- Là một người con của miền núi xứ Nghệ, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hòa Bình, tôi chọn đề tài: " Chuyển biến trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân thị trấn Hòa Bình
Trang 1Vi Thị thu hồng
chuyển biến trong đời sống
kinh tế - văn hóa của cộng đồng c dân thị trấn hòa bình (Tơng dơng - nghệ an)
từ năm 1989 đến năm 2010
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Vinh - 2010
Trang 2Vi Thị thu hồng
chuyển biến trong đời sống
kinh tế - văn hóa của cộng đồng c dân thị trấn hòa bình (Tơng dơng - nghệ an)
Trang 3Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo - PGS TS Nguyễn Quang Hồng, người đã rất nhiệt tình
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn UBND huyện Tương Dương, Đảng
bộ, UNBD Thị trấn Hòa Bình cùng các bậc cao niên trên địa bàn thị trấn HòaBình đã cung cấp cho tôi những tư liệu hết sức quý báu để tôi hoàn thành luậnvăn này
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến những ngườithân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn động viên,khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin được gởi tặng công trình nghiên cứu này như một món quà ýnghĩa nhất tới người cha thương yêu của tôi, Đại tá Vi Văn Tuyến, người đãdấu những cơn đau của căn bệnh ung thư quái ác để luôn mỉm cười động viên,khích lệ tôi, tạo động lực cho tôi hoàn thành luận văn này
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Vi Thị Thu Hồng
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
5 Đóng góp của đề tài 6
NỘI DUNG 8
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT HÒA BÌNH - TƯƠNG DƯƠNG TRƯỚC NĂM 1989 8
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 9
1.1.1 Địa hình 9
1.1.2 Đất đai 10
1.1.3 Khí hậu, thời tiết 11
1.2 Vài nét về điều kiện xã hội 14
1.2.1 Dân cư 14
1.2.2 Cơ sở hạ tầng 21
1.2.3 Vài nét khái quát về kinh tế Hòa Bình trước năm 1989 23
1.2.3 Vài nét về truyền thống văn hóa của cư dân Hòa Bình 29
Tiểu kết 35
Chương 2 CHUYỂN BIẾN TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN THỊ TRẤN HÒA BÌNH TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM 2010 38
2.1 Chuyển biến trong nông nghiệp 38
2.1.1 Ngành trồng trọt 38
2.1.2 Ngành chăn nuôi 42
Trang 52.3 Chuyển hướng trong thương mại, dịch vụ, du lịch 46
2.3.1 Thương mại, dịch vụ 46
2.3.2 Du lịch 49
2.4 Các ngành kinh tế khác 51
2.4.1 Ngư nghiệp 51
2.4.2 Xây dựng cơ bản 54
Chương 3 CHUYỂN BIẾN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN THỊ TRẤN HÒA BÌNH TỪ NĂM 1989 ĐẾN 2010 61
3.1 Những chuyển biến trong văn hóa giáo dục 61
3.2 Những chuyển biến trong đời sống vật chất 64
3.2.1 Ăn 64
3.2.2 Mặc 68
3.2.3 Ở 70
3.2.4 Chuyển biến trong sinh hoạt thường ngày 74
3.3 Những chuyển biến trong đời sống tinh thần 75
3.3.1 Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng 75
3.3.2 Phong tục, tập quán 78
Tiểu kết 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 6UBND: Uỷ ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
HS: Học sinh
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
Trang 7- Với lợi thế là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mộthuyện miền núi, thị trấn Hòa Bình đã có bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế,văn hóa, giáo dục Nghiên cứu những chuyển biến trong đời sống kinh tế,vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân ở thị trấn Hòa Bình là góp phầnthiết thực vào việc nghiên cứu quá trình chuyển đổi của đồng bào các huyệnmiền núi từ nửa sau thế kỷ XX đến nay Đây là vấn đề có ý nghĩa khoa học vàthực tiễn sâu sắc.
- Trong quá trình hơn 2 thập kỷ qua, thị trấn Hòa Bình vừa phát triển cả
về phạm vi cư trú, cấu trúc hạ tầng, thành phần dân cư, trình độ dân trí Đềtài là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về đời sống kinh
tế, vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư ở Thị trấn Hòa Bình từ ngàythành lập đến nay Do đó đề tài có ý nghĩa về khoa học và thực tiễn
- Đề tài chỉ rõ những đặc điểm chung và riêng trong quá trình phát triểncủa thị trấn Hòa Bình so với một số thị trấn khác ở miền núi Nghệ An Đây làmột trong những đóng góp quan trọng của đề tài Vì vậy, đề tài còn mở ra một
số hướng nghiên cứu mới về quá trình đô thị hoá ở vùng miền núi phía TâyNghệ An
Trang 81.2 Về thực tiễn
- Đề tài đi sâu nghiên cứu những chuyển biến trong đời sống kinh tế,văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư thị trấn Hòa Bình, do đó sẽ là mộtnguồn tư liệu quan trọng góp phần vào việc nghiên cứu, biên soạn và giảngdạy lịch sử địa phương
- Đề tài góp phần tập hợp tư liệu, cung cấp cho nhân dân trong thị trấn,trong huyện một nguồn tư liệu cần thiết, xác đáng về thị trấn Hòa Bình để cácnhà khoa học, các nhà chính trị, kinh tế, văn hóa nghiên cứu, so sánh, đốichiếu và mở rộng phạm vi nghiên cứu
- Thông qua việc nghiên cứu, đưa ra một số đề xuất để các cấp chínhquyền có thể tham khảo khi xây dựng, phát triển thị trấn Hòa Bình trước mắt
và lâu dài
- Là một người con của miền núi xứ Nghệ, sinh ra và lớn lên trên mảnh
đất Hòa Bình, tôi chọn đề tài: " Chuyển biến trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân thị trấn Hòa Bình (Tương Dương - Nghệ An) từ năm 1989 đến năm 2010" làm luận văn thạc sĩ để thể hiện tấm lòng với quê
hương, sự tri ân với vùng đất chôn rau cắt rốn, hy vọng sẽ góp một phần nhỏ
bé vào sự phồn thịnh của thị trấn trong tương lai
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là lị sở của một huyện miền núi, nơi cộng cư của các dân tộc Kinh,Thái, Khơmú, H'mông, nằm khiêm nhường bên dòng sông Lam, thị trấn HòaBình còn rất ít người biết đến, và những đề tài nghiên cứu hay viết về mảnhđất này cũng rất ít
Trong những tác phẩm sử học của Quốc sử quán triều Nguyễn như
"Khâm định Việt sử thông giám cương mục", "Đại Nam nhất thống chí", "ĐạiNam thực lục chính biên", tên gọi Tương Dương đã được nhắc đến với tưcách là một đơn vị hành chính của chính quyền nhà Nguyễn
Trang 9Sang thời Pháp thuộc, tác giả L.Albert với cuốn "Người Mường ở CửaRào" mặc dù với mục đích tìm hiểu dân tộc ít người để cai trị nhưng cũng đãchỉ ra những nét khái quát về điều kiện địa lý, tự nhiên của phủ Tương Dương
và đời sống của dân tộc Thái ở Cửa Rào - Tương Dương
Sau năm 1954, khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, để khẳng địnhlại đóng góp to lớn của các dân tộc cũng như các vùng, miền vào sự nghiệpcách mạng chung cả nước, nhiều tác phẩm sử học đã ra đời, trong đó cócuốn:" Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ" của Đào Duy Anh và "Lịch sửNghệ Tĩnh" của nhiều tác giả Trong hai tác phẩm này, đóng góp của cư dânHòa Bình nói riêng, huyện Tương Dương nói chung được trình bày một cáchkhái lược, hòa lẫn vào dòng chảy chung của lịch sử toàn tỉnh và toàn dân tộc
Đến tác phẩm "Việt Nam - Những thay đổi địa danh và địa giới các đơn
vị hành chính 1945 - 1997" của Nguyễn Quang Ân, Hòa Bình đã được biếtđến là huyện lị của huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, nhưng cũng chỉ được
đề cập đến những nét khái quát nhất, sơ lược nhất
Năm 2003, tác phẩm "Địa chí huyện Tương Dương" của PGS NinhViết Giao được xuất bản Đây là tài liệu thành văn đầu tiên nói đến một cáchtương đối cụ thể về sự thành lập của thị trấn Hòa Bình, cũng như khái quátqua một vài nét về diện tích, dân số và các đơn vị hành chính của thị trấn
Gần đây, trên trang Web của Uỷ ban nhân dân huyện Tương Dươngcũng đã có một số bài viết về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của thị trấnnói riêng và của huyện nói chung Nhưng những bài viết đó cũng hoặc mangtính khái quát hoá hoặc chỉ dừng lại ở một số lĩnh vặc nhất định, chưa tạo nênđược một cái nhìn tổng thể về sự chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội, của cộng đồng cư dân thị trấn Hòa Bình
Như vậy, có thể nói, nghiên cứu về văn hóa làng, đặc biệt là các làng cótruyền thống khoa bảng, cách mạng là một đề tài không mới nhưng lại rất ít
Trang 10các công trình nghiên cứu về văn hóa các bản, làng miền núi Đặc biệt đối vớiHòa Bình, thị trấn một huyện miền núi có thời gian thành lập chưa lâu, thì lạihầu như chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến Một sốsách báo có nhắc đến tên Hòa Bình, Tương Dương thì cũng chỉ biết đến nhưmột địa chỉ, một đơn vị hành chính, mảng kinh tế, văn hóa, xã hội của cộngđồng cư dân thị trấn Hòa Bình vẫn là một mảnh đất trống, chưa được khai
thác đến Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng cư dân thị trấn Hòa Bình (Tương Dương - Nghệ An)
từ năm 1989 đến năm 2010” dù còn trong phạm vi hẹp và mang tính chất địa
phương nhưng hoàn toàn mới Đề tài hy vọng sẽ góp thêm ít nhiều về mặtkhoa học và thực tiễn để tìm hiểu về sự chuyển biến của thị trấn Hòa Bình nóiriêng và vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số nói chung trong công cuộccông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn tư liệu
Đề tài “Chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng cư dân thị trấn Hòa Bình (Tương Dương - Nghệ An) từ năm 1989 đến năm2010”
được nghiên cứu dựa trên những nguồn tài liệu sau:
+ Cuốn "Việt Nam - Những thay đổi địa danh và địa giới hành chính
1945 - 1997" của Nguyễn Quang Ân, tác phẩm "Lịch sử Nghệ Tĩnh" xác định
rõ địa giới hành chính của huyện Tương Dương thời hiện đại cũng như đónggóp của nhân dân huyện Tương Dương vào lịch sử chung của tỉnh Nghệ An
Trang 11+ Một số tác phẩm như "Người Mường ở Cửa Rào" của L.Albert, "Cácdân tộc ít người ở Việt Nam" của viện dân tộc học, "Các dân tộc thiểu số ởNghệ An" của Nguyễn Đình Lộc góp thêm những tư liệu để tìm hiểu đờisống của các dân tộc cư trú trên địa bàn thị trấn.
