Triển khai kịp thời chủ trơng đổi mới của Đảng, Nhà nớc, căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phơng, Đảng bộ chính quyền huyện Nghi Lộc đã chủ động sáng tạo trong mỗi thời kỳ để từng b
Trang 1Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, Tiến sỹ Trần Vũ Tài đã tận tình hớng dẫn trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Lịch sử, Khoa
đào tạo Sau đại học Trờng Đại học Vinh Cảm ơn các cán bộ nhân viên th viện nhà trờng, th viện tỉnh, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Nghi Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện thành công luận văn này
Cùng cảm ơn tất cả bạn bè và ngời thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Mai Sơng
Trang 2A Mở đầu 1- Lý do chọn đề tài
1.1 Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã thống nhất giang sơn về một mối, cả nớc có điều kiện bắt tay vào khôi phục lại những vết thơng sau chiến tranh và tiếp tục công cuộc xây dựng CNXH Sau 10 năm xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN (1975 –1985), mặc dù đã đạt đợc những thành tụ cơ bản trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội nhng nhìn chung nền kinh tế nớc ta đang ở trong trạng thái khủng hoảng Vì thế yêu cầu đổi mới toàn diện đất nớc đợc đặt ra bức thiết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (15 – 18 / 12/ 1986) họp tại Hà Nội
đã đáp ứng yêu cầu lịch sử đó khi đề ra đờng lối đổi mới Công cuộc đổi mới do
Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo sau hơn 20 năm đã mang lại nhiều thành tựu to lớn Đất nớc từng ngày thay đổi nhng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức mới
1.2 Nghệ An nói chung, Nghi Lộc nói riêng trong thời kỳ thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiến hành đổi mới đã đạt đợc những thành tựu đáng kể về kinh tế - xã hội Triển khai kịp thời chủ trơng đổi mới của
Đảng, Nhà nớc, căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phơng, Đảng bộ chính quyền huyện Nghi Lộc đã chủ động sáng tạo trong mỗi thời kỳ để từng bớc phát huy nội lực, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn lấy phát triển sản xuất nông nghiệp làm nền tảng cơ bản cho sự phát triển kinh tế Bên cạnh đó ngành Du lịch - Dịch vụ chế biến nông lâm và thủy sản đợc đầu t đúng mức để hớng tới nền kinh tế mở Thành tựu từ sự đổi mới về kinh tế sẽ thúc đẩy diện mạo nông thôn và đời sống nhân dân ngày càng khởi sắc
1.3 Nghiên cứu về sự chuyển nền kinh tế huyện Nghi Lộc từ 1986 đến nay nhằm góp phần khẳng định sự đổi mới t duy, tính đúng đắn và sáng tạo trong đ-ờng lối xây dựng của Đảng, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, xác định nhiệm
Trang 3vụ trọng tâm để nhân dân Nghi Lộc thực hiện thắng lợi công cuộc mà Đảng đề
ra Trong bối cảnh Đảng bộ, chính quyền Nghi Lộc đang lãnh đạo đẩy mạnh công cuộc đổi mới, nghiên cứu đề tài này không những có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn Trên cơ sở những kinh nghiệm rút ra từ quá trình thực hiện đề tài chúng tôi mạnh dạn đề ra những giải pháp, đó có thể là những gợi ý tham khảo cho việc hoạch định chính sách để phát triển hơn nữa kinh tế Nghi Lộc hiện nay
Vì những lẽ đó mà chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề Chuyển biến của“
kinh tế Nghi Lộc trong 20 năm đổi mới (1986 - 2006)" làm luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ khoa học lịch sử
2- Lịch sử vấn đề
Bàn về công cuộc đổi mới của cả nớc nói chung, Nghi Lộc nói riêng là
vấn đề đang còn hết sức mới mẻ Việc nghiên cứu đề tài Chuyển biến của“
kinh tế Nghi Lộc trong 20 năm đổi mới (1986 - 2006)” hoàn toàn cha có một
công trình chuyên khảo nào Tuy nhiên, về tình hình kinh tế của huyện cũng
đ-ợc đề cập sơ lđ-ợc trong các công trình nh:
Năm 1991, NXB Nghệ An xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam Đảng bộ Nghi Lộc (Sơ thảo) Tập 1, 1954 về trớc”, đã đề cập
đến điều kiện tự nhiên và đặc điểm lịch sử - xã hội của huyện Nghi Lộc cũng
nh quá trình ra đời và phát triển của Đảng bộ Nghi Lộc từ 1930 đến 1954
Năm 1999, Nhà Xuất bản Nghệ An xuất bản cuốn “Lịch Sử Đảng bộ
Đảng Cộng Sản Việt Nam huyện Nghi Lộc (Sơ thảo) Tập 2, 1954 1996– ” Cuốn sách đã trình bày vai trò lãnh đạo của đảng bộ và đấu tranh của nhân dân huyện Nghi Lộc trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc XHCN, trong đó đề cập tới kinh tế của Nghi Lộc từ 1986 đến 1996 Tuy nhiên cuốn sách đánh giá cha thật đầy đủ và khoa học về thành tựu kinh tế Nghi Lộc trớc 1996
Trang 4Tác giả Bùi Quang Vinh trong cuốn Tâm lý của ngời nông dân Nghi Lộc trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã phản ánh rõ nét tâm lý của
nguời nông dân trứơc sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phơng vừa bàng hoàng, lo lắng nhng cũng vui mừng khôn xiết khi đợc chứng kiến sự thay đổi của quê hơng
Bên cạnh đó, thành quả về sự nghiệp phát triển Kinh tế Nghi Lộc còn đợc phản ánh trên: Báo Nghệ An, Bản tin nội bộ Nghi Lộc, Báo cáo tổng kết của
Đảng bộ Tỉnh Nghệ An Đặc biệt đợc đề cập nhiều nhất trong các báo cáo tổng kết từng năm, trong văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Nghi Lộc qua các khóa XXI đến XXVI Các văn kiện này đ… ợc lu hành nội bộ ở phòng t liệu của huyện và UBND huyện Nghi Lộc Đây là nguồn tài liệu gốc đáng tin cậy và hết sức quan trọng đối với đề tài
Nguồn tài liệu trên, phần trình bày lịch sử kinh tế còn khái lợc, cha có những tổng kết đánh giá một cách hệ thống để về sự phát triển của kinh tế Nghi Lộc Vì thế nó để lại một khoảng trống cần đợc tìm hiểu, bổ sung để có thể thấy
đợc bức tranh kinh tế của huyện Nghi Lộc rõ nét hơn
3- Đối tợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng, nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu “Chuyển biến của kinh tế Nghi Lộc trong 20 năm đổi mới (1986 - 2006)" trớc hết nghiên cứu điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội đối với
sự phát triển kinh tế Nghi Lộc
Trọng tâm của đề tài là tình hình và nhiệm vụ cách mạng qua từng giai
đoạn, nêu bật thành tựu, hạn chế trong lĩnh vực kinh tế của huyện để từ đó thấy
đợc sự chuyển biến kinh tế cũng nh tác động đến đời sống văn hóa - xã hội Mặt khác, rút ra những nhận xét khách quan, bài học kinh nghiệm và nhiệm vụ phát triển kinh tế trong thời gian tới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 5Phạm vi không gian là huyện Nghi Lộc (bao gồm cả thị xã Cửa Lò hiện nay), thời gian là trớc 1986 (khi Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới) đến 2006.
Phạm vi nội dung là tập trung nghiên cứu những chuyển bién về kinh tế của Nghi Lộc trong 20 năm đổi mới tức là những bớc phát triển và biến đổi trên các mặt của kinh tế huyện Nghi Lộc
4- Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Nghiên cứu đề tài Chuyển biến của kinh tế Nghi Lộc trong 20 năm“
đổi mới (1986 - 2006)” chúng tôi sử dụng nguồn tài liệu thành văn trong đó bao
- Tài liệu điền dã: Chụp ảnh minh họa, Khảo sát thực tiễn mô hình kinh
Với đề tài này luận văn có ý nghĩa là tập hợp nhiều nguồn t liệu liên quan
đến tình hình kinh tế - xã hội thuận tiện cho việc nghiên cứu lịch sử địa phơng,
đối chiếu, so sánh
Trang 6Mặt khác, nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về lịch sử kinh tế Nghi Lộc
từ 1986 - 2006 để từ đó đánh giá khách quan, khoa học về sự chuyển biến kinh
tế Nghi Lộc qua các giai đoạn Góp phần cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghi Lộc rút ra bài học kinh nghiệm, đề ra một số nhiệm vụ phát triển kinh
tế của huyện trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI
Góp phần giáo dục thế hệ trẻ tự hào, trân trọng những thành quả mà nhân dân Nghi Lộc đạt đợc trong thời gian qua, đồng thời củng cố niềm tin cho nhân dân Nghi Lộc vào con đờng mà Đảng đã lựa chọn
6- Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và phụ lục luận văn đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát kinh tế Nghi Lộc trớc 1986
Chơng 2: Kinh tế Nghi Lộc trong 10 năm đầu đổi mới (1986 – 1995)Chơng 3: Kinh tế Nghi Lộc thời kỳ CNH, HĐH (1996 – 2006)
Trang 7b nội dung
Chơng 1 Khái quát kinh tế Nghi Lộc trớc 1986
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội của Nghi Lộc
1.1.1.Điều kiện tự nhiên
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm sát phía Bắc thành phố Vinh trên tọa độ từ 18040 đến 18055 vĩ độ Bắc, từ 105028 đến
105045 kinh Đông, phía Bắc giáp hai huyện Yên Thành và Diễn Châu, phía Nam giáp thành phố Vinh và hai huyện Hng Nguyên, Nam Đàn, phía Đông giáp biển Đông và huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), phía Tây giáp huyện Đô Lơng, diện tích rộng gần 420km2 đến nay còn 370,8km2 (năm 1994 Cửa Lò theo Quyết
định của Chính phủ đã tách khỏi Nghi Lộc thành lập thị xã), gồm 33 xã và một thị trấn
