1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ vụ bản (nam định) với công cuộc đổi mới quê hương từ 1986 đến 2010 luận văn tốt nghiệp đại học

91 554 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng bộ Vụ Bản (Nam Định) với công cuộc đổi mới quê hương từ 1986 đến 2010
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Người hướng dẫn PTS. Trần Văn Thức
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử đảng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 17,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với cả nước bước vào thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ VụBản đã nhanh chóng tiếp nhận và vận dụng sáng tạo những chủ trương quanđiểm và chính sách của Đảng và Nhà nước vào hoàn c

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

-*** -nguyễn thị hơng

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Đảng bộ Vụ Bản (Nam Định) với công cuộc

đổi mới quê hơng từ 1986 đến 2010

Chuyên ngành: lịch sử đảng

Vinh – 2011 2011

Trang 2

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của ban tuyên giáo huyện

ủy Vụ Bản, các cán bộ đã và đang công tác tại cơ quan huyện ủy, HĐND, UBND huyện, phòng lưu trữ huyện Vụ Bản đã giúp đỡ tôi rất nhiều về công tác tư liệu.

Đây là một công trình nghiên cứu đầu tay, điều kiện tư liệu và khả năng của tôi còn hạn chế, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của quý thầy cô

và các bạn đọc để công trình của tôi được hoàn chỉnh hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 05 năm 2011

Tác giả: Nguyễn Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

A Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .3

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .4

5 Đóng góp của khóa luận .5

6 Bố cục của khóa luận .5

B Nội dung 6

Chương 1: Khái quát về huyện Vụ Bản trước thời kỳ đổi mới (trước 1986) 6

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, lịch sử, con người và truyền thống .6

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 6

1.1.2 Lịch sử tên gọi và sự phân chia địa giới .7

1.1.3 Con người và truyền thống 8

1.2 Vài nét về tình hình kinh tế- xã hội Vụ Bản trước đổi mới (trước 1986) 13

1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử và những kết quả bước đầu trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Vụ Bản .13

1.2.2 Sự cần thiết phải tiến hành đổi mới .21

Chương 2: Đảng bộ Vụ Bản lãnh đạo nhân dân bước đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986- 1995) .24

2.1 Đảng bộ Vụ Bản bước đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986- 1990) 24

2.1.1.Quan điểm đổi mới của Đảng và chủ trương, đường lối của Đảng bộ Vụ Bản 24

2.1.2 Những kết quả bước đầu .27

2.1.2.1 Kinh tế .27

2.1.2.2.Văn hóa- giáo dục- y tế .30

2.1.2.3 Chính trị- an ninh- quốc phòng .31

Trang 5

2.1.3 Những khó khăn trong buổi đầu đổi mới 32

2.2 Đảng bộ Vụ Bản tiếp tục trên đường đổi mới (1991 - 1995) 35

2.2.1 Tình hình nhiệm vụ .35

2.2.2 Những thành tựu đạt được .36

2.2.2.1 Kinh tế .36

2.2.2.2 Văn hóa - giáo dục - y tế .40

2.2.2.3 Chính trị - an ninh - quốc phòng .42

2.2.3 Hạn chế .42

Chương 3: Đảng bộ Vụ Bản lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996- 2010) 45

3.1 Đảng bộ Vụ Bản đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996 - 2000) .45

3.1.1.Điều kiện lịch sử và chủ trương của Đảng bộ Vụ Bản trong giai đoạn mới .45

3.1.2 Những thành tựu đạt được .48

3.1.2.1 Kinh tế .48

3.1.2.2 Văn hóa - giáo dục - y tế .51

3.1.2.3 Chính trị - an ninh - quốc phòng .53

3.1.3 Một số tồn tại .54

3.2 Đảng bộ Vụ Bản tiếp tục đẩy mạnh đổi mới trong những năm của thế kỷ XXI (2001- 2010) 57

3.2.1 Đặc điểm tình hình .57

3.2.2 Thành tựu trong những năm của thế kỷ XXI .60

3.2.2.1 Kinh tế .60

3.2.2.2 Văn hóa - giáo dục - y tế 63

3.2.2.3 Chính trị - an ninh - quốc phòng 65

3.2.3 Hạn chế 67

3.3 Nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và một số giải pháp .69

C Kết luận .72

D Tài liệu tham khảo 76

E Phụ lục

Trang 6

Trong giai đoạn mới 1976- 1985, cả nước thực hiện những nhiệm vụcủa thời kỳ quá độ lên CNXH trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độclập và thống nhất sau 30 năm chiến tranh Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong

10 năm đó cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn trở ngại, thu đượcnhững thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưngcách mạng cũng gặp không ít khó khăn, yếu kém, cả nước lâm vào cuộckhủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực như: sản xuất đình trệ, lạm phát phi mã,thất nghiệp tăng, đời sống nhân dân khó khăn, nhiều tệ nạn xã hội nảy sinh

Để phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những khó khăn hạnchế đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và đẩy mạnh cách mạng XHCN tiếnlên Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã nghiêm khắc kiểmđiểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được, đề ra đường lốiđổi mới toàn diện và sâu sắc để đi tới XHCN một cách vững chắc Đổi mới làvấn đề sống còn của đất nước ta và phù hợp với xu thế thời đại

Cùng với cả nước bước vào thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ VụBản đã nhanh chóng tiếp nhận và vận dụng sáng tạo những chủ trương quanđiểm và chính sách của Đảng và Nhà nước vào hoàn cảnh cụ thể của địaphương, khai thác có hiệu quả tiềm năng nội lực, cùng với sự nỗ lực vươn lêncủa nhân dân Vụ Bản Nhờ đó trong hơn 20 năm đổi mới (1986- 2010), VụBản đã đạt được những thành tựu chủ yếu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đưa Vụ Bản từng bước thoát

Trang 7

khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế- xã hội, đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân cũng được nâng lên Song bên cạnh đó Vụ Bản còn nhiều mặtyếu kém, khuyết điểm, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Vụ Bản phải có biệnpháp khắc phục.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nói trên, việc làm rõ những thành tựu cũngnhư những hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các giảipháp nhằm thực hiện tốt công cuộc đổi mới ở Vụ Bản hiện nay là một việclàm có ý nghĩa thiết thực Bản thân lại sinh ra và lớn lên trên mảnh đất VụBản anh hùng, giàu truyền thống cách mạng, tôi nhận thấy mình cần phải cótrách nhiệm đóp góp một phần sức lực nhỏ bé của mình tìm hiểu lịch sử địaphương, nhất là trong những năm đổi mới Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn đề tài

“Đảng bộ Vụ Bản (Nam Định) với công cuộc đổi mới quê hương từ 1986 đến 2010” làm khóa luận tốt nghiệpđại học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Trong những năm gần đây, nghiên cứu về vấn đề đổi mới của đất nước

dưới sự lãnh đạo của Đảng nói chung và vấn đề “Đảng bộ Vụ Bản (Nam Định) với công cuộc đổi mới quê hương từ 1986 đến 2010” nói riêng đang

là một đề tài mới mẻ, mang tính thời sự và hàm chứa trong đó cả tính lý luận

và thực tiễn Hiện nay có nhiều tài liệu nghiên cứu đường lối đổi mới củaĐảng hoặc đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề như:

Các văn kiện của Đảng tại các Đại hội đại biểu toàn quốc ( Đại hội VI,VII, VIII, XIX, X) đã tổng kết những thành tựu và vạch ra những tồn tại, hạnchế của việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết của các Đại hội

đó đề ra

Trên các “Tạp chí cộng sản” đã đăng tải một số bài viết, một số vấn đề

có liên quan đến sự nghiệp đổi mới của đất nước

Cuốn “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước” của PGS- TS Nguyễn Trọng Phúc biên soạn, NXB chính trị

Quốc gia năm 1999 đã nêu lên quá trình hoạch định và thực hiện đường lối

Trang 8

đổi mới của đất nước, những thành tựu và bài học chủ yếu của quá trình đổimới- ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộcđổi mới

Ở phạm vi địa phương, đây là một vấn đề mới mẻ chưa thu hút sự quantâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Một số tài liệu đề cập đến quá trìnhđổi mới ở Vụ Bản như:

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Vụ Bản 1930- 2000” do BCH Đảng bộ

huyện Vụ Bản biên soạn xuất bản năm 2000 đã giới thiệu về lịch sử tự nhiên,con người và truyền thống, quá trình hoạt động và phát triển của Đảng bộ VụBản từ khi thành lập đến năm 2000

Một số báo cáo của BCH Đảng bộ Vụ Bản từ khóa XIV đến khóa XIX,báo cáo hàng năm của huyện ủy và UBND huyện Vụ Bản (từ 1986 đến năm2010), hiện đang lưu trữ tại huyện, đã đánh giá sơ lược những thành tựu cũngnhư những hạn chế của Vụ Bản trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới

Những tài liệu nói trên đã nêu lên những thành tựu cùng hạn chế của sựnghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Vụ Bản Tuy nhiên tất cảchưa thành một văn bản tổng kết đầy đủ Vì lẽ đó, đề tài của tôi sẽ là sự nhìnnhận, đánh giá một cách toàn diện, khách quan với những luận cứ khoa học

và thực tiễn xác đáng giúp Đảng bộ Vụ Bản có những định hướng mới chocông cuộc đổi mới ở huyện nhà trong các năm tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.

