Sự nghiệp phát triển kinh tế của Quỳnh Lưu trong giai đoạn 1996 -2009 không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học góp phần làm sáng tỏ lý luận vềcông cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
-*** -Hoàng thị hồng văn
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyển biến về kinh tế ở huyện
quỳnh lu – Nghệ An trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa (1996 – 2009)
Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam
Trang 2được những khó khăn, thử thách và giành được nhiều tháng lợi lớn Đó là:Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, củng cốquốc phòng, an ninh, phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, tham gia tíchcực vào đời sống cộng đồng quốc tế Mặc dù vậy công cuộc đổi mới chúng
ta còn có những khuyết điểm và yếu kém Nước ta đã ra khỏi khủng hoảngkinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc
Đại hội VIII (22/6 - 1/7/1996) của Đảng cộng sản Việt Nam đã tổngkết, đánh giá, rút bài học kinh nghiệm trong gần 10 năm (1986 - 1995) và đề
ra chủ trương đưa nước ta chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đạihóa, xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, văn minh
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân huyện Quỳnh Lưu (NghệAn) đã nhanh chóng tiếp thu và vận dụng một cách có hiệu quả những chủtrương, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thểcủa địa phương Với sự nỗ lực vươn lên trong 13 năm tiến hành công cuộccông nghiệp hóa - hiện đại hóa (1996 - 2009), huyện Quỳnh Lưu đã cónhững chuyển biến đáng mừng trên tất cả các lĩnh vực mà nổi bật nhất làkinh tế Trên địa bàn huyện, có khá nhiều cụm, khu công nghiệp quy mô,đáng kể là Khu công nghiệp Đông Hồi, Nhà máy xi măng Hoàng Mai, Nhàmáy gạch Tuynen, Cảng cá Lạch Quèn, Khu du lịch biển Quỳnh Phươngđược đầu tư vốn và khoa học công nghệ hiện đại Hiện nay, huyện đang từngbước xây dựng, quy hoạch khu công nghiệp Nam Thanh - Bắc Nghệ
Sự nghiệp phát triển kinh tế của Quỳnh Lưu trong giai đoạn 1996
-2009 không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học góp phần làm sáng tỏ lý luận vềcông cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta mà còn có giá trị về mặtthực tiễn, đó là nâng cao đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần chonhân dân Trên cơ sở đó, rút ra những giải pháp và bài học kinh nghiệmtrong quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện QuỳnhLưu
Trang 3Với những lý do trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Chuyển biến
về kinh tế ở huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa (1996 - 2009)” làm khóa luận tốt nghiệp
và tính thực tiễn Trên bình diện cả nước cho đến hiện nay có một số tài liệunghiên cứu sự phát triển kinh tế trong quá trình thực hiện chủ trương côngnghiệp hóa - hiện đại hóa của Đảng
- Trong cuốn “Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam” do NXB Chính trị
QG xuất bản năm 2004 đã nêu lên những thành tựu tiến bộ và hạn chế,khuyết điểm của đất nước từ khi thực hiện chủ trương công nghiệp hóa -hiện đại hóa, trong đó đã đề cập đến những thành tựu về kinh tế của cả nước
từ năm 1996 đến năm 2004
- Cuốn giáo trình “Đại cương lịch sử Việt Nam tập III” do Lê Mậu
Hãn chủ biên, NXB giáo dục, năm 2005 Nội dung tác phẩm ít nhiều đã đềcập đến kinh tế đất nước thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (1996 –2005)
- Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản ViệtNam: văn kiện Đại hội VII, VIII, IX, X, đã tổng kết những thành tựu, tiến bộ
và vạch ra những yếu kém tồn tại, khuyết điểm của việc thực hiện nhữngnhiệm vụ, mục tiêu mà các Nghị quyết của các Đại hội đó đề ra
Ở phạm vi địa phương, đây là vấn đề mới mẻ chưa được sự quan tâmnghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống của các nhà nghiên cứu Tản mạntrong một số tài liệu cũng đã đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề Tiêu
Trang 4biểu có:
+ Đề cương giới thiệu Nghị quyết của Hội nghị Đảng bộ tỉnh Nghệ Ankhóa XIV (1996 - 2000), khóa XV (2001 - 2005) trong đó đã trình bày tìnhhình kinh tế của tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Quỳnh Lưu nói riêng chođến năm 2000
+ Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu từ 1930 - 2000” do
Huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện Quỳnh Lưu biên soạn, NXB chính trịquốc gia, Hà Nội 2000 Đây là một công trình nghiên cứu quá trình pháttriển của Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu từ khi ra đời (1930) cho đến nay Nộidung của tác phẩm ít nhiều đề cập đến thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đạihóa của huyện, trong đó có điểm qua một số nét về kinh tế huyện QuỳnhLưu từ năm 1996 đến năm 2000
+ Cuốn “Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu” của tác giả Ninh Viết Giao,
NXB Nghệ An, 2008 Cuốn sách là một bản điều tra xã hội học về các mặtchủ yếu của Quỳnh Lưu như cư dân, dấu vết lịch sử, văn hóa, giáo dục, cácđơn vị hành chính Có đề cập về kinh tế dưới góc độ khái quát về nghềnghiệp trồng trọt, chăn nuôi, các nghề thủ công truyền thống và đánh bắtthủy hải sản vùng biển Quỳnh Lưu
- Thành tựu về phát triển kinh tế của huyện Quỳnh Lưu trong nhữngnăm gần đây còn được đề cập nhiều trong các báo cáo, tổng kết theo từngthời gian, nhiệm kỳ của các ban ngành, trong các văn kiện Đại hội Đảng bộhuyện Quỳnh Lưu qua các nhiệm kỳ từ khóa XXII đến khóa XXV Đây lànguồn tài liệu quan trọng của đề tài
Tôn trọng kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi hyvọng với nguồn tài liệu phong phú, đáng tin cậy, có thể tái hiện được bứctranh về sự chuyển biến kinh tế của huyện Quỳnh Lưu trong công cuộc côngnghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước (1996 – 2009) Trên cơ sở đó, rút ranhững giải pháp và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện công
Trang 5nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Quỳnh Lưu.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu chuyển biến về kinh tế của huyệnQuỳnh Lưu từ 1996 - 2009 Tuy nhiên để làm sáng rõ quá trình chuyển đổikinh tế của huyện từ năm 1996 đến năm 2009, trong quá trình thực hiệnchúng tôi còn trình bày một số nét về tình hình kinh tế của cư dân QuỳnhLưu trước công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa Ngoài ra theo lôgíclịch sử, chúng tôi nghiên cứu chuyển đổi kinh tế ở huyện Quỳnh Lưu trong
xu thế chung của toàn tỉnh, từ đó so sánh sự chuyển biến kinh tế giữa cácthời kỳ, tác động đến đời sống văn hóa - xã hội của cộng đồng dân cư cũngnhư những giải pháp, bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển kinh tếcủa Quỳnh Lưu trong những năm tiếp theo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu chuyển biến về kinh tế của huyệnQuỳnh Lưu thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa tức là từ năm 1996 đếnnăm 2009
Về mặt không gian: Nghiên cứu sự chuyển kinh tế trên toàn bộ địabàn huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) gồm 41 xã và 2 thị trấn
Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tài liệu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài “Chuyển biến về kinh tế huyện
Quỳnh Lưu – Nghệ An trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa (1996 - 2009)” chúng tôi tập trung khai thác các nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu thành văn : Tài liệu chuyên khảo của các tác giả viết về thời
kỳ đổi mới ở các khía cạnh khác nhau Các văn kiện của Đảng cộng sản ViệtNam từ Đại hội VII đến Đại hội X Các báo cáo của huyện ủy, ủy ban nhân
Trang 6dân huyện Quỳnh Lưu và các tài liệu viết về lịch sử kinh tế - xã hội, conngười Quỳnh Lưu.
- Nguồn tài liệu điền dã: Đó là quá trình chúng tôi trực tiếp trao đổi vàtiếp thu ý kiến của các đồng chí lãnh đạo các cấp ở huyện Quỳnh Lưu vềnhững vấn đề thuộc đề tài nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứusau đây:
Phương pháp chuyên ngành gồm: Phương pháp lịch sử và phươngpháp lôgic
Phương pháp liên ngành gồm: Phương pháp thống kê, đối chiếu, lậpbảng so sánh, tổng hợp và điền dã lịch sử
Phương pháp luận sử học Macxit, tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm sử học của Đảng cộng sản Việt Nam là sợi chỉ đỏ xuyên suốt luận vănnày
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài đã giải quyết được những vấn đề sau:
- Đề tài đã nghiên cứu một cách hệ thống những chuyển biến tích cực
về mọi mặt trong đời sống kinh tế của cư dân huyện Quỳnh Lưu từ năm
1996 – 2009 từ đó góp phần khẳng định sự đúng đắn và sáng tạo của đườnglối công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Đảng ta đề ra từ Đại hội VIII (1996)
- Qua công trình nghiên cứu này các cấp lãnh đạo Đảng bộ huyệnQuỳnh Lưu có thể nhìn, nhận đánh giá một cách chân thực, khách quannhững thành tựu, tiến bộ cũng như những hạn chế, khuyết điểm trong 13năm (1996 – 2009) thực hiện chủ trương công nghiệp hóa - hiện đại hóa củaĐảng để qua đó khắc phục những yếu kém, hạn chế và phát huy, đẩy mạnhnhững thành quả đã đạt được
- Đây là tài liệu để biên soạn, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử địa
Trang 76 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chương 1 Khái quát đặc điểm tự nhiên - xã hội và tình hình kinh
tế huyện Quỳnh Lưu trước công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa (trước năm 1996).
