1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học hy lạp thông qua hai đường lối đêmôcrit và platôn

32 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 328,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU: Loài người với hàng nghìn năm phát triển của mình đã là nhân chứng, tác nhân cho sự đổi thay hàng ngày hàng giờ của chính thế giới mình tồn tại. Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người đã và đang là động lực thúc đẩy thế giới ngày càng phát triển. Triết học với vai trò một hình thái ý thức xã hội là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy cũng không nằm ngoài cuộc đấu tranh gay gắt ấy. Nếu sự phát triển của thế giới được thể hiện bằng cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, hình thái xã hội; bằng sự phủ định lẫn nhau của các chế độ xã hội thì lịch sử phát triển của triết học lại được đánh dấu bằng cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển của triết học. Nó phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối kháng. Thường thường chủ nghĩa duy vật thể hiện thế giới quan của những lực lượng tiến tiến, tiến bộ của xã hội , còn chủ nghĩa duy tâm (tuy không phải bao giờ cũng vậy) là thế giới quan của những lực lượng suy tàn, phản động và bảo thủ trong xã hội. Chủ nghĩa duy vật khẳng định tính thứ nhất có trước của vật chất và tính thứ hai có sau của ý thức, con người có khả năng nhận thức được thế giới. Ngược lại chủ nghĩa duy tâm khẳng định tính thứ nhất có trước của ý thức, phủ nhận khả năng nhận thức của con người đối với thế giới. Dù sao bất kỳ hệ thống triết học nào cũng đều phải xuất phát từ các vấn đề cơ bản của triết học, từ đó xây dựng toàn bộ hệ thống trên cơ sở giải quyết các vấn đề đó. Cũng như sự phong phú của thế giới cuộc đấu tranh trong triết học diễn ra với nhiều hình thức, mức độ khác nhau, cuộc đấu tranh này vừa là cuộc đấu tranh giữa tư tưởng, thế giới quan đồng thời cũng là cuộc đấu tranh của một bộ môn khoa học. Trên con đường đến với chân lý ấy những nhà triết học, những trường phái triết học không những đấu tranh với nhau mà gay gắt hơn còn phải đấu tranh với chính mình. Trong tiểu luận này tôi sẽ làm sáng tỏ cuộc đấu tranh của hai khuynh hướng triết học duy vật và duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại. Triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, hợp xướng của triết học phương Tây. Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên của triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương Tây sau này. Lịch sử triết học Hy Lạp chủ yếu là lịch sử hình thành, phát triển và đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm ở những cấp độ khác nhau thể hiện thông qua cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn, đại diện cho hai tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU:

Loài người với hàng nghìn năm phát triển của mình đã là nhân chứng, tác nhân cho sự đổi thay hàng ngày hàng giờ của chính thế giới mình tồn tại Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người đã và đang là động lực thúc đẩy thế giới ngày càng phát triển Triết học với vai trò một hình thái ý thức xã hội là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại

và nhận thức về thái độ của con người với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy cũng không nằm ngoài cuộc đấu tranh gay gắt ấy Nếu sự phát triển của thế giới được thể hiện bằng cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, hình thái xã hội; bằng sự phủ định lẫn nhau của các chế độ xã hội thì lịch sử phát triển của triết học lại được đánh dấu bằng cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển của triết học Nó phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối kháng Thường thường chủ nghĩa duy vật thể hiện thế giới quan của những lực lượng tiến tiến, tiến bộ của xã hội , còn chủ nghĩa duy tâm (tuy không phải bao giờ cũng vậy) là thế giới quan của những lực lượng suy tàn, phản động và bảo thủ trong xã hội Chủ nghĩa duy vật khẳng định tính thứ nhất có trước của vật chất và tính thứ hai có sau của ý thức, con người có khả năng nhận thức được thế giới Ngược lại chủ nghĩa duy tâm khẳng định tính thứ nhất có trước của ý thức, phủ nhận khả năng nhận thức của con người đối với thế giới Dù sao bất kỳ hệ thống triết học nào cũng đều phải xuất phát từ các vấn