3.1.2 Nguồn tư liệu từ các bản báo cáo, thống kê
-Văn kiện Đại hội Đảng bộ thị trấn qua các nhiệm kỳ lưu tại văn phòng
- Các số liệu thống kê của phòng Thống kê huyện Tương Dương
- Các số liệu do phòng Giáo dục huyện cung cấp
- Số liệu cơ bản kinh tế - xã hội 1995 - 1999 do UBND huyện TươngDương cung cấp
3.1.3 Tư liệu điền dã
- Nguồn tư liệu thông qua việc khảo sát thực tế các khối trong thị trấn:Hòa Bình, Hòa Tây, Hòa Trung, Hòa Nam, Hòa Đông
- Nguồn tư liệu do các cụ cao niên trong thị trấn cung cấp: Cụ Vi VănTuyến - Khối Hòa Bắc, Cụ Vi Văn Tới - Khối Hòa Bắc, Cụ Phan Văn Quý -Khối Hòa Tân, Cụ Nông Như Quế - Khối Hòa Tân, Cụ Kha Văn Quynh -khối Hòa Tây.v.v
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những yêu cầu đặt ra khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi sửdụng phương pháp luận sử học Macxit từ lúc sưu tầm, chỉnh lý tài liệu chođến quá trình biên soạn đề tài, kết hợp phương pháp sử học với phương pháplôgíc, phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu để xử lý tài liệu, để đánh giá
Trang 12và phân tích sự kiện Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành điền dã, điều tra xã hộihọc địa bàn thị trấn để có tư liệu hoàn thiện đề tài.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Những chuyển biến trong đời sống kinh tế,
văn hóa của cộng đồng cư dân thị trấn Hòa Bình, huyện Tương Dương (NghệAn) từ 1989 - 2010
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1.Phạm vi không gian: Địa bàn thị trấn Hòa Bình (Tương Dương
-Nghệ An)
4.2.2 Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu về sự chuyển biến trong
đời sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng cư dân thị trấn Hòa Bình từ năm
1989 đến năm 2010
5 Đóng góp của đề tài
- Với việc đi sâu nghiên cứu về những chuyển biến trong đời sống kinh
tế, vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân thị trấn Hòa Bình, đề tài sẽ lànguồn tư liệu quan trọng cho việc biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương
ở các cấp học nhằm giáo dục cho học sinh tình yêu và niềm tự hào đối với quêhương, ý thức bảo vệ và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
- Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên, khá toàn diện về nhữngchuyển biến trong đời sống kinh tế, vật chất và tinh thần của cộng đồng cưdân ở thị trấn Hòa Bình, thị trấn một huyện miền núi Vì vậy, kết quả của đềtài không những là tài liệu quan trọng giúp các cấp chính quyền tham khảokhi xây dựng và phát triển thị trấn Hòa Bình trước mắt và lâu dài mà còn gópphần thiết thực vào việc nghiên cứu quá trình chuyển đổi của đồng bào cáchuyện miền núi trong công cuộc đổi mới của đất nước
- Với việc chỉ ra những đặc điểm chung và riêng trong quá trình pháttriển của thị trấn Hòa Bình so với một số thị trấn khác ở miền núi phía Tây
Trang 13Nghệ An, đề tài góp phần mở ra một hướng nghiên cứu mới về quá trình đôthị hoá, công nghiệp hoá ở miền núi Nghệ An.
- Đề tài còn là công trình tập hợp tư liệu để tiện cho công tác nghiêncứu, so sánh của những công trình nghiên cứu sau
- Ngoài ra, đề tài còn chỉ rõ những mặt tích cực trong đời sống kinh tế,đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân ở Thị trấn Hòa Bình, đồng thời chỉ ranhững tồn tại, khiếm khuyết khi xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa Vì vậy
đề tài sẽ là một kênh thông tin quan trọng giúp các nhà lãnh đạo huyện, thịtrong việc hoạch định chiến lược phát triển lâu dài, ổn định và bền vững chothị trấn Hòa Bình
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Khái quát về vùng đất Hòa Bình - Tương Dương trước
năm 1989
Chương 2 Chuyển biến trong đời sống kinh tế của cộng đồng cư dân
thị trấn Hòa Bình từ năm 1989 đến năm 2010
Chương 3 Chuyển biến trong đời sống văn hoá của cộng đồng cư
dân thị trấn Hòa Bình từ năm 1989 đến năm 2010
Trang 14Hòa Bình trở thành huyện lị của huyện Tương Dương từ khi nào? Mới
đó mà không một văn bản nào của huyện hay của tỉnh còn trong kho lưu trữ.Chỉ biết rằng, từ trước năm 1961, huyện lị của huyện Tương Dương đóng ởCửa Rào Ngày 17 - 5 - 1961, Chính phủ ra quyết định số 65 - CP chia huyệnTương Dương thành 2 huyện là Tương Dương và Kỳ Sơn Ngay sau đó, Đạihội Huyện Đảng bộ đã họp, nhận thấy địa thế, đất đai ở Cửa Rào chật chội,ngoài một khoanh đất nhỏ ở bản Cửa Rào 2, xã Xá Lương, nơi đang là huyện
lị của huyện Tương Dương, còn lại toàn bộ là núi đá chon von, không cómảnh đất nào khác để xây dựng cơ quan, các đồng chí lãnh đạo huyện quyếtđịnh chuyển lị sở về bản Hòa Bình, tức Piêng Bản, mặc dù Cửa Rào vẫn là đấtdanh thắng
Trang 15Về bản Hòa Bình vào cuối năm 1961, đầu năm 1962 thì năm 1964, giặc
Mỹ gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Năm 1966, để chặn sự vận chuyểncủa ta lên miền Tây, chúng đánh phá ác liệt tất cả các cầu, cống ở đường quốc
lộ số 7 (Đường quốc lộ số 7 chạy giữa lòng huyện lị Tương Dương - tức bảnHòa Bình) Mặc dù địa bàn ở đây phần lớn là núi non, nhưng chúng đánh phá
dữ dội quá, lãnh đạo huyện Tương Dương mới quyết định sơ tán vào bản KheChi, làm lán để ở và làm việc Năm 1973, sau hiệp định Pari, giặc Mỹ thua to,phải ngừng ném bom miền Bắc và rút quân về nước, các cơ quan trường họcbệnh viện của huyện lại chuyển về bản Hòa Bình
Từ chỗ là một vùng đất thưa thớt, dần dần dân cư quây tụ ngày mộtđông, cùng nhau làm ăn sinh sống, biến Hòa Bình trở thành trung tâm chínhtrị, kinh tế, văn hóa của toàn huyện Năm 1989, chính phủ ra quyết định,chính thức công nhận Hòa Bình là thị trấn, trung tâm kinh tế, chính trị, củatoàn huyện Tương Dương,
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên
1.1.1 Địa hình
Thị trấn Hòa Bình là trung tâm huyên Tương Dương, một huyện miềnnúi cao, nằm ở phía Tây Nam của Tỉnh Nghệ An, nằm gọn trong ranh giớihành chính xã Thạnh Giám (cũ), cách thành phố Vinh khoảng 200km, cóquốc lộ 7A chạy qua nối thị trấn với các huyện Anh Sơn, Đô Lương, ConCuông ở phía Nam, Kỳ Sơn và nước bạn Lào ở phía Tây
Theo số liệu thống kê đất đai, đến 01/01/2008 diện tích tự nhiên của thịtrấn Hòa Bình là 159,89ha Thị trấn gồm 6 khối dân cư là: Khối Hòa Tây,Hòa Bắc, Hòa Tân, Hòa Nam, Hòa Trung, Hòa Đông
Tương Dương là một huyện miền núi có địa hình rất hiểm trở, có nhiềunúi bao bọc tạo nên những thung lũng nhỏ và hẹp Toàn bộ Tương Dươngnằm trong vùng địa hình có độ cao trung bình từ 650 - 750m so với mặt nước
Trang 16biển Dọc biên giới có một số ngọn núi cao trên 1000m, nằm trong dãyTrường Sơn Phía Tây Nam có nhiều dãy núi kéo theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam, gần như song song với sông Cả.
