Phật giáo được Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ VI TCN. Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi Đức Phật còn tại thế ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Châu Âu
Trang 1MỞ ĐẦU 2
II CON ĐƯỜNG DIỆT TRỪ BẤT GIÁC, ĐI ĐẾN CỨU CÁNH
2.1 Cứu cánh giác và bản chất của cứu cánh giác 7 2.2 Con đường đoạn trừ bất giác, đi đến cứu cánh giác 9
MỤC LỤC
Trang
Trang 2MỞ ĐẦU
Phật giáo được Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền
bắc Ấn Độ vào thế kỷ VI TCN Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi Đức Phật còn tại thế ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học Ngay từ buổi đầu, Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Châu Âu Sở dĩ có được sự phát triển đó bởi vì triết lý Phật giáo được khởi đầu từ sự Giác ngộ,
và tìm ra con đường giác ngộ, để mọi người trước tiên có được một cuộc sống
an nhiên, tự tại giữa đời thường, sau đó là sự tu tập để đi đến hạnh phúc vĩnh cửu giữa thiên thu
Hầu hết mọi người đều nghe rằng, Đức Phật đã giác ngộ và các tu sĩ
tìm kiếm sự giác ngộ Nhưng ý nghĩa của nó là gì? Trong văn hoá phương Tây, vào thể kỷ 18, từ “giác ngộ” thường gắn liền với tri thức và kiến thức Còn sự giác ngộ trong Phật giáo là một cái gì khác và có thể đó là một trong những khái niệm khó giải thích nhất chỉ khi nào chúng ta tự tìm tòi, tự mày
mò, nghiên cứu và thực hành như một quá trình dò đá qua sông mới có thể hiểu cặn kẽ được Trước tiên, nó phải là một quá trình mà con đường để đi đến đó phải là sự đoạn trừ tất cả bất giác trong tâm mỗi chúng ta
Trang 3NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÀN VỀ GIÁC NGỘ VÀ BẤT GIÁC
1.1 Giác ngộ và bản chất của giác ngộ
Giác ngộ là một từ Hán-Việt (H: 覺悟) có nghĩa là: tỉnh ra mà hiểu rõ Giác có nghĩa là: tỉnh dậy, cũng như trong câu thơ “Giác lai vạn sự tổng thành hư” (Tỉnh ra vạn sự cũng là không) của Nguyễn Trãi Giác ngộ tiếng Pháp (F)
là éveil, hay illumination; tiếng Anh (E) là awakening, hay enlightenment; bao hàm ý nghĩa: bừng tỉnh và chói lòa ánh sáng.Tiếng Pali (P) và Sanskrit (S) là: bodhi (phiên âm là bồ-đề) Bodhi cũng như Buddha phát xuất từ tiếng gốc bud, là: hiểu biết
Giác ngộ, bodhi là nhờ ở trí tuệ (hay trí huệ) Bát-nhã (P: paññā, S: prajñā, H: 智慧般若,Trí huệ Bát-nhã), là sự hiểu biết không phải chỉ bằng trí thức, lý luận, mà bằng sự cảm nhận sâu xa, bằng kinh nghiệm sống trực tiếp
Do đó, giác ngộ cũng còn gọi là tuệ giác (H: 慧覺)
Với Đức Phật, chính là giác ngộ, Người nhận ra được chân lý, đỉnh cao của trí tuệ, người khám phá ra được chân lý mà người bình thường nếu không
tu tập, không thể nhận ra được Sự giác ngộ của Đức Phật hoàn toàn khác với chúng sinh chúng ta, giác ngộ của Người là giác ngộ tuyệt đối Đức phật đã đạt được mục đích tối cao của giác ngộ là thành Phật Quá trình đó là quá trình Người bỏ kinh thành sang trọng, đi đến các vương quốc khác tìm đạo và học đạo, khi đạt được tứ thiền Ngài vẫn không hài lòng, khi đạt được tứ không thiền Ngài cũng vẫn cho rằng đó chưa đạt được mục đích tối thượng Ngài vẫn chưa tìm được con đường giải thoát, không nhận chân được con đường tìm chân lý Cuối cùng vào thứ đêm 49 của việc ngồi thiền Ngài đã giác ngộ Kể từ giác ngộ đó tỏa ra cho đạo phật giữa cõi bồ đề, nơi khởi điểm