đề cơ bản của triết học, từ đó xây dựng toàn bộ hệ thống trên cơ sở giải quyết các vấn đề đó Cũng như sự phong phú của thế giới cuộc đấu tranh trong triết học diễn ra với nhiều hình thức, mức độ khác nhau, cuộc đấu tranh này vừa là cuộc

Trang 2

đấu tranh giữa tư tưởng, thế giới quan đồng thời cũng là cuộc đấu tranh của một

bộ môn khoa học Trên con đường đến với chân lý ấy những nhà triết học, những trường phái triết học không những đấu tranh với nhau mà gay gắt hơn còn phải đấu tranh với chính mình Trong tiểu luận này tôi sẽ làm sáng tỏ cuộc đấu tranh của hai khuynh hướng triết học duy vật và duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại

Triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, hợp xướng của triết học phương Tây Một giai đoạn lịch sử khởi nguyên của triết học nhân loại làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương Tây sau này Lịch sử triết học Hy Lạp chủ yếu là lịch sử hình thành, phát triển và đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm ở những cấp độ khác nhau thể hiện thông qua cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn, đại diện cho hai tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản của việc nhận thức về cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp:

1.1 Khái niệm chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm:

Triết học hiểu theo nghĩa chung nhất đó là môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới Triết học ra đời từ rất lâu đời qua một quá trình lịch sử rất lâu dài

Triết học nghiên cứu hàng loạt vấn đề chung, nhưng vấn đề trung tâm là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy hay giữa tự

nhiên và tinh thần

Trong thế giới có vô vàn hiện tượng, nhưng chung quy chúng chỉ phân thành hai loại, một là hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên), hai là những hiện tượng tinh thần (ý thức, tư duy) Do đó, vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý

thức, giữa tồn tại và tư duy là vấn đề cơ bản của triết học

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

Mặt thứ nhất nhằm xác định ngôi thứ, tính quyết định hay phụ thuộc trong

mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để trả lời câu hỏi: giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào?

Tùy theo cách giải quyết vấn đề này mà các học thuyết triết học chia thành hai trào lưu chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất tồn

tại khách quan, độc lập với ý thức và quyết định ý thức Ý thức là phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người

Trang 4

Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật đã được thể hiện dưới ba hình thức cơ bản:

Chủ nghĩa duy vật chất phác (thời cổ đại): đó là thế giới quan của giai cấp

chủ nô tiến bộ (chủ nô dân chủ); chủ nghĩa duy vật mộc mạc chất phác gắn với phép biện chứng sơ khai, tự phát vì nó còn đơn giản, sử dụng các ngôn ngữ đời thường để diễn tả khao học; tri thức triết học xen lẫn tri thức của khoa học tự nhiên; những quan điểm triết học là kết quả của sự trực giác cho nên nó có tính chất phỏng đoán

Chủ nghĩa duy vật siêu hình (thời cận đại): đó là ngọn cờ lý luận của giai

cấp tư sản; chủ nghĩa duy vật thời kỳ này là chủ nghĩa duy vật máy móc và siêu hình vì họ quan niệm sự vật, hiện tượng tồn tại một cách cô lập; chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chỉ duy vật trong tự nhiên, duy tâm trong xã hội; chủ nghĩa duy vật thời kỳ này gắn liền với những thành tựu của khoa học tự nhiên

Chủ nghĩa duy vật biện chứng: đó là thế giới quan, phương pháp luận đại

diện cho xu thế phát triển của nhân loại; chủ nghĩa duy vật biện chứng thống nhất được thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận; chủ nghĩa duy vật thời kỳ này là chủ nghĩa duy vật triệt để vì nó thống nhấy được chủ nghĩa duy vật

cả trong tự nhiên và xã hội; chủ nghĩa duy vật thời kỳ này được xây dựng trên cơ

sở khái quát thành tựu khoa học tự nhiên hiện đại và kế thừa từ tiến bộ trước cũng như hoạt động thực tiễn của cộng sản; chủ nghĩa duy vật biện chứng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa khoa học và cách mạng

Chủ nghĩa duy tâm thừa nhận tinh thần, ý thức là cái có trước, cái quyết

định, vật chất là cái có sau, cái bị quyết định

Chủ nghĩa duy tâm có hai khuynh hướng:

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người,

Trang 5

trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể

Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức

nhưng theo họ đấy là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người Thực thể tinh thần khách quan này thường mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, tinh thần tuyệt đối, lý tính thế giới…

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức

Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng Còn nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học

Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ Các lực lượng và giai cấp này dùng triết học duy tâm để mê hoặc quần chúng, nhằm củng cố địa vị thống trị của mình Còn nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy tâm là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất khách quan

Mặt thứ hai nghiên cứu khả năng nhận thức của con người về hiện thực

khách quan để trả lời câu hỏi, con người có hay không có khả năng nhận thức được hiện thực hay không?

