Tác giả đã trìnhbày khá tỉ mỉ về t tởng của Phan Bội Châu, về phong trào quốc gia dân tộc màPhan khởi xớng, và về mối quan hệ của phong trào đó với Nhật Bản, Châu á.Ngoài ra, cũng đã có
Trang 1sự giúp đỡ của các thầy trong khoa lịch sử, khoa đào tạo sau đại học trờng Đạihọc Vinh… Đặc biệt, tác giả đã đ Đặc biệt, tác giả đã đợc sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGSHoàng Văn Lân.
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Bình
mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua
những biến động lớn Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hơng Khê (1885 - 1895)
do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo đã đồng thời kết thúc luôn cả mộtthời kỳ đấu tranh vũ trang vô cùng oanh liệt của nhân dân ta thuộc phạm trùCần Vơng Về cơ bản, thực dân Pháp đã đặt ách đô hộ lên toàn cõi Việt Nam.Trong khi mà xã hội Việt Nam phân hoá cha thành thục dới tác động của cuộc
Trang 2khai thác thuộc địa lần thứ nhất, thì một trào lu t tởng mới đang "chấn động á
Đông" và dội mạnh vào nớc ta Bối cảnh đó đã ảnh hởng lớn đến suy nghĩ vàhành động của giới văn thân sĩ phu và họ lại là lực lợng tiếp tục đứng ra tổchức và lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập cho dân tộc với con đờngmới, phơng pháp mới Mặc dầu không thành nhng phong trào đấu tranh do sĩphu khởi xớng và dẫn dắt đã khuấy động lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc và làcơ sở quan trọng để những thế hệ trí thức mới tiếp nhận con đờng cách mạngvô sản
1.2 Tình hình trên cũng đã tác động lớn đến sĩ phu Nghệ Tĩnh, khiến
họ không thể kh kh ôm lấy t tởng "trung quân" mà họ đã đợc học qua sách vởthánh hiền Từ chỗ trăn trở, lo âu và bế tắc trong t tởng, điều này đã đợc cụ VõLiêm Sơn - một chí sĩ yêu nớc ngời Nghệ Tĩnh sau này viết lại: "Thôi thánhhiền ! Thôi hào kiệt ! Thôi anh hùng ! Nghìn năm sự nghiệp nớc về Đông",
đến chỗ họ lại tiên phong đón nhận, tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạngtheo khuynh hớng mới Sự biến chuyển trong t tởng và hành động của họ đãtrở thành động lực to lớn làm dấy lên phong trào đấu tranh sôi nổi đầu thế kỷ
XX ở Nghệ Tĩnh
1.3 Là một ngời con sinh ra và lớn lên trên quê hơng Nghệ Tĩnh, tôi rất
khâm phục và ngỡng mộ những bậc sĩ phu yêu nớc tiền bối Tìm hiểu về cuộc
đời hoạt động và đóng góp của các cụ đặc biệt là sự chuyển biến về t tởng cuả
họ trong buổi giao thời của lịch sử dân tộc vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
là một việc làm rất cần thiết Qua đó nhằm làm sáng tỏ một phần nếp nghĩ,cách sống của cả một thế hệ trí thức dới tác động của hoàn cảnh lịch sử, trớctình hình vận mạng quốc gia đang bị ngoại xâm giày xéo Thêm vào đó, đểthấy đợc vai trò của giới sĩ phu Nghệ Tĩnh đối với phong trào yêu nớc và cáchmạng ở quê nhà nói riêng và cả nớc nói chung trong thời gian cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX
Không những thế, qua việc khảo cứu sự chuyển biến về t tởng của giới
sĩ phu Nghệ Tĩnh nhằm dựng lại ở một góc độ nhất định tình hình lịch sử quêhơng, dân tộc trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động Cũng qua đó, nêu lên
sự cần thiết phải năng động, nhạy bén trớc thời cuộc trong xu thế phát triểncủa dân tộc và thế giới, điều mà không những chỉ giới trí thức mà tất cả nhữngngời Việt Nam yêu nớc đều phải ý thức đợc để cùng góp sức mình vào việc
Trang 3xây dựng đất nớc giàu mạnh, phồn vinh, hoà nhịp với sự phát triển của khuvực và thế giới.
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Chuyển biến t tởng của sĩ phu Nghệ Tĩnh từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX" làm luận
văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Nghiên cứu về sự phát triển của t tởng ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầuthế kỷ XX đã đợc nhiều học giả trong và ngoài nớc quan tâm, tiêu biểu làcuốn "Sự phát triển của t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng thángTám" (2 tập) của giáo s Trần Văn Giàu Qua tác phẩm, tác giả đã dựng lại bứctranh lịch sử dân tộc trong thời gian chế độ quân chủ tập quyền Việt Nam
đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng, về sự xâm lợc, cai trị của thực dânPháp và phong trào đấu tranh chống Pháp cho đến khi cách mạng tháng Támnăm 1945 thành công Qua cuốn sách, tác giả đã làm rõ sự thất bại của ý thức
hệ phong kiến, ý thức hệ t sản trớc quá trình vận động của lịch sử Cuốn
"Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản - Châu á" (2tập) của Shiraishi Masaya - một nhà nghiên cứu ngời Nhật Tác giả đã trìnhbày khá tỉ mỉ về t tởng của Phan Bội Châu, về phong trào quốc gia dân tộc màPhan khởi xớng, và về mối quan hệ của phong trào đó với Nhật Bản, Châu á.Ngoài ra, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về phong trào yêu nớcchống Pháp cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong cả nớc nói chung và ở NghệTĩnh nói riêng Trong đó có cuốn "Phan Đình Phùng, nhà lãnh đạo 10 nămkháng chiến (1886 - 1895) ở Nghệ Tĩnh" của Đào Trinh Nhất, cuốn "NghệTĩnh với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trong 30 năm thế kỷ XX"của Đinh Trần Dơng, cùng với nhiều tác phẩm, luận văn, bài viết đăng trêncác tạp chí nghiên cứu khác… Đặc biệt, tác giả đã đ
Các công trình đó đã dựng lại toàn cảnh phong trào yêu nớc chống Phápcủa cả nớc nói chung và của nhân dân Nghệ Tĩnh nói riêng trong thời giancuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, cha có công trình nào đi sâu vàonghiên cứu sự biến chuyển về t tởng và vai trò của sĩ phu Nghệ Tĩnh trong thờigian đó Song các công trình đó cũng cho chúng ta thấy rõ truyền thống yêu n-
ớc, ý chí đấu tranh kiên cờng bất khuất của nhân dân Nghệ Tĩnh nói riêng vàcả nớc nói chung trong một giai đoạn đầy biến động của dân tộc Đó cũng là
Trang 4cơ sở, là nguồn t liệu hết sức quan trọng để chúng tôi tham khảo trong quátrình viết đề tài của mình.
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Trình bày sự chuyển biến t tởng chính trị của sĩ phuNghệ Tĩnh trong mối liên hệ với sĩ phu của các địa phơng khác
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu:
4.1 Nguồn t liệu:
- Tài liệu gốc: Một số tác phẩm của Quốc sử quán triều Nguyễn, một sốthông báo cuả công sứ Pháp có liên quan đến hoạt động của sĩ phu Nghệ Tĩnhcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Tài liệu nghiên cứu:
+ Chúng tôi tham khảo những tài liệu nghiên cứu văn hoá, lịch sử nh:
"Sự phát triển của t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng thángTám" (2 tập) của Trần Văn Giàu; "Nghệ Tĩnh với phong trào cách mạng giảiphóng dân tộc trong 30 năm đầu thế kỷ XX" của ĐinhTrần Dơng; "Danh nhânNghệ Tĩnh" (4 tập) của nhiều tác giả Nghệ Tĩnh; "Danh nhân Hà Tĩnh" củanhiều tác giả Hà Tĩnh; "Thơ văn yêu nớc và cách mạng đầu thế kỷ XX" của
Đặng Thai Mai,… Đặc biệt, tác giả đã đ
+ Ngoài ra, chúng tôi còn khai thác các tài liệu kỷ yếu khoa học, một sốtài liệu chép tay lu trữ tại Th viện Hà Tĩnh, Nghệ An, một số báo, tạp chí cóliên quan đến đề tài
Trang 5+ Tài liệu điền dã: Chúng tôi tiến hành gặp gỡ, phỏng vấn các vị bô lão
địa phơng, con cháu những sĩ phu có liên quan đến đề tài
4.2 Phơng pháp nghiên cứu:
- Phơng pháp luận: Để thực hiện nhiệm vụ khoa học đặt ra, chúng tôidựa trên cơ sở phơng pháp luận Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và chủ trơng
đờng lối của Đảng
- Phơng pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vậndụng phơng pháp lịch sử để trình bày quá trình chuyển biến về t tởng của sĩphu Nghệ Tĩnh dới tác động của tình hình thế giới và trong nớc; sử dụng ph-
ơng pháp lô gíc để làm rõ vì sao lại có sự chuyển biến đó và tác động của nó
đến phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Chúng tôi còn sử dụngphơng pháp so sánh để thấy đợc những nét chung và tính đặc thù của sĩ phuNghệ Tĩnh với sĩ phu cả nớc Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phơng pháp liênngành, sử dụng sử liệu học, các tập thơ văn của Nho sĩ xứ Nghệ, các sách lịch
sử t tởng, lịch sử văn hoá… Đặc biệt, tác giả đã đ
5 Đóng góp của luận văn:
- Luận văn muốn giới thiệu cho bạn đọc quá trình chuyển biến t tởng của
sĩ phu Nghệ Tĩnh từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giúp bạn đọc vừa có mộtcái nhìn toàn diện về sĩ phu Nghệ Tĩnh trong thời gian trên, vừa có đợc nhữngthông tin cụ thể về một số sĩ phu tiêu biểu đã góp sức mình vào sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc và sự phát triển của nền văn hoá nớc nhà
- Từ việc rút ra những ảnh hởng của sĩ phu Nghệ Tĩnh đối với phongtrào đấu tranh chống Pháp của địa phơng và cả nớc, luận văn muốn đa ra một
số nhận xét cơ bản về vai trò, vị trí của sĩ phu Nghệ Tĩnh trong sự nghiệp đấutranh vì sự tồn vong của dân tộc
- Luận văn còn nhằm góp phần giáo dục tinh thần yêu nớc, bồi đắptruyền thống "trọng nghĩa", "vì dân", "vì nớc" cho thế hệ trẻ
- Thông qua luận văn, tác giả muốn gửi một bản thông điệp cho nhữngngời lãnh đạo tỉnh nhà trong việc cần có những biện pháp hữu hiệu để huy
động sức mạnh của trí thức hiện nay cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nớc, quê hơng
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungchính của luận văn đợc triển khai qua 3 chơng:
Trang 6ơng I: Những yếu tố tác động tới sự chuyển biến t tởng của sĩ phu
Nghệ Tĩnh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
kỷ XX 1.1 vài nét về điều kiện địa lý, lịch sử văn hoá nghệ tĩnh
1.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên:
Nghệ Tĩnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam, nằm từ vĩ độ 17053'
đến 20002' Bắc và kinh độ 103002' đến 106030' Đông Phía Bắc giáp tỉnhThanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp nớc bạn Lào vàphía Đông giáp biển Đông
Nghệ Tĩnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt:
"Một mùa xuân nghèo màu sắc, hiếm âm thanh Hè đến là nắng với gió
Trang 7Những đợt Nam Lào làm nứt đất, nẻ đồng, cạn cả khe suối, khô róc cả giếng,
ao, đầm hồ v.v… Đặc biệt, tác giả đã đ Tiếp theo là mùa thu với ma lụt, mùa đông ủ dột, lạnh lẽotiêu điều" [51, 423 - 425]
Ruộng đất Nghệ Tĩnh phần nhiều rắn, xấu, ít bằng phẳng" [60, 146].Ruộng núi thì cao khô thiếu nớc, ruộng gần biển thì chua cạn, bạc màu Điều
đó khiến đời sống của nhân dân xứ Nghệ có phần nghèo khó, cơ cực hơn sovới c dân nhiều tỉnh trong nớc
Mặc dầu điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi nhng bù lại tựnhiên đã ban tặng cho xứ Nghệ một hệ thống núi non hùng vĩ và những dòngsông chở nặng phù sa Những dãy núi Giăng Màn, Thiên Nhẫn, Đại Huệ,Hồng Sơn v.v… Đặc biệt, tác giả đã đ đã tạo nên những nét chấm phá sinh động cho bức tranh làngmạc xứ Nghệ "Mấy con sông Lam Giang, Phố Giang, La Giang cuồn cuộn từ
đại ngàn chảy xuống dội cho những cánh đồng mà cánh tay của ngời dân cày
đã cớp đoạt với thiên nhiên từng mảnh, từng mảnh từ mấy ngàn năm nay".[30, 14]