Chương 2 Chuyển biến về kinh tế của huyện Quỳnh Lưu những
năm đầu thực hiện công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa (1996 2009)
Trang 8-B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ HUYỆN QUỲNH LƯU TRƯỚC CÔNG CUỘC CÔNG
NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA (TRƯỚC NĂM 1996)
1.1 Đặc điểm tự nhiên và lịch sử - xã hội Quỳnh Lưu
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Quỳnh Lưu là huyện địa đầu xứ Nghệ có khoảng cách từ huyện lỵ làThị trấn Cầu Giát đến tỉnh lỵ là Thành phố Vinh khoảng 60km Cực Bắc củahuyện có tọa độ 19°22’ 12’’ vĩ độ Bắc, cực Nam 19°05’ 15” vĩ độ Bắc, cựcTây 106°05’ 15” kinh tuyến Đông, cực Đông (vùng đất liền) 105°47’ 50”kinh tuyến Đông
Phía Bắc huyện Quỳnh Lưu giáp Tĩnh Gia (Thanh Hóa) có chung địagiới khoảng 24km với ranh giới tự nhiên là Khe Nước Lạnh Phía Nam vàTây Nam huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành vớiranh giới khoảng 31km Vùng phía Nam của huyện Quỳnh Lưu có chungkhu vực đồng bằng với hai huyện Diễn Châu và Yên Thành (thường gọi làđồng bằng Diễn - Yên - Quỳnh) Phía Tây Quỳnh Lưu giáp huyện NghĩaĐàn với ranh giới khoảng 33km được hình thành một cách tự nhiên bằng cácdãy núi Phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài 34km
Diện tích tự nhiên của huyện Quỳnh Lưu là 586,4km² chiếm 3,58%diện tích toàn tỉnh, đứng hàng thứ nhất các huyện đồng bằng, thành thị vàhàng thứ 11 so với các huyện, thị của tỉnh Nghệ An Chiều dài huyện từ Bắcxuống Nam là khoảng 26km (tính theo chiều dài quốc lộ 1A chạy qua),chiều rộng từ bờ biển Đông đến điểm cực Tây khoảng 22km (tính từ cửaLạch Quèn lên truông Rếp) [1,14]
Địa hình Quỳnh Lưu thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sangĐông Đó là địa hình rất đa dạng, đất đai tự nhiên được cấu tạo khác nhau
Trang 9Có thể chia địa hình của huyện làm ba vùng tiêu biểu:
Vùng ven biển: vùng này bao gồm các xã từ Quỳnh Lập đến QuỳnhThọ, gồm 12 xã Phần lớn các xã đều nằm lọt giữa kênh Dâu (còn gọi làsông Mơ hoặc kênh nhà Lê) với biển Đông Kênh Dâu chảy theo chiều BắcNam gần như song song với bờ biển, nối sông Hoàng Mai với sông Ngọc
Để Các xã nằm bên kênh này và kề mép nước, nhân dân Quỳnh Lưu gọi làvùng Bãi Ngang [20,26] Địa hình vùng ven biển có độ chênh thấp dần từTây sang Đông, nói chung có độ cao trung bình khoảng 3m so với mặt biển.Đất ở vùng này với hai thành phần chủ yếu là đất cát pha và đất sét nên dễ bịbào mòn hàng năm do thiên tai Tính chất thổ nhưỡng của vùng biển QuỳnhLưu nhìn chung là không thích hợp cho việc trồng lúa nhưng lại là nơi tươngđối thuận lợi cho việc trồng màu và một số cây công nghiệp như lạc, vừng,dứa Ngoài ra dải đất ven biển cũng là nơi thuận lợi cho việc trồng rừng câychắn gió, cát, chủ yếu là cây phi lao Một số vùng đất sét ngập mặn lại thíchhợp cho việc cải tạo thành các đồng muối và ao nuôi trồng thủy sản
Vùng đồng bằng: bao gồm 18 xã, bắt đầu từ xã Mai Hùng kéo tới xãQuỳnh Diễn, xã cực Nam của huyện Quỳnh Lưu Vùng này do sự bồi tụ củacác loài trầm tích biển nên độ phì nhiêu của đất khá hơn, thích hợp cho việctrồng lúa và được coi là vựa thóc của huyện Ngoài lúa là chủ yếu nhân dâncòn trồng khoai, ngô, lạc, đậu, vừng Từ ngày có nước sông nông giang từ
Đô Lương chảy về và các đập, các kênh tưới tiêu năng suất cây trồng đãnâng cao trông thấy Đây còn là Trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị củahuyện [20,27]
Vùng đồi núi: vùng này không chỉ bao gồm các xã phía Tây mà cònmột số xã phía Bắc Quỳnh Lưu, có 13 xã Mười ba xã này chiếm hơn nửadiện tích của huyện Hệ thống núi và đồi của vùng phía Tây và phía Bắchuyện Quỳnh Lưu chạy thoải dần xuống phía Đông và phía Nam tạo nênvùng bán sơn địa Địa hình đó tạo cho vùng này có những tiểu khí hậu làm
Trang 10phong phú đa dạng cho việc phát triển kinh tế lâm nghiệp và nông nghiệp.Vùng đồi núi có đất bazan, đất đỏ ở các vùng chân núi đá vôi vừa được tíchlũy nhưng cũng bị bào mòn độ phì nhiêu Nói chung với địa hình đó có thểhình thành ở đây các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả Đồinúi ở Quỳnh Lưu là nơi chứa đựng nhiều tập đoàn cây rừng và các loại độngvật quý, nhân dân có thể khai thác lâm sản, săn bắt và chăn nuôi Vùng bánsơn địa giáp vùng đồng bằng nhất là dãy núi Tùng Lĩnh có nhiều rừng thônglấy nhựa.
Sông ngòi, kênh rạch, cửa biển Quỳnh Lưu đóng một vai trò khá quantrọng trong cấu tạo hệ thống địa hình cũng như ảnh hưởng tới bộ mặt kinh tế
- xã hội của huyện Sông Giát (thường gọi là sông Thái) bắt nguồn từ sôngBào Giang ở phía Tây của huyện chảy về phía Đông qua các xã: QuỳnhLâm, Quỳnh Giang, Thị trấn Cầu Giát, Quỳnh Diễn, Quỳnh Hương, QuỳnhNgọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ rồi đổ ra cửa Lạch Thơi Sông Hoàng Mai cóthượng nguồn thuộc xã Quỳnh Thắng ở phía Tây chảy qua các xã QuỳnhTrang, Quỳnh Vinh, Quỳnh Thiện, Mai Hùng, Quỳnh Dị, Quỳnh Lộc rồi đổ
ra cửa Lạch Cờn giữa hai xã Quỳnh Lập và Quỳnh Phương Đặc biệt có mộtcon kênh khá dài và rộng (dài hơn 20km) được gọi bằng nhiều tên khác nhautùy từng giai đoạn chảy qua mỗi xã: kênh Son, kênh Dâu, kênh Bà Hòa,kênh Mơ, kênh Ngọc Để…nhưng phổ biến nhất và thành một tên chung làkênh nhà Lê Kênh nhà Lê thuộc phần đất Nghệ An bắt đầu từ xã Quỳnh Lộc(từ khe Xước) dãy núi phía Bắc của huyện hợp vào sông Hoàng Mai đếnđoạn phía Bắc xã Mai Hùng chảy gần như song song với bờ biển xuống tận
xã Tiến Thủy đổ ra cửa Lạch Quèn Chính nhờ hệ thống sông ngòi kênh đàonhư trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông đườngthủy, hải sản và cung cấp nước tưới cho cây cây cối hoa màu Đồng thờicông tác thủy lợi được bảo đảm khi vào mùa mưa bão, tránh ngập lụt ảnhhưởng tới năng suất mùa màng và đời sống của người dân
Trang 11Các cửa sông (cửa Lạch) ở Quỳnh Lưu tạo ra thế gắn bó giao lưu giữacác vùng đồng bằng, bán sơn địa với vùng biển, cũng là nơi tạo ra nguồnthủy sản phong phú ở ven biển Đó là cửa Lạch Cờn, cửa Lạch Quèn, cửaLạch Thơi Các cửa lạch này thuộc loại bồi lắng hàng năm và nước mặndâng lên rất xa Do có nhiều cửa sông đồng thời lại có những dãy núi ăn lấn
ra biển cho nên Quỳnh Lưu có những bãi cát dài, phẳng khá đẹp, mực nướcbiển nông, nguồn hải sản phong phú , là điều kiện thuận lợi cho việc xâydựng các khu du lịch giải trí của huyện
Quỳnh Lưu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng thời lại chịu ảnhhưởng của khí hậu biển nên thường nhận được ba luồng gió: gió mùa Đông -Bắc lạnh về mùa đông, gió Tây Nam vừa nóng vừa khô (thường gọi là gióLào) thổi mạnh nhất từ tháng 5 đến tháng 8, xen giữa gió Lào là gió Đông -Nam mát mẻ mang hơi nước từ biển vào, nhân dân gọi là gió Nồm Nhiệt độtrung bình năm của huyện từ 20° - 24°C, số giờ nắng trung bình trong năm
là 1600 - 1700 giờ, tổng tích ôn 8400° -8600°C, độ ẩm bình quân 87% Nhờ
có nhiệt lượng và độ ẩm phong phú nên cây cối quanh năm xanh tươi, pháttriển cho năng suất và hiệu quả cao
Cùng toàn tỉnh Nghệ An, khí hậu Quỳnh Lưu chia làm hai mùa rõ rệt,mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch, cónhững ngày nhiệt độ lên tới 40°C Đây cũng là mùa giông tố, bão và hay xảy
ra gió xoáy, có những trận giông tố làm thiệt hại lớn về người và của, đặcbiệt là giông tố năm Đinh Mão (năm 1927) làm chết 125 người ở Quỳnh Thọ
và một số xã khác [1,19] Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 4dương lịch năm sau, thường có gió mùa Đông Bắc lạnh, mưa ít, bầu trờinhiều mây, buổi sáng thường có sương mù sương muối Tuy thế so với một
số địa phương khác ở địa bàn xứ Nghệ, Quỳnh Lưu được thiên nhiên ưu đãiphần nào Gió mùa Tây Nam khô héo cây cối và hoa màu nhưng nhờ có đến34km bờ biển nên Quỳnh Lưu cũng được khí hậu của biển làm dịu bớt Hơn
Trang 12nữa do Quỳnh Lưu ở giáp Thanh Hóa, xa dãy Trường Sơn nên gió mùaĐông Bắc chỉ thổi qua vài ngày, không dầm dề ướt át kéo dài lê thê như ởNam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương.