Địa hình Tương Dương được chia thành ba dạng:
- Dạng địa hình thung lũng bằng: phân bố rải rác ở một số nơi bãi bồidọc theo các con sông và một số khe suối Địa hình dạng này chỉ chiếmkhoảng 0,02% diện tích tự nhiên của huyện
- Dạng địa hình đồi chiếm khoảng 21% diện tích đất tự nhiên củahuyện, phân bố chủ yếu ở vùng dọc theo tuyến quốc lộc 7A và nằm ở triềnnúi Phần lớn là dạng đồi lượn sóng, có độ cao từ 300 - 700m
- Dạng địa hình núi: chiếm khoảng 79% diện tích đất tự nhiên của huyện,trong đó khoảng 59% núi thấp từ 750 - 1700m, 20% núi cao trên 1700m, cóđỉnh cao nhất là đỉnh Phun Hủn (núi Mào Gà) xã Nhôn Mai cao 2138m
Như vậy, thị trấn Hòa Bình có dạng địa hình đồi núi, địa hình khá phứctạp Phần trung tâm thị trấn tương đối bằng phẳng, phần phía Nam, Tây Namthị trấn thì nhiều đồi núi (Pù Cỏ Cường, Pù Phá Bịa), phía Bắc và Đông Bắcđược bao bọc bởi sông Lam Với dạng địa hình này, cộng thêm diện tích đất
tự nhiên không phải là rộng là điều phức tạp, khó khăn cho sản xuất lâm nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, sinh hoạt và phát triểnkinh tế xã hội của thị trấn
nông-1.1.2 Đất đai
Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng Nghệ An, Tương Dương có 14 loạiđất trên tổng số 32 loại đất toàn tỉnh Thị trấn Hòa Bình gồm 4 loại đất:
- Đất phù sa: Loại đất này nằm ven bờ sông Lam, được hình thành do
sự bồi đắp phù sa của sông Lam Khác với phù sa của các huyện đồng bằng,vùng này địa hình dốc, lũ lớn, nước rút nhanh, chỉ kịp lắng đọng những hạtlớn, thành phần cơ giới thường thịt nhẹ hoặc cát pha Vì vậy loại đất này chủyếu dùng trồng một số cây hoa màu như lạc, đậu, ngô, khoai…
Trang 17- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiến sét (170 - 200m) Loại đấtnày có màu vàng hoặc màu vàng đỏ, thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc thịtnặng Sức giữ nước và khả năng cung cấp nước tương đối tốt Đây là loại đấttương đối tốt về mặt lí tính cũng như hoá tính, có nhiều khả năng mở rộngdiện tích phát triển nông nghiệp.
- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá cát kết (170-200m) tạo thànhcác đồi thấp, thoải Tầng đất trung bình đến mỏng, đất có màu vàng hoặcvàng đỏ, lớp trên rửa trôi mạnh có màu xám hồng Kết cấu đất rời rạc, thấmnước nhanh, dễ bị bào mòn Đất chua, ít mùn, khả năng trao đổi thấp, chấtdinh dưỡng nghèo
- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá Macma axit (170 - 200m) Đất
có màu vàng đỏ đến vàng nâu, hầu hết có tầng đất mỏng, thường lẫn mảnh đávụn, đất nhẹ, cấu trúc hạt thô Đất được hình thành ở vùng địa hình tương đốibằng phẳng, tầng đất dày, ẩm có thể khai thác trồng cây công nghiệp, cây ănquả dài ngày hoặc trồng hoa màu lương thực
Trên cơ sở đặc tính thổ những và thực trạng sử dụng đất ở thị trấn HòaBình, tính đến ngày 01/01/2008, thị trấn Hòa Bình có tổng diện tích đất tựnhiên 159,89 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 68,62ha, chiếm 42,92% tổng diện tích tự nhiên
- Đất phi nông nghiệp: 73,56ha, chiếm 40,01% tổng diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng: 17,71ha, chiếm 11,08% tổng diện tích tự nhiên
1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Cũng như một số huyện miền núi phía Tây Nghệ An, khí hậu thời tiết
ở Tương Dương nói chung, thị trấn Hòa Bình nói riêng thường diễn biến phứctạp, thay đổi trong từng ngày, từng tháng Cách đây khoảng nửa thế kỷ, đây làvùng rừng thiêng, nước độc, lam sơn chướng khí, dân cư thưa thớt Các loạidịch bệnh như: sốt rét, vàng da, vàng mắt, v v trở thành nỗi ám ảnh của cưdân sống ở đây cũng như người miền xuôi
Trang 18Cũng như toàn bộ huyện Tương Dương, thị trấn Hòa Bình chịu ảnhhưởng trực tiếp của vùng khí hậu Tây Nam Nghệ An với đặc điểm là khí hậunhiệt đới gió mùa, phân thành hai mùa rõ rệt:
bị các dãy núi trùng điệp và cây rừng chặn lại, nên ở Tương Dương nói chung
và thị trấn Hòa Bình nói riêng chưa bao giờ có các cơn bão với sức gió mạnhnhư ở đồng bằng Do đó sự tàn phá của bão coi như không đáng kể
Cái đáng kể ở đây là giông tố Giông tố nổi lên thường có sấm sét dữdội Do địa hình tương đối phức tạp nên hễ có giông tố là có gió xoáy (lốc),hoặc mưa đá, gây nên những trận lũ ống, lũ quét dữ dội Gần đây nhất là trận
lũ quét ngày 24/6/2010, phá huỷ nhiều hoa màu, ao cá, cuốn trôi nhiều tài sảncủa các hộ dân ở hai khối Hòa Nam và Hòa Tây, gây thiệt hại hàng tỉ đồng
Cùng với giông tố, mùa này, thị trấn Hòa Bình còn phải chịu một hiệntượng khí hậu khắc nghiệt nữa Đó là gió mùa Tây Nam khô nóng, hay còn gọi
là gió Lào Gió Lào phát xuất từ Băng gan thuộc Ấn Độ Dương, vốn mang theohơi nước, song thổi qua một đoạn đường dài trên các lục địa Miên Lào vào mùa
hạ nên hầu hết hơi nước đều để lại ở sườn phía Tây của dãy Trường Sơn VượtTrường Sơn sang miền Bắc Trung Bộ Việt nam, loại gió này đã trở nên khônóng dưới ánh nắng gay gắt của những ngày hè Gió Lào thổi mạnh nhất từtháng 6 đến tháng 8 dương lịch Có đợt gió kéo dài đến chục ngày trời làm khe
Trang 19suối khô cạn, hoa màu, cây cối quắt héo… Dù ở miền rừng núi có nhiều câycối, song mỗi khi có gió Lào thổi, con người cũng bức bối, khó chịu.
* Về mùa khô:
Mùa này thường có gió mùa Đông Bắc Đặc điểm của gió này thườngkhô và lạnh, song vì thổi qua Vịnh Bắc Bộ nên nhận được nhiều hơi nước,nên đến khi vào đến đất liền, gặp phải các dãy núi phía Tây mà chủ yếu là dãynúi Trường Sơn, gió mùa có mang hơi ẩm này lạnh đi, hình thành mây mưa.Mưa trong những ngày có gió mùa Đông Bắc có khi khá lớn và kéo dài, gâykhó khăn cho việc làm ăn, đi lại
Những ngày mưa là vậy, còn những ngày không mưa trời thường nhiềumây, u ám, nếu không, về sáng cũng có sương mù dày đặc, 9, 10 giờ mới tan.Đây cũng là điều kiện hết sức thuận lợi để sâu bọ phát sinh, làm ảnh hưởngđến sản xuất đông xuân và xuân hè Đó là chưa kể nhiều năm có sương muốilàm cây trồng bị hư hại
* Về nhiệt độ:
Nhiệt độ trung bình biến đổi từ 23 - 250C, có 6 tháng nhiệt độ vượt quá
250C Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7, nhiệt độ trong tháng này khoảng
từ 39 - 410C Mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau (khoảng 150
-160 ngày), tháng lạnh nhất là tháng 1 Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối đo được tạiHòa Bình là 1,70C (tháng 1/1974)
Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 27 - 290C, thángnóng nhất là tháng 7 Nhiệt độ tối cao tuyệt đối tại Cửa Rào lên tới 42,70C(tháng 5/1966) Do biên độ nhiệt chênh lệch giữa ngày và đêm lớn, rất thíchhợp để phát triển một số cây trồng đặc sản Tổng tích ôn trung bình nămkhoảng 4.4000C rất thuận lợi đối với phát triển các loại cây trồng
* Về độ ẩm:
Cũng như biến đổi nhiệt độ, thị trấn Hòa Bình chịu ảnh hưởng không
lớn của gió mùa Đông Bắc và các hình thái mưa, vì thế hệ số khô hạn lớn hơn
và độ ẩm tương đối nhỏ hơn so với các vùng khác
Trang 20Độ ẩm tương đối hàng năm tại thị trấn Hòa Bình là 82%, gần như làthấp nhất lưu vực sông cả, nhất là các tháng mùa khô độ ẩm trung bình chỉ đạt
79 - 80%, thậm chí độ ẩm tương đối tối thấp chỉ đạt 20%
Lượng bốc hơi nước mạnh vào tháng 5, 6, 7, 8 Tổng lượng bốc hơinăm đo bằng ống Piche trên sông cả dao động từ 700 - 900mm, tại Hòa Bìnhđạt 877mm
Lượng mưa bình quân nhiều năm đạt 2000mm, mùa mưa thường bắtđầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11
Nhìn chung, thời tiết khí hậu ở Tương Dương nói chung, ở Hòa Bìnhnói riêng khá khắc nghiệt Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, vàđời sống sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn thị trấn, ảnh hướng đến sự pháttriển kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân
1.2 Vài nét về điều kiện xã hội
Trang 21của Đảng và Nhà nước, một bộ phận lớn người Kinh từ miền xuôi và các tỉnhkhác đã đến vùng đất Hòa Bình Ngoài một số người Kinh lên lẻ tẻ để khaithác lâm sản như gỗ, nứa, mét , để đánh cá, để buôn bán và làm một số nghềkhác như nghề rèn, nghề kim hoàn rồi vì một lí do gì đó, lấy vợ sinh con, lâungày rồi định cư ở Hòa Bình, số người Kinh đến Hòa Bình đáng kể là cán bộ,viên chức Đó là các giáo viên, bắt đầu từ các giáo viên trợ lực vào nhữngnăm 1947, 1948, để làm công tác bình dân học vụ, rồi giáo viên cấp I (Tiểuhọc), giáo viên cấp II (Trung học cơ sở), giáo viên cấp III (Trung học phổthông) lên dạy ở các trường trong thị trấn Rồi cán bộ các ngành khác như cán
bộ nông nghiệp, công nhân giao thông, cán bộ thuỷ lợi, ngân hàng, thươngmại, cán bộ các ngành văn hóa, y tế, bưu điện
Trong bấy nhiêu giáo viên các trường học, cán bộ các ngành là ngườiKinh ở miền xuôi lên Hòa Bình, ở nơi khác đến công tác và nhân dân đến làm
ăn buôn bán có người ở Hòa Bình một thời gian sau chuyển về xuôi hay nơikhác, có người ở lại Hòa Bình, định cư ở Hòa Bình Vì vậy, tính đến nay,người Kinh ở Hòa Bình cũng có rất nhiều nguồn gốc, ở nhiều địa phươngkhác nhau, ví dụ những người làm nghề thợ mộc chủ yếu là dân Nam Định,Nam Hà, những người tiểu thương tiểu chủ, buôn bán nhỏ thì chủ yếu là dânhuyện Đô Lương, Nam Đàn, dân vạn đò chủ yếu có nguồn gốc từ ThanhChương, còn cán bộ, công chức thì ở nhiều huyện khác nhau của miền xuôinhư Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc
Số người Kinh định cư ở Hòa Bình ngày càng đông, cho đến nay, từchỗ là dân góp, người Kinh đã trở thành thành phần cư dân chủ yếu của thịtrấn Hòa Bình Và một số lượng lớn, lại có nhiều người có trình độ đại học,cao đẳng, trung cấp, người Kinh đã có vai trò hết sức to lớn trong việc xâydựng và phát triển thị trấn Hòa Bình, làm thay đổi diện mạo của thị trấn trêntất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội Tất nhiên cũng có người Kinh lợi dụng
Trang 22sự thật thà, chất phác của đồng bào, có người mang những tính xấu về mặtnày, mặt khác, nhưng đó chỉ là cá biệt Đại đa số người Kinh lên công tác haylàm ăn tại Thị trấn Hòa Bình đều đã chịu khó khăn, gian khổ, nơi trước kia làrừng thiêng nước độc, nơi toàn đá núi, cây rừng với thú dữ, rắn độc đểchung sức chung lòng với người bản địa, làm cho Hòa Bình ngày càng thoátkhỏi cái vòng đói nghèo, thoát khỏi vòng khép kín mà bấy lâu bị u bế trongnúi rừng, trong khuôn khổ chất hẹp, bởi đường đi lối lại khó khăn, bởi tưtưởng chưa nghĩ đến làm giàu, đến kinh doanh buôn bán, đến đi đây đi đó
để đưa Hòa Bình, một thị trấn miền núi nhưng đã mang nhiều dáng dấp củamột thị trấn miền xuôi, tiến gần lại với miền xuôi hơn
Cùng với người Kinh, thành phần đa số khác trong cộng đồng cư dânthị trấn Hòa Bình là người Thái Đây cũng chính là cư dân bản địa của vùngđất này
Cũng như các huyện miền núi khác ở Nghệ An, người Thái ở Hòa Bìnhgồm 3 nhóm
- Nhóm Tày Mường, hay còn gọi là Tày Chiềng, Hàng Tổng, chủ yếu
là Thái trắng
- Nhóm Tày Thanh, hay còn gọi là Man Thanh, chủ yếu là Thái Đen
- Nhóm Tày Mươì
* Nhóm Tày Mường hay Tày Chiềng (Hàng Tổng)
Đây là nhóm quan trọng nhất và rõ ràng là cư trú sớm nhất so với cácnhóm Thái khác ở Nghệ An Theo các công trình nghiên cứu, nhóm TàyMường đã lập làng bản ở vùng quốc lộ số 7 (tức Con Cuông và TươngDương) vào thế kỉ XIII, XIV Bởi vì đầu thế kỷ XIV, hoàng đế Trần MinhTông đi đánh Ai lao, khi đem quân đến biên thuỳ mặt tây, đạo thần tù trưởng
là Cầm Quý, … đều tranh nhau đến triều yết
Ở vùng Quỳ Châu cũ, nhóm Tày Mường đến lập nghiệp đầu tiên ởMường Tôn (Mường Chủ, sau gọi là Mường Nọc) thuộc huyện Quế Phong,
Trang 23Kim Tiến (Châu Bình, Châu Tiến - Quỳ Châu) và Khủn Tinh (Châu Quang,Châu Thái, Châu Ly, Châu Đình -Quỳ Hợp) Từ đó người Tày Chiềng lansang vùng Con Cuông và hạ Tương Dương hiện nay, tức Mường Quạ (MônSơn, Lục Dạ) và Mường Xiềng My (Nga Mi, Bình Chuẩn).
Theo thần phả đền Chín Gian ở Mường Nọc thì dòng dọ Sầm do haianh em là Cầm Lứ và Cầm Lan dẫn dắt dòng họ Thái từ Tây Bắc vào Nghệ
An, tính đến nửa đầu thế kỷ XIX đã qua 17 đời làm thế tập Tạo Mường kiêmChẩu hua (chủ phần hồn) vùng Quỳ Châu cũ Từ nửa thế kỉ XIX, vào thời vuaMinh Mạng, năm 1834, triều đình Huế xuống chiếu đôỉ các mường Thái ởmiền Tây Nghệ An thành đơn vị hành chính của toàn quốc Chế độ thổ quan,tạo mường dần dần bị bãi bỏ mà thay vào đó là các tri phủ, tri huyện Lúc nàydòng họ Lang lớn mạnh, một người trong dòng họ Lang được cử làm tri phủ,dòng họ Sầm chỉ còn thế tập làm chẩu hua, chủ trì đền Chín Gian ở MườngNọc, trông coi phần hồn cho những cư dân Thái ở trong vùng Đến cách mạngTháng Tám, chế độ chẩu hua cũng bị bãi bỏ Như vậy, ít nhất vào cuối thế kỉXIII, người Thái đã có mặt ở Quỳ Châu, từ đó lan sang vùng Con Cuông và
hạ Tương Dương, trong đó có vùng đất thị trấn Hòa Bình hiện nay
* Nhóm Tày Mười
Nhóm này đến miền núi Nghệ An muộn hơn một chút Nguồn gốc củangười Tày Mười ở Nghệ An là người Thái ở vùng Mường Muỗi (thuộc tỉnhLai Châu) Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tập I, NXBGiáo dục, Hà Nội), khi Lê Lợi đánh quân Minh, chủ đất ở vùng MườngMuỗi tại châu Ninh Viễn là Đèo Cát Hãn đã cùng Kha Lại chống lại Đểtrừng trị hành động, đó, sau khi lên ngôi, đích thân vua Lê Lợi cầm quân điđánh châu Ninh Viễn, thắng trận: Kha Lại chạy rồi chết, Đèo Cát Hãn lẩntrốn Nhà vua đặt đất Ninh Viễn thành châu Phục Lễ (nay là tỉnh Lai Châu),rồi rút quân về
Trang 24Bình định được họ Đèo, nhà vua đem tù binh về dâng ở Thái miếu vàquyết định cho dời một bộ phận cư dân ở Mường Muỗi vào Thanh Hoá vàNghệ An Vì vậy, nhóm Tày Mười khi đến Nghệ An vẫn tự gọi mình theoquê hương cũ Có điều qua thời gian, tên địa danh ấy đã bị gọi lệch đi: Muỗithành Mười.
* Nhóm Tày Thanh (hay Man Thanh)
Nhóm này không chỉ từ Thanh Hoá qua Nghệ An mà còn từ MườngThanh (Tây Bắc) chuyển cư đến đây Mường Thanh xưa thuộc châu NinhBiên, phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hoá, nay thuộc Điện Biên, tỉnh Lai Châu ĐấtMường Thanh ngày trước rất rộng, gồm cả Mường Lễ, sông Mã ở khu TâyBắc và một phần Mường Lư (tỉnh Phong Sa Lì - Lào) Nhiều nhóm Thái nhậnMường Thanh (hay còn gọi là Mường Thang, Mường Than) là đất tổ
Trên đường chuyển cư vào miền núi Nghệ An, họ đi qua đất Lào - cốnhiên có người đi qua Thanh Hoá hay đã ở Mường Lư nên nhóm này chịu ảnhhưởng của văn hóa Lào nhiều hơn Số lớn người Man Thanh ở dọc dường số
7 Họ đến Nghệ An cách đây độ 450 năm, có nơi họ là những chủ khai canh
ra các bản mường, có nơi họ ở địa vị người ngụ cư, thậm chí có khi phải làm
"cuông", "nhốc" (người ở) cho người Tày Chiềng
Tại Tương Dương, người Tày Thanh có mặt ở hầu hết các xã và thị trấn.Việc phân chia thành Thái Đen hay Thái Trắng chắc có nguồn gốc lịch
sử của nó Tuy có sự khác nhau nho nhỏ về quan niệm tính triết học, về màu
áo phụ nữ, về kiểu nhà, song trên đại thể, người Thái có sự thống nhất cao độ
về tên gọi là Tay, Thay, Tay Thay Các định ngữ Đen, Trắng hoặc mang tínhđịa danh như Tày Thanh, Tày Mười, Tày Khăng chỉ dùng khi cần cụ thể trongtìm hiểu, nghiên cứu - còn trong thực tế các nhóm Thái này ở Hòa Bình đãsống hòa lẫn vào nhau, dấu vết để phân biệt đã mờ nhạt, không còn rõ nét Và
có lẽ cũng bởi điều này mà các nhóm Thái ở thị trấn Hòa Bình đã tạo nên một
Trang 25cộng đồng dân cư rất đoàn kết, hòa hợp, có tinh thần tương thân tương ái rấtcao.