Núi sông đã gắn bó với đời sống của nhân dân xứ Nghệ và là đề tài củathi ca nhạc hoạ Trong một bài thơ tâm sự, đại thi hào Nguyễn Du đã từngviết:
"Lam thuỷ, Hồng sơn vô hạn thắng Bằng nhân thu thập trợ thanh ngâm" [30, 14]
(Núi Hồng, sông Lam đẹp vô cùng, tha hồ anh nhặt nhạnh để làm đề tàingâm vịnh)
1.1.2 Điều kiện lịch sử - văn hoá:
1.2.1 Nghệ Tĩnh là vùng đất ngàn năm văn hiến Căn cứ vào các di chỉ
khảo cổ, vào ngôn ngữ, phong tục thì đây là một trong những nơi loài ngời cómặt rất sớm trên đất nớc ta Từ nền văn minh mài đá, đúc đồng đến dùng đồsắt, trồng lúa nớc, là một quá trình con ngời ở đây đã quật cờng, bền bỉ đấutranh để lợi dụng và khắc phục tự nhiên
Thời vua Hùng, Nghệ Tĩnh thuộc Bộ Cửu Đức Đến buổi đầu thời Bắcthuộc Nghệ Tĩnh thuộc huyện Hàm Hoan - huyện lớn nhất nằm ở phía Namquận Cửu Chân Lúc nhà Đờng cai trị, miền Nghệ Tĩnh gồm 2 châu (DiễnChâu và Hoan Châu) Đến thời Tiền Lê (981 - 1009), bên cạnh châu cũ, LêHoàn lập thêm châu Thạch Hà Thời Lý Thái Tông (1036), đổi Hoan Châuthành Châu Nghệ An, tên Nghệ An có từ đó Vào năm 1831, Minh Mạng tách
2 phủ Đức Thọ và Hà Hoa thuộc Nghệ An đặt làm tỉnh Hà Tĩnh, nhng vẫn chỉ
có một tổng đốc An Tĩnh Đến năm 1852, Tự Đức bỏ tỉnh Hà Tĩnh và sát nhập
Trang 8vào Nghệ An, nhng đến 1875, Tự Đức lại bỏ đạo Hà Tĩnh lập lại tỉnh Hà Tĩnh
nh trớc Đến đầu 1976, Chính phủ ta sát nhập 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh làmmột gọi là Nghệ Tĩnh, nhng đến đầu năm 1991 lại tách ra thành 2 tỉnh nh cũ
Nh vậy, trong quá trình phát triển của mình, tỉnh Nghệ Tĩnh lúc thì nhập lại,lúc thì chia ra, nhng trên một địa hạt văn hoá, mảnh đất núi Hồng, sông Lam
đợc gọi chung là xứ Nghệ với một vùng văn hoá đặc sắc - Vùng văn hoá "XứNghệ"
Điều kiện địa lý tự nhiên của vùng đã tạo nên những con ngời NghệTĩnh có đức tính cần cù, chịu thơng, chịu khó, sống cần kiệm, tính thẳng thắn,cơng trực, biểu lộ tình cảm chân thành không khách sáo Các tác giả viết ĐạiNam nhất thống chí nhận xét về ngời Nghệ Tĩnh: "Dân nghèo, tục cần kiệm,nhà nông chăm chỉ ruộng nơng, học trò chuyên học hành" [60, 146]
1.2.2 Không những cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất, ngời
Nghệ Tĩnh, còn dũng cảm kiên cờng chống lại áp sức bất công Từ bao đời, xứNghệ là đất "trọng trấn", "viễn trấn", " là thành đồng ao nóng của cả nớc và làthen khoá của các triều đại" [15, 63] ở vị trí địa lý nằm giữa 2 miền Nam -Bắc, con ngời xứ Nghệ đã trở thành ngời đứng mũi chịu sào, vừa chống ngoạixâm từ Bắc vào, lại vừa phải đối phó với sự tấn công của các quốc gia phongkiến Phơng Nam Ngay từ thời Bắc thuộc, nhiều cuộc khởi nghĩa lớn của ngờidân xứ Nghệ đã nổ ra, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh
đạo (722) chống lại ách thống trị của nhà Đờng Trong kỷ nguyên độc lập, tựchủ, ngời xứ Nghệ cũng đã góp nhiều công sức cho những chiến thắng vẻvang của dân tộc chống các thế lực ngoại bang Vào cuối thế kỷ X, Cao DanhHựu, một danh tớng quê Can Lộc đã giúp Lê Hoàn đánh tan quân xâm lợcnhà Tống trên sông Bạch Đằng (981) Trong cuộc kháng chiến chống MôngNguyên lần 2 (1285) khi triều đình và đại quân rút khỏi Thăng Long để thựchiện chớc "thanh dã", vua Trần Nhân Tông đã đặt cả niềm tin vào đội quânhậu bị hùng hậu của Nghệ An khi viết lên đuôi thuyền mấy câu thơ:
" Cối kê cựu sự quân tu kí Hoan Diễn do tồn thập vạn binh "
(Cối kê chuyện cũ ngời nên nhớHoan Diễn còn kia chục vạn quân) [30, 16]
Đầu thế kỷ XV, trong cuộc kháng chiến chống xâm lợc nhà Minh,Nghệ Tĩnh là căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi (1407 - 1408), khởi
Trang 9nghĩa Trần Quý Khoáng (1409 - 1413) Quốc công Đặng Tất, Bình chơng
Đặng Dung là những thủ lĩnh chủ chốt giúp nhà Hậu Trần lập những chiếncông lớn Tiếp đó dới ngọn cờ tụ nghĩa của Lê Lợi, nhân dân Nghệ Tĩnh đãhăng hái tham gia Đất Đỗ Gia (Hơng Sơn) và dãy núi Thiên Nhẫn trở thành
đại bản doanh của Lê Lợi, nơi mà Nguyễn Tuấn Thiện (ngời Hơng Sơn) đã kếtnghĩa anh em với Lê Lợi để thề diệt quân Minh Sau thắng lợi, ngời thủ lĩnhtối cao của cuộc khởi nghĩa đã nhận xét nh một bản tổng kết chiến cuộc: "Đất
xứ Nghệ thắng địa, lính xứ Nghệ thắng binh" [7, 38]
Đến thế kỷ XVIII, khi Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc đểdiệt quân xâm lợc Mãn Thanh, nhân dân Nghệ Tĩnh đã hăng hái tham gia vàgiúp đỡ hết lòng Dơng Văn Tào (Cẩm Xuyên), Ngô Văn Sở (Can Lộc), HồPhi Chấn (Thạch Hà) đã giúp vua lập công xuất sắc Đặc biệt, La Sơn phu tửNguyễn Thiếp đợc Quang Trung ngỡng mộ mời ra làm quân s
Từ khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, nhân dân Nghệ Tĩnh liên tục nổidậy chống thực dân Pháp xâm lợc và triều đình phong kiến Nguyễn đầu hàngdới ngọn cờ của Trần Tấn, Đặng Nh Mai Đặc biệt cuộc khởi nghĩa Hơng Khê
do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo đã trở thành đỉnh cao của phongtrào Cần Vơng trong cả nớc
Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, nhân dân Nghệ Tĩnh dới sựlãnh đạo của Đảng đã làm nên một Xô viết anh hùng Nhiều ngời con NghệTĩnh là những chiến sĩ cách mạng trung kiên của Đảng, của dân tộc
Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 1954) và Mĩ (1954 1975) nhân dân Nghệ Tĩnh đã góp phần to lớn về sức ngời và sức của chothắng lợi chung của đất nớc
-1.2.3 Nói đến ngời Nghệ Tĩnh, không thể không nói đến truyền thống
học hành khoa cử Ngời mở đầu cho nền khoa bảng Nghệ Tĩnh là Bạch Liêu,quê làng Nguyên Xá (nay là xã Mã Thành huyện Yên Thành) đậu trạngnguyên năm 1266 đời Trần Thánh Tông Từ đó đến hết thời Lê, Nghệ Tĩnh cókhoảng 150 ngời đỗ đại khoa, trong đó có 6 trạng nguyên Thời Nguyễn cả n-
ớc có khoảng 660 ngời đỗ từ phó bảng trở lên thì Nghệ Tĩnh chiếm 150 ngời[2, 11]
Tiêu biểu cho các làng xã có truyền thống hiếu học là làng Quỳnh Đôi(Quỳnh Lu), có 11 ngời đỗ tiến sỹ, bên cạnh đó là các làng xã khác nh HoànhSơn, Hồ Liễu (Nam Đàn), Kim Khê, Đông Hải (Nghi Lộc), Võ Liệt, Đồng
Trang 10Văn (Thanh Chơng), An ấp (Hơng Sơn), Tiên Điền, Xuân Viên (Nghi Xuân) Các nhà khoa bảng Nghệ Tĩnh có nét rất riêng so với các nơi khác Các tác
… Đặc biệt, tác giả đã đ
giả "Đại Nam nhất thống chí" đã nhận định: "Học trò Nghệ An chuộng khítiết, nhiều ngời hào mại, có chí chăm học, văn chơng thì dùng lời lẽ cứng cát,không cần đẹp lời" [64, 62]
Đây chính là ngọn nguồn sản sinh ra nhiều nhà Nho khảng khái, những
ông đồ hay chữ sống gần gũi với nhân dân, giàu lòng nhân đạo, có tinh thầnyêu nớc cao Đó chính là tính cách nổi bật của nhà Nho Nghệ Tĩnh NguyễnXuân Ôn đã từng có thơ:
"Non nớc Hoan Châu đẹp tuyệt vời Nêu gơng trọng nghĩa biết bao ngời Thơ vịnh gơm rồng đầy khí tiết
Sử truyền bảng hổ lắm anh tài" [64, 62]
1.2 Vài nét về t tởng sĩ phu Nghệ Tĩnh đến cuối thế kỷ XIX:
2.1 Thời Lý - Trần, Nghệ Tĩnh còn là đất trại nên cha theo kịp các lộ
ngoài Bắc về học hành, khoa bảng Sau trại trạng nguyên Bạch Liêu ngời YênThành (1266, đời Trần Thánh Tông), thì tại kỳ thi Bảo Phù thứ 3 (1273), có
Đào Tiêu (Yên Hồ - Đức Thọ) đậu trạng nguyên khai khoa Tiếp đó là Sử HyNhan (Ngọc Sơn - Đức Thọ) đậu trạng nguyên khoa Kỷ Mão, dới triều vuaTrần Dụ Tông (1363)
Đến thời Lê Sơ, dới triều Lê Thái Tông (1434 - 1442), trờng thi HơngNghệ An đợc xây dựng ở phía Nam núi Lan Thành (Nghĩa Liệt - HngNguyên) Cùng với những chính sách giáo dục của nhà Lê cũng nh sự khuyếnkhích việc học hành ở nhiều làng xã mà lực lợng sĩ phu xứ Nghệ ngày càng
đông đảo Nếu tính từ thế kỷ XV - XIX, riêng ở Nghệ Tĩnh có 146 tiến sĩ trêntổng số 2.330 vị của cả nớc (chiếm tỉ lệ 6,2%) Chỉ tính riêng dới TriềuNguyễn, Nghệ Tĩnh có 886 ngời đậu (chiếm tỷ lệ 16,9% cả nớc trong đó có
124 vị đậu đại khoa) [30, 78]
Từ khi nhà Lý mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài (1075) đến kỳ thiHơng cuối cùng ở trờng Nghệ (1919), thì nội dung thi cử nhằm chọn ngời đỗ
đạt ra làm quan trị nớc cơ bản lấy trong các tác phẩm kinh điển của Nho giáo
Đó là Ngũ kinh (Dịch, Lễ, Thi, Th, Xuân Thu) và Tứ Th (Luận ngữ, Mạnh Tử,
Đại học, Trung Dung) Nội dung cơ bản của Nho giáo là "Cơng thờng" vàcùng với nó là những "Cửu trù, thiên mệnh, chính danh, nhân trị, quân tử… Đặc biệt, tác giả đã đ"
Trang 11Các nhà Nho coi đó là chân lý vĩnh cửu, là "Đạo" và quan niệm rằng "Thiênbất biến, đạo diệc bất biến" Họ học với mục đích "Tu thân - Tề gia - Trị quốc
- Bình Thiên hạ" theo gơng Nghiêu Thuấn
Số lợng sĩ tử đi thi thì đông đảo nhng chỉ một số rất ít trong họ đỗ đạt ralàm quan, còn phần đông lại trở về quê cũ với t cách là kẻ sĩ Họ trở thành bạncủa nông dân, đồng cảm với những ngời dân lao động Họ đảm đơng chứcnăng môi giới, điều tiết hoà hoãn quan hệ giữa làng xã với Nhà nớc, cung cấptri thức lãnh đạo, kỹ năng hành chính cần thiết cho sự vận hành mang tính
"trực trị" của làng xã, họ còn đảm đơng chức năng giáo dục và các chức năngvăn hoá khác ở làng xã Với vị trí đó của kẻ sĩ ở các miền quê mà t tởng Nhogiáo cũng chi phối sâu đậm đến tận "hang cùng ngõ vắng" Trong gần mời thế
kỷ, trong quan niệm của kẻ sĩ và ngời dân thì nhân dân đợc coi là của trời vàtrời giao cho vua sở hữu Dân và nớc thuộc trách nhiệm của vua Nhà vua "thếthiên hành đạo", đứng trên cao mà ban "ma thuận gió hoà" cho c dân trong n-
ớc Ngời dân sống trong thời đại đó gọi vua là "vua cha" (quân phụ) và tự coimình là tôi con (thần tử) của vua Mọi ngời đều phải gắn bó với vua cha, hành
động vì việc nớc nhng lại thông qua nghĩa vụ đối với vua… Đặc biệt, tác giả đã đ Mạnh Tử nói:
"Quốc gia hng vong, thất phu hữu trách", nguyên tắc mà Mạnh Tử nêu lên đòihỏi nhân dân phải gắn bó với sự tồn vong của nhà nớc quân chủ, với một ôngvua, chứ không phải có ý nghĩa giao cho tôi con quyền tự ý hành động vì việcnớc
Nh vậy chúng ta có thể thấy rằng, tinh thần yêu nớc gần nh trong suốtcả thời kỳ văn minh nông nghiệp mang hình thức của t tởng trung nghĩa T t-ởng yêu nớc thời đại đó cũng thờng gắn với ớc mơ về một xã hội tốt đẹp gọi là
"trị bình", có nh thế dân mới an c lạc nghiệp, đó là xã hội có "vua sáng, tôihiền"
Nội dung t tởng đó đã chi phối lớn đến tầng lớp sĩ phu xứ Nghệ Phầnlớn trong số họ học hành thi cử ngõ hầu đợc đỗ đạt để thể hiện tấm lòng củamình đối với non sông xã tắc, mong muốn đợc tôn phù một mình quân trongxã hội "trị bình" ấy
Tuy nhiên, cũng trong thời gian mà làn sóng văn minh nông nghiệp ngựtrị ở Việt Nam ấy, có một thời kỳ xã hội loạn lạc hàng thế kỷ, đó là sự tranhchấp quyền lực giữa Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn Chính hiện tợng tiếm nghịch,
sự cấu kết giữa các thế lực phong kiến với bên ngoài đã tác động lớn đến sĩ
Trang 12phu cả nớc nói chung và xứ Nghệ nói riêng Một số dã dứt ra khỏi sự ràngbuộc của t tởng trung quân chính thống để đứng về phía nhân dân chống lạitriều đình quân chủ Một số từ bỏ chức tớc để về ở ẩn nơi thôn dã, đọc sách,dạy học trò, sáng tác thơ văn (Hoàng Trừng, Mai Đức Bá, Nguyễn Thiếp… Đặc biệt, tác giả đã đ).Cuộc sống ẩn dật bất đắc chí đã tạo điều kiện cho các sĩ phu hiểu rõ hoàn cảnhkhổ cực của các tầng lớp bị áp bức và nhãn quan của họ đối với thời cuộc cũngdần dần có sự chuyển biến.
