1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển biến trong đời sống kinh tế văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)

149 685 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển biến trong đời sống kinh tế - văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Tác giả Hoàng Kim Khoa
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 11,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về đời sống kinh tế, văn hoácủa các dân tộc là góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoátốt đẹp của các dân tộc, mang một ý nghĩa to lớn cả về khoa học và th

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo

trờng đại học vinh

-* -hoàng kim khoa

của tộc ngời đan lai ở huyện con cuông

bộ giáo dục và đào tạo

trờng đại học vinh

-* -hoàng kim khoa

của tộc ngời đan lai ở huyện con cuông

Trang 2

Để hoàn thành công trình này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy

hiện đề tài Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy PGS Hoàng Văn Lân, PGS.

TS Nguyễn Trọng Văn, TS Trần Văn Thức, TS Trần Viết Thụ, TS Trần Vũ Tài

Ngoài ra tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới:

- Th viện Viện dân tộc học.

- Bảo tàng dân tộc học.

- Ban dân tộc Tỉnh uỷ Nghệ An.

- Huyện uỷ, UBND huyện Con Cuông.

- Các phòng ban của UBND huyện Con Cuông: Phòng dân tộc, Ban định canh định c, Ban di dời và phát triển kinh tế, Phòng văn hoá, Phòng giáo dục, Phòng thống kê, Phòng nông nghiệp, Phòng kinh tế - kế hoạch, Phòng tài nguyên,

Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em, Phòng y tế.

- Th viện trờng Đại học Vinh.

- Th viện Nghệ An.

- Sự cộng tác của đồng bào ngời Đan Lai, đặc biệt là Nhà giáo u tú La Văn Bốn, ông La Thế Kỷ, La Văn Thành, La Đình Thám, La Văn Hoa, bà La Thị Vân,

Trang 3

La Thị Mại, v.v … đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi về t ã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi về t đ nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi về t liệu để hoàn thành luận văn này.

viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, luận văn chắc chắn còn

có rất nhiều hạn chế Tác giả rất mong tiếp tục nhận đợc sự góp ý của thầy cô, gia

đình, ngời thân và bạn bè để luận văn đợc hoàn thiện hơn

Vinh, tháng 12/2008 Tác giả: Hoàng Kim Khoa. Mục lục Trang Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 5

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Đóng góp của luận văn 9

6 Cấu trúc luận văn 10

Nội dung 11

Chơng 1 Khái quát về lịch sử hình thành của tộc ngời Đan Lai ở huyện Con Cuông (Nghệ An) 11

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Con Cuông 11

1.1.1 Về tự nhiên 11

1.1.2 Về địa lý - hành chính 15

1.2 Vài nét về các dân tộc quần c trên địa bàn huyện Con Cuông 17

1.2.1 Vài nét về các dân tộc sinh sống trên địa bàn 17

1.2.2 Hệ thống quần c 20

1.3 Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển 23

1.3.1 Lịch sử hình thành của tộc ngời Đan Lai 23

1.3.2 Quá trình phát triển của tộc ngời Đan Lai 29

Chơng 2 Những chuyển biến về kinh tế của

tộc ngời Đan Lai ở huyện Con Cuông - Nghệ An

Trang 4

(từ năm 1973 đến năm 2007) 34

2.1 Đời sống kinh tế của ngời Đan Lai 34

2.1.1 Trồng trọt 34

2.1.1.1 Kinh tế nơng rẫy 34

2.1.1.2 Kinh tế vờn 45

2.1.1.3 Những nguyên nhân làm cho kinh tế trồng trọt của ngời 47

2.1.2 Chăn nuôi 49

2.1.3 Các loại hình kinh tế khác 55

2.1.3.1 Săn bắt và hái lợm 55

2.1.3.2 Nghề đan lát 60

2.1.3.3 Buôn bán 61

2.2 Dự án tái định c cho tộc ngời Đan Lai và những chuyển biến 61

2.2.1 Khái quát về dự án tái định c cho tộc ngời Đan Lai 62

2.2.2 Những chuyển biến về kinh tế - xã hội 64

2.2.3 Những tồn tại trong công tác tái định c 71

2.2.4 Những kiến nghị, đề xuất để ngời Đan Lai 74

Chơng 3 Đời sống văn hoá - xã hội của tộc ngời Đan Lai - truyền thống và biến đổi 78

3.1 Đời sống văn hoá vật chất 78

3.1.1 Trang phục 78

3.1.2 Làng bản, gia đình và nhà cửa của ngời Đan Lai 78

3.1.2.1 Làng bản 79

3.1.2.2 Gia Đình 81

3.1.2.3 Nhà cửa 82

3.1.3 Tập quán trong sinh hoạt ăn uống 85

3.2 Đời sống văn hoá tinh thần của tộc ngời Đan Lai 88

3.2.1 Tín ngỡng 88

3.2.1.1 Tục thờ cúng tổ tiên 88

3.2.1.2 Cúng vào dịp tết nguyên đán 89

3.2.1.3 Khài (cúng) chữa bệnh 90

3.2.1.4 Quan niệm về thế giới của ngời Đan Lai 91

3.2.2 Một số lễ hội tiêu biểu 92

3.2.2.1 Hội ném còn 92

3.2.2.2 Hội thi uống rợu cần 93

Trang 5

3.2.2.3 Hội thi bơi 953.2.2.4 Hôn nhân của tộc ngời Đan Lai - truyền thống và biến đổi 963.2.2.5 Tang ma 102

3.2.3 Văn học nghệ thuật 108

3.2.4 Ngôn ngữ 111

3.2.5 Tục ngủ ngồi - một đặc trng văn hoá của ngời Đan Lai 117

3.3 Tình hình giáo dục của tộc ngời Đan Lai

3.4 Công tác y tế, vệ sinh phòng bệnh của ngời Đan Lai

126

3.4.1 Về tình hình y tế, phòng bệnh 126

3.4.2 Nguyên nhân sự yếu kém trong công tác y tế 128

3.4.3 Những kiến nghị và đề xuất 129

Trang 6

Danh mục những từ viết tắt trong luận văn.

UBND: Uỷ ban nhân dân

UBKHXH: Uỷ ban Khoa học xã hội

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em sinh sống, mỗidân tộc có một sắc thái văn hoá riêng, có một đời sống kinh tế khác nhau, đan

Trang 7

xen, giao thoa lẫn nhau Điều đó, làm cho vờn hoa dân tộc chúng ta thêmphong phú, thêm rực rỡ, góp phần tạo nên vẻ đẹp và cố kết thành sức mạnhcủa cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nghiên cứu về đời sống kinh tế, văn hoácủa các dân tộc là góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoátốt đẹp của các dân tộc, mang một ý nghĩa to lớn cả về khoa học và thực tiễn,góp phần hoàn thiện bức tranh tuyệt đẹp về đời sống kinh tế và truyền thốngvăn hoá các dân tộc Việt Nam.

Đan Lai là một tộc ngời thiểu số đợc nhà nớc xếp vào nhóm địa phơngcủa dân tộc Thổ, hiện đang sinh sống tại huyện miền núi Con Cuông - tỉnhNghệ An Cộng đồng ngời Đan Lai hiện có khoảng hơn 3000 ngời, sống trongvùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên Vờn Quốc gia Pù Mát và dọc biên giớiViệt - Lào, do sống trong vùng sâu, vùng xa nên đời sống của ngời Đan Laigặp vô vàn khó khăn, trình độ dân trí cực kì thấp kém Trong đời sống của tộcngời thiểu số Đan Lai vẫn còn tồn tại nhiều tập tục lạc hậu, ảnh hởng đến việcduy trì nòi giống và phát triển con ngời một cách toàn diện, ảnh hởng đến đờisống tinh thần và vật chất của cộng đồng

1.2 Kể từ năm 1979, nhà nớc ta đã xếp tộc ngời thiểu số Đan Lai lànhóm địa phơng thuộc dân tộc Thổ Tuy vậy, cho đến tận ngày nay, việc xác

định nguồn gốc của ngời Đan Lai vẫn cha tìm đợc một đáp án chung Các nhànghiên cứu dân tộc học, lịch sử học, ngôn ngữ học, xã hội học… vẫn ch vẫn cha thểnào thống nhất quan điểm Nhiều ý kiến trái ngợc nhau về cội nguồn của tộcngời thiểu số Đan Lai đã dẫn đến nhiều kết luận khác nhau về vấn đề này.Theo PGS Ninh Viết Giao thì đã từ rất lâu rồi ở huyện Nghi lộc đã xuất hiệnnhững truyền thuyết về chuyện chạy giặc của một số c dân có tên là Đan Lai.Theo nhà nghiên cứu Trần Vơng (hội viên Hội văn nghệ dân gian Nghệ An, ctrú tại huyện Con Cuông) và quan điểm của Nhà giáo u tú La Văn Bốn (ngờigốc Đan Lai) cho rằng ngời Đan Lai - Ly Hà vốn là ngời Kinh từ vùng thợng

du Thanh Chơng di c lên Con Cuông Theo GS.TS Đặng Nghiêm Vạn đa raquan điểm khẳng định ngời Đan Lai là một nhóm địa phơng của dân tộc Thổ.Năm 1978, Viện dân tộc học đề nghị xếp Đan Lai và Tày Poọng nh một dântộc độc lập Hiện nay, các nhà nghiên cứu khắp nơi trong cả nớc đều thiên về

ý kiến cho rằng Đan lai và Tày Poọng là một dân tộc có chung ngôn ngữ vànền văn hoá Với những nguyên nhân chủ quan và khách quan nh vậy, trong

Trang 8

quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi cũng muốn đi tìm một kết luậnchung đợc đa số các nhà nghiên cứu thừa nhận.

1.3 Đa số ngời Đan Lai đều c trú trong vùng lõi vờn Quốc gia Pù Mát,

do vậy, kể từ năm 2000, UBND tỉnh Nghệ An cùng với UBND huyện ConCuông đã trình Thủ tớng chính phủ và các ban ngành liên quan về đề án di dờiphần lớn các hộ thuộc tộc ngời thiểu số Đan Lai từ khu bảo tồn thiên nhiênQuốc gia Pù Mát đến nơi ở mới Mục đích của việc di chuyển nhằm nâng cao

đời sống cho ngời Đan Lai và cũng dễ dàng hơn cho các cơ quan chức năngtrong việc bảo tồn tính đa dạng sinh học cho khu vờn Quốc gia Pù Mát Việc

di chuyển đến nơi ở mới đã làm thay đổi phong tục tập quán của ngời Đan Lai

nh thế nào? Khả năng thích nghi của ngời Đan Lai đối với cuộc sống mới rasao? Và hiện nay tộc ngời thiểu số Đan Lai còn giữ đợc những nét văn hoágốc nào của họ?.v.v… vẫn ch Đó là những vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

đang đặt ra và chúng tôi cũng muốn góp phần tìm ra lời giải cho những vấn đề

đó

1.4 Nghiên cứu những chuyển biến về đời sống kinh tế, văn hoá của tộcngời thiểu số Đan Lai không chỉ giúp cho chúng ta hiểu thêm về phong tục tậpquán của một cộng động tộc ngời thiểu số sống ở huyện Con Cuông, mà còngiúp cho các cơ quan chức năng có cái nhìn toàn diện về đời sống của tộc ngờinày, từ đó có những chính sách hợp lý để khôi phục, bảo tồn cũng nh phát huynhững giá trị văn hoá đặc sắc của ngời Đan Lai, tìm ra những chính sách pháttriển kinh tế và nâng cao mức sống cho ngời Đan Lai

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Chuyển biến trong đời sống kinh tế - văn hoá của tộc ngời Đan Lai ở huyện Con Cuông - Nghệ An (từ năm 1973 đến năm 2007) làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học lịch

sử Với hy vọng kết quả thu đợc sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm

định hớng phát triển kinh tế và lu giữ, phát huy những giá trị truyền thống vănhoá của tộc ngời thiểu số Đan Lai trong cộng đồng dân tộc Thổ nói riêng vàtrong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài đã có nhiều công trìnhnghiên của nhiều tác giả trên khắp lãnh thổ nớc ta ở nhiều lĩnh vực khác nhau,trong đó tiêu biểu có những lĩnh vực đợc đề cập khá sâu sắc nh ngôn ngữ học,

Trang 9

văn hoá học.v.v… vẫn ch Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số công trình tiêubiểu đó:

ở lĩnh vực dân tộc học, đã có một số công trình của một số nhà nghiêncứu đề cập đến ngời Đan Lai Ngay từ năm 1959, tiếp đó là các năm 1963 và

1964, ngời Đan Lai đã bắt đầu đợc nhắc đến trong các tác phẩm của Lã VănLô, Mạc Đờng… vẫn ch Trong các tác phẩm này ngời đọc có thể tìm thấy nhữngthông tin về nguồn gốc của ngời Đan Lai, địa bàn c trú của ngời Đan Lai, mốiquan hệ giữa Đan Lai với các nhóm ngời khác nh Tày Poọng ở Việt Nam; TàyChăm, Tày Pụm, Tày Tum, Tày Hung ở Lào Công trình cung cấp nhiều thông

tin nhất về ngời Đan Lai cho ngời đọc quan tâm có lẽ là các bài Vài nét về ba nhóm Đan Lai, Ly Hà và Tày Poọng của Đặng Nghiêm Vạn và Nguyễn Anh

Ngọc [75, tr.456] Với công trình này có thể nói rằng lần đầu tiên những đặc

điểm cơ bản về văn hoá vật chất văn hoá tinh thần của tộc ngời thiểu số ĐanLai đợc bày một cách tơng đối khái quát

ở lĩnh vực ngôn ngữ học, vào năm 2004 có công trình luận văn tốtnghiệp thạc sĩ Ngữ văn của của học viên Lê Túc ánh, trờng Đại học Vinh

mang tên: Một số đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá ngời Đan Lai ở Nghệ An [1].

