Tôn giáo là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ buổi bình minh của nhân loại và tồn tại đến tận xã hội hiện đại ngày nay. Sinh hoạt tôn giáo là nhu cầu gắn bó chặt chẽ với đời sống văn hoá của mỗi dân tộc. Nó phản ánh rõ nét đời sống tâm lý của con người và các yếu tố tâm lý mang màu sác tôn giáo này lại có ảnh hưởng khộng nhỏ đến hoạt động thực tiễn của con người. Do vậy, việc nghiên cứu tôn giáo với tư cách là một hiện tượng xã hội quan trọng, thì không thể không tìm hiểu từ góc độ của khoa học tâm lý. Nếu coi nhẹ hoặc không quan tâm đến những khía cạnh tâm lý của tôn giáo, thì không thể lý giải được các đặc điểm và bản chất của hiện tượng xã hội đặc biệt này.
Trang 1MỞ ĐẦU
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ buổi bình minh của nhân loại
và tồn tại đến tận xã hội hiện đại ngày nay Sinh hoạt tôn giáo là nhu cầu gắn bó chặt chẽ với đời sống văn hoá của mỗi dân tộc Nó phản ánh rõ nét đời sống tâm lý của con người và các yếu tố tâm lý mang màu sác tôn giáo này lại có ảnh hưởng khộng nhỏ đến hoạt động thực tiễn của con người Do vậy, việc nghiên cứu tôn giáo với tư cách là một hiện tượng xã hội quan trọng, thì không thể không tìm hiểu
từ góc độ của khoa học tâm lý Nếu coi nhẹ hoặc không quan tâm đến những khía cạnh tâm lý của tôn giáo, thì không thể lý giải được các đặc điểm và bản chất của hiện tượng xã hội đặc biệt này Mặt khác, để biến tôn giáo thành lực lượng xã hội phục vụ cho những lợi ích chung của dân tộc và đất nước trong sự nghiệp đổi mới hiện nay và để hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực của nó, thì nhất thiết ta phải hiểu biết sâu sắc về đặc điểm và bản chất của tôn giáo, tức là chúng ta phải hiểu
biết những khía cạnh của tôn giáo ở tầng bậc sâu của thế giới nội tâm con người
-những khía cạnh tâm lý của nó
Vấn đề tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam luôn có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội có ảnh hưởng to lớn đến sự ổn định, tồn tại
và phát triển của đất nước Một trong những lĩnh vực cần được quan tâm hiện nay trong chính sách tôn giáo là xây dựng nhân cách tôn giáo phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, đúng quan điểm chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Để làm được việc này cần nghiên cứu làm rõ các yếu tố quy định sự hình thành nhân cách tôn giáo, từ đó là cơ sở nghiên cứu giải quyết hài hòa vấn đề tôn giáo ở nước ta hiện nay
Từ những vấn đề đặt ra trên tác giả lựa chọn vấn đề “Các yếu tố quy định sự hình thành nhân cách tôn giáo và những vấn đề đặt ra trong giải quyết vấn đề tôn giáo ở nước ta hiện nay” làm chủ đề tiểu luận.