Cũng có những ngời nuôi chí phò vua, giúp nớc, cứu dân, hăm hở đemtài năng phục vụ vơng triều nh Nguyễn Công Trứ Ông là đồ đệ trung thànhcủa Khổng Mạnh Điều đó thể hiện trong triết lý sống của ông:
"Có trung hiếu thì đứng trong trời đất Không công danh thì nát với cỏ cây" [7, 279]
Với phơng châm đó, ông đã mang hết nhiệt tình, khả năng của mình đểphục vụ cho chế độ nhà Nguyễn Ông là ngời có công lớn trong việc chỉ đạo,
đốc thúc việc khẩn hoang để lập ra hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và TiềnHải (Thái Bình) Ông kiên quyết bảo vệ chế độ quân chủ Theo ông, kẻ nàochống lại vua là nghịch tặc Vì thế, ông đã tham gia đàn áp nhiều cuộc khởinghĩa nông dân (khởi nghĩa Phan Bá Vành, khởi nghĩa Nông Văn Vân… Đặc biệt, tác giả đã đ) Nh-
ng quan niệm "Thợng trí quân, hạ trạch dân" của nhà Nho đã không còn đất
để thực hiện trong khi mà hệ t tởng Nho giáo đã bớc vào độ suy tàn Cuốicùng ông chua xót nhận ra:
"Chen chúc lợi danh đà chán ngắt Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao
Đám phồn hoa trót bớc chân vào Sực nghĩ lại giật mình sao xiết kể"
Và ông đã có thái độ thoát ly đến cực đoan:
"Kiếp sau xin chớ làm ngời Làm cây thông đứng giữa trời mà reo" [7, 280]
Từ sự diễn biến trong t tởng của kinh điền sứ Nguyễn Công Trứ, chúng
ta cũng thấy đợc phần nào quan niệm về tôi trung của sĩ phu đã có sự lung lay.Việc ôm ấp t tởng tôn phò một ông vua không còn mang tính "bất biến" nh tr-
ớc nữa Điều này đợc thể hiện rõ nét hơn trong t tởng của tầng lớp sĩ phuchống Pháp cuối thế kỷ XIX
Trang 132.2 Trong khi c dân Đại Nam đang êm đềm trong nền văn minh nông
nghiệp thì ngày 01 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công vàocửa Hàn (Đà Nẵng) mở màn cho quá trình xâm lợc nớc ta Nếu nh trớc đây kẻthù của chúng ta mặc dầu rất mạnh nhng lại ở cùng một phơng thức sản xuất,một trình độ văn minh với những nét tơng đồng về văn hoá, lối sống, thì lầnnày dân tộc Việt Nam phải đơng đầu với một kẻ địch cao hơn một giai đoạnphát triển kinh tế -xã hội, hơn hẳn một trình độ văn minh Đứng trớc kẻ thù
nh vậy, triều Nguyễn không dám kiên quyết chống lại mà từng bớc nhân ợng rồi đầu hàng quân xâm lợc
nh-Trớc tình hình đó, nhân dân ta với truyền thống yêu nớc, đấu tranh kiêncờng bất khuất, đã vùng lên đánh giặc Phong trào phát triển khắp cả nớc vàgây cho kẻ thù nhiều phen lúng túng Chúng buộc phải chuyển từ âm mu đánhnhanh thắng nhanh sang đánh lâu dài - điều mà chúng hoàn toàn không muốnkhi tiến hành xâm lợc nớc ta Năm 1862, triều đình Nguyễn ký điều ớc cắt 3tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp Hành động đó đã khiến những ngời cótâm với sự tồn vong của quốc gia dân tộc hết sức căm phẫn Ngự sử PhanHuân (ngời Thạch Hà) đã gửi "sớ" lên chất vấn vua Tự Đức "Thiên hạ là củathiên hạ, của riêng chi bệ hạ mà chuyên giữ lấy một mình" Ông đòi trớc hếtphải "giết Phan Thanh Giản tại trận tiền để nghiêm quân lệnh, sau xin đuổi Tr-
ơng Đăng Quế về nhà để ngăn chặn mu gian" [7, 209] Trong lời "sớ" củaPhan Huân cho chúng ta thấy, nhờ lòng yêu nớc chân thành mà ông đã đạt đếnmột ý thức khá sâu sắc rằng "Thiên hạ là của thiên hạ" chứ hoàn toàn khôngphải của nhà vua Điều này trái với t tởng Nho giáo cổ truyền Chính tinh thần
và hành động của quan ngự sử Phan Huân đã nhen nhóm ngọn lửa vừa chống
đế quốc xâm lợc vừa chống phong kiến đầu hàng của nhân dân cả nớc nóichung và nhân dân, sĩ phu Nghệ Tĩnh nói riêng Đến năm 1865, văn thân sĩphu Nghệ Tĩnh đã sôi nổi họp mặt tại Võ Liệt (Thanh Chơng) lập "Nghĩa sĩ
đoàn", luyện tập võ nghệ, chuẩn bị cho công cuộc cứu nớc Vào năm 1868,những ngời yêu nớc Nghệ Tĩnh đã viết th kêu gọi sĩ phu và nhân dân các tỉnhbạn cùng hợp lực chống Pháp: "Về việc đánh Tây, chúng tôi đã nhiều lần tâubày nhng bị (triều đình) bãi bỏ Nay toàn tỉnh chúng tôi đã đoàn kết đợc cácvăn thân, quyên đợc 2050 lạng bạc, rèn vũ khí chuẩn bị khởi sự" [7, 210]
Trong lúc sĩ phu và nhân dân Nghệ Tĩnh đang đấu tranh chống Pháp thìtriều đình Nguyễn ký điều ớc Giáp Tuất (1874), cắt lục tỉnh Nam Kỳ cho
Trang 14Pháp Hành động đó của triều Nguyễn nh một mồi lửa làm cháy bùng lênkhông khí hừng hực căm phẫn bấy lâu trong toàn dân Các văn thân ở NghệTĩnh đã vận động nhân dân cầm vũ khí đứng lên chống giặc Cùng một lúc,nhân dân Nghệ Tĩnh đã tuyên chiến với hai kẻ thù cớp nớc và bán nớc:
"Dập dìu trống đánh cờ xiêu Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây".[7,219]
Dới sự lãnh đạo của Trần Tấn, Đặng Nh Mai, văn thân sĩ phu và nhândân Nghệ Tĩnh giáng cho kẻ thù nhiều đòn chí mạng Tuy nhiên, cuộc khởinghĩa đã nhanh chóng thất bại vì do sự hạn chế về nhãn quan của lực lợnglãnh đạo phong trào Lý tởng của họ không ngoài mục đích lập lại một ôngvua có tinh thần dân tộc chống Pháp Vì thế họ không thể thực hiện đợcnguyện vọng ngàn đời của nông dân là "ruộng đất dân cày" Khẩu hiệu "BìnhTây sát tả" mà họ đa ra cha thật sát đúng với tâm lý dân tộc, cũng nh tình hìnhxã hội nớc ta lúc đó, khiến kẻ thù lợi dụng khẩu hiệu để xuyên tạc nhằm chia
rẽ khối đoàn kết lơng giáo, gây tổn hại đến sức mạnh đoàn kết chiến đấu củaphong trào Điều này phải đến đầu XX, với phong trào đấu tranh do Phan BộiChâu và sĩ phu Nghệ Tĩnh khởi xuớng mới khắc phục đợc Tuy thất bại, nhngkhởi nghĩa Giáp Tuất (1874) đã thể hiện sự phản kháng quyết liệt của văn thân
sĩ phu và nhân dân nghệ Tĩnh trớc cuộc xâm lợc của thực dân Pháp và hành
động nhu nhợc triều Nguyễn Qua cuộc khởi nghĩa cũng chứng tỏ sự phân hoádữ dội của xã hội Việt Nam lúc đó, một bên thiểu số gồm nhà vua và một sốquan lại phản động với một bên là đại đa số nhân dân lao động, sĩ phu cùngmột số quan lại có tinh thần dân tộc
Mời năm sau khi tiếng trống của khởi nghĩa Giáp Tuất chấm dứt, năm
1884 dới sức ép của thực dân Pháp, triều Nguyễn đã ký với chúng bản điều ớcmới công nhận Đại Nam là thuộc địa của Pháp Cũng từ đây nền độc lập, tựchủ của nớc ta đợc xây dựng, gìn giữ trong suốt gần 10 thế kỷ đã không cònnữa Sau sự biến kinh thành Huế của phe chủ chiến bất thành, nhà vua xuấtbôn Tại sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), tháng 7 năm 1885, thay lời HàmNghi, Tôn Thất Thuyết đã ra chiếu Cần Vơng, kêu gọi văn thân sĩ phu và nhândân giúp vua chống Pháp Đến 20/9/1985, tại sơn phòng Phú Gia (Hơng Khê -
Hà Tĩnh), Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vơng lần hai, kể tội bọn cớp nớc vàhô hào sĩ phu, nhân dân toàn quốc đứng lên kháng chiến
Trang 15Hởng ứng chiếu Cần Vơng, nhân dân cả nớc nói chung và Nghệ Tĩnhnói riêng đã hăng hái tham gia và làm dấy lên một phong trào yêu nớc rầm rộtrong suốt hơn mời năm cuối thế kỷ XIX Tiêu biểu cho phong trào Cần Vơngchống Pháp là cuộc khởi nghĩa Hơng Khê (1885 - 1895) do Phan Đình Phùng
và Cao Thắng lãnh đạo Nếu nh các cuộc khởi nghĩa khác chỉ bó hẹp hoạt
động trong phạm vi địa phơng thì cuộc khởi nghĩa Hơng Khê lại có phạm vihoạt động suốt cả 4 tỉnh (Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình), duy trì trong suốt 12năm và tác động mạnh đến phong trào chung của cả nớc Nghĩa quân đã đánhnhiều trận lớn gây nhiều tổn thất cho địch nh trận tập kích thành Hà Tĩnh(23/8/1892), trận Vũ Quang (17/10/1894)… Đặc biệt, tác giả đã đ Tuy nhiên, cuối cùng phong tràocũng dẫn tới thất bại
Lực lợng lãnh đạo phong trào Cần Vơng thuộc về những sĩ phu yêu nớc.Phần lớn họ là những hu quan hay những nhà Nho ở hơng thôn không có đặcquyền đặc lợi ở triều đình Họ sống gần gũi với nông dân, thông cảm vớinhững nỗi cơ cực của ngời dân trớc hoạ xâm lăng Bất bình trớc sự đầu hàngnhục nhã của triều đình, họ là những ngời rất trung thành với truyền thống yêunớc của dân tộc Trong quan niệm truyền thống đó, yêu nớc gắn liền với trungquân, với độc lập dân tộc, cho nên phong trào do họ khởi xớng vẫn nhằm khôiphục lại chế độ phong kiến cũ Tầng lớp sĩ phu, lực lợng lãnh đạo phong trào,mặc dù có tinh thần yêu nớc, căm ghét sự xâm lợc của ngoại bang, nhng họvẫn là con ngời của giai cấp phong kiến, họ vẫn cha vợt ra khỏi t tởng "trungquân" đã ngự trị trong t tởng của họ Điều này thể hiện khá rõ nét trong th trảlời của Đình Nguyên Phan Đình Phùng cho Hoàng Cao Khải: "Nớc mình mấynghìn năm nay, chỉ lấy văn hiến truyền nối nhau hết đời này qua đời kia, đấtnớc chẳng rộng, quân lính chẳng mạnh, tiền của chẳng giàu, duy có chỗ ỷ thịdựa nơng để dựng nớc đợc là nhờ cái gốc vua tôi, cha con theo năm đạo thờng
mà thôi… Đặc biệt, tác giả đã đ" [56, 193]
Tuy nhiên t tởng "trung quân" của sĩ phu thời kỳ này đã có sự chuyểnbiến Điều này thể hiện trong t tởng của lãnh tụ khởi nghĩa Hơng Khê khi trảlời Lê Kinh Hạp - ngời muốn thuyết phục ông ra đầu thú: "Nay tôi chỉ có mộtngôi mộ rất to cần gìn giữ là nớc Việt Nam Tôi có một ngời anh em rất to
đang bị nguy vong là cả mấy mơi triệu đồng bào " [56, 75]
Trong câu trả lời đó đã hàm chứa một sự thay đổi ý nghĩa của nhữngnguyên lý "hiếu", "để", "trung" của Nho giáo, lúc này không còn áp dụng cho
Trang 16gia đình thực sự, cũng nh cho cá nhân ông vua, mà là cho thực tế dân tộc vànhân dân Mặc dầu vẫn là quan điểm Khổng giáo, nhấn mạnh về vấn đề đạo
đức, nhng đối lập triệt để với Khổng giáo vốn trong thực tế đã trở thành "mộtnguyên lý trọng nghi thức cằn cỗi" [8, 23]
Bên cạnh phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp để giành độc lậpdân tộc thì nửa sau thế kỷ XIX còn có xu hớng chủ trơng cải cách theo vănminh phơng Tây Họ vẫn là những nhà Nho có thể trực tiếp hoặc gián tiếp biết
đến nớc ngoài và tận mắt chứng kiến sự lạc hậu về khoa học kỹ thuật của đấtnớc Họ đã yêu cầu bỏ lối khoa cử cũ và thay thế chúng bằng chơng trình giáodục kiểu phơng Tây; yêu cầu phát triển thơng mại và công nghiệp, thay đổiquan thuế và mở rộng chính sách ngoại giao đối với nhiều cờng quốc theo g-
ơng Xiêm, Nhật Bản Về quân sự, họ muốn áp dụng những biện pháp kinh tế
để hiện đại hoá lực lợng hải - lục quân, đề cao việc binh mà trớc đó vẫn coi ờng Tiêu biểu cho xu hớng này là Nguyễn Trờng Tộ Ông là một giáo dân ng-
th-ời Xã Đoài (Nghi Lộc) đã từng cùng giám mục Gauthier sang Pháp.Trongnhững năm từ 1963 - 1971, ông đã dâng lên vua Tự Đức 58 bản điều trần đềnghị đổi mới toàn diện đất nớc theo gơng Nhật Bản Tuy nhiên, những đề nghịcủa ông đã không đợc triều đình nhà Nguyễn thực hiện
Cả hai xu hớng đấu tranh vũ trang và cải cách duy tân cuối thế kỷ XIX
đều không chủ trơng thay đổi thể chế chính trị quân chủ hay nói cách khác làvẫn đứng trên lập trờng quân chủ nhằm thực hiện mục đích đề ra Những sĩphu yêu nớc Nghệ Tĩnh đầu thế kỷ XX đã kế thừa và phát huy cả hai xu hớngnêu trên, nhng gần với xu hớng vũ trang bạo động hơn là cải cách duy tân
Nh vậy, cho đến cuối thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang củanhân dân ta đã thất bại về căn bản Thực dân Pháp đã đặt ách thống trị lên toàncõi Đại Nam và bắt đầu tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa Chính tác
động của cuộc khai thác này cùng với những ảnh hởng của tình hình thế giới
và trong nớc vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã tạo nên bớc chuyển biếnmới về t tởng chính trị của sĩ phu Nghệ Tĩnh cũng nh của phong trào yêu nớc
Trang 17Cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, khi mà trống mõ CầnVơng im tiếng, cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Đề Thám lãnh đạo ởtrong tình thế bị bao vây và cô lập thì thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khaithác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dơng.