Đề tài này nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá của ngời Đan Lai Trong côngtrình tốt nghiệp thạc sĩ này, tác giả chủ yếu chú trọng đến việc nghiên cứunguồn gốc ngôn ngữ và cách phát âm của ngời Đan Lai Mảng văn hoá tác giả

đề cập đến cha thật đầy đủ

ở lĩnh vực Lịch sử, năm 1978 có công trình luận văn tốt nghiệp của

sinh viên Bùi Minh Đạo - trờng Đại học KHXH&NV Hà Nội mang tên: Một

số phong tục tập quán của ngời Đan Lai trớc năm 1945 [9], công trình này

khái quát bức tranh khá toàn diện về phong tục tập quán của ngời Đan Lai trớcnăm 1945

Ngoài ra còn một số sách, báo, tạp chí, báo điện tử có đăng tải nhữnghình ảnh về đời sống kinh tế văn hoá của tộc ngời thiểu số Đan Lai của một sốtác giả khác nh PGS TS Khổng Diễn đề cập đến thành phần của dân tộc Thổ;PGS Ninh Viết Giao, nhà nghiên cứu dân gian Trần Vơng, Lê Trọng Cúc [75,tr.219], Thi Nhị và Trần Mạnh Cát [75, tr.444], Nguyễn Đình Lộc, hàng loạtbài viết trên báo điện tử của những nhà báo nh: nhà báo Phùng Văn Mùi, nhàbáo Bình Minh, nhà báo Vũ Toàn, nhà báo Thu Hà, nhà báo Nguyên Nghĩa,Nhà báo Đắc Lam và Nguyễn Hoàng, nhà báo Quang Long, nhà báo Hải Th-

Trang 10

ợng, nhà báo Trang Thanh, nhà báo La Minh v.v… vẫn ch đề cập đến nguồn gốc, đờisống của ngời Đan Lai, những khó khăn gặp phải trong công tác di dời ngời

Đan Lai đến nơi ở mới… vẫn ch Tất cả những bài viết này chủ yếu đề cập đến nhữnglĩnh vực riêng nào đấy, ví dụ nh có bài viết đề cập đến đời sống ở vùng mới didời, có bài viết đề cập đến tình hình giáo dục của ngời Đan Lai… vẫn ch cha phải làcông trình mang tính tổng quát và sâu sắc về đời sống kinh tế và văn hoá củatộc ngời thiểu số Đan Lai

Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi muốn khái quát nên mộtbức tranh toàn diện nhất về những chuyển biến từ kinh tế đến văn hoá - xã hội,

điều đặc biết là có những thông tin đợc cập nhật mang tính thời sự từng ngày

Đề tài của chúng tôi cũng sẽ tìm ra những kết luận chung nhất trên cơ sở phântích, so sánh, đối chiếu các quan điểm từ những nhà nghiên cứu trớc và kếtquả điền dã mà chúng tôi thu đợc, để làm sáng tỏ nhất những nét kinh tế và

đặc trng văn hoá của tộc ngời thiểu số Đan Lai ở huyện Con Cuông - Nghệ

An Tuy phạm vi của đề tài nhỏ và chỉ bó hẹp trong phạm vi một huyện, nhng

đây là một đề tài hoàn toàn mới Hy vọng, đề tài này sẽ đóng góp ít nhiều vềmặt khoa học cũng nh mặt thực tiễn trong việc tìm hiểu đời sống kinh tế, vănhoá của ngời Đan Lai nói riêng và hệ thống quần c của huyện Con Cuông nóichung

3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.

3.1 Nguồn t liệu.

Trong quá trình khai thác t liệu phục vụ cho việc hoàn thành luận vănnày, chúng tôi nhận thấy nguồn tài liệu thành văn về ngời Đan Lai là rất khanhiếm, đặc biệt là những tài liệu liên quan đến ngời Đan Lai khoảng 10 năm vềtrớc, nguyên do là thời gian qua những nghiên cứu về ngời Đan Lai là rất ít.Ngay cả Phòng dân tộc huyện Con Cuông cũng chỉ lu lại một số rất ít ỏinhững tài liệu thành văn về tộc ngời Đan Lai Trong quá trình điền dã, chúngtôi đã đợc tiếp cận với nhiều thế hệ ngời Đan Lai khác nhau, trong đó cónhững ngời đợc xem là hiểu biết và có kinh nghiệm nh Nhà giáo u tú La VănBốn (hiện c trú tại bản Châu Định - xã Châu Khê), ông La Thế Kỷ, La VănThành (ở bản Châu Sơn - xã Châu Khê), ông La Đình Thám (ở bản Thái Sơn -xã Môn Sơn), ông La Văn Hoa, bà La Thị Vân (ở Thạch Sơn - xã ThạchNgàn).v.v… vẫn ch họ cũng hoàn toàn nhất trí với chúng tôi về quan điểm có rất ít tàiliệu thành văn viết về ngời Đan Lai trong thời gian qua, đặc biệt là giai đoạn

Trang 11

1995 trở về trớc Điều đó đã gây ra không ít khó khăn khi chúng tôi thực hiện

 Nguồn t liệu văn hoá.

Các sách về văn hoá, tiêu biểu nh: Nghệ An - lịch sử và văn hoá; Vănhoá dân gian Nghệ Tĩnh; Bản sắc văn hoá của ngời Nghệ Tĩnh; Về văn hoá xứNghệ; Nghệ An - di tích và danh thắng; Địa danh lịch sử - văn hoá Nghệ An;Nghệ An ký; Địa chỉ làng văn hoá Nghệ An, T4;… vẫn ch

 Nguồn t liệu khai thác trên mạng Internet.

Đó là những bài báo đăng trên các báo điện tử của Việt Nam, nội dungrất phong phú đa dạng, chủ yếu đề cập đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hộicủa tộc ngời Đan Lai đang biến đổi từng ngày

 Nguồn t liệu địa phơng, gồm có:

- T liệu thành văn.

Các sách viết về dân tộc thiểu số Nghệ An do nhà xuất bản Nghệ An ấnhành nh: Văn học các dân tộc thiểu số Nghệ An; Phong tục tập quán các dântộc thiểu số ở Nghệ An; Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An;… vẫn ch

Các sách viết về địa phơng do UBND tỉnh, Ban dân tộc tỉnh Nghệ An,hoặc các sách do huyện xuất bản nh: Lịch sử đảng bộ huyện Con Cuông, ConCuông - huyện cửa ngõ miền tây xứ Nghệ… vẫn ch Các tài liệu thành văn, các báocáo tổng kết, các bảng thống kê, các nghị quyết chỉ thị của các phòng banthuộc UBND huyện Con Cuông nh: Phòng dân tộc, Ban di dời và phát triển

Trang 12

kinh tế, Ban định canh định c, Phòng kinh tế - kế hoạch, Phòng nông nghiệp,Phòng tài nguyên môi trờng, Phòng thống kê, Phòng giáo dục, Phòng văn hoá,

Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em, UBND xã Môn Sơn, UBND xã Châu Khê,UBND xã Thạch Ngàn, UBND xã Lục Dạ… vẫn ch

- T liệu hiện vật.

Bao gồm nhà cửa mà chúng tôi đã trực tiếp mục kích sở thị và chụp ảnh,ngoài ra còn các vật dụng gia đình, các công cụ lao động… vẫn ch của ngời Đan Laitại địa phơng

- T liệu truyền miệng.

Chúng tôi đã trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với các già làng, trởng bản,những ngời có kinh nghiệm là ngời Đan Lai, những nhà nghiên cứu dân gian

địa phơng… vẫn ch để đợc nghe kể, chúng tôi ghi chép lại sau đó đối chiếu, so sánh

để đa ra những kết luận cuối cùng phục vu cho công tác nghiên cứu của chúngtôi

3.2 Phơng pháp nghiên cứu.

Đề hoàn thành những yêu cầu mà đề tài đặt ra, chúng tôi đã sử dụng

ph-ơng pháp sử học Mác-xít từ lúc su tầm, chỉnh lý tài liệu cho đến quá trình biênsoạn đề tài Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp lôgíc, phơng phápthống kê đối chiếu, phơng pháp so sánh để xử lý tài liệu, để đánh giá và phântích sự kiện

Để đề tài đợc phong phú và mang tính hiện thực, chúng tôi đã tiến hành

điền dã trực tiếp địa bàn c trú của ngời Đan Lai ở huyện Con Cuông, trực tiếpthăm hỏi và phỏng vấn những ngời già làng, trởng bản, những ngời dân ĐanLai gốc có vốn hiểu biết rộng, những nhà nghiên cứu dân gian địa phơng amhiểu đời sống của tộc ngời thiểu số Đan Lai để bổ sung t liệu

Trên cơ sở những tài liệu thành văn đã đợc xuất bản có liên quan đếnnội dung đề tài, những tài liệu thành văn của địa phơng, những chỉ thị, nghịquyết của các cấp ngành liên quan trong việc bảo tồn và phát triển những giátrị kinh tế và văn hoá của ngời Đan Lai chúng tôi đã tổng hợp, so sánh và xácminh tính chính xác để đa ra những kết luận đáng tin cậy nhất phục vụ choquá trình nghiên cứu của chúng tôi

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

4.1 Đối tợng nghiên cứu của đề tài.

Trang 13

Đề tài đi sâu nghiên cứu về những chuyển biến trong đời sống kinh tế

và văn hoá của tộc ngời thiểu số Đan Lai từ năm 1973 đến năm 2007 Cụ thể:

- Tìm hiểu khái quát về nguồn gốc và địa bàn định c của ngời Đan Lai

Trên lãnh thổ Việt Nam, Đan Lai là một tộc ngời duy chỉ sinh sống ở

địa bàn huyện Con Cuông - Nghệ An Do vậy, giới hạn về không gian của đềtài chủ yếu nghiên cứu những chuyển biến về đời sống kinh tế, văn hoá - xãhội của ngời Đan Lai trong phạm vi địa giới ổn định là huyện Con Cuông -Nghệ An

- Giới hạn thời gian:

Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu những chuyển biến về đời sốngkinh tế, văn hoá của ngời Đan Lai từ năm 1973 đến năm 2007

Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

5 Đóng góp của luận văn.

5.1 Có thể nói luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách khátoàn diện và đầy đủ về những biến đổi về đời sống kinh tế, văn hoá của tộc ng-

ời thiểu số Đan Lai từ năm 1973 đến năm 2007

5.2 Luận văn nghiên cứu những nét cơ bản trong đời sống kinh tế, vănhoá của ngời Đan Lai, trong đó có tìm hiểu những nét truyền thống và cảnhững biến đổi

5.3 Kết quả nghiên cứu của luận văn là một tài liệu có ích cho các nhànghiên cứu hoạch định những chính sách hợp lý nhằm bảo tồn và phát huynhững giá trị truyền thống của ngời Đan Lai Xây dựng chiến lợc và sách lợcphát triển về kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng cho các dân tộc ít ngời ởmiền tây Nghệ An nói chung và tộc ngời thiểu số Đan Lai nói riêng

Trang 14

5.4 Đề tài còn có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, tình cảm trântrọng và biết giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc trongcộng đồng 54 dân tộc anh em của Việt Nam.

5.5 Kết quả của đề tài còn là một t liệu quý cho các nhà nghiên cứu dântộc học trong việc tìm hiểu nguồn gốc, sự phát triển kinh tế, truyền thống vănhoá của tộc ngời thiểu số Đan Lai trong thành phần dân tộc Thổ và trong cộng

đồng các dân tộc ở huyện Con Cuông - Nghệ An

5.6 Tập trung hệ thống tài liệu liên quan đến đời sống kinh tế, văn hoácủa ngời Đan Lai để tiếp tục nghiên cứu, sử dụng vào việc biên soạn và giảngdạy lịch sử địa phơng

Trang 15

nội dung

Chơng 1 Khái quát về lịch sử hình thành tộc ngời Đan Lai ở huyện Con Cuông (Nghệ An)

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Con Cuông (Nghệ An)

1.1.1 Về tự nhiên.

Con Cuông là huyện miền núi vùng cao phía Tây Nam của tỉnh Nghệ

An, nằm trong khoang thứ hai dãi đất miền trung, sâu vào thềm cao nguyênTrấn Ninh, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Vinh 130km, toạ độ địa lý từ

18046’30” đến 19019’42” vĩ độ Bắc, từ 104037’57” đến 105003’08” kinh độ Đông.Phía Đông Nam huyện Con Cuông giáp huyện Anh Sơn; phía Tây Bắc giáphuyện Tơng Dơng; phía Đông Bắc giáp huyện Quỳ Hợp; phía Tây Nam giápnớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với đờng biên giới 55,5km Diện tích tựnhiên 174.451ha, diện tích sông suối và núi đá 8.446ha, đất nông nghiệp4.035ha, đất lâm nghiệp 104.663ha, trong đó có 61.752ha rừng đặc dụng(55.928ha thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Vờn Quốc gia Pù Mát và 5.824hathuộc khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống)

Con Cuông nổi tiếng với hai khu bảo tồn thiên nhiên lớn của cả nớc đó

là khu bảo tồn thiên nhiên Vờn Quốc gia Pù Mát và khu bảo tồn thiên nhiên

Pù Huống Đây là khu bảo tồn có tính đa dạng sinh học đại diện cho hệ sinhthái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình nhất khu vực Bắc Trờng Sơn.Tổng diện tích của hai khu rừng nguyên sinh này là 62.752ha, với số lợng

động thực vật lên đến 2.500 loài của 202 họ 931 chi Trong đó có 68 loài đ ợcxếp vào Sách đỏ Việt Nam và thế giới Đặc biệt các loài sa-mu, pơ-mu cổ thụ

có những cây có đờng kính 4,5m, cao đến 40m Về động vật, có 84 loài ca, 34loài lỡng c 52 loài bò sát, 313 loài chim, 132 loài thú, trong đó có tổng cộng

98 loài đợc ghi trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới Đặc biệt, tại đây đã pháthiện những loài thú lớn, mới nh sao la, mang Trờng Sơn Hàng năm khu bảotồn thiên nhiên Vờn Quốc gia Pù Mát thu hút một lợng khách du lịch đông