Chủ nghĩa duy vật khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới khách quan Chủ nghĩa duy tâm không phủ nhận khả năng nhận thức của con người nhưng họ coi khả năng đó phụ thuộc vào chính bản thân ý thức(cảm giác chủ quan thuần túy) hoặc lực lượng siêu nhiên (ý niệm, ý niệm tuyệt đối, linh hồn)

Trang 6

1.2 Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại:

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại:

Người Hy Lạp ngày nay thường tự hào rằng đất nước của họ là cái nôi của văn minh Châu Âu Niềm tự hào này thật chính đáng Lịch sử đã từng biết đến một thời kỳ “Hy Lạp hóa” (334 TCN – 30 TCN) – thời kỳ mà sự truyền bá của văn hóa Hy Lạp không dừng lại ở Châu Âu Lịch sử cũng từng chứng kiến sự sửng sốt, ngỡ ngàng của không ít người Châu Âu trong thời kỳ văn hóa Phục Hưng, trước những thành tựu văn hóa của những người đồng hương của mình trên bán đảo Bancăng vào khoảng hai nghìn năm trước đó Thuở ấy “những người khổng lồ” của thời đại Phục hưng đã tìm thấy ở nền văn hóa Hy Lạp cổ đại không chỉ những công trình kiến trúc, điêu khắc tuyệt mỹ, những tác phẩm văn học đồ sộ, mà còn tìm thấy ở đó chủ nghĩa duy vật cổ đại và những tư tưởng nhân văn làm cơ sở cho việc xây dựng một nền văn hóa mới, trong thời địa mới – thời đại đấu tranh và chiến thắng của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến ở Châu Âu

Điều kiện địa lý , kinh tế của Hy Lạp:

Hy Lạp nằm trên bán đảo Bancăng ở nam Châu Âu, vươn minh ra Địa Trung Hải, lãnh thổ của quốc gia chiếm hữu nô lệ Hy Lạp bao gồm cả vùng lục địa, các đảo thuộc biển Êgiê và vùng Tây Tiểu Á Hy Lạp có những đồng ruộng mầu mỡ: Tetsxali, Áttich, Bêôxi, bán đảo Pêlôpônêdơ thuận tiện cho việc trồng trọt lúa mỳ, nho, ô-liu Địa Trung Hải đã khiến cho giao thông đường biển thuận tiện từ Hy Lạp đến Tiểu Á, Bắc Phi Như vậy, hoàn cảnh tự nhiên của Hi Lạp rất thuận tiện cho thủ công nghiệp, thương nghiệp phát triển, sản xuất và xuất khẩu

đồ gốm, vải vóc, rượu vang chế biến từ nho, dầu ô-lui Nhờ đó mà Hy Lạp là quốc gia công, thương nghiệp phát triển mạnh mẽ Điều kiện kinh tế nhiều thành

Trang 7

phần công, nông, thương nghiệp của Hy Lạp sẽ ảnh hưởng to lớn đến sự phân hóa xã hội, đến thiết chế xã hội và đặc điểm của chế độ nô lệ các nước phương Tây

Quan hệ xã hội Hy Lạp:

Vào thế kỷ VIII TCN, công xã nguyên thủy tan ra, Hy Lạp bước vào xã hội

có giai cấp và nhà nước Chủ nô là giai cấp áp bức, thống trị, bóc lột Vì Hy Lạp

có nhiều thành phần kinh tế: công, nông, thương nghiệp nên trong giai cấp chủ nô

Hy Lạp có nhiều tầng lớp tương ứng các thành phần kinh tế đó Tầng lớp chủ nô nông nghiệp xuất thân từ các quan chức của xã hội nguyên thủy nên gọi là quý tộc thị tộc Tầng lớp chủ nô công, thương, ngân hàng do sản xuất, buôn bán mà giàu có nên được gọi là quý tộc mới Chủ nô nông nghiệp có xu hướng chính trị thiết lập nhà nước quân chủ Chủ nô công thương có xu hướng thiết lập nhà nước cộng hòa Như vậy, do đặc điểm xã họi mà ở Hy Lạp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp để thiết lập thiết chế chính trị