Chơng trình khai thác thuộc địa này diễn ra từ 1897 đến 1914 do toànquyền Đông dơng Paul Doumer khởi xớng với những nội dung chính: Tổ chứcChính phủ chung cho Đông Dơng và bộ máy hành chính riêng cho từng "xứ"trong liên bang; đầu t vốn, kỹ thuật để xây dựng hạ tầng cơ sở ở Đông Dơngnhằm mục đích vơ vét tài nguyên, khoáng sản và sức lao động của ngời dân;xây dựng Đông Dơng thành căn cứ quân sự mạnh… Đặc biệt, tác giả đã đ
Thực hiện những nội dung đó, Paul Doumer đã cho thi hành một loạtcác chính sách về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quân sự, giáo dục, vănhoá, t tởng… Đặc biệt, tác giả đã đ
Dới tác động của cuộc khai thác, Việt Nam từ một nớc phong kiến độclập, thống nhất trở thành một nớc bị đô hộ, chia cắt với một xã hội thuộc địanửa phong kiến Việt Nam trở thành thị trờng tiêu thụ hàng hoá và là nơi bổsung nguồn nguyên liệu cho chính quốc Nền kinh tế Việt Nam mặc dầu cóbiến chuyển nhng chỉ vì lợi ích của giới t bản thực dân và lệ thuộc chặt chẽvào kinh tế Pháp
Nền văn hoá giáo dục mới đợc xây dựng nhng không đồng bộ, kémphát triển, chỉ nhằm mục đích khuếch trơng cái gọi là "chơng trình khai hoá"của Pháp và để đào tạo đội ngũ công chức phục vụ trong các công sở của bộmáy chính quyền thực dân Trong khi đó, xã hội Việt Nam phân hoá sâu sắc,
đặc biệt là sự ra đời của những lực lợng xã hội mới: công nhân, t sản dân tộc,tiểu t sản Đây chính là cơ sở thuận lợi để tiếp thu các trào lu t tởng mới từbên ngoài dội vào đầu thế kỷ XX
Đối với vùng đất Nghệ Tĩnh, trớc khi Paul Doumer đa ra chơng trìnhkhai thác thuộc địa ở Đông Dơng thì chúng đã chú ý đến vị trí Vinh - BếnThủy Trong tạp chí "Kinh tế Đông Dơng" bọn thực dân Pháp đã bàn luận vớinhau: "… Đặc biệt, tác giả đã đ Trớc kia ngời ta lầm tởng Turan (Đà Nẵng) sẽ trở thành cảng lớn
đối với Lào, nhng thực tế chính Bến Thủy mới là cảng lớn Hải cảng lớn nhất
ở Đông Dơng là cảng Hải Phòng rồi đến Bến Thủy Vì:
- Việc chuyên chở đờng thủy đến Bến Thủy - Hải Phòng bao giờ cũngtiện hơn Turan
Trang 18Bến Thủy tơng lai sẽ trở thành một hải cảng hoạt động đông nhất, kể từ
bờ Hải Phòng đến Sài Gòn Sự đó là chắc chắn không có nghi ngờ gìnữa… Đặc biệt, tác giả đã đ"(Tạp chí kinh tế Đông Dơng số 224, ngày 25-9-1921)
Thấy đợc vị trí của Vinh - Bến Thủy, bọn t bản Pháp đã bỏ vốn vàongày càng nhiều để đầu t kinh doanh kiếm lợi Chúng xúc tiến thành lập hệthống giao thông nối liền Vinh - Bến Thủy với các khu vực khác Đầu tiênchúng mở con đờng Vinh - Cửa Rào - Trấn Ninh (1893), đờng xe lửa Vinh -
Hà Nội (1893 - 1905), đờng xe lửa Vinh - Đông Hà (1915 - 1927)… Đặc biệt, tác giả đã đ Ngoài ra,chúng còn tiến hành nạo vét cảng Bến Thủy, xây dựng sân bay Vinh
Về công nghiệp, ở Nghệ Tĩnh chúng chỉ xây dựng một số nhà máy nhỏnhằm phục vụ cho công cuộc khai thác nh: nhà máy sửa chữa, lắp ráp… Đặc biệt, tác giả đã đ đồngthời sản xuất một số mặt hàng bán tại chỗ nh nhà máy diêm do Công ty diêm
Đông Dơng thành lập (1907), nhà máy Đêpô đợc thành lập sau khi hoàn thànhtuyến đờng sắt Hà Nội - Vinh (1893 - 1905) với chức năng sửa chữa toa xelửa, nhà máy xe lửa Trờng Thi … Đặc biệt, tác giả đã đ Theo thống kê ở Nghệ Tĩnh vào cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX có hàng chục nhà máy, xí nghiệp và đã thu hút hàng ngànlao động
Về thơng nghiệp, với chính sách độc chiếm thị trờng, thực dân Pháp đãthành lập hàng rào thuế quan ngặt nghèo, quy định hàng hoá Pháp nhập vào
Đông Dơng hoàn toàn không phải chịu thuế, còn hàng hoá của Đông Dơngnhập vào Pháp thì chia loại để miễn hoặc trả suất tối thiểu ở Nghệ Tĩnh, bêncạnh chợ Vinh, Pháp chỉ thành lập một số công ty thơng mại để thu mua hàngnông phẩm và bán hàng hoá đa từ Pháp sang nh Công ty Lâm sản thơng mạiTrung Kỳ (1892), chủ yếu buôn bán và khai thác gỗ; Công ty thơng mại và kỹnghệ ở Vinh (1909) với mục đích buôn bán hàng xuất khẩu… Đặc biệt, tác giả đã đ Bên cạnh nhữnghoạt động kinh doanh của t bản nớc ngoài, một số t sản ngời Việt cũng tăng c-ờng hoạt động làm ăn của mình Họ chuyên đi mua hàng ở các địa phơng rồi
về bán lại cho các công ty buôn bán của t bản nớc ngoài Họ không thuần kinh
Trang 19doanh thơng nghiệp mà kinh doanh nhiều nghề nh Đinh Văn Trờng vừa buôn
gỗ vừa buôn hàng bao, Vĩnh Long vừa buôn gỗ vừa là điền chủ… Đặc biệt, tác giả đã đ
Về nông nghiệp, thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến tăng cờnglập đồn điền để kinh doanh thu lợi Tính đến trớc cách mạng tháng Tám năm
1945 ở Nghệ Tĩnh có hàng chục đồn điền của Pháp, trong đó tiêu biểu là đồn
điền Sông Con (Hơng Sơn) của Peray, đồn điền Voi Bổ (Hơng Sơn) của công
ty S.A.N.A (Hội nông nghiệp Bắc Trung Kỳ)… Đặc biệt, tác giả đã đ Các đồn điền này chủ yếutrồng lúa, cà phê, chè… Đặc biệt, tác giả đã đ Bên cạnh đó, bọn địa chủ cũng tăng cớp ruộng củadân Hoàng Cao Khải sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy đã đợc Pháp th-ởng cho làm "Phó quốc vơng" đã về quê chiếm đoạt ruộng đất của nông dân,xây dựng một dinh cơ đồ sộ tại làng Đông Thái (Đức Thọ) ở những làng cóphong trào Giáp Tuất (1874) nh Thanh Chi (Thanh Chơng), Thanh Thủy (Nam
Đàn), Thọ Tờng (Đức Thọ)… Đặc biệt, tác giả đã đ, nông dân phải đem ruộng đất gán nợ cho nhàChung Đợc thế, bọn địa chủ nhà Chung ở các địa phận và xứ đạo Xã Đoài,Cửa Lò (Nghi Lộc), Thuận Nghĩa (Quỳnh Lu)… Đặc biệt, tác giả đã đ càng mạnh tay hơn trongviệc cớp đất của nông dân Chỉ tính riêng địa phận Xã Đoài, ruộng đất mà địachủ nhà Chung cớp của nông dân qua các thời kỳ trớc cách mạng tháng Támnăm 1945 đã lên tới 7804 mẫu [2,300]
Do nạn chiếm cứ ruộng đất quy mô cùng với tô thuế hết sức nặng nề vàthiên tai liên miên nên đời sống của nhân dân Nghệ Tĩnh vô cùng cực khổ Họrất căm phẫn bọn thực dân và địa chủ Chính vì vậy, khi đợc tập hợp tổ chức
và lãnh đạo thì nông dân Nghệ Tĩnh đã hăng hái hởng ứng và đấu tranh rấtquyết liệt
Cùng với quá trình tiến hành khai thác về kinh tế, thực dân Pháp cũng
đồng thời thiết lập một chế độ chính trị vừa đàn áp, vừa chia rẽ Chúng chia
n-ớc ta làm ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ với ba chế độ chính trị khác nhau
Bộ máy quan chức truyền thống bị phế bỏ và một thể chế bổ nhiệm quan chứchành chính của ngời Pháp cho đến tận cấp tỉnh đã từng bớc hoàn chỉnh Quyềnthống trị của triều đình nhà Nguyễn chỉ còn là danh nghĩa Nghệ Tĩnh lúc bấygiờ thuộc Trung Kỳ, là đất bảo hộ, có viên Khâm sứ Pháp bên cạnh nhà vua.Nghệ Tĩnh đợc chia làm hai khu vực hành chính là Nghệ An và Hà Tĩnh
Đứng đầu tỉnh Nghệ An có Tổng đốc và đứng đầu tỉnh Hà Tĩnh có Tuần vũ
đặt dới quyền Tổng đốc An Tĩnh
Trang 20Về giáo dục, với mục đích nhằm nô dịch và đồng hoá nhân dân ta, thựcdân Pháp vẫn tiếp tục duy trì nền Hán học cũ với chế độ khoa cử đã lỗi thời.Mặt khác, chỉ mở nhỏ giọt một số trờng tiểu học Pháp - Việt tại các thànhphố, tỉnh lỵ để đào tạo tay sai cho bộ máy thống trị của chúng Do đó, ở NghệTĩnh nền Hán học vẫn tiếp tục hoạt động Tại các tỉnh lỵ có trờng đốc học, cácphủ huyện có trờng giáo thụ, trờng huấn đạo Còn lớp học của các ông đồ thì
có ở khắp các làng xã Bên cạnh việc duy trì nền Hán học cũ, Pháp đã mở một
số trờng giảng dạy chơng trình giáo dục mới của chúng Trong 6 năm (1861 1867) cả Đông Dơng có 47 trờng với 1288 ngời theo học Đến 1886 ở ViệtNam có 300 trờng với 20.000 học sinh ở Nghệ Tĩnh, đến năm 1918 có mộttrờng trung học với 60 học sinh, 15 trờng tiểu học với 969 học sinh, 316 trờng
-ấu học với 5351 học sinh
Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ đứng đầu trong các tỉnh Trung Kỳ về truyềnthống tự học, tự dạy của mình Có nhiều làng nổi tiếng về học hành đỗ đạt thờitrớc lúc này vẫn giữ đợc truyền thống của mình nh Quỳnh Đôi (Quỳnh Lu),Trung Lễ, Đông Thái (Đức Thọ), Tiên Điền (Nghi Xuân), Trung Cần (Nam
Đàn), Trờng Lu (Can Lộc)… Đặc biệt, tác giả đã đ Đến năm 1905, toàn quyền Paul Beau chủ trơng
"Cải cách giáo dục bản xứ" và đến cuối năm 1906 lập Nha học chính Đông
D-ơng để phụ trách việc điều hành, quản lý giáo dục Tuy nhiên mãi tới năm
1910 chúng mới mở đợc một số trờng chuyên dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ
ở Vinh, đến năm 1912 mới có trờng Cao đẳng tiểu học (trờng Quốc học),
nhng khônhng phải riênhng cho Nghệ Tĩnh mà cho cả 4 tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh Bình
-Mặc dầu có những cản trở từ phía chính quyền thực dân phong kiến đốivới giáo dục, nhng với truyền thống hiếu học lâu đời, nhân dân Nghệ Tĩnh vẫn
tự vơn lên mở mang kiến thức hiểu biết cho mình bằng tự dạy và tự học Cáclớp học đã góp phần lớn trong việc nâng cao kiến thức và giáo dục t tởng trongnhân dân Nhiều ông đồ bất hợp tác với địch đã mở trờng dựng lớp giáo dụchọc sinh truyền thống yêu nớc chống giặc ngoại xâm của các thế hệ cha anh.Nhiều ngời đã nổi tiếng là những nhà giáo tài giỏi, đợc học trò mến phục vànhân dân quý trọng nh Nguyễn Thức Tự, Vơng Thúc Quý, Phan Bội Châu, LêVăn Huân… Đặc biệt, tác giả đã đ Trong số họ, có những ngời còn đi đầu trong các phong trào đấutranh chống Pháp ở Nghệ Tĩnh vào những năm đầu thế kỷ XX
Trang 21Bên cạnh việc mở mang ít nhiều về giáo dục, thực dân Pháp còn cho lậpnhiều tờ báo trên khắp cả nớc Đầu tiên là tờ Nam Trung nhật báo ở Nam Kỳ(1862), tiếp đến là nhiều tờ báo khác nh Đại Việt tân báo, Nông cổ mín đàm,
Đăng cổ tùng báo… Đặc biệt, tác giả đã đ Riêng ở Nghệ Tĩnh và Thanh Hoá chỉ có một tờ "Thanh Nghệ Tĩnh tân văn" chuyên đăng các thông cáo, chỉ thị của Nhà nớc thực dân
-và triều đình Huế
Nền văn hoá giáo dục mà thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam trongquá trình cai trị là nhằm mục đích kìm hãm nhân dân ta trong vòng tăm tối,lạc hậu nhng nó cũng đã có những tác động nhằm ngoài ý muốn của chúng.Chính nền học vấn mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho tầng lớp trí thức tiếp thunhững luồng t tởng mới từ bên ngoài dội vào Đây cũng là một trong nhữngyếu tố căn bản làm chuyển biến về t tởng của sĩ phu Nghệ Tĩnh đầu thế kỷ XX
và làm dấy lên một phong trào đấu tranh theo khuynh hớng mới của nhân dân
địa phơng và cả nớc
Do ảnh hởng của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất mà thực dânPháp tiến hành ở Việt Nam, tình hình cơ cấu giai cấp ở Nghệ Tĩnh có sự phânhoá sâu sắc
Giai cấp địa chủ ở Nghệ Tĩnh đã mất hết vai trò lịch sử Một số cấu kếtvới thực dân Pháp, can tâm làm tay sai cho chúng và đợc chúng cho hởngnhững quyền lợi đặc biệt, chủ yếu là tạo điều kiện để địa chủ trắng trợn cớp
đoạt ruộng đất của nông dân Tiêu biểu cho loại địa chủ đó là Đốc Pháp(Nghĩa Đàn), Trần Thế Roanh (Quỳnh Lu), Nguyễn Trọng Trừng (CẩmXuyên)… Đặc biệt, tác giả đã đ Bên cạnh đó, có một số địa chủ trong thời kỳ này do kinh tế hànghoá phát triển nên đã bỏ vốn ra lập công ty buôn bán Số này không nhiều vàkinh doanh mang tính chất nhỏ lẻ
Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số và là đối tợng chủ yếu củachính sách bóc lột của bọn thực dân Đa số nông dân Nghệ Tĩnh có cuộc sốngvô cùng nghèo khổ Sự cớp đoạt ruộng đất của thực dân phong kiến để xâydựng nhà máy, lập đồn điền… Đặc biệt, tác giả đã đ đã dẫn đến tình trạng hầu hết nông dân không
có một "tấc đấc cắm dùi" Nhiều ngời trong số họ buộc phải bỏ làng quê bảnquán, bỏ nơi "chốn rau cắt rốn" của mình để đến thành thị ngõ hầu kiếm kếsinh nhai Nhng ở Việt Nam quá trình bần cùng hoá không đi đôi với quá trìnhvô sản hoá, nên chỉ rất ít trong số họ đợc thu nạp vào các nhà máy, xí nghiệp,
đồn điền, phần còn lại phải trở về quê làm tá điền ngay trên chính mảnh đất
Trang 22ngày xa là của họ Nông dân Nghệ Tĩnh nặng mối thâm thù với đế quốc và địachủ, do đó họ là lực lợng hăng hái, đông đảo nhất, với tinh thần đấu tranh bấtkhuất kiên cờng khi tham gia các phong trào đấu tranh.
