang 37Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài ở các mật độ thí nghiệm
Qua hình 3.6 ta thấy, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tương đối ở các mật độ nhìn chung không đồng đều qua các giai đoạn ương nuôi Trong quá trình thí nghiệm ở lần đo thứ 2 và 3 có tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài cao hơn
so với các lần đo khác Trong các lần đo này mật độ đạt SGR cao nhất trong cả quá trình thực hiện thí nghiệm, cụ thể mật độ 1 (1,462 %/ngày), mật độ 2 (1,033
%/ngày) và mật độ 3 (0,984 %/ngày) Các lần đo thứ 4 và 5 tốc độ tăng trưởng tương đối thấp nhất trong suốt quá trình thí nghiệm mật độ 1(0,269 %/ngày), mật
độ 2 (0,481 %/ngày) và mật độ 3 (0,171 %/ngày) Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tương đối về chiều dài ở các mật độ qua phân tích ANOVA có sự sai khác không
có ý nghĩa thống kê (P >0,05)
3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ sinh trưởng chiều rộng của
ốc nhồi ở giai đoạn ương nuôi ốc giống
Bảng 3.8 Tăng trưởng chiều rộng của ốc nhồi ở các mật độ thí nghiệm
1 13,175 ± 2,293 a 14,052 ±2,068 a 13,211 ± 2,473 a
2 15,111 ± 1,730 a 14,451 ± 2,461 a 14,406 ±1,954 a
3 17,824 ± 2,147 a 16,849 ± 1,664 b 16,468 ±2,170 c
Trang 384 19,184 ± 2,042 a 19,146 ± 2,412 a 18,781± 2,315 a
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E) Các chữ mũ
khác nhau trên giá trị cùng hàng thì khác nhau với P <0,05.
Qua Bảng 3.8 chúng ta thấy, chiều rộng ban đầu của ốc nhồi tương đối đều ở các mật độ, cụ thể mật độ 1 (13,175 mm/con), mật độ 2 (14,052 mm/con) và mật độ 3 (13,211 mm/con) Sau khi kết thúc thí nghiệm thì chiều rộng ở mật độ 1 lớn nhất đạt 21,078 mm/con sau đó là mật độ 2 là 20,205 mm/con và nhỏ nhất là mật độ 3 là 18,565 mm/con.Qua đây chúng ta thấy khi ương nuôi ốc ở mật độ thấp thì có sự tăng trưởng cao hơn về chiều rộng
Qua Bảng 3.8 và quá trình thực hiện thí nghiệm chúng tôi thấy, ở mật độ
1 luôn đạt giá trị cao nhất về chiều rộng ở các lần đo ( lần 1 là 13,175 mm/con, lần
2 là 15,111 mm/con, lần 3 là 17,824 mm/con, lần 4 là 19,184 mm/con và lần 5 là 21,079 mm/con) Khi phân tích thống kê về chiều rộng của ốc trong quá trình ương nuôi ta thấy ở lần đo 1, 2, 4 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P
>0,05) còn ở các lần đo còn lại giữa các mật độ có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05) theo phân tích ANOVA
Hình 3.7 Tăng trưởng chiều rộng của ốc Nhồi ở các giai thí nghiệm
Trang 39Qua Hình 3.7 ta thấy mật độ 1 luôn có tốc độ tăng trưởng về chiều rộng là lớn nhất sau đó đến mật độ 2 và nhỏ nhất là mật độ 3 Như vậy, mật độ nuôi ảnh hưởng đến sinh trưởng về chiều rộng của ốc Nhồi.
* Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về chiều rộng của ốc nhồi
Qua Bảng 3.9 và Hình 3.8 ta thấy, các giai có mật độ khác nhau thì tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối về chiều rộng khác nhau rõ rệt Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối bình quân ngày qua phân tích ANOVA ở lần đo thứ 2 và thứ 5 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05) ở các lần đo khác mật độ 1 so với mật độ 3
đã có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05), mật độ 1 so với 2 và 2 so với 3 có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P >0,05) Ở các lần đo thứ 3 và 4 thì tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối là cao nhất trong quá trình thực hiện thí nghiệm như mật độ
1 (0,271 mm/ngày), mật độ 2 (0,24 mm/ngày) và mật độ 3 (0,231 mm/ngày), trong quá trình thí nghiệm tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều rộng thấp nhất là mật độ 1 (0,136 mm/ngày) ở lần đo thứ 4, mật độ 2 (0,04 mm/ngày) ở lần đo thứ 2 và mật độ 3 (0,074 mm/ngày) ở lần đo thứ 5
Bảng 3.9 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối bình quân ngày chiều rộng của ốc ở các
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E Các chữ
mũ khác nhau trên giá trị cùng hàng là khác nhau với P <0,05.
Trang 40Hình 3.8.Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối về chiều rộng ở các mật độ
nuôi khác nhau
Như vậy, theo kết quả nghiên cứu thì mật độ càng cao thì tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều rộng càng giảm và mật độ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tuyệt đối về chiều rộng của ốc
* Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều rộng của ốc ở các mật độ thí
nghiệm khác nhau
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối tương đối về chiều rộng của ốc ở các mật độ thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 3.10 và Hình 3.9
Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều rộng của ốc
Ghi chú: Số liệu trình bày là giá trị trung bình ± sai số chuẩn (S.E) Các chữ mũ
khác nhau trên giá trị cùng hàng khác là khác nhau với P <0,05.