Giai cấp bình dân ở Hy Lạp là nông dân và thị dân Những người này là công dân Hy Lạp, họ có tài sản riêng, song nghèo khổ và bị nhà nước chủ nô áp bức bóc lột Xu hướng chính trị của họ là muốn thiết lập nền cộng hòa để bảo vệ quyền lợi của mình Trong cuộc đấu tranh để lựa chọn thiết chế chính trị, bình dân và tầng lớp tri thức của họ là đồng minh của quý tộc mới và họ đã đóng một vai trò rất quan trọng trên sân khấu chính trị Hy Lạp

Giai cấp nô lệ Hy Lạp chiếm đông đảo trong xã hội Họ bị chủ nô áp bức bóc lột rất tàn khốc Họ mang đặc tính chung của nô lệ thế giới: không được quyền làm người, giống như nô lệ các nước Phương Đông, nô lệ Hy Lạp cũng chỉ được coi là tài sản biết nói của chủ nô, họ buộc phải lao động cưỡng bức, khổ sai không giờ giấc, không được hưởng một chút nào sản phẩm dư thừa của mình làm

Trang 8

ra Họ bị chủ nô đối xử tàn tệ, dã man, giết, đánh đập, đem mua bán, đổi chác Đặc điểm riêng của chế độ nô lệ Hy Lạp được Các Mác coi là chế độ nô lệ điển hình Ở đây nô lệ là lực lượng chính trong việc sản xuất ra của cải vật chất của xã hội, là đối tượng chủ yếu để nhà nước và chủ nô bóc lột Trong mỗi điền trang nông nghiệp chủ nô đã sử dụng hàng nghìn nô lệ lao động; trong các xưởng thủ công, trong các gia đình chủ nô, quan lại, trong cung đình đều sử dụng nô lệ Nô

lệ còn bị xiềng xích vào các thuyền buôn để chèo thuyền buôn bán, chèo các thuyền chiến trong lực lượng hải quân trong chiến trận Tóm lại, nô lệ Hy Lạp lao động khổ sai trên khắp các lĩnh vực của các ngành kinh tế

Chính trị Hy Lạp:

Ở Hy Lạp, ngoài kinh tế nông nghiệp còn có kinh tế công thương nghiệp phát triển Tương ứng với nhiều thành phần kinh tế đó, trong giai cấp chủ nô Hy Lạp có nhiều tầng lớp: chủ nô nông nghiệp (quý tộc thị tộc), chủ nô công thương ngân hàng (quý tộc mới) Xu hướng chính trị của chủ nô nông nghiệp là thiết lập nền quân chủ, xu hướng chính trị của chủ nô công, thương, ngân hàng là thiết lập nền cộng hòa; bình dân, trí thức cũng muốn thiết lập nền cộng hòa nên họ ủng hộ chủ nô công, thương, ngân hàng trong cuộc đấu tranh lựa chọn thiết chế nhà nước Vậy là ở Hy Lạp đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa một bên là chủ nô công, thương được bình dân ủng hộ với bên kia là quý tộc thị tộc để thiết lập công hòa hay quân chủ Trong cuộc đấu tranh đó, nơi nào mà chủ nô công, thương và bình dân thắng lợi triệt để thì thiết lập được nền cộng hòa dân chủ chủ nô như ở Aten, nơi nào chủ nô công, thương và bình dân thắng lợi không triệt để thì thiết lập được nền cộng hòa quý tộc chủ nô như ơ Xpác, La Mã