T sản Nghệ Tĩnh dới ảnh hởng của cuộc khai thác thuộc địa lần nàyxuất hiện cha nhiều Họ chủ yếu kinh doanh về thơng nghiệp, làm đại lý hàngnhập khẩu nh Lê Viết Lới, Đinh Văn Trờng… Đặc biệt, tác giả đã đ một số vừa là t sản vừa là địachủ nh Trơng Đắc Lạc, Trơng Đắc Du… Đặc biệt, tác giả đã đ
Tiểu t sản thành thị ở Nghệ Tĩnh bao gồm những viên chức, tiểu thơngtiểu chủ, những ngời làm nghề tự do và học sinh các trờng Tầng lớp này có từtrớc và sống tập trung ở Vinh - Bến Thủy Đời sống của họ rất bấp bênh do
đồng lơng ít ỏi, lại bị chèn ép, cạnh tranh, vừa bị khinh miệt, bạc đãi Họ bấtbình với những chính sách của thực dân Pháp và phong kiến tay sai Do đó,khi có phong trào cách mạng, họ hăng hái tham gia và đã có ảnh hởng khá lớn
đến sự phát triển của phong trào
Giai cấp công nhân ở Nghệ Tĩnh hình thành và phát triển dới tác độngcủa cuộc khai thác lần thứ nhất Hầu hết trong số họ là những ngời nông dân
bị bần cùng hoá đi làm khuân vác ở các bến cảng, phu đài ở các công trờng, ờng sá, hoặc ở một số đồn điền… Đặc biệt, tác giả đã đ nên họ vẫn gắn chặt với nông thôn Trongthời kỳ đầu thế kỷ XX, công nhân Nghệ Tĩnh còn ít và cha có tổ chức đấutranh Phải đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), khi khucông nghiệp Vinh - Bến Thủy mở rộng và một số đồn điền ra đời thì đội ngũcông nhân tăng lên đáng kể Họ nhanh chóng giác ngộ ý thức chính trị và đãnắm ngọn cờ lãnh đạo phong trào đấu tranh
đ-Tuy hoàn cảnh kinh tế - xã hội nớc ta dới tác động của cuộc khai thácthuộc địa lần thứ nhất cha sản sinh ra đợc một giai cấp mới đủ sức tổ chức,lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, nhng không vì thế mà nó bịchững lại Lãnh đạo phong trào đấu tranh đầu thế kỷ XX lại là những sĩ phuyêu nớc tiến bộ đang trên con đờng t sản hoá Với những điều kiện thuận lợicủa mình, họ đã tiếp thu những t tởng mới từ bên ngoài dội vào và đảm đơngnhiệm vụ tổ chức, lãnh đạo phong trào đấu tranh theo khuynh hớng mới, tạotiền đề cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam sau chiến tranh thế giới lầnthứ nhất Nghệ Tĩnh cũng nằm trong xu hớng chung đó
1.3.2 ảnh hởng của tình hình thế giới đến sĩ phu Nghệ Tĩnh đầu thế
kỷ XX:
Trang 23Trong khi mà xã hội Việt Nam phân hoá cha thành thực dới tác động củacuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất thì một trào lu t tởng mới chấn động á -
Đông, làm cho "Châu á thức tỉnh" Hệ t tởng mới này vốn từ phơng Tây chuyểnvào và lực lợng tiên phong đón tiếp nó là giai cấp phong kiến t sản hoá ở Nhật Bản
và giai cấp t sản dân tộc vừa hình thành ở Trung Quốc
ở Trung Quốc, trớc sự xâm nhập của các nớc t bản phơng Tây, nềnkinh tế t bản chủ nghĩa đã ra đời nhng vấp phải nhiều khó khăn lớn Triều đìnhphong kiến Mãn Thanh phản động đã liên tiếp ký các hiệp ớc bất bình đẳngvới các nớc đế quốc và tiếp tục duy trì chính sách lạc hậu đối với đất nớc.Những chính sách mà triều Mãn Thanh tiến hành đã làm cho đất nớc TrungQuốc rộng lớn rơi vào thế cô lập với bên ngoài, nền kinh tế t bản chủ nghĩakhông phát triển lên đợc và Trung Quốc trở thành một nớc nửa thuộc địa nửaphong kiến
Trớc tình hình đó, một xu hớng cứu nớc mới bằng duy tân ra đời Ban
đầu chỉ là những lời nói của các công thơng đòi đợc tự do phát triển công
th-ơng nghiệp, dần dần xu hớng cải lth-ơng ngày càng phát triển, nhất là các sĩ phuphong kiến đã t sản hoá và lực lợng t sản dân tộc vừa hình thành Tiêu biểucho xu hớng này là Khang Hữu Vi và Lơng Khải Siêu Năm 1898, dựa vào vuaQuang Tự, phái Duy Tân của Khang - Lơng đã gây nên cuộc chính biến, nhngnhanh chóng bị phe thủ cựu đứng đầu là Thái hậu Từ Hy đàn áp Mặc dầu thấtbại, nhng phong trào Duy Tân đã thức tỉnh lòng yêu nớc, đề cao ý thức dân tộcchống đế quốc, ý thức dân chủ chống triều đình phong kiến Mãn Thanh củanhân dân Trung Quốc Những quyển sách do Lơng Khải Siêu viết nh: "ẩmbăng thất", "Trung Quốc hồn"… Đặc biệt, tác giả đã đ đã rung động tâm hồn sĩ phu Việt Nam Nóchẳng khác gì "thang thuốc hay với ngời mang bệnh trầm kha", "nó làm thay
đổi lòng ngời nh chớp, một tập sách nói chuyện nớc Tây mà làm cho 20 triệu
ng-ời dân nớc Nam phấn khởi" [18, 33]
ở Nhật Bản, cuộc Minh Trị Duy Tân (1868) đã đa nớc Nhật thoát khỏi
số phận thuộc địa và chỉ sau ba mơi năm đã trở thành một nớc đế quốc hùngmạnh Năm 1904 -1905, trong cuộc chiến tranh với Nga, Nhật Bản đã giànhthắng lợi Chiến thắng của Nhật có tiếng vang lớn trên thế giới, nhất là đối vớicác dân tộc ở Châu á Nhật Bản đợc coi là vị cứu tinh của các dân tộc davàng Một xu hớng thân Nhật đã phát triển ở nhiều nớc Châu á ở Việt Nam,
có rất nhiều sĩ phu yêu nớc đã hớng về Nhật Bản - "Anh cả da vàng", một nớc
"đồng văn, đồng chủng, đồng châu", ngõ hầu mong Nhật giúp đỡ để cứu nớc,cứu dân ra khỏi cơn "nớc sôi lửa nóng"
Trang 24Cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, ở Việt Nam phong tràoCần Vơng đã hoàn toàn thất bại Các sĩ phu yêu nớc - lực lợng tiếp tục đảmnhận trọng trách trong việc tổ chức lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độclập cho dân tộc lúc bấy giờ bế tắc trong đờng lối cứu nớc Những câu hỏi lớn
đợc đặt ra: làm thế nào, bằng cách gì để giành lại độc lập, tự do cho đất nớc,
đã gây trăn trở, nghĩ suy cho những ngời có tâm với vận mệnh dân tộc, vớihạnh phúc của nhân dân
Chính những điều trên đã làm cho nội bộ giới sĩ phu phân hoá: phái bảothủ, vẫn tiếp tục ôm ấp những t tởng lạc hậu, chống trả lại tất cả những gì đổimới; phái duy tân muốn dân giàu nớc mạnh để tiến lên theo các nớc t bản vănminh nên đã tiếp thu "luồng gió mới" từ bên ngoài dội vào và bằng cách nàyhay cách khác đã làm dấy lên một phong trào yêu nớc và cách mạng sôi nổi ởViệt Nam đầu thế kỷ XX
Trong bối cảnh đó, sĩ phu xứ Nghệ là một trong những lực lợng tiênphong đón nhận luồng t tởng mới và thể hiện nó bằng những hành động yêu n-
ớc thực sự với mục đích giành lại độc lập, tự do cho đất nớc, quê hơng Nhữnggì họ làm trong giai đoạn đầu thế kỷ XX đã có tác động lớn đến sự chuyểnbiến của phong trào đấu tranh ở Nghệ Tĩnh nói riêng và cả nớc nói chung,thúc đẩy phong trào phát triển lên một bớc mới
chơng 2 nội dung chuyển biến t tởng của sĩ phu nghệ tĩnh đầu
thế kỷ xx
2.1 - vài nét về sự chuyển biến t tởng của sĩ phu cả nớc đầu thế
kỷ XX.
2.1.1 - Vạch rõ nguyên nhân mất nớc:
Tầng lớp sĩ phu Nho học Việt Nam là những ngời đợc rèn đúc trongmôi trờng Khổng giáo Thêm vào đó, sống bên nớc Trung Hoa rộng lớn, cácnhà Nho không thể nhìn xa hơn, thấy rộng hơn qua tầm mắt của họ Các nhàNho Việt Nam, đại biểu cho ý thức hệ phong kiến Việt Nam, chỉ biết có "thiêntriều" là chí tôn, "thiên quốc" là trung tâm thế giới còn lại là "quỷ", "di địch"
Họ đề cao cái đạo học của Nho giáo, đề cao cơng thờng, xem nhẹ khoa học kỹthuật phơng Tây Thế nhng, thời thế đã đổi thay rất gấp Trớc làn sóng xâm l-
ợc ồ ạt của các nớc phơng Tây, Trung Quốc đã trở thành thuộc địa nửa phongkiến, vơng triều Mãn Thanh đã công nhận quyền đô hộ của thực dân Pháp trên
đất Việt Nam (hiệp ớc Thiên Tân 1884) Với điều này, mối tin tởng vào Trung
Trang 25Quốc phong kiến đã dần dần bị phá sản trong tầng lớp sĩ phu Việt Nam Trongthời gian đó, luồng t tởng dân chủ t sản theo "tân th", "tân báo" tràn vào ViệtNam, lực lợng sĩ phu tiến bộ đã đón nhận nồng nhiệt và thể hiện bằng nhữnghành động thực tiễn.
Họ ngẫm lại vì sao mất nớc và làm thế nào để khôi phục lại đất nớc ?Nghĩ về nguyên nhân mất nớc, Phan Bội Châu trong "Hải ngoại huyết th" đãnhấn mạnh: "Ngồi ngẫm nghĩ về lý do vì đâu nớc ta mất, vì đâu dân ta khốnkhổ, thì thấy có hai nguồn cơn là ngu và hèn Ngẫm lại dân ta cũng có tai mắt,mặt mày nh ngời Nhật, cũng đội trời đạp đất nh ai, đều là con yêu của tạo vật,cũng là khí thiêng đúc lại, đều là bạn tốt của non sông Thì cái ngu hèn sao lạiriêng để cho dân ta phải chịu? Xin trả lời rõ thêm: Một là vì chúng ta không
có đờng lối mở mang dân trí, hai là vì chúng ta không có quyền bính để cổ
động dân khí Trí khôn của dân cha đợc mở mang thì sao không ngu đợc ? Chíkhí của ngời dân cha đợc phấn chấn thì trách gì chẳng hèn" [27, 132]
Đây cũng là t tởng phổ biến của sĩ phu yêu nớc đầu thế kỷ XX Họ chorằng mất nớc vì thiếu dân trí và dân khí Muốn khôi phục lại độc lập dân tộcthì phải mở mang dân trí, chấn hng dân khí Nhng làm việc đó bằng cách nàotrong khi phong trào vũ trang chống Pháp, nhằm khôi phục lại thiết chế quânchủ chuyên chế đã thất bại ? Vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng một hệ t tởngkhác Trong bối cảnh đó, "gió Mĩ, ma Âu đã làm ồn ào vũ trụ", "tân th", "tânbáo" từ Trung Quốc, Nhật Bản lan toả vào Việt Nam Đây là một hiện tợng hếtsức mới mẻ trong đời sống t tởng của dân tộc ta Đất nớc Trung Hoa vốn từngàn xa là nớc đứng ở trung tâm thiên hạ, quê hơng của thánh hiền, thế mànay cũng vứt bỏ thánh kinh, hiền truyện và bắt đầu nhận những ngời ở tận bêntrời Tây làm những "Tiên Nho" của mình Họ đã thấy "Thiên ngoại hữu thiên"