Ngoài người Kinh, người Thái, ở vùng đất Hòa Bình trước khi thànhlập thị trấn còn có một số ít cư dân thuộc các thành phần dân tộc khác nhưngười Hoa, người Mông, người Khơmú Người Hoa cũng chủ yếu ở nhữnghuyện miền xuôi lên làm ăn buôn bán, dần dần họ hòa nhập vào cộng đồngngười Kinh ở Hòa Bình, mặc dù vẫn mang bản sắc văn hóa riêng nhưng cơbản nếp sống, nếp sinh hoạt của người Hoa giống với người Kinh Hiện tại ởHòa Bình chỉ còn lại duy nhất một hộ người Hoa với 5 nhân khẩu và là chủcủa một cửa hàng sửa chữa đồng hồ khá nổi tiếng của thị trấn
Người H'mông, Khơmú cũng sớm có mặt tại vùng đất Hòa Bình, tuynhiên họ không phải là cư dân bản địa của vùng đất này Họ là những cán bộthoát li, công tác trong những cơ quan, ban ngành của huyện đóng ở HòaBình Để tiện cho quá trình công tác, họ đã chuyển cả gia đình mình ở nhữngvùng sâu như Kim Đa, Yên Thắng, Tam Hợp, Lưu Kiền… ra định cư ở HòaBình Tuy nhiên, quen với tập quán phát rẫy làm nương, chọc lỗ tra hạt, lạisống tương đối khép kín, người Mông khó hòa nhập với cuộc sống ở chốn có
xu hướng đô thị hoá, vì vậy sau khi hết thời gian công tác, phần lớn các giađình người Mông này đều lại trở về quê hương bản quán làm ăn sinh sống.Hiện nay, ở thị trấn Hòa Bình chỉ còn lại duy nhất một người Mông, là cán bộcông an đang công tác ở Công an huyện đóng trên địa bàn thị trấn
Mặc dù cùng có chung tập quán phát rẫy làm nương, chọc lỗ tra hạtnhư người Mông nhưng có lẽ suốt trong chiều dài lịch sử, người Khơmú đãtừng cư trú xen kẽ hay sống thành từng bản trong các mường người Thái nênkhả năng thích nghi của người Khơmú tốt hơn người Mông Điều đó cũng cónghĩa là những gia đình người Khơmú đến định cư tại vùng đất Hòa Bình đãbám trụ được ở đây lâu dài hơn, có nhiều người khá thành đạt và có nhiều
Trang 26cống hiến cho sự phát triển của huyện miền núi cao Tương Dương nhưnguyên chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Tương Dương Moong Văn Hợi,nguyên chủ tịch Uỷ ban mặt trận Tổ quốc huyện Tương Dương Nông NhưQuế… Khi thị trấn Hòa Bình được thành lập và ngày càng mở rộng, diện tíchnương rẫy ngày càng bị thu hẹp, những gia đình Khơmú này sống chủ yếudựa vào đồng lương công chức, một số người năng động, nhạy bén còn cóthêm nghề buôn bán nhỏ Do đó đời sống của người Khơmú ngày nay đã kháhơn trước rất nhiều cả về vật chất lẫn tinh thần, nhưng họ có xu hướng bị Tháihoá, hòa nhập gần như hoàn toàn vào cộng đồng người Thái Hiện nay ở HòaBình có 9 hộ người Khơmú với tổng cộng là 46 nhân khẩu.
Như vậy, có thể nói thị trấn Hòa Bình là địa bàn thu hẹp của hầu hếtcác dân tộc hiện sinh sống trên mảnh đất Tương Dương Cả huyện TươngDương có 6 dân tộc chung sống (Ơđu, Tày Poọng, Khơmú, Mông, Thái,Kinh) thì ở thị trấn Hòa Bình, trừ người Hoa, đã có sự góp mặt của 4 dân tộcanh em là Khơmú, Mông, Thái và Kinh Mặc dù các thành phần dân tộc cónguồn gốc khác nhau, bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và cả thời gian cư trú cũngkhác nhau nhưng trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, khi cùngđến tụ cư tại vùng đất Hòa Bình, các dân tộc đã đoàn kết lại, gắn bó, hòa hợpvới nhau để tạo nên một cộng đồng cư dân bền vững cùng đấu tranh bảo vệHòa Bình, xây dựng và phát triển thị trấn
Ở đây đã hình thành một hiện tượng cộng cư cài răng lược rất đáng lưu
ý Tình đoàn kết, gắn bó, hòa hợp của cộng đồng dân cư thể hiện rõ nhấtchính là ở điểm này Không có bất kì một khối, xóm nào là địa bàn cư trú củaduy nhất một thành phần dân tộc, mà đó là điểm quần cư, cùng chung sốngcủa hai, ba dân tộc khác nhau Quá trình chung sống lâu dài đã tạo nên hiệntượng một người biết hai, ba thứ tiếng trở nên phổ biến Nhưng để thuận tiệncho việc tiếp xúc, trao đổi, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cả cộng đồng cư
Trang 27dân thị trấn Hòa Bình đã sử dụng một ngôn ngữ chung đó là tiếng Việt Sựcộng cư không chỉ tạo ra một ngôn ngữ chung mà còn tạo nên sự giao lưu vănhóa giữa các dân tộc, làm nên nét riêng của một thị trấn vùng cao mà ởchương sau chúng tôi sẽ làm sáng tỏ.
1.2.2 Cơ sở hạ tầng
Tương Dương, cho đến thời điểm hiện nay vẫn là một trong số nhữnghuyện nghèo nhất của cả nước Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa củamột huyện nghèo, thị trấn Hòa Bình cũng không thể gọi là một thị trấn hiệnđại Tuy nhiên, nếu so với hơn 20 năm về trước, khi thị trấn chưa chính thứcđược thành lập thì có thể nói Hòa Bình đã hoàn toàn thay da đổi thịt, với mộtdiện mạo tươi tắn, trẻ trung và năng động
Hơn 20 năm trước, Hòa Bình chỉ là một vùng đất nghèo, hẻo lánh vàgần như bị cô lập với thế giới bên ngoài bởi sự cách trở của giao thông, bởi sựnghèo nàn, thiếu thốn của cơ sở hạ tầng
Mặc dù quốc lộ 7A chạy giữa lòng thị trấn, nhưng trước đây, conđường mang tên 7A, đoạn chạy qua vùng đất Hòa Bình cũng chỉ là một conđường đất gồ ghề, rộng chưa đầy 5m, mùa mưa thì lầy lội, mùa hè bụi tung
mù mịt Hệ thống đường liên thôn, liên xóm chỉ là những con đường mòn dongười dân đi qua, đi lại nhiều mà thành Đường giao thông thì yếu, phươngtiện giao thông lại thiếu, làm cho việc đi lại của cư dân trong vùng hết sứckhó khăn Muốn đi đến các xã trong huyện hoặc sang các huyện khác, nếukhông thể nằm chờ mười bữa, nửa tháng để được đi nhờ những chiếc xe tảichở hàng, thì phải chấp nhận đi bộ hoặc đi thuyền độc mộc trên sông Lam.Cho đến những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, việc đi lại của đồng bàotrong thị trấn vẫn hết sức khó khăn.Thời đó, tôi đang học THPT ở thành phốVinh, tôi không thể quên được cảnh 1, 2 giờ sáng cả nhà lục đục kéo nhau dậy
ra bến xe, giành cho tôi một chỗ ké chân trên chuyến xe khách chật níchngười để về Vinh nhập học
Trang 28Đi lại đã khó, vấn đề nước sinh hoạt lại càng khó khăn hơn Ở vùng đấtHòa Bình trước đây và cả bây giờ đều không có ruộng đồng trồng lúa nướcnên vấn đề thuỷ lợi chủ yếu vẫn là những con mương thoát nước, và quantrọng nhất vẫn là xây dựng nhà máy nước sinh hoạt cho nhân dân Trước đây,nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của cư dân Hòa Bình được lấy từ sông Lamkhông hề qua xử lý Mùa khô, nước sông trong xanh, hiền hoà, người dân chỉviệc gánh nước về đổ đầy các chum, vại dự trữ Nhưng đến mùa mưa, dòngsông cuộn đỏ, đục ngầu, cư dân trong vùng buộc phải vào tận khe Sình, kheBan hứng nước suối để đưa về dùng Khi nước khe cũng đục đỏ, không còncách nào khác, người dân phải dùng phèn chua thả vào những thùng nước đục
để cặn bẩn lắng xuống rồi chắt lấy phần nước trong phía bên trên để dùng Có
lẽ cách xử lý nước đặc biệt như vậy chính là nguyên nhân gây ra những bệnhdịch nghiêm trọng cho cư dân Hòa Bình trong những mùa mưa lũ Mãi đến tậnnhững năm cuối của thế kỉ XX, đập dự trữ nước sinh hoạt và hệ thống đườngống dẫn nước vào thị trấn mới được hoàn thành Và phải chờ đến tận năm
2007, khi dự án nhà máy nước thị trấn hoàn thành và đi vào hoạt động thì cưdân Hòa Bình mới chính thức được dùng nước máy, nước sạch đã qua xử lí
Vì địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi cao, đường đi lại ngoằn nghèo,khúc khuỷu nên việc xây dựng hệ thống đường dây tải điện hết sức khó khăn.Chính vì vậy, vấn đề điện khí hoá ở Hòa Bình thực hiện tương đối muộn Đếnnăm 1995, hơn 6 năm sau khi có quyết định thành lập, Hòa Bình mới hòa vàodòng lưới điện quốc gia thông qua nguồn 35KV từ huyện Con Cuông Trướckhi có điện lưới quốc gia, cũng như những bản làng vùng sâu vùng xa khác,nguồn sáng của cư dân Hòa Bình là đèn dầu hoặc điện máy phát nổ
Thiếu nguồn nguyên liệu quan trọng là điện nên ở Hòa Bình trước năm
1995 hầu như không có hoạt động công thương nghiệp nào đáng kể Hệ thốngthông tin liên lạc cũng hết sức lạc hậu
Trang 29Hệ thống hạ tầng xã hội vừa thiếu lại vừa yếu Trước năm 1989, ở HòaBình chỉ có trụ sở của một số cơ quan ban ngành được xây dựng quy củnhưng cũng chỉ ở quy mô cấp IV (ví dụ như trụ sở UBND huyện, phòng Giáodục huyện, Trung tâm mậu dịch quốc doanh…) Hầu hết nhà dân và cáctrường học, kể cả cơ quan của một số ban ngành cũng chỉ là nhà tranh, tre,nứa, lá tạm bợ.