Nghi Lộc có mạng lới giao thông đờng bộ, đờng sắt, đờng thuỷ, đờng không thuận lợi Có nhiều tuyến giao thông của TW và tỉnh chạy qua địa bàn huyện nh quốc lộ 1A (dài 22km), quốc lộ 46 (dài 19km), đờng sắt Bắc-Nam (dài 22km), sân bay Vinh phục vụ cho các chuyến bay nội địa và Quốc tế, tỉnh
lộ 534 (dài 28km) tỉnh lộ (dài 12km) Với chiều dài 14km bờ biển, có hai con sông lớn chảy qua địa bàn là sông Cấm (dài 15km), sông Cả (dài 6km) cùng với
hệ thống đờng liên huyện, liên xã, liên thôn đang dần đợc nhựa hoá, bê tông hoá để tạo thành mạng lới giao thông của huyện khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lu thông giữa huyện với thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các huyện có vị trí quan trọng bảo vệ an ninh quốc phòng
Huyện Nghi Lộc nằm trong vùng tiểu khí hậu Vinh - nơi có nhiệt độ mặt
đất diễn biến tơng tự và trùng hợp với thời gian nhiệt độ của không khí Vì vậy, mỗi năm có hai mùa: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng
10 Đầu mùa nóng cũng là lúc gió mùa Tây Nam (gió Lào) từ vịnh Băng Gan
v-ợt Trờng Sơn tràn sang với tốc độ mạnh, nhiệt độ cao, có lúc lên tới 40 - 42oC
Trang 8Những tháng có gió mùa Tây Nam ở Nghi Lộc không có ma hoặc có ma không
đáng kể, gây ra nạn “hạn không khí” nặng Tuy đã đợc hạn chế một phần của không khí biển song “hạn không khí” kết hợp với sự khô cằn của thổ nhỡng làm cho các loại thực vật bị khô héo, tàn lụi nhanh, các loại động vật chậm phát triển, sinh hoạt của con ngời cũng hết sức căng thẳng Đặc biệt khi nhiệt độ đạt tới đỉnh cao cũng là dịp các loại hoa màu đang thời kỳ sinh trởng, nớc sông Cấm vào thời điểm khô kiệt, thuỷ triều có điều kiện tiến sâu làm mất tác dụng thuỷ lợi của sông suối Tiếp sau gió Tây Nam và “hạn không khí” là mùa bão lụt kéo dài từ tháng 8 đến tháng 10, có năm tới tháng 11 Trên 70% lợng ma trong năm ở Nghi Lộc tập trung về mùa này, số còn lại tập trung bão lụt Tiểu Mãn (tháng 4, tháng 5) Mỗi lần có lụt do nớc từ các dãy núi đồi phía Bắc, phía Tây và Tây Nam đổ xuống nhanh, vận tốc sông Cấm chậm lại bị thủy triều cản nên gây ra úng kéo dài ở các cánh đồng dọc ven sông Cấm Mùa lạnh từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình mùa này ở Nghi Lộc không xuống quá 14oc Lợng ma trung bình rất thấp, bình quân chỉ 100 mm, mùa này cũng là mùa gió Đông Bắc, không khí biển tràn vào bị các núi đồi cản lại làm cho đất khô hanh giảm xuống, độ ẩm lên cao tạo điều kiện cho côn trùng phát sinh nhanh
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển, địa hình đa dạng, có hớng thấp dần
từ Tây sang Đông và có thể chia thành 2 vùng lớn Vùng bán sơn địa: phía Tây
và Tây Bắc của huyện có nhiều đồi núi cao, địa hình có độ dốc chênh lệch nhiều
do chia cắt bởi những khe suối; tại những khu vực này có những vùng đồng bằng phù sa xen kẽ tơng đối rộng
Vùng đồng màu: khu vực trung tâm và phía Đông, Đông Nam của huyện
có địa hình tơng đối bằng phẳng, chỉ có ít đồi núi thấp xen kẽ độc lập Đây là vùng có địa hình thấp nguồn nớc dồi dào và là vùng trọng điểm lúa của huyện
Trang 9Tài nguyên đất ở Nghi Lộc có các loại: feralít, đất mặn, đất phù sa không
đợc bồi, đất cồn cát đợc phân bố theo vùng nên tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế theo vùng
Tài nguyên khoáng sản không nhiều, ít chủng loại, chủ yếu chỉ có nhóm làm vật liệu xây dựng và một ít làm kim loại màu Đất sét, cao lanh ở xã Nghi Văn, đá xây dựng ở các xã Nghi Yên, Nghi Lâm, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi Vạn Mỏ Barit ở Nghi Văn, sắt ở Nghi Yên với trữ lợng rất thấp
Huyện Nghi Lộc có 14 km bờ biển tiếp giáp với Cửa Lò, tạo nên vùng bãi triều tơng đối rộng, tập trung ở 5 xã: Nghi Thái, Nghi Quang, Nghi Khánh, Nghi Thiết, Phúc Thọ Diện tích khoảng 12000 km2 có độ sâu đảm bảo cho tàu thuyền lớn ra vào dễ dàng Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp và hấp dẫn nh Bãi Lữ, Bãi Tiền Phong, Cửa Hiền, nớc sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp nuôi trồng, khai thác phục vụ chế biến thuỷ sản, phát triển du lịch và vận tải biển
Đó là những thuận lợi mà vị trí địa lý cũng nh thiên nhiên mang lại cho nhân dân Nghi Lộc Tuy nhiên, cũng có những khó khăn nhất định Chẳng hạn,
nh nói về khí hậu, học giả Trần Danh Lâm đã từng viết: “Cha sang hè, tháng cuối xuân đã nóng nh thiêu, cháy đồng nung đá, bão lụt từ Nam tới Suốt mùa hạ gió thờng thổi trận bay cát, đổ cây” Điều đó đã gây không ít khó khăn cho
bà con sản xuất nông nghiệp nói riêng, đời sống của cộng đồng dân c nói chung trong công việc đối chọi với khí hậu khắc nghiệt
Vùng bán sơn địa có nhiều đồi núi cao nhng địa hình có độ dốc chênh lệch
do chia cắt bởi những khe suối, đất phù sa không đợc bồi đắp Vì thế, đất bị chua, hàm lợng mùn ít hoặc trung bình, đất feralít bị xói mòn mạnh bề mặt, khó khăn trong việc khai khẩn canh tác đất đai
Khó khăn là vậy nhng con ngời nơi đây chịu thơng chịu khó vẫn kiên trì bám trụ mảnh đất cha ông để lại, vẫn “một nắng hai sơng”, “bán mặt cho đất, bán lng cho trời” để đối chọi với thiên nhiên, khai thác tài nguyên thiên nhiên
Trang 10của huyện trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội theo hớng CNH - HĐH, hoà nhập với xu thế phát triển của tỉnh và khu vực.
1.1.2 Điều kiện xã hội
Dân c huyện Nghi Lộc đợc hình thành sớm từ dọc ven sông Cấm và đờng Thiên Lý (tên có trớc khi có đờng quốc lộ I) rồi lan dần ra các vùng trong huyện, trớc hết là vùng phía Đông và Đông Nam theo sự lùi dần của biển Theo tộc phả của các dòng họ lớn lâu đời trên lãnh thổ huyện Nghi Lộc thì thuỷ tổ phần lớn từ phía Bắc vào, một số từ phía Nam ra Các cụm dân c đợc hình thành muộn từ thế kỷ XIV về sau, đều bắt nguồn từ trang trại khai khẩn đất hoang và thu góp ngời ở nhiều nơi đến
Sau khi biển lùi, nhánh sông Cấm phía Nam bồi lấp, ông Nguyễn Hội quê làng Cơng Gián, huyện Nghi Xuân chiêu dân lập ra 2 đồng muối Thợng Xá (Nghi Xá, Nghi Hợp) và Yên Lơng (Nghi Thuỷ) Tiếp đó, Nguyễn Xí - con thứ của ông là một danh tớng của nhà Lê lấy tù binh quân Minh (Trung Quốc) và quân Chăm Pa, Chiêm Thành khai phá đất hoang dọc bờ biển từ Cửa Lò đến Cửa Hội, làm cho dân c và ruộng canh tác vùng này ngày càng mở rộng
Đi đôi với phát triển dân c và ruộng đất canh tác ven biển, các trang trại khai khẩn đất hoang ở đồng bằng và bán sơn địa cũng đợc thành lập ngày càng nhiều Tuy vậy, trớc ngày Cách Mạng Tháng 8 - 1945, sự hình thành, phát triển dân c trong huyện còn mang tính tự nhiên và hết sức chênh lệch giữa các vùng Vùng phía Tây và Tây Nam từ tả ngạn sông Cấm trở lên chiếm 2/3 diện tích tự nhiên mà dân số không đầy 1/5 toàn huyện Ngợc lại, vùng phía Đông và Đông Nam từ hữu ngạn sông Cấm trở xuống, dân số chiếm trên 4/5 mà chỉ có trên dới 1/3 tổng số diện tích tự nhiên của huyện Ngày nay, trong vùng này, mật độ dân
số giữa các xã, vùng không đồng đều Có xã dân c tha thớt, hoang vu, có xã mật độ dân số lại quá cao, nhất là vùng các xã ven biển xung quanh Cửa Lò và Cửa Hội Các chợ trong huyện cũng đợc hình thành theo sự phát triển của từng cụm dân c Các chợ đợc hình thành tơng đối sớm ở Nghi Lộc là: Chợ Cọi, chợ
Trang 11Chùa, chợ Thợng, chợ Đình, chợ Sơn Do đặc điểm hình thành và phát triển dân c của huyện nên phần lớn dân c các làng, xã là ngời góp của nhiều địa ph-
ơng trong tỉnh và trong nớc Trong mỗi làng có nhiều nghề, nhiều họ; trong mỗi
họ có nhiều tên lót và mỗi vùng thậm chí mỗi làng có một giọng nói khác nhau Qua chung sống lâu đời và cùng lao động sản xuất, xây dựng gia đình, làng mạc, đất nớc, mọi ngời đã hoà hợp thành ngời chủ ở quê hơng mới, không còn phân biệt sắc tộc, dân c, dân quán Dân c trong từng làng, từng vùng đã đem hết sức lực, kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, kế tục nhau tự cải tạo và điều chỉnh về mọi mặt, nhằm không ngừng khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển ngành nghề, phục vụ cho nhu cầu sinh sống của mình và của xã hội Trong sản xuất, mọi ngời đã ra sức khai phá đất đai, mở rộng diện tích canh tác, chọn lọc những giống cây, giống con thích nghi với từng vùng, từng khoảnh, thậm chí từng thửa ruộng, từng mảnh vờn để khắc phục thiên tai, nâng cao năng suất
và phát triển nó ngày thêm phong phú, đa dạng
Tuy nghèo đói về đời sống vật chất, song tinh thần hiếu học trong nhân dân không ngừng đợc phát huy Thời kỳ chữ Hán còn đợc trọng dụng, ở trong huyện không có làng xã nào không có trờng học Các trờng này phần lớn là do các nho
sĩ nghèo tự lập và lấy đó làm nghề sinh sống Một số gia đình có điều kiện, hoặc tự mời thầy về nhà, hoặc chung nhau nuôi thầy cho con cháu học, không ít ngời đã thành đạt làm rạng danh cho quê hơng, đất nớc Theo "Hơng khoa lục triều" Nguyễn của Cao Xuân Dục thì từ khoa thi Hơng đầu tiên năm Đinh Mão (1807) đến khoa thi cuối cùng về chữ Hán năm Mậu Ngọ (1918), huyện Nghi Lộc có 83 ngời đỗ cử nhân ở trờng Nghệ An và các tỉnh Trong tổng số các khoa thi thời kỳ này có 6 khoa, mỗi khoa huyện Nghi Lộc có tới 4 ngời đỗ cử nhân Nhờ tiếp thu đợc những lời răn dạy về đạo lý làm ngời trong sách trong dân gian, cùng với tinh hoa văn hoá của các địa phơng trong nớc du nhập, nên