Nghiên cứu đề tài “Đảng bộ Vụ Bản (Nam Định) với công cuộc đổi mới quê hương từ 1986 đến 2010” là một đề tài về lịch sử địa phương,

nghiên cứu về quá trình đổi mới ở Vụ Bản dưới sự lãnh đạo của Đảng bộhuyện từ 1986 đến 2010 Đề tài tập trung tổng kết, đánh giá những thành tựu

mà Đảng bộ và nhân dân trong huyện đạt được cũng như những hạn chế, từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Đảng bộ và nhân dân Vụ Bản

Với mục đích như vậy, trước hết tôi đã đề cập đến đặc điểm điều kiện

tự nhiên, lịch sử, con người, truyền thống Vụ Bản, những nhân tố ảnh hưởng

Trang 9

đến công cuộc đổi mới Trọng tâm nghiên cứu của khóa luận là những thànhtựu đạt được và những hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện

Vụ Bản Từ đó khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối đổi mới doĐảng ta khởi xướng và lãnh đạo Đảng bộ Vụ Bản thực hiện đường lối đổimới đó với những biện pháp cụ thể, sáng tạo, phù hợp với thực tế của địaphương tạo nên sự thay đổi tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinhtế- xã hội ở huyện nhà

Trên cơ sở đó, đề tài nêu lên một số giải pháp cụ thể, thiết thực nhất,đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm với mong muốn sẽ góp phần nhỏ

bé của mình vào lịch sử địa phương

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài“ Đảng bộ Vụ Bản (Nam Định) với công cuộc đổi mới quê hương từ 1986 đến 2010” tôi đã khai thác các nguồn tài liệu sau:

Nguồn tài liệu thành văn: các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc củaĐảng, từ Đại hội VI đến Đại hội X, các giáo trình lịch sử Việt Nam hiện đại.Trong đó tôi đặc biệt tập trung khai thác các báo cáo của huyện Ủy, UBNDhuyện Vụ Bản về tình hình, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội qua các nhiệm

kỳ từ 1986 đến 2010 hiện đang lưu trữ tại huyện ủy, UBND Vụ Bản, bantuyên giáo huyện Vụ Bản

Tài liệu điền giã: nghiên cứu tại địa phương, tài liệu phỏng vấn cácđồng chí lãnh đạo của Đảng bộ địa phương về các chủ trương, biện pháp pháttriển kinh tế- xã hội của huyện

Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp lịch sử và logic.Ngoài ra còn sử dụng phương pháp khác như: thống kê, đối chiếu, so sánh.Đứng trên lập trường của giai cấp vô sản lấy chủ nghĩa Mac- Lenin, tư tưởng

Hồ Chí Minh làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu của mình

Trang 10

5 Đóng góp của khóa luận

Bản thân tôi là một sinh viên chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam thì việc nghiên cứu đề tài mang ý nghĩa phục vụ tốt cho quá trình họctập nghiên cứu và công tác của tôi sau này

Hơn nữa khóa luận đã trình bày một cách khách quan, toàn diện nhữngthành tựu cũng như những hạn chế của quá trình đổi mới huyện Vụ Bản dưới

sự lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1986 đến 2010 trên các lĩnh vực: kinh tế, chínhtrị, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng Đề tài cũng đóng góp về mặt

tư liệu để người đọc dễ hình dung

6 Bố cục của khóa luận

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về huyện Vụ Bản trước thời kỳ đổi mới (trước 1986) Chương 2: Đảng bộ Vụ Bản lãnh đạo nhân dân bước đầu thực hiện công cuộc đổi mới ( 1986 – 1995).

Chương 3: Đảng bộ Vụ Bản lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh công cuộc đổi mới ( 1996- 2010).

Trang 11

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VỤ BẢN TRƯỚC THỜI KỲ

ĐỔI MỚI (TRƯỚC 1986)

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, lịch sử, con người và truyền thống

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Vụ Bản nằm ở phía tây tỉnh Nam Định, vùng phía nam đồngbằng châu thổ sông Hồng, nằm kẹp giữa sông Đào và sông Sắt chạy dài theohướng bắc nam Phía Bắc giáp huyện Mỹ Lộc và thành phố Nam Định, phíađông giáp huyện Nam Trực ngăn cách bởi sông Đào, phía nam tiếp giáphuyện Ý Yên, phía tây bắc giáp huyện Bình Lục và tây nam giáp huyện ÝYên đều ngăn cách bởi dòng sông Ba Sát Điểm cực bắc của huyện là làngHướng Nghĩa (xã Minh Thuận) và điểm cực nam là làng Cồn Dâu (xã VĩnhHào) Điểm cực đông là làng Thi Liệu (xã Đại Thắng) và cực tây là trại Dầu(xã Tân Khánh) Nằm gọn trong đồng bằng sông Hồng nhưng địa hình VụBản không hoàn toàn bằng phẳng [1; 9]

Dọc phía tây huyện có dãy núi đất cao từ 45 đến 74 mét, chạy dài từbắc xuống nam có sáu ngọn núi liên tiếp: núi Ngăm, núi An Thái, núi Báng,núi Lê, núi Gôi và núi Hổ Núi non trải dài một dải giữa đồng bằng lộng gió làmột cảnh quan đặc sắc của huyện Vụ Bản, hiếm thấy ở đồng bằng sông Hồng[1; 10]

Dọc phía nam đường 12 và đường 10 là hai dải đất cao tạo thành nhữngđồng màu mỡ, là điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp Vụ Bản phát triểnphong phú, đa dạng [1; 10]

Điều kỳ thú hơn là Vụ Bản đã có núi lại có sông uốn khúc tạo nên cảnhsơn thủy hữu tình Sông Ba Sát (còn gọi là sông Sắt) nối liền sông Châu vớisông Đáy chảy vào Vụ Bản Sông Đào ở phía đông huyện nối liền sông Hồngvới sông Đáy…những con sông này đều là đường thủy quan trọng của huyện,tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp…

Trang 12

Vụ Bản là khu vực chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,nóng ẩm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,30C Số giờ nắng là 1670 giờtrong năm và lượng mưa trung bình năm từ 1757mm chia làm hai mùa rõ rệtmùa hè và mùa đông, nhiệt độ trung bình vào mùa hè 29,10C, mùa đông là19,10C Mùa hạ là hướng gió đông nam, mùa đông là là hướng gió bắc đôngbắc Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11đến tháng 4 năm sau

Nhìn chung Vụ Bản có vị trí địa lý quan trọng có các con đường giaothông vươn ra các huyện khác như đường 10, 12 và đường 56, lại nằm trongkhu vực trọng điểm của đồng bằng sông Hồng, gần trung tâm thành phố NamĐịnh thuận lợi trong giao lưu hàng hóa phát triển kinh tế Hơn nữa do địahình đồng bằng bằng phẳng nên Vụ Bản có khả năng phát triển ngành nôngnghiệp đa dạng Tuy nhiên khí hậu nóng ẩm thất thường là điều kiện cho sâubệnh phát sinh phá hoại mùa màng Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên đã

có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội của huyệnnhà

1.1.2.Lịch sử tên gọi và sự phân chia địa giới

Vụ Bản là vùng đất cổ được hình thành bởi phù sa bồi đắp trong quá trìnhbiển lùi (cách đây khoảng 7 nghìn năm) Trong quá trình dựng nghiệp của chaông và qua những biến thiên của đất nước, Vụ Bản có quá trình hình thànhqua nhiều tên gọi khác nhau:

Thời Hùng Vương có tên là Bình Chương thuộc bộ Lục Hải Thời Hánthuộc quận Giao Chỉ Trước thời Lý- Trần đất này nằm trong huyện HiểnKhánh

Thời Lý- Trần là huyện Thiên Bản thuộc phủ Ứng Phong, phủ KiếnHưng

Năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), bọn đô hộ đổi tên là huyện Yên Bản thuộcphủ Kiến Bình Năm Vĩnh Lạc thứ 13, đổi huyện Độc Lập thành huyện Bình

Trang 13

Lập cho sáp nhập vào huyện Yên Bản Khởi nghĩa Lam Sơn, vua Lê ThánhTông lại đổi thành huyện Thiên Bản.

Năm Tự Đức thứ 14 (1861) đổi tên thành huyện Vụ Bản, thuộc phủNghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Năm 1926, huyện Vụ Bản thuộc tỉnh Nam Định [28; 1]

Vụ Bản trước có 66 xã thôn, đến đầu nhà Nguyễn có 10 tổng gồm 92

xã, thôn phường, trang trại Trong đó tổng Thiên Bản (Vụ Bản), sau đó đổitên thành tổng La Xá, đời Thành Thái cắt về huyện Mỹ Lộc Đồng thờichuyển một số xã phía bắc sông Đào thuộc huyện Nam Trực về huyện VụBản Kháng chiến chống Pháp (1946- 1954) Vụ Bản sáp nhập các xã nhỏthành 27 xã mới Năm 1953 Vụ Bản được cắt về tỉnh Hà Nam, tháng 4/1956

Vụ Bản lại trở về tỉnh Nam Định Ngày 19/8/1964, Chính phủ quyết địnhnhập làng Quảng Cư vào xã Thanh Côi, cắt làng Hữu Dụng của xã Thanh Côi

về xã Yên Mỹ (Ý Yên), đồng thời đưa các làng Cầu Nhân, Đại Lão thuộc VụBản nhập vào xã Mỹ Thuận (huyện Mỹ Lộc) Từ 1964 trở đi, Vụ Bản mới ổnđịnh địa giới như ngày nay Từ 1967 đến 1975, Chính phủ có quyết định hợpnhất một số xã thành 17 xã mới [1;8]

Qua nhiều lần điều chỉnh địa giới ngày 01/04/1986 hội đồng bộ trưởng

ra quyết định thành lập thị trấn Gôi, từ đó hình thành 18 đơn vị hành chính(17 xã và 1 thị trấn) Hiện nay dân số toàn huyện là 129647 người trên địa bàn

147 km2 [1; 9]

1.1.3 Con người và truyền thống.

Tính đến năm 2009, dân số Vụ Bản có 37879 hộ, số người ở tuổi laođộng là 69790 người, số người mất khả năng lao động là 3854 người Đây làmảnh đất văn vật của miền Sơn Nam, con người Vụ Bản có truyền thống đoànkết lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, mưu trí dũng cảm trong đấu tranhchống thiên tai, chống giặc ngoại xâm, có tình yêu quê hương làng xóm, đồngloại, thủy chung, lại có truyền thống hiếu học nên thời nào cũng có người đỗđạt cao và có đóng góp cho đất nước, dân tộc, tiêu biểu là thời Trần làng Cao

Trang 14

Phương (Liên Bảo) có 2 người xuất thân từ khoa cử, ông Đinh Văn Lan giữ “hành khiển” (Thượng Thư), ông Đỗ Văn Biểu giữ chức “Đô Ngự Sử Đài”.Làng An Cự (Đại An) có gia đình ông Vũ Vĩnh Trinh, hai cha con đều đậutiến sĩ Lương Thế Vinh đậu trạng nguyên khoa Quý Mùi 1463 và cháu ngoạiDương Xân đậu tiến sĩ (năm 1535)…[1; 23].