Trên địa bàn Hòa Bình đã sớm xây dựng hệ thống trường học hoànchỉnh bao gồm 1 nhà trẻ liên cơ, 1 trường cấp I, 1 trường cấp II, III Tuynhiên cơ sở vật chất của tất cả các trường này đều rất thiếu thốn dẫn đến chấtlượng đào tạo trước khi thành lập thị trấn là rất thấp
Trong hơn 20 năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và sựchung tay góp sức của nhân dân, hệ thống cơ sở hạ tầng của thị trấn Hòa Bình
đã được xây dựng đồng bộ (điện, đường, trường, trạm) Diện mạo thị trấn đãthay đổi và từng bước được hiện đại hoá Tuy nhiên, ở một số công trình, trụ
sở vẫn còn nhiều bất cập, chưa tương xứng và chưa đáp ứng được yêu cầu,tiêu chuẩn đề ra
1.2.3 Vài nét khái quát về kinh tế Hòa Bình trước năm 1989
Sau hiệp định Giơnevơ, Hòa Bình lập lại, miền Bắc đi lên xây dựngChủ nghĩa xã hội Năm 1963, hợp tác xã Thạch Tiến, bao gồm phần lớn đấtđai của xã Thạch Giám, trong đó có bản Hòa Bình, được thành lập.Nhưng dođiều kiện tự nhiên khó khăn cộng thêm trình độ dân trí còn thấp nên hợp tác
xã Thạch Tiến hoạt động không hiệu quả Vì vậy, kinh tế Hòa Bình hoàn toànphụ thuộc vào nền kinh tế truyền thống của các dân tộc sống trên địa bàn màchủ yếu là phát rẫy làm nương
Các dân tộc thiểu số ở Hòa Bình, cả người Thái, người Mông và ngườiKhơ mú đều có chung truyền thống phát rẫy làm nương Mặc dù phương thứccanh tác giữa các dân tộc có khác nhau đôi chút nhưng đều giống nhau ở tập
Trang 30quán định canh du cư, và đều trải qua các biện pháp kỹ thuật liên hoàn: chọnđất, phát rừng, đốt và dọn, xới đất, trồng trọt và thu hoạch.
Nương rẫy của đồng bào thiểu số ở Hòa Bình có nhiều loại: nương lúagiải quyết nhu cầu về thóc gạo, nương ngô, nương sắn giải quyết nhu cầu vềlương ăn cho người và gia súc, rồi nương bông, nương kê, Các loại nươngtrên đều trồng xen khoai lang, khoai sọ, vừng, lạc, đậu, bầu bí, rau cải, Xungquanh nương rẫy lại được cài bằng hệ thống bẫy chim, bẫy thú để bảo vệ mùamàng vừa có thêm thực phẩm tươi cho bữa ăn hàng ngày
Cách canh tác của người Thái, người Khơ mú và người Mông trướcnăm 1989 còn mang nặng tính nguyên thuỷ và truyền thống, gần như hoàntoàn phụ thuộc vào thiên nhiên Họ không có tập quán bón phân cho câytrồng, việc chăm sóc chỉ là cuốc cỏ tấp vào gốc cây Công cụ làm nương rẫycũng hết sức thô sơ, chủ yếu là con dao quắm để phát rừng, cuốc bàn, cuốcbướm để xới đất, cở vạch để làm cỏ,”chẻ lẻ” để chọc lỗ tra hạt, cái “hép”đểgặt từng bông lúa và cái gùi, cái địu để thu hoạch những sản phẩm trênnương Năng suất hoàn toàn phụ thuộc vào chất đất, vào mưa nắng, vì vậynăng suất lúa thường rất thấp, đồng bào thường xuyên sống trong cảnh thiếuđói Để giải quyết cái đói trước mắt, đồng bào thường phá rừng làm rẫy mớikhi rẫy cũ đã bạc màu Đây cũng là nguyên nhân làm cho những cánh rừngmàu mỡ, rậm rạp ở Hòa Bình biến mất
Ngoài trồng lúa và xen canh thêm ngô, khoai, bầu bí, ở nương rẫy,trong mỗi gia đình người Thái, Mông thường có một mảnh vườn nhỏ, trồng
đủ các loại cây: cải, hành, tỏi, ớt, gừng, đu đủ, Một số rau cỏ mọc hoangnhưng ăn được cũng được bà con đưa về trồng trong vườn nhà Nhờthế,những ngày mưa gió hay những hôm bận bịu, mảnh vườn nhỏ ấy đã cungcấp đủ những nhu cầu về rau cỏ, gia vị trong bữa ăn
Mặc dù làm nương rẫy và trồng rau củ trong vườn nhà đã cung ứnggần như đầy đủ cho nhu cầu lương thực thực phẩm hàng ngày của đồng bào
Trang 31nhưng hái lượm vẫn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của bà con,
dù nó không phải là một ngành kinh tế chủ đạo như thời nguyên thuỷ Họ vàorừng tìm củ mài, củ nâu, cây khầu, cây khủa, lộc, búp non, hoa, quả, các loạinấm, măng, mộc nhĩ, rau cỏ, mật ong, các loại cây lá làm thuốc Công việchái lượm bao gồm cả việc bắt cá, tôm, cua, ếch nhái, các loại sâu bọ, động vậtnhuyễn thể Đây cũng là nguồn thức ăn ngon, có nhiều chất bổ có sẵn trongthiên nhiên và dễ kiếm được
Hái lượm là công việc của đàn bà và trẻ em Công cụ hái lượm rất đơngiản, gồm một cây gậy dài có móc để chọc, khều hoa lá ở trên cao, con dao đểchặt, cái thuổng nhỏ để đào bới, cái gùi để đựng Mùa nào thức ấy, nhữngcánh rừng, những con sông, con suối đã làm cho bữa ăn của đồng bào trở nênhết sức phong phú, đa dạng Vì thế sinh hoạt hái lượm đã trở thành tập quán
cổ truyền của phụ nữ và trẻ em người Thái cũng như người Mông và ngườiKhơ mú
Không những thế, để chiến thắng sự ốm đau, trong hái lượm, đồng bào,đặc biệt là người Mông cũng biết khai thác triệt để các loại cây thuốc, câydược liệu từ rừng hoặc trồng trong nương để chữa bệnh, từ đơn giản đến phứctạp, không chỉ cho người mà cho cả gia súc, gia cầm Có các loại cây thuốcdùng để chữa trị các bệnh cảm cúm như ngải cứu, tía tô, chữa bệnh cảmlạnh như củ đao, vỏ cây cuống tri Có loại cây thuốc như cây hoa trắng, quế,hồi, dầu de, hạt cây lanh, cây đại huyết, đằng dùng để bôi đắp ngoài da, hayđược dùng trong các trường hợp gãy, dập xương, bong gân và cầm máu vếtthương Có loại cây chữa các bệnh nội tạng như lị, đau dạ dày, đau bụng giun,trĩ như cây cỏ xước, cây rau muối, cây seo già, có loại cây vừa là bị thuốc,vừa là lương thực như y dị, khoai nưa, hoàng tích, củ mài
Để cải thiện cho bữa ăn hàng ngày, ngoài hái lượm, đồng bào còn tổchức săn bắn Đối với người thiểu số ở Tương Dương nói chung và ở Hòa
Trang 32Bình nói riêng, săn bắn là một nghề phụ rất phổ biến của nam giới khi tới tuổitrưởng thành Đi săn vừa để tìm nguồn thực phẩm, vừa để xua đuổi thú rừng,bảo vệ mùa màng, vừa là vui chơi giải trí lúc nhàn rỗi Như một nguồn cảmhứng, hoạt động săn bắn được tổ chức thường xuyên và hết sức phong phú.Đồng bào săn cả những con vật nhỏ, từ các loại gà rừng, chồn, sóc, chimmuông đến những con thú lớn như hổ, gấu, lợn lòi Vũ khí để săn bắn làsúng kíp tự chế tạo và các loại đơn giản như nỏ, dao, lao Các cuộc săn bắnthường được tổ chức theo 2 hình thức: săn cá nhân và săn tập thể Dù hìnhthức nào cũng phải có chó săn đi theo để hỗ trợ trong việc đánh hơi, tìm thú,đuổi thú Hình thức săn tập thể được tổ chức chu đáo, gồm nhiều người thamgia, và khi săn, ai làm việc gì, đứng ở đâu phải được phân công chu đáo.
Săn bắn đã đưa lại một nguồn thực phẩm tương đối dồi dào cho bữa ănhàng ngày của đồng bào
Ngoài trồng trọt,săn bắn và hái lượm, từ rất sớm cư dân Hòa Bình đãbiết đến chăn nuôi Đồng bào Thái và đồng bào Mông là hai dân tộc chănnuôi rất giỏi Vào bản người Thái, người Mông nào cũng thấy đầy rẫy nhữngtrâu, bò, lợn, gà, Đồng bào chăn nuôi các con vật trên để đáp ứng các nhucầu canh tác, sản xuất (trâu, bò), vận chuyển (ngựa), làm lễ vật khi tế lễ, thựcphẩm hàng ngày và cả trao đổi hàng hoá Trong các vật nuôi thì bò, dê, lợnđược nuôi nhiều và phổ biến hơn cả Mỗi gia đình thường có ít nhất là 1-2 con
bò, nhà giàu có đến vài ba chục con Nhiều vật nuôi của đồng bào đã trở nênnổi tiếng không chỉ đối với cư dân Hòa Bình mà còn đối với cả những vùng
cư dân lân cận như lợn của người Mông, chó săn của người Thái
Lợi dụng địa hình rộng, có nhiều bãi chăn thả nên các gia súc đượcchăn nuôi chủ yếu theo kiểu tự nhiên Chúng được thả tự do trong các bãi cỏtại các khu rừng, thỉnh thoảng mới có người đến thăm nom, nên ít nhiều bịthất thoát do bệnh tật, thú dữ
Trang 33Một tập tục khác trong chăn nuôi của người thiểu số ở Hòa Bình làthường làm chuồng lợn, gà, trâu bò ngay dưới sàn nhà rất mất vệ sinh và ônhiễm môi trường.