đảo từ khắp mọi miền của tổ quốc đến tham quan

Trang 16

Diện tích huyện Con Cuông không rộng, chủ yếu là rừng và đất rừng có

địa hình vùng thấp, vùng giữa và vùng cao Phía Tây Nam bờ sông Lam chủyếu là những dãy đá vôi của chân dãy Trờng Sơn chạy theo hớng Tây Nam vàBắc Nam cao trung bình 200 mét tạo thành những thung lũng nhỏ hẹp Thunglũng lớn nhất là xã Môn Sơn và Lục Dạ Phía Đông bờ Bắc sông Lam là giảinúi đồi nhấp nhô liên tiếp nhau

Sông Lam là con sông lớn nhất chảy qua địa phận của huyện, dài 30kmchia huyện thành bên tả 6 xã và một thị trấn Sông Lam có giá trị về giaothông và là nguồn cung cấp thực phẩm lớn Ngoài ra địa bàn huyện ConCuông còn có các con sông nhỏ sông Giăng, khe Choăng, khe Thơi… vẫn ch Nhữngcon sông này có đặc điểm là lòng sông khúc khuỷu, nớc chảy xiết SôngGiăng chảy qua xã Môn Sơn nhập vào sông Lam tại Thanh Chơng Đặc điểmcủa con sông này là lu lợng dòng nớc nhỏ, chỉ đủ cung cấp nớc sinh hoạt chomột bộ phận tộc ngời Đan Lai và dân tộc Thái ở đây Nó cũng cung cấp nớc t-

ới chủ yếu cho ngành nông nghiệp của huyện Sông Giăng đặc biệt hung giữvào mùa ma, nó trở nên hung dữ hơn khi có nớc từ trên ngàn và trên rừng chảyxuống, nó sẵn sàng nhấn chìm các chuyến đò của c dân ở đây bất cứ lúc nào

Về giao thông, tuyến đờng số 7 chạy qua địa phận huyện Con Cuôngdài khoảng 30km là đờng quốc lộ có tầm quan trọng rất lớn Thực dân Phápgọi con đờng này là “chìa khoá Đông Dơng”, nơi có thể mở cửa cho việc ngựtrị của chúng trên bán đảo quan trọng và giàu có này Tuyến đờng này xuấtphát từ huyện Diễn Châu qua các huyện Đô Lơng, Anh Sơn, tới Con Cuông rồingợc lên các huyện Tơng Dơng và Kỳ Sơn Đây là huyết mạch giao thôngquan trọng của miền Tây Nghệ An, nó đóng vài trò rất quan trọng trong việcphát triển kinh tế, văn hoá của cả vùng miền tây Nghệ An rộng lớn

Khí hậu ở huyện Con Cuông có đặc điểm chung là nhiệt đới gió mùa,chịu ảnh hởng của khí hậu Bắc Trung bộ, lợng ma trung bình hàng năm1.517mm; nhiệt độ bình quân hàng năm 23,30C; độ ẩm 86%, số giờ nắng bìnhquân 1.576 giờ/năm Lơng ma lớn tập trung và khoảng tháng 8, 9, 10 Giómùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 năm trớc đến tháng 3 năm sau, kèm theo

ma phùn, lạnh giá và thờng có sơng muối Gió Lào (gió phơn) xuất hiện từtháng 4 đến tháng 8 gây khô nóng và hạn hán Mùa hè ở đây thờng rất nóng,lúc cao điểm của mùa hè có thể lên tới trên 400C

Trang 17

Sông suối ở huyện Con Cuông có ảnh hởng rất lớn tới cấu tạo địa hình,cảnh quan Dòng sông Lam bắt nguồn từ hợp lu của sông Nậm Nơn và Nậm

Mộ tại Cửa Rào của huyện Tơng Dơng chảy qua địa phận huyện Con Cuông30km Ngoài ra, còn có các sông suối nhỏ nh: sông Giăng (Nậm Khăng), KheMọi, Khe Choăng, Khe Thơi Phần lớn các khe suối này chảy đổ vào sôngLam thuộc địa giới Con Cuông Còn sông Giăng chảy qua xã Môn Sơn nhậpvào sông Lam ở Thanh Chơng

Địa hình của Con Cuông bị chia cắt bởi dòng sông Lam thành hai vùngvới đặc điểm khác nhau rõ rệt Vùng tả ngạn, chủ yếu đồi núi đất, độ caotrung bình 500 mét so với mặt nớc biển với độ dốc khoảng 200 - 300, cao nhất

là đỉnh Pù Su 900 mét Vùng hữu ngạn, địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, bị chiacắt mạnh bởi nhiều núi cao, suối sâu, độ cao trung bình 1.000 mét, độ dốckhoảng 300 - 350 Phía Đông Bắc vùng dọc đờng quốc lộ số 7 cao bình quân

500 mét; phía Tây Nam dãy Trờng Sơn cao 1.400 mét, đỉnh Pù Luông cao1.880 mét

Nhìn vào địa thế đất, có thể chia Con Cuông theo mấy loại địa hình sau:

- Vùng thấp: loại hình trồng lúa nớc là chính, kết hợp trồng màu và khaithác lâm sản Các xã Môn Sơn, Yên Khê, Lục Dạ, Chi Khê… vẫn ch là những cùngtrọng điểm lúa của huyện Thị trấn Con Cuông là trung tâm kinh tế, văn hoácủa huyện, đây cũng là nơi giao lu kinh tế, văn hoá với các huyện khác

- Vùng giữa: là địa hình trồng màu, kết hợp với trồng cây công nghiệp,sản xuất lúa rẫy hoặc lúa nớc Địa hình giữa là vùng thuộc các xã Châu Khê,Mậu Đức, Thạch Ngàn, Cam Lâm và Đôn phục

- Vùng cao: chủ yếu làm nơng và khai thác lâm sản nh Bình Chuẩn,Lạng Khê

Giải đất phù sa ven sông Lam chạy từ Tây đến Đông Nam gồm nhữngbãi phù sa liên tiếp Giải đất này là phù sa ven sông, đất mềm tơi, dễ canh tácthích hợp với nhiều loại rau màu Nhiều nông dân ở vùng này đã sử dụng đấtnày để trồng các loại cây cho năng suất cao nh lạc, vừng, đậu, ngô… vẫn ch

Về cảnh quan địa lý, ngoài những dãy núi đá vôi và những dãy núi nhấpnhô phía tây bắc bờ sông Lam còn có những dãy núi nhỏ nh Pù Luông cao

188 mét Đứng trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát toàn huyện Phùng KhắcKhoan (Đậu Hoàng Giáp đời Lê) có viết mấy câu thơ nổi tiếng “Đào nguyênhành” để ca ngợi vẻ đẹp của núi non vùng hiểm trở này:

Trang 18

Kiềm Châu xe chỉ cờ điêu

Dới hiên mái đá trên đèo ghi công

Sơn trùng trùng, thuỷ dung dung

Mặt đá biếc bóng lồng chân đá biếc.”

Cảnh đẹp nổi tiếng của Con Cuông có thác Bổ Bố (vải trắng) mà nhândân thờng gọi là thác Kèm thuộc xã Yên Khê Đó là con thác cao hơn 100m,nớc lng chứng sờn núi đổ xuống nh một dải lụa trắng, đẹp nh tranh thuỷ mặc

Đây là một thắng cảnh hấp dẫn nhiều du khách, nhà nghiên cứu văn học dângian Nguyễn Đổng Chi từng đến đây, ông tức cảnh mà vịnh bài thơ:

N “ ớc trên đỉnh núi

Dội xuống lòng khe

Đẹp nh một bức lụa the

Trắng màu tính khiết, phủ che non ngàn.”

Có thể nói với địa hình chủ yếu là đồi núi cao, xen giữa sự chia cắt củanhững dãy núi là các thung lũng, những đồng bằng, huyện Con Cuông còn lànơi hội tụ của nhiều tài nguyên phong phú và quý hiếm Về tài nguyên rừng,

có nhiều loại gỗ quý hiếm nh lim, dỗi, lát hoa… vẫn ch hàng năm rừng cho khai tháchàng chục nghìn mét khối gỗ Nhiều lâm sản quý nh nứa, mét, tre, song,mây… vẫn ch vừa có giá trị công nghiệp vừa là mặt hàng xuất khẩu với nguồn lợi rấtlớn Rừng còn có nhiều dợc liệu quý, nhiều thú quý hiếm nh voi, hổ, tê giác,gấu… vẫn ch ới lòng đất còn chứa nhiều loại khoáng sản mang lại giá trị kinh tế rất Dlớn nh thiếc, chì,… vẫn ch ở Châu Khê, Lạng Khê, Môn Sơn… vẫn ch

Huyện Con Cuông là vùng đặc trng của nền khí hậu nhiệt đới nớc ta,nơi đây có nền độ ẩm cao với thời tiết nắng lắm, ma nhiều là điều kiện rất tốtcho các loại cây cối, vật nuôi sinh sôi nảy nở Mặt khác, với nền khí hậu đócũng sẽ gây ra rất nhiều thiên gây nh lũ quét, lở đất, hạn hán… vẫn ch làm cho đờisống của con ngời nơi đây gặp không ít những khó khăn, vất vả Tuy nhiên,Con Cuông cũng đã đợc thiên nhiên u đãi cho nhiều cảnh đẹp hữu tình, làm

mê đắm lòng ngời, khiến cho những du khách dù chỉ một lần ghé thăm vùng

đất này cũng ghi dấu một ấn tợng đẹp không bao giờ phai

1.1.2 Về địa lý - hành chính.

Ngợc dòng thời gian, chúng ta thấy rằng công cuộc khai phá đất đaivùng phía tây Nghệ An có từ thời Lý Khi đó, các vua triều Lý đã tiến hànhkhai khẩn, mở mang thêm diện tích trồng trọt và thành lập nhiều làng mới Lý

Trang 19

Nhật Quang trong thời gian làm tri châu Nghệ An đã mở mang đợc 5 châu, 22trại, 56 sách tập trung dọc sông Lam, sông La, vùng Nam Kim (Nam Đàn),vùng Khe Bố, Vĩnh Hòa (Tơng Dơng), vùng Cự Đồn (Con Cuông).

Sang thời Trần vùng đất Con Cuông ngày nay đợc gọi với tên là MậtChâu hay Kiềm Châu Trong cuốn “Đại Việt sử kí toàn th” của Ngô Sĩ Liên cóghi: “thế kỷ XIII Con Cuông có tên gọi là Nam Nhung, Kiềm Châu, sau đổithành Mật Châu” Cho đến cuối thời Lê Sơ vẫn còn là phủ Ki Mi, thủ phủ

đóng ở Thành Nam” Năm Minh Mạng thứ hai (1822) đổi tên phủ Trà Lânthành phủ Tơng Dơng (gồm 3 tổng), Vĩnh Hoà (3 tổng), Hội Nguyên (3 tổng)

Huyện Vĩnh Hoà sau khi phân chia, một phần thuộc xã Lạng Khê ngàynay (thuộc Thai Lạng cũ) nhập vào huyện Tơng Dơng Sau Cách mạng ThángTám - 1945, huyện Tơng Dơng đổi lấy tên là huyện Con Cuông gồm 6 xã:Môn Sơn, Lục Dạ, Chính Yên, Châu Khê, Mậu Thạch, Cam Phục Đến 1958xã Chính Yên tách thành 2 xã mới là Bồng Khê và Yên Khê

Ngày 27-2-1961 tách xã Châu Khê thành 3 xã là Chi Khê, Châu Khê vàLạng Khê

Ngày 5-7-1963 xã Bình Chuẩn của huyện Tơng Dơng sát nhập vàohuyện Con Cuông, tách xã Mậu Thạch thành 2 xã Mậu Đức và Thạch Ngàn,tách xã Cam Phục thành 2 xã Cam Lâm và Đôn Phục Sát nhập chòm Muỗng

và Bỏi thuộc xã Đôn Phục vào xã Mậu Đức Sát nhập chòm Hua Nà thuộc xãMôn Sơn vào xã Lục Dạ

Ngày 1-3-1988, tách các xóm Đồng Tiến, Tân Yên, Tân Tiến, Việt Tiếncủa xã Bồng Khê thành lập thị trấn Con Cuông Đến ngày 19-8-1988 Uỷ bannhân dân lâm thời thị trấn chính thức hoạt động

Trang 20

Nh vậy, đến tháng 8-1988 huyện Con Cuông đã có 12 xã và 1 thị trấnlà: Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê, Châu Khê, Chi Khê, Lạng Khê,Cam Lâm, Thạch Ngàn, Mậu Đức, Đôn Phục, Bình Chuẩn và thị trấn ConCuông [43, tr.10-11].

Kể từ năm 1988 cho đến nay, địa lý - hành chính huyện Con Cuôngkhông có sự thay đổi lớn nào Nhờ sự ổn định của hệ thống hành chính mà cácdân tộc anh em chung sống trên địa bàn huyện có điều kiện cùng chung sứcxây dựng huyện ngày càng giàu đẹp hơn

1.2 Vài nét về các dân tộc quần c ở địa bàn huyện Con Cuông 1.2.1 Vài nét về dân số và các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện Con Cuông.