đời sống văn hoá của nhân dân huyện Nghi Lộc sâu đậm bản chất dân tộc nh: thờ phụng tổ tiên và những ngời có công với làng nớc, hiếu thảo đối với ông bà,
Trang 12cha mẹ, tình nghĩa thuỷ chung với bà con làng nớc đợc mọi ngời, mọi thế hệ gìn giữ, phát huy Các thói h tật xấu, trái với đạo lý làm ngời, trái với bản chất văn hoá dân tộc đều bị phê phán, đả kích gay gắt Tính bảo thụ lạc hậu trong đời sống văn hoá ở Nghi Lộc vẫn còn nặng nề, cần đợc phê phán Năm 1884, thực dân Pháp thiết lập nền cai trị của chúng trên đất nớc ta, biến nớc ta thành một n-
ớc thuộc điạ nửa phong kiến Chúng đã chia nớc ta làm ba kỳ, mỗi kỳ có một thủ đoạn cai trị riêng Nghi Lộc là địa phơng nằm trong xứ Trung kỳ, là xứ “Bảo hộ” của Pháp nên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong huyện đều biến đổi theo chính sách cai trị chung của Pháp trong cả xứ
Cũng nh các địa phơng khác trong xứ Trung kỳ, nhân dân Nghi Lộc cũng chung chịu cảnh “một cổ hai tròng” vừa thực dân, vừa phong kiến Hai kẻ thù này đã vơ vét, bóc lột nhân dân đến tận xơng tuỷ Vốn là một huyện nghèo, lại lâm vào cảnh áp bức, bóc lột khốn khổ, nhân dân huyện Nghi Lộc đã không ngừng phát huy truyền thống yêu nớc và cách mạng hun đúc bao đời nay vùng dậy đấu tranh, góp phần tích cực vào các phong trào cứu quốc Mặc dù tinh thần
và quyết tâm cứu quốc của nhân dân và những ngời lãnh đạo phong trào có thừa nhng vì thiếu đờng lối chính trị đúng đắn nên các cuộc vận động cách mạng ở nớc ta đều thất bại Đến những năm 20 của thế kỷ, cuộc vận động cứu quốc ở n-
ớc ta lâm vào ngõ cụt Tuy vậy, cũng nh nhân dân cả nớc, nhân dân Nghi Lộc không thất vọng, không nhụt ý chí, vẫn nuôi dỡng tinh thần chiến đấu, đón chờ bớc phát triển mới của cách mạng
Sự kiện ngày 03/2/1930 ĐCSVN ra đời đã mở ra bớc ngoặt vĩ đại cho cách mạng nớc ta ĐCSVN ra đời không những khai thông sự khủng hoảng bế tắc về
đờng lối chính trị, mà còn đáp ứng kịp thời yêu cầu cấp bách, chín muồi của nhân dân và công nhân
Ngay sau khi đợc thành lập, Đảng bộ huyện Nghi Lộc đã kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, phát triển tổ chức Đảng với sử dụng các hình thức tổ chức để tập hợp các lực lợng quần chúng cách mạng, nhất là nông dân và dựa vào các tổ
Trang 13chức đó để tuyên truyền, giáo dục động viên mọi ngời thực hiện các chủ trơng của Đảng Trong đấu tranh, Đảng bộ đã kết hợp chặt chẽ với phong trào công nhân và nhân dân thành phố Vinh, Bến Thuỷ và các địa phơng khác, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển Các Đảng viên của Đảng bộ dù xuất thân ở tầng lớp nào, tuyệt đại bộ phận đều là chiến sỹ tiên phong, đại biểu cho quyền lợi và nguyện vọng của giai cấp, của dân tộc, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, đợc nhân dân tin yêu và noi gơng Đợc các Đảng viên tuyên truyền và giác ngộ về
đờng lối cách mạng của Đảng, tuyệt đại bộ phận nhân dân trong huyện, không phân biệt giàu nghèo, lơng, giáo đã xiết chặt hàng ngũ vững bớc đấu tranh và đã giành đợc những quyền lợi thiết thực bớc đầu, càng củng cố lòng tin vững chắc vào sự dẫn đờng của Đảng, bất chấp sự khủng bố điên cuồng của địch Hàng trăm gia đình cả giàu lẫn nghèo đã cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ xứ uỷ Trung kỳ, Tỉnh uỷ Vinh đến huyện uỷ, phân uỷ, Tổng uỷ, chi bộ Đảng, các tổ chức quần chúng mợn nhà mình làm nơi hội họp, in tài liệu và xuất cơm gạo nuôi các cán bộ Đảng hoạt động, không hề tính toán với cách mạng Đảng bộ huyện Nghi Lộc đã gắn bó máu thịt với nhân dân, tạo thành sức mạnh “chọc trời” áp đảo kẻ thù, giành quyền lợi và tiến lên Mặc dù, bị kẻ thù dùng mọi thủ
đoạn khủng bố vừa nham hiểm vừa tàn bạo, tổ chức bị đánh phá tan đi lập lại liên tục, nhng “không làm giảm sút đợc tinh thần cách mạng của các chiến sỹ”,
Đảng vẫn duy trì hoạt động kéo dài Phong trào cách mạng Nghi Lộc đã góp phần cùng với cả tỉnh tạo nên đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 - 1931 ở nớc ta là Xô Viết Nghệ Tĩnh, mãi mãi để lại dấu ấn rực rỡ trong nớc và trên thế giới Sau thời kỳ 1930 - 1931, Đảng đợc phục hồi trở lại, Đảng bộ huyện tiếp tục lãnh đạo nhân dân trong phong trào đấu tranh cách mạng chống phát xít Nhật, nhân dân cả nớc giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng tháng 8 - 1945 thành lập nên nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ Khi Pháp trở lại xâm lợc nớc ta, cũng nh nhân dân cả nớc, nhân dân Nghi Lộc lại tiếp tục chiến đấu bảo vệ quê hơng đất nớc Trong suốt 9 năm đó
Trang 14(8/1945 – 7/1954), nhân dân huyện Nghi Lộc đã hiến dâng cho Tổ quốc 618 liệt sỹ và 1770 thơng binh, góp phần làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.
Thực dân Pháp rút lui thì đế quốc Mỹ lại nhảy vào xâm lợc nớc ta Mảnh
đất Nghi Lộc một lần nữa lại phải hứng chịu đạn bom của đế quốc Đạn bom của đế quốc Mỹ đã xé nát mảnh đất Nghi Lộc thành từng mảnh, nhng ý chí quyết tâm của nhân dân Nghi Lộc không hề bị lay chuyển, vẫn kiên quyết bám trụ chiến đấu để bảo vệ quê hơng yêu dấu Vừa là chiến trờng ác liệt nhng cũng vừa là hậu phơng vững chắc cho chiến trờng miền Nam, nhân dân Nghi Lộc luôn đáp ứng mọi yêu cầu chỉ tiêu trên giao Riêng về tuyển quân, năm 1975 Nghi Lộc đạt tới đỉnh cao 3175 ngời, trong đó có 596 nữ, 538 thanh niên giáo dân nhập ngũ Số lợng này bằng tổng số quân 9 năm trớc (1965 - 1974) cộng lại Huyện đợc tỉnh tuyên dơng là đơn vị dẫn đầu về tuyển quân
Suốt 9 năm, kể từ ngày 5/8/1964 đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc
đến ngày 30/4/1975 kết thúc trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc của nhân dân ta, đợc sự lãnh đạo của Trung ơng Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với toàn Đảng, Đảng bộ huyện Nghi Lộc đã lãnh đạo nhân dân chiến đấu khắc phục và vợt qua muôn vàn khó khăn thử thách giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần xuất sắc vào sự nghiệp xây dựng CNXH và
đấu tranh thống nhất nớc nhà
Nhân dân huyện Nghi Lộc vốn có truyền thống cần cù lao động, chịu đựng gian khổ hy sinh với cách mạng, tự lực tự cờng, đoàn kết tơng trợ nhau trong cuộc sống, chiến đấu, xây dựng và khắc phục thiên tai địch họa Truyền thống
ấy lại đợc nhân dân nhân lên gấp bội từ khi có quan hệ sản xuất mới XHCN Mặc dù chiến tranh ác liệt, khó khăn thiếu thốn chồng chất, song tính cộng
đồng trong nhân dân huyện nhà không ngừng phát huy Đạo lý: mình vì mọi
ng-ời, mọi ngời vì mình, sống với nhau thuỷ chung có tình có nghĩa trở thành nếp
Trang 15sống của mọi ngời Tinh thần yêu nớc, yêu CNXH và lòng căm thù giặc đã quyện vào nhau, tạo nên sức mạnh vô địch
Trong việc vận dụng thực hiện các chủ trơng, chính sách của Đảng ở địa phơng, Đảng bộ huyện nhà luôn có ý thức gắn chặt giữa hai nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, gắn phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội với xây dựng củng cố quốc phòng an ninh quốc gia Nhờ đó, bất cứ trong hoàn cảnh nào tình hình chính trị - xã hội ở huyện nhà luôn ổn định, mọi chủ trơng chính sách của
Đảng và chính phủ đều đợc thực hiện nhanh, nhạy và mọi nghĩa vụ đối với nhà nớc đều hoàn thành xuất sắc
Từ đổ nát hoang tàn do chiến tranh để lại, Đảng bộ và nhân dân Nghi Lộc lại bắt tay xây dựng huyện nhà “đàng hoàng hơn” Cuối thế kỷ XX mảnh đất Nghi Lộc đã thay đổi từng ngày Hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, trờng học, bệnh viện ngày đợc đầu t xây dựng hiện đại Đời sống nhân dân đợc nâng cao Nghi Lộc thực sự là cửa ngõ quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của thành phố Vinh
1.2 Tình hình kinh tế xã hội Nghi Lộc tr– ớc năm 1986
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975) cả nớc vui mừng trong không khí hoà bình thống nhất đất nớc Thực hiện Nghị quyết 425 ngày 20/9/1975 của Bộ Chính trị Trung ơng Đảng về bỏ cấp khu, sát nhập tỉnh, ngày 01/11/1975 Thờng Vụ Tỉnh uỷ hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ra thông báo đặc biệt về hợp nhất hai tỉnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh Nhân dân Nghi Lộc bớc vào giai
đoạn cách mạng mới: xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc VNXHCN Trong không khí phấn khởi tng bừng của cả nớc vừa thực hiện thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội của nớc Việt Nam thống nhất, từ ngày 19 đến 29/5/1976,
Đảng bộ huyện Nghi Lộc họp Đại hội đại biểu lần thứ XVII Ngoài nội dung tổng kết, đánh giá những kết quả đạt đợc của nhiệm kỳ trớc, đại hội còn chỉ ra những hạn chế khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Đại hội đã căn cứ vào thực trạng tình hình kinh tế - xã hội ở huyện nhà sau ngày đất