3
Trang 2NỘI DUNG
1 Khái quát chung về nhân cách tôn giáo
Con người khi sinh ra chưa trở thành một nhân cách Để trở thành nhân cách, con người đó phải được sống và hoạt động trong môi trường xã hội, nói chính xác hơn là trong các nhóm xâ hội cụ thể Các nhóm này nhào nặn các cá nhân thành con người của xã hội hay chính là nhân cách Đối với nhân cách tôn giáo cũng như vậy, khi sinh ra, cá nhân chưa phải là nhân cách tôn giáo Để trở thành nhân cách tôn giáo con người đó phải sống và hoạt động, giao tiếp trong quá trình tác động tương hỗ với môi trường xã hội
1.1 Những đặc điểm tâm lý xã hội của nhân cách tôn giáo
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, mỗi khoa học có cách tiếp cận riêng của mình Tâm lý học tôn giáo nghiên cứu nhân cách của những người theo tôn giáo theo cách tiếp cận của tâm lý học xã hội Tức là, nghiên cứu nhân cách trong các nhóm xã hội cụ thể, trong quá trình xã hội hóa cá nhấn và thông qua các hình thức hoạt động cụ thể
Các đặc điểm tâm lý của người theo tôn giáo được thể hiện qua xu hướng của nhân cách Do vậy tìm hiểu xu hướng của nhân cách trở thành vấn đề trọng tâm của nghiên cứu nhân cách tôn giáo Xu hướng nhân cách tôn giáo thể hiện qua nhu cầu, động cơ của hành vi, tâm thế xã hội và các định hướng giá trị
* Nhu cầu tôn giáo
Nhu cầu là đòi hỏi tất yếu khách quan của con người cần được thỏa mãn về vật chất hay tinh thân để tồn tại và phát triển Nhu cầu là trạng thái của cơ thể, của
cá nhân hay của nhóm xã hội, phản ánh sự phụ thuộc của cá nhân hay nhóm xã hội
dó vào những điều kiện khách quan để tồn tại và phát triển Nhu cầu tôn giáo là sự
bổ sung, bù đắp những thiếu hụt, bất lực trước thực tế của con người
Qua các nghiên cứu về nhu cầu tôn giáo có thể phân ra bốn cách tiếp cận về
Trang 3vấn đề này: Tìm hiểu nhu cầu tôn giáo của cá nhân thể hiện trong niềm tin vào thần thánh, nhu cầu như kết quả của sự gặp gỡ giữa con người với thần thánh xảy
ra trong tâm hồn con người Đây là cách tiếp cận theo hướng "cơ thể"
Xem nhu cầu tôn giáo là đặc điểm đặc biệt đặc trưng của tâm lý con người Cách tiếp cận theo tâm trạng chủ quan
Xem nhu cầu tôn giáo là kết quả của những cảm xúc và khát vọng vô thức của con người Cách tiếp cận theo hướng sinh học
Xem nhu cầu tôn giáo là sự thỏa mãn các nhu cầu xã hội cụ thể của con người Cách tiếp cận từ môi trường xã hội
Cách tiếp cận thứ nhất, thứ hai, thứ ba là cách tiếp cận của tâm lý học phương Tây, cách tiếp cận thứ tư là của tâm lý học xôviết (cũ)
Nhu cầu tôn giáo là một dạng nhu cầu tinh thần của con người, nó thể hiện qua niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, niềm tin vào mối quan hệ hai chiều giữa tín đồ và thần thánh Nhu cầu tôn giáo của cá nhân, trước hết là nhu cầu trong hành
vi sùng bái - phương tiện thực hiện sự tác động giữa con người và thế giới hư vô Nhu cầu tôn giáo là nhu cầu thực hiện các nghi lễ tôn giáo, cầu nguyện tôn giáo
* Động cơ tôn giáo
Động cơ là những cái được con người phản ánh và trở thành động lực bên trong thúc đẩy con người tích cực hoạt động để thỏa mãn nhu cầu Động cơ tôn giáo là thành tố quan trọng trong xu hướng của nhân cách tôn giáo Khi tìm hiểu vấn đề này chúng ta thấy động cơ tôn giáo thể hiện ở hai khía cạnh: động cơ của niềm tin tôn giáo của cá nhân, tức là cái thúc đẩy cá nhân tin vào lực lượng, siêu nhiên Động cơ ở đây có thể là sự bất lực, sợ hãi, cầu mong, cứu vớt, hy vọng