Mặc dù là một huyện với địa hình chủ yếu là đồi núi nhng Con Cuôngvẫn là nơi xuất hiện khá sớm của con ngời Theo các nhà khảo cổ học, sau khinghiên cứu 1.096 mảnh tớc khảo cổ và một số vỏ ốc tại Hang ốc (Thẳm Hoi)

ở xã Yên Khê, đợc đo bằng phơng pháp đồng vị phóng xạ các bon C14 chobiết, con ngời đã có mặt trên đất rừng Con Cuông hơn 1 vạn năm trớc đây,thuộc thời văn hoá Hoà Bình Nh vậy, địa bàn huyện Con Cuông ở vào mộttrong những khu vực con ngời xuất hiện khá sớm Thuở hồng hoang từngchứng kiến con ngời đã bớc những bớc đi chập chững, vin cành, hái quả trênmảnh đất này

Cùng cải tạo thiên nhiên và tạo lập cuộc sống trên mảnh đất Con Cuông

có các dân tộc anh em: Thái, Đan Lai (một nhóm địa phơng của dân tộc Thổ),Kinh và một số rất ít ngời Hoa, Nùng

Sách “Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam” của viện dân tộc học xuất bảnnăm 1978 và sách “Sổ tay về các dân tộc Việt Nam” xuất bản năm 1999, đềucho rằng tổ tiên của ngời Thái gốc xa xa ở Trung Quốc vào Việt Nam cách

đây trên dới 1000 năm Đầu tiên họ c trú ở Tây Bắc, đa số ở lại đó, một số tiếptục di c qua Lào rồi về miền Tây Nghệ An, một nhóm di c hẳn vào Hoà Bình,Thanh Hoá rồi mới đến miền Tây Nghệ An Sau cuộc thiên di dài dằng dặc ấy,một số gia đình thuộc nhóm Thái Hàng Tổng, Tày Mời, Tày Thanh (ManThanh) đã định c ở Con Cuông vào đầu thế kỷ XV Ngôn ngữ hai nhóm này

có khác nhau đôi chút về ngữ điệu và một số từ không đáng kể, nhng nhìnchung là thống nhất không có rào cản lớn về ngôn ngữ Họ biết làm nghề rừng

Trang 21

và chăn nuôi, dệt thổ cẩm, đan lát, trồng lúa nớc, đa số ngời Thái ở vùng núithấp, thờng ở dọc ven sông suối và thung lũng

Vào thế kỷ XV, khi mới đến định c ở Con Cuông ngời Thái lúc nàychiếm hơn 90% dân số toàn vùng Trải qua bao thăng trầm phát triển đến nay

địa bàn huyện đã có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống và ngời Thái vẫn làmột dân tộc có dân số lớn nhất của huyện Con Cuông Theo thống kê dân sốnăm 2005, dân tộc Thái có 45.531 ngời, chiếm 70,4% dân số toàn huyện, đếnnăm 2007 dân số của dân tộc Thái tăng lên là 46.276 ngời, vẫn chiếm hơn70% dân số của huyện Con Cuông Họ sống chung với các bản làng của ngờiKinh và ngời Đan Lai nên các đơn vị hành chính của ngời Thái cũng thốngnhất với tên gọi của các dân tộc khác là bản và chòm Trong quá trình sốngxen kẻ với nhau, các dân tộc này đã hoà đồng với nhau, cùng giúp đỡ nhautrong quá trình cải tạo tự nhiên và đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ để pháttriển cuộc sống Cũng giống nh ngời Đan Lai và ngời Kinh, ngời Thái có lốisống giản dị và có tính cộng đồng rất cao, những lúc khó khăn các gia đình th-ờng giúp đỡ nhau từ những việc nhỏ đến những việc lớn nh dựng nhà, dựng vợgả chồng

Ngời Thái có đời sống văn hoá rất phong phú, trong năm họ có nhiềungày lễ và trong những ngày này họ vẫn tổ chức những trò chơi dân gian, cónhiều trò chơi của ngời Thái đã trở nên nổi tiếng nh ném còn, múa trốngchiêng, múa hội đợc mùa, múa xăng khan, lễ hội uống rợu cần.v.v… vẫn ch Nhiềutrò chơi của ngời Thái đã đợc ngời Đan Lai tiếp thu và cải biến trở thànhnhững trò chơi quen thuộc của c dân Đan Lai nh ném còn, lễ hội uống rợucần… vẫn ch

Viết về ngời Đan Lai, Ly Hà theo sách “Thanh Chơng tú khí” của BùiDơng Lịch, phần Thanh Chơng huyện chí VHV 2557 (số th tịch của viện HánNôm), có ghi Đan Lai - Ly Hà, là ngời thuộc huyện Thanh Chơng Truyềnthuyết “trăm cây nứa vàng”, “cái thuyền liền chèo” cho rằng ngời Đan Lai từThanh Chơng, do bị bóc lột, loạn lạc nên chạy ngợc lên thợng ngồn, nơi “sơncùng thuỷ tận” của đất nớc để sinh sống [43, tr.12-13] Hiện nay, phần lớn ng-

ời Đan Lai sinh sống ở đầu nguồn Khe Khặng (Môn Sơn), Khe Nóng (ChâuKhê), Khe Mọi (Lục Dạ) Tộc ngời này có tập quán làm ăn, sinh sống chủ yếudựa vào làm nơng, săn bắn, hái lợm Trong những năm qua, Đảng và Nhà nớc

ta rất quan tâm giúp đỡ tộc ngời Đan Lai, đa họ đến định c ở những vùng đất

Trang 22

mới thuận lợi hơn cho họ phát triển sản xuất, từng bớc thoát khỏi đói nghèo vàlạc hậu.

Theo thống kê dân số năm 1989, tại huyện Con Cuông có 1.386 ngời

Đan Lai Tỉ lệ phát triển dân số của ngời Đan Lai hàng năm là tơng đối thấp,cộng với tập quán hôn nhân cận huyết thống với nhau càng làm cho ngời ĐanLai có xu hớng kém phát triển về mặt thể chất, trí tuệ và cả tuổi thọ Đến năm

2004, dân số của tộc ngời Đan Lai tăng lên là 2.837 ngời, c trú tập trung chủyếu ở 5 xã gồm: Môn Sơn, Châu Khê, Lục Dạ, Lạng Khê, Yên Khê, trong đóhai xã có số ngời Đan Lai sống đông nhất là Châu Khê với 1.291 ngời và MônSơn là 1.002 ngời Đây cũng là hai xã có mật độ dân số thấp nhất huyện Nếu

nh mật độ dân số trung bình của huyện là 37 ngời/km2, có xã nh Bồng Khê là

184 ngời/km2 thì Môn Sơn chỉ có 19 ngời/km2, còn Châu Khê là 12 ngời/km2

Kể từ năm 2000, Thủ tớng chính phủ đã phê duyệt đề án di dời những hộthuộc tộc ngời Đan Lai ra khỏi vùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên VờnQuốc gia Pù Mát, tạo điều kiện cho ngời Đan Lai đợc hòa nhập với cộng đồng

và cùng với các dân tộc khác chung sức xây dựng huyện Con Cuông ngàycàng phát triển Đến cuối năm 2007, dân số của tộc ngời Đan Lai tăng lên là3.054 ngời, trong đó xã Châu Khê hiện có 1.338 ngời chiếm 43,8% tổng sốdân Đan Lai toàn huyện và xã Môn Sơn có 1.057 ngời chiếm 34,6%

Ngời Kinh cũng có mặt sớm ở Con Cuông, giao lu buôn bán với đồngbào các dân tộc Thái, Đan Lai Số lợng ngời Kinh tăng nhanh chủ yếu từ khi

Đảng và nhà nớc ta có chính sách di dân lên miền núi phía Tây xây dựngnông, lâm trờng quốc doanh và các khu kinh tế mới Họ sống tập trung chủyếu ở thị trấn, thị tứ, một bộ phận sống đan xen với đồng bào dân tộc Thái

Ngời Hoa có 21 hộ, 76 khẩu, sống tập trung chủ yếu ở thị trấn ConCuông, sống chủ yếu lấy nghề buôn bán làm kế sinh nhai

Ngời dân tộc Nùng từ tỉnh Cao Bằng vào định c ở xã Yên Khê từ 1995với 28 hộ, 129 khẩu Sinh sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi

1.2.2 Hệ thống quần c.

Địa bàn huyện Con Cuông là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau

nh Thái, Kinh, Đan Lai (Thổ), Hoa, Nùng Các dân tộc này c trú xen kẻ nhau,hoà hợp vào nhau cùng chung sức cho sự phát triển chung của huyện ConCuông Thể hiện rõ ở hệ thống quần c của các dân tộc này trên địa bàn củahuyện

Trang 23

Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Con Cuông, thì vàonăm 2004 dân số toàn huyện là 64.679 ngời, trong đó dân tộc Thái có 45.531ngời chiếm 70,4% dân cố của huyện, đứng thứ hai là dân tộc Kinh với 16.109ngời chiếm 25% dân số của huyện, tộc ngời Đan Lai có 2.837 ngời chiếm4,2% dân số của huyện, số còn lại là các dân tộc khác nh Hoa, Nùng, Êđê… vẫn chVới mức tăng dân số hàng năm của huyện Con Cuông là 2,6%/năm thì đếnnăm 2008, dân số của huyện đã tăng lên là 70.805 ngời, tộc ngời thiểu số ĐanLai tính đến năm 2008 đã có 3.054 ngời chiếm hơn 4,25% dân số của huyệnmiền núi Con Cuông [60, tr.1].

Dân c huyện Con Cuông sinh sống trên địa bàn 12 xã và một thị trấn,với mật độ dân số 57ngời/km2 Tính đến năm 2005, hệ thống quần c của cácdân tộc trên địa bàn huyện Con Cuông thể hiện qua bảng sau:

TT Đơn vị (xã) Thái

(ngời)

Kinh(ngời)

Đan Lai(ngời)

Hoa(ngời)

Mật độ (ngời/

huyện Con Cuông (tính đến cuối năm 2005).

Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy, thị trấn Con Cuông là nơi có mật độdân số cao nhất với 3.364 ngời/km2, trong khi đó mật độ trung bình của huyệnCon Cuông chỉ là 57 ngời/km2, cao gấp 59 lần so với mật độ trung bình củahuyện Xã Châu Khê là nơi có mật độ dân số thấp nhất huyện, nơi đây chỉ có12,7 ngời/km2, thấp hơn 4,5 lần so với mật độ dân số trung bình của huyện

Dân tộc Thái là c dân chiếm số lợng lớn nhất trong các dân tộc c trútrên địa bàn huyện Con Cuông và ngời Thái phân bố khắp các xã, thị trấn của

Trang 24

huyện Trong đó hai xã Môn Sơn và Châu Khê có ngời Thái c trú đông nhất,nếu nh tại xã Môn Sơn ngời Thái có 6.525 ngời, chiếm 82,5% dân số của xãnày, thì tại xã Lục Dạ ngời Thái cũng có 6.474 ngời, chiếm đến 92,1% dân sốcủa toàn xã Thị trấn Con Cuông là nơi có ít ngời dân tộc Thái c trú nhất, chỉ

có 418 ngời, chiếm 8,6% tổng số dân của thị trấn Xét về địa hình c trú, ngờiThái, Đan Lai, Nùng chủ yếu c trú trên địa hình cao, đồi núi nhiều, giao thông

đi lại rất khó khăn, đặc biệt vào mùa ma lũ Trên địa hình nh vậy, các dân tộcnày chủ yếu làm kinh tế trồng trọt trên nơng rẫy và phát triển chăn nuôi, đặcbiệt là chăn thả

Ngời Kinh là dân tộc có số lợng ngời lớn thứ hai trên địa bàn huyệnCon Cuông, họ cũng c trú khắp các vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó tậptrung chủ yếu ở những nơi trung tâm, những nơi có địa hình thấp và bằngphẳng, giao thông đi lại khá thuận lợi với hai địa điểm chủ yếu là thị trấn ConCuông và xã Bồng Khê Riêng hai địa điểm c trú này đã có 8.954 ngời, chiếmhơn 54% tổng số ngời dân tộc Kinh trên địa bàn huyện Con Cuông

Tính đến năm 2005, xã Châu Khê là nơi c trú đông nhất của ngời ĐanLai, với 1.386 ngời, chiếm 47% dân số Họ chỉ c trú 6/13 xã, thị trấn củahuyện Con Cuông, trong đó xã có ít ngời Đan Lai c trú nhất là Chi Khê chỉ có

7 hộ với 29 ngời, chỉ chiếm 0,2% tổng số ngời Đan Lai trên toàn huyện (xemPhụ lục 2) Địa hình ngời Đan Lai sinh sống là vùng đồi núi cao thuộc các xãphía tây của huyện Con Cuông

Một số dân tộc c trú trên địa bàn huyện Con Cuông nhng với số lợngngời rất ít chỉ trên dới 100 ngời nh dân tộc Hoa, Nùng,… vẫn ch Họ sống rãi rác ởcác vùng khác nhau trên địa bàn huyện Con Cuông, trong đó ngời Hoa chuyênlàm nghề buôn bán nên sống chủ yếu ở thị trấn, còn ngời Nùng c trú chủ yếu ởcác xã miền núi phía tây của huyện Con Cuông

1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của tộc ngời Đan Lai ở Con Cuông - Nghệ An.