Trang 16nớc thống nhất, đề ra phơng hớng, nhiệm vụ, mục tiêu: “Tích cực mở rộng diện tích, đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng, mở rộng chăn nuôi toàn diện tạo
điều kiện trong những năm tới tự túc hợp tác trong huyện và làm một phần nghĩa vụ nhà nớc; tăng sản lợng cây công nghiệp và hàng xuất khẩu, mở rộng nghề sản xuất cá và sản xuất thủ công nghiệp với quy mô lớn, nhằm đa huyện nhà thành một huyện có nền kinh tế phát triển toàn diện, góp phần xây dựng cơ
sở vật chất cho CNXH và nâng cao đời sống cho nhân dân” [2, 40]
Tháng 12/1976 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã đề ra đờng lối xây dựng CNXH trong kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) chung cho cả nớc Mục tiêu của kế hoạch 5 năm là nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng KH - KT, cách mạng văn hoá t tởng, lấy cách mạng KH - KT làm then chốt
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội IV của Đảng và trực tiếp là Đại hội
Đảng bộ huyện Nghi Lộc lần thứ XVII, XVIII, XIX, Đảng bộ và chính quyền
đã phát động toàn dân thi đua lao động sản xuất, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đề ra Kết quả đã gặt hái đợc nhiều thành công
Để khai thác tiềm năng tài nguyên và lao động có hiệu quả, huyện đã chủ trơng phát triển kinh tế theo đặc điểm từng vùng Theo quy hoạch, toàn huyện
có 38 xã đợc chia thành 5 vùng, vùng bán sơn địa, vùng lúa chủ động nớc, vùng màu thuần nông, ng nghiệp hỗn hợp, vùng thuần ng Mỗi vùng có yêu cầu, mục tiêu và các biện pháp phát triển kinh tế khác nhau, cơ cấu giống cây, giống con
đợc bố trí thích hợp nhằm phát huy tiềm năng ruộng đất, lao động tạo ra hiệu quả kinh tế cao Bên cạnh đó, tranh thủ tích cực sự hỗ trợ của tỉnh và tập trung mọi khả năng ngân sách của địa phơng, đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất phục
vụ cho phát triển sản xuất
Vụ mùa năm 1977, Nghi Lộc là một trong những huyện ở tỉnh Nghệ Tĩnh gặp một đợt hạn kéo dài suốt 4 tháng liền Nớc ở các đập, các hồ, ao cạn kiệt
Trang 17Ruộng đồng khô cứng, nứt nẻ, nớc mặn sông Cấm dâng sâu Trớc tình hình ấy,
đi đôi với phát động phong trào toàn Đảng toàn dân chống hạn với khẩu hiệu
“tìm nớc mà tát”, “tìm nguồn mà khơi” để cứu lúa, cứu mạ làm mùa Huyện chủ trơng ngăn sông Cấm để chặn mặn giữ ngọt, tạo nguồn nớc cho các trạm bơm
điện của hệ thống nông giang hoạt động, đã huy động cán bộ, công nhân viên chức đóng trên địa bàn và 2 nghìn dân công các xã tham gia vào công trình này Hàng chục chiếc thuyền, hàng ngàn cây tre, phi lao, bạch đàn, 3 nghìn bao bì
đựng đất, 15 nghìn con cúi kết bằng rơm, rạ ở các xã đợc huy động lên công trờng với quyết tâm cao Bằng lao động thủ công, trong hơn một tuần lễ công trình đã hoàn thành thắng lợi Nhờ ngăn đợc nớc mặn, giữ đợc nớc ngọt nên trạm bơm ở hai hệ thống nông giang dọc 2 bên sông Gai, sông Cấm trở lại hoạt
động và phát huy hết công suất Ngoài ra, nông dân còn đào thêm hàng nghìn
km kênh mơng để chống hạn cho lúa và tiêu nớc cho vùng màu Trong 2 năm
1977 - 1978 đã có 34.000 lợt ngời tham gia công trình thuỷ lợi, 644.000 công xây dựng vùng kinh tế mới, 5.500 công cải tạo bình chỉnh đồng ruộng, 320.000 công xây dựng giao thông nông thôn và 1873 ngày công góp vào công trình thuỷ lợi của tỉnh ở Vách Bắc và sông Nghèn Tính ra mỗi lao động trong huyện,
2 năm đã góp 150 ngày công [2;139]
Hạn hán vừa đợc khắc phục thì huyện Nghi Lộc lại phải hứng chịu một trận lụt lớn cha từng có làm 7.000 ha lúa ở các xã vùng Tây Nam huyện bị ngập Công trình ngăn sông Cấm sử dụng cha đợc nửa năm, nay buộc phải dùng hàng tấn bộc phá phòng thuỷ để kịp cứu lúa
Hậu quả thiên tai cha khắc phục xong, chiến tranh biên giới phía Nam, phía Bắc nớc ta lại bùng nổ Nghi Lộc nằm ở vị trí chiến lợc tuyến phòng thủ xung yếu cuả tỉnh Nghệ Tĩnh, Quân khu 4 nên phải dồn sức vào xây dựng quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu Nhận đợc lệnh huy động của tỉnh, sau 2 ngày huyện Nghi Lộc đã giao cho đoàn II 400 quân và 13 ngày sau hoàn thành nghĩa vụ giao quân cho các đội Mọi chỉ tiêu trên giao, huyện đều vợt mức: tuyển quân
Trang 18đạt 601/528 ngời, lơng thực đạt 4800/3500 tấn, nông sản đạt 722/700 tấn, thực phẩm đạt 70/612 tấn Trong 2 năm 1978 - 1979, huyện Nghi Lộc đã động viên tới 4.585 thanh niên nhập ngũ (trong đó có 750 nữ, 447 thanh niên giáo dân), hàng chục cán bộ đợc tỉnh điều đi tăng cờng cho các biên giới phía Bắc [2;140]Sau nông nghiệp, kinh tế ng nghiệp của huyện Nghi Lộc cũng đợc tỉnh đầu
t lớn Cả tỉnh có 16 hợp tác xã trọng điểm đầu t của tỉnh, thì có 7 hợp tác xã của huyện Nghi Lộc: Hai Trung, Vạn Giang (Nghi Tân), Thống Nhất, Hải Đông, Phơng Đông (Nghi Thuỷ), Hoà Bình (Nghi Hải), Vạn Xuân (Nghi Xuân) Trong năm 1975, các hợp tác xã trọng điểm của Nghi Lộc đợc đầu t mua sắm 2 tàu trang bị máy 140 CV là tàu đánh cá cỡ lớn đầu tiên của tỉnh Nghệ Tĩnh và 2 tàu trang bị máy 80CV, 35 thuyền đánh cá bằng ánh sáng, 140 dạ tôm, 140 dạ mốc [2;143]
Ngành thủ công nghiệp của huyện Nghi Lộc cũng là 1 trong 2 đơn vị của tỉnh (Nghi Lộc và Vinh) năm 1975 đạt doanh thu cao nhất là 20triệu đồng/năm Tiêu biểu là hợp tác xã Tiên Phong (Nghi Thuỷ), xí nghiệp đóng tàu thuyền sông Lam (Nghi Hải) Với tinh thần tự chủ sáng tạo, các cơ sở này đã biết khai thác nguyên liệu tại chỗ, hoàn thành tốt nghĩa vụ sản xuất, cải thiện đời sống cho xã viên, cung cấp nhiều hàng hoá cho nhà nớc, đảm bảo tích luỹ cho đơn vị Ngành nghề thủ công nghiệp phát triển nhanh nhất là nghề nung vôi, nung gạch ngói, khai thác đá, khai thác vật liệu không nung phục vụ cho nhu cầu xây dựng của Nhà nớc và HTX Hoạt động chuyên làm nghề thủ công nghiệp toàn huyện đến năm 1979 đã lên tới 15.000 ngời
Sau 5 năm vận dụng thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IV của
Đảng, đến cuối 1980 kết thúc kế hoạch Nhà nớc 5năm (1976 - 1980), tình hình kinh tế Nghi Lộc đã có bớc tiến quan trọng Năm 1980 so với 1976, diện tích canh tác nông nghiệp từ 24.300 ha năng lên 27.983 ha tổng sản lợng kinh tế quy thóc 33.133 tấn nâng lên 40.983 tấn, nghĩa vụ Nhà nớc từ 2.705 tấn nâng lên 3.772 tấn Tổng đàn trâu bò từ 23.016 nâng lên 26.008 con Tổng đàn lợn đạt
Trang 1946.000 con, sản lợng cá biển từ 400 tấn nâng lên 5.000 tấn Doanh thu của thủ công nghiệp 10,6 triệu nâng lên 20 triệu đồng Các mặt tài chính, ngân hàng th-
ơng nghiệp đều có chuyển biến tích cực, nhiều đơn vị đợc ngành công nhận là lá cờ đầu của tỉnh, của huyện Quốc phòng an ninh tiếp tục đợc củng cố, nâng cao chất lợng[2;150]
Mặc dù bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn song sự nghiệp giáo dục, y tế phát triển toàn diện, với tốc độ nhanh
Đến năm 1980, tất cả các trờng học đều đợc xây dựng lại nhà cấp 4 bằng gạch ngói Trờng cấp 3 ngoài trờng Nghi Lộc I và Nghi Lộc II, xây dựng thêm trờng Nghi Lộc III Tổng số học sinh của cả hệ phổ thông cấp 1, cấp 2, cấp 3 và
hệ bổ túc văn hoá là 4.800 em, số cháu vào trờng mẫu giáo là 7.212 cháu, số cháu vào nhà giữ trẻ là 6.522 cháu 10 xã đợc tỉnh công nhận thanh toán phổ cập cấp 1 cho toàn dân trong độ tuổi 13 cơ quan đợc công nhận phổ cập cấp 2 cho cán bộ công nhân viên chức 4 xã: Nghi Diên, Nghi Hoa, Nghi Phơng, Nghi Vạn đã xây dựng thành công “xóm làng nông thôn mới Xã hội chủ nghĩa” 100% nhà hộ sinh đợc xây gạch, lợp mái ngói Lực lợng cán bộ y tế xã có tới
210 ngời Mỗi đội sản xuất đã có một cán bộ ytế chăm sóc công tác vệ sinh, bảo
vệ sức khoẻ cho nhân dân [2;151]
Đó là những kết quả mà Đảng bộ và nhân dân Nghi Lộc đã đạt đợc trong 5 năm đầu tiên sau ngày giải phóng Mặc dù còn nhiều hạn chế nhng nó tạo bớc
đệm cho những năm tiếp theo
Nghị Quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng đang đi vào cuộc sống thì tháng 10 - 1982 cơn bão số 7 có sức gió mạnh cấp 12 đổ bộ vào tỉnh Nghệ Tĩnh, gây ra thiệt hại cực kỳ nghiêm trọng và toàn diện ở hai tỉnh Đối với huyện Nghi Lộc, hầu hết các xã và 128 cơ quan, công nông trờng, xí nghiệp, trạm trại, bệnh viện, trờng học đều bị bão tàn phá Toàn huyện có 52.152 ngôi nhà, trong đó có 20.860 ngôi nhà ngói bị tàn phá, làm 9.842 hộ gồm 60.652 nhân khẩu không còn nhà ở, 21 ngời chết, 86 ngời bị thơng, 35 con trâu bò,
Trang 201.500 con lợn chết Trên 900 tấn thóc , 240 tấn lạc và toàn bộ thuốc lá, ớt cay và mặt hàng xuất khẩu trong kho trở thành phế phẩm, 70% diện tích lúa và hoa màu bị phá hoại, 66 thuyền, 51 cái bè, 50 máy nổ, 930 vàng lới các loại, 25 tấn dầu, 200 tấn muối h hỏng Tài sản thủ công nghiệp thiệt hại tới 65 triệu đồng Hầu hết đê ngăn mặn sụt lở làm nhiễm mặn tới 85ha diện tích canh tác, cây cổ thụ, cây lu niên, và phần lớn cột điện bị đổ ngã [2;154;155].