Trang 4của ánh sáng tuệ giác thực sự Cây bồ đề Ngài ngồi cũng có tên là sự kiện giác ngộ của Đức phật:
Như vậy theo qua điểm của Phật giáo Đại thừa, Đức Phật chính là người vô sự tự ngộ, Đức Phật đã nói lời trong kinh Pháp Cú “ ta đã biết được tất cả, ta đã hàng phục tất cả, ta xa lìa hết thảy, ta không nhiễm một phát nào,
tự diệt dục, chúng độ và giải thoát, thì không có ai là thày ta Ngài đã là những người thầy không có ai cao hơn
Nội dung của giác ngộ
Theo các câu chuyện kể lại về kinh nghiệm giác ngộ, rất ít khi xảy ra trong giới Tăng sĩ cũng như cư sĩ, thì không ai mô tả được rõ ràng nội dung hay lộ trình giác ngộ của mình
Chỉ có một vài điều thường được ghi nhận là:
1) đó là một kinh nghiệm mãnh liệt, phi thường;
2) đột xuất và hạn chế trong thời gian;
3) không có nguyên do thúc đẩy rõ rệt (như nghe một tiếng trống, một tiếng hét, hay bị véo mũi, bợp tai…), và do đó rất ít khi lặp lại
Trong Thiền tông, đã có những đề nghị phân biệt “tiểu ngộ” và “đại ngộ”, cũng như “tiệm ngộ” và “đốn ngộ”; với những dòng Thiền chủ trương “tiệm ngộ” (phía Bắc, theo sư Thần Tú, rồi dòng Tào Động-Caodong) và những dòng Thiền chủ trương “đốn ngộ” (phía Nam, theo sư Huệ Năng, rồi dòng Lâm Tế-Linji)
Một nhầm lẫn thông thường là sự lẫn lộn giác ngộ với giải thoát, tức là tưởng lầm rằng một khi đã giác ngộ rồi thì tự nhiên sẽ được giải thoát Khái niệm giải thoát (P: mokkha, S: mokṣa, H: 解脱, giải thoát) đã có trước Đức Phật, và rất phổ biến trong văn hóa cuối Veda và Upanishad tại Ấn Độ Theo truyền thống này, giải thoát là thoát ra khỏi vòng tái sinh-luân hồi (S:
Trang 5saṃsāra) Trong khi trong đạo Phật, giải thoát chủ yếu là giải thoát khỏi sự khổ đau (P: dukkha, S: duḥkha) do phiền não, lậu hoặc
Giáo lý của Đức Phật gồm có:
1) Bốn sự thật thánh thiện (P: cattāri ariya-saccāni, H: 四圣谛 tứ thánh đế) là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ;
2) Ba dấu ấn của sự vật (P: tilakkhaṇa, H: 三 法 印 tam pháp ấn) là vô thường, vô ngã và khổ; và
3) Duyên khởi (P: paṭicca-samuppāda, H: 緣 起 ), là sự tương quan, tương duyên, tương hữu giữa mọi sự vật
Đó là những sự thật mà Đức Phật đã giác ngộ ra và giảng dạy và người
ta mới theo đó mà tu tập, theo con đường chánh tám nẻo (P: aṭṭhāṅgika-magga), thuộc vào ba môn tu học là: giới (P: sīla), định (P: samādhi), huệ (P: paññā) Phải hiểu biết rồi mới thực hành được Như vậy, phải giác ngộ rồi mới giải thoát được
Đạo Phật cũng quan niệm rằng có nhiều mức độ giác ngộ, cũng như có nhiều mức độ giải thoát Càng thực hành, hành giả càng hiểu sâu hơn, cũng như càng tiến xa, người ta càng thấy rõ hơn con đường đi Cho đến khi đạt được giác ngộ, giải thoát hoàn toàn
Vì thế cho nên trên con đường tu tập, con người thánh thiện (P: ariya-puggala) phải tuần tự đi qua tám giai đoạn đạo/quả: bắt đầu từ Nhập lưu (P: sotāpatti hay sotāpanna) tức là “đi vào dòng sông”, sau đó tới Tư-đàhàm (P: sakadāgāmi), “chỉ trở lại một lần”, rồi tới A-nahàm (P: anāgāmi), “không bao giờ trở lại”, và cuối cùng A-la-hán (P: arahant), tức là đã “giải thoát hoàn toàn”