Quỳnh Lưu có diện tích rừng tương đối lớn 21.070,63 ha trong đórừng sản xuất có 14.509,9 ha; rừng phòng hộ 6.560,73 ha [30,9] rừng trồngchủ yếu là thông, bạch đàn, keo lá chàm Đây là vùng nguyên liệu lớn chophát triển chế biến công nghiệp nhựa của tỉnh Rừng tự nhiên phần lớn làrừng nghèo kiệt do hậu quả chặt phá rừng, thời gian gần đây đã được khoanhnuôi, bảo vệ phục hồi So với các huyện trong tỉnh Quỳnh Lưu có thảm rừngthực vật ven biển đặc trưng Tuy chưa có thảm thực vật rừng ven biển đadạng như các huyện ven biển của vùng Tây Nam bộ nhưng hệ sinh thái rừngngập mặn của huyện với nhiều loại động thực vật thủy sinh không chỉ gópphần làm đa dạng tài nguyên rừng của huyện mà còn có giá trị về mặt kinh
tế du lịch và môi trường
Tài nguyên khoáng sản của huyện tương đối đa dạng, nhiều loại có trữlượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi, trong đó đáng chú ý nhất là các loạinguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng như đá vôi, sét, xi măng, cao lanh
Mỏ vôi đã được thăm dò khai thác với diện tích hàng trăm hécta và trữ lượnghàng trăm triệu tấn, có quy mô tập trung gần đường giao thông dễ khai thác.Đáng kể là khu vực Hoàng Mai (gồm Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập và Thị trấnHoàng Mai) với diện tích và trữ lượng lớn nhất là 490,5 hécta với khoảng
500 triệu m³ Mỏ sét xi măng Quỳnh Trang có trữ lượng 61,76 triệu tấn,Quỳnh Vinh có trữ lượng 1,7 triệu tấn, gần Nhà máy xi măng Hoàng Mai,rất thuận lợi cho khai thác Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có đất làm gốm
sứ tốt ở Quỳnh Diễn, quặng ở Quỳnh Lập, Quỳnh Văn, đá ốp lát ở QuỳnhVinh Đây là thế mạnh để phát triển những ngành công nghiệp của huyện
Hệ thống đường giao thông ở Quỳnh Lưu khá phong phú và thuận tiện Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua huyện từ xã Quỳnh Thiện phía
Trang 13Bắc đến hết xã Quỳnh Giang phía Nam dài hơn 30km, có hai ga Hoàng Mai
và Cầu Giát Đây là hai ga được coi là trọng yếu trung chuyển hàng trongcuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày nay trở thành ga phụ trongtuyến vận chuyển đường sắt Bắc - Nam Quỳnh Lưu còn có một tuyếnđường sắt nữa theo hướng Tây - Bắc, xuất phát từ ga Cầu Giát lên huyệnNghĩa Đàn dài 15km, tuyến đường sắt này phục vụ cho việc vận chuyểnhàng hóa nông, lâm sản
Về đường bộ, Quỳnh Lưu có tuyến đường quốc lộ 1A chạy qua dài 26
km từ khe Nước Lạnh đến hết xã Quỳnh Giang Sau quốc lộ 1A là quốc lộ
48 chạy từ Yên Lý (Diễn Châu) lên các vùng phía Tây Nghệ An, đoạn chạyqua Quỳnh Lưu chỉ dài hơn 10km nhưng cũng là tuyến giao thông rất quantrọng nối Quỳnh Lưu với các huyện miền núi của tỉnh Nghệ An Ngoài ra,quanh trục quốc lộ 1A, đường Quỳnh Lưu đã tạo ra hệ thống đường “xươngcá”, từ hệ thống đường “xương cá” này lại tạo ra đường “bàn cờ” tức làđường liên xã liên thôn (tính đến hết năm 2005, toàn huyện có khoảng 200đường liên xã, liên huyện) có nơi đường khá tốt, được rải nhựa đá hộc dày,thậm chí có xã đường được rải nhựa
Về đường sông có các tuyến: sông Mai khoảng 20km qua ba cửa lạchCờn, Quèn, Thơi, tàu có trọng tải 50 tấn trước đây có thể qua lại được, sôngThái từ cửa lạch Thơi đến Cầu Giát, khi triều cường thuyền 30 tấn có thể điđược để chuyên chở hàng hóa giao lưu với ga Cầu Giát, đường sông BếnNghè từ Quỳnh Dị đi Vực Mấu thuyền đi lại dễ dàng
Đường biển góp phần không nhỏ cho cư dân Quỳnh Lưu giao lưu vớicác tỉnh phía Bắc và phía Nam Cả ba cửa Lạch Cờn, Quèn, Thơi là điểmxuất phát thuận lợi cho việc các thuyền đi mua bán, trao đổi hàng hóa, dẫnđến việc hình thành các địa danh gắn liền với các sản vật nổi tiếng như nướcmắm, muối, tơ lụa cả ở Nam và Bắc Quỳnh Lưu
Từ những đặc điểm trên cho thấy điều kiện tự nhiên đã tác động
Trang 14không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Quỳnh Lưu.Bên cạnh những khó khăn như đất đai thiếu màu mỡ hay bị bào mòn, rửatrôi, sự phức tạp về địa hình, khí hậu có phần khắc nghiệt thì Quỳnh Lưu vẫn
có những mặt thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội:
Thứ nhất, Quỳnh Lưu, có vị trí địa lý quan trọng đối với quốc phòngbởi nó nằm vào thế “Nam Thanh Bắc Nghệ”, có các đường giao thông chiếnlược chạy qua, có địa thế thông ra biển Đông và là bàn đạp ra Bắc vào Nam,lên miền Tây
Thứ hai, điều kiện tự nhiên của Quỳnh Lưu có nhiều mặt thuận lợi choviệc phát triển kinh tế Chúng ta có thể ví rằng Quỳnh Lưu chính là hình ảnhthu nhỏ của tỉnh Nghệ An với địa hình và tài nguyên đa dạng: có rừng núi,khoáng sản, có biển, nhiều sông ngòi, có các vùng đất khác nhau, có đườngsắt, thủy, bộ thuận tiện Chính vì tính chất đa dạng của tự nhiên đó màQuỳnh Lưu có điều kiện phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi, khai thácthủy sản, khoáng sản, làm các nghề thủ công, đặc biệt là làm muối thựcphẩm ở các xã Quỳnh Thuận, Quỳnh Yên, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Minh,Quỳnh Ngọc, Quỳnh Phương, An Hòa
Thứ ba, Quỳnh Lưu có nhiều danh lam thắng cảnh, có nhiều bãi tắmđẹp ở Quỳnh Phương, Quỳnh Bảng, Quỳnh Nghĩa, nói lên một tiềm nănglớn về du lịch nếu được đầu tư tôn tạo và khai thác sẽ phát triển nhiều loạihình dịch vụ, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận nhân dân, mang lại hiệuquả kinh tế cao
Tin tưởng rằng nếu được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ các cấpchính quyền, sự cố gắng nỗ lực của nhân dân trên địa bàn huyện thì tất cảnhững thế mạnh, những tiềm năng này sẽ được khai thác, phát huy hết tácdụng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
Trang 151.1.2 Đặc điểm lịch sử- xã hội
Từ buổi bình minh của lịch sử đã xuất hiện con người sinh sống trênmảnh đất Quỳnh Lưu, qua một số phát hiện của các nhà khảo cổ học, sử học
đã chứng minh điều đó Di chỉ văn hoá Quỳnh Văn là sự ghi dấu con người
đã sống quần tụ ở vùng biển Quỳnh Lưu ít nhất cách ngày nay khoảng 6000năm [1,25]
Chính bằng công sức lao động của mình, những chủ nhân cổ xưa trênmảnh đất Quỳnh Lưu đã “khai thiên phá thạch” vật lộn với thiên nhiên, đoànkết gắn bó, tạo nên một đó là hình thành vùng đất và hình thành cộng đồngdân cư thời xa xưa Cùng với những thăng trầm của lịch sử vùng đất này từthưở xưa cho đến nay đã trải qua nhiều lần cắt, nhập với những địa phươnglân cận và mang những tên gọi khác nhau
Sau khi giành được độc lập, thoát khỏi ách thống trị của phong kiếnphương Bắc, các triều đại phong kiến nước ta như Ngô, Đinh, Tiền Lê cóthay đổi tên và địa giới hành chính các vùng trong nước , đất Hoan - Diễn là
“phên dậu” ở phía Nam quốc gia Thời nhà Lý, Diễn Châu là một châu sau
đó đổi thành một lộ và sau nữa đổi thành phủ, tức là một đơn vị hành chínhthuộc chính quyền trung ương Từ năm 1010 đến năm 1225, Quỳnh Lưu lúcbấy giờ nằm trong châu, lộ hoặc phủ Diễn Châu Thời Trần (năm 1397) DiễnChâu được gọi là trấn với tên là trấn Vọng Giang Thời nhà Hồ, trấn VọngGiang đổi thành phủ Linh Nguyên gồm: Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu
và Nghĩa Đàn ngày nay Đến thời Lê Sơ, Diễn Châu là một phủ của Nghệ
An thừa tuyên theo cách định bản đồ hành chính của vua Lê Thánh Tông.Phủ Diễn Châu lúc này bao gồm hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu Như vậy tên Quỳnh Lưu lần đầu tiên xuất hiện ở nhà Lê với niên đạiđược xác định là năm 1430 [1,28] Quỳnh Lưu lúc ấy có cương vực từ biểnĐông lên tận Quỳ Châu gồm 7 tổng phía trên (thuộc phần đất Nghĩa Đànngày nay) và 4 tổng phía dưới (thuộc đất huyện Quỳnh Lưu ngay nay)
Trang 16Đến thời nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) Quỳnh Lưu làđơn vị hành chính thuộc phủ Diễn Châu của tỉnh Nghệ An gồm 11 tổng Từnăm Minh Mệnh thứ 21 (1840), 7 tổng ở vùng trên được tách ra thành huyệnNghĩa Đường ( sau đổi tên là Nghĩa Đàn), 4 tổng còn lại (Quỳnh Lâm,Hoàng Mai, Hoàn Hậu, Thanh Viên) là huyện Quỳnh Lưu như ngày naythuộc phủ Diễn Châu.
Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta, năm 1919 chính quyền thực dânphong kiến bỏ cấp phủ, Quỳnh Lưu trở thành đơn vị hành chính trực thuộctỉnh, không còn là cấp dưới Diễn Châu nữa
Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân Chủ CộngHoà ra đời (2/9/1945), địa giới Quỳnh Lưu cho đến nay không có gì thay đổilớn Tuy nhiên một số làng phía dưới huyện Diễn Châu và huyện Yên Thànhđược sáp nhập vào huyện Quỳnh Lưu Từ đó đến nay một số tên xã cũngđược thay đổi theo đà phát triển kinh tế - xã hội, các đơn vị hành chính cấp
xã được thành lập mới trên cơ sở tách ra từ những đơn vị cũ Hiện giờ,Quỳnh Lưu có 41 xã và 2 Thị trấn [20,625]
Dân số Quỳnh Lưu năm 1996 là 332.239 người, trong đó số người ở
độ tuổi lao động là 154.213 người chiếm 46,4% dân số toàn huyện Đến năm
2009, số dân Quỳnh Lưu là 376.797 người, số người trong độ tuổi lao động
có 212.085 chiếm tỉ lệ 56,3% (Phòng thống kê huyện 2009)
Trong cư dân Quỳnh Lưu, ngoài người bản địa tức là những người đãtừng cư trú trên đất Quỳnh Lưu qua nhiều thời kỳ văn hoá, có người từTrung Quốc sang, có người từ ngoài Bắc, từ Thanh Hoá vào, có người từ HàTĩnh ra hay các huyện khác của Nghệ An đến, có người Việt, có bà con dântộc ít người (người Mãn Thanh) Họ đến Quỳnh Lưu vào nhiều thời điểmkhác nhau với nhiều lý do khác nhau, nhưng giờ đây thời gian đã xoá nhoàgốc gác xa xưa của họ Họ chỉ biết mình là người Quỳnh Lưu, đi đâu, ở đâucũng nhớ mình là người Quỳnh Lưu, huyện địa đầu xứ Nghệ của tổ quốc
Trang 17Việt Nam.