Khía cạnh thứ hai là đông cơ của hành vi sùng bái tôn giáo, tức là cái gì đã thúc đẩy con người thực hiện các hành vi sùng bái thần thánh hay tồn giáo của mình Hai khía cạnh này không, đồng nhất với nhau, nhưng có liên hệ chặt chẽ với
5
Trang 4Các nhà xã hội học Ucraina khi nghiên cứu động cơ của tín đồ tôn giáo đã chia ra 6 loại động cơ cơ bản:
Tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu trí tuệ Những người có động cơ loại này cho rằng nhiều vấn đề của cuộc sống hiện nay khoa học chưa lý giải được và tôn giáo có thể giải quyết được các vấn đề của cuộc sống, Thượng đế là người sáng tạo
ra thế giới Số các tín đồ có động cơ loại này chiếm khoảng 4%
Tôn giáo hứa hẹn sẽ cứu vớt con người Các tín đồ có loại động cơ này cho rằng các thần thánh có thể cứu vớt họ trong hiện tại và cả sau khi chết Số tín đồ loại này chiếm hơn 16% số người được hỏi
Tôn giáo đem lại cảm xúc yên tâm, vui sướng Thông qua các hoạt động tôn giáo, họ có được cảm xúc yên tâm hơn, thanh thản hơn Số này chiếm khoảng 13% số người được điều tra
Tôn giáo là con đường hoàn thiện đạo đức Đây là động cơ của đa số các
tín đồ, chiếm 60% số người được hỏi Chẳng hạn, tôn giáo giáo dục con người làm điều thiện, không làm điều ác, yêu thương con người, không uống rượu, sát sinh, ngoại tình
Đề phòng bất trắc Động cơ này thể hiện sự yếu đuối, thiếu tự tin của con người Tin theo phong tục, truyền thống Nhiều người đến với tôn giáo là do gia đình,
bố mẹ đi theo tôn giáo, tin vào thần thánh tin và những điều thân linh thượng đế
Trang 5*Tâm thế xã hội và định hướng giá trị của xu hướng nhân cách tôn giáo
Tâm thế xã hội là sự chuẩn bị của cá nhân cho hành động trên cơ sở của
sự đánh giá nhất định Cấu trúc của tâm thế xã hội bao gồm 3 thành tố: nhận thức về khách thể, trạng thái cảm xúc về khách thể và ứng xử với khách thể Những nghiên cứu về nhân cách của tín đồ cho thấy tâm thế xã hội của tín đồ đóng vai trò bộ lọc đặc biệt (vai trổ lựa chọn) đối với hành vi của cá nhân và các thông tin từ môi trường xung quanh đến với cá nhân Kết quả nghiên cứu của M G Pismanhie cho thấy 6,5% số người được hỏi có niềm tin tôn giáo mà không bị ảnh hưởng của bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào (ti vi, đài, báo chí) và có 42,2% tin vào tôn giáo nhờ tác động của các kênh thông tin
Định hướng giá trị của những người theo tôn giáo trước hết là sự hướng đến những giá trị cơ bản của tín ngưỡng như: Thượng đế, Chúa Trời, thần thánh, Thiên đường kết quả của một số công trình nghiên cứu cho thấy định hướng giá trị cơ bản của nhiều tín đồ là hướng đến sự cứu thế sau cuộc sống
ở trần gian Theo họ cuộc sống trần gian mới chỉ là sự mở đầu, còn cuộc sống sau này (cuộc sống ở cõi âm) mới là cuộc sống vĩnh viễn và đó mới là cuộc sống phong phú, đầy đủ Điều này chúng ta có thể nhận thấy rất rõ ở các ẩn
sỹ, các thánh nhân, các nhà tu hành khắc khổ ở Ấn Độ Họ sẵn sàng hy sinh, chịu đựng mọi khó khăn gian khổ để được đến với thần thánh và thế giới cực lạc, sau khi từ biệt cuộc sống dương gian
1.2 Những yếu tố quy định sự hình thành nhân cách tôn giáo
Nhân cách nói chung là tổng hòa các phẩm chất xã hội của cá nhân được lĩnh hội trong hoạt động và giao tiếp, phản ánh giá trị xã hội của cá nhân trong cộng đồng Từ vấn đề đó có thể liên hệ nhân cách tôn giáo được hình thành trong quá trình cá nhân tham gia các hoạt động tôn giáo, hay đúng hơn
Trang 6là trong hoạt động và giao tiếp trong mội trường xã hội trong lĩnh vực hoạt động của tôn giáo
Nhân cách con người nói chung quá trình hình thành chịu sự chi phối của các yếu tố cả vể sinh lý và tâm lý Nhân cách tôn giáo hình thành cũng chịu sự quy định của các yếu tố quy định sự hình thành nhân cách nói chung gắn với đặc điểm hoạt động và giao tiếp trong môi trường xã hội của các hoạt động tôn giáo Có thể khái quát trên các yếu tố sau:
* Các đặc điểm sinh lý cá nhân
Các đặc điểm sinh lý của cá nhân chính là đối tượng nghiên cứu của một phân ngành quan trọng trong tâm lý học, đó là tâm sinh lý học Ta có thể dẫn ra ở đây một sơ đồ khá đầy đủ các đặc điểm sinh lý con người do nhà bác học Nga Anhiev đưa ra như sau: Các đặc điểm sinh lý của con người bao gồm hai nhóm lớn: thứ nhất là các đặc điểm về lứa tuổi và tình dục; thứ hai là những đặc điểm cá thể đặc trưng Nhóm thứ nhất bao gồm các quá trình phát triển và thay đổi về lứa tuổi trong sự lớn lên và trưởng thành của cá thể, cũng như quá trình phát triển tình dục của nó
Nhóm các đặc điểm thứ hai chia thành ba nhóm nhỏ: 1- các đặc điểm
về thể chất (cơ địa, các đặc điểm sinh hoá của cơ thể v.v…); 2- quá trình phát triển và hoàn thiện của hệ thần kinh, cùng với các đặc tính của nó; 3- các chức năng và sự bất đối xứng của hai bán cầu đại não
Các đặc điểm sinh lý nói trên chính là những điều kiện cơ sở để hình thành các quá trình tâm sinh lý nảy sinh và giải quyết những nhu cầu sống Một trong những dạng cao nhất, liên kết các đặc điểm sinh lý của cá nhân là khí chất và năng khiếu
Khí chất - đó là những nét đặc trưng, mang tính chất bẩm sinh, trong các đặc tính hoạt động của mỗi cá nhân như: cường độ, vận tốc, nhịp độ, nhịp điệu của các quá trình cũng như các trạng thái tâm lý Hai yếu tố quan trọng nhất của khí chất là hoạt độ và độ cảm xúc Hoạt độ biểu hiện qua mức độ của
Trang 7nghị lực xu hướng và tốc độ của hoạt động nhanh, linh hoạt; hay ngược lại, chậm chạp bảo thủ Độ xúc cảm được dùng để chỉ các tính chất của quá trình tình cảm, cảm xúc và trạng thái tâm lý, cũng như là nội dung của chúng, cụ thể là vui hay buồn, đau khổ hay sợ hãi, giận dữ hay tuyệt vọng v.v…
Năng khiếu được coi là những đặc tính bẩm sinh về giải phẫu và sinh lý học của hệ thần kinh và não Nó tạo nên cơ sở cho sự phát triển tài năng, năng lực con người nói chung
Về năng khiếu, cũng như về khí chất hiện chưa có một học thuyết nào xác định được rõ ràng nội dung cũng như cấu trúc của chúng Hơn nữa các học thuyết tâm sinh lý học cũng chưa chỉ rõ được việc cầu tạo hệ thần kinh ảnh hưởng cụ thể như thế nào tới khí chất và năng khiếu con người
Về bản chất mà nói các khái niệm nêu trên đều mang tính trực giác và kinh nghiệm, nhiều hơn là tính khoa học Tuy vậy, một điều không thể phủ nhận được là các đặc tính sinh lý của cá nhân ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách Nhiều nghiên cứu và thực nghiệm trong tâm lý học đã chứng minh những ảnh hưởng đó
Rõ ràng nhất, có thể nhận thấy là các tính chất sinh lý quyết định hình thức hoạt động của cá nhân cũng như mặt năng lượng của các quá trình tâm
lý Việc bỏ qua nhận định này đã dẫn tới sai lầm của nhiều nhà khoa học tự nhiên, khi cho rằng có thể điều khiển hành vi cá nhân một cách tuyệt đối theo
ý muốn, nhờ vào sự tác động của một số yếu tố bên ngoài nhất định Việc thất bại của một số cha mẹ học sinh muốn nhồi nhét kiến thức một cách áp đặt cho con cái mà không tính đến các đặc điểm nhận thức cũng như các đặc điểm tư duy của chúng cũng là một chứng minh nữa cho nhận định trên
Bên cạnh đó, các đặc tính sinh lý của cá nhân còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn hoạt động của con người Trở thành vận động viên, trở thành hoạ sĩ, nhà thơ, người lao động chân tay hay người lao động trí óc, một phần do các tác động ra xã hội, lòng mong muốn cũng như hướng dẫn đào tạo của môi trường
9
Trang 8khách quan, nhưng phần quan trọng hơn lại là những tố chất, năng khiếu, khí chất - những yếu tố bẩm sinh của con người Chúng ta có tự dạy thể dục, thể thao cho một em bé tật nguyền để bằng cách đó nâng cao sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần của em, nhưng chúng ta không thể biến em thành vô địch điền kinh hay nhà thể thao chuyên nghiệp nào khác Tương tự như vậy, một
em bé mù bẩm sinh không thể trở thành hoạ sĩ hay nhạc sĩ
Mặc dù vậy, đối với những đứa trẻ tật nguyền, chúng vẫn có thể mơ ước và thực sự chưa tự giới hạn phạm vi hoạt động của mình (dù là trong ý nghĩ) cho tới khi người ta nói với chúng về thể trạng cũng như các hạn chế của chúng Việc thông tin ngược lại các đặc điểm sinh lý của các cá nhân với
họ đã biến các đặc điểm đó trở thành những dấu hiệu mang tính tượng trưng Chính những dấu hiệu đó đóng vai trò điều chỉnh hành vi và nhân cách
Chiều ngược lại của thông tin về các đặc điểm sinh lý chính là cơ sở để con người học cách tự điều khiển các quá trình bên trong cơ thể mình Mặt khác, việc con người sử dụng các đặc điểm sinh lý của mình như những dấu hiệu hay phương tiện để tư điều chỉnh, tạo nên những nét đặc trưng hình thành một phong cách cá nhân riêng trong các hành vi cũng như ý thức hay tiềm thức
Với những nhận định trên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định vai trò của các đặc điểm sinh lý đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Tuy nhiên, việc nhấn mạnh một cách cực đoan các yếu tố sinh lý có thể làm
mờ nhạt bản chất xã hội của nhân cách
Trong các điều kiện xã hội và lịch sử cụ thể, các đặc điểm sinh lý nhất định có thể có tác động khác nhau tới sự phát triển của nhân cách Ví dụ đơn giản nhất ta có thể thấy là: nếu như đối với phụ nữ thời hiện đại, sự mảnh mai mang lại danh hiệu hoa khôi, thì đối với phụ nữ thời phục hưng, sự đầy đặn, tròn trĩnh của các đường nét mới mang lại cho họ sắc đẹp hoàn mỹ Tuy đó chỉ là cái đẹp có tính tương đối, nhưng nó có ảnh hưởng không nhỏ tới định
Trang 9hướng giá trị, ý thức về bản thân cũng như hành vi ứng xử của nhiều phụ nữ, tạo nên những nhân cách khác nhau Đó chính là một trong những ảnh hưởng của yếu tố xã hội, quan hệ xã hội lên nhân cách
* Yếu tố xã hội
Các thành viên của các nhóm xã hội, các dân tộc thường mang một số đặc tính riêng trong hành vi và cách ứng xử đặc trưng cho nhóm, cho dân tộc của mình, mà nhiều khi chính họ không ý thức được điều đó Trong đời thường, cũng như trong ngôn ngữ khoa học, chúng ta thường gặp những nhận xét như: người Nhật rất cần cù, yêu lao động, người Đức ưa chính xác và tiết kiệm, v.v… Những nhận xét này có thể đúng, hoặc sai Nhưng một khi những nhận xét đó đã được nghiên cứu và chứng minh bằng các phương pháp khoa học thì chúng được gọi là tính cách xã hội khi nói về một nhóm xã hội, hoặc tính dân tộc khi nói về một dân tộc
Như vậy nhân cách hình thành trong một nhóm, trong một xã hội hay trong một dân tộc, nhất định sẽ có những hành vi và những đặc tính rập khuôn theo một số chuẩn mực của nhóm, của xã hội hay dân tộc đó Mặt khác, trong quá trình phát triển của nhân cách ở môi trường xã hội luôn thay đổi, nhân cách buộc phải đối diện với những bước ngoặt lớn và điều đó sẽ thúc đẩy quá trình hình thành những chuẩn mực giá trị mới, những phong cách sống mới, những tâm thế mới, những phương thức hành vi mới v.v…
Trong số những thay đổi mang tính chất bước ngoặt đối với nhân cách,
có ba thay đổi đáng được nhắc tới nhất Thứ nhất là sự thay đổi về lứa tuổi, ví
dụ, từ trẻ con qua dậy thì sang tuổi thanh niên, từ thanh niên trở thành người đứng tuổi và từ người đứng tuổi bước sang tuổi già Chúng ta thường gặp những hành vi, ứng xử bị coi là không phù hợp với lứa tuổi
Bước ngoặt thứ hai đáng nói tới trong quá trình phát triển nhân cách là việc thay đổi vị trí và cương vị xã hội Khi các quyền hành, nghĩa vụ cùng các quyền lợi gắn liền với cương vị cũ đã thay đổi, nhân cách buộc phải làm quen
11
Trang 10với các quyền hành, nghĩa vụ và quyền lợi mới Việc này nhiều khi là nguyên nhân của các xung đột liên nhân cách hoặc ngay trong nội tâm nhân cách, thậm chí gây ra rối loạn nhân cách Vấn đề chuẩn bị trước về tư tưởng cho việc thay đổi vị trí xã hội và thái độ mọi người xung quanh; đối với việc thay đổi vị trí này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thích nghi của nhân cách với cương vị xã hội mới của mình
Một sự thay đổi nữa, có ý nghĩa lớn đối với nhân cách cũng cần được nhắc tới ở đây là việc nhân cách rời bỏ nhóm xã hội cũ và tham gia vào nhóm
xã hội mới Ví dụ, thay đổi cơ quan làm việc, thay đổi nhóm, tầng lớp xã hội v.v…
Nói tóm lại, việc nghiên cứu các ảnh hưởng của yếu tố xã hội tới nhân cách được coi như nhu cầu phát hiện các quy luật phát triển của những cá nhân thay đổi trong môi trường thay đổi Các điều kiện xã hội và cùng với nó
là các điều kiện lịch sử, văn hoá, dân tộc có tác dụng định hướng và thúc đẩy
sự phát triển của nhân cách
* Các đặc điểm tâm lý của cá nhân
Khi nói tới nhân cách, yếu tố tâm lý thường bị xét theo một trong hai thái cực: hoặc là nó bị bỏ rơi, xem nhẹ và dường như vai trò của nó trong việc hình thành nhân cách bị lu mờ đi so với yếu tố sinh lý và yếu tố xã hội đã nói
ở trên; hoặc là nó được coi là chính nhân cách Điều thứ hai này có thể hiểu được vì lý do: các đặc điểm tâm lý, như các nhu cầu, động cơ cá nhân, xu hướng các nhân, tính cách là nội dung cơ bản của nhân cách; qua chúng nhân cách được cụ thể hoá
Nhân cách đôi khi bị nhầm lẫn với tính cách Tính cách được các nhà tâm lý học Xôviết hiểu cụ thể hơn và họ đưa ra một khái niệm khá đầy đủ về tính cách như sau: Tổng hợp những đặc tính bền vững của cá nhân được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của cá nhân - gọi là tính cách Tính cách của con người thể hiện tính nhất quán của nhu cầu và sở thích, những khát