Về văn hóa, đời sống tinh thần thì Vụ Bản là mảnh đất còn bảo tồnđược nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc lâu đời Văn học nghệ thuật pháttriển, đa dạng, phong phú, tín ngưỡng cổ xưa còn bảo lưu trong dân gian.Nhiều làng còn lưu tồn những tín ngưỡng nguyên sơ, đậm nét là tục thờ cácthế lực siêu nhiên…, phần lớn các làng thờ những người có công với nước,giúp dân mở mang hương ấp, dắt dẫn dân sản xuất [1; 17]

Đạo Phật xâm nhập khá sớm, thời Lý- Trần đã có nhiều chùa ở Vụ Bảnnhư chùa Long Xuyên ở Bối Xuyên, chùa Nam Lai ở làng Bái…Nhiều chùa

có lịch sử tồn tại bốn trăm năm như chùa Gia Lâm (Trung Thành), chùa LinhSơn (Kim Thái)…[1; 17] Đạo Lão cũng thâm nhập nhưng không sâu sắc, ítnhiều pha trộn tín ngưỡng nguyên thủy bản địa

Đạo Thiên Chúa và đất Nam Định sớm nhất cả nước vào đầu thế kỷXVIII đã xâm nhập vào đất Vụ Bản qua nhiều đường, từ phía nam lên lập xứ

Kẻ Báng (Kim Thái), Kẻ Đại (Vĩnh Hào), Kẻ Thứa (Phú Thứ)… và từ ThanhLiêm, Bình Lục sang lập xứ Đào Duyên (Minh Thuận) [1; 18]

Đạo Nho cũng một thời đã ăn sâu vào tiềm thức nhiều thế hệ ở huyện

có Văn Miếu thờ Khổng Tử đặt ở làng Thái La

Lễ hội các làng thường được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu Các tròđấu vật, đấu võ, chơi cờ…hầu như làng nào cũng có Ngoài ra ở mỗi làng còn

có những trò chơi riêng mang đậm bản sắc dân gian [1;19]

Vụ Bản còn là một vùng quê giàu ca dao, tục ngữ, dân ca, nhiều truyềnthuyết dân gian, truyền thuyết lịch sử, câu tục ngữ “Bánh Gôi, xôi Báng, rượuhầu” tương truyền có từ thời vua Hùng dựng nước Hát chèo là hình thức vănnghệ chủ yếu, làn điệu chầu văn kết hợp với múa (dân ca- dân vũ) được sử

Trang 15

dụng nhiều trong các hoạt động tín ngưỡng [1;19] Nhiều truyện cổ dân gian

về núi sông, về con người, tình yêu đôi lứa…tiêu biểu là “Thiên Bản lục kỳ”

là biểu tượng văn hóa dân gian của miền Sơn Nam Thiên Bản lục kỳ vẫn cònlưu truyền trong dân gian dưới hình thức truyện cổ

Về kiến trúc điêu khắc còn bảo tồn nhiều công trình thời Lê- Nguyễn,tiêu biểu là quần thể kiến trúc Phủ Giầy

Nhìn chung sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Vụ Bản rất phongphú, đa dạng, nó đã ghi dấu ấn sâu đậm và góp phần làm phong phú nền vănhóa của dân tộc Việt Nam ta nói chung

Ngược về lịch sử, dưới thời thực dân, phong kiến đời sống nhân dân VụBản hết sức cực khổ, ruộng đất nhiều nhưng hầu hết người dân thiếu ruộnghoặc không có ruộng Ruộng đất bị bọn thực dân Pháp chiếm lập đồn điền…Nông dân phải làm tá điền, nhận ruộng phát canh của địa chủ, lĩnh trâu bò củađịa chủ, cày cấy nộp tô thuế Do vậy đời sống nhân dân cực khổ, quanh nămthiếu đói

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tháng 8/1930 tổ chứcnông hội đỏ được thành lập ở Hướng Nghĩa (Minh Thuận) Đến tháng 2 năm

1947 tỉnh ủy lâm thời tỉnh Nam Định quyết định thành lập Đảng bộ huyện.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của mặt trận Việt Minh phong trào đấu tranhchống thực dân Pháp của nhân dân cả nước nói chung và của huyện Vụ Bảnnói riêng đã chuyển sang giai đoạn mới, nổi bật là phong trào đấu tranh củanông dân đòi chia lại công điền, công thổ Nông dân khắp nơi trong huyệnđấu tranh chống phụ phu, lạm bổ, thuế đinh, thuế điền, đòi giảm tô

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương, nhậnthấy thời cơ giành chính quyền đã tới, TW Đảng ra chỉ thị “Nhật- Pháp bắnnhau và hành động của chúng ta” Từ tháng 6/1945 phong trào cách mạng của

Vụ Bản hòa chung không khí cả nước ngày càng phát triển mạnh mẽ Tháng8/1945, trong không khí đấu tranh sôi nổi của cả nước, nhiều cơ sở Việt Minh

ở Vụ Bản đẩy mạnh hoạt động tổ chức với các cuộc tuyên truyền vũ trang, rải

Trang 16

truyền đơn, treo cờ… Chỉ trong một tuần lễ (20/8 đến 26/8/1945) chính quyềntay sai của đế quốc phong kiến từ huyện đến các xã thôn của Vụ Bản đã bị lật

đổ, mặt trận Việt Minh lãnh đạo nhân dân thành lập được UB cách mạng lâmthời huyện và xã thôn [1;70] Người dân Vụ Bản được giải phóng khỏi ách ápbức bóc lột của thực dân phong kiến, nhân dân lao động từ đây làm chủ cuộcđời để xây dựng cuộc sống mới, xã hội mới

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

ra đời, đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong tiến trình lịch sử dân tộc, từ naynhân dân ta bước vào một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập, tự do Nhândân Vụ Bản cùng cả nước bắt tay vào xây dựng và bảo vệ chính quyền

Tuy nhiên nền độc lập tự do và chính quyền Dân chủ cộng hòa non trẻlại đứng trước muôn vàn khó khăn: giặc đói, giặc dốt, và giặc ngoài, thù trongcùng lúc tiến công ta Nhân dân huyện Vụ Bản cùng nhân dân cả nước bước

và giai đoạn lịch sử mới với nhiều thuận lợi nhưng cũng đầy khó khăn thửthách

Theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Vụ Bản phát huytinh thần cộng đồng tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, chỉ trong mộtthời gian ngắn từ 14 đến 21 tháng 9 năm 1946 đã đóng góp được 14 lạng vàng

và một lượng đồng khá lớn trong “tuần lễ vàng” [1;84]

Cùng với phong trào tăng gia sản xuất, thực hiện đời sống mới, đồngbào huyện Vụ Bản hăng hái tham gia xóa nạn mù chữ Thực hiện lời kêu gọicủa chủ tịch Hồ Chí Minh: những người biết chữ dạy cho người chưa biết, vợchưa biết thì chồng bảo, anh chưa biết thì em bảo….Người dân Vụ Bản nônức đến lớp bình dân học vụ, khắp nơi trong huyện dấy lên phong trào thi đuahọc chữ, các lớp bình dân học vụ được mở rộng khắp từ huyện lỵ đến nôngthôn Nhân dân Vụ Bản vốn có lòng hiếu học như được đón một luồng sinhkhí mới, nhà nào cũng có người đi học, cha cùng học với con, ông cùng họcvới cháu Kết thúc chiến dịch xóa nạn mù chữ đã có 27653 người đã biết đọc,biết viết, 80% dân số huyện đã thoát nạn mù chữ Huyện Vụ Bản được công

Trang 17

nhận là một trong bốn huyện có phong trào bình dân học vụ khá nhất tỉnhNam Định [1;80].

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp trở lại gây chiến Nam Bộ, hưởng ứnglời kêu gọi của Bác nhân dân Vụ Bản hăng hái quyên góp tài sản ủng hộ đồngbào Nam Bộ, nhiều thanh niên Vụ Bản gia nhập đoàn quân “Nam tiến”

Thực hiện khẩu hiệu “Toàn quốc kháng chiến” cùng lời kêu gọi củachủ tịch Hồ Chí Minh “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước,không chịu làm nô lệ! ” Ở Vụ Bản theo lệnh của ủy ban kháng chiến tỉnh, làvùng giáp ranh thành phố Nam Định nên các cấp phải sớm chuẩn bị kế hoạchchiến đấu và phục vụ chiến đấu, tăng cường lực lượng bảo vệ, toàn dân được

vũ trang bằng mọi thứ vũ khí, mọi hoạt động phải được quân sự hóa theo tinhthần “mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài” quyếttâm đánh bại mọi âm mưu của thực dân Pháp xâm lược

Qua gần 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, quân dân Vụ Bản đãchiến đấu 6 019 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 4 961 tên địch, phá hủy 193 xe quân sựcác loại, bắn cháy 2 máy bay, phá sập 66 cầu cống, và thu 1 020 súng cácloại Diệt bức hàng bức rút 38 đồn bốt, giải tán toàn bộ hệ thống ngụy quyền

Dù trong hoàn cảnh khó khăn, chịu ảnh hưởng trực tiếp chiến tranh nhưnghàng năm có đến hàng trăm nam nữ thanh niên lên đường tòng quân giết giặc.Đóng góp cho Nhà nước 18 900 tấn thóc, hàng ngàn tấn thực phẩm, nhu yếuphẩm…Thành tích kháng chiến của nhân dân Vụ Bản được Nhà nước tặngthưởng 925 Huân chương kháng chiến hạng Ba, 1 801 Huy chương khángchiến, 3 632 bằng khen, 11 gia đình được tặng kỷ niệm chương và bằng cócông với nước [1;183]

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng đất nước ta tạm thời chialàm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau, miền Bắc được hoàn toàngiải phóng bước vào xây dựng CNXH; miền Nam vẫn nằm dưới ách thống trịcủa đế quốc Mỹ và tay sai Cùng với nhân dân miền Bắc, quân dân Vụ Bảnbắt tay ngay vào công cuộc khôi phục kinh tế, ổn định tình hình xã hội, xóa

Trang 18

bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến, hàn gắn vết thương chiến tranhxây dựng quê hương.

Từ năm 1961 đến 1965 khi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất chưa kịp hoànthành thì đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, cả nước có chiến tranh.Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện cùng với sự giúp đỡ của TW và củatỉnh, nhân dân Vụ Bản từ cụ già cho đến em bé đều tham gia chống Mỹ vớitinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâmlược”

Quân dân Vụ Bản vừa trực tiếp đánh giặc, vừa sản xuất tại chỗ lại vừalàm tròn nghĩa vụ của hậu phương cho tiền tuyến miền Nam Kết thúc chiếntranh “ Nhà nước tặng 65 Huân chương Độc Lập hạng Nhì, hạng Ba cho cácgia đình có công lao và tặng thưởng 21 Huân chương kháng chiến cho tập thể,

10 150 Huân chương kháng chiến cho những người có thành tích chống Mỹcứu nước…Đặc biệt huyện đã được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lựclượng vũ trang nhân dân” [1;237]

Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta thắng lợi bằngcuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975 Đất nước thống nhất, độc lập,cách mạng nước ta bước sang giai đoạn phát triển mới, cả nước đi lên CNXH

Cũng như nhiều miền quê khác trong cả nước, Vụ Bản gặp nhiều khókhăn do hậu quả của chiến tranh để lại Nhưng với truyền thống dũng cảm,cần cù, chịu khó, có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong cuộc sống và với

sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng bộ đã tạo điều kiện thuận lợi chonhân dân Vụ Bản bước vào thời kỳ lịch sử mới

1.2 Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội Vụ Bản trước đổi mới (trước 1986)

1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử và những kết quả ban đầu trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Vụ Bản.

Đại thắng mùa Xuân 1975 đã kết thúc huy hoàng cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước của dân tộc ta kéo dài gần 1/4 thế kỷ, đất nước được độclập, thống nhất, giang sơn thu về một mối Thắng lợi đã mở ra kỷ nguyên mới

Trang 19

cho dân tộc Việt Nam- kỷ nguyên độc lập, tự do và tiến lên xây dựng CNXHtrong điều kiện hòa bình Bên cạnh niềm hân hoan chiến thắng đó, chúng tacũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách do hậu quả của chiếntranh để lại Nhiệm vụ được đặt ra trên phạm vi cả nước bấy giờ là động viênnhân dân bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, nhanh chóng khôi phụckinh tế- xã hội, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, bảo đảmtrật tự an ninh để trấn áp các thế lực phản động trong và ngoài nước.