1.3.1 Khái quát lịch sử hình thành của tộc ngời Đan Lai.

Lịch sử hình thành tộc ngời Đan Lai cho đến nay vẫn còn là một đề tàigây nhiều tranh cãi trong các nhà nghiên cứu Khi tìm hiểu nguồn gốc ra đờicủa tộc ngời Đan Lai, chúng tôi thấy có rất nhiều ý kiến trái ngợc nhau Theonhà nghiên cứu Ninh Viết Giao cho rằng ngời Đan Lai có nguồn gốc từ Thanh

La, Thanh Chơng di c lên vùng thợng của huyện Con Cuông Vì vậy, để giữ lại

Trang 25

gốc tích của mình nên khi đến nơi ở mới, ngời Đan Lai đã lấy họ La làm họchung cho cả cộng đồng tộc ngời ở đây Cũng có một truyền thuyết khác chorằng, gốc Đan Lai ở vùng Cửa Nhai, tức Cửa Hội chạy lên sinh sống ở vùngThanh Chơng Đáng chú ý là hiện nay dọc vùng ven sông Lam thuộc haihuyện Nghi Lộc (Nghệ An) và Nghi Xuân (Hà Tĩnh) nơi tiếp giáp biển vẫncòn tồn tại một số làng bắt đầu bằng chữ “Đan” Theo truyền thuyết này chorằng, vua bắt những ngời Đan Lai làm một cái thuyền có cả chèo gọi là “cáithuyền liền chèo”, làm bằng “trăm cây nứa vàng”, đồng thời bắt nộp ba thúnggạo để làm thóc giống và nộp ba trâu đực biết đẻ con Dân làng họp bànkhông sao tìm đợc những thứ ấy, họ bèn mổ trâu tế thần, rồi sau đó kéo cảlàng chạy theo sông Giăng lên vùng đầu ngọn các khe, lên những miền “xaxôi nhất của đất trời”, lên chốn mà họ gọi là “sơn cùng thuỷ tận” khi khôngcòn có bóng ngời nữa họ mới dừng lại tụ họp nhau lại dựng lều, quần tụ sinhcon đẻ cái, rồi từ đó họ trở thành một tộc ngời mới [13, tr.135] Nơi mà họdừng chân đó là nơi có con sông Giăng chảy qua, thậm chí có một bộ phận đã

di c sang tận Lào, sau đó trở lại nớc ta và sinh sống chủ yếu tại Khe Khặng(xã Môn Sơn), Khe Nóng (xã Châu Khê), Khe Mọi (xã Lục Dạ) và một số rãirác ở các xã khác thuộc huyện miền núi Con Cuông Có thế thấy, địa bàn c trúcủa ngời Đan Lai là vùng rừng núi nơi giáp ranh giữa Việt Nam và Lào, nơi

đây có điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt, dẫn đến những khó khăn chongời Đan Lai trong quá trình sinh sống và sản xuất

Một giả thuyết khác về nguồn gốc của ngời Đan Lai đợc lu truyền trongnhóm Ly Hà, họ cho rằng ngời Đan Lai và Ly Hà là hai nhóm ngời cùngchung sống, song có lịch sử hoàn toàn khác nhau Ngời Đan Lai vốn sống ởvùng rừng núi ven các con khe dọc biên giới Việt - Lào của Nghệ An từ lâu

đời Nhóm Ly Hà thực chất gọi theo tổ tiên trớc vẫn thờng hay gọi là Lý Hà,

do một vị tớng có tên là Lê Hà vốn gốc Thanh Chơng, do có những biến cốtrong đời nên đã dẫn dắt nhau chạy loạn Trong đám ngời chạy loạn này, còn

có một vị tớng khác có tên là Lý Nồ Họ chạy theo dọc con sông Giăng, lêntận đến Khe Khặng (nơi giáp với đất nớc Lào) gặp ngời Đan Lai ở đó cu mang

và cho ở rể Lý Nồ mất sớm do một tai nạn nên không có con nối dõi tông đ ờng, còn Lê Hà thì lấy vợ, sinh con đẻ cái ở đây và hình thành nhóm ngời mớigọi là Ly Hà Ngời Ly Hà là kết quả lấy từ tên của hai vị tớng giỏi nhất của

-đám ngời chạy loạn là Lý Nồ và Lê Hà Ngời Ly Hà sinh sống ở đó và sinh

Trang 26

con đẻ cái, dần dần sống hoà lẫn với ngời Đan Lai Còn những ngời Ly Hàgốc thì mang họ Lê để phân biệt với ngời Đan Lai mang họ La Trong quátrình sinh sống nh vậy, hai tộc ngời Đan Lai và Ly Hà đã hoà nhập và đồnghoá lẫn nhau, trong đó phần lớn ngời Ly Hà bị Đan Lai hoá Đó là lý do giảithích vì sao hiện nay ngời Ly Hà chỉ còn lại vài trăm ngời và sống hoàn toànhoà lẫn trong cộng đồng tộc ngời Đan Lai, họ cũng chấp nhận tên gọi là ngời

Đan Lai hay ngời Đan Lai - Ly Hà, vì một sự thật là hiện nay phần lớn ngời

Ly Hà đã bị Đan Lai hoá [53, tr.5]

Theo nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Trần Vơng cho rằng, ngời ĐanLai gốc ở làng Đan Nhiệm - Nam Đàn Thuở trớc, có một nam thanh niên ởvùng này lên vùng Thanh La, Thanh Chơng lấy vợ và sinh con đẻ cái ở đó Họsống hạnh phúc sinh đợc nhiều con cái, làm ăn rất phát đạt, dần dần con cái

họ trởng thành lập gia đình, xây dựng nhà cửa và lập thành làng khá mạc khátrù phú Dân địa phơng ở đây sinh lòng ghen ghét với những ngời trong làngmới này, nên xúi giục quan trên tìm cách hại họ, bằng cách bắt họ nộp một

“cái thuyền liền chèo” và làm bằng “trăm cây nứa vàng” Để tránh tai hoạ củaquan trên bắt phạt, thì ngời dân địa phơng đã ngợc dòng sông Giăng đi mãi, đimãi cho đến khi trớc mặt toàn là rừng núi âm u, không một bóng ngời họ mớithôi chạy Họ đã cùng lập làng sinh sống ở đó, vùng đất mà ngời Đan Lai sinh

tụ từ đó cho đến nay là vùng thợng nguồn Khe Khặng - thuộc huyện ConCuông ngày nay [40, tr 11]

Do có quá trình chạy loạn nh trên mà ngời Đan Lai đã có bài thơ cúng,mô tả lại quá trình lịch sử của tộc ngời mình nh sau:

Cái thuyền liền chèo,

Trăm cây nứa vàng, Trùm làng bắt nộp, Biết tìm đâu ra.

Đành phải tha hơng, Vào tận rừng sâu, Theo dấu chân nai,

Trang 27

Bâng khuâng lng đèo.

Sống đời nghèo khổ,

Nh dòng suối nhỏ,

Nh gió rừng chiều,

… đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi về t”

Một số ý kiến khác cho rằng, ban đầu ngời Ly Hà chạy lên Khe Khặngrồi lập làng cùng nhau sinh sống ở đó, sau đó ngời Đan Lai mới chạy lên KheChoăng, ngời Đan Lai cũng sinh con đẻ cái đông đúc, lâu dần họ cũng quần tụnhau thành làng bản Lúc đầu sự c trú của hai tộc ngời Đan Lai và Ly Hà làgần nh tách biệt nhau, trong quá trình sinh sống hai tộc ngời này đã gặp nhau.Ngời của tộc ngời này lấy ngời của tộc ngời khác, thế là hai tộc ngời nàychung sống hoà lẫn vào nhau, dần dần họ đều tự nhận là anh em với nhau, từ

đó họ trở thành một tộc ngời, các nhà nghiên cứu thờng gọi chung với một cáitên là Đan Lai - Ly Hà Mặt khác, do nền văn hóa của ngời Đan Lai mạnh hơn

đủ sức đồng hóa ngời Ly Hà và họ cũng đã chấp nhận một cuộc sống hoà lẫnvới nền kinh tế và văn hóa của ngời Đan Lai Do vậy, ngày nay chắc chắn làngời Ly Hà còn lại rất ít và hầu nh ngời ta cũng không gọi là ngời Ly Hà nữa

mà cái tên Đan Lai đã trở thành tên gọi phổ biến cho tộc ngời c trú dọc biêngiới Việt - Lào

Khi chúng tôi tiến hành điền dã để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã

đ-ợc gặp gỡ và tiếp xúc với rất nhiều các già làng, trởng bản, trong quá trình đóchúng tôi cũng đã phỏng vấn họ về nguồn gốc của tộc ngời Đan Lai Họ kểrằng, theo pấu, nhạ, ây, mệ (ông, bà, cha, mẹ) truyền lại, xa lãnh địa của mình

ở dới Trung Châu, là miền Hoa Quân, Thanh La (thuộc huyện Thanh Chơngbây giờ) Hồi đó, đã có một trùm làng gian ác, tham lam chuyên vơ vét của cảicủa dân làng về làm giàu cho mình Một hôm trùm làng giao cho bà con phảivào rừng tìm cho đủ “trăm cây nứa vàng” và “cái thuyền liền chèo” đem vềnộp, nếu không sẽ giết chết cả làng Lo sợ, làng đã cử thanh niên trai tráng lặnlội khắp rừng sâu, núi hiểm tìm mãi vẫn không thể tìm đợc “cái thuyền liềnchèo” và “trăm cây nứa vàng” Sợ bị giết chết, họ rủ nhau bỏ làng chạy trốn.Ngày này sang tháng khác, họ cứ theo dòng sông Giăng đi mãi, đi mãi Lòngtham lam và độc ác của trùm làng đã đẩy tộc ngời Đan Lai phải rời bỏ quê h-

ơng trốn vào nơi sơn cùng thuỷ tận này Họ Lê phải đổi thành họ La… vẫn chthế làcuộc đời nơi núi cao đèo thẳm “theo dấu chân nai đi trồng hạt lúa, theo dấu

Trang 28

chân cọp, đi trỉa hạt ngô” nh tô ca, tô cụn, kha lăng (lợn rừng, vợn), sáng uốngnớc Khe Tàng, tối về ngủ Khe Bê “lang thang đầu suối, đìu hiu lng đèo… vẫn ch”.Mái nhà thờng lợp bằng lá chuối cho đến khi ngả sang màu vàng, nhìn lên nócthấy hết cả trời sao lại dắt díu nhau tìm đến chỗ khác.

Qua ý kiến của các nhà nghiên cứu, cũng nh ý kiến của bản thân nhữngngời gốc Đan Lai cho phép chúng tôi rút ra những quan điểm chung về nguồngốc của tộc ngời Đan Lai đợc nhiều ngời thừa nhận nh sau:

Gốc của tộc ngời Đan Lai không phải ở địa bàn huyện Con Cuông, màtộc ngời này trong quá trình sinh sống của mình đã di c từ vùng ven sông Lamcủa các huyện Thanh Chơng, Nam Đàn, và vùng ven biển thuộc các huyệnNghi Lộc (Nghệ An), Nghi Xuân (Hà Tĩnh) lên sinh sống tại vùng phía tâycủa huyện Con Cuông, nơi biên giới giữa nớc ta với nớc Lào

Trong quá trình chạy loạn từ dới xuôi lên, ngời Đan Lai chọn vùng ợng nguồn Khe Khặng để định c, đây đợc xem là quê hơng thứ hai của ngời

th-Đan Lai, sau khi di c lên Khe Khặng, do đặc trng kiếm sống của mình, ngời

Đan Lai đã di chuyển đến sinh sống ở nhiều nơi khác nhau thuộc huyện ConCuông; theo nhiều nghiên cứu về gốc tích các nhóm Đan Lai sinh sống ở một

số xã khác nhau của huyện Con Cuông đều đa ra kết luận rằng họ đều di c từthợng nguồn Khe Khặng đến ở Khe Khặng, tộc ngời Đan Lai sinh sống vớicác dân tộc khác nhau nh Thái, Kinh, trong đó ngời Đan Lai chiếm hơn 95%dân số ở vùng này

ở nớc ta, ngời Đan Lai chỉ c trú tại một địa bàn duy nhất đó là huyệnCon Cuông, tỉnh Nghệ An Còn khi mở rộng nghiên cứu những tộc ngời kháccủa dân tộc Thổ, chúng tôi đã tìm thấy một số nhóm ngời có những điểmchung với tộc ngời Đan Lai về ngôn ngữ, về văn hóa… vẫn ch có thể kể đến một sốnhóm địa phơng sinh sống ở các huyện khác nhau trên địa bàn tỉnh Nghệ Annh: nhóm tộc ngời Cuối ở huyện Tân Kì, Nghĩa Đàn (về ngôn ngữ nhóm Cuối

và nhóm Đan Lai có khoảng 71% từ chung); nhóm Kẹo ở Nghĩa Đàn (có số ợng từ chung với nhóm Đan Lai khoảng 64%); Nhóm Họ cũng thuộc huyệnTân Kì; nhóm Thổ Nh Xuân (tỉnh Thanh Hóa) cũng có số lợng từ chung vớingời Đan Lai 68%; nhóm Mọn ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp chung từ với ngời ĐanLai 59% Theo một số ý kiến của các nhà nghiên cứu khác nh GS Phạm ĐứcDơng, GS Nguyễn Văn Lợi thì ngời Đan Lai còn c trú ở tỉnh Kăm Kợt và Bô-

l-li Khăm-xay của nớc CHDCND Lào [1, tr.10] Trong quá trình sinh sống của

Trang 29

mình, tộc ngời Đan Lai đã thiên di đến sinh sống tại vùng biên giới của nớcLào, theo những nghiên cứu cho thấy ngời Đan Lai và ngời ở Kăm Kợt, Bô-liKhăm-xay cũng có một số điểm tơng đồng nhau về kinh tế và văn hóa, đặcbiệt là ngôn ngữ có đến hơn 60% vốn từ chung.