Sau cơn bão, toàn dân đều dồn sức vào khắc phục hậu quả, nhờ sự cố gắng vựơt bậc của cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận huyện và cơ sở, cùng với sự
hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của TW và các đơn vị, huyện Nghi Lộc đã nhanh chóng vợt qua đợc khó khăn, ổn định đời sống tiếp tục thực hiện nhiệm vụ Hậu quả cơn bão tạm thời đợc khắc phục Biện pháp đầu tiên đợc huyện tập trung chỉ
đạo là làm thuỷ lợi Ngoài huy động 130.000 ngày công nạo vét và đào đắp kênh mơng tới tiêu trên các cánh đồng, tu sửa 30km đê ngăn mặn và hồ đập nớc
bị sụt lở, khởi công hàng chục công trình thuỷ lợi mới nh: làm thêm hồ chứa
n-ớc ở Nghi Công, đắp đập Đờng Trẻ và đập khe Nu ở xã Nghi Kiều, đắp đập ồ ồ
ở xã Nghi Đồng, xây dựng trạm điện ở hai xã Nghi Mỹ và Nghi Yên Tổng số vốn của công trình là 20 triệu, trong đó vốn hợp tác xã là 12 triệu đồng, vốn nhà nớc là 8 triệu đồng Các công trình đều đợc hoàn thành nhanh, mở ra bớc phát triển mới về sản xuất nông nghiệp ở những xã này
Chủ trơng dời dân ở vùng có mật độ dân cao đến vùng có mật độ dân tha, kết hợp xây dựng vùng kinh tế mới đợc tiến hành tích cực liên tục hàng năm và với quy mô lớn Riêng 5 năm 1981-1985, huyện đã chỉ đạo chuyển dời 2.700 hộ gồm 6.782 lao động 16.179 nhân khẩu ở 15 xã phía Đông đi xây dựng kinh tế mới, trong đó 1.500 hộ có 4.000 lao động 10.000 nhân khẩu lên bốn xã phía Tây huyện là: Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Lâm, Nghi Công 1.200 hộ gồm 2.782 lao động, 6.179 nhân khẩn đi vào tỉnh Đắc Lắc theo Nghị định 82 của chính phủ[ 2; 158]
Trang 21Đi đôi với di dân, chính quyền đã tập trung vốn, nhân lực, vật liệu vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng cho 8 xã vùng bán sơn địa từ phía Tây sông Cấm trở lên Đến 1985 ở vùng này đã có 16 công trình thuỷ lợi, bao gồm 4 đập nớc lớn, 10 hồ chứa nớc nhỏ, 2 trạm điện, 30 km đờng liên xã, 8 cầu lớn nhỏ, 6 trờng PTCS, 1 trờng PTTH, 1 phòng khám bệnh đa khoa khu vực và các trạm xá của xã Nhờ có những biện pháp tích cực, bộ mặt kinh tế xã hội ở các xã vùng bán sơn địa phía Tây huyện không ngừng đổi mới: 70% diện tích
đất canh tác chủ động nớc, khu dân c dẫn đầu trên địa bàn, diện tích canh tác mởi rộng, các đồi núi trọc đợc phủ kín cây xanh, kỹ thuật canh tác đợc đổi mới theo hớng thâm canh chăn nuôi phát triển, đời sống vật chất, tinh thần ngày càng tăng tiến, các mô hình kinh tế vờn đồi, trang trại, chăn nuôi trâu bò đàn xuất hiện
Đồng thời với xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, điều hoà mật độ dân c và lao động giữa các vùng để khai thác tài nguyên đất đai chính quyền huyện đã chỉ đạo các hợp tác xã tích cực chuyển đổi cơ cấu các loại cây trồng lấy năng suất và hiệu quả kinh tế làm mục tiêu Chủ trơng này đợc xúc tiến mạnh mẽ từ khi thực hiện Chỉ thị 100 ngày 13/2/1981 của Ban Bí th Trung ơng Đảng về khoán sản phẩm cho nhóm và ngời lao động trong các hợp tác xã Tất cả các nhóm và ngời lao động sau khi nhận khoán đều phát huy cao tính năng động trong việc tìm tòi nghiên cứu, tiết kiệm chi phí sản xuất, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào thâm canh tăng năng suất, phấn đấu vợt khoán để tăng thu nhập cho mình, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể đợc kết hợp chặt chẽ, tạo ra
động lực mới trong phát triển công nghiệp Việc chăn nuôi gia súc để tăng sức cày kéo, tăng nguồn phân bón, tận dụng hết diện tích canh tác, thực hiện luân canh gối vụ trồng xen trở thành ý thức của nhóm và ngời lao động Nhờ đó, năm 1985 so với năm đầu của kế hoạch, giống mới chiếm 77,2% tổng số giống cây gieo trồng, hệ số sử dụng đất nâng lên 1,75 lần Vụ hè thu chuyển thành vụ chính và thâm canh toàn diện Diện tích trồng cây năng suất thấp đợc chuyển
Trang 22sang trồng cây năng suất cao Các loại cây công nghiệp và hàng hóa xuất khẩu
nh : vừng, lạc, ớt cay, tỏi tăng nhanh cả về diện tích và năng suất Việc giao
đất, giao rừng, trồng cây đạt kết quả khá Số lợng và trọng lợng đàn lợn đều tăng Lần đầu tiên trong huyện đã có 4 xã vùng lúa chủ động nớc là Nghi Diên, Nghi Vạn, Nghi Công, Nghi Lâm đạt bình quân lúa từ 7 đến 8 tấn ha/năm Số xã ổn định năng suất lúa bình quân từ 5 đến 6 tấn ha/năm ng y c ng nhiều.à àTổng số lơng thực quy ra thóc toàn huyện năm 1985 đạt tới đỉnh cao so với nhiều năm trớc đó là 41.785 tấn Ngày 29/9/1985 đồng chí Nguyễn Văn Đạt chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp xã Nghi Diên đợc chính phủ phong Anh hùng lao động nông nghiệp Cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và ngời lao động không chỉ thực hiện trong nông nghiệp mà thực hiện cả trong các hợp tác xã ng nghiệp Sau khi đợc giao khoán, nhiều đội, nhiều tổ thuyền đã chung nhau vay vốn đầu t cho sản xuất Năm 1985 so với năm 1984 thuyền tăng
21 chiếc, máy các loại tăng 87 cái Nghề khai thác hải sản xuất khẩu nh tôm, mực, vây cá nhám phát triển nhanh và trở thành nghề mũi nhọn Việc kết hợp giữa nghề khai thác cá trên biển và nghề dịch vụ trên bờ ngày càng thêm phong phú Đến năm 1985, toàn huyện đã có 2 cơ sở quốc doanh và 4 tổ hợp chế biến hải sản Các hồ, ao nuôi thủy sản xuất khẩu lần lợt đợc xây dựng, nhất là vùng Cửa Lò Đồng muối xã Nghi Tiến hoàn thành đã thu hút 240 lao động sản xuất [2;160]
Chủ trơng giao đất, giao rừng cho nhân dân, thực hiện nông lâm kết hợp
đ-ợc tiến hành tích cực và phát huy hiệu quả rõ rệt Phong trào trồng cây gây rừng phát triển mạnh cả trong ngành lâm nghiệp và trong nhân dân Nhiều đồi núi, cồn cát đã đợc phủ cây xanh Rừng phòng hộ dọc bờ biển, từ xã Nghi Yên phía Bắc đến xã Nghi Hải phía Nam đều đợc trồng cây chắn gió Vờn đồi, vờn cây
ăn quả của hộ gia đình hình thành ngày càng nhiều
Thực hiện chủ trơng về bố trí lại lao động, mở thêm ngành nghề để giải quyết việc làm cho ngời lao động đợc xúc tiến mạnh Đến năm 1982, ngành thủ
Trang 23công nghiệp Nghi Lộc đã thu hút 17.000 lao động, chiếm 24% tổng số lao động toàn huyện Riêng về ngành vận tải đã chuyên chở 800 tấn hàng hóa bằng đờng biển, 100 tấn bằng đờng sông, 90 tấn bằng đờng bộ Hệ thống giao thông vận tải đờng bộ của huyện đợc trung ơng chọn làm mô hình cho cả nớc Khó khăn lớn nhất của ngành nghề thủ công nghiệp trong thời gian này là thiếu vốn, thiếu nhiên liệu và thiếu nguyên vật liệu để sản xuất Tuy nhiên, bằng phơng pháp liên doanh, liên kết khai thác nguồn nguyên vật liệu địa phơng, cải tiến và đổi mới dây chuyền sản xuất, tận dụng phế liệu, phế phẩm để sản xuất ra các mặt hàng mới, lần đầu tiên ở Nghi Lộc nhiều mặt hàng mới của thủ công nghiệp ra
đời Hàng phục vụ nhu cầu nội địa có: rợu, đờng, mật, vật liệu không nung, thuyền, xi măng, sắt, thép Hàng xuất khẩu có thảm cói xuất sang Liên Xô, nón lá xuất sang Thuỵ Sỹ, mây tre xuất sang Cu Ba Năm 1985, tỷ suất hàng xuất khẩu bình quân đầu ngời đạt 6 rúp - đô la Thực hiện khẩu hiệu công nông liên kết, công nhân các xí nghiệp đã góp phần tích cực vào đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tạo ra những cánh đồng “công nông thâm canh lúa” ở xã Nghi Diên, Nghi Vạn, Nghi Hoa Xí nghiệp đóng tàu sông Lam ở Cửa Hội liên tục v-
ợt chỉ tiêu kế hoạch đợc hội đồng Chính phủ tặng cờ đơn vị dẫn đầu toàn quốc của nghành công nghiệp và thủ công nghiệp, đợc nhà nớc phong tặng danh hiệu Anh hùng vào ngày 28/9/1985
Bớc vào kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, các cơ sở thơng nghiệp trên địa bàn huyện đợc sát nhập thành công ty thơng nghiệp của ngành nội thơng đặt dới sự chỉ đạo của sở thơng nghiệp tỉnh Nghệ An và uỷ ban hành chính huyện Nghi Lộc Công ty thơng nghiệp huyện kinh doanh tổng hợp trên tất cả các khâu sản xuất, thu mua, bán buôn, bán lẻ dịch vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân Sau khi thành lập, ngành đã vơn lên trở thành đơn vị dẫn đầu công ty thơng nghiệp huyện trong tỉnh, đợc uỷ ban hành chính tỉnh tặng cờ Hợp tác xã mua bán Nghi Xuân đợc Chính phủ tặng Huân chơng lao động hạng 3 về thành tích
Trang 24thu vốn, năm hàng phục vụ cho sản xuất, đời sống thực sự là ngời “nội trợ của dân”
Lĩnh vực văn hoá - xã hội tiếp tục phát triển, bệnh viện, trờng trung học phổ thông ở Quán Hành, nhà trung tâm văn hoá huyện, đài phát thanh, nghĩa trang liệt sỹ, sân vận động TDTT đợc xây dựng khang trang Phong trào xây dựng “gia đình văn hoá mới”, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, làm 3 công trình
vệ sinh, giếng nớc, nhà tắm đợc phát động liên tục và có hiệu quả Các trạm biến thế và đờn dây điện nông thôn đợc xây dựng Đặc biệt trong 2 năm 1984 -
1985 chơng trình viện trợ dinh dỡng của PAM đợc thực hiện ở huyện Nghi Lộc,
196 nhà trẻ với 13.717 cháu, 3.594 bà mẹ, 100 bệnh nhi đợc nhận 226 tấn hàng bao gồm: Bột dinh dỡng, đậu, dầu thực vật, đờng sữa, bột gạo do PAM tài trợ[2;165]
Hai nhiệm vụ chiến lợc: xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN đợc kết hợp chặt chẽ trong xây dựng phơng án phát triển kinh tế và phơng án phòng thủ chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù Dân quân tự vệ, bộ đội địa ph-
ơng, lực lợng dự bị động viên luôn đợc củng cố Chính sách hậu phơng quân đội thực hiện tốt Việc giải quyết quân nhân đào ngũ thu hồi vũ khí, truy quét bọn l-
u manh trộm cắp đợc tiến hành tích cực Hởng ứng phong trào “Tuổi trẻ anh hùng bảo vệ tổ quốc” do Trung ơng Đoàn phát động, Đoàn thanh niên huyện Nghi Lộc đã thành lập 32 đội thanh niên xung kích trên mặt trận an ninh ở các xã Tuy tình hình thế giới và trong nớc diễn biến phức tạp, nhng quốc phòng an ninh ở huyện nhà luôn ổn định, kể cả những vùng trọng điểm
Nh vậy, sau ngày hoà bình thống nhất đất nớc, Đảng bộ ĐCSVN huyện Nghi Lộc đã lãnh đạo nhân dân thực hiện đờng lối xây dựng CNXH và bảo vệ
tổ quốc Việt Nam XHCN với hai kế hoạch nhà nớc 5 năm: 1976 - 1981 và 1981- 1985 do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV và lần thứ V của Đảng đề
ra Trong 10 năm ấy, Đảng bộ đã phát huy truyền thống cách mạng kiên cờng, biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nớc
Trang 25thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng CNXH, tích cực hàn gắn vết thơng chiến tranh, khắc phục hậu quả nặng nề của thiên tai, dành đợc những thành tựu cực kỳ quan trọng làm thay đổi toàn diện bộ mặt kinh tế - xã hội trong huyện Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng đợc xây dựng ngày càng phong phú, đa dạng Mật độ dân c đợc điều hoà dàn đều trong từng vùng và giữa các vùng Kỹ thuật canh tác tiên tiến đợc áp dụng phổ biến trong sản xuất nông nghiệp Sự liên kết giữa nông nghiệp, ng nghiệp, lâm nghiệp, thủ công nghiệp ngày càng chặt chẽ và thúc đẩy, hỗ trợ nhau cùng phát triển Quốc phòng an ninh không ngừng đợc củng cố vững mạnh và kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội Phúc lợi xã hội không ngừng đợc nâng cao, đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân ngày càng đợc cải thiện.