và tiếp nhận trào lu dân chủ t sản nhằm cải biến xã hội
2.1.2 Các hình thức biểu hiện.
Các sĩ phu yêu nớc Việt Nam đã đứng lên đón nhận luồng t tởng mới đó
và tiến hành những hoạt động theo hớng dân tộc với ba hình thức: giáo dân(giáo dục dân), dỡng dân (làm cho dân giàu có) và tân dân (làm cho dân đổimới) Một trong những hoạt động của sĩ phu lúc bấy giờ là mở trờng học, dạykiến thức mới, chống lại lối học Nho giáo, giáo dục lòng yêu nớc, nghĩa hợpquần và đạo đức công dân Nhiều trờng học mang tên nghĩa thục đã mọc lêntrên khắp cả nớc Lớn nhất là trờng Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội do L-
Trang 26ơng Văn Can, Nguyễn Quyền,… Đặc biệt, tác giả đã đ sáng lập Số học sinh của trờng từ chỗ chỉ
400 - 500 ngời sau đó lên đến 1.000 Mục đích hoạt động của trờng là chốnglối học từ chơng, cử nghiệp, cách tân học thuật, hô hào học cơ khí, kĩ xảo, địa
lý nớc nhà, học những cái thiết thực để hành động Một trong những tài liệuquan trọng dùng để giảng dạy, tuyên truyền tại Đông Kinh nghĩa thục là tácphẩm "Văn minh tân học sách", ra đời năm 1907 (cha rõ tác giả)
Luận điểm cơ bản của tác phẩm là nói lên tình trạng dã man hay vănminh của một nớc do trình độ dân trí quyết định Vì thế, muốn tiến lên vănminh thì phải mở mang dân trí Tác phẩm có đoạn viết : "Kể các nớc trên mặt
địa cầu này, nớc này còn là dã man, nớc kia đã bán khai, nớc nọ thì văn minh
ấy là tuỳ theo chỗ dân trí từng nớc thông hay tắc, nhiều hay ít, chóng haychậm mà khác nhau… Đặc biệt, tác giả đã đ văn minh và dân trí, hai đằng cùng làm nhân quả lẫnnhau" [6, 273]
Dựa trên luân điểm cơ bản ấy, tác giả cuốn sách đã lần lợt xem xét tìnhtrạng thực tế của văn minh và dân trí Việt Nam, tìm nguyên nhân của tìnhtrạng ấy và đa ra những biện pháp cần phải tiến hành Xuyên suốt tác phẩm làthái độ chống bảo thủ, tấn công vào một số quan điểm của Nho giáo nh "nộihạ ngoại di", "trọng vơng khinh bá", "hậu cổ bạc kim"… Đặc biệt, tác giả đã đ và đa ra những biệnpháp khắc phục, đó là dùng văn tự nớc nhà, hiệu đính sách vở, sửa đổi phépthi, cổ vũ nhân tài, chấn hng công nghệ, mở toà soạn báo
Thực ra, việc tấn công chống t tởng bảo thủ đã đợc một số sĩ phu cuốithế kỷ XIX tiến hành mà điển hình là Nguyễn Trờng Tộ, Nguyễn Lộ Trạch.Cái mới của "Văn minh tân học sách" là ở chỗ tác giả đã tiến hành một sựphân tích lý luận, trong khi các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX tập trung vào cácbiện pháp cụ thể "Văn minh tân học sách" đả kích Nho giáo mạnh mẽhơn,quyết liệt hơn Xuyên suốt trong tác phẩm còn là t tởng lấy việc mở mangdân trí làm nhiệm vụ quan trọng nhất Trong đó, nhấn mạnh giá trị di sản tinhthần của dân tộc và khẳng định sự cần thiết phải học văn minh của các nớcChâu Âu
Về mặt kinh tế, Đông Kinh nghĩa thục hô hào lập các hội buôn HoàngTăng Bí, Nguyễn Quyền mở Công ty Đông Thành Xơng ở phố Hàng Gai vừabuôn tạp hoá vừa làm công nghệ Dần dần nhiều Công ty ra đời: Quảng HngLong buôn hàng nội hoá, Hồng Tân Hng buôn bán và sản xuất đồ sơn… Đặc biệt, tác giả đã đ
Trang 27Phải khẳng định rằng, ngoài việc giảng dạy, lên lớp để truyền bá t tởngmới, giáo dục tinh thần dân tộc, thì những hoạt động kinh doanh của các sĩphu yêu nớc đầu thế kỳ XX là một nét mới Nói nh giáo s Trần Văn Giàu: "Từtrớc đến đó, nhà Nho chỉ nói đến nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; nhà Nho nào lại nói
đến kim chỉ, khuy cúc, xà phòng? Nhà Nho chỉ nói Nghiêu Thuấn, KhổngMạnh, Đổng Hàn Trình Chu, chứ nhà Nho nào lại bàn giày dép, khăn tay, kẹomứt ?" [27, 53] Chính việc đứng trên lập trờng dân tộc, với quyết tâm phảigiành quyền lợi công thơng thì mới mở đợc dân trí, các cụ đã thoát khỏi t t-ởng cố hữu từ lâu là "trọng nông ức thơng", "nông bản thơng mạt" Tuy nhiên,các hội buôn không tồn tại đợc lâu dài, một số tự tan rã, một số bị nhà cầmquyền giải tán… Đặc biệt, tác giả đã đ
Phải khẳng định rằng, với những hoạt động của mình, Đông Kinh nghĩathục không còn đơn thuần là một trờng học mà thực chất nó đóng vai trò nhmột tổ chức cách mạng hoạt động theo khuynh hớng dân chủ t sản Mặc dầuchỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn (từ tháng 3 đến tháng 12/1907) nhng
Đông Kinh nghĩa thục đã nuôi dỡng đợc một phong trào cách mạng công khaihợp pháp khá sôi nổi, quyết liệt trong lĩnh vực đấu tranh về văn hoá, t tởngtheo khuynh hớng dân chủ t sản Đây cũng là cuộc vận động chính trị chuẩn bị
về tinh thần, t tởng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong thời đại mới
Cùng với phong trào Đông Kinh nghĩa thục, còn có cuộc vận động cảicách Duy Tân do Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng khởi x-ớng Những ngời lãnh đạo phong trào Duy Tân là những sĩ phu phong kiến, đ-
ợc đào tạo trong "cửa Khổng, sân Trình" Phan Chu Trinh (1872 - 1926), sinhtại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đỗ cử nhân lúc 18 tuổi, thi đậu phóbảng năm 29 tuổi, sau đó học trờng hậu bổ rồi ra làm quan với chức thừa biện
bộ Lễ Tuy nhiên, khi tận mắt chứng kiến cảnh mục nát, hủ bại ở chốn quantrờng, ông đã cáo quan, đi tìm đồng chí nhằm khôi phục lại đất nớc Trần QuýCáp (1870 - 1908) quê tại làng Bất Nhị, huyện Diên Phong, tỉnh Quảng Nam
Đỗ tiến sĩ năm 1904 và nhận chức giáo thụ tại phủ Thăng Bình (Quảng Nam).còn Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, trong một gia đình nông dân tại làngThanh Bình, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam Khoa thi Hơng năm 1900, ông
đậu giải nguyên, thi Hội năm 1904 đậu tiến sĩ, nhng không chịu ra làm quan,
ở nhà đọc nhiều tân th, nuôi chí cứu nớc, dốc lòng theo chủ trơng vận động cảicách của Phan Chu Trinh
Trang 28Phong trào Duy Tân do các sĩ phu yêu nớc tổ chức và khởi xớng diễn ramạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Về kinh tế thì lập hội buôn, kiếm tiền để nuôithầy dạy học, mở trờng học theo mô hình Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội,cung cấp sách vở cho học sinh Tại đây, nhiều cuộc diễn thuyết vận động dânquyền, tự chủ, đổi mới phong tục cũng đợc tổ chức Các trờng học đều dạychữ quốc ngữ, toán, lịch sử, địa lý Việt Nam và các kiến thức về khoa học tựnhiên khác… Đặc biệt, tác giả đã đ
Phong trào có ảnh hởng lớn đến trình độ giác ngộ và tinh thần đấu tranhcủa nhân dân đòi cải cách đời sống về mọi mặt Nổi bật trong phong trào DuyTân ở miền Trung là Phan Chu Trinh, ông là ngời kế thừa xuất sắc t tởng canhtân của Nguyễn Trờng Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, … Đặc biệt, tác giả đã đ Cùng với việc tiếp nhận "tânth", ông đã góp công lớn cho việc truyền bá t tởng dân chủ với mục đíchxuyên suốt là giành lại độc lập cho dân tộc Ông lên án gay gắt chế độ quânchủ chuyên chế và chỉ trích những chính sách của Pháp ở Việt Nam Ông chorằng, phong kiến là sâu mọt của dân, là thủ phạm làm cho nớc Nam lụn bại vàmất độc lập Vì thế, ông chủ trơng trớc hết phải lật đổ chế độ quân chủ chuyênchế mà nhiệm vụ cấp bách là phải chấn dân khí (thức tỉnh tinh thần tự lực, tựcờng, lòng yêu nớc trong nhân dân), khai dân trí (mở mang hiểu hết cho dân,bồi dỡng nhân tài cho đất nớc bằng cách mở trờng dạy chữ quốc ngữ, dạy cáckiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục) và hậu dân sinh (phát triển kinh
tế đem lại đời sống no đủ cho ngời dân) Ông yêu cầu chính quyền thuộc địasửa đổi chính sách cai trị hiện hành để có thể giúp nhân dân Việt Nam từng b-
ớc tiến tới văn minh Ông cũng rất coi trọng vai trò của ngời dân:
"Dân ta là thánh là thần.
Bền gan chắc dạ quỷ thần cũng kiêng"
Dựa vào khả năng đấu tranh công khai, ông đã nói thẳng vào mặt ngờiPháp những điều mà các nhà yêu nớc chỉ có thể nói riêng với đồng bào Chẳnghạn nh lời kết luận của bản điều trần "Tàn sát lơng dân, khủng bố trí thức, pháhuỷ trờng học và hội buôn thành lập theo đúng huấn thị của chính phủ Pháp,
đó là những biện pháp mà chính phủ Đông Dơng đã thi hành, sau ngày vụ dânchúng biểu tình xin Chính phủ giảm nhẹ những khoản su dịch đã làm cho họnghèo khổ, chết đói và xét lại cảnh chuyên chế đã dìm họ trong cảnh tôi mọi"[5, 197] Chính lợi thế của hoạt động công khai đó mà những việc làm của ông
có tác dụng to lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục, thức tỉnh nhân dân vùng
Trang 29dậy chống cờng quyền Với hình thức "chiến dĩ thiệt" (đánh bằng lỡi), "chiến
dĩ bút" (đánh bằng bút) của ông có tác dụng nh dùng súng, dùng gơm đơng
đầu với kẻ thù Nh lời Phan Bội Châu khóc ông trong bài văn tế khi ông mất:
"Ba tấc lỡi mà gơm, mà súng nhà cờng quyền trông gió cũng gai ghê Mộtngòi lông vừa trống, vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn sáng chói"
ở Nam Kỳ phong trào Duy Tân cũng diễn ra mạnh mẽ với vai trò củaTrần Chánh Chiếu Ông sinh năm 1967 ở Rạch Giá trong một gia đình điềnchủ, đã từng làm thông ngôn, xã trởng, đợc chức tri phủ danh dự, nên còn gọi
là Phủ Chiếu Ông chịu ảnh hởng t tởng cách mạng của cụ Phan Bội Châu Vềkinh doanh, Trần Chánh Chiếu lập Minh Tân công nghệ xã, một công ty cổphần có điều lệ gần giống công ty của Pháp Ngoài ra, ông còn lập Minh Tânkhách sạn ở Mĩ Tho và Nam Trung khách sạn ở Sài Gòn Đây cũng là nơi hộihọp của những ngời có chí hớng Đặc biệt, ông lập tờ "Lục tỉnh tân văn", một
tờ báo bằng chữ quốc ngữ Báo ra mỗi tuần một số (Từ tháng 11 năm 1907
đến tháng 11 năm 1908) Báo hô hào bỏ cờ bạc, hút thuốc phiện, giảm bớtnghi thức cới xin, ma chay, kêu gọi giành lại quyền lợi kinh tế trong thơngmại, dịch vụ, đấu thầu… Đặc biệt, tác giả đã đ đang nằm trong tay Hoa kiều và ấn kiều Báo cònlên án bọn quan lại tham nhũng, kêu gọi đồng bào hợp quần, tơng thân, tơng
ái
Bên cạnh Trần Chánh Chiếu, còn có Nguyễn Thành Hiến, Nguyễn AnKhơng… Đặc biệt, tác giả đã đ những ngời rất tích cực trong phong trào Duy Tân ở Nam Kỳ và giúp
đỡ nhiều cho phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu
Do sự bóc lột nặng nề của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, dới ảnhhởng của phong trào Duy Tân, nhân dân các tỉnh Nam Trung kỳ đã nổi dậy
đấu tranh Phong trào nổ ra đầu tiên tại huyện Đại Lộc (Quảng Nam) vào ngày11/3/1908, sau đó lan rộng lên tỉnh lị Hội An, sang phủ Thăng Bình, đến Tam
Kỳ, Hòa Vang Từ Quảng Nam phong trào lan rộng sang Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên, Huế, lan ra cả Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá Khẩu hiệu đấutranh là đòi bỏ lệ xin xâu, giảm thuế Nhiều nơi đoàn biểu tình còn mang thêmdao kéo, cắt "búi tóc" của những ngời mà họ gặp trên đờng Họ gọi nhau là :
"đồng bào", khắc con dấu " đồng bào ký" Nhiều tên cờng hào ác ôn bị trừngtrị, một số tên tri phủ, tri huyện đã buộc phải hứa sẽ thực hiện những yêu sáchcủa nhân dân
Trang 30Trớc tình hình đó, chính quyền thực dân và phong kiến tay sai đã thẳngtay đàn áp, bắt bớ, giết hại nhiều ngời tham gia phong trào, do đó cuộc đấutranh chống su thuế ở Trung Kỳ nhanh chóng chấm dứt Nhân dịp này, thựcdân Pháp còn giải tán nhiều hội buôn, đập phá trờng học mà sĩ phu đã lập lêntrớc đó, giết hại và bắt bớ, tù đày hàng trăm ngời, trong đó có các yếu nhâncủa phong trào Duy Tân: Trần Quý Cáp, Trịnh Khắc Lập, Nguyễn Hàng Chi
bị giết hại, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyễn Cẩn, Ngô Đức
Kế… Đặc biệt, tác giả đã đ bị đày đi Côn Đảo… Đặc biệt, tác giả đã đ
Phong trào chống thuế là cuộc đấu tranh công khai, tự phát của nôngdân nhằm đòi chính quyền thực dân thực hiện những cải cách dân chủ Phongtrào đã kết hợp chặt chẽ với cuộc vận động Duy Tân đang phát triển mạnh.Phong trào chứng tỏ tinh thần, năng lực cách mạng của nông dân, song vì cha
có sự lãnh đạo tổ chức chặt chẽ nên đã không đi đến thành công
Từ những điều khái quát trên về phong trào yêu nớc và cách mạng theokhuynh hớng dân chủ t sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX chúng ta thấy: Trớctình trạng đất nớc bị giặc ngoại xâm dày xéo, triều đình Nguyễn đã trở thành
bù nhìn, tiếp tay cho giặc, con đờng đấu tranh và chống Pháp cuối thế kỷ XIX
đã thất bại, vấn đề đặt ra là cần phải có hệ t tởng mới, có con đờng đấu tranhmới Giai cấp nông dân là nạn nhân chính của chế độ thuộc địa, họ có tinhthần cách mạng to lớn nhng họ không đại diện cho một phơng thức sản xuấttiên tiến, cho nên không thể xây dựng đợc một hệ t tởng độc lập Giai cấpphong kiến thì đã đầu hàng đế quốc Với sự thất bại của phong trào Cần Vơng,
ý thức hệ phong kiến đã hoàn toàn bất lực trớc sự phát triển của lịch sử Trongkhi đó giai cấp công nhân Việt Nam cha hình thành, t sản Việt Nam vẫn cha
đủ lông đủ cánh để trở thành một giai cấp; lực lợng tiểu t sản thì kinh tế bấpbênh Nhìn chung, các lực lợng xã hội mới nảy sinh trong lòng xã hội ViệtNam dới tác động của cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp còn rấtnon trẻ, yếu ớt, rời rạc, cha thể sản sinh ra những đại biểu về t tởng của mình.Nhiệm vụ cứu nớc, cứu dân, khôi phục lại nền độc lập cho dân tộc lại đànhphải trao cho một tầng lớp trí thức Nho học, vừa mới thoát thai từ xã hội cũ,nhng lại theo đuổi "Tân học"
Dới sự tổ chức và lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu yêu nớc, phong trào đấutranh của quần chúng nhân dân đầu thế kỷ XX diễn ra dới nhiều hình thức,trên quy mô cả nớc và mang tính chất hoàn toàn mới Dầu hoạt động công
Trang 31khai (minh xã) hay hoạt động bí mật (ám xã), dầu diễn ra ở miền Bắc, miềnTrung, hay miền Nam thì các phong trào đó đều đả phá chế độ quân chủphong kiến, bài trừ các hủ tục lạc hậu, học hỏi nền văn minh phơng Tây trênnhiều phơng diện nhằm khôi phục lại chủ quyền cho dân tộc, đem lại hạnhphúc cho nhân dân, xây dựng một nớc Việt Nam theo con đờng t bản chủnghĩa Qua phong trào đã phản ánh sự biến chuyển lớn lao về t tởng của các sĩphu yêu nớc tiến bộ, họ không còn đóng khung suy nghĩ hành động của mình
đối với dân nớc thông qua sách vở thánh hiền nữa, mà đã chủ động tìm cáchhội nhập với thế giới bên ngoài, đón nhận trào lu t tởng mới và thể hiện bằnghành động thiết thực
Bối cảnh lịch sử sôi động của những năm đầu thế kỷ XX đã ảnh hởnglớn đến sự chuyển biến t tởng của sĩ phu Nghệ Tĩnh
2.2 Chuyển biến t tởng của sĩ phu Nghệ Tĩnh đầu thế kỷ XX:
Nh đã trình bày ở chơng I, sĩ phu Nghệ Tĩnh khá đông đảo, họ sống khágần gũi với ngời dân lao động, là những ông đồ, nhà Nho tiết tháo, cơng trực,khảng khái Trớc vận nớc gian nan, phần lớn trong số họ không thể nhắm mắtlàm ngơ Chỉ trừ một số rất ít làm tay sai cho thực dân Pháp, kh kh ôm mộngtrung quân mù quáng nh Hoàng Cao Khải… Đặc biệt, tác giả đã đ, còn lại đều bằng cách này haycách khác đã đấu tranh với mục đích, khôi phục lại chủ quyền đất nớc, đem lạihạnh phúc cho nhân dân Nổi bật lên trong số các nhà Nho đó là Phan BộiChâu, Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hàng Chi, MaiLão Bạng, Võ Liêm Sơn… Đặc biệt, tác giả đã đ Qua hành động của họ, chúng ta thấy đợc cả sựbiến chuyển lớn về t tởng chính trị trong họ và chính điều này đã góp phần tolớn để khuấy động một trong phong trào đấu tranh dới nhiều hình thức ởNghệ Tĩnh đầu thế kỷ XX Không những thế họ còn tạo cơ sở, nền tảng chocác thế hệ tiếp theo ra đi làm cách mạng
II.2.1 - Biến chuyển về t tởng chính trị của Phan Bội Châu.
Từ thực tế thất bại của phong trào Cần Vơng cuối thế kỷ XIX và việctiếp thu "tân văn", "tân th", Phan Bội Châu và các sĩ phu Nghệ Tĩnh đã ý thức
đợc rằng: Không thể đi theo con đờng của các lãnh tụ Cần Vơng, không thểduy trì lại chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền nh trớc mà phải tìm kiếmcon đờng đấu tranh khác để khôi phục lại độc lập cho đất nớc, đem lại hạnhphúc cho nhân dân Trong các nhà Nho yêu nớc ở Nghệ Tĩnh đầu thế kỷ XX,nổi bật lên tên tuổi của cụ Phan Bội Châu, ngời đã đề xớng chủ trơng đấu
Trang 32tranh vũ trang để khôi phục độc lập dân tộc theo hớng cách mạng dân chủ tsản.
Phan Bội Châu (1867 - 1940), còn có tên là Phan Văn San, ngời thôn
Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hoà huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) trong mộtgia đình nhà Nho yêu nớc Ngay từ nhỏ, Phan Bội Châu đã đợc đào tạo theokhuôn mẫu nhà Nho và tỏ ra là ngời thông minh, ham học Trong Niên biểu cóchép vào lúc mới 7 tuổi Phan Bội Châu đã học thông "Luận ngữ", tác phẩmcủa Khổng Tử, đợc xem nh là cơng lĩnh của Nho giáo Phan đã phóng tác rasách "Phan Tiên Sinh chi Luận ngữ" để chế giễu các bạn Lớn lên gặp cảnh n -
ớc mất nhà tan, ngay từ rất sớm trong lòng Phan Bội Châu đã nung nấu ý chígiết giặc, đuổi thù giành lại độc lập tự do cho đất nớc, hạnh phúc cho nhândân Sau này khi viết lại quảng đời tuổi trẻ của mình, Phan Bội Châu đã kể rõtâm tình của giai đoạn đó nh sau: "Tôi đợc trời phú cho bầu máu nóng cũngkhông vừa, ngay từ hồi còn là thằng bé con đọc sách của ông cha để lại, mỗikhi đọc đến chuyện của ngời xa hăng hái thành nhân tựu nghĩa, tôi thờng nớcmắt ròng ròng thấm ớt cả sách Những chuyện ông Trơng Định chết theo Nam
Kỳ và Nguyễn Tri Phơng tuẫn nghĩa ở thành Hà Nội, tôi hay đàm đạo nhắcnhở tới luôn, mà mỗi lần nhắc tới, khiến tôi vung tay vỗ ngực, tự thẹn chomình thua sút hai ông đó " [12, 11]
Sau khi sắp xếp xong việc gia đình, vào năm 1904, đầu xứ San đã lên ờng tìm đồng chí Trong thời gian đến Huế, Phan đã gặp nhiều nhà Nho có t t-ởng canh tân trong đó có Nguyễn Thợng Hiền, một vị hoàng giáp trẻ tuổi QuaNguyễn Thợng Hiền, Phan đã có dịp làm quen và kết bạn "đồng tâm" vớinhiều nhân vật quan trọng Phan còn đợc Nguyễn Thợng Hiền cho mợn đọcnhiều "tân th" nh "Trung - Đông chiến kỷ", "Phổ - Pháp chiến kỷ", "Doanhhoàn chí lợc"… Đặc biệt, tác giả đã đ Đọc những cuốn sách đó t tởng Phan Bội Châu nh đợc "tháocũi sổ lồng" và "bắt đầu rung động" Đối với nhà Nho chính thống Phan BộiChâu, đây là lần đầu tiên đợc tiếp xúc với t tởng mới
đ-Đến tháng 5 năm 1905 Phan Bội Châu và 20 đồng chí của cụ, trong đó
có ông hoàng Cờng Để đã quyết định thành lập Duy Tân hội tại nhà Tiểu LaNguyễn Hàm ở Quảng Nam Mục đích của Hội là "Cốt sao khôi phục đợcViệt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra cha có chủ nghĩa gì khác"
Điều này không có nghĩa là Phan Bội Châu và các đồng chí của ông muốn tiếptục duy trì chế độ quân chủ chuyên chế mà là chính thể quân chủ lập hiến
Trang 33Việc đa Cờng Để làm hội chủ, theo Phan Bội Châu là nhằm "lợi dụng lòng ởng nhớ vua cũ" của những nhà giàu có ở Nam Kỳ cho việc gây quỹ xuất d-
t-ơng., cũng qua đó mở rộng phong trào trong tầng lớp thân hào ở Bắc Kỳ vàTrung Kỳ đang có lòng "t cựu" và để có đợc sự hợp tác của Lơng Khải Siêu,của các chính khách ở Nhật Bản
Trong tác phẩm "Tân Việt Nam" (1905) của Phan Bội Châu, mặc dầulấy sự tồn tại của vua, của triều đình làm tiền đề cho sự tồn vong của đất n ớc,song hoàn toàn không có dấu hiệu thần thánh hoá địa vị của nhà vua, quantrọng hoá vai trò của nhà vua Trái lại, nhấn mạnh việc từ bỏ tệ nạn quân chủchuyên chế và mở rộng dân quyền "Giữa đô thành nớc ta lập một toà nghịviên lớn, mọi công việc chính trị đều do công chúng quyết định Phàm ngờidân nớc ta không cứ là sang hèn giàu, nghèo, lớn bé đều có quyền bỏ phiếubầu cử Trên là vua nên để hay nên truất, dới là quan nên thăng hay nên giáng,dân ta đều có quyền quyết đoán cả Những vua tệ quan h không hợp với công
đạo thì hội nghị trong nghị viện dân ta hội nhau công nghị, đợc có quyềnkhiển trách trừng phạt" [13, 255 - 256] Với nhiều điều nêu trên thì chúng tathấy thiết chế chính trị mà Phan nêu ra lúc bấy giờ là thiết chế quân chủ lậphiến theo kiểu Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật Bản
Nhng khi "ngời anh cả da vàng" bộc lộ bản chất đế quốc, cấu kết vớithực dân Pháp để trục xuất những chiến sĩ Đông Du thì t tởng dựa vào NhậtBản để khôi phục độc lập dân tộc trong Phan Bội Châu cũng không còn nữa.Trong khi đó, ở Trung Quốc, dới sự lãnh đạo của Tôn Trung Sơn và tổ chứcTrung Quốc đồng minh hội, quần chúng nhân dân đã tiến hành cuộc cáchmạng Tân Hợi (1911) và giành thắng lợi Chế độ phong kiến quân chủ chuyênchế tồn tại hàng ngàn năm sụp đổ, nớc Trung Hoa dân quốc ra đời Sự kiệnnày đã tác động rất lớn đến Phan Bội Châu và nhóm sĩ phu đi cùng cụ trongviệc chuyển từ lập trờng quân chủ lập hiến sang lập trờng dân chủ cộng hoà.Phan Bội Châu cùng một số đồng chí từ Xiêm trở về Trung Hoa (vào tháng01/1912) chuẩn bị kế hoạch hành động mới Vào thợng tuần tháng 5 nămNhâm Tý (1912), trong cuộc "Đại hội nghị" tại từ đờng nhà Lu Vĩnh Phúc, có
đông đủ đại biểu 3 kỳ tham dự, đã quyết định thủ tiêu Duy Tân hội, thành lậpViệt Nam quang phục hội và xác định tôn chỉ duy nhất của Việt Nam quangphục hội là "Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nớc Việt Nam, thành lập nớc
Trang 34cộng hoà dân quốc Việt Nam" Chủ trơng này cũng đã đợc nói rõ trong lờituyên cáo của tổ chức:
" … Nay bản hội xét sau xem tr Nay bản hội xét sau xem tr ớc, Gẫm cuộc đời thế nớc bấy lâu nay Gần thì bắt chớc theo Tàu.
Xa thì ngời Mĩ, ngời Âu làm thầy.
Biết thế nớc, dần may khôi phục,
ắt nhờ dân chung sức làm ra Muốn cho ích nớc lợi nhà
ắt là dân chủ cộng hoà mới xong" [50, 192]
Việc Phan Bội Châu chuyển từ lập trờng quân chủ lập hiến sang cộnghoà còn xuất phát từ hoàn cảnh trong nớc lúc bấy giờ Dới tác động của chơngtrình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, nền kinh tế và xã hội Việt Nam đã cónhững thay đổi cơ bản Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp cổ truyền đã xuấthiện nền kinh tế t bản chủ nghĩa mang tính thuộc địa Giai cấp t sản Việt Nam
đang trên con đờng hình thành; thế lực phong kiến, tiêu biểu là ông vua và chế
độ chuyên chế ngày càng suy tàn, không còn đợc đông đảo quần chúng ủng
hộ nữa Điều này thể hiện rõ nét ở các đại biểu tham gia thành lập Việt Namquang phục hội Một số trớc đây ủng hộ quân chủ giờ đây quay sang tán thànhchủ trơng dân chủ của Phan Bội Châu
Hoàn cảnh thế giới và trong nớc vừa nêu trên đã đòi hỏi Phan Bội Châuphải dứt khoát đứng hẳn về lập trờng dân chủ
Để thực hiện mục đích khôi phục độc lập cho dân tộc, phơng pháp cáchmạng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cứu nớc của Phan Bội Châu và các
đồng sự là bạo động Điều này đã đợc ghi rõ trong cờng lĩnh hành động củaDuy Tân hội: "Đánh Pháp phục thù, mà thủ đoạn là bạo động" T tởng này bắtnguồn từ chủ nghĩa yêu nớc truyền thống của dân tộc Việt Nam và sớm đợchình thành từ bản thân Phan Bội Châu T tởng bạo động của Phan cũng đã trảiqua một quá trình biến chuyển phức tạp Từ đầu, Phan mới chỉ có nhận thức:
"Cứ bạo động, may ra còn trông đợc có chỗ thành công" Vì thế cụ chống lạinhững ngời lấy con đờng cải lơng coi đó là con đờng duy nhất để khôi phục
độc lập dân tộc Tuy nhiên, quan niệm bạo động của cụ thời kỳ đầu vẫn cha
v-ợt qua quan niệm bạo động của thời Cần Vơng, vẫn còn mang dáng dấp của
đám anh hùng hảo hán, của những ngời "lục lâm giang hồ" Sau vụ mu chiếm
Trang 35thành Nghệ An thất bại (1901), cụ mới nhận ra rằng, muốn thành công thì
"vây cánh đồ đảng phải đông", "phải có sức mạnh của nhiềungời họp thành",
"phải có một cuộc nổi dậy của đông đảo nhân dân trong cả nớc theo nhữngphơng thức đổi mới", và "việc làm cho nớc nhà độc lập, vững mạnh… Đặc biệt, tác giả đã đ khôngphải một tay, một chân làm nên, mà phải do tâm huyết của nghìn vạn ngời"[13, 585 - 586]
Qua thực tiễn hoạt động, Phan Bội Châu cũng nhận thấy rằng, muốnbạo động thành công phải có sự chuẩn bị chu đáo và phải đấu tranh lâu dài:
"Vũ lực không thể một sớm một chiều mà thành công đợc" Chính nhận thức
đợc điều này, Phan đã quan tâm đến việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vàngoài nớc nhằm chuẩn bị cơ sở lâu dài cho cách mạng Bên cạnh đó, cụ cũngrất chú trọng hình thức đấu tranh hợp pháp, những cuộc đấu tranh chính trị đểtiến tới vũ trang khởi nghĩa Phan chủ trơng tổ chức nhiều hội cứu quốc nhằmtập hợp và rèn luyện quần chúng trong đấu tranh cách mạng ở nhiều lĩnh vựckhác nhau Cụ đã liên hệ với Đông Kinh nghĩa thục chia làm nhóm "minh xã"(hoạt động công khai) và nhóm "ám xã" (hoạt động bí mật) để hỗ trợ nhautrong sự nghiệp cứu nớc Nhìn chung, quan điểm bạo lực cách mạng của PhanBội Châu tập trung ở ba vấn đề lớn: Xây dựng lực lợng vũ trang, mua sắm vũkhí và vận động binh lính nổi dậy Vấn đề xây dựng lực lợng vũ trang, đã đợcPhan Bội Châu và Hoàng Trọng Mậu (trong cuốn Việt Nam quang phục quânphơng lợc) xác định rõ tôn chỉ, nghĩa vụ của Quang phục quân là đánh đuổithực dân Pháp, giành lại non sông gấm vóc cho dân tộc Về vấn đề vũ khí,theo Phan Bội Châu, nó có tầm quan trọng đặc biệt: "Vũ khí thô sơ nh giáomác, thì chỉ chặt cây đánh Tần đuổi Sở đợc, chứ đời nay dùng nó, thì làm nêntrò vè gì" [13, 169] Theo cụ, sở dĩ phong trào Cần Vơng thất bại là có nguyênnhân thiếu vũ khí Song, làm thế nào để có vũ khí tối tân đánh giặc ? Ban đầu
cụ quyết định đi cậy nhờ "anh cả da vàng" Nhật Bản Nhng khi bị phía Nhật từchối, cụ chủ trơng dựa vào sức lực của mình Trong Việt Nam quốc sử khảo,
cụ viết: "ỷ lại vào ngời ngoài không bằng tự cờng lấy ta Bởi vì tự cờng thì khíthế của mình mạnh, khí thế mạnh thì chuyển yếu thành mạnh ỷ lại ngờingoài thì khí thế yếu, khí thế yếu thì hoá mạnh thành yếu" [12, 462] Xuấtphát từ nhận thức đó, cụ đã chú ý đến việc nâng cao dân trí, giáo dục và tuyêntruyền, xây dựng cơ sở cách mạng, đào tạo cán bộ quân giới
Trang 36Về việc vận động lính tập cụ chủ trơng: phải làm sao để những ngời yêunớc Việt Nam vào lính tập, qua đó nhằm tập luyện quân sự, tuyên truyền lòngyêu nớc trong đồng đội, tìm hiểu bí mật của kẻ thù, chờ thời cơ đánh lạichúng Thực tế, lực lợng lính tập đúng vai trò khá quan trọng trong phong trào
đấu tranh do Phan Bội Châu khởi xớng đầu thế kỷ XX
Từ chỗ xác định tính chất cách mạng là dân tộc dân chủ, đề ra đợc chủtrơng bạo động, Phan Bội Châu cũng đã nhìn thấy những lực lợng để thu hútvào công cuộc đấu tranh chống Pháp Cụ đã đặt lại quan niệm về mối quan hệgiữa dân với nớc Chính do đặt lại quan hệ này mà Phan Bội Châu đi đến quanniệm dân chủ