Tháng 8/1975, hội nghị BCH TW Đảng lần thứ XXIV (khóa 3) quyếtđịnh “Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh,tiến vững chắc lên CNXH” Việc thống nhất về mặt Nhà nước có ý nghĩaquan trọng vì nó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển trên các lĩnh vực: kinh tế,văn hóa- xã hội, chính trị- an ninh- quốc phòng

Từ thực tiễn của đất nước, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV củaĐảng Cộng sản Việt Nam (12/1976) đã đề ra đường lối chung của cách mạngXHCN ở nước ta là “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủtập thể của nhân dân lao động tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cáchmạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học- kỹ thuật, cách mạng tư tưởng

và văn hóa Trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt Đẩy mạnhcông nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá độ lênCNXH; xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, xây dựng nền văn hóa mới,con người mới XHCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn,lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng,giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độclập, thống nhất và CNXH Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhândân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH”

Trong 5 năm (1975- 1980) cùng với nhân dân cả nước, nhân dân VụBản tiếp tục quá độ lên CNXH, trước mắt thực hiện nhiệm vụ khôi phục vàphát triển kinh tế- xã hội bước đầu đạt được những thành tựu cơ bản sau:

Trang 20

Về kinh tế: Đảng bộ và nhân dân Vụ Bản chú trọng phát triển sản xuấtnông nghiệp- nông thôn Đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Vụ Bảntrong thời kỳ mới Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI (10- 1976) và XII (4-1979) đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng bộ và nhân dân Vụ Bảntrong hai năm 1979- 1980 là “ Đẩy mạnh cuộc vận động tổ chức lại sản xuất,cải tiến công tác quản lý trong các HTX và trên địa bàn huyện, cố gắng đápứng những yêu cầu về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và phân công laođộng nhằm tạo ra bước phát triển mạnh mẽ toàn diện trong nông nghiệp Tăngcường sự lãnh đạo, phát huy hiệu lực của chính quyền, trí tuệ và năng lực củađoàn thể Xây dựng huyện nhanh chóng trở thành đơn vị kinh tế nông- côngnghiệp, là một cấp kế hoạch và ngân sách, là pháo đài vững mạnh trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [1; 243].

Từ phương hướng đó, trên mặt trận sản xuất nông nghiệp Đảng bộ chỉđạo tập trung củng cố các HTX sản xuất nông nghiệp về quy mô và công tácquản lý kinh tế và phân phối thu nhập theo tinh thần Nghị quyết 61/CP ngày23-3-1976 của Chính phủ về “cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến mộtbước công tác quản lý nông nghiệp cơ sở” Các xã mở đợt học tập điều lệ chitiết hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, phát động quần chúng xã viên nâng cao ýthức làm chủ tập thể, xây dựng và bổ sung nội quy, chế độ quản lý trongHTX Từ huyện đến các HTX tiến hành Đại hội nông dân tập thể, qua đóquyền làm chủ của xã viên được tôn trọng, ý thức làm chủ của cá nhân đượcnâng lên Việc tổ chức lại sản xuất được chỉ đạo thí điểm ở hai HTX CốcThành, Trung Thành theo hướng tăng cường kế hoạch hóa, chuyên môn hóatừng khâu và hoạch toán theo 43 tài khoản, từ đó nhân rộng ra toàn huyện

Quy mô HTX không ngừng được mở rộng, năm 1975 toàn huyện có 51HTX, bình quân 150 ha ruộng đất Từ năm 1979 đến năm 1980 tiếp tục sápnhập các HTX nhỏ lên quy mô lớn Năm 1980 toàn huyện còn 17 HTX, bìnhquân mỗi HTX có 600 ha canh tác [1; 244] Song song với việc kiện toàncủng cố các HTX, các bộ phận phòng ban giúp việc chỉ đạo ngành nông

Trang 21

nghiệp huyện được tăng cường như trại nuôi lợn giống, trại giống cá, trạm vật

tư nông nghiệp, máy kéo…

Để đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất quy mô lớn và nâng cao đời sốngnhân dân, huyện ủy đẩy mạnh khâu thủy lợi Hệ thống các công trình thủy lợinhư sông Tiên Hương, sông Chanh và kênh, mương máng nội đồng thườngxuyên tu sửa, nạo vét và cải tạo, xây dựng hàng chục trạm bơm điện lớn nhỏvới tổng công suất 54000m3/h và hàng trăm máy bơm dầu, hàng chục đầumáy kéo, làm thêm một số đường điện cao thế, lắp đặt một số trạm biến thếloại 180 KVA phục vụ sản xuất Các trạm bơm như Cổ Đam, sông Chanh đãphát huy tốt khả năng tưới tiêu đáp ứng yêu cầu sản xuất Ngành thủy lợi đãđược Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Ba [1; 246]

Nhờ làm tốt công tác thủy lợi mà năng suất cây trồng tăng lên, đặc biệt

là cây lúa, diện tích gieo trồng hàng năm bình quân đạt 18 000 ha, trong đólúa là 13 000 đến 15 000 ha, năng suất lúa (1979- 1980) đạt 51,44 tạ/ha…Thành công lớn nhất của Đảng bộ trong lãnh đạo sản xuất nông nghiệp là đã

mở rộng diện tích trồng cây vụ đông, biến vụ đông xưa kia “cây khô lá vàng”trở thành một vụ sản xuất chính Diện tích vụ đông năm 1978 đạt 2 556 habằng 204% năm 1976, trong đó cây khoai tây là chủ lực Diện tích khoai tâynăm 1979 lên tới 800 ha, sản lượng màu tăng khá: khoai tây năm 1977 là 6

417 tấn, năm 1978 lên 9 905 tấn [1;247] Vụ đông đã góp phần tích cực giảiquyết khó khăn về lương thực cho người và thức ăn cho gia súc trên địa bànhuyện

Với phương hướng phát triển nông nghiệp là tập trung chuyên canh,thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích, Đảng bộ lãnh đạo nhân dân toàn huyệndồn sức vào sản xuất cây lúa, cây màu và con lợn, phấn đấu đảm bảo đượcmục tiêu lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng mà Nghị quyết Đảng bộ đề

ra Nhờ có tiến bộ khoa học kỹ thuật và thâm canh, hệ thống thủy lợi thủynông đảm bảo tốt nên hệ số sử dụng ruộng đất tăng từ 1,5 lần năm 1975 lên

Trang 22

1,7 lần năm 1976 và đến năm 1978 là 1,9 lần Diện tích gieo trồng bình quânhàng năm đạt 18 000 ha, trong đó lúa từ 13 000- 15 000 ha, còn lại là màu.

Cùng với thâm canh tăng năng suất trồng trọt, Đảng bộ chủ trương đẩynhanh tốc độ phát triển đàn gia súc Bình quân hàng năm toàn huyện có tổng

số đầu lợn từ 30 đến 32 ngàn con, đàn lợn tập thể có 3 420 con, đàn trâu năm

1980 có 3240 con, đàn bò 181 con, đạt 60% kế hoạch [1; 249]

Đảng bộ còn chú trọng chỉ đạo phát triển sản xuất công nghiệp- tiểu thủcông nghiệp, lấy trọng tâm là phục vụ sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng,

và hàng xuất khẩu Các ngành sản xuất cơ khí, vật liệu xây dựng đồ gỗ, mỹnghệ, thủy tinh cũng có nhiều cố gắng Nhiều HTX thủ công nghiệp đượccủng cố và thành lập mới như: dệt Thành Lợi, cơ khí Hợp Thành, thủy tinhQuang Tiến, may mặc Bảo Xuyên, vận tải Liên Thanh, Xuân Đào…

Cùng với đó mạng lưới thương nghiệp quốc doanh và tập thể được mởrộng Trên địa bàn huyện đã thành lập được 4 công ty lớn:

- Công ty thương nghiệp với 5 cửa hàng lớn kinh doanh bách hóa ởDần, Gôi, Lời, Gạo; kinh doanh vật liệu xây dựng và thực phẩm ở Ngăm-Minh Tân

- Công ty lương thực với 3 cửa hàng kinh doanh lương thực ở Dần, Gôi

Ngoài các công ty của Nhà nước còn có các HTX mua bán của huyện

và 17 xã cùng làm nhiệm vụ kinh doanh thương nghiệp

Ngành thương nghiệp và lương thực của huyện hoạt động rất tích cực,năm nào cũng hoàn thành kế hoạch thu mua giao nộp cho Nhà nước, phânphối đảm bảo nhu cầu tem phiếu và kinh doanh hoàn thành các chỉ tiêu tỉnhgiao

Trang 23

Hoạt động ngân hàng, tài chính của huyện có nhiều tiến bộ phục vụ sảnxuất, tăng cường công tác quản lý tài chính thu chi đúng hướng Các chỉ tiêu

về thu năm sau cao hơn năm trước Ngành ngân hàng huyện nhiều năm đạtthành tích xuất sắc về huy động tiền tiết kiệm trong nhân dân và huy động tạiđịa bàn, được Chính phủ tặng Huân chương lao động hạng Ba [1; 255]

Về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa- xã hội: Trong điều kiện kinh tếcòn khó khăn nhưng giáo dục vẫn phát triển ở cả 3 ngành học, đội ngũ thầy côgiáo được thường xuyên tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, hiểu biếtcác đường lối chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của các cấp ủy địaphương, trên cơ sở đó gắn với chương trình giảng dạy, tham gia nhiệm vụchính trị ở cơ sở Phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” trong các nhà trườngđược thực hiện nghiêm túc, việc tuyển chọn học sinh vào các cấp đều đảmbảo đúng nguyên tắc thi cử

Hàng năm ngành giáo dục mầm non tổ chức được bình quân 222 lớp, với

số lượng các cháu tới lớp đạt 4 952 cháu Giáo dục phổ thông phát triển khá,toàn huyện năm học 1980- 1981 tổng số học sinh cấp 1, cấp 2 có 2 183 em, đạt96% kế hoạch, cấp 3 có 2 020 em, đạt 110% kế hoạch Số học viên được huyđộng vào học bổ túc văn hóa có 1 100 người đạt 85% kế hoạch [1; 257]

Công tác y tế, phòng chống dịch bệnh, công tác sinh đẻ có kế hoạch đã

có nhiều tiến bộ so với trước

Phong trào văn nghệ được duy trì, phong trào thể dục thể thao pháttriển Các đoàn văn nghệ, các đội chiếu bóng hoạt động tích cực, mỗi nămphục vụ tới hàng chục vạn lượt người xem Hệ thống truyền thanh của huyệnđược xây dựng, ngày càng mở rộng tới các xã

Công tác chính trị- an ninh quốc phòng được tăng cường trên nhiềuphương diện Hàng năm hoàn thành việc đăng kí nghĩa vụ quân sự, đăng kíquân dự bị củng cố lực lượng, kiện toàn tổ chức Lực lượng dân quân dự bị và

dự bị động viên chiếm 14% dân số “lực lượng quân tự vệ gồm 11 345 ngườiđược sắp xếp biên chế đội ngũ thành 32 đại đội dân quân tự vệ, 4 tiểu đoàn du

Trang 24

kích, 17 đại đội cơ động xã Lực lượng thường trực chiến đấu gồm 635 ngườiđược trang bị vũ khí” [1; 260].