Như vậy, cùng với săn bắn, chăn nuôi đã góp phần rất lớn trong việcgiải quyết nhu cầu về thực phẩm cũng như sức kéo của đồng bào Trong điềukiện thiên nhiên ngày càng khó khăn thì việc phát triển chăn nuôi đã giúp chocuộc sống của đồng bào ổn định hơn để dần dần thoát ra khỏi sự phụ thuộcvào thiên nhiên Đó cũng là một điểm tiến bộ để giúp đồng bào dễ thích nghi,hòa nhập khi điều kiện sống thay đổi
Sống trong nền kinh tế tự cung, tự cấp, các gia đình người thiểu số ởHòa Bình đều biết làm một nghề thủ công Hầu hết đàn ông đều biết làm nhà,đan lát, làm đồ dùng, công cụ lao động, phụ nữ (trừ người Khơ mú) biết dệtvải, dệt thổ cẩm Nhiều nghề thủ công truyền thống của đồng bào rất nổi tiếngnhư nghề rèn của người Mông, nghề đan lát của người Khơ mú và nghề dệtcủa người Thái
Người Mông có rất nhiều nghề thủ công, song đặc sắc nhất là nghề rèn.Nghề rèn đạt trình độ kĩ xảo, rất nổi tiếng được nhiều cộng đồng các dân tộckhác ngợi ca Những sản phẩm từ nghề rèn của đồng bảo Mông như dao,búa, đều đạt chất lượng cao, song đáng chú ý nhất là kĩ thuật khoan cácnòng súng để làm súng săn bắn
Đối với người Mông, nghề rèn là một nghề thủ công truyền thống, có
vị trí quan trọng trong đời sống Sản phẩm nghề rèn của đồng bào không chỉ
để tự túc, tự cấp mà còn để trao đổi với các dân tộc khác, bởi giá trị của nótốt và được nhiều người ưa thích Đồng bào rất quý trọng nghề rèn, coi đó lànghề đầu tay của cơ nghiệp Hàng năm, hai lần đồng bào cúng ma Lò Rèn(Đá Lừ Mo) vì cho đó là vị thần ngự trị trong bễ lò và quyết định chất lượngcủa sản phẩm
Trang 34Người phụ nữ Thái ở miền núi Nghệ An nổi tiếng về việc dệt vải, thổcẩm và thêu thùa với mục đích giải quyết vấn đề mặc cho bản thân và giađình Đồng bào dệt vải để may và thêu: váy, áo, đệm, chăn, rèm che, các loạikhăn (piêu, tải, pang) Trong nghề dệt, dệt thổ cẩm đáng lưu ý nhất.
Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái ở Tương Dương nói chung, ở HòaBình nói riêng xuất hiện khá sớm Đó là nghề của phụ nữ, tuổi nhỏ ở nhà với
mẹ đã tập dượt làm nghề Sắp đi lấy chồng là đã biết dệt thành thạo rồi Khi
đã có chồng, có con, chị em lại càng phải dệt ra nhiều loại thổ cẩm, dệt chocon cái, dệt để dùng trong gia đình, dùng để trao đổi… Sản phẩm thổ cẩmThái có khi chỉ là vải màu, vải các màu xen kẽ, vải dệt hoặc thêu hình cây,con, hoa lá, hình kỉ hà
Nghề dệt thổ cẩm Thái là nghề cổ truyền, nó có tính chất gia truyền, chị
em Thái rất hãnh diện khi dệt được những tấm thổ cẩm đẹp Cả nhóm Tàychiềng và Tày Thanh đều biết dệt thổ cẩm Nhóm Tày Chiềng chuộng cácmàu đỏ trắng, vàng… Nhóm Tày Thanh chuộng màu đen Dù của nhóm nàothì thổ cẩm Thái ở Nghệ An cũng khác Thái Tây Bắc là màu sắc sặc sỡ hơn
Có như vậy, con người mới nổi bật với môi trường xung quanh, mới tạo đượcdấu hiệu ấm áp giữa núi rừng âm u, hẻo lánh
Mặc dù có nhiều sản phẩm thủ công nổi tiếng nhưng nghề thủ côngcũng như những nghề khác của đồng bào Thái, Mông, Khơ mú chủ yếu nhằmđáp ứng nhu cầu hàng ngày của đồng bào.ở đây hầu như không có sự trao đổi,buôn bán,có chăng cũng chỉ là hàng đổi hàng
Tóm lại, nền kinh tế ở Hòa Bình trước năm 1989 còn hết sức nghèonàn, lạc hậu, chủ yếu là nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín theo kiểu truyềnthống của các dân tộc thiểu số Người Kinh cũng đã sớm có mặt ở Hòa Bìnhnhưng chủ yếu là cán bộ công chức, một số ít làm nghề buôn bán nhỏ, nhưngchưa đủ sức làm nẩy sinh nền kinh tế hàng hoá ở vùng đất hẻo lánh này
Trang 351.2.3 Vài nét về truyền thống văn hóa của cư dân Hòa Bình
Đất Tương Dương xưa gọi là Kiềm Châu, đời Trần gọi là Mật Châu,nhà Minh gọi là Châu Trà Long, sau đổi thành Châu Trà Thanh, đến thời nhà
Lê gọi là phủ Trà Lân Đời Minh Mạng năm thứ 2 (1821), triều đình nhàNguyễn đổi phủ Trà Lân là phủ Tương Dương Phủ Tương Dương bao gồmcác huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Hội Nguyên, Vĩnh Hoà
Trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp chọn Cửa Ràolàm nơi đặt lị phủ của phủ Tương Dương
Sau cách mạng Tháng Tám, các đơn vị hành chính cấp phủ được đổithành huyện Vĩnh Hòa bị xoá tên, một số xã sát nhập vào huyện TươngDương Kể từ ngày Hội đồng chính phủ có quyết định thành lập huyện TươngDương, các xã có nhiều thay đổi Năm 1960, huyện lị chuyển về bản HòaBình, năm 1989 thành lập thị trấn Hòa Bình
Trên địa bàn Hòa Bình nói riêng và Tương Dương nói chung, chủ yếu
có 4 dân tộc chính là Kinh, Thái, Khơmú, H'Mông Trong lịch sử, các dân tộc
ở Hòa Bình đã cùng với các dân tộc khác ở Tương Dương kề vai sát cánhđoàn kết bên nhau, anh dũng kiên cường trong đấu tranh chống kẻ thù chungcủa Tổ quốc, cần cù, sáng tạo trong lao động, xây dựng đất nước
Ngay từ thời xa xưa trên đất Tương Dương đã có dấu tích của conngười, điển hình là các hang ở Bản Xiềng Lằm thuộc xã Hữu Khuông thuộcnền văn hóa Hòa Bình, di chỉ Cồn Đền (hay còn gọi là Đồi Đền) ở Cửa Rào(xã Xá Lượng) thuộc nền văn hóa Phùng Nguyên… Những di chỉ đó đãchứng tỏ ngay từ những ngày xa xưa, con người đã xuất hiện và sinh sốngtrên đất Tương Dương, trong đó có vùng đất Hòa Bình hiện nay
Từ ngày đất nước giành được độc lập từ tay bọn phong kiến phươngBắc, cư dân Hòa Bình nói riêng, các dân tộc ở Tương Dương nói chung đã kềvai sát cánh cùng nhân dân cả nước đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, xâydựng đất nước phồn thịnh, đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc
Trang 36Nhân vật lịch sử đầu tiên còn lưu lại khá nhiều vết tích trên đất TươngDương, đất Hòa Bình chínhlà Uy Minh Vương Lí Nhật Quang.