ở Aten, cuộc đấu tranh chính trị kết thúc với sự thắng lợi triết để của chủ

nô công, thương và bình dân nên đã thiết lập được nền cộng hòa dân chủ chủ nô

Trang 9

Trong thiết chế này, đứng đầu nhà nước là quan chấp chính do Đại hội công dân bầu ra Đại hội công dân là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước có quyền lập pháp, quyền quyết định các công việc quan trọng của đất nước, quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm các quan chức cao cấp, quyền giám sát các cơ quan và các quan chức, quyền quyết định trao quyền hay tước quyền công dân cho người dân Aten Cơ quan thứ 2 là Hội đồng 500 (người) do 10 phân khu (đơn vị hành chính lớn nhất) của Aten bầu ra, mỗi phân khu bầu ra 50 người lập thành Hội đồng 500 người, gọi tắt là Hội đồng 500 Hội đồng 500 có chức năng hành pháp, thay phiên nhau trực giữa 2 kỳ của Đại hội công dân để giải quyết công việc nhà nước Cơ quan chỉ huy quân sự, vạch chính sách đối ngoại của nhà nước là hội đồng 10 tướng lĩnh do Đại hội công dân bầu ra, bao gồm các viên tư lệnh quan trọng Cơ quan cuối cùng nắm quyền tư pháp là tòa án Aten có 6000 thẩm phán do 10 phân khu hành chính bầu lên, mỗi phân khu bầu 600 người Nhà nước Aten là nhà nước dân chủ nhất trong kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ Những người được thừa nhận là công dân (nam giới) đều có quyền tham gia Đại hội công dân, được bầu

củ, ứng cử các chức vụ của các cơ quan nhà nước Nhà nước đặt ra thể lệ bỏ phiếu thăm do dư luận Một người nào đó bị 6000 phiếu ghi là có tư tưởng độc tài

sẽ bị trục xuất khỏi Aten trong khoảng 10 năm Tuy nhiên nhà nước Aten vẫn là nhà nước phục vụ cho giai cấp chủ nô Nhà nước Aten được gọi là dân chủ nhất trong kiểu nhà nước nô lệ vì trong khi phục vụ cho giai cấp mình, nó đồng thời phục vụ cho xã hội Trong xã hội Aten, sự bất bình đẳng về kinh tế đã khiến cho những công dân nghèo không có điều kiện để thực hiện quyền dân chủ, quyền giữ các chức vụ, quyền giám sát các viên chức cao cấp và các cơ quan nhà nướ, quyền tham gia Đại hội công dân, nô lệ vẫn không có quyền làm người

Trang 10

Văn hóa Hy Lạp:

Chữ viết là thành tựu đầu tiên trong sáng tạo văn hóa của người Hy Lạp

Nó đáp ứng nhu cầu giao tiếp và nhu cầu cai trị của nhà nước

Văn học – nghệ thuật Hy Lạp phong phú, nhiều thể loại, có tính nghệ thuật cao Truyện thần thoại Hy Lạp nói lên sự sáng tạo phi thường của nhân dân về thế giới thần thánh nhưng rất gần gũi với cuộc sống hiện thực, ca ngợi sức mạnh siêu nhiên của các anh hung, dũng sỹ chiến đấu tiêu diệt những quái vật hung ác, mang lại bình yên, hạnh phúc cho con người Nổi tiếng nhất là thể loại sử thi Hi Lạp: trường ca Iliát và Ôđixê của Hômerơ là bài ca hào hùng về chiến trận, về tình yêu quê hương, tình yêu chung thủy của người Hi Lạp Thể loại thơ tình cũng sớm ra đời với những áng thơ tình nổi tiếng của nữ thi sỹ Sapô, người được người Hi Lạp đương thời tôn vinh là nàng tiên thứ bảy Kịch của Hi Lạp xuất phát từ hội hóa trang với các tác giả nổi tiếng như Étsin, Xơphôclơ

Hi Lạp là nơi ra đời nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội họa sau này được La Mã kế thừa và phát huy Thủ đô Aten rạng rõ với đền thờ Pactênông, tượng Lực sĩ ném đĩa của Mirông nói lên vẻ đẹp và sức mạnh của con người

Hi Lạp thời cổ đại có nhiều nhà sử học tài ba: Hêrôđốt, người được coi là cha đẻ của ngành sử học thế giới Ông là người đầu tiên đã ghi lại các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Hi Lạp và của các dân tộc khác Sau Hêrôđốt còn có Tuyxiđit, Pluytac…