Sự đa dạng của địa hình đã tạo cho Quỳnh Lưu có một nền kinh tế đadạng, tổng hợp Bên cạnh nông nghiệp là chủ đạo, Quỳnh Lưu còn có nhữngngành kinh tế tiềm năng như kinh tế vườn rừng, kinh tế biển Tính đa dạngtrong nền kinh tế của Quỳnh Lưu không chỉ thể hiện ở cơ cấu ngành mà cònphong phú ngay trong từng ngành một
Trong nông nghiệp, bên cạnh trồng lúa thì nét nổi bật của nôngnghiệp ở Quỳnh Lưu là trồng màu, sản lượng màu tương đối cao và chủngloại màu phong phú đã bổ sung vào nguồn lương thực cho nhân dân và đâycũng chính là sản phẩm hàng hoá lớn nhất trong kinh tế nông nghiệp Chănnuôi không đáng kể mặc dù Quỳnh Lưu có những đồng cỏ tương đối lớn ởphía Tây, song trước năm 1945 về cơ bản vùng này chưa được khai thác baonhiêu cho sự phát triển nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng
Với 34km bờ biển và 3 cửa lạch, kinh tế biển là một trong nhữngngành kinh tế có tiềm năng lớn đối với Quỳnh Lưu Kinh tế biển còn lưu giữ
và bảo tồn nhiều ngành nghề truyền thống như đi khơi, đi lộng, chế biến hảisản, làm muối, làm nước mắm Ngày nay kinh tế biển còn mở ra hướng pháttriển cho nhiều ngành kinh tế mới như đóng và sửa chữa tàu thuyền vận tải,buôn bán đường biển, nuôi trồng và chế biến thuỷ, hải sản xuất khẩu
Quỳnh Lưu từ lâu đã nổi tiếng với những ngành nghề thủ công truyềnthống lâu đời Ngoài các nghề làm muối, nước mắm đã nói ở trên, còn cócác nghề truyền thống như làm gạch, ngói, nung vôi, trồng dâu nuôi tằm,dệt, làm nón, chạm trổ, rèn, đan lát, đục đá Sự phong phú của các ngànhnghề truyền thống ở Quỳnh Lưu đã tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho nhândân địa phương, thu hút một lực lượng lao động lớn, giữ gìn ngành nghềtruyền thống và đồng thời tạo việc làm cho người lao động trong những ngàynông nhàn
Do sự thuận lợi về giao thông cả đường bộ lẫn đường thuỷ nên việc
Trang 18buôn bán ở Quỳnh Lưu đã phát triển rất sớm, trên địa bàn huyện từ lâu đãxuất hiện các trung tâm buôn bán lớn như chợ Giát (Thị trấn Cầu Giát), chợVăn (Quỳnh Văn - Quỳnh Xuân), hình thành các đội thuyền buôn lớn cótrọng tải hàng chục tấn chở các sản vật của huyện, giao lưu buôn bán với cácđịa phương trong nước theo đường sông và đường biển.
Quỳnh Lưu còn được biết đến là mảnh đất hiếu học với những kỳdanh khoa bảng, với những “ông đồ xứ Nghệ” lừng danh cả trong Namngoài Bắc Đất học nổi tiếng nhất và nhiều người đỗ đạt nhất ở Quỳnh Lưuqua các thời kỳ phong kiến là Quỳnh Đôi Truyền thống hiếu học, tôn sưtrọng đạo được hình thành, giữ gìn và phát huy qua các thời kỳ, tạo nên mộtnét đẹp trong truyền thống văn hoá của con người Quỳnh Lưu
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc với truyền thống yêunước nồng nàn, nhân dân Quỳnh Lưu đã kiên cường, anh dũng đấu tranhchống lại các thế lực ngoại xâm bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia lập nênnhững chiến công hiển hách như sử sách ghi nhận “Quỳnh Lưu chiến địa,Mai Giang huyết hồng” [1,23]
Thời kỳ Bắc thuộc, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Quỳnh Lưuhiên ngang bất khuất đứng dậy tham gia các cuộc khởi nghĩa chống lại áchthống trị của phong kiến phương Bắc Đến thế kỷ X (nhà Đinh và nhà TiềnLê) Quỳnh Lưu trở thành địa bàn phòng thủ quan trọng đồng thời cũng lànơi cung cấp quân lương cho các cuộc kháng chiến Địa bàn này là nơichuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược và cũng là nơi xuấtphát của các cuộc đấu tranh chống xâm lấn đất đai của các thế lực phươngNam
Thời nhà Trần (thế kỷ XIII) Quỳnh Lưu là nơi tích trữ lương thực và
là nơi luyện quân chuẩn bị cho các cuộc kháng chiến chống Mông –Nguyên Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứhai, quân dân Quỳnh Lưu đã lập chiến công chống quân Toa Đô kéo từ phía
Trang 19Nam ra cảng Xước (Quỳnh Lập).
Thế kỷ XV, nhân dân Quỳnh Lưu đã tham gia tích cực vào phong tràokháng chiến chống quân Minh xâm lược Quỳnh Lưu trở thành nơi tích trữlương thực và luyện quân của nghĩa quân Lam Sơn Nhiều tuấn kiệt củaQuỳnh Lưu đã trở thành các tướng lĩnh tài ba của nghĩa quân như: Nguyễn
Bá Lài, Hồ Hân, Nguyễn Tu, Hoàng Sử (Quỳnh Đôi)
Trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đất Quỳnh Lưu nói riêng và đất Nghệ
An nói chung là nơi đứng chân quan trọng của Nguyễn Huệ Tại thôn NgũĐoài (xã Quỳnh Lâm), Quang Trung đã hội quân và luyện tập quân sỹ khiđem quân ra Bắc diệt tan gần 30 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Longchấm dứt sự ươn hèn của vua quan nhà Lê Thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống quân Mãn Thanh một lần nữa tô đẹp thêm truyền thống đánh giặc giữnước anh hùng và sáng tạo của dân tộc Việt Nam, các danh tướng Quỳnh Lưu
đã đi vào lịch sử “khí chung Quỳnh Lưu địa sinh tiền tướng, danh tại nhânsan, tử hậu thần” Có thể nói mảnh đất Quỳnh Lưu “địa linh nhân kiệt”, vì conngười Quỳnh Lưu được hòa mình trong truyền thống dựng nước và giữ nướcoanh liệt của dân tộc từ bao đời
Năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta ở cửa biển
Đà Nẵng, triều đình nhà Nguyễn chống cự một cách yếu ớt rồi thỏa hiệptừng bước và cuối cùng toàn bộ nước ta rơi vào tay Pháp Mặc dù vậy, nhândân ta khắp nơi vẫn tích cực chiến đấu Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chânlên nước ta, những vị quan trong triều đình Huế là người Quỳnh Lưu như Hồ
Sỹ Tuần (Quỳnh Đôi), Hồ Tử Cung (Quỳnh Lương), Hồ Thái Trị (QuỳnhBảng) đã đứng về phe chủ chiến để quyết tâm giữ đất, tấn công giặc khôngchịu hòa Tiêu biểu cho phong trào chống thực dân Pháp của nhân dânQuỳnh Lưu phải nói đến Hồ Bá Ôn (Quỳnh Đôi) Án sát thành Nam Định đãquyết tự thủ để giữ thành Nam Định trước sự tấn công của quân Pháp
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tiếp thu các phong trào yêu nước như
Trang 20Phong trào “Đông Du” của Phan Bội Châu, phong trào “ Duy Tân” của PhanChu Trinh, năm 1905 ở Quỳnh Lưu đã có phân hội của “Dương ThươngQuán” đặt tại Cầu Giát Tiêu biểu trong phong trào xuất dương tìm đườngcứu nước ở Quỳnh Lưu có Hồ Ngọc Lâm, Hồ Tùng Mậu Sau này họ đềutrở thành những nhà cách mạng cốt cán của đất nước.
Ngày 3/2/1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời tại Cửu Long (TrungQuốc), thì chỉ hai tháng sau, ngày 20/4/1930 tại Sơn Hải, Đảng bộ cộng sảnhuyện Quỳnh Lưu ra đời do đồng chí Nguyễn Đức Mậu làm bí thư Sự ra đờicủa Đảng bộ huyện đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với phong trào cáchmạng ở Quỳnh Lưu Từ đây, phong trào cách mạng của huyện đã hòa chungkhí thế và đóng góp tích cực cho sự nghiệp cách mạng của tỉnh Nghệ An vàcủa cả nước
Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, phong trào đấu tranh của nhândân Quỳnh Lưu nổ ra khá mạnh mẽ Phong trào 1930 – 1931, 1936 - 1939,
1939 - 1945 đạt được nhiều thành quả Đặc biệt cùng với nhân dân cả nước,nhân dân Quỳnh Lưu đã nổi dậy cướp chính quyền làm nên thắng lợi củacách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân ChủCộng Hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc: kỷ nguyên độc lập
Hòa bình đến với nhân dân Việt Nam chưa được bao lâu thì thực dânPháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa Ngày 19/12/1946, tiếng súngkháng chiến toàn quốc bùng nổ Nhân dân Quỳnh Lưu cùng với nhân dân cảnước đã hăng hái tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp với tinh thần
“thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịulàm nô lệ ” Nhiều thanh niên con em Quỳnh Lưu theo tiếng gọi thiêng liêngcủa tổ quốc đã hăng hái, nô nức xung phong ra tiền tuyến đánh giặc cứunước Ở huyện nhà nhân dân tham gia tích cực các phong trào dân công hỏatuyến gia nhập đội dân quân xã, tuyển chọn du kích từ làng, xã để thành lậpđơn vị chủ lực huyện Trong quá trình chiến đấu nhiều con em Quỳnh Lưu
Trang 21đã hy sinh anh dũng cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc tiêu biểu là liệt sỹ CùChính Lan trong chiến dịch Hòa Bình (1952) đã được nhà nước phong tặngdanh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ”.
Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Quỳnh Lưu
đã góp phần cùng với cả nước làm nên chiến thắng vĩ đại ví như “một BạchĐằng, một Chi Lăng, một Đống Đa ” của thế kỷ XX trên chiến trường ĐiệnBiên
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5/1954), hiệp định Giơnevơ được kýkết (7/1954) Miền Bắc chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, miềnNam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Trong những nămkháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng như mọi miền của tổ quốc, QuỳnhLưu đã ra sức chi viện sức người, sức của cho miền Nam, cùng nhân dân cảnước đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, góp phầnchia lửa chiến trường miền Nam Nhiều đơn vị, cá nhân của huyện đã lậpthành tích xuất sắc trong việc bảo vệ vùng trời, vùng biển của tổ quốc, chiviện mạnh mẽ cho miền Nam làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, kếtthúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ
Trải qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại, trên khắp mọi miền của tổ quốc
có 4.470 người con của Quỳnh Lưu đã hy sinh, 3.326 thương bệnh binh, huyđộng 67.000 người tham gia các lực lực lượng vũ trang, được nhà nước tặngthưởng 15.500 huân huy chương các loại, 10 tập thể và 15 cá nhân được tặngthưởng danh hiệu anh hùng trên các lĩnh vực, 123 bà mẹ được phong tặng
“Bà mẹ Việt Nam anh hùng ” [1,374] Tất cả những cống hiến của họ đã trởthành truyền thống và niềm tự hào cho các thế hệ con em Quỳnh Lưu noitheo
Tóm lại đặc điểm lịch sử - xã hội Quỳnh Lưu có thể được khái quát ởnhững đặc điểm như sau :
Về kinh tế: Quỳnh Lưu là huyện có nền kinh tế đa dạng nhưng vẫn
Trang 22nghèo nàn, lạc hậu Một bộ phận kinh tế mang tính chất hàng hóa vượt ra thịtrường nội địa như nước mắm, muối, nhựa thông Còn chủ yếu là nền kinh tế
tự cung tự cấp trong nội bộ các hộ gia đình, trong từng địa phương và từngvùng trong huyện, không có kinh doanh lớn Điều đó cũng dễ hiểu, tuyQuỳnh Lưu có nhiều tiềm năng, có các đầu mối giao thông song chưa có cơ
sở vật chất gì đáng kể hơn nữa lại xa những nơi trung tâm kinh tế, trung tâmtiêu thụ không có nhiều lợi thế như một số nơi khác
Về truyền thống: con người Quỳnh Lưu đã sống, sống mãi với nonsông đất nước, trải qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước, qua các cuộckháng chiến chống ngoại xâm Quỳnh Lưu đã góp phần xứng đáng làm nêntruyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Viêt Nam tạo nên chủ nghĩayêu nước - một giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Quỳnh Lưu là quê gốccủa những nhân vật lịch sử nổi tiếng như Hồ Quý Ly, Nguyễn Huệ Là nơichôn nhau cắt rốn của các nhà chiến sĩ cách mạng như Hồ Tùng Mậu, HồHọc Lãm Con người Quỳnh Lưu xưa còn để lại tiếng thơm cho muôn đờisau
Bấy nhiêu thời gian xây dựng và bảo vệ quê hương người dân QuỳnhLưu đã hình thành nhiều truyền thống quý báu đó là: yêu quê hương đấtnước, kiên cường, bất khuất, đoàn kết cộng đồng, nhân ái, nhân nghĩa Đó lànhững vốn quý để Quỳnh Lưu bước vào thời kỳ lịch sử mới xây dựng huyệnnhà ngày càng giàu đẹp hơn
1.2 khái quát tình hình kinh tế Quỳnh Lưu trước công cuộc công
nghiệp hóa hiện đại hóa (trước năm 1996)
1.2.1 Kinh tế Quỳnh Lưu trước năm 1986
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hoàn toàn sạch bóngquân thù, giang sơn thu về một mối, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủnghĩa xã hội Nhiệm vụ mới đặt ra cho Quỳnh Lưu trước hết là hàn gắn vếtthương chiến tranh, ổn định và khôi phục kinh tế - xã hội theo những mục
Trang 23tiêu của thời kỳ quá độ.
Trong 10 năm (1975 1985), đặc biệt trong thời gian 5 năm (1981 1985) cùng với nhân dân cả nước nhân dân Quỳnh Lưu đã đạt được thànhtựu hết sức cơ bản về kinh tế - xã hội
Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, năng suất cây trồng tăng lên đáng
kể Năng suất lúa cả năm tăng từ 22,8 tạ/ha (năm 1981) lên 24 tạ/ha gieotrồng (năm 1982), rồi tăng lên 27 tạ/ha (năm 1983) và năm 1984 đạt 29,5 tạ/
ha Đặc biệt năng suất lúa vụ đông xuân tăng nhanh, mức đạt qua các nămtương ứng như trên là: 24,7 - 33,5 - 38,6 và 38,8 tạ/ha Từ đó liên tục tăngsản lượng lương thực (quy thóc), từ mức sản xuất năm 1980 là 34.000 tấn đãnâng lên 47.000 tấn (1981), 52.000 tấn (1983), 58.000 tấn (1984) Tính bìnhquân sản lượng lương thực sản xuất ra hàng năm 41.800 tấn (1976 - 1980)
đã tăng lên 52.000 tấn (1981 - 1984) tốc độ tăng 24% Tốc độ tăng sản xuấtlương thực nhanh hơn tốc độ tăng dân số nên lương thực bình quân đầungười đã nâng lên từ 195kg/người (1976 - 1980) lên 225kg/người (1981 -1984) [29,4]
Trong phát triển công nghiệp, huyện đã khai thác và sử dụng cácngành nghề truyền thống, tăng cường liên kết kinh tế và liên doanh để mởrộng sản xuất Năng lực vận tải được nâng lên gấp đôi (từ 450 tấn năm 1981lên 990 tấn năm 1984), mở ra hoạt động liên kết kinh tế với mỏ than QuảngNinh, tạo thêm nguồn than cho sản xuất: vôi, gạch, ngói - những mặt hàngchủ yếu của thủ công nghiệp ở huyện Huyện còn chủ động mời chuyên gia,mua sắm thêm máy móc, thiết bị và đào tạo thợ giỏi để mở các ngành mới:làm đồ sứ, đồ gốm, sản xuất nước đá, xà phòng Giá trị thủ công nghiệptrung bình hàng năm đã tăng lên từ 11.246.000đ (1976 - 1980) lên14.055.000đ (1981 - 1984) [29,6]
Các ngành kinh tế đánh bắt cá, sản xuất muối dần tạo ra thế ổn định vàphát triển Sản lượng đánh bắt cá năm 1984 đạt 4.200 tấn (đứng thứ 3 trong
Trang 24tỉnh) tăng 2.000 tấn so với năm 1981 [1,297] Huyện chủ trương mở rộngdiện tích khai hoang, cải tạo và xây dựng đồng muối Vì vậy sản lượng muốităng hàng năm từ 39.500 tấn (1976 - 1980) lên 48.000 tấn (1981 - 1984)[29,6].
Xuất khẩu Quỳnh Lưu có những chuyển biến tích cực Mặt hàng xuấtkhẩu chủ yếu là lạc và cói trước năm 1981 bị giảm sút thì thời kỳ này bắtđầu tăng Một số mặt hàng mới được đưa vào xuất khẩu trong năm 1985: ớt,tỏi, nhung hươu và tôm Đặc biệt mặt hàng tôm đông lạnh năm 1984 xuấtkhẩu được 25 tấn và 6 tháng đầu năm 1985 đã xuất khẩu được 33 tấn[1,298]
Công tác xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật có sự chuyển biến đồng đều
từ huyện đến xã Nhất là các công trình thuỷ lợi được chú trọng đầu tư xâydựng phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng Các công trình xây dựng cơ bảnkhác cũng được quan tâm, xây dựng được 6 cầu bê tông cốt thép vốn đầu tư
là 1,2 triệu đồng, đóng mới 21 chiếc tàu gắn máy nên đã tăng thêm 550 tấnphương tiện vận tải đường thuỷ Các đường liên xã liên thôn được tu bổthêm Đường 37A từ Lạch Quèn đi Nghĩa Đàn được huyện và nhà nướcnâng cấp vững chắc hơn, hàng loạt các công trình được xây dựng khangtrang: cửa hàng bách hoá huyện 2 tầng, trụ sở công an huyện 2 tầng, hộitrường và trụ sở của các xã
Bên cạnh những tiến bộ đạt được thì kinh tế Quỳnh Lưu giai đoạn
1975 - 1985 vẫn còn nhiều tồn tại và yếu kém Do thời tiết không bìnhthường, do quản lý tổ chức sản xuất nhưng trùm lên tất cả là sự ràng buộccủa cơ chế tập trung bao cấp Kinh tế - xã hội Quỳnh Lưu cũng như của cảnước lâm vào khủng hoảng và ngày càng trầm trọng, cho nên nhiều tiềmnăng không thể phát huy được, đời sống của nhân dân đặc biệt là nhữngngười ăn lương, kể cả lực lượng vũ trang gặp khó khăn gay gắt, thị trườngrối ren, sản xuất vẫn là tự cấp tự túc, cho nên những động lực do khoán sản
Trang 25phẩm đến nhóm và người lao động theo Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trungương Đảng đã có nhưng chưa đủ sức thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triểnvượt bậc Công tác thâm canh của huyện vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy năngsuất cây trồng khác chưa cao, còn có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng.Việc tạo ra hàng hoá xuất khẩu chưa được đẩy mạnh xứng tầm tiềm lực của
nó Trong toàn bộ hoạt động kinh tế huyện Quỳnh Lưu chưa tạo đủ nguyênliệu cho sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhất là thảm cói và mànhtrúc Hàng hoá hải sản và lâm sản dành cho xuất khẩu còn ít Quỳnh Lưu cònluẩn quẩn trong cái vòng giải quyết vấn đề lương thực, do đó hạn chế mởrộng các ngành nghề khác Trước thực trạng này đòi hỏi Đảng bộ và các cấpchính quyền ở Quỳnh Lưu phải nhìn thẳng vào sự thật đánh giá đúng nhữngthành tựu và hạn chế của mình, từ đó rút ra những chính sách, giải pháp kinh
tế hợp lý, phù hợp với tiềm năng và điều kiện cụ thể của huyện trong cácgiai đoạn tiếp theo
1.2.2 Kinh tế Quỳnh Lưu giai đoạn 1986 - 1996
Quá trình xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa làbước đi vừa tìm tòi vừa thử nghiệm, cho nên ngoài những thành tựu đã đạtđược qua 10 năm (1975 - 1985), đất nước không thể không mắc phải nhữngthiếu sót, hạn chế nhất định Những hạn chế đó đã dẫn đến kinh tế - xã hộilâm vào tình trạng khủng hoảng Thực tế cuộc sống và sự vận động kháchquan của quy luật kinh tế yêu cầu Đảng ta phải tiến hành đổi mới đất nước.Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) nhằm đáp ứng yêu cầu đó Đường lối đổimới được đề ra một cách toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế Đại hội nêu rõ
“nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặngđường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục xâydựng những tiền đề cần thiết cho việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hộichủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo” [13,42]
Đại hội cũng xác định trong 5 năm (1986 - 1990) cần tập trung sức
Trang 26người sức của thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của 3 chương trình kinh tế vềsản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Muốnthực hiện mục tiêu của 3 chương trình kinh tế thì nông nghiệp kể cả nông -lâm - ngư nghiệp phải là mặt trận hàng đầu và được ưu tiên, đáp ứng yêucầu về vốn đầu tư, về năng lực vật tư, lao động, kỹ thuật.