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đã có bước chuyển biến, đếnnăm 1980 xây dựng được 1 200 tổ an ninh nhân dân và hàng chục tổ bảo vệ

cơ quan xí nghiệp Công tác bảo vệ trị an, xây dựng quốc phòng của huyện đãgóp phần tích cực giữ vững cuộc sống bình yên, đẩy mạnh sản xuất trên địabàn huyện

Quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 2 của Đảng (1976- 1980),Đảng bộ và nhân dân Vụ Bản đã phấn đấu không ngừng, vượt qua những khókhăn thử thách để xây dựng CNXH trên quê hương mình Huyện nhà đã đạtđược những kết quả đáng ghi nhận về kinh tế- xã hội, đã tạo dựng được cơ sởvật chất kỹ thuật ở nông thôn, tổ chức lại sản xuất theo quy mô lớn XHCN,từng bước cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần cho nhân dân Tuy vậy, do sự tác động của hậu quả chiếntranh, lại tập trung phát triển quan hệ sản xuất lớn XHCN trong khi lực lượngsản xuất nhỏ bé, thấp kém, lạc hậu, chậm phát triển nên đã cản trở sức sảnxuất nông nghiệp của huyện nhà Những năm cuối thập kỷ 70, nền kinh tế cóchiều hướng đi xuống, nhiều chỉ tiêu kế hoạch không đạt Nguyên nhân củatình trạng trên ngoài những yếu tố từ thiên nhiên còn có nguyên nhân từ phía

cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp

Sang những năm 1981- 1985, do Đảng bộ Vụ Bản đã có một số kinhnghiệm thành công cũng như thất bại trong lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất Hơnnữa nhờ có Nghị quyết Đại hội V của Đảng dẫn đường chỉ lối, nhất là Chỉ thị

100 của ban Bí thư TW Đảng về “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm người

và người lao động”, kinh tế - xã hội Vụ Bản đã thực sự có bước chuyển biếnmới Tuy vật tư, tiền vốn, cơ sở vật chất còn khó khăn, lại là huyện đồngchiêm trũng Nhưng nhờ có những chủ trương đúng đắn trên, nhân dân tronghuyện đã đạt được những thành tích bước đầu, nhất là trên mặt trận nôngnghiệp

Trang 25

Nông nghiệp được xem là nhiệm vụ hàng đầu- một thế mạnh của huyện

Vụ Bản Nhờ đó, nền nông nghiệp Vụ Bản trong những năm 1981- 1985 đạtđược kết quả khả quan Năm 1981 diện tích cấy đạt 15 057 ha, tăng 24% so vớinăm 1980, diện tích rau màu trên 2 000 ha, năng suất và sản lượng lượng thực

đã tăng rõ rệt, riêng vụ chiêm xuân 1981, năng suất bình quân đạt 20,38 tạ/ha,

từ năm 1983 đến 1985 diện tích trồng trọt tăng 510 ha, diện tích cấy lúa tăng7% Năng suất bình quân các loại cây trồng chủ yếu đều tăng như cây lúa năm

1982 đạt 45,9 tạ/ha, năm 1984 đạt 50,12 tạ/ha Bình quân trong 3 năm

1983-1985 năng suất lúa tăng 16,2% so với bình quân từ 1980- 1982 [1; 275]

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng phát triển, chất lượng con vật nuôicũng nâng cao hơn Tổng đàn lợn toàn huyện năm 1981 có 29 000 con, trong

đó đàn lợn tập thể có 2 500 con, năm 1982 đàn lợn tăng lên 30 887 con, từnăm 1983- 1985 số lợn lai tăng 125%, trọng lượng xuất chuồng bình quânhàng năm là 65kg/con Đàn gia cầm năm 1985 có tổng số đàn 78 000 con.Đàn trâu có 2 976 con, đàn bò có 539 con (năm 1984) [1; 277]

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vẫn duy trì phát triểntrong 5 năm 1981-1985 Vận dụng các quyết định 25/CP và 26/CP (1981) củaChính phủ, huyện ủy chỉ đạo các xí nghiệp công nghiệp, HTX thủ côngnghiệp phát huy tinh thần làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm, sắp xếp lại sảnxuất Nhờ đó đến năm 1985 đã có 30 tổ hợp làm nghề mộc, xây dựng, sảnxuất gạch, thảm…Tổng giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp- tiểu thủcông nghiệp mỗi năm một tăng từ 7,99 triệu đồng (1981) lên 82,8 triệu đồng(1985) Tỷ trọng giá trị sản lượng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã chiếm30% so với tổng giá trị ngành công - nông nghiệp của huyện

Văn hóa- giáo dục- y tế: Trong 5 năm qua cơ sở vật chất của các trườnghọc được tăng cường, đã cơ bản ngói hóa xong lớp học cho học sinh và nhàlàm việc của giáo viên, phong trào “dạy tốt, học tốt” diễn ra sôi nổi Năm học1981-1982, các khối phổ thông cơ sở thi lên lớp đạt 95,4%, thi tốt nghiệp đạt85,9% Học sinh thi vào các trường đại học, trung học chuyên nghiệp đạt gần

Trang 26

5% [1; 288] Giáo dục phát triển đã góp phần nâng cao dân trí trong cộngđồng, cung cấp nhân tài, nhân lực cho địa phương và cho xã hội.

Ngành y tế “ trong 5 năm qua (1981- 1985) số y sỹ đã tăng lên 104người, số giường bệnh có 378 đảm bảo nhu cầu khám chữa bệnh bình thườngcho nhân dân trong huyện” Toàn huyện có 1 bệnh viện, 1 trạm bảo vệ bà mẹtrẻ em và 18 trạm xá ở 18 xã, thị trấn

Công tác văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao đạt được những tiến bộhơn trước Phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng phát triển, có 12 xã và 4

cơ quan có đội văn nghệ thường xuyên hoạt động, hội khỏe Phù Đổng tổ chứchàng năm và tham gia các kỳ hội của tỉnh đạt kết quả tốt

Công tác quân sự địa phương và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh

Tổ quốc được giữ vững và tăng cường Việc giao quân theo luật nghĩa vụquân sự hàng năm đều vượt chỉ tiêu, thực hiện chính sách hậu phương quânđội khá Nhờ đó góp phần đấu tranh chống tiêu cực, cải tạo tại chỗ nhiều đốitượng vi phạm pháp luật

Những kết quả đạt được trong 10 năm qua (1975- 1985) tuy còn khiêmtốn, song đã tạo ra được những tiền đề vật chất quan trọng để Đảng bộ vànhân dân huyện nhà bước vào thời kỳ mới một cách tự tin, vững chắc

1.2.2 Sự cần thiết phải tiến hành đổi mới.

Bên cạnh những thành tựu kinh tế- xã hội mà nhân dânVụ Bản đạtđược thì trong quá trình đó còn bộc lộ những khuyết điểm, hạn chế Điều đóđược minh chứng qua sự khủng hoảng toàn diện ở Vụ Bản về kinh tế - xã hội,chính trị - an ninh - quốc phòng

Nền kinh tế của huyện trong cả thời kỳ này còn nằm trong tình trạngchậm phát triển và trì trệ, tốc độ phát triển kinh tế chưa nhanh, chưa đồngđều, thiếu vững chắc Ngành nông nghiệp phát triển chưa toàn diện: trongtrồng trọt chậm ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nênnăng suất thấp, bình quân diện tích canh tác theo đầu người giảm từ 949

m2/người xuống còn 909 m2/người, năng suất bình quân mới đạt 46,21 tạ/ha;

Trang 27

trong chăn nuôi chậm mở rộng và đổi mới chính sách cơ sở, đã có lúc quánhấn mạnh lợi ích Nhà nước, tập thể nên chưa khuyến khích mạnh chăn nuôigia đình, vì vậy chăn nuôi giảm 5%, đặc biệt cày kéo giảm 13%.

Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nghèo nàn, quy mô nhỏ

bé, ít ỏi, sản phẩm làm ra mang tính chất hàng mẫu và hình thức Bên cạnh đóvật tư, vật liệu thất thường, giá gia công bị ép giá, nợ tiền công kéo dài trongđiều kiện trượt giá mạnh, đồng tiền mất giá làm cho cơ sở và người lao độngchịu nhiều thiệt thòi

Công tác xuất nhập khẩu chưa tạo ra tốc độ phát triển nhanh, sự chuyểnbiến về nhận thức và hành động đối với công tác xuất nhập khẩu ở các cơ sở

và các ngành chưa mạnh, một số cán bộ cốt cán và Đảng viên còn thờ ơ vớicông tác này Hàng hóa ngày càng khan hiếm, tệ cửa quyền, đặc quyền, đặclợi trong ngành thương nghiệp, vật tư, lương thực ngày càng phát triển Tệtham ô lợi dụng do chế độ 2 giá, 3 giá, trượt giá ngày càng phổ biến Tệ muahàng hóa đầu cơ tích trữ ngày càng phổ biến Đặc biệt sau nhiều lần đổi tiềnnăm 1985 gây ra hiện tượng lạm phát bùng nổ, đồng tiền mất giá, nhiều ngườidân lương thiện và số đông cán bộ công nhân viên bị thiệt hại lớn Cơ chếquản lý quan liêu, bao cấp, bao giá qua tín dụng, xuất khẩu và phân phối hàngtem phiếu làm cho chế độ hoạch toán không chính xác Ngân sách của huyệnkhông đáng kể, việc thu chi còn diễn ra căng thẳng thu vào ít mà chi ra thìnhiều, công tác phân phối, lưu thông sản phẩm còn nhiều rối ren bất cập vàphức tạp

Văn hóa- giáo dục- y tế vẫn chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao củanhân dân Số lao động chưa có việc làm còn nhiều, tỷ lệ tăng dân số khá cao

có chiều hướng gia tăng từ 1,4% (1982) đến năm 1985 là 1,9% Công tác tưtưởng văn hóa cho nhân dân còn buông lỏng, chưa chăm lo đến xây dựng nếpsống văn hóa mới, con người mới trong hoàn cảnh đất nước, địa phương thayđổi

Trang 28

Chính trị- quốc phòng- an ninh chưa thật sự vững chắc, đời sống nhândân chưa được ổn định Công tác quân sự địa phương vẫn còn khuyết nhượcđiểm, việc kiện toàn và tổ chức và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ởnhững nơi trọng điểm, nhất là nơi có đồng bào theo đạo Thiên chúa vẫn cònyếu, việc xây dựng và nhân điển hình quyết thắng chưa được chú trọng nênphát huy tác dụng chưa cao Ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu chưa chủđộng thường xuyên.