Triết học Hi Lạp ra đời sớm với hai phái duy vật và duy tâm Các nhà triết học duy vật nổi tiếng của Hi Lạp như: Talet, Anaximangdro, Heraclit, Êqiquya, Đemocrit… Đối lập với các nhà duy vật, các nhà triết học duy tâm nổi tiếng như: Xocrat, Platon, Arittot…

Hi Lạp có thể nói là mở đầu cho sự ra đời và phát triển của nền pháp luật

Trang 11

phương tây Luật pháp Aten thể hiện qua các sắc lệnh của các quan chấp chính

Kỹ thuật lập pháp của pháp luật Hi Lạp rất cao chứng tỏ những nhà làm luật khi

đó có kiến thức rất uyên bác

Người Hi Lạp cũng đạt trình độ cao về toán học Nhà triết học kiêm nhà toán học Talet đã tìm ra tỷ lệ thức, Pitago người nổi tiếng với Định lý tam giác vuông, Pitago còn tìm ra số chẵn, số lẻ, số không chia hết Nhà toán học Ơcolit với môn hình học mang tên ông đã đặt nền móng cho các môn hình học sau này Nhà vật lý, nhà sáng chế thiên tài Acsimet đã tìm ra lực học, nguyên tắc đòn bảy, thủy lực học Ông là người chế tạo ra máy bắn đá, gương thấu kính hội tụ để đốt cháy chiến thuyền La Mã Nhà thiên văn học Arixtac đã tìm ra hệ thống mặt trời Thành tựu thiên văn học của người Hi Lạp được các nhà khoa học La Mã về sau

Tất cả những tiền đề kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật nói trên

là những điều kiện cho sự phát triển rực rỡ của triết học Hy Lạp cổ đại Như ghen nói, nếu không có chế độ nô lệ, thì cũng không có nhà nước Hy Lạp, không

Ăng-có khoa học và nghệ thuật Hy Lạp

Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất

yếu Đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại C.Mác viết: “Các nhà triết học không phải những cây nấm mọc trên đất Họ là sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình mà những tinh lực tinh tế nhất, quý giá nhất và khó nhìn thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết học”

Trang 12

1.2.2 Những đặc điểm của triết học Hi Lạp cổ đại:

Đặc điểm thứ nhất, triết học Hy Lạp cổ đại là thế giới quan, ý thức hệ của

giai cấp chủ nô thống trị, ngay từ đầu đã mang tính giai cấp sâu sắc nhằm duy trì

xã hội theo kiểu chiếm hữu nô lệ, bảo vệ lợi ích của giai cấp chủ nô

Đặc điểm thứ hai, về nội dung cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại là cuộc

đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa biện chứng và siêu hình, giữa vô thần và hữu thần… điển hình là cuộc đấu tranh giữa “Đường lối Đêmôcrit” và “Đường lối Platôn”

Đặc điểm thứ ba, đặc trưng của triết học Hy Lạp cổ đại là tính chất mộc

mạc, chất phác và tính biện chứng sơ khai tự phát, đặc biệt với các học thuyết triết học duy vật và biện chứng Triết học Hy Lạp cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn

đề triết học chứa đựng tất cả các mầm mống của thế giới quan sau này

Trang 13

Chương 2: Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp thông qua hai đường lối “Đường lối Đêmôcrít” và “Đường lối Platôn”

2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Đêmôcrít và Platôn:

2.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Đêmôcrít:

Đêmôcrít là đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật cổ đại Đêmôcrit sống từ năm 460 đến năm 370 TCN Ông sinh ra ở Ápđe, một thành phố thương mại lớn ở vùng Tơraxơ Bố ông là một thương gia giàu có, cho phép ông có nhiều điều kiện thuận lợi để du học ở nhiêu nước trên thế giới Cha ông đã để lại cho ba

em trai của mình phần lớn tài sản, mà Đêmôcrit chỉ lấy một phần nhỏ bằng tiền mặt để du lịch