"Nghìn muôn ức triệu ngời trong nớc Xây dựng nên cơ nghiệp nớc nhà Ngời dân ta, của nớc ta
Dân là dân nớc, nớc là nớc dân Sông phía Bắc, bể phía Đông Nêu không dân cũng là không có gì" [12, 228, 231]
Đây là lời tuyên bố vạch thời đại Trong quan niệm truyền thống phơng
Đôngphong kiến, nớc là của vua, nớc do "Thiên mệnh" quy định, chủ quyền
đợc thừa nhận bằng mệnh trời Nó là cơ sở lý luận để đồng nhất "Trung quân"với "ái quốc" Với lời tuyên bố của Phan Bội Châu, nớc không phải do Thiênmệnh nữa mà do dân tạo nên, chính điều đó phủ định t tởng nớc do "Thiênmệnh" tồn tại ngót nghìn năm ở Việt Nam Nớc ấy là của chung, của nhữngngời kế thừa lịch sử từ thời Hồng Bàng mà Phan Bội Châu đã miêu tả nh sau:
"Cùng xơng, cùng thịt, cùng da Cùng dòng máu đỏ con nhà Lạc Long"
Vì thế theo cụ, đã là ngời trong một nhà phải "chung nhau một lòng".Xuất phát từ lòng tin vững chắc vào vai trò của ngời dân đối với sự nghiệp cứunớc, cụ đã kêu gọi họ, huy động họ vào hàng ngũ cách mạng Năm 1905, khiviết "Việt Nam vong quốc sử", Phan Bội Châu chia những ngời trong nớc ralàm năm bậc, tất cả đều là con của một ông cha và một bà mẹ, của một bầutrời và cùng một miếng đất nh nhau, tất cả đều là đồng bào trong một nớc và
có nhiệm vụ làm cho nớc "sống lại" Đến tác phẩm "Hải ngoại huyết th" (viếtnăm 1906), cụ đã đề cập đến mời hạng ngời đồng tâm gồm phú hào, quan tớc,thế gia, sĩ tịch, lính tập, giáo đồ, côn đồ nghịch tử, nhi nữ anh th, bồi bếp
Trang 37thông ký, cừu gia tử đệ, ngời đi du học Đến khi viết tác phẩm "Đề tỉnh quốcdân" (năm 1907) thì cụ lại thu gọn sự phân chia ấy lại trong một câu: "Ngời n-
ớc ta không phải ai khác, mà chỉ ở trong sĩ, nông, công, thơng mà thôi" Từ đóchúng ta thấy, sự phân chia lực lợng trong xã hội của Phan Bội Châu không cótiêu chuẩn nhất quán Khi thì dựa vào huyết thống, khi lại dựa vào nghềnghiệp, địa vị xã hội Mục đích của cụ khi nêu các lực lợng tham gia cáchmạng là vì vấn đề khôi phục đất nớc chứ cụ cha nhìn thấy sức mạnh ở vị tríkinh tế - xã hội của các giai tầng trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Với ýnghĩa đó, Phan Bội Châu đã trình bày tập trung và đầy đủ trong tác phẩm "Hảingoại huyết th" một mặt trận đoàn kết gồm 10 hạng ngời để cứu nớc Trongnhững hạng ngời cụ nêu ra, chúng ta không thấy nói đến giai cấp nông dân với
t cách là một lực lợng xã hội độc lập và giai cấp công nhân, một giai cấp mớihình thành dới tác động của cuộc khai thác lần một của thực dân Pháp Đây làmột hạn chế của cụ trong việc vạch ra đờng lối cách mạng đầu thế kỷ XX
Tuy nhiên, trong t tởng đoàn kết lực lợng cứu nớc của Phan Bội Châucũng có những nét đặc sắc Trớc hết, do nhận thức đợc sâu sắc ý nghĩa củaviệc tập hợp lực lợng dân tộc, Phan Bội Châu đã khắc phục đợc nhiều thànhkiến của nhà Nho đối với ngời phụ nữ Trớc đây, ngời ta suy nghĩ chức tráchcủa ngời đàn bà là ở buồng the, bếp núc, còn chuyện xã hội, từ phạm vi họhàng, làng mạc, thôn xóm trở đi là chuyện của ngời đàn ông Còn Phan BộiChâu thì lại cho rằng: "Phụ nữ là những ngời có trách nhiệm làm mẹ tốt, làm
vợ hiền, biết việc văn thơ, hay nghề buôn bán, khéo đờng dạy dỗ con em, giúp
đỡ quân lính Mẹ tốt thì sinh đợc con ngoan, vợ hiền thì giúp đợc chồng giỏi.Hơn nữa, về các sự nghiệp chính trị ngời phụ nữ thực có quyền lợi khôngcùng Có chú trọng việc giáo dục thì mới bỏ đợc riêng t mà theo công lợi, mớilàm cho Nhà nớc mạnh giàu tấn tới" Mạnh mẽ và triệt để hơn khi Phan BộiChâu cho rằng "trong một nớc nếu không có phụ nữ yêu nớc nớc ấy sẽ làm
đầy tớ cho ngời ta thôi" [5, 306] Chính nhờ có quan điểm đúng đắn đó màtrong hàng ngũ chống Pháp của Duy Tân hội và của Việt Nam quang phụchội, Phan Bội Châu đã kết nạp đợc nhiều nữ đồng chí có năng lực và rất trungthành với sự nghiệp cách mạng nh ấu Triệu (Lê Thị Đàn), Tiểu Trng (BạchLiên)… Đặc biệt, tác giả đã đ
Đối với đồng bào công giáo, cũng xuất phát từ nhận thức toàn dân,Phan đã nêu rõ "Đồng bào công giáo đều là anh ta cả, đều là em ta cả… Đặc biệt, tác giả đã đ Mấy
Trang 38mơi năm nay, ngời Pháp nghiêm hình trọng phạt, có một thứ nào tha cho ngời
Da Tô đâu ! Tiền su, tiền thuế bao nhiêu, không bớt một đồng nào cho ngờitheo giáo Da Tô" [12, 152]
Từ đó cụ kêu gọi đoàn kết lơng giáo để chống lại kẻ thù chung:
"Bởi vì ta lại với ta
Lẽ đâu lơng giáo toan mà hại nhau Suy một bụng đồng bào tơng ái Ngờicùng ngời ai dại gì đâu
Đã là đồng chủng đồng cừu Yêu nhau thì quyết cứu nhau phen này" [12, 240]
Cũng từ quan điểm đó, cụ Phan đã tập hợp đợc bên mình những ngờigiáo dân yêu nớc, có những ngời đảm nhận những chức vụ quan trọng trong tổchức cách mạng và góp phần to lớn cho phong trào đấu tranh nh Mai LãoBạng, Đậu Quang Lĩnh… Đặc biệt, tác giả đã đ
Chủ trơng đoàn kết lơng - giáo, kêu gọi giáo dân tham gia đấu tranh đểkhôi phục độc lập dân tộc là một chủ trơng tiến bộ của cụ Phan, vợt lên nhữnghạn chế của phong trào đấu tranh cuối thế kỷ XIX, đặt cơ sở cho việc đoàn kếtlơng - giáo sau này của Đảng, Chính phủ ta
Mặc dầu có những nhợc điểm trong cơ sở lý luận, nhng t tởng đoàn kếtdân tộc của Phan Bội Châu là một bớc phát triển so với t tởng truyền thống.Phan Bội Châu đã làm cho t tởng đoàn kết có tính chất dân tộc rộng rãi và dânchủ, cụ đã góp phần quan trọng trong việc phá tan tình trạng rời rạc, nghi kị uuất lúc đó giữa một số lực lợng xã hội, cố kết nhân tâm, huy động lực lợngdân tộc tham gia chiến đấu
Bên cạnh chủ trơng và biện pháp để đoàn kết lực lợng trong nớc thìPhan Bội Châu cũng đã có những cống hiến lớn trong chủ trơng đoàn kết quốc
tế phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc
Chủ trơng ban đầu của Phan là dựa vào Nhật Bản, nhờ chính phủ Nhậtgiúp đỡ để giải phóng dân tộc Song sau khi Nhật - Pháp cùng cấu kết vớinhau trục xuất thanh niên du học Việt Nam khỏi Nhật thì cụ tỉnh ngộ, thấyrằng không thể dựa vào "anh cả da vàng" đợc nữa Cụ chuyển hớng về phía
đảng cách mạng Trung Hoa và các dân tộc bị áp bức khác trên thế giới dựatrên cơ sở "Đồng văn, đồng chủng, đồng bệnh" Cụ cùng với các đồng chí ởTriều Tiên, ấn Độ, Philíppin lập Hội "Đông á đồng minh" (1908) với mục
Trang 39đích liên lạc giữa các tổ chức cách mạng trong các nớc Đông á, dìu dắt, giúp
đỡ các dân tộc này nổi dậy lật đổ ách thống trị của các nớc Phơng Tây T tởng
đoàn kết quốc tế của Phan Bội Châu xét cho cùng là nhằm tổng hợp lực lợng,khai thác sức mạnh và sự ủng hộ quốc tế để đánh đuổi thực dân Pháp, giànhlại độc lập cho đất nớc Bởi vậy, bên cạnh việc thành lập hội Đông á đồngminh, cụ còn đoàn kết tập hợp cựu học sinh các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây
và Vân Nam nhằm thành lập "Hội Điền - Quế - Việt liên minh", "Hội chấnHoa hng á" Ngoài ra, cụ còn viết "Liên á sô ngôn", "Phúc âm châu á"… Đặc biệt, tác giả đã đkêu gọi "Nhân dân hai nớc Trung Quốc và Nhật Bản đồng lòng giúp sức vớiViệt Nam để sửa sang, xây dựng đại cuộc Châu á"[5, 104]
Do hạn chế về nhận thức, Phan Bội Châu chỉ mới chủ trơng hợp tác cácnớc châu á, mà cha mở rộng tranh thủ ủng hộ, khai thác sức mạnh đoàn kếtcủa tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới Tuy vậy, qua chủ trơng và nhữnghoạt động của mình trong việc đoàn kết lực lợng quốc tế để chống kẻ thùchung của cụ đã vợt qua những hạn chế của các nhà Nho lớp trớc, tạo cơ sở vàbài học kinh nghiệm cho Đảng cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minhtrong việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại cho sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nớc
2.2.2 - Sĩ phu Nghệ Tĩnh tham gia phong trào do Phan Bội Châu khởi xớng:
2.2.2.1 - Tham gia phong trào Đông du:
Từ việc tiếp thu "tân th", "tân báo", t tởng chính trị của sĩ phu NghệTĩnh biến chuyển khác nhiều so với trớc Đặc biệt khi Phan Bội Châu từ Nhật
về nớc (8/1905) và bàn bạc với các cụ Đặng Văn Bá, Đặng Tử Kính, ĐặngThái Thân thì những sĩ phu Nghệ Tĩnh thấy rằng cần phải nhanh chóng đa C-ờng Để ra nớc ngoài, chọn một số thanh niên thông minh hiếu học chịu đợclao khổ, trẻ càng tốt, sang Nhật du học, lập các hội nông, hội buôn, hội học,
đã thể hiện t tởng mới của thời đại
Những sĩ phu yêu nớc Nghệ Tĩnh là yếu nhân của phong trào Đông Du
nh Đặng Tử Kính, Mai Lão Bạng, Đặng Thúc Hứa đã không ngại gian khổ bímật vợt biển, sang Nhật học tập để về gây dựng, phát triển phong trào nhằmkhôi phục độc lập cho Tổ quốc Sau đây chúng tôi trình bày tiểu sử tóm tắt vàhoạt động tiêu biểu những sĩ phu trên
Trang 401 Đặng Tử Kính (? - 1928), ngời làng Hải Côn (Nghi Lộc - Nghệ An),chú ruột của Đặng Thái Thân - một trong những ngời quan trọng của xu hớngbạo động đầu thế kỷ XX ở Nghệ Tĩnh Đặng Tử Kính hoạt động trong hội DuyTân và là một trong ba ngời đầu tiên của phong trào Đông du sang Nhật vàotháng 2 năm 1905 Ông học tập ở Đông Kinh một thời gian, đến 1909 thì bịtrục xuất khỏi Nhật, sau đó ông đến Trung Quốc Một thời gian sau, đợc PhanBội Châu phái về Xiêm cùng Đặng Thúc Hứa chuẩn bị cơ sở ở đây Ông mất ởXiêm năm 1928.
2 Mai Lão Bạng (? - 1942), quê ở Làng Vang (Hng Vĩnh - Vinh - NghệAn) Xuất thân trong một gia đình Công giáo, theo học chữ Nho ở trờng làngmấy năm, sau đợc gia đình gửi vào học ở trờng Đại chủng viện Xã Đoài để đi
tu làm cha đạo Ông bất bình trớc cảnh gò bó ở trờng Dòng, nhất là thái độkhinh thị ngời An Nam của một số cha cố ngời Tây Ông đã hởng ứng phongtrào do Phan Bội Châu khởi xớng và là đại biểu đầu tiên trong giáo hội Thiênchúa giáo xuất dơng sang Nhật Về điều này Phan Bội Châu đã viết trong Niênbiểu: "Năm Mậu Thân (1908), tháng 2, tôi sửa soạn đi Tiêm La, trở về HơngCảng đụng gặp cụ Mai Lão Bạng từ trong nớc ra Trong lần đi đó có học sinhthanh niên vài mơi ngời Cụ Mai là đại diện cho ngời trong Thiên chúa giáo
đồ… Đặc biệt, tác giả đã đ Giáo hội uỷ thác cho cụ ra để giới thiệu những ngời giáo đồ nhập hộiDuy Tân" [11, 182]
Tại Nhật Bản, Mai Lão Bạng đã viết cuốn "Lão Bạng phổ khuyến", cónội dung chủ yếu là khuyên bà con giáo dân hãy đồng tâm hiệp lực với toàndân để diệt thù cứu nớc Cùng với bài ca, có bức ảnh chụp chung giữa Mai LãoBạng với Phan Bội Châu và Cờng Để gửi về nớc Đây là hình ảnh tợng trngcho khối đoàn kết lơng giáo Chính điều này đã ảnh hởng rất lớn đến giáo dân
và có tác dụng quan trọng trong việc động viên, tổ chức họ tham gia giúp đỡphong trào Khi bị chính phủ Nhật trục xuất, Mai Lão Bạng đã quyết định trở
về nớc bằng con đờng qua Xiêm, nhng cụ đã bị bắt giam một thời gian Đầunăm 1910, cụ gặp Phan Bội Châu ở Quảng Đông và đợc giao nhiệm vụ trở lạiXiêm liên lạc với Đặng Tử Kính, Đặng Thúc Hứa gây dựng căn cứ ở BảnThầm Khi Việt Nam quang phục hội đợc thành lập (1912), cụ đợc bầu làmkinh tế bộ uỷ viên, sau đổi làm tài chính phó tổng trởng Cụ bị thực dân Phápbắt năm 1913 và đợc tha vào năm 1917 Sau đó lại bị bắt giam và bị đày đi