Khi xng hô về tên của tộc ngời có khi ngời ta gọi là Đan Lai, cũng cókhi ngời ta gọi là Đan Lai - Ly Hà Hai nhóm ngời Đan Lai và Ly Hà do lịch

sử tác động nên họ đã sống chung địa bàn với nhau, trong đó ngời Đan Lai lànhóm đã có mặt ở địa bàn Khe Khặng trớc, sau đó ngời Ly Hà chạy loạn cũnglên vùng đất này và đợc ngời Đan Lai giúp đỡ cho sinh sống trong các làngbản của họ Trong quá trình sinh sống, ngời Ly Hà đã bị ảnh hởng các phongtục tập quán, lối sống, lối sinh hoạt của tộc ngời Đan Lai, dần dần ngời Ly Hà

đã bị Đan Lai hóa Do vậy, ngời Ly Hà gốc cũng ngày một ít đi, và cũngkhông thể phân biệt đợc ngời Đan Lai và ngời Ly Hà, dần dần ngời Ly Hàcũng đã dễ dàng chấp nhận đợc gọi là ngời Đan Lai hay Đan Lai - Ly Hà Dovậy, trong các văn bản hành chính hay trong cách xng hô hàng ngày chúng ta

có thể dùng tên gọi Đan Lai hay Đan Lai - Ly Hà, tuy nhiên, tên gọi Đan Laivẫn đợc dùng phổ biến hơn

Khi nhà nớc ta căn cứ vào các đặc điểm chung về ngôn ngữ, văn hóacủa các nhóm ngời để xếp họ vào một dân tộc thì nhóm Tày Poọng, Kẹo,Mọn, Cuối, Họ, Thổ Nh Xuân… vẫn ch ợc xếp vào dân tộc Thổ Trong một cuộc đhọp ở Tơng Dơng vào năm 1973, do Tỉnh ủy và ủy ban hành chính (nay làUBND) tỉnh Nghệ An đã triệu tập hai cuộc Hội nghị đại biểu các dân tộc Các

đại biểu dự hội nghị đã thảo luận sôi nổi, nghiêm túc và đi tới thống nhất cácnhóm Tày Poọng, Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai - Ly Hà thành một dân tộc ítngời ở miền tây Nghệ An, với tộc danh là dân tộc Thổ Sau đó, vấn đề này lại

đợc nhất trí xác định lại một lần nữa tại hội nghị xây dựng danh mục các dântộc thiểu số ở miền Bắc, do ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam triệu tập (nay

là Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia Việt Nam), Viện dân tộchọc chủ trì, họp tháng 12 năm 1973 ý thức tự giác dân tộc của ngời Thổ, quahai cuộc hội nghị, đã đợc nhất trí và chấp nhận [13, tr.140]

1.3.2 Quá trình phát triển của tộc ngời Đan Lai.

Có thể nói, thợng nguồn Khe Khặng là vùng đất tổ của ngời Đan Lai,

tr-ớc khi có Đề án tái định c cho tộc ngời Đan Lai, thì dân số của họ tại thợngnguồn Khe Khặng chiếm số lợng lớn nhất Do cuộc sống kinh tế phụ thuộc rất

Trang 30

lớn vào tự nhiên, phụ thuộc vào nguồn thức ăn trong rừng, nên họ phải sốngtheo kiểu du canh, du c, nay đây mai đó; khi nguồn thức ăn nơi họ định c đãcạn kiệt, thì ngời Đan Lai lập tức rời nhà đến một nơi ở mới để kiếm thức ăn.Lịch sử với quá trình di chuyển nhiều nh vậy, đã làm cho ngời Đan Lai có rấtnhiều biến động về địa bàn sinh sống và về dân số của tộc ngời.

Quá trình di c của ngời Đan Lai gắn với những con suối, con khe lớn

nh Khe Khặng, Khe Choăng, Khe Mọi, Khe Thơi, trong đó Khe Khặng đợccoi là nơi “chôn rau cắt rốn” với nhiều truyền thuyết kể về cuộc đời và nhữngcuộc chiến đấu chống lại sự khắc nghiệt của thời tiết, của thiên tai, địch họa

để duy trì sự sống của tộc ngời nơi rừng thiêng nớc độc

Trong quá trình tìm đất để sinh sống, ngời Đan Lai di chuyển sang Làorất nhiều lần Những ngời già còn nhớ những đợt di c sang Lào trong nhữngnăm 1930 - 1935, nhiều ngời cho rằng ngời Đan Lai có mặt ở Lào không dới

100 năm về trớc Cuộc sống du canh, du c không có đờng biên giới đã theocộng đồng ngời Đan Lai qua nhiều thế hệ, họ đến, đi, rồi trở lại cũng với bao

địa danh mà tên của nó đều gắn liền với những con suối, con khe

Vào những năm 50 của thế kỷ trớc, ngời Đan Lai ở thợng nguồn KheKhặng có mặt ở 12 ngọn suối, mỗi nơi c trú từ 4 - 10 hộ Khoảng năm 1958,theo sự vận động của nhà nớc họ tụ về 3 bản là Vàng Hù, Cò Phạt (Cây Lội)

và Cò Nghịu (Cây Gạo) và sau đó thành lập 2 hợp tác xã là Cò Phạt và CòNghịu (cũng có nghĩa là hai bản) Cũng trong giai đoạn này, ngời Đan Lai ở

Cò Phạt bắt đầu cùng nhau đắp đập, khơi mơng, san lấp đất và làm quen vớiruộng nớc Bản Cò Nghịu ngời dân bắt đầu biết học ngời Thái làm guồng đanớc về để làm ruộng nớc Cây sắn cũng đợc đa vào sản xuất trong những nămnày, giúp ngời Đan Lai có thêm một sự lựa chọn cho nguồn lơng thực, gópphần cứu nhiều ngời dân vợt qua các nạn đói hàng năm

Đến những năm 70 của thế kỷ XX, ngời Đan Lai đã biết khoanh rừng

để khai thác gỗ và chăn nuôi trâu bò Cũng trong những năm này gỗ bắt đầu

có giá, lâm trờng Con Cuông trở thành một điển hình về khai thác lâm sản, ởmỗi bản Đan Lai lao động chính đợc biên chế vào mỗi đội khai thác, cùng với

sự trợ giúp của lao động phụ trong gia đình, đã giúp cho họ từng bớc có cuộcsống khấm khá hơn Thực sự, giai đoạn này ngời dân mới đợc làm quen vớinhiều loại hàng hóa nh đờng, mỳ chính, vải dệt may… vẫn ch ợc mang lại từ thu đnhập của nguồn khai thác gỗ

Trang 31

Năm 1978, trận lũ lịch sử đã gây nên một thảm cảnh đối với bản CòNghịu, nhà cửa, trâu bò và mọi thứ của cải khác đều bị cuốn trôi theo dòng n-

ớc lũ, ngời dân thực sự trải qua một thời kỳ vô cùng khó khăn Để tồn tại, ngời

Đan Lai đã phải tách ra làm hai nhóm, một nhóm về Khe Cồn, nhóm còn lạivợt sang Khe Búng Đến năm 1986, đợc phép của chính quyền địa phơng, ngời

Đan Lai đợc lập thành hai bản là bản Khe Cồn và bản Búng, hai bản này tồntại cho đến ngày nay Cũng từ đó, vùng thợng nguồn Khe Khặng tồn tại 3 bảncủa ngời Đan Lai bao gồm bản Cò Phạt, bản Khe Cồn và Bản Búng

Khoảng năm 1987 - 1989, cùng với quá trình đổi mới quản lý trongnông nghiệp, hợp tác xã về cơ bản mất vai trò lãnh đạo tập trung về kinh tế,các hộ đợc trao quyền tự chủ, tự quyết định về việc phát triển vai trò kinh tế

hộ gia đình Một hai năm đầu do đợc tự do khai phá nơng rẫy, đời sống củangời dân có khá lên, song về sau, nguồn tài nguyên gỗ cạn dần nên đời sống

đã trở nên khó khăn hơn Dân số tăng nhanh từ 67 hộ năm 1960 lên 86 hộ năm

1987 và 153 hộ năm 1997, quy mô mỗi hộ vẫn giữ mức trung bình 5,4 ời/hộ Diện tích đất trồng lúa nớc không mở rộng thêm đợc, các công trìnhthủy lợi xuống cấp và h hỏng nhiều, đập Cò Phạt mùa khô cạn nớc, guồng nớc

ng-ở bản Búng h hỏng không còn tác dụng… vẫn ch tình trạng đó khiến cho diện tích n

-ơng rẫy quanh bản bắt đầu khó khăn, một số hộ ở Cò Phạt đã phải vào các chỉ

lu của Khe Khặng để làm rẫy

Từ năm 1996 - 1997, khu bảo tồn thiên nhiên Quốc gia Pù Mát đợcthành lập Chế độ quản lý và bảo vệ lâm sản trở nên nghiêm ngặt, các đội khaithác trớc đây bị giải tán, việc khai thác gỗ tự do hầu nh bị cấm hoàn toàn, diệntích nơng rẫy bị giới hạn và hầu nh không đợc lựa chọn, cuộc sống của ngờidân đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Phổ biến trong cộng đồng là tìnhtrạng thiếu đói triền miên Đặc biệt, trong các năm từ 1996 đến năm 1999 lànhững năm hạn hán nặng nề, mùa màng thất bát Việc nghiêm cấm săn bắnlàm cho các loại thú rừng nh lợn rừng, nhím, có điều kiện về gần bản hơn, dovậy, các loại cây trồng trên rẫy nh sắn, ngô, lúa bị chúng phá hoại ngày càngnhiều, khiến cho nguồn tự chủ lơng thực của ngời Đan Lai càng xuống thấp.Nhiều hộ dân ở thợng nguồn Khe Khặng đã tự ý rời các bản để đi kiếm sống ởnơi khác, cụ thể nh trong các năm 1996 - 1999 ở bản Cò Phạt có 6 hộ rời bảnvào khe Lẻ để tìm đất canh tác; 13 hộ ở bản Búng di chuyển vào Khe Bông,Khe Vang để làm rẫy và có ý định c lâu dài ở đó

Trang 32

Cho đến cuối năm 1999, vùng Khe Khặng hiện có 163 hộ, 883 nhânkhẩu sinh sống tại 3 bản là Cò Phạt với 4 cụm dân c, bản khe Cồn, bản kheBúng với 3 cụm dân c Cho đến trớc khi có đề án tái định c cho tộc ngời ĐanLai đến nơi ở mới, thì đời sống sống của họ gặp rất nhiều khó khăn Đó là khókhăn về đời sống kinh tế, khó khăn về việc duy trì giống nòi với tập quán hônnhân cận huyết thống, và sự tồn tại của bộ phận c dân Đan Lai trong vùng lõicủa Vờn Quốc gia Pù Mát đang đe dọa nghiêm trọng sự da dạng sinh thái củakhu bảo tồn thiên nhiên này Do vậy, năm 2000, một đề án di dời ngời ĐanLai ra khỏi vùng lõi của Vờn Quốc gia Pù Mát đã đợc chính phủ phê duyệt, đề

án còn tạo điều kiện cho ngời Đan Lai có điều kiện hòa nhập với cộng đồng vàhởng thụ những thành quả của sự phát triển kinh tế đất nớc ta mang lại [53,tr.6-8]

Dự án tái định c cho tộc ngời Đan Lai cho đến nay đã thực hiện đợc 2/3khối lợng công việc, cụ thể năm 2002 dự án đã tiến hành di chuyển đợt 1 cho

36 hộ từ Khe Khặng đến tái định c tại 2 bản Tân Sơn và Cựa Rào (xã MônSơn), Đợt 2 tiến hành năm 2007 đã di chuyển 42 hộ từ thợng nguồn KheKhặng đến tái định c tại bản Thạch Sơn (xã Thạch Ngàn), ngoài ra còn có một

số đợt di chuyển nhỏ lẻ khác của một số hộ Đan Lai đến tái định c xen ghépvới các hộ ngời Kinh, ngời Thái tại các bản ở các xã Châu Khê, Môn Sơn,Thạch Ngàn, Chi Khê, Lạng Khê… vẫn ch Dự án tái định c cho ngời Đan Lai vẫn

đang trong quá trình thực hiện, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành việc didời 166 hộ Đan Lai từ thợng nguồn Khe Khặng đến sinh sống tại những điểmtái định c với điều kiện sinh sống từ nhà cửa cho đến hạ tầng cơ sở, đất đai sảnxuất… vẫn ch đều tốt hơn nhiều nơi ở cũ, giúp cho ngời Đan Lai có điều kiện để pháttriển về mọi mặt

Trang 33

Chơng 2 Những chuyển biến về kinh tế của tộc ngời

Đan Lai ở huyện Con Cuông - Nghệ An

(từ năm 1973 đến năm 2007) 2.1 Kinh tế của ngời Đan Lai.

2.1.1 Trồng trọt.

Trồng trọt là loại hình kinh tế quan trọng nhất của ngời Đan Lai, theo

số liệu điều tra năm 1999, thu nhập từ trồng trọt chiếm gần 40% trong tổngthu nhập của các hộ gia đình Đan Lai Một thực trạng hiện nay là đất để trồngtrọt thiếu thốn, phân bố không đồng đều, diện tích đất để trồng cây lúa nớcchiếm tỉ lệ nhỏ trong khi đó đất rẫy - loại đất khô cằn và kém màu mỡ nhất -lại chiếm một diện tích lớn nhất Tại thợng nguồn Khe Khặng, có 3 bản củangời Đan Lai sinh sống có tổng số 161,7 ha đất nông nghiệp, trong đó chiếmphần lớn là diện tích đất rẫy với 130ha (chiếm 80,4%), đất màu có 23,2ha(chiếm 14,3%), số còn lại chiếm một diện tích nhỏ là đất trồng lúa nớc với8,5ha (chiếm 5,3%)

2.1.1.1 Kinh tế nơng rẫy

Kinh tế nơng rẫy là một nghề truyền thống của ngời Đan Lai, từ xa xangời Đan Lai đã biết đến các hình thức canh tác rẫy với nhiều loại cây trồng

Trang 34

khác nhau, trong đó cây lúa, cây ngô vẫn là cây trồng chủ đạo Mặc dù đã biếtcanh tác từ lâu, nhng tình trạng nghèo đói vẫn bám lấy ngời dân Đan Lai, bởivì phơng thức canh tác chậm đợc đổi mới, công cụ canh tác rất thô sơ Trongnhững năm gần đây, cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh tế, sự thay đổinhận thức của ngời dân, cộng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc và các cấpchính quyền dành cho tộc ngời thiểu số Đan Lai thì đời sống của họ cũng từngbớc thay đổi theo hớng tích cực Từ chỗ kiếm ăn trong rừng, nay đây mai đó,giờ đây nhiều hộ gia đình cũng đã học đợc cách làm kinh tế để thay đổi cuộcsống của mình, nhiều hộ gia đình Đan Lai đã biết cách trồng lúa nớc hay canhtác lúa rẫy theo kỹ thuật mới làm cho năng suất cũng tăng lên đáng kể, bộ mặtkinh tế của ngời Đan Lai nhờ đó cũng từng bớc thay đổi so với trớc Để tiếnhành làm rẫy thờng phải trải qua nhiều bớc, sau đây chúng tôi xin giới thiệucác bớc làm rẫy của ngời Đan Lai.