Lí Nhật Quang là con thứ 8 của Vua Lí Thái Tổ (1010 - 1028) người cócông lớn trong việc trấn thủ và khai phá vùng đất Nghệ An Riêng trên đấtTương Dương cũ, ông khai thác vùng tổng Huyền Lãng, huyện Vĩnh Hòa cũ(tức vùng đất thuộc xã Tam Quang, Tam Đình, Thạch Giám hiện tại)
Tại xã Tam Quang, nhân dân còn lưu truyền những Bãi Sa, Bãi Sở, bảnSơn Hà, Tam Bông, Khe Bồ, bản Nhùng, bản Tùng Hương… là do Lí NhậtQuang đem tù binh bắt được qua những trận đánh nhau với Chiêm Thành, với
cả phương bắc và phương tây nữa, về đây khai khoang lập bản Để giúp dânthuận lợi phần nào trong việc trồng trọt, ông cho đắp một cái đặp qua một cáikhe chảy qua sông Lam để đưa nước vào cái nương ruộng thuộc Bãi sở, Bãi
Xa Bản Mỏ Than (Khe Bố) hiện tại, xưa là đất của bản Phai Phai tiếng Thái
có nghĩa là cái nương, cái đập Phải chăng đây là dấu vết cái đập mà Lí NhậtQuang đã tạo dựng từ thời Lí Trước đây, ở bản Phai có một cái đền, gọi là đếnPàng (nay không còn), nhân dân cho rằng đó là đền thờ Lí Nhật Quang Đền Tà
Pù ở xã Sơn Hà đặt dưới tán lá ba cây cổ thụ (Cây chò, cây lát, cây sấu) cũngthờ Lí Nhật Quang Nhân dân trong xã gọi là đến thờ Nha Hầu Bang
Nhưng dấu vết đậm hơn cả là con đường thượng đạo đi từ Đô Lươngqua Anh Sơn, lên thành Trà Long thuộc phủ Trà Lân (huyện Con Cuông) rồilên Tương Dương và Kỳ Sơn đến giáp Lào hiện tại
Lí Nhật Quang chủ trương khai phá hay tu sửa, mở rộng con đường này
từ năm nào thì không thấy sử sách nào ghi rõ Nhưng trước đây dân gian vẫntruyền tụng người có công lớn trong việc mở con đường Thượng đạo từLường lên giáp biên giới Việt Lào là Lí Nhật Quang, nhằm mục đích để lưuthông nhanh chóng các tin tức, vận chuyển lương thực, khí giới thuận lợi vàbước đầu dễ dàng trong việc đi lại của nhân dân
Trang 37Để làm được con đường này, Lí Nhật Quang cho một số quan chức cácdân tộc người thiểu số ở địa phương thông thạo đường đi lối lại, điều tra, khảosát con đường thượng đạo lên phía Tây này Gần một nghìn năm đã qua, songchúng ta có thể hình dung con đường thựơng đạo này đi từ châu lị Nghệ Anlúc đó là từ vùng Bạch Ngọc (Đô Lương bấy giờ) men theo tả ngạn sông Lamlên Lăng Sơn, Vĩnh Sơn (Anh Sơn) qua đò sông Lam sang vùng Dừa Lạng rồimen theo hữu ngạn sông Lam lên Con Cuông, lên Khe Bố, đến CánhTráp,Cửa Rào, tiếp tục men theo sông Nậm Nơn lên mường Mật, mường Típ vàcuối cùng là biên giới Việt Lào Trên địa bàn Hòa Bình, con đường quốc lộ số
7 hiện tại phải chăng là hình ảnh của con đường thượng đạo xa xưa do LíNhật Quang khai phá từ đầu thế kỉ XI? Không có một tài liệu nào ghi chépnhưng chúng tôi tin chắc, trong số những người dân phu tham gia mở conđường này, đặc biệt là đoạn đi qua địa bàn Hòa Bình hiện tại, có nhiều là cưdân của vùng đất Hòa Bình
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định, từ đầu thế kỷ XI, với công cuộckhai phá của Lí Nhật Quang, vùng đất Hòa Bình (thuộc xã Thạch Giám cũ) đã
có thêm người cư trú, và cư dân Hòa Bình đã góp sức mình cùng khai phá nêncon đường Thượng đạo lên miền Tây Nghệ An, góp phần phá vỡ thế cô lậpcủa vùng đất để Hòa cùng sự phát triển của cả quốc gia, dân tộc
Đến thời Trần, cư dân Hòa Bình nói riêng, và cư dân Tương Dương nóichung đã góp phần không nhỏ trong việc dẹp tan giặc Ai Lao, bảo vệ sự bìnhyên của Tổ quốc từ mạn Tây, di tích còn lại cho sự đóng góp này chính làĐền Vạn (Cửa Rào - Xá Lượng, cách Hòa Bình 5km)
Năm 1335, quân Ai Lao (giặc Xá) sang xâm lược đất Nam Nhung(thuộc địa bàn huyện Kỳ Sơn và Tương Dương ngày nay) Thái ThượngHoàng Trần Minh Tông đã thân chinh cử Đoàn Nhữ Hài làm đốc tướng, trựctiếp chỉ huy quân thần vũ và quân Nghệ An để dẹp giặc Ai Lao Khi đến đấtNam Nhung, thấy đồng bào Kinh, Thái, Khơmú ở đây đồng tình ủng hộ, Đốc
Trang 38tướng nghĩ thế nào cũng đánh thắng và sẽ bắt được tù binh, sau đó sẽ diễu võ,dương uy để chiếu dụ nước chiếm thành và chân Lạp Thế nhưng không ngờ lạigặp phải địa hình hiểm trở, nước chảy xiết, sương mù bao phủ, quân giặc đãmai phục voi, ngựa ở sông Tiết La (tức khúc sông ở phía thượng lưu sôngLam) và đánh úp bất ngờ Quân của Đoàn Nhữ Hài chống trả lại không kịp,cuối cùng bị tiêu hao quá lớn Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài cũng bị chìm chết ởngã ba sông này Tại nơi ông hi sinh, nhân dân đã lập đền thờ, thờ ông, ngườitướng tài, đã hi sinh vì nền độc lập dân tộc, gọi là đến Cửa Rào (hay Đền Vạn).
Sau khi Đoàn Nhữ Hài hi sinh, Thái Thượng Hoàng Trần Minh Tông
đã củng cố lực lượng, cùng nhân dân địa phương đánh tan giặc Ai Lao, bảo vệ
sự bình yên của Tổ quốc
Đầu thế kỉ XV, nước ta rơi vào tay giặc Minh ở vùng đất Nghệ An,giặc Minh dựng thành Trà Long ở Châu Trà Lân (thuộc huyện Con Cuông vàTương Dương hiện nay) Đây là một cứ điểm quân sự quan trọng, án ngự trênxuống, dưới lên và cả từ Bắc vào, Nam ra Không những thế, đóng quân ở TràLong, quân Minh còn khống chế được cả một vùng rừng núi bao la và đầylâm sản thú vật quý
Để phát triển lực lượng, Lê Lợi quyết định đánh thành Trà Long, chiếmgiữ bình định Nghệ An làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào đất ấy để lấy nhân tài,vật lực trẩy ra Đông Đô
Cuộc chiến đấu ở thành Trà Long diễn ra ác liệt.Cuối cùng, được sựủng hộ, giúp đỡ hết lòng của nhân dân,Lê Lợi đã chiếm được thành, giảiphóng một vùng đất rộng lớn, làm bàn đạp để tấn công tiêu diệt giặc Minhxâm lược
Để làm được chiến thắng oanh liệt "Miền Trà Lân trúc chẻ tre bay"(Nguyễn Trãi), nhân dân Tương Dương, trong đó có không ít người con củavùng đất Piêng Bản (Hòa Bình), đã góp phần không nhỏ
Trang 39Vào giữa thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam đã đi đến chỗ suyvong Nhà Lê không giữ được giường mối, nhà Trịnh bạo nghịch hiếp vua,nhân dân điêu linh khốn khổ, một phong trào nhân dân đã nổi lên khởi nghĩarầm rộ, khắp nơi ở Tương Dương,đồng bào các dân tộc Thái, Khơ mú,Mông
đã tự giác đi theo đội quân của ông “vua áo đỏ”-Lê Duy Mật đánh giặc Dấutích còn lại cho cuộc khởi nghĩa này ở Tương Dương chính là đồn MườngMật (xã Thạch Giám), một trong mười sáu đồn trại mà Lê Duy Mật đã xâydựng ở miền Tây Nghệ An
Giữa thế kỉ XIX, thực dân Pháp sang chiếm nước ta, phong trào CầnVương nổi lên mạnh mẽ Ở phủ Tương Dương cũ có cuộc khởi nghĩa củaLang Văn Út, thường gọi là Quản Bông hay Hầu Bông, đã thu hút được đôngđảo nhân dân ở vùng Tam Quang, Tam Đình, Tam Thái, Thạch Giám cùngnổi dậy đánh giặc giữ nước.Cuộc khởi nghĩa đã kiểm soát được tuyến đườngchiến lược quan trọng (tuyến đường số 7 sau này) và gây cho thực dân Phápnhiều tổn thất nghiêm trọng
Trong phong trào Cần Vương chống Pháp ấy, bao người ở huyệnTương Dương, ở đất Piêng Bản đã đi theo nghĩa quân, ngấm ngầm giúp đỡnghĩa quân, điều đó chúng tôi chưa tìm hiểu được
Cuối năm 1887, đầu 1888, phong trào Cần Vương ở Nghệ An bị đàn áp
dữ dội Từ năm 1893 đến 1895, thực dân Pháp gấp rút mở con đường số 7 (từDiễn Châu lên Mường Xén) để đàn áp phong trào chống đối của nhân dântrong tỉnh, đồng thời phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của chúng
Đường số 7 chạy ngay trong lòng Piêng Bản,xã Thạch Giám Vì vậytrong số những giọt mồ hôi, nước mắt thấm sâu vào con đường này chắc chắn
có những giọt mồ hôi mặn chát, nhữmg giọt nước mắt cay đắng của ngườidân Piêng Bản
Từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tìm thấy con đường cứunước đúng đắn cho dân tộc, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào
Trang 40Đong Dương và Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, đồng bào các dân tộcTương Dương, trong dó có Piêng Bản, dần dần giác ngộ ý thức dân tộc, ýthức giai cấp và đã vùng dậy giành chính quyền, làm chủ xã hội trong cuộcTổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Năm 1954, hiệp định Giơnevơ được kí kết, Hòa Bình lập lại, đồng bàocác dân tộc ở Hòa Bình đã cùng nhân dân cả huyện, cả tỉnh, cả nước tién hànhcông cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế, pháttriển văn hóa- xã hội, ổn định dời sống, thực hiện cải cách dân chủ, cải tạo xãhội chủ nghĩa và góp phần vào cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là vùng đất nằmngay trên con đường chiến lược ở Tây Nam xứ Nghệ, lại là nơi đóng trụ sởcủa các cơ quan, ban ngành đầu não của huyện nên Hòa Bình đã phải hứngchịu không biết bao nhiêu là làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù Nhưng dưới
sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Hòa Bình đã chiến đấu kiên cường bất khuất
để bảo vệ sự bình yên của xóm làng Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ
ấy đã có rất nhiều người con của Hòa Bình đã ra đi theo tiếng gọi thiêng liêngcủa Tổ quốc Và, trong số ấy đã có không ít người nằm xuống, dùng xương vàmáu của chính mình để đổi lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc, đổi lấy Hòa Bìnhcho con cháu mai sau
Từ ngày tách huyện (5-1961),với tư cách là lị sở của huyện TươngDương mới, nhân dân Hòa Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng đã ra sức khắcphục khó khăn, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, từng bước ổn định đờisống xã hội Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhân dân Hòa Bình tiếp tụcphát huy truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa, thi đua yêu nước,tích cực phát triển kinh tế hộ gia đình, xoá đói giảm nghèo, làm giàu cho giađình và cho xã hội.Có được những điều đó chính là nhờ truyền thống đoàn