Dựa trên cơ sở đường lối đổi mới của Đại hội VI, theo chủ trương củaĐại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XXII, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ
XX đã đề ra 6 chương trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện: Chươngtrình lương thực thực phẩm; Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp; Chương trình xuất khẩu; Chương trình phát triển hải sản;Chương trình bảo vệ rừng, trồng rừng và trồng cây phân tán; Chương trìnhvốn tự có [1,309] Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Lưu ra sức phấn đấu đạtđược các mục tiêu đã đề ra, đã khơi dậy và phát huy tiềm năng vốn có củahuyện Ở giai đoạn đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1996) kinh tếQuỳnh Lưu đã có bước phát triển mới
Trong 5 năm (1986 - 1990), sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộtrong sản xuất hàng hoá, rõ nhất là cơ cấu mùa vụ, tăng diện tích vụ hè thu,
vụ đông đưa tổng sản lượng lương thực bình quân năm 1991 lên 58.560 tấn,tăng 4,5% so với bình quân 2 năm 1987 - 1988 và đạt 72% chỉ tiêu Đại hộiXXI [11,3] Bình quân lương thực đầu người năm 1990 đạt 200kg/năm.Diện tích gieo trồng tăng 1.300ha so với năm 1988 Đến năm 1990 sảnlượng lương thực của huyện đạt được 5.566 tấn, đáp ứng nhu cầu cho nhândân, tạo ra nguồn lương thực dự trữ và hàng hoá được tiêu dùng trên thịtrường
Kinh tế biển đã được khôi phục, chuyển hướng kịp thời và đang trên
đà phát triển Trong 2 năm 1989 – 1990, sản lượng cá đánh bắt đạt 70% chỉtiêu Đại hội XXI của Đảng bộ huyện đề ra và tăng 5% so với bình quân 2năm 1987 - 1988 Huyện đã khoanh nuôi được 460 ha tôm xuất khẩu, mở ra
Trang 27triển vọng tốt cho hướng đi này [11,4] Nghề làm muối của huyện cũng cóđiều kiện phát triển Năm 1991 đạt 32.767 tấn so với 3 năm 1986 - 1988 vàbằng 44% chỉ tiêu đại hội XXI của Đảng bộ huyện.
Kinh tế lâm nghiệp có những bước chuyển biến tích cực Trong 2 năm
1989 – 1990, diện tích trồng rừng đạt 413ha/năm, giao đất giao rừng 163 hacho 691 hộ và tập thể Huyện có chính sách bảo vệ 330 ha rừng nghèo cònlại và những cây cổ thụ rải rác Mỗi năm trồng 1,7 triệu cây phân tán và câylấy bóng mát trên đường, các xã ven biển đẩy mạnh trồng rừng chắn gió, cát
và lấn sâu cửa biển, điển hình có các xã Quỳnh Liên, Quỳnh Thọ
Kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được điều chỉnh, chuyểnthể giữ vững và phát triển các nghề truyền thống như sản xuất vật liệu xâydựng, rèn, đóng thuyền Đồng thời đã mở thêm nhiều nghề mới như chế biếnlương thực thực phẩm, sửa chữa cơ khí và ưu tiên cho các loại hàng hoáphục vụ nông nghiệp và xuất khẩu Vì thế trong 2 năm 1989 – 1990, tổng giátrị sản phẩm bình quân đạt 125.400 ngàn đồng, tăng 6.9% so với 2 năm 1986
- 1987, đạt 83% chỉ tiêu Huyện đã xây dựng công trình điện 35 KV, hìnhthành đội tàu sắt đầu tiên gồm 9 chiếc với trọng tải tổng cộng là 960 tấn Cácmặt hàng phong phú đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của người dân trong huyện Huyện đã tăng cường thêm các công trình phục vụ sản xuất và đờisống Một số đường giao thông huyện và xã được làm mới và nâng cấp.Nhiều xã có phong trào làm giao thông khá như Quỳnh Diễn, Quỳnh Giang,Quỳnh Tân, Quỳnh Bá Diện tích tưới của Vực Mấu được mở rộng thêm vàxây dựng cầu máng (Quỳnh Lương) Một số hồ đập nhỏ đã và đang hìnhthành ở các xã Quỳnh Thắng, Ngọc Sơn, Quỳnh Châu, Quỳnh Thiện Điện
từ trung tâm huyện đã toả về 10 xã [11,4]
Trong 5 năm tiếp theo (1991 - 1995), là giai đoạn diễn ra Đại hộiĐảng bộ huyện lần thứ XXII (3/1991) và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứVII (1991), toàn Đảng và toàn dân ta vẫn kiên trì khẳng định đường lối đổi
Trang 28mới của Đảng tại Đại hội VI (1986) Nhân dân Quỳnh Lưu vững tin xâydựng đời sống kinh tế ngày càng phát triển.
Tính chung giai đoạn này, tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân hàngnăm 9,07% vượt 1,07% chỉ tiêu Đại hội XXII (cả tỉnh là 8.5%) Thu nhậpđầu người từ 110.000đ/người/tháng năm 1991 lên 143.700đ/người/thángnăm 1995, tăng bình quân hàng năm là 6,75%, tổng thu ngân sách tăng bìnhquân hàng năm là 24%, tỷ lệ huy động vốn đầu tư phát triển đạt 16,6% GDP
Tỷ trọng các ngành biểu thị tiến bộ của sự chuyển dịch cơ cấu [12,6]
Về nông nghiệp, giá trị năm 1995 tăng 23,3% so với năm 1991 vớitổng sản lượng lương thực 73.371 tấn Năng suất vụ đông năm 1995 so vớinăm 1991 tăng 36,6%, vụ mùa tăng 2,8% [1,332] Giá trị chăn nuôi năm
1995 tăng 40,1% so với năm 1991 và chiếm tỷ trọng 32% trong nôngnghiệp Bình quân hàng năm trong giai đoạn 1991 - 1995, đàn trâu tăng3,6%, đàn bò tăng 6%, đàn lợn tăng 6,8% Chăn nuôi trở thành một nghề và
là nguồn thu nhập quan trọng của kinh tế hộ nông dân [12,7]
Trong lâm nghiệp đã có tiến bộ rõ rệt, thực hiện có kết quả các dự án
4304, 327 Đến năm 1995, Quỳnh Lưu đã khoanh nuôi được 4.649 ha, trồngmới 1.271 ha, giao đất giao rừng 9.322 ha cho 1.319 hộ và nhóm hộ Theochủ trương của nhiều tổ chức cơ sở Đảng, các điển hình làm ăn giỏi tronglâm nghiệp được phổ biến cho nên đã xuất hiện nhiều mô hình nông - lâmkết hợp làm ăn có hiệu quả, hình thành vùng trồng cây công nghiệp ở vùnglâm nghiệp như cà phê, cây ăn quả ở vườn nhà, vườn đồi, vườn rừng Độ chephủ của rừng từ 9% năm 1991 đã tăng lên 23% năm 1995
Ngành ngư nghiệp được chú trọng Tổng giá trị ngư nghiệp năm 1995tăng 60% so với năm 1991 (tăng bình quân hàng năm 12,6%) Sản lượngđánh bắt cá hàng năm ở giai đoạn này tăng 37.5% Tăng nhanh phương tiệnsản xuất, hình thức tổ chức, cơ cấu nghề nghiệp được chuyển đổi thích ứngvới cơ chế mới Đã cố gắng đưa các nghề mới vào sản xuất, khai thác các
Trang 29sản phẩm có giá trị kinh tế cao gắn với xuất khẩu Nuôi trồng thuỷ sản pháttriển nhanh, có nhiều mô hình tốt Đến năm 1995, có 771 ha nuôi tôm sú, đạtsản lượng trung bình hàng năm 1991 - 1995 là từ 100 tấn đến 120 tấn tômxuất khẩu (chiếm tỷ trọng 17,5% trong tổng giá trị ngư nghiệp) [1,333].
Nghề sản xuất muối năm 1995 tăng 43,5% so với năm 1991, đã gắnsản xuất với lưu thông muối Huyện đã có nhiều điển hình thâm canh như
An Hoà, Quỳnh Thuận, Quỳnh Yên, Quỳnh Phương, Quỳnh Thọ
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong nhữngnăm 1991 - 1995 tăng 53,8%, tăng bình quân hàng năm 11,6%, đã có nhiều
mô hình mới phù hợp với cơ chế thị trường Một số ngành nghề được pháthuy như vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa, sản xuất mộc dân dụng, chếbiến nông - lâm - hải sản Trong cơ chế mới năm 1995 giá trị thương mại vàdịch vụ tăng 84,3%, tăng bình quân hàng năm 1991 - 1995 là 16,6% [13,8].Thị trường hàng hoá phong phú đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, sứcmua trong dân cư tăng Các dịch vụ thương mại, xây dựng cơ bản, giaothông vận tải, bưu điện phát triển mạnh
Lĩnh vực giao thông vận tải được huyện quan tâm đầu tư cả vốn và kỹthuật để nâng cấp, tu sửa và xây dựng mới các công trình Tổng số vốn đầu
tư xây dựng từ 1991 đến 1995 là 76.854 triệu đồng [8,9] Hoàn thành vượtmức trước thời gian về nhiệm vụ xây dựng điện - đường - trường - trạm -thông tin và môi trường mà Đại hội XXII đề ra
Tóm lại trong gần 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1995),kinh tế Quỳnh Lưu đã đạt được những thành tựu hết sức cơ bản và hơn hẳn
so với thời kỳ trước (1975 - 1985), góp phần đưa huyện nhà dần dần vượtqua những khó khăn, phát huy thế mạnh của từng ngành kinh tế, từng vùngkinh tế một cách hiệu quả, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nânglên đáng kể Tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân hàng năm (1991 - 1995)đạt 9,07%; thu nhập đầu người năm 1995 là 143.700đ/người Cơ cấu ngành
Trang 30kinh tế của huyện có sự chuyển dịch căn bản, kích thích được các ngànhkinh tế phát triển Tỷ trọng năm 1991, nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 68%,công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 15,2%, dịch vụ 16,8% Năm 1995,nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 59,6%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là18%, dịch vụ là 22,4%.
Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong xây dựng và pháttriển kinh tế ở Quỳnh Lưu những năm đầu đổi mới còn bộc lộ một số tồn tạiyếu kém: tốc độ tăng trưởng và thu nhập chưa cao, chưa tương xứng vớitiềm năng kinh tế của huyện Trong nông nghiệp, trồng trọt chưa phát triểnđều, năng suất lúa hè thu không ổn định, vụ đông hàng hoá tăng chậm, chưachú trọng đúng mức thâm canh, ứng dụng tiến bộ sinh học, đặc biệt là giốngmới vào sản xuất ở diện rộng, thiếu nghiêm ngặt về bố trí thời vụ, diện tíchlúa lai, ngô lai tăng chậm Chăn nuôi phát triển chưa đồng bộ cả về cơ cấu,quy mô và chất lượng, tỷ trọng chăn nuôi còn thấp, chưa chú trọng đúngmức công tác thú y, chế biến thức ăn gia súc, thông tin thị trường và tiêu thụsản phẩm
Trong lâm nghiệp, chậm điều tra quy hoạch, lúng túng trong bố trí cơcấu cây trồng, thiếu chính sách đồng bộ về giao đất, khoán rừng, khoanhnuôi bảo vệ rừng Độ che phủ của rừng còn thấp
Về ngư nghiệp, Quỳnh Lưu có thế mạnh về nuôi trồng, khai thác thuỷsản nhưng lại chưa có nhiều phương tiện lớn ra khơi xa nên hiệu quả khai tháctrên đơn vị thuyền nghề còn thấp, chưa chú ý đồng bộ phát triển nghề mới vớiduy trì nâng cao chất lượng nghề truyền thống, mở rộng chế biến dịch vụ.Nạn dùng chất nổ đánh bắt thuỷ hải sản chậm được ngăn chặn Nuôi thuỷ sảncòn quảng canh nên hiệu quả kinh tế xã hội chưa cao Công tác đảm bảogiống và thức ăn công nghiệp cho chăn nuôi tôm chưa được đầu tư Cơ sở vậtchất đồng muối yếu kém, thiếu chính sách về muối
Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ lẻ cả về quy mô
và cơ cấu sản phẩm, công nghệ thấp kém, một số ngành nghề truyền thốngkhông được phát huy, nghề mới vào chậm Dịch vụ cho sản xuất, thông tin thị
Trang 31trường và quản lý kinh doanh còn yếu Cơ chế quản lý và cách làm thiếu đồng
bộ nên tỷ trọng thu hút vốn và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn hạn chế Tàichính tín dụng còn yếu trong việc phát triển các nguồn thu, thất thu, thất nạpcòn lớn Tốc độ tăng thu chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế và nhu cầuthu chi của huyện nhà Quy mô đầu tư tín dụng còn thấp nhất là vốn trunggian là dài hạn, hộ nghèo vay vốn và được vay vốn còn ít Chậm mở rộng cáchình thức tín dụng trong nhân dân để tạo vốn đầu tư phát triển Trong xâydựng cơ bản, thiếu quy hoạch đồng bộ, quản lý còn lỏng lẻo, chất lượng một
số công trình còn thấp, thiếu nguồn vốn để thanh toán nên hiệu quả kinh tếchưa cao, chưa tập trung đúng mức về việc củng cố và đổi mới kinh tế hợptác Kinh tế quốc doanh và các cơ sở dịch vụ nông nghiệp chưa phát huy đượcvai trò chủ đạo Kinh tế ngoài quốc doanh chậm được tổng kết và định hướng
Trang 32tinh thần của người dân trong toàn huyện.
CHƯƠNG 2 CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ CỦA HUYỆN QUỲNH LƯU TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THỰC HIỆN CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP
HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ (1996 - 2009)
2.1 Chủ trương công nghiệp hoá - hiện đại hoá của Đảng
Sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục được đẩy mạnh trong tình hìnhthế giới có nhiều diễn biến nhanh chóng và phức tạp Đó là sự sụp đổ củaLiên Xô và các nước Đông Âu làm cho hệ thống chủ nghĩa xã hội lâm vàothoái trào và sụp đổ nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại.Nhân loại vẫn đang quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Tiếp đócuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á và một số nước Tây Nam Á đã ảnhhưởng không tốt đến tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung, huyệnQuỳnh Lưu - Nghệ An nói riêng Sự phát triển như vũ bão của cuộc cáchmạng khoa học - kỹ thuật và quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá đang trởthành một xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế, đã có tác động rất lớn đốivới đời sống kinh tế thế giới
Ở trong nước, những thành tựu mà công cuộc đổi mới trong 10 nămqua đã, đang tạo thế và lực cho nước Việt Nam bước sang một thời kỳ mới.Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) vào tháng7/1995, bình thường hoá quan hệ với Mỹ sẽ tạo nhiều thời cơ và thách thứcmới trong quá trình hội nhập và phát triển của nước ta Trong bối cảnh đó,Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã diễn ra vào tháng7/1996 và thông qua các văn kiện quan trọng: Báo cáo chính trị, phươnghướng nhiệm vụ, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1996 - 2000).Đại hội đã khẳng định “công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu đượcnhững thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Nhiệm vụ do Đại hội VII
Trang 33đề ra cho 5 năm (1991 – 1995) đã được hoàn thành về cơ bản Nước ta đã rakhỏi khủng hoảng về kinh tế - xã hội nhưng còn một số mặt chưa vững chắc.Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đềcho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳmới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Con đường đi lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng xác định rõ hơn [4,67].
Đại hội VIII của Đảng cho rằng cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụchiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và nêu lên mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đạihoá là “xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹthuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao,quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng vănminh Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp [4,80]
Đại hội VIII đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳmới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá Đại hội có ý nghĩaquyết định vận mệnh dân tộc và tương lai của đất nước vào lúc chúng ta sắpbước vào thế kỷ XXI
Trải qua 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1995), QuỳnhLưu cũng như cả nước đã đạt được những thành tựu cơ bản, từng bước làmthay đổi bộ mặt của huyện, đời sống nhân dân được đảm bảo Nhưng nhìnchung, nền kinh tế của Quỳnh Lưu còn nhiều hạn chế nhất định, ảnh hưởngkhông nhỏ đến công cuộc đổi mới mà Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Lưuđang tiến hành
Kế tục đường lối đổi mới của Đại hội VI, cương lĩnh chính trị tại Đạihội VII và phương hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tại Đại hội VIII củaĐảng cộng sản Việt Nam, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu khoá
Trang 34XXIII (4/1996) được tiến hành và nêu lên phương hướng, mục tiêu chungtrong nhiệm kỳ 1996 - 2000 là “ huy động mọi nguồn lực, khai thác mọitiềm năng phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch
vụ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [12,24]
Đại hội đã nêu lên chỉ tiêu cụ thể đến năm 2000:
- GDP bình quân đầu người tăng 2 - 2,5 lần so với năm 1995
-Thu ngân sách trên địa bàn tăng 30% - 35%
-Tỷ lệ giảm sinh hàng năm 0,1%, tỷ lệ phát triển dân số 1,7%
- Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và 30% cơ sởphổ cập cấp II
- 90% dân số được nghe truyền thanh, xem truyền hình, 100%được dùng điện lưới
- Xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%
Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, phải thấu suốt quan điểm tự lực tựcường với tinh thần quyết không chịu đói nghèo, thi đua làm giàu chínhđáng, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế gắn liền với quốc phòng
an ninh Gắn kinh tế với các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo thiết lập trật
tự kỷ cương, công bằng xã hội, nâng cao dân trí, dân chủ, dân sinh phát triểnlực lượng sản xuất đi đôi với hoàn thiện quan hệ sản xuất, thực hiện nhấtquán kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vaitrò chủ đạo cùng với kinh tế hợp tác xã tạo nền tảng vững chắc cho sự pháttriển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủnghĩa
Trang 35Đến đại hội IX (12 - 22/4/2001), Đảng ta nhấn mạnh phát triển kinh tế
và công nghiệp hoá - hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm Trước yêu cầu phảirút ngắn thời gian tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020 Đại hội IX chủ trương ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thờixây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, pháthuy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài, chủ động hộinhập quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững
Trước sự thay đổi của tình hình đất nước chuyển sang một thời kỳmới, tháng 11/2000 Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu lần thứXXIV đã được khai mạc Nhiệm kỳ Đại hội XXIV là nhiệm kỳ mở đầu củathế kỷ XXI; một thế kỷ với dự báo sẽ có nhiều biến đổi sâu sắc Đất nước tađang đảy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa sâu sắc Cùng với sự tác độngchung, huyện Quỳnh Lưu có những đặc điểm riêng là có nhiều tiềm năng,giàu truyền thống, nhân dân sớm tiếp cận với kinh tế hàng hóa, Khu côngnghiệp Hoàng Mai ra đời tạo sự thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Tuyvậy, khó khăn lớn là sự không đồng đều về dân trí, điều kiện khai thácnguồn lực, kết cấu kinh tế xã hội nhiều phức tạp Đại hội đã đề ra mục tiêu,nhiệm vụ những năm đầu thế kỷ XXI: phát huy hiệu quả mọi nguồn lực,khơi dậy trí tuệ, tiềm năng và sức mạnh toàn dân, đẩy mạnh chuyển dịch cơcấu và tăng cường tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng toàn diệncác lĩnh vực xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xây dựng Quỳnh Lưu sớm trởthành huyện giàu [14,27]
Đại hội XXIV đã đề ra một số chỉ tiêu lớn như: Tốc độ tăng trưởngkinh tế bình quân 5 năm là 13 – 14% Cơ cấu kinh tế: Nông ( nông, lâm,ngư) – công - dịch vụ - du lịch; chuyển dịch theo hướng tăng mạnh côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ [14,28]
Trang 36Những phương hướng mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ huyện đề ra làtrên cơ sở chỉ đạo của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), lầnthứ IX (2001) và lần thứ X (2006) Bám sát những Nghị quyết, chủ trương
đó Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quỳnh Lưu nhanh chóng bắt tay vàothực hiện nhiệm vụ, mục tiêu trong những năm 1996 - 2009 và đạt đượcnhững thành tựu hết sức to lớn trên tất cả các mặt kinh tế: nông - lâm - ngưnghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ
- du lịch, giao thông vận tải - thông tin liên lạc
2.2 Chuyển biến về kinh tế của huyện Quỳnh Lưu trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá (1996 - 2009)
2.2.1 Giai đoạn 1996 - 2000
*Nông – lâm – ngư nghiệp
Về nông nghiệp, Đại hội lần thứ XXIII của Đảng bộ huyện (5/1996)
đã đề ra định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá toàn diện,tăng nhanh giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích gieo trồng để đạt 20 -
25 triệu đồng/ha/năm, tạo vùng nguyên liệu chế biến từ trồng trọt chăn nuôi.Với biện pháp chủ yếu là bố trí cơ cấu vụ mùa, cây trồng đầu tư thâm canh
và nâng cao hệ số sử dụng đất, tăng nhanh vụ đông hàng hoá và vụ hè thu để
mở rộng diện tích gieo trồng Bố trí nghiêm ngặt thời vụ và cơ cấu cây trồng
có chất lượng cao vào sản xuất đại trà Đẩy mạnh phát triển cơ giới nhỏ vàđiện năng vào sản xuất như làm đất, vận tải, bơm nước, thu hoạch chế biếnnông sản nhằm giảm lao động nặng nhọc và rút bớt lao động sang mở mangngành nghề dịch vụ [12,26]
Với những chủ trương kịp thời đó, đến năm 2000 nông nghiệp huyện
đã tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng mùa vụ đúng hướng, tạo lập ba vụ
ổn định (vụ xuân, vụ hè thu mùa, vụ đông) Huyện đã đưa nhanh một số câytrồng mới, giống tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất phát triển theo hướng hànghóa, tỷ trọng ngày càng cao và giữ vị trí then chốt như lúa lai, ngô lai, lạc
Trang 37cao sản, vừng V6, mía cao sản và hoa quả khác Bước đầu, huyện đã hìnhthành một số sản phẩm hàng hóa có tính tập trung và cho giá trị kinh tế caotrên một đơn vị diện tích Huyện cũng đã hình thành một số vùng sản xuấtcây công nghiệp tập trung gắn với công nghiệp chế biến, tạo số lượng hànghóa, nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và xuất khẩu như vùng lạc BãiNgang; mía, dứa Quỳnh Tam, Quỳnh Châu ,Quỳnh Thắng
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính giai
đoạn 1996 - 2000
a) Cây lương thực
+ Năng suất tạ/ha 36,67 43,4
+ Sản lượng tấn 67.802 82.258
+ Năng suất tạ/ha 23,16 23,6
+ Năng suất tạ/ha 500 560
+ Sản lượng tấn 5.400 25.480
(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Quỳnh Lưu: Đề án đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn huyện Quỳnh Lưu thời kỳ 2001 – 2010)
Năm 1996, huyện ủy đã có Nghị quyết 02/UBND huyện có đề án vềđổi mới hoạt động các hợp tác xã nông nghiệp và khuyến khích phát triểncác loại hình hợp tác trên tất cả các lĩnh vực kinh tế 40 hợp tác xã đã đượckiện toàn theo luật, trong đó nhiều hợp tác xã đã đảm nhận được các khâu cơ
Trang 38bản, tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Ban Thường vụ Huyện ủy đã cóNghị quyết 03 và Hội đồng nhân dân huyện có đề án vận động nông dânchuyển đổi đất nên bước đầu đã tạo điều kiện cho thâm canh và đưa cơ giớivào sản xuất [ 14,8] Vì vậy, năm 2000 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 487
tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm là 6,25% Trong đó tỷ trọng trồng trọt60,5%, chăn nuôi 39,5% Sản lượng lương thực năm 2000 là 98.000 tấn (chỉtiêu hội nghị giữa nhiệm kỳ là 86.900 tấn, tăng 12.000 tấn) Bình quân lươngthực đầu người là 277,8 kg/năm, tăng 30% [14,8]
Chăn nuôi đã có bước tiến bộ khá nhờ tác động của cơ chế chính sách,ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chăn nuôi tăng cả về số lượng,chất lượng, cơ cấu đảm bảo Năm 2000, tổng đàn trâu là 15.897 con, tăng4.067 con; đàn bò là 19.950 con, tăng 57.060 con; tổng đàn gia cầm là891.796 con, tăng 383.663 con so với năm 1991 Huyện đã và đang thựchiện trương trình nuôi lợn nạc và một số mô hình chăn nuôi theo hướng côngnghiệp hóa cho giá trị kinh tế và thu nhập cao, từng bước đưa chăn nuôi trởthành ngành sản xuất chính [ 30,4]
Về lâm nghiệp, Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu nhận thức đúng vai tròquan trọng của rừng nên có nhiều chính sách cụ thể nhằm bảo vệ, chăm sóc
và phát triển rừng Trong 5 năm (1996 – 2000), Huyện ủy chủ trương quyhoạch và phát triển lâm nghiệp theo hướng xã hội hóa; xây dựng các môhình nông - lâm kết hợp, phát triển vườn nhà, vườn đồi, vườn rừng, pháttriển vùng cây công nghiệp, cà phê, mía đồi và tập đoàn cây ăn quả; chútrọng cả cây trồng phân tán, cây ven biển và rừng ngập mặn; triển khai dự ánbảo vệ phát triển phục hồi sinh thái và văn hóa du lịch Bắc Quỳnh Lưu Phấnđấu đến năm 2000, toàn huyện có 3000 ha thông, 1500 ha mía đồi, 300 ha càphê, 300 ha cây hoa hòe, 500 ha cây ăn quả Nhờ có những giải pháp vàphương hướng đề ra kịp thời nên kinh tế lâm nghiệp có bước tiến mạnh mẽ.Trong 5 năm đã giao 12.737 ha cho 2.110 hộ và nhóm hộ, đã đẩy nhanh quá
Trang 39trình xã hội hóa, hầu hết đất rừng đã có chủ Huyện ủy đã có Nghị quyết 10
và UBND huyện đã có Đề án về phát triển kinh tế vườn rừng Triển khai các
dự án rừng đặc dụng Bắc Nghệ An, đã có mô hình doanh nghiệp trồng rừng.Toàn huyện có 58 trang trại theo tiêu chí mới và nhiều hộ làm kinh tế nông –lâm kết hợp đạt hiệu quả tốt Độ che phủ tăng từ 22% (1996 ) lên 34%(2000) Năm 2000, toàn huyện đã trồng rừng tập trung được 8.272 ha (trong
đó có 250 ha rừng nguyên liệu bột giấy) quản lý, bảo vệ 900 ha, chăm sócrừng trồng 2.500 ha, khoanh nuôi phục hồi 5.582 ha [ 30,4] Thành lập tổngđội thanh niên xung phong xây dựng kinh tế tại xã Quỳnh Thắng đã khẳngđịnh hướng đi đúng theo hướng nông – lâm kết hợp, góp phần tăng nhanhkinh tế vùng núi, bán sơn địa với bảo vệ môi trường sinh thái [ 14,9] Trongthời gian 6 năm (1993 – 1998), thực hiện tốt các dự án 4304, 327, diện tíchrừng đã tăng 8.775 ha Bình quân mỗi năm khoanh nuôi phục hồi 600 ha vàtrồng mới 900 ha Huyện đã làm tốt công tác bảo vệ, ngăn chặn nạn phárừng nên độ che phủ rừng tăng từ 9% lên 25% Trồng cây ăn quả được chútrọng hơn, đã du nhập giống và nhân giống tốt tại chỗ các loại cây như vảithiều, nhãn, hồng, na dai Đến năm 1998 toàn huyện đã trồng được 413,6 hacây ăn quả các loại Cây công nghiệp đã trồng thêm hàng trăm ha thôngnhựa và tạo được vùng chuyên canh cây cà phê [19,1] Ngoài việc trồngrừng phòng hộ theo chương trình 327 và trồng cây phủ xanh đất trống đồitrọc theo dự án 4304, đã xây dựng được nhu cầu đặc dụng quanh hồ vực.Tổng vốn đầu tư cho trồng rừng là 6,629 tỷ đồng trong đó vốn dự án 6,387
tỷ đồng, vay 304 triệu đồng Tổng số vốn đầu tư cho cây ăn quả là 3 tỷ đồng,trong đó vay ngân hàng 240 triệu, vay của hội nông dân 170 triệu và dân tự
bỏ vốn là 2,590 tỷ đồng [19,2] Kinh tế vườn, rừng đã tạo việc làm, phân bốthêm lao động, khôi phục vốn rừng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tếtăng thu nhập và đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều hộ nhờ phát triểnkinh tế vườn, rừng đã giàu lên, kinh tế - xã hội các xã vùng bán sơn địa của
Trang 40huyện đã có sự thay đổi nhanh chóng.
Về ngư nghiệp, kinh tế biển được nhận định là một trong ba thế mạnhcủa huyện, có quan hệ tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển và chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp - công nghiệp - dịch vụ Huyện
ủy có Nghị quyết 09 và Ủy ban nhân dân huyện có Đề án về phát triển kinh
tế biển Dự án đánh bắt, khai thác hải sản xa bờ được triển khai tốt tăngnhanh số thuyền công suất lớn có trang bị khá hiện đại Ra đời một số môhình chế biến, dịch vụ toàn phần nghề cá, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền.Lao động nam có việc làm và việc làm cho lao động nữ cơ bản được giảiquyết Chương trình nuôi thủy sản từng bước tăng dần nuôi thâm canh, bánthâm canh, thu hẹp nuôi quảng canh Tổng số vốn nhà nước và nhân dân đầu
tư cho ngành thủy sản trong 5 năm là 104 tỷ đồng, trong đó dân tự bỏ vốn ra
là 54% [14,9] Cơ cấu tàu thuyền có sự chuyển đổi theo hướng giảm thuyềnthủ công có công suất nhỏ, tăng thuyền lớn công suất cao Cuối năm 1995,toàn huyện có gần 1.600 chiếc thuyền với tổng công suất 30.000 CV, cuốinăm 1997 lên 1.332 chiếc với tổng công suất là 42.195 CV và năm 2000 có1.226 chiếc với tổng công suất là 54.572 CV, nâng công suất máy bình quân
từ 18 CV trên thuyền năm 1995 lên 45 CV trên thuyền năm 2000 [30,4].Mức tăng trưởng kinh tế bình quân 8,8% năm Sản lượng hải sản khai thácnăm 2000 là 9.500 tấn, tăng 27,5% so với năm 1995 và tăng mạnh về giá trịsản phẩm Sản lượng nuôi 1.500 tấn, tăng 53,10% Giá trị xuất khẩu ngànhthủy sản đạt 6,4 triệu USD [14,9]
Nghề muối có diện tích sản xuất ổn định, tập trung chủ yếu ở các xãQuỳnh Thuận, An Hòa, Sơn Hải, Quỳnh Minh, Quỳnh Lương, Quỳnh Thọ,Quỳnh Nghĩa Sản lượng đạt bình quân 55.300 tấn/năm Đời sống diêm dântrong năm 2000 đỡ khó khăn hơn do giá cả được cải thiện
Thành quả kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp đạt được trong 5 năm(1996 – 2000) đã tác động tích cực tới các ngành kinh tế khác trong huyện