- Các bớc tiến hành làm rẫy:

Bớc đầu tiên là chọn đất Ngời Đan Lai coi việc tìm cho mình mộtmảnh đất tốt để trồng trọt là rất quan trọng, nó chẳng những mang đến thuậnlợi cho họ trong quá trình khai hoang mà còn quyết định tới năng suất của cả

vụ mùa và thậm là nhiều vụ mùa sau đó Chọn đất có thể kết hợp trong quátrình vào rừng tìm thức ăn, đi lấy củi hay đi sắn bắn, trên hành trình đó họ vôtình bắt gặp một mảnh đất tốt thì họ nhanh chóng đánh dấu vào vùng đất đãchọn và sẽ tiến hành khai hoang để trồng trọt trên mảnh đất đó vào một thờigian thích hợp Một mảnh đất đợc cho là tốt theo kinh nghiệm của c dân ĐanLai phải là vùng đất tơng đối rộng, bằng phẳng, độ dốc thấp, đất mềm và tơixốp… vẫn ch những dấu hiệu cho thấy mảnh đất đó rất màu mỡ và có thể tiến hànhtrồng trọt đợc nhiều loại cây trồng cho năng suất cao Khi tìm cho gia đìnhmình một mảnh đất thích hợp, ngời Đan Lai có cách đánh dấu riêng để thôngbáo với những hộ gia đình khác đây là vùng đất đã có chủ Đánh đấu mảnh đất

có nhiều cách, nhng cách phổ biến nhất đó là phát quang một vùng nhỏ trênmảnh đất đã chọn, chặt một cây nứa, chẻ ra lấy các thanh nứa nhỏ xếp thànhhình ngôi sao, sau đó cắm vào mảnh đất đã đợc phát quang hay cắm vào thâncây to gần đó Dấu hiệu này nh là để xác định quyền sở hữu của chủ nhân đốivới vùng đất đó, cũng nhờ dấu hiệu nhận biết này, mà những ngời Đan Laikhác không bao giờ xâm lấn vào những vùng đất đã đợc “xác lập” chủ quyênriêng

Trang 35

Giống nh nhiều dân tộc khác, việc phát canh làm rẫy đợc tiến hành mộtcách tự phát không theo một khuôn phép hay trật tự nào cả, mạnh ai nấy làm.Việc làm rẫy là của tất cả các thành viên trong gia đình khi đã đủ sức lao

động, vì thế ngời Đan Lai quan niệm bất kể là nam hay nữ, những ai khoẻmạnh thì phải lên làm rẫy Đi làm rẫy giống nh một sự kiện quan trọng và phảichuẩn bị nhiều thứ từ thức ăn, nớc uống, cho đến các vật dụng làm rẫy… vẫn ch Rẫycủa ngời Đan Lai thờng ở xa nhà, họ phải đi bộ leo rừng, lội suối hàng chụccây số, đi từ nhà đến rẫy cũng mất khoảng nửa ngày, thậm chí có rẫy xa thìhết cả một ngày trời Cũng có một số ít các hộ gia đình có đợc những đám rẫygần với nơi ở của gia đình, rất thuận lợi trong việc làm rẫy cũng nh khâu thuhoạch sau này Việc đầu tiên khi tới nơi làm rẫy, đó là mọi ngời cùng nhautìm vật liệu để làm một túp lều tạm cho các thành viên trong gia đình trú ngụqua đêm trong những ngày trên rẫy Túp lều thờng chỉ đợc làm bằng tre, nứa,lá cọ hay lá chuối rừng, khi lá chuối rừng trên túp lều đã khô không còn chenắng, che ma đợc nữa thì cũng là lúc công việc làm rẫy đã xong, thế là ngời

Đan Lai lại thu xếp về nơi ở của mình chờ ngày thu hoạch

Bớc tiếp theo là phát quang rẫy Rẫy trớc khi cha khai thác rẫy là mộtvùng đất âm u, với nhiều loại cây cối mọc chen chúc nhau Do vậy, để tiếnhành phát quang rẫy thì cần những dụng cụ chuyên dụng nh rìu, dao, rựa,cuốc,… vẫn ch Sau khi đã phát quang rẫy, họ đốt tất cả cây cối hiện có trên rẫy Bớctiếp theo là làm đất để trồng trọt, cuốc vẫn là công cụ chủ yếu để đào đất vàlàm cho đất tơi xốp Công đoạn làm đất ngời Đan Lai vẫn làm bằng tay nhtruyền thống Nếu nh trong những năm 1975 - 1985, c dân Đan Lai gần nh100% sử dụng cuốc để làm rẫy, thì đến những năm đầu của thế kỷ XX tìnhtrạng này đã có những thay đổi Tỉ lệ các hộ gia đình dùng cày bừa có trâu bòkéo để làm đất rẫy đã tăng lên Tại bản Khe Bu có 38%, còn tại bản Khe Mọi

là gần 44% hộ dân dùng cày bừa có trâu bò kéo để làm rẫy, đây là những hộ

có đất rẫy gần nhà và địa hình thấp dễ dàng mang đợc cày tới rẫy, còn nhữngrẫy xa và cao thì dùng công cụ truyền thống là cuốc vẫn là lựa chọn duy nhất

Đối với ruộng nớc thì tình hình trên khả quan hơn rất nhiều, nếu nh vào đầunhững năm 90 của thế kỷ trớc tỉ lệ các hộ Đan Lai dùng trâu bò kéo cày đểlàm đất ruộng nớc ớc tính có đến hơn 60%, thì đến đầu năm 2008 tỉ lệ này tạibản Khe Mọi là 93,7% và tại bản Khe Bu là 85,3% Nh vậy là nhờ đàn vật

Trang 36

nuôi tăng lên, nhất là trâu bò mà ngời Đan Lai đã hởng lợi từ việc dùng sứckéo trâu bò trong nông nghiệp thay vì dùng sức ngời nh truyền thống.

Sau khi đã làm đất xong, họ tiến hành chia rẫy thành nhiều khoảnh đấtkhác nhau, những khoảnh đất này sẽ phù hợp với từng loại cây trồng khácnhau Đám đất tốt nhất đợc u tiên trồng lúa rẫy, những mảnh đất kém hơn thì

đợc sử dụng để trồng những loại cây khác nh ngô, sắn… vẫn ch

Công dụng: Dùng để đào lỗ trỉa ngô, lúa trên rẫy Ngoài ra còn dùngvào những công việc khác nh bới sắn, bới khoai trên nơng rẫy

+ Cái hép: Đợc cấu tạo bao gồm phần cán cầm và phần lỡi, phần cáncầm là một thanh gổ dẹt đợc làm khá công phu, bên trên cán có một ống trenhỏ đính ngang cán hép nhằm cố định cán hép với tay ngời cầm Lỡi hép chỉ

là một thanh sắt mỏng và sắc, đợc đính vào bên dới cán (xem ảnh Phụ lục 3)

Công dụng: Đây là công cụ dùng để gắt lúa về nhà khi đến mùa thuhoạch Nếu nh liềm của ngời Kinh có thể cắt một lúc nhiều bông lúa thì hépchỉ có thể cắt từng bông lúa một

+ Cái lọc ló: Đợc làm hoàn toàn bằng tre hoặc nứa Đan với nhau bằngnhững thanh nứa nhỏ, các thanh nứa đợc đan sát nhau sao cho nó có thể dùng

để đựng thóc Hình dạng của lọc ló giống nh cái bể, chỉ khác kích thớc củaLọc ló nhỏ hơn nhiều (xem ảnh Phụ lục 3)

Công dụng: Vào mùa gieo hạt ngời Đan Lai thờng dùng dụng cụ này để

đựng các loại hạt giống mang lên rẫy Thờng đợc đeo một bên hông, để tiệndùng tay lấy các hạt lúa, hạt ngô ở trong đó tra xuống lỗ

- Sau khi phát rẫy, làm đất thì họ đã có đợc một đám rẫy tốt có khảnăng gieo trồng nhiều loại cây ở trên mảnh đất đó Diện tích của rẫy rộng hẹptuỳ theo từng gia đình có nhân lực lao động nhiều hay ít và tùy theo nhu cầucanh tác của từng hộ gia đình Thông thờng một khoảnh rẫy hẹp nhất cũngchừng khoảng 300 - 400m2, có những rẫy rất rộng lên tới cả ngàn mét vuông.Giữa những năm 70 của thế kỷ XX, hầu hết các hộ dân ngời Đan Lai vẫn chủ

Trang 37

yếu canh tác các loại cây trồng trên đất rẫy, tình trạng khai thác đất trồng vẫndiễn ra một cách tự phát Tại thời điểm này, ớc tính tổng số đất trồng trọt củangời Đan Lai tại thợng nguồn Khe Khặng chỉ có cha đến 43ha Đến cuốinhững năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, ngời Đan Lai mới bắt đầubiết khai thác và trồng lúa nhiều hơn trên các cánh đồng lúa nớc Tình trạngkhai thác nơng rẫy một cách tự phát đã giảm hẳn, các hộ Đan Lai đã bắt đầu

đi vào sản xuất có kế hoạch, tính mùa vụ cũng đợc rõ ràng hơn Tuy rằng, cho

đến thời điểm này ngời Đan Lai cũng mới chỉ làm một vụ trên các thửa ruộng.Cho đến cuối những năm 90 của thế kỷ trớc, diện tích rẫy và diện tích đất lúanớc đã tăng lên đáng kể so với 10 năm trớc, nếu nh đầu những năm 80 tại th-ợng nguồn Khe Khặng có tổng số 54,6 ha đất rẫy và đất trồng lúa nớc, thì đếnnăm 2005 diện tích đất nông nghiệp tại đây đã tăng lên hơn 138ha Trong đódiện tích để trồng lúa nớc đã tăng hơn 150% lên 8,5ha, bình quân 100m2/ngời;còn phần lớn diện tích đất còn lại là hơn 130ha đất rẫy Tuy diện tích đất trồngtrọt của ngời Đan Lai có tăng lên hàng năm, nhng theo tính toán của chúng tôi

nh trên thì tình trạng thiếu đất sản xuất cho ngời Đan Lai vẫn còn rất trầmtrọng

Đất rẫy có thể trồng nhiều loại cây khác nhau, trong đó có cả cây lơngthực và cây công nghiệp Trong cây lơng thực, thì lúa rẫy đợc trồng trên mộtdiện tích tơng đối lớn là hơn 70ha chiếm gần 54% trong tổng số diện tích đấtrẫy của ngời Đan Lai Trớc đây, ngời Đan Lai có thói quen mỗi rẫy chỉ canhtác một vụ, vụ mùa của năm sau họ lại đi khai khẩn rẫy mới, phần lớn ngời

Đan Lai cho rằng chỉ cần trồng cây một lần trên đám rẫy là đất đã hết màu mỡ

và muốn canh tác để cho năng suất cao hơn thì phải tìm đến một đám rẫy mới[58, tr.12] Rất ít gia đình làm hai, ba vụ trên một mảnh đất của mình Ngàynay, tình trạng đó đã không còn nữa, họ đã nhận thức đợc tầm quan trọng củacông tác định canh, định c, không chỉ đỡ mất công trong khâu chọn và khaihoang làm rẫy, mà còn có điều kiện để cải tạo đất rẫy của mình đợc tốt hơn

Có đợc sự thay đổi đó, ngoài sự tuyên truyền phổ biến của phòng khuyến nônghuyện, thì họ còn đợc sự giúp đỡ về kinh nghiệm, về kỹ thuật nông nghiệp củangời Kinh, ngời Thái, nên họ cũng đã biết đến cách cải tạo đất canh tác trêncác nơng rẫy Ngày nay, có nhiều gia đình ngời Đan Lai biết đến các kỹ thuậtchăm bón cây trồng nh ngời Kinh từ cách chọn giống, bảo quản giống, đếncách làm đất hay chăm sóc cây trồng nh bón phân, làm cỏ, vun vén, chăm sóc

Trang 38

cây trồng để cho thu hoạch cao hơn, nhờ đó thu hoạch của ngời Đan Lai cũngngày một tăng hơn so với trớc

- Các loại cây trồng trên nơng rẫy:

Các loại cây lơng thực mà ngời Đan Lai thờng xuyên trồng trên các rẫybao gồm lúa, sắn, ngô… vẫn ch

Lúa là loại cây trồng truyền thống của c dân nông nghiệp Việt Nam nóichung và ngời Đan Lai cũng vậy, họ đã biết trồng lúa từ xa xa Phần lớn diệntích đất của ngời Đan Lai là đất rẫy, nên họ cũng thông thạo cách trồng lúarẫy hơn là lúa nớc Đến đầu những năm 90 của thế kỷ trớc, khi ngời Đan Lai

đợc sống xen c với ngời Kinh, ngời Thái thì họ mới biết đợc cách trồng câylúa nớc giống nh ngày hôm nay Trên các nơng rẫy của ngời Đan Lai luôn bạtngàn một màu xanh cây lúa, đó cũng là điều dễ hiểu, bởi chính cây trồng này

đã đáp ứng gần 65% nhu cầu lơng thực hàng ngày của ngời Đan Lai Trongcác loại cây trồng, thì cây lúa luôn là loại cây trồng đợc chú trọng nhất kể từkhâu làm đất, chăm bón cho đến khâu thu hoạch

Lúa rẫy thờng đợc trồng vào tháng 4 và 5, thu hoạch vào tháng 10,tháng 11 Mỗi năm, ngời Đan Lai chỉ làm một vụ lúa trên rẫy, những thángcòn lại họ trồng các loại cây trồng khác nh ngô, khoai, sắn… vẫn ch Khi gieo trồngngời Đan Lai cũng rất quan tâm đến thời tiết, họ là c dân chủ yếu làm kinh tếnông nghiệp nên biết thời tiết ảnh hởng tới đời sống kinh tế của mình nh thếnào