Với thực trạng kinh tế- xã hội Vụ Bản như trên, vấn đề đặt ra là nguyênnhân nào dẫn tới tình trạng đó? Đảng bộ Vụ Bản đã dám nhìn thẳng vào sựthật, đánh giá đúng sự thực để chỉ rõ nguyên nhân và rút ra bài học kinhnghiệm cho mình Đảng bộ khẳng định về khách quan cũng là nằm trong tìnhtrạng khó khăn chung của cả nước Nhưng bao trùm lên tất cả nguyên nhânchung đó chính là tư tưởng chủ quan bảo thủ, trì trệ, quan liêu của các cấpchính quyền Công tác đào tạo cán bộ và bồi dưỡng chưa theo kịp thời kỳmới, kỷ cương trong quản lý kinh tế, trong điều hành công việc chưa đi vào

nề nếp và nghiêm túc Trong chỉ đạo tổ chức thực hiện còn lúng túng bị động,

ý thức chấp hành Chỉ thị, Nghị quyết có nơi, có lúc chưa nghiêm Điều nàylàm cản trở quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở huyện nhà

Trước thực trạng trên đã đặt ra vấn đề phải đổi mới là một tất yếukhách quan để đưa nền kinh tế- xã hội huyện nhà ra khỏi khủng hoảng tiếp tụcphát triển vững bước Do đó đòi hỏi và yêu cầu Đảng bộ, các cấp, các ngànhcùng đông đảo nhân dân Vụ Bản đánh giá đúng những kết quả đạt được, nhìnthẳng vào những hạn chế để có bước đi phù hợp, có những giải pháp thíchhợp cho công cuộc xây dựng, phát triển và đổi mới quê hương, đất nước ở cácgiai đoạn sau

Trang 29

CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ VỤ BẢN LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 1995)

2.1 Đảng bộ Vụ Bản bước đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986- 1990)

2.1.1 Quan điểm đổi mới của Đảng và chủ trương, đường lối của Đảng bộ

Vụ Bản

Sau ngày giải phóng đất nước giành được độc lập, thống nhất dưới sựlãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã phấn khởi bắt tay vào công cuộckiến thiết và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN Qua 10 năm xâydựng và phát triển bên cạnh những thành tựu nhất định nhưng nhìn chungthực trạng đất nước lâm vào “khủng hoảng trầm trọng” Để khắc phục nhữngsai lầm khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và đẩy mạnh sựnghiệp cách mạng XHCN tiến lên đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải đổi mới.Đổi mới trở nên có ý nghĩa sống còn của nước ta, là vấn đề phù hợp với xuthế chung của thời đại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộngsản Việt Nam (12/1986) là mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển đất nướcsang thời kỳ đổi mới

Đường lối đổi mới đề ra một cách toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chínhtrị đến tư tưởng văn hóa Trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế, Đại hội VIxác định rõ nhiệm vụ bao trùm trong 5 năm 1986- 1990 là “ ổn định mọi mặt

về tình hình kinh tế- xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việcđẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo” [17; 41]

Để thực hiện được nhiệm vụ mục tiêu của chặng đường đầu tiên thìtrong 5 năm trước mắt (1986- 1990) cần tập trung sức người, sức của thựchiện bằng được nhiệm vụ mục tiêu của ba chương trình kinh tế về lương thực

- thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, trong đó phải coi trọng nôngnghiệp là mặt trận hàng đầu Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã mở ra hướng

Trang 30

mới để các Đảng bộ và địa phương trong cả nước khắc phục khó khăn nhằm

ổn định tình hình kinh tế- xã hội

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộhuyện lần thứ XIV (tháng 8/1986) đã kiểm điểm sâu sắc những mặt tồn tại và

đề ra những nhiệm vụ và giải pháp về kinh tế- xã hội trong những năm tới:

“Ra sức khắc phục khó khăn tăng cường đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng bộ

và nhân dân trong huyện, nêu cao tinh thần làm chủ tập thể XHCN, tính năngđộng sáng tạo tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng bộ và nhân dân tronghuyện Tập trung sức đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,trọng tâm là: lúa, lợn, lạc, gắn với sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu Tăngcường mở rộng mối quan hệ kinh tế giữa huyện với cơ sở, giữa các đơn vịkinh tế trong huyện với ngoài huyện nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, làmhết sức mình để góp phần lập lại trật tự trong lĩnh vực phân phối lưu thôngnhằm ổn định và cải thiện thêm đời sống nhân dân hoàn thành trách nhiệmđối với Nhà nước Tăng cường công tác quân sự địa phương, giữ vững anninh chính trị và trật tự xã hội Phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóathông tin, thể dục thể thao…”[4; 2]

Báo cáo Đại hội XIV của huyện đã đề ra 5 mục tiêu chủ yếu để phấnđấu trong thời gian tới:

1- Phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gắn với xuấtkhẩu Tăng cường tiềm lực kinh tế quốc doanh và tập thể bảo đảm từng cơ sở

và trên địa bàn huyện có tích lũy, có quỹ dự trữ tái tạo vật tư, khuyến khích vàtạo điều kiện cho kinh tế gia đình phát triển đúng hướng

2- Quản lý khai thác tốt những cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đồngthời xây dựng những cơ sở vật chất kỹ thuật trọng yếu phục vụ sản xuất nôngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp, tăng cường áp dụng những thành tựu khoa học

kỹ thuật tiến bộ đặc biệt là khâu nước, giống, sâu bệnh, phân bón và cải tạođất, cải tiến kỹ thuật trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Trang 31

3- Củng cố và tăng cường chất lượng quan hệ sản xuất trọng tâm làkhắc phục những khuyết điểm nảy sinh trong quá trình thực hiện Chỉ thị 100.Gắn huyện với cơ sở thông qua hoạt động dịch vụ, trước mắt hoàn chỉnh dịch

vụ cây trồng, định hình dịch vụ con nuôi và các dịch vụ khác

4- Trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh, ổn định và chăm lo cải thiệnđời sống các tầng lớp nhân dân trong huyện, giữ vững an ninh, kiên quyếtchống tiêu cực trong các lĩnh vực, từng bước xây dựng pháo đài quân sựhuyện

5- Những chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu thực hiện trong 3 năm 1988:

1986-* Sản lượng lương thực đến năm 1988 đạt 44 000 tấn

* Lương thực bình quân đầu người đạt 400 kg (1987- 1988), lương thựchàng hóa bình quân 9 500 tấn

* Giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từ 80- 85 triệuđồng Kim ngạch xuất khẩu tăng hàng năm 5%

* Tỷ lệ phát triển tăng dân số tự nhiên đến năm 1988 là 1,5%

* 100% số đơn vị cơ sở có đời sống văn hóa 60 - 65% số hộ nhân dântrong huyện đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa

Thực hiện phương hướng trên toàn huyện đã tập trung sức lực, trí tuệ

và lãnh đạo mặt trận sản xuất nông nghiệp tạo chuyển biến rõ rệt Trongchuyển dịch cơ cấu mùa vụ thì lúa xuân sớm chiếm 48,5%, mùa sớm và mùatrung tăng 26,5% Vì vậy năng suất lúa đã tăng dần: Diện tích cây màu vụđông và vụ chiêm xuân tăng 18,2% so với bình quân 3 năm trước, sản lượngtăng 823 tấn, tỷ trọng màu lên 10,8% [1; 305] Một số cây màu, cây côngnghiệp có năng suất cao như lạc, khoai tây Việt Đức II, khoai lang giống 59

Kết thúc nhiệm kỳ Đại hội khóa XIV, BCH huyện ủy nhận thấy tronghoàn cảnh khó khăn chung của cả nước trong 2 năm 1987, 1988, Vụ Bản cónhững khó khăn riêng Tình hình kinh tế- xã hội trong huyện còn khó khăn,đời sống vật chất còn thiếu đói, đời sống tinh thần của nhân dân thì dao động

Trang 32

niềm tin Nhưng với ý chí vượt khó, cần cù trong lao động nên Vụ Bản đã xóađược tình trạng đói giáp hạt, lương thực bình quân 486kg/khẩu (1988) Đây làthành tích nổi bật nhất của quân dân trong huyện chào mừng Đại hội đại biểuĐảng bộ lần thứ XV (12/1988) Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ củaĐảng bộ huyện Vụ Bản trong 2 năm tới (1989- 1990) là: “Tập trung phát triểnnông nghiệp theo hướng thâm canh, giải quyết vấn đề lương thực thực phẩm,hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, gắn kinh tế với xã hội, với an ninh- quốcphòng Khai thác tiềm năng lao động, bố trí cơ cấu cây trồng, mở mang cácngành nghề theo hướng phát triển nhanh mạnh, sản xuất hàng hóa tăng sảnphẩm xã hội và tăng nguồn lực qua trao đổi hàng hóa”[5;35].

Trong những năm đầu đổi mới 1986- 1990, Đảng bộ và nhân dân VụBản luôn bám sát nắm bắt những Chỉ thị, Nghị quyết của TW, của tỉnh NamĐịnh để kịp thời đưa ra những phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội của huyện cho phù hợp với tình hình của địa phương Đảng bộ Vụ Bảncùng nhân dân trong huyện kịp thời khắc phục khó khăn nhanh chóng thuđược những kết quả bước đầu, tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo

2.1.2 Những kết quả bước đầu.

2.1.2.1 Kinh tế.

Với chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cùng Chỉthị Nghị quyết của tỉnh ủy soi sáng, dẫn đường trong hoàn cảnh lịch sử mới,nhất là Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, BCH Đảng bộhuyện đã vận dụng sáng tạo vào thực tế của địa phương Nhờ vậy mà Vụ Bản

đã tạo ra được những chuyển biến trong quá trình phát triển kinh tế- xã hộicủa huyện nhà

Về nông nghiệp: trong toàn huyện thời gian này có 32 HTX, Đảng bộ

đã tập trung xác định nhiệm vụ quan trọng là thâm canh tăng năng suất lúa vàmàu, nhanh chóng xóa nạn đói giáp hạt hàng năm tiến tới bình quân lươngthực đầu người Muốn đạt được mục tiêu đó Đảng bộ, chi bộ cơ sở đã lãnhđạo, chỉ đạo tập trung các mặt như cải tiến cơ cấu mùa vụ, cơ cấu sản xuất, cơ

Trang 33

cấu cây trồng, tiến hành cải tạo đồng ruộng, hoàn chỉnh thủy nông, tiếp tụccải tạo công tác khoán trong các HTX nông nghiệp, thực hiện phân phối quỹlương thực theo ngành…

Nhờ sự lãnh đạo của huyện ngành, cơ sở đã tạo ra những chuyển biếntích cực trong sản xuất nông nghiệp Cơ cấu mùa vụ đã thay đổi, lúa xuân đãchiếm 45% diện tích, mùa sớm và mùa trung tăng 26,5%, tạo điều kiện pháttriển vụ đông trên diện tích hai lúa Cây ngô đông mở rộng diện tích ra toàn

bộ các HTX trong huyện Một số cây màu, cây công nghiệp có năng suất caonhư cây lạc P5000, khoai tây Việt Đức II, khoai tây Hà Lan; cơ sở vật chất kỹthuật nông nghiệp được điều chỉnh chuyển giao ngày một hợp lý, hiệu quả.Năm 1986 năng suất lúa đạt 39,42 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực 34 403tấn đạt 98,3% so với chỉ tiêu, sản lượng lạc 556 tấn

Tuy nhiên năm 1987, sản xuất nông nghiệp suy giảm do gieo cấykhông đảm bảo thời vụ, nên năng suất lúa chiêm xuân thấp nhất chỉ đạt 19,1tạ/ha, sản lượng lương thực giảm so với kế hoạch hàng chục ngàn tấn, hoamàu cũng giảm sút Trước tình hình đó, BCH huyện ủy nhanh chóng cónhững biện pháp chỉ đạo cụ thể cải thiện tình hình suy giảm trong nôngnghiệp Nhờ đó vụ mùa năm 1987 bội thu, năng suất lúa bình quân toànhuyện đạt 32,3 tạ/ha, diện tích lúa cả năm 15 051 ha, năng suất bình quân51,4 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực 42 319 tấn, diện tích cây màu 2 900 ha,

đã có 15 HTX đạt năng suất bình quân trên 50 tạ/ha…[1; 310]

Năm 1990, Vụ Bản đã vượt qua nạn đói giáp hạt, diện tích gieo trồngtăng gần 100 ha, năng suất lúa cả năm đạt 63,71 tạ/ha, sản lượng quy thóc là

53 036 tấn, lương thực bình quân đầu người 451 kg/năm, kinh tế hộ gia đìnhbắt đầu phát triển, đã xuất hiện mô hình tốt về kinh tế VAC

Trong chăn nuôi: thực hiện cơ chế mới, phong trào chăn nuôi gia súc,gia cầm với cơ chế chuyển đổi vật nuôi được đẩy mạnh Đàn lợn chú trọngphát triển đầu con với nâng cao trọng lượng xuất chuồng bằng cách tăngnhanh đàn lợn lai kinh tế, các hình thức khoán trong chăn nuôi mở rộng Đàn

Trang 34

trâu bò, nhất là trâu bò sinh sản cũng được khuyến khích phát triển Chăn nuôigia cầm chuyển một phần sang hướng nuôi vịt thời vụ…Với phương hướngđúng đắn và có quyết tâm đổi mới phù hợp với địa phương nên đàn lợn cuốinăm 1987 là 31 461 con, tăng 5% so với năm 1986, sản lượng lợn hơi xuấtchuồng đạt 1 800 tấn Năm 1988 đàn trâu bò cày kéo và sinh sản tăng 903 con

so với năm 1987 (trâu tăng 628 con, bò tăng 275 con), sản lượng thịt gia cầm

và cá ước tính đạt 820 tấn Năm 1990 đàn lợn có 31506 con, trong đó đàn lợnnái 2 719 con, đàn trâu duy trì mức 3 000 con, đàn bò 2 060 con, hai năm

1989 - 1990 sản lượng thịt hơi xuất chuồng mỗi năm một tăng từ 100 đến 120tấn, đàn trâu bò 4 846 con, tăng 22% [1; 318]

Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp cũng đặt rayêu cầu đổi mới nhằm chuyển hẳn sang hoạch toán bắt nhịp với cơ chế thịtrường Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIV (năm 1986) đã đề raphương hướng trong những năm tới là phát triển mạnh ở cả 3 khu vực quốcdoanh, chuyên nghiệp, đặc biệt chú trọng mở rộng sản xuất ngành nghề ở cácHTX nông nghiệp và gia đình xã viên Cần tập trung vào các ngành sản xuấttrọng yếu là cơ khí, vật liệu xây dựng, dệt, các mặt hàng thủ công xuất khẩu,

Nhờ đó trong những năm 1986 1988, lĩnh vực sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp có một số ngành phát triển với nhịp độ cao: dệt tăng31,9%, may mặc tăng 116%, hàng thủ công xuất khẩu tăng 18%, hàng tiêudùng tăng 29% Năm 1989, giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp đạt 90,351 triệu đồng, năm 1990 giá trị sản lượng đạt 92,84 triệu đồng.Tăng trưởng bình quân hàng năm là 10%, sản lượng được duy trì và có xuhướng phát triển [1; 324]

-Cùng với đó các ngành nghề truyền thống cũng được dần khôi phụcphát triển như cơ khí, đan, mộc…

Ngành thương nghiệp: năm 1986 tổng thu ngân sách là 30 951 000đồng, đạt 140% kế hoạch, trong đó thu ngân sách của huyện là 28 951 000

Trang 35

đồng Từ năm 1987- 1990 thu ngân sách tăng nhanh do kinh tế ngày càngphát triển và khai thác tốt nguồn thu, năm 1990 đạt 1 900 830 triệu đồng.Ngoài ra huyện còn tranh thủ được sự hỗ trợ ngân sách của tỉnh và TW đầu tưvào các lĩnh vực giao thông, thủy lợi và y tế, giáo dục…[1; 330].

Như vậy qua 5 năm của thời kỳ đổi mới, kinh tế Vụ Bản có bướcchuyển đổi cơ bản, đã dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,từng bước đổi mới tư duy theo Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, Nhànước đã có hướng đi vững chắc nhất là trồng lúa, phù hợp với điều kiện địaphương đã tạo ra bước phát triển mới về kinh tế nông nghiệp, nông thôn trênđịa bàn huyện Tình trạng thiếu hụt về lương thực được khắc phục và bướcđầu có dự trữ, đời sống nhân dân được cải thiện Công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp và các ngành nghề kinh tế khác tồn tại và phát triển trong cơ chế thịtrường nhiều thành phần Thành tựu đó đã mở ra hướng phát triển mới đặt nềnmóng cho giai đoạn tiếp theo

2.1.2.2 Văn hóa - giáo dục - y tế.

Cùng với sự nghiệp đổi mới về kinh tế, Đảng bộ luôn quan tâm chăm lođến sự nghiệp phát triển văn hóa - xã hội làm cho đời sống tinh thần của nhândân được nâng lên Thấm nhuần các quan điểm của Đảng, Đảng bộ luôn xácđịnh: văn hóa- giáo dục luôn luôn là yếu tố tinh thần cơ bản không thể thiếuđược đối với sự nghiệp phát triển con người Con người được phát triển toàndiện là yếu tố cơ bản quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội Do đó trongnhững năm 1986- 1990 ngành giáo dục vẫn được duy trì, chất lượng dạy vàhọc luôn ổn định và đạt kết quả khá cao ở tất cả các ngành học và cấp học.Năm học 1990- 1991 huyện Vụ Bản đạt chuẩn phổ cập tiểu học

Đi đôi với công tác giáo dục trong lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe banđầu cho nhân dân, thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đình được cấp ủy, chínhquyền từ huyện đến xã quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện trong 5 năm qua1986- 1990 đạt nhiều kết quả và mở ra hướng mới trong điều trị khám chữabệnh cho nhân dân Ngành y tế huyện với bệnh viện trung tâm, các phòng

Trang 36

khám khu vực, các trạm xá xã đã tạo ra mạng lưới khám chữa bệnh hoànchỉnh từ huyện đến cơ sở Cho nên đã phòng trừ được dịch sốt rét, sốt xuấthuyết, mạng lưới cán bộ y tế xóm xã được củng cố để khám chữa bệnh chonhân dân.

Sự nghiệp văn hóa thông tin, văn nghệ, thể dục thể thao trong 5 nămqua được duy trì và phát triển theo phương châm tăng cường cơ sở, bám sátnhiệm vụ chính trị, hướng tới phục vụ ngày càng tốt hơn công cuộc đổi mớikinh tế - xã hội ở địa phương Hệ thống thông tin liên lạc huyện nhà từngbước được hiện đại hóa, từ năm 1990 đã loại bỏ hệ thống thông tin hữu hiệuchuyển sang mạng vô tuyến viễn thông - điện thoại tự động số Mức hưởngthụ văn hóa, trình độ dân trí của nhân dân cũng nâng lên một bước, nghe đài,xem vô tuyến, vi đi ô, cát sét, băng đĩa com pắc… đã dần phổ biến và khôngcòn xa lạ hiếm hoi như thời gian trước Nhà thờ, chùa chiền được phép tu sữatrùng tu tạo cảnh quan văn hóa với nhiều lễ hội dân tộc cổ truyền phát triển ởkhắp làng xã trên địa bàn, hội Phủ Giầy được mở lại từ năm 1986, một sốcông trình được công nhận là di tích lịch sử văn hóa Chợ Viềng Phủ hàngnăm thu hút hàng vạn lượt người các nơi về trao đổi buôn bán, vãn cảnh duxuân đầu năm [1; 343]

2.1.2.3 Chính trị - an ninh - quốc phòng.

Với công tác chính trị - an ninh - quốc phòng tại các kỳ Đại hội Đảng

bộ huyện lần thứ XV, XVI đều khẳng định an ninh chính trị và trật tự an toàn

xã hội trong 5 năm (1986-1990) được giữ vững Đảng bộ đã không ngừnggiáo dục cán bộ Đảng viên và các tầng lớp nhân dân ý thức cảnh giác cáchmạng, vạch trần mọi âm mưu thủ đoạn của bọn phản động, bọn cơ hội chủnghĩa xuyên tạc, lợi dụng tôn giáo để phá hoại sức chiến đấu của Đảng, củanhân dân, làm giàu lòng tin của quần chúng đối với Đảng

Hàng năm huyện ủy ra Nghị quyết về công tác an ninh triển khai đếntận cơ sở với các phong trào như: “toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới

ở khu dân cư”, “thôn xóm bình yên, gia đình hòa thuận”…

Trang 37

Thực hiện phương châm tích cực phòng ngừa, kiên quyết tiến công truyquét tội phạm Vì vậy đã giữ vững được an ninh chính trị và trật tự an toàn xãhội Công tác tuyển quân và giao quân thực hiện tốt, đủ số lượng và đảm bảochất lượng, đều hoàn thành 100% kế hoạch giao Cơ chế tổ chức lực lượng vũtrang địa phương theo hướng gọn, nhẹ, cơ động nhanh, sẵn sàng chiến đấu vàgiành thắng lợi trong bất cứ tình huống nào Lực lượng vũ trang địa phương

36 đại đội với 110 cán bộ chiến sỹ Năm 1990, huyện tổ chức thành côngcuộc diễn tập “PH90”, thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng dự bị độngviên và dân quân tự vệ

Những kết quả trên đây là một sự cố gắng lớn của toàn Đảng, toàn dântrong huyện, thể hiện sự quyết tâm thực hiện và vận dụng sáng tạo Nghị quyếtĐại hội VI của Đảng và của tỉnh vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương

2.1.3 Những khó khăn trong buổi đầu đổi mới.

Trong quá trình đổi mới ban đầu, bên cạnh những thành tựu đạt được,

Vụ Bản cũng gặp nhiều gian nan khó khăn đó là cơn bão số 5 (10/1986) đổ bộvào địa bàn huyện kèm theo đó là những trận mưa to, sâu bệnh diễn ra nặng

nề dịch bệnh đạo ôn, sâu cuốn lá, rầy nâu…đã phá hoại sản xuất Tình hình đó

đã ảnh hưởng đến công cuộc đổi mới bước đầu của huyện nhà nên một sốmục tiêu mà Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV, XV đề ra đạt được cònthấp, nhiều lĩnh vực khác còn giảm sút hơn trước, tổng sản lượng quy thócthấp

Nhận xét về tỷ trọng thì sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệphuyện chững lại và có xu hướng giảm Năm 1989 thị trường Liên Xô, Đông

Âu biến động, hàng gia công truyền thống ở thị trường này cũng mất Các sảnphẩm thảm đay, thảm len, mành trúc, mành tăm, cơ sở đúc, bọc que hàn, cót

ép, làm nước chấm đều bị chao đảo và ngừng sản xuất Các cơ sở sản xuất thủcông chuyên nghiệp cũng lần lượt giải thể [1; 324]

Phân phối lưu thông còn nhiều ách tắc, tác động thúc đẩy sản xuất cònhạn chế Việc đăng ký kinh doanh quản lý thị trường có nhiều sơ hở, thu ngân

Trang 38

sách còn thất thoát, năm 1989 là 2 131,402 triệu đồng, năm 1990 đạt 1900,830 triệu đồng Tình trạng khê đọng sản phẩm vẫn tăng lên: trước “khoán10” khê đọng sản phẩm là 2 692 tấn, sau 1 năm (31- 12- 1989) khê đọng sảnphẩm lên tới 2 432 tấn Trong công tác quản lý của HTX bộc lộ nhiều khiếmkhuyết, nhận thức về chức năng nhiệm vụ của ban quản lý giữa chế độ tựquản của HTX với quyền chủ động sản xuất của hộ nhận khoán dẫn đếnbuông lỏng chỉ đạo sản xuất Từ việc xác định cơ cấu mùa vụ, ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật đến cơ cấu giống, phân bón, bảo vệ thực vật không thểhiện được hết vai trò của HTX nhất là các HTX như Liên Hòa, Nam Sơn, TâySơn, An Duyên, Tân An,…[1; 319]

Một số mặt văn hóa - xã hội đang xuống cấp, hiện tượng bói toán mêtín dị đoan, văn hóa không lành mạnh đang tái diễn Đó cũng là mặt trái củacông cuộc đổi mới đem lại

Chất lượng giáo dục còn hạn chế, số đông học sinh chưa chăm ngoan,thiếu lễ độ với thầy cô giáo, nhà trường chưa chú ý coi trọng phát triển toàndiện học sinh, do vậy chất lượng đào tạo con người toàn diện chưa tốt

Công tác trật tự, an toàn xã hội còn nhiều diễn biến phức tạp, hiểu biết

về pháp luật bị hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm Số người viphạm đạo đức và pháp luật ngày càng gia tăng nhất là một bộ phận thanhthiếu niên

Y tế khám chữa bệnh cho nhân dân của một số bộ phận thầy thuốc, bác

sỹ còn luôn gây phiền hà, sách nhiễu dân

Công tác xây dựng Đảng chưa chuyển kịp với yêu cầu đổi mới, một số

cơ sở Đảng còn yếu kém kéo dài, đội ngũ cán bộ thiếu ổn định, có nhiều biểuhiện tham nhũng,…làm giảm lòng tin của nhân dân

Hạn chế, thiếu sót trên là do những nguyên nhân sau:

Về khách quan: do sự mất cân đối của nền kinh tế bao cấp còn chưađược khắc phục, do thời tiết diễn biến phức tạp, sâu bệnh, dịch bệnh phát sinhnhiều…

Trang 39

Tuy nhiên còn do yếu tố chủ quan là năng lực chỉ đạo, điều hành, khảnăng hướng dẫn của một số cán bộ còn bộc lộ những thiếu sót Các chủtrương chính sách mới của Đảng, Nhà nước chưa được thực hiện một cáchnhạy bén, kịp thời Nhiều ngành và nhiều cấp cơ sở buông lỏng sự quản lý, sựđiều hành chỉ đạo các mục tiêu kinh tế - xã hội chưa chặt chẽ, sát sao Côngtác cán bộ chưa được chú ý bồi dưỡng, đào tạo Chính sách đổi mới hoạt độngthiết thực phục vụ sản xuất làm ra sản phẩm cho xã hội, quản lý xã hội chưađúng mức, chưa hợp lý nên có phần hạn chế đến thực hiện các chỉ tiêu kếhoạch và một số chủ trương công tác mà Hội đồng nhân dân đã có Nghịquyết.

Chặng đường 5 năm 1986- 1990 bước đầu thực hiện công cuộc đổi mới

từ trong thực tiễn đời sống kinh tế- xã hội với những khó khăn biến động ở

Vụ Bản có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

- Khi triển khai công việc gì thì phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể của địaphương để từ đó điều chỉnh mọi hoạt động cho thích hợp theo hướng tránhgặp phải khó khăn, phải biết phát huy nội lực trong huyện

- Mặt khác công tác tổ chức bộ máy phải gọn nhẹ, hợp lý, có chứcnăng, nhiệm vụ rõ ràng, không trùng lặp chồng chéo công việc Cán bộ phải

có trình độ hiểu biết, chủ động sáng tạo trong công tác, phải tuân thủ mọinguyên tắc của tổ chức, phải gần dân

Cần phải cụ thể hóa các mối quan hệ trên dưới, trong ngoài, Đảng Nhà nước - Nhân dân Mọi hoạt động phải lấy hiệu quả làm thước đo, mọicông việc tiến hành phải có đầy đủ cơ sở khoa học Đồng thời coi trọng đúngmức công tác thanh tra, kiểm tra

Phải thực sự đoàn kết thống nhất trên tinh thần đồng chí, trên nguyêntắc tập trung dân chủ mới có sức mạnh để triển khai và hoàn thành công việc

- Nắm vững nguyên tắc, chủ trương của Đảng, nắm vững thực tế củahuyện và cơ sở, dựa trên trí tuệ tập thể, dân chủ để xác định chủ trương chođúng Việc gì mà độc đoán và chủ quan thì thường dẫn đến sai lệch thiếu sót

Trang 40

- Phải xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm, những vấn đề then chốt đểtập trung giải quyết dứt điểm làm chuyển biến tình hình Biết dự kiến trướcnhững hệ quả tiêu cực và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện

để chủ động phòng ngừa, đảm bảo đúng mục tiêu đã chọn

Đó là những bài học kinh nghiệm quý báu góp phần làm cho Đảng bộ

và nhân dân Vụ Bản rút ra được để tiếp tục đưa quê hương phát triển tronggiai đoạn tiếp theo của công cuộc đổi mới trên quê hương

2.2 Đảng bộ Vụ Bản tiếp tục trên đường đổi mới (1991- 1995)

2.2.1 Tình hình nhiệm vụ

Sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta có những bước tiếnquan trọng Những thành tựu đạt được trong thời gian qua là rất đáng khích lệsong bên cạnh đó cũng còn không ít khó khăn, hạn chế Hơn nữa tình hìnhtrong hệ thống các nước XHCN diễn ra phức tạp, Liên Xô và các nướcXHCN Đông Âu sụp đổ và tan rã đã có tác động tiêu cực đến tình hình cáchmạng nước ta, nhất là công cuộc đổi mới mà chúng ta đang tiến hành

Trước tình hình đó để có thể tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đấtnước đi lên, tháng 6 năm 1991 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII củaĐảng đã họp, tổng kết đánh giá việc thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội

VI, đề ra chủ trương nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, thành tựu đạt được, khắcphục khó khăn, hạn chế để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới đi lên Đại hội đãkhẳng định: “Tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới

đi vào chiều sâu và bước đi vững chắc, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm,đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực khác, nhất là về dân chủ hóa xã hội,

tổ chức phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, các chính sách giáodục, văn hóa, xã hội” [17; 61] Đại hội VII cũng đề ra mục tiêu tổng quát của

5 năm (1991- 1995) là: “vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triểnkinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất côngbằng xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng” [17;154]

Ngày đăng: 18/12/2013, 12:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2006
22. Lê Mậu Hãn (chủ biên) Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III. Nhà xuất bản giáo dục 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III
Nhà XB: Nhà xuất bảngiáo dục 1999
25. Nguyễn Trọng Phúc: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước. Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Namtrong thời kỳ đổi mới đất nước
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội 1999
27. Tạp chí Cộng sản số 1/1996. Vụ Bản - chặng đường 15 năm đổi mới (1991- 1995), trang 16 - Trần Cang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ Bản - chặng đường 15 năm đổi mới(1991- 1995)
28. Tạp chí Cộng sản số 8/2001. Một số vấn đề về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001- 2010), trang 22-28. Lưu Bích Hồ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chiến lược phát triển kinhtế - xã hội 10 năm (2001- 2010)
29. Trần Bá Đệ: Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay. Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay
Nhà XB: Nhà xuất bản đại họcQuốc gia Hà Nội 1998
30. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW: Về đổi mới quản lý kinh tế ở Việt Nam- Hà Nội 1990.E. PHỤ LỤCDanh sách các đồng chí Bí thư huyện ủy qua các thời kỳ từ năm 1976- 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đổi mới quản lý kinh tế ở ViệtNam
1. BCH Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Vụ Bản, tháng 9/2000 Lịch sử Đảng bộ huyện Vụ Bản (1930- 2000) Khác
2. Bản kiểm điểm của BCH Đảng bộ huyện Vụ Bản khóa XVIII 3. Bản kiểm điểm của BCH Đảng bộ huyện Vụ Bản khóa XIX Khác
4. Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Vụ Bản tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIV Khác
5. Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Vụ Bản tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XV Khác
6. Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Vụ Bản tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVI Khác
7. Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Vụ Bản tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII Khác
8. Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Vụ Bản tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVIII Khác
9. Báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Vụ Bản tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIX Khác
10. Báo cáo hàng năm của huyện ủy và UBND huyện Vụ Bản (1986 đến 2010) Khác
11. Cơ quan lý luận và chính trị của TW Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2/2001: tạp chí cộng sản số 610- Một số vấn đề về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Khác
12. Cơ quan lý luận và chính trị của TW Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 3/2001: tạp chí cộng sản số 611- Tổng quan nông nghiệp nước ta sau 15 năm đổi mới Khác
13. Cơ quan lý luận và chính trị của TW Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 7/2001: tạp chí cộng sản số 619- Về chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2001- 2005 và kế hoạch 5 năm 2001- 2005 Khác
14.Cơ khí hóa nông nghiệp nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.Nhà xuất bản nông nghiệp 2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w