Có đợc những thành tựu ấy là nhờ Đảng bộ huyện nhà đã phát huy đợc tinh thần làm chủ của nhân dân, tự lực, tự cờng, khắc phục khó khăn xây dựng cuộc sống, xây dựng quê hơng Trong kiến thiết, xây dựng đã thực hiện tốt phơng châm nhà nớc và nhân dân cùng làm, phát huy cao hiệu quả đầu t của Trung -
ơng và của tỉnh Không ngừng củng cố, nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức
Đảng và từng Đảng viên, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của chính quyền, nhất là cơ sở Tổ chức mặt trận và các tổ chức quần chúng của Đảng đã phát huy cao chức năng của mình trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi các chủ trơng, chính sách của Đảng và Chính phủ Quyền làm chủ của nhân dân từng bớc đợc nâng lên Các sai lầm, khuyết điểm nh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, thiếu khoa học, mệnh lệnh, thiếu dân chủ trong lãnh đạo và chỉ đạo không ngừng đợc sửa chữa, khắc phục, luôn củng cố đợc lòng tin của quần chúng
Đó là những thuận lợi cơ bản tạo thế vững chắc cho Đảng bộ huyện Nghi Lộc, lãnh đạo nhân dân tiếp tục tiến lên dới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, những thay đổi, chuyển biến về kinh tế của Nghi Lộc 10 năm sau đất nớc
Trang 26thống nhất (1975 - 1985) vẫn cha đủ mạnh để đa huyện thoát khỏi tình trạng kém phát triển.
Trong sản xuất, sản phẩm hàng hoá làm ra còn ít, cha nâng cao đợc năng suất, chất lợng hiệu quả, cha đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất và đời sống, cha t-
ơng xứng với tiềm năng thế mạnh của huyện Một số chỉ tiêu do Đại hội đảng
bộ lần thứ XX đề ra cha đạt kế hoạch: lơng thực đạt 76%, năng suất lúa đạt 88%, diện tích lúa hè thu đạt 67%, xuất khẩu đạt 48%, các chỉ tiêu nông sản và sản phẩm chủ yếu trong tiểu thủ công nghiệp mới đạt 60% kế hoạch Sản xuất nông nghiệp còn bảo thủ, mang nặng tính tự túc tự cấp, cha vơn lên sản xuất hàng hoá, sản xuất những nông sản có giá trị kinh tế cao Thuỷ lợi và cải tạo
đồng ruộng yếu, hầu hết các HTX chú ý cha mạnh công tác cải tạo đồng ruộng Giao đất, giao rừng, trồng cây, trồng rừng là một chủ trơng rất đúng đắn, rất kinh tế và thiết thực nhng chỉ đạo và triển khai chậm, công tác bảo vệ rừng đồi kém
Kinh tế gia đình, kinh tế vờn đồi phát triển cha hiệu quả, tình trạng sản xuất độc canh còn phổ biến LT - TP mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng Hầu hết các thành phần kinh tế đều rơi vào tình trạng khủng hoảng Phân phối lực lợng theo phơng thức cào bằng, chia đều cho mọi gia đình Lao động phân
bố không đều giữa các vùng, không đều ngay trong từng xã
Công nghiệp mở ngành nghề mới cha mạnh, hiệu quả kinh tế còn thấp, hàng tiêu dùng ít về số, kém về chất lợng Xuất khẩu đạt thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế Các ngành hậu cần phục vụ cho sản xuất cha quán triệt đầy
đủ quan điểm nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
Cơ sở vật chất, phơng tiện phục vụ cho nông nghiệp - ng nghiệp và các nghề thủ công truyền thống cha đợc đầy đủ Trong khi thế mạnh kinh tế biển rất lớn nhng thiếu thuyền nghề và ng cụ, lao động nghề biển còn d thừa rất nhiều.Trên lĩnh vực phân phối lu thông và trong đời sống đang còn nhiều khuyết
điểm tồn tại, đời sống cán bộ và nhân viên có đợc nâng lên nhng cha ổn định,
Trang 27cha đồng đều Lãnh đạo và quản lý kinh tế còn nhiều sơ hở, có nơi buông lỏng,
để nông sản, hải sản, vật t, tiền vốn, hàng tiêu dùng lãng phí, h hao mất mát nhiều Tiêu cực trong kinh tế, văn hoá, xã hội cha đợc ngăn chặn Sự say sa trong lao động, học tập, công tác giảm sút Việc cải tạo cái cũ cha gắn với xây dựng cái mới
Nguyên nhân của những tồn tại đó là do cơ sở vật chất, lực lợng sản xuất còn nghèo nàn và ở trình độ thấp, lại nằm trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi: hạn hán, bão lụt, úng thờng xuyên đe doạ Chiến tranh tàn phá để lại hậu quả nặng nề Công trình thuỷ lợi ở vùng lúa cha hoàn chỉnh, cha chủ động tới tiêu trên toàn bộ diện tích Vùng đất cát có điều kiện về xuất khẩu nông sản nh-
ng nhiều năm cha tập trung chỉ đạo Do bảo thủ trong cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu mùa vụ và cơ cấu giống cây trồng Trong khi vụ hè thu và vụ đông đã trở thành vụ chính của nhiều tỉnh, huyện nhng huyện Nghi lộc vẫn cha đẩy mạnh hai vụ sản xuất mang tính hàng hoá và góp phần giải quyết vấn đề lơng thực Cơ cấu cây trồng ở vùng màu, nhất là cơ cấu cây màu cha có gì mới Kinh tế gia
đình phát triển chậm và rất yếu Việc xây dựng bớc đi và những chỉ tiêu kinh tế
- xã hội cha sát hợp với thực tế huyện nhà Một số chỉ tiêu do đại hội đề ra cha
đạt kế hoạch, một phần do sự nỗ lực cha cao, nhng một phần là do chỉ tiêu đa ra quá cao, không có cơ sở thực hiện Do cơ chế quản lý và chính sách đòn bẩy kinh tế của Tỉnh và TW cha phù hợp, cha sát với tình hình thựuc tế cơ sở Do đó cha tháo gỡ đợc những vớng mắc trong sản xuất và lu thông trong khi đó lãnh
đạo, và chỉ đạo kinh tế còn chung chung, cha đi xuống tận nơi, cha tìm tòi biện pháp cụ thể để giải quyết từng công việc Bố trí cán bộ có nơi cha đáp ứng đợc yêu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý
Nh vậy kinh tế Nghi Lộc còn cós nhiều khó khăn và mất cân đối lớn, từ thực trạng trên và quán triệt phơng hớng, mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Đảng bộ và nhân dân Nghi Lộc đã bắt tay vào tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế huyện nhà
Trang 28Chơng 2:
Kinh tế của Nghi Lộc trong
10 năm đầu đổi mới (1986 - 1995)
2.1 Đờng lối phát triển kinh tế
2.1.1 Đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng
Trải qua hơn một thập niên kể từ sau đại thắng mùa xuân năm 1975 đến
1986, Đảng và nhân dân ta vừa triển khai, vừa tìm tòi, thử nghiệm con đờng đi lên CNXH Trong giai đoạn đó, CMXHCN ở nớc ta đã đạt đợc những thành tựu
và tiến bộ đáng kể trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Tuy nhiên, công cuộc đó vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Những hạn chế đó đã đa nớc ta lâm vào tình trạng khủng hoảng vào cuối những năm 70
đầu những năm 80 Chúng ta đã không phát huy đợc đầy đủ tính chủ động, sáng tạo của quần chúng, không tạo ra đợc động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển năng động của nền kinh tế - xã hội “Những sai lầm đó cùng với sự trì trệ trong công tác tổ chức cán bộ đã kìm hãm lực lợng sản xuất và triệt tiêu động lực phát triển”[27; 454] Mặt khác, trong bối cảnh lúc bấy giờ tình hình thế giới cũng có nhiều biến đổi, đó là cuộc cách mạng KH - KT đang diễn ra nh vũ bão đã có tác
động không nhỏ đối với các nớc trên thế giới Một số nớc áp dụng thành công những thành tựu KH - KT trở thành trung tâm kinh tế mới, nhng có một số nớc
do chậm thích nghi với cuộc cách mạng KH - KT, áp dụng mô hình CNXH có nhiều khuyết điểm chậm đợc khắc phục nên cũng lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng mà điển hình là Liên Xô Vì thế, nó đã kéo theo sự khủng hoảng ở các nớc đi theo mô hình CNXH
Thực tế cuộc sống và sự vận động khách quan của các quy luật kinh tế yêu cầu Đảng ta phải tiến hành đổi mới đất nớc, xem đây là vấn đề sống còn để đa
đất nớc thoát khỏi tình trạng khủng hoảng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) tại Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu đó Với quan điểm đổi mới
Trang 29“Không phải là thay đổi mục tiêu của CNXH mà làm cho mục tiêu ấy đợc thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, những hình thức bớc đi và biện pháp thích hợp”[ Đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế chính trị
đến t tởng văn hoá, nhng trọng tâm là đổi mới kinh tế Đổi mới của Đảng thể hiện trên các lĩnh vực
- Phát triển lực lợng sản xuất:
Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ còn phổ biến, tiến lên CNXH, Đảng ta luôn xác định việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH, thực hiện CNH là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ CNH phải luôn gắn với HĐH, với việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thời đại Coi khoa học công nghệ là nền tảng của CNH - HĐH, con ngời Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của CNH - HĐH
Đặc biệt coi trọng CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông - lâm - ng nghiệp, các ngành chế biến nông - lâm - thuỷ sản công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, các ngành du lịch - dịch vụ; khôi phục phát triển từng bớc hiện đại hóa các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống đi đôi với việc mở mang những ngành nghề mới
Phát triển công nghiệp phải gắn bó chặt chẽ với các ngành và các lĩnh vực khác, hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau, tạo nên sự phát triển đồng bộ trong đời sống kinh tế - xã hội Đặc biệt quan tâm xây dựng quan hệ hợp tác bình đẳng cùng có lợi, giúp đỡ cùng nhau phát triển giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, giữa công - nông và trí thức trong quá trình CNH - HĐH
- Đổi mới quan hệ sản xuất:
Yêu cầu cải tạo quan hệ sản xuất, các thành phần kinh tế lạc hậu kìm hãm
sự phát triển, cải tạo đi đôi với sử dụng và thiết lập quan hệ sản xuất XHCN theo từng bớc, từ thấp đến cao với sự đa dạng hình thức sở hữu về t liệu sản xuất, phải đợc coi là nhiệm vụ thờng xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ
Trang 30Đảng chủ trơng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần bao gồm kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế cá thể - tiểu chủ và kinh tế t bản t nhân, đây đợc coi là chủ trơng lâu dài nhằm phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, tạo ra sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế quốc dân nhiều thành phần dới sự điều tiết, quản lý của nhà nớc.