Sống nơi rừng sâu, cách dự báo thời tiết trớc đây của ngời Đan Lai ờng chỉ biết dựa vào thiên nhiên và kinh nghiệm cổ truyền Ngời Đan Lai dựavào thời tiết của 12 ngày đầu tiên trong tháng 1 để làm căn cứ dự báo thời tiếtcủa 12 tháng trong năm, thời tiết của ngày mồng 1 tháng 1 ứng với thời tiếtcủa cả tháng 1, và cứ nh thế thời tiết tháng 2 thì ứng với ngày mồng hai củatháng 1 Nếu thời tiết từ sáng đến chiều ngày mồng 1 tháng 1 âm u, thì có thểthời tiết của cả tháng 1 năm đó thời tiết sẽ âm u, ma phùn nhiều Căn cứ nhvậy, ngời Đan Lai có một kinh nghiệm dự báo thời tiết nh sau:

th-Sáng âm u, chiều nắng: đầu tháng ma, cuối tháng nắng

Sáng nắng, chiều âm u: đầu tháng nắng, cuối tháng ma

Sáng nắng, chiều nắng: cả tháng nắng, có thể ma phùn

Sáng ma, chiều ma: cả tháng ma nhiều, nắng ít [1, tr.64]

Trang 39

Nhờ kinh nghiệm đó của cha ông truyền lại mà ngời Đan Lai mới dự

đoán đợc thời tiết cho các vụ mùa hàng năm và có sự chủ động nhất địnhtrong các khâu gieo trồng, chăm bón và khâu thu hoạch Cho đến ngày nay,những kinh nghiệm nh vậy vẫn là vốn quý, là căn cứ quan trọng để c dân nôngnghiệp Đan Lai theo dõi và dự báo các biến động của thời tiết, từ đó có kếhoạch cho cuộc sống và sản xuất của mình

Trồng lúa rẫy là một việc mà hầu nh các dân tộc đều làm theo cách nhnhau Cách trồng lúa rẫy của ngời Đan Lai thờng giống với ngời Thái Đất saukhi đã đợc làm cho tơi xốp, họ tiến hành dùng một chiếc gậy, một đầu vótnhọn, một ngời cầm gậy đâm vào mặt đất một lỗ, t thế đâm là gậy vuông gócvới mặt đất một góc nhỏ hơn 900 Ngời còn lại mang thóc bỏ vào từng lỗ đó vàlấy đất lấp nhẹ vào lỗ đã tra những hạt lúa giống vào Khoảng cách giữa các lỗvới nhau là từ 10 đến 15cm Mỗi lỗ đợc ngời ta gieo xuống từ 8 - 10 hạt thóc.Khác với cách trồng lúa rẫy, lúa nớc đợc ngời Đan Lai cấy giống nh cách cấylúa của ngời Kinh Trớc hết, ngời ta tiến hành ủ lúa giống cho lên mầm, sau

đó mang đi gieo trên những mảnh ruộng đặc biệt chỉ dành cho gieo mạ, khicây mạ lớn đủ ngày ngời ta nhổ lên và mang đến cấy trên các thửa ruộng

Thu hoạch lúa là thời gian bận rộn nhất của ngời Đan Lai trong mộtnăm, khi đến mùa thu hoạch thì mọi ngời không kể già trẻ, trai gái nô nứccùng nhau lên rẫy để mang lúa về nhà Hép là dụng cụ mà ngời Đan Lai dùng

để cắt từng bông lúa trên các nơng rẫy (xem ảnh ở Phụ lục 3), khác với liềmcủa ngời Kinh có thể cắt một lúc nhiều bông, hép chỉ cắt đợc mỗi lần mộtbông lúa Lúa nơng hay lúa rẫy đều đợc ngời Đan Lai cắt với độ dài từ 40 -50cm Trong những năm gần đây tỉ lệ các hộ sử dụng liềm thay cho hép để cắtlúa ngày một tăng, theo thống kê vào giữa năm 2008 đối với một số hộ dân tạihai bản Khe Mọi và bản Khe Bu cho một kết quả lần lợt là 45% và 38% các

hộ đã dùng liềm trong gắt lúa giống nh ngời Kinh Có nhiều cách và nhiều

ph-ơng tiện khác nhau để mang lúa từ nph-ơng rẫy về nhà, ngời ta có thể vận chuyểnbằng bè nứa hoặc gùi sau lng bằng một vật dụng có tên là bể Khi lúa đợcmang về nhà ngời Đan Lai thờng để chúng nguyên cả bông và mang lên giànbếp để sấy khô Để tách hạt lúa ra khỏi bông, thì ngời Đan Lai thờng dùng haicách là đạp lúa và đập lúa; đạp lúa là cách mà ngời Đan Lai dùng chân đạpmạnh vào các bó lúa đã đợc sấy khô để tách các hạt lúa ra khỏi bông, sau đódùng sàng để làm sạch chúng; đập lúa thì ngời ta nắm từng bó lúa đập mạnh

Trang 40

vào các thanh gỗ để tách hạt lúa ra khỏi bông Cách bảo quản lúa của ngời

Đan Lai cũng khác biệt so với nhiều dân tộc khác, đối với những phần lúa chadùng thì họ bảo quản bằng cách để nguyên cả bông lúa còn có hạt cất lên trạn,chỉ khi nào dùng đến thì ngời Đan Lai mới mang chúng xuống để tách lấy hạt

Sau khi thu hoạch lúa mang về nhà, đồng bào còn tiến hành lựa chọnnhững bông lúa tốt nhất để bảo quản riêng làm giống cho những vụ mùa sau.Cách bảo quản lúa giống cũng tơng đối đơn giản, trớc hết họ mang nhữngbông lúa đã chọn sấy khô trên giàn bếp hoặc làm khô bằng cách treo chúng ởcác vách nhà, sau đó họ tách hạt và bỏ chúng vào ống nứa, treo ở những nơikhô ráo, thoáng mát, tránh những nơi ẩm thấp để hạt giống không bị nảymầm

Tuy lúa là cây trồng chính của đại đa số ngời dân Đan Lai, nhng năngsuất của lúa rẫy mang lại cho ngời Đan Lai lại cha thật tơng xứng, năng suấtlúa của ngời Đan Lai rất thấp so với trung bình năng suất chung của huyện.Năm 1990, năng suất lúa rẫy của ngời Đan Lai trung bình chỉ từ 0,5 - 0,8tấn/ha/vụ Cho đến hơn 10 năm sau tình trạng năng suất lúa có đợc cải thiệntheo hớng tăng hơn trớc nhng theo một tốc độ rất chậm, với từ 0,8 - 1tấn/ha/vụ (tăng hơn 22% so với năm 1990), năng suất lúa nớc thì có cao hơnvới hơn 1,2 tấn/ha/vụ Tính đến năm 2006, bình quân một ha lúa rẫy cho năngsuất khoảng từ 0,8 - 1,2 tấn/ha/vụ Thu hoạch lúa nơng và lúa rẫy cùng lắmcũng chỉ đáp ứng lơng thực của họ trong khoảng từ 5 - 7 tháng, số thời giancòn lại trong năm họ phải sống qua ngày bằng sắn, ngô, khủa hoặc trợ cấp(gạo, tiền mua gạo) của nhà nớc Ngoài lúa rẫy, một số bản có điều kiện đất

đai tốt, có nớc tới cho các nơng thì họ trồng lúa nớc Lúa nớc là loại cây trồngcho năng suất cao hơn hẳn so với lúa rẫy Nhờ sự học hỏi những tiến bộ trongcông tác khuyến nông nên một số hộ dân thuộc bản Búng, bản Cò Phạt, bảnKhe Mọi (thuộc thợng nguồn Khe Khặng) đã có những ruộng lúa nớc chonăng suất cao tơng đơng với sản lợng của ngời Kinh, ngời Thái, với mức sản l-ợng trung bình từ 2,5 - 3 tấn/ha/vụ Kể từ năm 1995 trở về sau đã có nhiều hộ

Đan Lai thâm canh 2 vụ lúa một năm, đến cuối năm 2007 theo khảo sát củachúng tôi tại bản Khe Mọi và bản Khe Bu cho thấy 100% gia đình ngời ĐanLai có ruộng nớc đều thâm canh hai vụ lúa/năm Đợc sự hớng dẫn của chínhquyền địa phơng nhiều giống lúa mới đã đợc đồng bào ứng dụng vào sản xuất

Ngày đăng: 18/12/2013, 12:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Túc ánh: Một số đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá ngời Đan Lai ở Nghệ An, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học ngữ văn, Đại học Vinh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá ngời Đan Lai ở Nghệ An
2. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên): Bản sắc văn hoá ngời Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá ngời Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ An
3. Nguyễn Đổng Chi: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ An
4. Nguyễn Hữu Chúc, Ninh Viết Giao, Trần Hoàng: Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung, NXB Thuận Hoá - Nghệ An - Thanh Hoá, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung
Nhà XB: NXB Thuận Hoá - Nghệ An - Thanh Hoá
5. Phan Hữu Dật: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam , NXB §HQGHN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: NXB §HQGHN
6. Khổng Diễn: Dân số và dân tộc ít ngời ở Việt Nam, NXB KHXH, Hà Néi, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân tộc ít ngời ở Việt Nam
Nhà XB: NXB KHXH
7. Trần Trí Dõi: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam , NXB §HQGHN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: NXB §HQGHN
8. Bùi Minh Đạo: Một số vấn để xoá đói giảm nghèo ở dân tộc thiểu số Việt Nam: tài liệu giảng dạy đại học, NXB KHXH, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn để xoá đói giảm nghèo ở dân tộc thiểu số Việt Nam: tài liệu giảng dạy đại học
Nhà XB: NXB KHXH
9. Bùi Minh Đạo: Một số phong tục tập quán của ngời Đan Lai trớc năm 1945, luận văn tốt nghiệp Đại học KHXH&NV Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phong tục tập quán của ngời Đan Lai trớc năm 1945
10. Mạc Đờng: Các dân tộc miền núi Bắc Trung bộ, NXB Giáo dục, Hà Néi, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc miền núi Bắc Trung bộ
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Mạc Đờng: Dân tộc học và vấn đề xác định thành phần dân tộc, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học và vấn đề xác định thành phần dân tộc
Nhà XB: NXB Giáo dục
12. Ninh Viết Giao: Về văn hoá xứ nghệ, NXB Nghệ An, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hoá xứ nghệ
Nhà XB: NXB Nghệ An
13. Ninh Viết Giao: Địa chí huyện Quỳ Hợp, NXB Nghệ An, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí huyện Quỳ Hợp
Nhà XB: NXB Nghệ An
14. Ninh Viết Giao: Tân Kỳ truyền thống và làng xã, NXB KHXH, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân Kỳ truyền thống và làng xã
Nhà XB: NXB KHXH
15. Ninh Viết Giao: Địa chí huyện Tơng Dơng, NXB Nghệ An, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí huyện Tơng Dơng
Nhà XB: NXB Nghệ An
16. Ninh Viết Giao, Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng: Nghệ An - lịch sử và văn hoá, NXB Nghệ An, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An - lịch sử và văn hoá
Nhà XB: NXB Nghệ An
17. Lê Sĩ Giáo, Hoàng Lơng, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng: Dân tộc học đại cơng, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học "đại cơng
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Đỗ Thị Hoà: Trang phục các dân tộc ngời thiểu số ngôn ngữ Việt - M- ờng và Tày - Thái, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục các dân tộc ngời thiểu số ngôn ngữ Việt - M-ờng và Tày - Thái
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
19. Nguyễn Ngọc Hợi: Các yếu tố cần thiết hỗ trợ dân tộc thiểu số Đan Lai ở miền núi tỉnh Nghệ An nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trờng, ĐH Vinh, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố cần thiết hỗ trợ dân tộc thiểu số Đan Lai ở miền núi tỉnh Nghệ An nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trờng
20. Nguyễn Hữu Hoành: Vấn đề dân tộc Thổ xét từ góc độ ngôn ngữ, Hội thảo khoa học tháng 7/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc Thổ xét từ góc độ ngôn ngữ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê sự phân bố của các dân tộc c trú trên địa bàn  huyện Con Cuông (tính đến cuối năm 2005). - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Bảng 1.1. Thống kê sự phân bố của các dân tộc c trú trên địa bàn huyện Con Cuông (tính đến cuối năm 2005) (Trang 31)
Sơ đồ 3.1. Cấu trúc không gian ngôi nhà truyền thống của ngời Đan Lai. - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Sơ đồ 3.1. Cấu trúc không gian ngôi nhà truyền thống của ngời Đan Lai (Trang 90)
Bảng 3.2. Một số từ cơ bản về hệ thống đếm của các nhóm. - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Bảng 3.2. Một số từ cơ bản về hệ thống đếm của các nhóm (Trang 119)
Bảng 3.4. Một số từ hệ thống thân tộc của các nhóm. - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Bảng 3.4. Một số từ hệ thống thân tộc của các nhóm (Trang 120)
Bảng 3.3. Một số từ (động từ) của các nhóm. - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Bảng 3.3. Một số từ (động từ) của các nhóm (Trang 120)
Bảng 3.5. Thống kê số học sinh Đan Lai trong độ tuổi đến trờng giai - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Bảng 3.5. Thống kê số học sinh Đan Lai trong độ tuổi đến trờng giai (Trang 125)
Hình vẽ: Tày làm. - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Hình v ẽ: Tày làm (Trang 154)
Hình vẽ: Hẹo p lác. ’ - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Hình v ẽ: Hẹo p lác. ’ (Trang 155)
Hình vẽ: Cái Chàn (chài). - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Hình v ẽ: Cái Chàn (chài) (Trang 155)
Hình vẽ: Cái nỏ. - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Hình v ẽ: Cái nỏ (Trang 156)
Hình vẽ: Câu hảo. - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Hình v ẽ: Câu hảo (Trang 157)
Hình vẽ: Cái tó  (đó). - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
Hình v ẽ: Cái tó (đó) (Trang 157)
Hình ảnh về con sông Giăng hung dữ. - Chuyển biến trong đời sống kinh tế   văn hoá của tộc người đan lai ở huyện con cuông   nghệ an (từ năm 1973 đến năm 2007)
nh ảnh về con sông Giăng hung dữ (Trang 175)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w