Quan điểm Phật giáo Đại thừa đã chỉ rõ: “Tâm trong trạng thái sinh và diệt nguồn từ bào thai Như Lai.Bản chất của không sinh, không diệt [và cái gọi là sinh diệt vốn không thống nhất cũng không dị biệt, và đó chính là thức a-lại-da Thức a-lại-da có hai chức năng tổ chức (năng nhiếp) và chế tạo (năng
Trang 6sinh) hạt giống của các sự vật, đồng thời, bao hàm hai nguyên lý giác ngộ và chưa giác ngộ”
Giác ngộ là tính chất cao nhất của tâm,thoát khỏi mọi thuộc tính phân biệt Tính chất vượt lên trên sự phân biệt được sánh đồng với hư không,không
có gì là không phủ khắp, là sự thống nhất của thế giới hiện tượng và cũng chính là pháp thân bình đẳng của Như Lai Pháp thân này chính là sự giác ngộ sẳn có Cái được gọi là “giác ngộ sẳn có” được dùng đối nghĩa với giác ngộ mới có
Giác ngộ được nguồn tâm được gọi là giác ngộ tuyệt đối Nói cách kháckhông giác ngộ được nguồn tâm thì không có được giác ngộ tuyệt đối Cũng giống như một người phàm ý thức được lỗi lầm trong các tâm niệm trước nên đã không tái hiện trong các tâm niệm sau đó Có thể gọi đó là giác ngộ nhưng thật chất vẫn là bất giác
1.2 Bất giác và bản chất của bất giác
Phật giáo Đại thừa khẳng định: “Do không thật biết pháp "Chơn như" nên tâm bất giác (mê) nổi lên, liền khởi vọng niệm (sanh tướng vô minh) Song vọng niệm vì là không có thật thể, nên chẳng rời Bản giác Thí như người lầm phương hướng; vì có phương hướng nên mới lầm, nếu không phương hướng thì không có lầm Chúng sanh cũng thế, do có "Giác" nên mới co "Mê"; nếu không có "Giác" thì cũng không có "Mê" (Bất giác) Song chúng sanh cũng nhờ có "Tâm vọng tưởng bất giác" này, nên mới biết phân biệt danh từ và nghĩa lý của các pháp Và cũng nhờ thế mà chư Phật mới có thể vì chúng sanh nói ra "Chơn giác" (tánh Phật) Nếu lìa "Tâm bất giác" thì cũng không thể chỉ bày cái "Chơn giác" được (dụ như lìa sóng không
có nước)”
Như vậy: Bất giác chính là trạng thái không giác ngộ hoặc đi ngược lại
sự giác ngộ, do thái độ vọng tưởng phân biệt chủ quan và nhị nguyên
Trang 7Theo Khởi Tín Luận, tất cả các hoạt dụng giác ngộ đối trị, thay thế xấu ác
bằng thiện ích vẫn chưa được gọi là giác ngộ thật sự Tiến trình và con đường hướng đến giác ngộ vẫn được xem là bất giác, cho đến khi được giác ngộ hoàn toàn mới hết bất giác Bất giác có mặt trong tiến trình con người và chúng sinh không nhận diện được và không sống với tiềm năng Phật tính sẳn
có trong tâm, cho nên chấp nhận bị chìm đắm trong vô minh và phiền não Tấm màn ngăn cách của bất giác sẽ được vén lên khi tiến trình tu tập đã hoàn tất phần thuỷ giác, hoàn nguyên với bản giác
Bản giác biểu trưng cho cái không động Nay động nên gọi là bất giác Bất giác thì khởi niệm Niệm này là do bản giác vọng động mà có, nên nó không có tự thể riêng mà thể của nó chính là bản giác, nên nói “Niệm không có
tự tướng, chẳng lìa bản giác” Như sóng lăn tăn từ nước mà có, thể của nó vẫn
là nước Có bất giác nên có niệm tưởng, có niệm tưởng nên có ngôn từ, văn tự DANH là chỉ cho tướng, hình thức NGHĨA là chỉ cho nội dung, tính chất, ý nghĩa Cũng như từ chân như, lập ra CHÂN GIÁC vì có bất giác Bất giác đã không thì chân giác cũng chẳng thể nói Bởi nó là thứ không năng giác