- Cơ chế quản lý kinh tế:
Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần một mặt có tác dụng tích cực thúc
đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nhng mặt khác nó cũng có tác dụng ngợc lại tác dụng tiêu cực, mâu thuẫn với bản chất của CNXH Vì vậy, đẩy mạnh CNH - HĐH, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần không thể không có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc, nhằm phát huy mặc tích cực đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực Phải xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ các yếu tố các yếu tố thị trờng, xây dựng và hòan thiện các công cụ pháp luật, kế hoạch, các thiết chế tài chính, tiền tệ, các phơng tiện vật chất và tổ chức cần thiết cho sự quản lý của nhà nớc, tạo điều kiện cho cơ chế thị trờng hoạt động hữu hiệu
- Quan hệ kinh tế đối ngoại:
Muốn xây dựng một nền kinh tế mở thì đòi hỏi phải đa phơng hoá đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại Khi tình hình thế giới thay đổi theo xu hớng quốc
tế hóa đặt ra yêu cầu các nớc phải có sự thay đổi cho phù hợp với xu thế Việt Nam trong quan hệ đối ngoại đã có sự thay đổi, nếu trớc đây chúng ta chủ yếu quan hệ với các nớc trong phe CNXH cũng nh kinh tế đối ngoại chỉ phát triển ở thị trờng khu vực này thì nay chúng ta đã bắt tay làm bạn với tất cả các nớc trên thế giới, về kinh tế thì hớng mạnh về xuất khẩu hàng hoá Việt Nam đã đợc xuất khẩu đi các nớc trên thế giới, đồng thời chúng ta tranh thủ đợc vốn, công nghệ
để tiến hành CNH - HĐH[37;456;457;458;459]
Tuy nhiên, Đảng xác định hợp tác quốc tế một cách bình đẳng và có lợi, hợp tác kinh tế nhng phải giữ vững đợc độc lập tự chủ về kinh tế, quốc phòng an
Trang 31ninh Luôn nêu cao phơng châm dựa vào nguồn lực trong nớc là chính, đi đôi với việc tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài.
Để thực hiện đợc các yêu cầu đó thì nhiệm vụ chung cho cả chặng đờng
đầu quá độ lên CNXH là “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lợng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lợc xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam CNXH” [20;37 - 38]
Nhiệm vụ mục tiêu kinh tế của 5 năm đầu đổi mới là Ba chơng kinh tế về
l-ơng thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, trong đó nông nghiệp
là mặt trận hàng đầu và đợc u tiên đáp ứng nhu cầu về vốn đầu t, về năng lợng, vật t, lao động, kỹ thuật
Những chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc đối với đổi mới kinh tế của
đất nớc đa ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đợc hoàn thiện và phát triển qua thực tế qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc VII, VIII, IX của Đảng CSVN
Những kết quả mà nhân dân ta đạt đợc sau khi thực hiện chủ trơng, đờng lối
đổi mới của Đảng, đất nớc dần thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân có sự thay đổi đã chứng minh đờng lối đổi mới của Đảng hoàn toàn đúng đắn thực sự đi vào cuộc sống đợc nhân dân đồng tình hởng ứng
Nằm trong “guồng quay”của Nghệ An nói chung, Nghi Lộc nói riêng là một trong những địa phơng tích cực triển khai, thực hiện đờng lối đổi mới của
Đảng một cách có hiệu quả, đã tạo nên những chuyển biến lớn trên tất các mặt
đặc biệt trong kinh tế
2.1.2 Chủ trơng biện pháp phát triển kinh tế của Đảng bộ chính quyền huyện nghi Lộc
Trang 32Thực hiện chủ trơng chung của Trung ơng Đảng, dới sự lãnh đạo của Tỉnh
uỷ Nghệ Tĩnh, cuối tháng 9/1986 Đảng bộ huyện Nghi Lộc đã tiến hành Đại hội
đại biểu lần thứ XXI Qua thảo luận, Đại hội đã liên hệ với thực tế của địa
ph-ơng, góp nhiều ý kiến vào các văn kiện dự thảo của Trung ơng chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc; đồng thời tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học về tổ chức, chỉ
đạo toàn Đảng, toàn dân trong huyện thực hiện Nghị quyết của Trung ơng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI Trên cơ sở quán triệt quan
điểm, t tởng của trung ơng Đảng, Đại hội đã đa ra Nghị quyết về mục tiêu,
ph-ơng hớng, nhiệm vụ của huyện nhà trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới là:
1 Đẩy mạnh sản xuất lơng thực, thực phẩm, hàng xuất khẩu, công nghiệp hàng tiêu dùng để đảm bảo cân đối đợc lơng thực - thực phẩm Phấn đấu làm đủ
ăn, từng bớc có tích luỹ và làm tốt nghĩa vụ với nhà nớc, giải quyết ngày càng tốt hơn những nhu cầu thiết yếu về phục vụ đời sống vật chất và tinh thần
2 Đảm bảo giải quyết việc làm cho ngời lao động khai thác tốt thế mạnh
về nông sản, hải sản, tiểu thủ công nghiệp xuất khẩu, để có giá trị kinh tế ngày càng cao hơn Thực hiện hạch toán kinh tế, làm cho kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và kinh tế gia đình cùng phát triển, tạo ra tích luỹ và cân đối đợc nhu cầu, cân đối thu chi từ nội bộ nền kinh tế huyện, trong từng đơn vị cơ sở và trong từng gia đình
3 Tăng cờng hơn nữa việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nhằm tập trung vào việc xây dựng những công trình về điện, thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, ứng dụng tiến bộ KH - KT, những công trình văn hoá quan trọng làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn thiện từng bớc quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, ng nghiệp và tiểu thủ công nghiệp [4;10]
Đó là phơng hớng đợc đa ra để giải quyết những khó khăn trớc mắt, để từng bớc đa Nghi Lộc thoát khỏi tình trạng khủng hoảng Tuy nhiên về lâu dài
Đảng bộ chính quyền Nghi Lộc xác định: "Tập trung phát triển mạnh các thành phần kinh tế, chủ yếu lấy kinh tế hộ gia đình làm đơn vị kinh tế đi lên Khai
Trang 33thác và tận dụng có hiệu quả cơ cấu: Nông, lâm, ng, thủ công nghiệp; Phát huy sáng tạo của từng gia đình, từng đơn vị để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá với năng suất chất lợng cao "[2;179].
Để đạt đợc mục tiêu, phơng hớng trên thì yêu cầu tập trung khai thác nguồn lực hiện có, tạo ra sức chuyển biến căn bản trên mặt trận sản xuất nông nghiêp, lâm nghiệp, ng nghiệp Bằng việc bố trí thích hợp cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi và ứng dụng có chọn lọc tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất, chế biến nhằm: tạo đợc khối lợng hàng hoá lớn, đáp ứng nhu cầu thiết yếu về đời sống vật chất của 24 vạn dân, tiến tới có tích luỹ để tái sản xuất và xây dựng các công trình phúc lợi, phục vụ sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá phát triển lên mức độ cao hơn Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, đoàn kết nhất trí, lãnh đạo toàn dân giữ vững ổn đinh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc để thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa
Nh vậy Đảng bộ, nhân dân Nghi Lộc đang tập trung mọi nguồn lực để làm sao thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới mà Đảng ta đề xớng
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐCSVN khai mạc Trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội đã đánh giá đúng những thành tựu đã đạt đợc đồng thời vạch rõ những sai lầm khuyết điểm về chủ trơng, chính sách đã qua, đề ra đờng lối đổi mới về công cuộc xây dựng CNXH ở nớc ta.Dới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VI, VII của Đảng và Nghị quyết đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp của ĐCSVN, huyện uỷ Nghi Lộc đã có những chỉ đạo phù hợp với tình hình thực tiễn của huyện nhà đợc trình bày đầy đủ trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện khoá XVI, XXII, XXIII
2.2 Sự chuyển biến kinh tế Nghi Lộc trong thời kỳ 1986 1995–
2.2.1 Nông nghiệp
Trang 34Nền kinh tế nớc ta xuất phát điểm là nông nghiệp lúa nớc Nông nghiệp giữ vai trò then chốt của hệ thống kinh tế nớc nhà Cho đến nay nó vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng trong bớc phát triển đi lên của đất nớc.
Trong những năm 1981 - 1985 kinh tế nông nghiệp đã đợc phục hồi và tăng trởng khá, thì những năm tiếp theo lại rơi vào tình trạng trì trệ và suy thoái mạnh Vì thế, năm 1986 là thời điểm quyết định sự nghiệp đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nớc, đa ra nhiệm vụ, mục tiêu của Ba chơng trình kinh tế, nông nghiệp đặt đúng vị trí là mặt trận hàng đầu và đợc u tiên đáp ứng nh cầu về vốn
đầu t, về năng lợng, vật t, lao động, kỹ thuật
Khi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI, VII của ĐCSVN và Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ XXI, XXII, XXIII đi vào cuộc sống, đặc biệt thực hiện Nghị quyết của Ban Bí th Trung ơng Đảng về chính sách khoán 10 Thờng
vụ Tỉnh uỷ Nghệ An chọn huyện Nghi Lộc thực hiện thí điểm phơng thức khoán mới này Chủ trơng này, đợc huyện uỷ và UBND huyện tiếp thu, thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 10 triển khai nhanh ra tất cả các HTX, tr-
ớc hết là HTX nông nghiệp chủ trơng khoán đợc nông dân nhiệt liệt hoan nghênh, hăng hái thực hiện vì vai trò hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ đựơc xác lập Nhờ vậy, đã trả lại tình cảm vốn có của nông dân với ruộng đồng, với cây trồng, vật nuôi, cuốn hút nông dân tự nguyện bỏ thêm công sức, tiền của
đầu t để phát triển sản xuất Và Đảng bộ Nghi Lộc đã tìm đợc lối đi cho công cuộc đổi mới của huyện nhà với mong muốn tạo nên diện mạo mới, mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, no đủ hơn cho ngời dân Nghi Lộc
Từ năm 1980 lại nay, những tiềm năng to lớn nông nghiệp trên địa bàn huyện đã đợc khai thác và phát huy một mức đáng kể Điều nổi bật nhất là tổng sản lợng lơng thực hàng năm đều tăng với kết qủa ngày một cao hơn Năm 1982
là 33.422 tấn, năm 1984 là 40.438 tấn, năm 1985 là 41.789 tấn Tuy mức độ dân số hàng năm tăng bình quân từ 2,5 đến 2,7 nhng bình quân lơng thực đầu
Trang 35ngời hàng năm không sụt và có tăng chút ít Năm 1984 là 207 kg/năm/1 ngời Năm 1985 là 218 kg/năm/ngời[5;2].
Sở dĩ ta đạt đợc kết quả đó là bớc đầu chúng ta thực hiện thâm canh tăng
vụ, gối vụ, bố trí lại mùa vụ định lại cơ cấu cây trồng cho từng vùng, từng HTX nhờ đó mà đa năng suất 1984 là 18 tạ/ha năm 1985 lên 18,5 tạ/ha Và đa hệ số lần sử dụng từ 1,5 lên 1,75 [5; 2]
Đấy cũng phải nói một quá trình phấn đấu khắc phục những khó khăn đối với thiên nhiên Đồng thời cũng đấu tranh chống những t tởng bảo thủ, trì trệ, phá lối làm ăn theo tập quán cũ của địa phơng Bớc đầu chúng ta đã áp dụng những tiến bộ khoa học mới vào nông nghiệp, kết hợp phát huy tính sáng tạo của địa phơng và ngời lao động Điều có ý nghĩa là chúng ta đã tập trung cao độ cho việc tăng nhanh diện tích cây công nghiệp xuất khẩu, lạc, ớt, kê, vừng.Diện tích lạc năm 1984 là 1.199 ha sản lợng 1.114 tấn, năm 1985 là 1.211
vụ cho thâm canh đợc tiến hành liên tục Việc điều chỉnh, chuyển đổi cơ cấu các loại giống cây, giống con để tạo ra năng suất cao trở thành phổ biến, lần
đầu tiên vụ hè - thu và vụ thu - đông đợc chuyển thành vụ chính cả lúa, màu và cây công nghiệp Đến năm 1987, toàn huyện đã có 2.966 ha lạc, 162,4 tấn vừng, 46,2 tấn ớt khô xuất khẩu Hai năm 1987 - 1988 huyện đã tranh thủ nguồn vốn của PAM trồng thêm đợc 1000 ha rừng tập trung và 6 triệu cây phân tán Các mô hình: vờn đồi, vờn cây ăn quả, cây thực phẩm phục vụ cho nhu cầu thành phố Vinh và cảng Cửa Lò đợc hình thành ngày càng nhiều
Trang 36Cơ cấu giống cây trồng, cơ cấu mùa vụ thay đổi phù hợp với đất đai, kết hợp với thâm canh, luân canh trồng xen, gối vụ làm cho hệ số sử dụng ruộng
đất nâng cao Kinh tế vờn phát triển phong phú: trồng cây ăn quả lu niên, trồng rau cao cấp, đào ao thả cá, trông cây cảnh, vờn ơm cây giống
Giữa lúc đó, đầu tháng 10/1989 trong vòng 10 ngày, 3 cơn bão (số 7, 8, 9) liên tiếp đổ bộ vào huyện Nghi Lộc Bão mạnh, lụt lớn, triều dâng cao gây thiệt hại nghiêm trọng, nhà cửa, tài sản bị triều cuốn trôi ra biển, 3480 ha lúa mùa và lúa hè thu mất trắng, số còn lại mất tới từ 50% đến 70% Các đê biển, các công trình thuỷ lợi, sụt lở Kho tàng, tài sản của nhà nớc, tập thể bị tổn thất lớn Tình hình kinh tế - xã hội trong huyện đang gặp khó khăn lại càng khó khăn hơn Nhờ sự hỗ trợ kịp thời và có hiệu quả của các đơn vị, các ban, ngành ở Trung -
ơng của tỉnh và các tỉnh, huyện bạn, Đảng bộ đã phát huy kinh nghiệp truyền thống tổ chức lãnh đạo nhân dân đoàn kết tơng trợ nhau giữa nhà với nhà, giữa xã với xã, giữa ngành với ngành khắc phục hậu quả của thiên tai, ổn định đời sống
Đi đôi với đẩy mạnh sản xuất, khắc phục, hàn gắn thiệt hại do bão lụt gây
ra, huyện uỷ và UBND huyện đã chỉ đạo các đơn vị kinh tế chuyển hớng tổ chức sản xuất theo đờng lối đổi mới của Đảng: xoá bỏ quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế hạch toán kinh tế XHCN, phát triển các thành phần kinh tế, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế chủ yếu, góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho nhân dân
Cùng với việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, cơ cầu mùa vụ, những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới đã đợc đa vào sản xuất Cơ chế quản lý mới đã đợc cho phép khuyến khích ngời nông dân mạnh dạn mua sắm các thiết
bị cơ giới hoá áp dụng vào sản xuất nh máy cày, mày bừa, máy bơm góp phần giải phóng sức lao động thủ công, nâng cao năng suất, sản lợng cây trồng Bên cạnh đó các phòng ban nh phòng nông nghiệp, kinh tế, trạm khuyến nông đã quan tâm đầu t trong việc phòng trừ sâu bệnh, chăm bón cây trồng và các loại
Trang 37phân vô cơ NPK, lân, đạm góp phần cải tạo đất và tăng năng suất cây trồng Thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng phục vụ cho thâm canh, đợc tiến hành liên tục Các công trình xây dựng cơ bản đợc phát triển mạnh Cuối năm 1993, Bộ thuỷ lợi
đầu t khởi công xây dựng công trình thuỷ lợi ở Nghi Quang để ngọt hoá sông Cấm, 15 dự án với hàng trăm tỷ đồng đầu t nớc ngoài đợc đa vào sử dụng trong
2 năm 1993 - 1994, bao gồm : bê tông hoá 9 km kênh Thọ Sơn, làm đập tràn khe Nu và Khe Làng đã xây dựng thêm 18 trạm bơm điện, 2 hồ chứa nớc Nâng cấp, sửa chữa kênh mơng tới tiêu với tổng số vốn đầu t trên 1,5 tỷ đồng
Do đó nâng diện tích đợc tới nớc tăng 1850 ha và diện tích đợc tiêu úng tăng
Trang 38(Nguồn: 6;27, 7;25)
Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy cơ cấu cây trồng của huyện từ 1986 -1995 có xu hớng giảm dần, một phần do nhà nớc thu hồi đất để phát triển thị trấn, xây dựng công nghiệp nhà máy nhỏ Đặc biệt 1995 theo Nghị quyết của Thủ tớng chính phủ, Cửa Lò tách khỏi huyện, phạm vi thị xã bao gồm thị trấn Cửa Lò, một phần xã Nghi Quang và các xã Nghi Thu, Nghi Hơng, Nghi Hải, Nghi Hoà Đây là những xã chiếm diện tích hoa màu khá lớn Nghi Lộc chỉ còn
32 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là 39.731ha
Mặc dù diện tích gieo trồng bị thu hẹp nhng sản lợng lơng thực vẫn ổn
định và tăng đều Sản lợng lơng thực quy thóc năm 1989 đạt 3.366 tấn, 1990 đạt 40.392 tấn Đông Xuân 1991 đạt 19.811 tấn (nếu không có bão lụt đột biến thì
1991 có thể đạt trên 43.000 tấn) Tổng sản lợng (cả lúa và màu) lên 48.000 tấn năm 1988, 54-55.000 tấn năm 1990, bình quân đầu ngời trên 270 kg[6;7]
Có đợc kết quả trên là nhờ bố trí lại diện tích theo hớng thâm canh tăng năng suất và trồng xen tăng vụ, trồng ngô xen trên diện tích trồng khoai và diện tích lạc Mở rộng trồng sắn, khoai từ, khoai vạc ở 8 xã vùng trên và trồng rau cao cấp, cây ăn quả, cây cảnh một số vùng nh Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Diên, Nghi Ân, Đặc biệt hầu hết các HTX đã giao dứt điểm ổn định lâu dài 90-92% tổng quỹ đất cho hộ gia đình xã viên quản lý sử dụng, xây dựng HTX kiểu mới theo hình thức dịch vụ Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của TW cho hộ nông dân đợc thực hiện Xu hớng an tâm đầu t phát triển sản xuất làm giàu trong các hộ nông dân phát triển mạnh Mỗi hộ nông dân đã tự chủ trăn trở suy nghĩ, tìm tòi kinh nghiệm và tiến bộ KH - KT thâm canh tăng năng suất, tăng hệ số sử dụng ruộng đất để có thu nhập cao Nhờ đó sản xuất nông nghiệp
ở huyện nhà phát triển phong phú Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo sản xuất nông nghiệp phát triển Mô hình VAC, mô hình rừng, vờn gắn với chăn nuôi, trồng cây ăn quả xuất hiện ngày càng nhiều
Trang 39Tuy nhiên trong giai đoạn này sản xuất nông nghiệp Nghi Lộc vẫn còn những tồn tại đó là năng suất sản lợng cây trồng hàng năm vẫn cha vững chắc
so với mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ huyện các khoá đề ra vẫn cha đạt Mặc dù
đã có cố gắng khai thác tận dụng các nguồn vốn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tích cực thực hiện
"khoán 10" nhng việc thực hiện ở từng cơ sở cha linh hoạt và phù hợp, phát huy hiệu quả không cao
Chăn nuôi là một ngành chính trong kinh tế sản xuất nông nghiệp vừa góp phần tăng thu nhập vừa cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng trọt, cung cấp hàng hoá thực phẩm cho xã hội Sau "khoán 10" đã thống nhất chủ động hoá giá
đàn trâu bò cho từng hộ xã viên để chăm sóc nuôi dỡng Vì thế chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh và đa dạng, nhất là nuôi trâu bò đàn ở vùng bán sơn địa, vỗ béo bò thịt hàng hoá ở vùng màu, nuôi lợn thịt phát triển đều, nhanh, mạnh trong các gia đình, nuôi lợn nái phát triển đều ở các vùng Những tiến bộ
KH - KT đã đợc đa vào ngành chăn nuôi, đã có chủ trơng xây dựng các tổ chức dịch vụ lai tạo giống và bảo vệ dịch bệnh cho tiểu đại gia súc Cho nên trong huyện ngày càng có nhiều hộ nuôi bò, lợn nái và thụ tinh bò, lợn nòi bằng tinh viên
Bảng 2 2: Tình hình phát triển chăn nuôi của Nghi Lộc từ 1986-1995
(đơn vị: con )
Trâu, bò 27.123 33.932 34.132 34.180 38.230Lợn 15.169 46.619 46.814 46.820 50.273
Trang 4050.273 con Riêng tháng 6 đầu năm 1991 đã thực hiện đợc 2.000 liều tinh lợn lai Điều đó cho thấy ngời dân đã chú ý đến vấn đề chất lợng con giống Bình quân lợn xuất chuồng 1989 là 55kg/con thì 1995 là 75 - 80kg/con Đàn trâu bò cũng đợc đầu t đúng mức, mặc dù đàn trâu có giảm, do cơ giới hoá nông nghiệp nhng đàn trâu bò có bớc tăng trởng nhanh Năm 1990 đa vào đợc 9 bò đực Sin, lai thụ tinh 56 bê Sin khuyến khích nông dân nuôi bò lai Sin, bò sữa phát triển đàn bò theo hớng phát triển cung cấp thịt, sữa cho thị trờng trong huyện và vùng lân cận Bên cạnh đó đàn gia cầm tăng lên nhanh chóng, phục vụ cho nhu cầu thực phẩm ngày càng phong phú của ngời dân Nhiều trang trại gà, vịt đã xuất hiện; mô hình VAC thực sự phát huy hiệu quả.
Nghi Lộc đang phấn đấu tăng tỷ lệ ngành chăn nuôi trong cơ cấu thu nhập
và lao động của ngành nông nghiệp Cơ cấu và phơng thức chăn nuôi đã đợc gắn với công nghiệp chế biến và thị trờng để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi và chuyển chăn nuôi thực sự sang sản xuất hàng hoá Để làm sao cho phù hợp hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đề ra
Tuy nhiên, trong ngành chăn nuôi việc tổ chức dịch vụ về giống và phòng dịch bệnh cha đợc coi trọng đúng mức hiệu quả cha cao, ngời nông dân cha thực sự yên tâm đầu t phát triển chăn nuôi với quy mô lớn Chế độ chính sách
đối với chăn nuôi từ khi chuyển cơ chế từ tập thể sang hộ gia đình cha có tác dụng khuyến khích thúc đẩy, cha có chủ trơng biện pháp cụ thể để cho ngành chăn nuôi trở thành ngành nông hóa, thị trờng tiêu thụ không ổn định hạn chế