Là học trò giỏi của Lơxip, Đêmôcrit đã phát triển, hoàn thiện các học thuyết nguyên tử Mặc dù nguyên tử khi này chưa được mô tả bằng một tính chất

cụ thể nào Đêmôcrit được người đương thời coi là nhà bách khoa toàn thư đầu

tiên của thời cổ đại Arítxtôt đã viết về ông: “Ngoài Đêmôcrit ra, hầu như chưa

có ai nghiên cứu một cách cặn kẽ về một vấn đề gì, Đêmôcrit hầu như đã suy nhgix đến tất cả mọi cái ” Về sau, Nítse cũng đánh giá: “Trong tất cả các hệ thống cổ đại, hệ thống của Đêmôcrit là lôgic hơn cả” Thông qua các tài liệu gián

tiếp, có thể biết rằng Đêmôcrit viết nhiều tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: đạo đức, triết học, tâm lý, toán học, sinh học, vật lý, mỹ học, ngôn ngữ

và âm nhạc

2.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Platôn:

Platôn sinh vào khoảng 427-347 TCN, là một nhà triết học cổ đại Hy Lạp được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại cùng với Xôcrát là thầy ông, là người mở đầu cho siêu hình

Trang 14

học phương Tây Ông là học trò nổi tiếng nhất của Xôcrát, là một trong bảy vị

hiền triết Hi Lạp cổ đại Hêghen nhận định về ông như sau: “Nếu có ai đó là người thầy đầu tiên của nhân loại thì người đó là Platôn và Arítxtôt”

Cha của Platôn thuộc dòng dõi quốc vương ở Aten, mẹ cũng là con gái một gia đình thông thái quý tộc, dòng dõi Salon Platôn hồi trẻ khỏe mạnh, có vóc người vạm vỡ (nên lúc đầu tên là Ariston, được gọi đổi là Platôn- theo tiếng Hy Lạp nghĩa là to lớn, đẹp trai) Ông từng đoạt giải quán quân thể thao

Sinh ra ở Aten, ông được hấp thụ một nền giáo dục tuyệt vời từ gia đình, ông tỏ ra nổi bật trên mọi lĩnh vực nghệ thuật và đặc biệt là triết học, ngành học

mà ông chuyên tâm theo đuổi từ khi gặp Xôcrát

Ông đã từng bị bán làm nô lệ và được giải thoát bởi một người bạn, sau đó, ông đã trở về Athen khoảng năm 387 TCN và sáng lập ra Viện hàn lâm - (tên lấy theo khu vườn nơi ông ở) Đây có thể được coi là trường đại học đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nơi dành cho nghiên cứu, giảng dạy khoa học và triết học Aristoteles đã theo học tại đây khi 20 tuổi và sau này lập ra một trường khác là Lyceum

Khi Xôcrát chết vào năm 399 TCN thì Platon mới khoảng 31 tuổi Trong suốt phiên tòa xử thầy mình, ông ngồi dự ở phòng xử án Toàn bộ chuỗi biến cố

đó dường như đã ăn sâu vào tâm hồn ông thành một kinh nghiệm chấn động, vì ông đánh giá Xôcrát là người giỏi nhất, minh triết nhất và chính trực nhất trong tất cả mọi người

Từ đó Platon bắt đầu cho phổ biến một loạt các đối thoại triết học trong đó nhân vật chính luôn luôn là Xôcrát, căn vặn những kẻ đối thoại của ông về những khái niệm căn bản về đạo đức và chính trị, làm cho họ mắc mâu thuẫn trước những câu hỏi của ông

Trang 15

Khi thầy Xôcrát của Platôn bị chết bởi phán quyết của nền dân chủ Aten, Platôn trở nên thù ghét quần chúng.Từ đó ông chủ trương tiêu diệt tận gốc chế độ dân chủ, thay vào đó là một chính thể do những nhà quý tộc sáng suốt điều hành Platôn có gắng tìm phương cách lựa chọn người khôn ngoan nhất để lãnh đạo quốc gia Ba lần ông được mời làm cố vẫn chính trị, nhưng cả ba lần lý tưởng của ông không được chấp nhận Platôn đành quay về mở trường học, gọi là Acadêmi Ông tôn sùng toán học, đến mức cổng Académi treo biển: “chỉ dành cho những người biết hình học ”

Có lẽ Platon có hai động cơ chính để làm việc này Một là để thách thức và tái khẳng định những lời giáo huấn của Xôcrát bất chấp chúng đã bị kết án một cách công khai; hai là để phục hồi danh dự người thầy yêu quí của mình, cho mọi người thấy ông không phải là một kẻ hủy hoại giới trẻ mà là một bậc thầy danh

giá nhất của họ

2.2 Nội dung cuộc đấu tranh giữa “Đường lối Đêmôcrít” và “Đường lối Platôn”

2.2.1 Quan niệm về thế giới:

Đêmôcrit cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là một sự vật cụ thể nào đó như các nhà tư tưởng trước đó quan niệm (Talet – nước, Pitago – con

số, Hêraclit – lửa…) mà là nguyên tử

Thuyết nguyên tử đã được Lơxíp nêu lên từ trước Nhưng phải đến Đêmôcrít học thuyết đó mới trở lên chặt chẽ Theo ông, vũ trụ được cấu thành từ hai thực thể đầu tiên: nguyên tử và chân không

Đối lập với cái “tồn tại” là cái “không tồn tại” hay cái “khoảng trống” Ông hình dung rằng “khoảng trống là cái không xác định, cái vô hình, bất động

vô hạn Khoảng trống không ảnh hưởng gì đến cái vật thể nằm trong nó, nhờ nó

Trang 16

mà các vật thể vận động được” Phần vật chất thuộc cái tồn tại mà không chứa

đựng trong nó một sự trống rỗng nào để có thể cho phép phân chia nhỏ hơn nữa, được gọi là nguyên tử

Nguyên tử là những hạt vật chất nhỏ bé nhất, không thể tiếp tục phân chia, các nguyên tử đều bất biến, tồn tại vĩnh viễn và luôn vận động

Nguyên tử tự thân vận động, kết hợp với nhau thành vật thể Nguyên tử có

vô vàn hình dạng và sự đa dạng của nguyên tử làm nên sự đa dạng của các sự vật trong thế giới

Trong thế giới có vô số các nguyên tử, các nguyên tử đồng nhất về chất, chỉ khác nhau về hình thức và kích thước Những tính chất khác như: âm thanh, màu sắc, mùi vị… không phải là những đặc tính cố hữu, không phải là bản chất của nguyên tử Nguyên tử sắp xếp theo các trật tự khác nhau sẽ thành các vật khác nhau, chẳng hạn như chữ cái sắp xếp để thành các từ như EM, ME, HÀN, NHÀ… nguyên tử sắp xếp theo các tư thế khác nhau cũng thành các vật khác nhau, chẳng hạn như chữ N, đúng thì là n, ngang là z; chữ M ở tư thế xuôi là m, ở

tư thế ngược là w…

Chân không là khoảng không rộng lớn trong đó các nguyên tử vận động Với Đêmôcrít, chân không cũng cần thiết như nguyên tử, nhờ nó nguyên tử mới vận động được Nếu tất cả là đặc sệt các nguyên tử thì sẽ không có điều kiện cho vận động Khác với nguyên tử có kích thước, hình dáng, chân không thì vô hạn

và không có hình dáng

Đêmôcrít đưa ra lý thuyết giả định về sự hình thành vũ trụ: vũ trụ ban đầu toàn là nguyên tử, các nguyên tử vận động theo hình xoáy ốc, trải qua quá trình vận động lâu dài các nguyên tử kết hợp lại với nhau tạo thành các đám mây nguyên tử, các đám mây nguyên tử thu hút nguyên tử to và nặng vào trung tâm

Ngày đăng: 14/07/2021, 20:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ts Cao Văn Liên: Phác thảo lịch sử thế giới, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo lịch sử thế giới
Nhà XB: NXB Thanh niên
3. Gs Lương Ninh (chủ biên) [2007]: Lịch sử văn hóa thế giới cổ trung đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa thế giới cổ trung đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Gs.Ts Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) [2007]: Lịch sử triết học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
5. Nghiêm Đình Vỳ (chủ biên) [2008]: Lịch sử thế giới cổ trung đại, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ trung đại
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
6. Khoa triết học, Học viện báo chí và tuyên truyền [2006]: Triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại
7. Hội đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác_ Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh[2008]: Giáo trình triết học Mác - Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w