II CON ĐƯỜNG DIỆT TRỪ BẤT GIÁC, ĐI ĐẾN CỨU CÁNH GIÁC
2.1 Cứu cánh giác và bản chất của cứu cánh giác.
Cứu cánh giác: Có thể dịch là giác ngộ tuyệt đối, giác ngộ trọn vẹn,
giác ngộ toàn mãn, giác ngộ hoàn toàn Đây là cấp độ giác ngộ cuối cùng
trong các cấp độ giác ngộ khác nhau, được trình bày trong Khởi Tín Luận Cứu cánh giác là giác ngộ quả vị Phật, giác ngộ khi thuỷ giác hoàn tất tiến trình hoàn nguyên với bản giác Khởi Tín Luận định nghĩa cứu cánh giác
là giác ngộ được nguồn tâm, từ căn nguyên bất sinh bất diệt, đối lập với các hoạt dụng của nó trong tiến trình sinh tử Giác ngộ tuyệt đối là giác ngộ cùng tột, vượt qua các giác ngộ của hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát sơ tâm,
Trang 8Bồ-tát thập địa và Bồ-tát mãn thập địa Trong trạng thái giác ngộ cứu cánh, các bồ-tát địa tận đã trải qua các giai đoạn tu chứng của mười địa, hoàn tất việc hành trì các pháp phương tiện, nhận rõ được chân tâm thường trú, đạt
được trạng thái tâm thể nhất như và giải phóng tất cả các ý niệm phân biệt vi
tế nhất.
Trong thế giới hiện tượng, nếu chúng sinh có khuynh hướng sống quên mất chân tâm thường trú, thể tính tịnh minh nên trôi lăn trong sinh tử luân hồi với nhiều mê muội và thất niệm, thì khi hành giả giác ngộ được bản chất tạm
bợ của các hạnh phúc giác quan, hồi tâm hướng trí, dụng công tu tập để chuyển hoá tất cả các hạt giống khổ đau Lúc ấy, hành giả đang trên con đường giác ngộ và giải thoát Giải thoát thực ra là trạng thái khi con người nhận ra được ở mình có tiềm năng và sống với chất liệu giác ngộ tuyệt đối đó, chứ không chỉ đơn thuần là sự mơ tưởng Như vậy, giác ngộ thật chất là sự quy nguyên và hợp nhất giữa bản giác và thuỷ giác Nếu thuỷ giác là sự trở về với bản giác thì giác ngộ tuyệt đối chính là sự hợp nhất tuyệt đối giữa thuỷ giác và bản giác
Sự giác ngộ tuyệt đối theo tổ Mã Minh không gì khác hơn là giác ngộ được nguồn tâm với tính căn nguyên, duyên khởi và các biểu hiện tuỳ duyên của nó trong quá trình sinh tử của chúng sinh trong luân hồi Giác ngộ nguồn tâm là sự chuyển hoá tất cả các hạt giống tiêu cực và phàm phu của tâm thành hạt giống tích cực, thánh hoá và siêu thế của tâm Lúc ấy, trong kho tàng tâm thức của con người chỉ còn thuần lại các hạt giống vô vi và vô lậu Mọi cử chỉ, lời nói, việc làm và cách ứng xử của con người sẽ trở nên thuần thiện
Tiến trình chuyển hoá này bắt nguồn từ nhận thức sáng suốt rằng trong tâm ta còn tồn đọng các hạt giống tâm lý bất thiện Các tâm lý bất thiện này khống chế và ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ và nhận thức của con người Khi
bị ảnh hưởng tiêu cực tác động, con người ứng xử với các tâm niệm bất thiện, khổ đâu theo đó xuất hiện.Giác ngộ, do đó, trước nhất là sự ý thức về các bất
Trang 9toàn này và trong ý thức chánh niệm đó, con người nêu quyết tâm không tái hiện chúng trong tương lai Duy trì trạng thái tỉnh thức này thường xuyên và không gián đoạn, hành giả sẽ cận kề với sự giác ngộ
Mặc dù tiến trình nhận dạng phiền não và sống với chánh niệm tỉnh thức là con đường hướng về giác ngộ, nhưng sẽ là một sai lầm nếu chúng ta đồng hoá nó với giác ngộ Ngoài trừ đến lúc giác ngộ có mặt trọn vẹn, lúc đó, con người vẫn được liệt vào hạng bất giác Cũng giống như cái gì giống hình tròn và cái gì hơi tròn tròn đều không phải là hình tròn đích thực Cái gì không thuộc giác ngộ trọn vẹn và tuyệt đỉnh, cái đó thuộc về bất giác Theo cách hiểu này, tất cả các thành quả giác ngộ của các bậc A-la-hán và Bồ-tát đều thuộc về bất giác Tuỳ theo cấp độ của phản bổn hoàn nguyên với bản giác, thuỷ giác được hình thành theo từng cấp độ giác ngộ, từ thấp đến cao, lệ thuộc vào đối tượng được nhận thức và chuyển hoá
2.2 Con đường đoạn trừ bất giác, đi đến cứu cánh giác
Bản chất của người phàm theo tổ Mã Minh là do không giác ngộ được các ý niệm xấu ác tồn tại trong tâm thức và do đó đã sống với các hành vi hại mình và hại người, ở hiện tại và tương lai Để lột xác phàm và não trạng phàm phu, điều tiên quyết là hành giả phải giác ngộ được niệm ác và tất cả vọng tưởng điên đảo Có lẽ pháp môn thiền tri vọng đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của
tư tưởng giác ác niệm này Nhờ giác ngộ các niệm ác, con người không còn sát sanh, trộm cướp, tà hạnh, nói sai sự thật, sử dụng các chất gây say Giác ác niệm chỉ mới là 1/3 tiến trình tu tập Hai phần ba còn lại là sống với niệm thiện và giữ trạng thái tâm luôn được thanh tịnh để ba nghiệp luôn được thuần tịnh Do vậy, giác niệm ác vẫn chưa đủ sức để vượt thoát khỏi sự ảnh hưởng xấu của nghiệp lực phiền não trong quá khứ Nói khác, nó chỉ mới giúp hành giả ngưng nghỉ được sự tác tạo bất thiện mà thôi Có thể sánh ví giác niệm ác chỉ là “hồi đầu” còn đến được bờ phải nhờ vào nhiều công phu tu tập
Trang 10Các đây 2000 năm, phong trào Đại thừa, với sự xuất hiện của nhiều bộ Kinh và Luận mới, đã mang lại nhiều đổi thay so với đạo Phật nguồn gốc, trong đó có quan niệm về giác ngộ Đầu tiên, cùng với sự thay thế lý tưởng A-la-hán bằng lý tưởng Bồ-tát (P: bodhisatta, S: bodhisattva, H: 菩 薩 ), giác ngộ cũng trở thành mục đích chính yếu so với giải thoát Và quan trọng hơn nữa là đối tượng của giác ngộ Giác ngộ là hiểu trọn vẹn, thấu triệt sự thật, nhưng đó là sự thật nào? Dựa lên quan điểm của Nāgārjuna (Long Thụ)
“Giáo lý của Đức Phật được giảng theo hai sự thật: ‘sự thật theo qui ước’ (saṃvṛti-satya, tục đế), và ‘sự thật tối hậu’ (paramārtha-satya, chân đế)”5 , các Tổ Đại thừa cho rằng có một sự thật tuyệt đối và đặt mục đích là đạt được sự thật tuyệt đối đó Đồng thời họ cũng dựa lên khái niệm trong đạo Phật nguồn gốc gọi là “sự thật như là” (yathā-bhūta) để tạo nên khái niệm Chân như (S: tathātā, H: 真 如 , F: ainsité, E: suchness), chỉ định sự thật tuyệt đối, không thể diễn tả, nghĩ bàn, mà chỉ có thể gọi là “như là”6 Như vậy, một số khái niệm đã được triển khai trong các kinh Đại thừa là: tự tánh (S: svabhāva, H: 自 性 ), Phật tánh (S: buddhatā, H: 佛 性 ), Như Lai tạng (S: tathāgatagarbha, H: 如来蔵), Pháp giới (S: dharmadhātu, H: 法界), cùng với A-lại-da thức (S: ālayavijñāna; H: 阿賴耶識) của trường phái Duy Thức (S: Yogācāra, H: 唯 識 ) Tất cả đồng nghĩa với sự thật tuyệt đối, bao gồm luôn cả Chân như và Không (S: śūnyatā; H: 空性 không tánh), và kèm theo một phương trình đặc biệt là “Chân không diệu hữu”
Nhưng quan niệm có một tự tánh, một thực thể biệt lập, thường còn, như vậy là đi ngược lại với quan điểm nisvabhāva (không có tự tánh) của Đức Phật và của Nāgārjuna, đồng nghĩa với “không”, “vô ngã” và “duyên khởi”!
hư vậy, trong hai thí dụ kinh nghiệm giác ngộ dẫn trên (Đức Phật
Thích-ca thành đạo sau khi thiền định dưới gốc cây bồ-đề, và Thiền sư Vô Môn Huệ Khai hốt nhiên chứng ngộ), chúng ta có thể nghĩ rằng: