Do đó, đề tài Tìm hiểu đời sống kinh tế -“ văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân Kỳ - Nghệ An từ năm 1975 đến năm 2007.” Nhằm tái tạo lại bức tranh tổng thể về truyền thống văn hoá cũng nh n
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh
võ duy cờng
Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc thổ huyện tân kỳ - nghệ
võ duy cờng
tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc thổ huyện tân kỳ - nghệ an từ năm 1975
đến năm 2007
Trang 2Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô chú và CBCNV tại Thviện Nghệ An, Th viện huyện Tân kỳ và Xã Giai Xuân, Tân Hợp và phòng Dântộc miền núi, phòng Thống kê của huyện Tân Kỳ đã giúp đỡ tác giả về mặt tliệu
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, Trờng THPTTân Kỳ III,ngời thân và bè bạn đã động viên, tạo điều kiện về tinh thần cũng nh vật chất đểtác giả có thể hoàn thành tốt luận văn
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu……… 5
1 Lí do chọn đề tài……… 5
2 Lịch sử nghiên cứu vẫn đề ……… 7
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu……… 8
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu……… 10
5 Đóng ghóp của luận văn……… 11
6 Bố cục của luận văn……… 11
Nội Dung 13
Chơng 1: khái quát đời sống kinh tế- văn hoá của dân tộc thổ ở huyện tân kỳ trớc năm 1975………13
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội ……… 13
1.1.1 Điền kiện tựnhiên ………… 13
1.1.2 Điều kiện về xã hội………… 19
1.2 Khái quát về các dân tộc định c ở Tân Kỳ……… 24
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Thổ ở huyện Tân Kỳ tr-ớc năm 1975 ………… 29
Chơng 2 đời sống kinh tế của dân tộc Thổ ở tân kỳ từ năm 1975 đến năm 2007……… 41
2.1 Kinh tế nông nghiệp……… 41
2.1.1 Làm ruộng nớc……… 41
2.1.2 Kinh tế nơng rẫy………… 43
2.1.3 Chăn nuôi………….50
2.1.4 Đánh bắt, săn bắt, hái lợm, và công cụ đánh bắt, săn bắt hái …… 51
2.2 Sản xuất thủ công nghiệp ……… 58
Chơng 3 đời sống văn hoá của dân tộc Thổ ở tân kỳ từ năm 1975 đến năm 2007 .…… 65
3.1 Làng bản, nhà cửa………… .65
Trang 43.2 Trang phôc………… 70
3.3 Èm thùc………… 70
3.4 Phong tôc tËp qu¸n ngêi Thæ………… 74
3.5 LÔ héi cña d©n téc Thæ……….96
3.6 V¨n ho¸ nghÖ thuËt……… 99
3.7 Thùc tr¹ng gi¸o dôc vµ y tÕ……… 103
KÕt luËn……… 107
Tµi LiÖu tham kh¶o……… 111
Phô lôc……… 115
B¶ng ch÷ viÕt t¾t
1 ChÝnh Phñ lµ CP.
Trang 5Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài.
Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, điều 5 đã ghirõ: “ Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nớc thống nhất củacác dân tộc cùng sinh sống trên đất nớc Việt Nam Nhà nớc thực hiện chính sáchbình đẳng, đoàn kết, tơng trợ giữa các dân tộc Nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị,chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, gìn giữ bản sắcdân tộc và phát huy những phong tục, tập quán truyền thống và văn hoá tốt đẹpcủa mình.”
Bảo vệ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc phải trở thànhquốc sách, đặc biệt trong tình hình hiện nay, bởi vì nguy cơ hoà đồng cũng nhnguy cơ sa sút đời sống tinh thần của xã hội có nguồn gốc từ sự mất gốc, từ đánhmất nền văn hoá dân tộc
Dân tộc Thổ là một bộ phận của dân tộc thiểu số của Việt Nam sống rảirác trong cả nớc nhng chủ yếu họ c trú ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hoá ởTân Kỳ, ngời Thổ sớm định c và có những đặc điểm riêng cần nghiên cứu Đề tài
Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân Kỳ - Nghệ An
“
từ năm 1975 đến năm 2007.” Vừa nghiên cứu về lịch sử và truyền thống văn hoá
của dân tộc Thổ trên phạm vi một huyện Đồng thời, qua đó giúp chúng ta xemxét về lịch sử của dân tộc này, đối với quá trình phát triển kinh tế - văn hoá, xãhội của huyện Tân Kỳ
1.1 Dân tộc Thổ ở Tân Kỳ trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn giữ gìn,bảo tồn và phát triển nền văn hoá truyền thống của dân tộc Những nguồn t liệu
Trang 6hiện có cũng cha khẳng định đợc nhiều những đóng ghóp của dân tộc Thổ chỉ đề
cập ở một số phơng diện nhất định Do đó, đề tài Tìm hiểu đời sống kinh tế -“
văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân Kỳ - Nghệ An từ năm 1975 đến năm 2007.”
Nhằm tái tạo lại bức tranh tổng thể về truyền thống văn hoá cũng nh những đóngghóp của dân tộc Thổ ở Tân Kỳ đối với quê hơng, đất nớc
1.2 Thực hiện chủ trơng của Đảng Xây dựng nền văn hoá Việt nam tiên“
tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc”, dân tộc Thổ ở Tân Kỳ luôn kế thừa và
phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp mà các thế hệ đi trớc để lại Từ đólàm đẹp thêm bức tranh văn hoá, văn minh của dân tộc mình Qua đó chúng ta cóthể rút ra những đặc điểm riêng, những bản sắc về văn hoá của dân tộc Thổ ở Tân
Kỳ cũng nh ở Nghệ An
1.3 Đề tài trở thành tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy lịch sử địa phơng ởcác trờng trung học và Cao đẳng trong địa bàn huyện, tỉnh, đồng thời là nguồn tàiliệu nghiên cứu cho các công trình tìm hiểu về văn hoá dân tộc Thổ Ngoài ra nó
là tài liệu đáng tin cho các nhà quản lí văn hoá có những chính sách hợp lí đểkhôi phục và phát triển những giá trị truyền thống của dân tộc Thổ ở địa phơngcũng nh trên phạm vi toàn quốc
1.4 Với những nội dung mà đề tài đề cập tới, cùng với nguồn t liệu mà tácgiả su tầm đợc là cơ sở bổ sung cho các sách, các công trình nghiên cứu của nội
bộ tỉnh nh: Lịch sử Nghệ An, Lịch sử Đảng bộ tỉnh, Lịch sử các huyện, xã…Bên cạnh đó, nó là tài liệu tham khảo quan trọng giúp các nhà nghiên cứu tiếp tụcnghiên cứu về dân tộc Thổ ở Nghệ An vốn cha đợc quan tâm và còn là mộtkhoảng trống trong nghiên cứu lâu nay
1.5 Qua nội dung đề tài, góp phần giáo dục, giáo dỡng cho nhân dânhuyện Tân Kỳ và tỉnh Nghệ An, nhất là bộ phận học sinh, sinh viên tinh thần tựhào dân tộc và tình cảm trân trọng những giá trị truyền thống của dân tộc mình
Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn“
hoá của dân tộc Thổ huyện Tân Kỳ - Nghệ An từ năm 1975 đến năm 2007.”, để
làm luận văn tốt nghiệp cao học
2 Lịch sử nghiên cứu vẫn đề.
Lịch sử dân tộc Thổ và văn hoá truyền thống của họ trên phạm vi toànquốc và ở riêng Tân Kỳ - Nghệ An, đã đợc một số nhà nghiên cứu lịch sử và dân
Trang 7tộc học, xã hội học quan tâm nghiên cứu, đợc đề cập đến những khía cạnh khácnhau Song đến nay cha có một công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp đến
vẫn đề Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân Kỳ -“
Nghệ An từ năm 1975 đến năm 2007 ” Một cách đầy đủ và có hệ thống Tuynhiên, những nét chính trong quá trình phát triển của dân tộc Thổ cũng nh giá trịvăn hoá truyền thống của họ đã đợc một số sách, báo, táp chí và một số côngtrình khoa học đề cập đến
Cuốn Địa chí Nghệ An“ ” do uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An biên soạn làcuốn sách quí, trình bày khá cụ thể và đầy đủ mọi mặt về Nghệ An từ xa tới nay
nh lịch sử, con ngời, các dân tộc địa phơng, kinh tế - chính trị và văn hoá - xã
hội Hay cuốn Tân Kỳ truyền thống và làng xã , “ ” Lịch sử Đảng bộ huyện Tân
Kỳ Báo cáo của phòng dân tộc miền núi huyện Tân Kỳ Ban dân tộc miền núitỉnh Nghệ An, hàng năm có đề cập đôi nét về đời sống văn hoá vật chất và tinhthần của dân tộc Thổ
Ngoài ra, cũng có một số bài báo viết về một lĩnh vực, một biểu hiện vềvăn hoá của dân tộc Thổ ở Nghệ An, đăng trên các tạp chí nh: “Tạp chí dân tộchọc”, “Dân tộc và thời đại”, “Dân tộc và miền núi”…
Tóm lại, qua các tác phẩm và các công trình nghiên cứu trên, ta thấy: Hầuhết các tác giả đã ít nhiều đề cập đến đời sống văn hoá của dân tộc Thổ Songphạm vi nghiên cứu của các tác giả là rất rộng, trên địa cả quốc gia hay cả tỉnh,cách viết dù sao vẫn còn mang tính khái quát cao Bên cạnh đó, lại có một sốsách nghiên cứu cụ thể, chi tiết một số lĩnh vực, một biểu hiện văn hoá chứkhông nghiên cứu hệ thống và đầy đủ về Tân Kỳ hay Nghệ An nói chung và vănhoá của dân tộc Thổ ở Tân Kỳ, để từ đó rút ra đợc những đóng góp của họ trongviệc dìn giữ những bản sắc văn hoá của 54 dân tộc anh em và bản sắc văn hoácủa dân tộc Thổ ở Tân Kỳ nói riêng và ở Nghệ An nói chung
Do đó, việc nghiên cứu Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc“
Thổ huyện Tân Kỳ - Nghệ An từ năm 1975 đến năm 2007” Tuy đề tài ở phạm vi
nhỏ và còn mang tính chất địa phơng nhng là một đề tài hoàn toàn mới Hy vọng
đề tài này sẽ đóng góp ít nhiều về mặt khoa học cũng nh thực tiễn tìm hiểu vềTân Kỳ nói chung cũng nh truyền thống về đời sống kinh tế văn hoá của các dântộc trong tỉnh Nghệ An nói riêng
Trang 83 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.
3.1 Nguồn t liệu.
Đề tài: Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân
Kỳ - Nghệ An từ năm 1975 đến năm 2007 ” là một đề tài mới, tôi đã su tầm, tập
hợp những nguồn t liệu ở nhiều nguồn khác nhau
* Nguồn t liệu dân tộc học.
Đó là các sách: Nguồn gốc các dân tộc Việt Nam “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” của Đào Duy Anh, Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ , Dân tộc và vẫn đề xác định thành phần
“Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân
dân tộc” của Mạc Đờng, Sổ tay các dân tộc ở Việt Nam “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” Viện Dân tộc học.
* Nguồn t liệu văn hoá.
Đó là các sách Việt Nam văn hoá sử c“ ơng” của Đào Duy Anh, Văn hoá“
các dân tộc thiểu số Nghệ An , Một số vẫn đề về công tác lí luận t” “ tởng và văn hoá” của Nguyễn Đức Bình, Đại c“ ơng về tiến trình văn hoá Việt Nam” của
Đinh Gia Khánh, Cơ sở văn hoá Việt Nam“ ” của Trần Quốc Vợng
* Các sách tham khảo.
Việt Nam phong tục
“Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” của Phan Kế Bính, Lễ hội trong cộng đồng các “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân dân tộc Việt Nam” do Vũ Ngọc Khánh (chủ biên), Truyền thống văn hoá các “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân dân tộc thiểu số Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh, Hợp truyện thơ văn các dân “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân tộc thiểu số Việt Nam , Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc trung bộ ” “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” do
Nguyễn Hữu Chức (chủ biên)…và một số bài viết, bài nghiên cứu đăng trên các
tạp chí Dân tộc và thời đại , Văn hoá các dân tộc , Dân tộc và miền núi và “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” Tạp chí dân tộc học
“Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân ” …
* Nguồn t liệu địa phơng.
Tôi đã điền dã, khảo sát một số xã nh: Nghĩa Phúc, Gia Xuân, Tân Xuân,Tân Hợp… tìm hiểu một số đền thờ, lễ hội cổ truyền, phong tục tập quán ở cácxã trong huyện Đồng thời tìm hiểu làng bản ngời Thổ, một số gia phả - tộc phảcủa một số dòng họ tiêu biểu của ngời Thổ
Tác giả đã gặp gỡ và trao đổi với các ngời cao tuổi trong xã, các chng nhânlịch sử và các trởng xóm, trởng bản… để đợc nghe kể và mục sở thị về nhữngcông việc và các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể của ngời Thổ
3.2 Phơng pháp nghiên cứu.
Trang 9Phơng pháp nghiên cứu đợc tôi sử dụng đó là phơng pháp sử học Mác - xít
và t tởng Hồ Chí Minh từ lúc su tầm, chính lí tài liệu cho đến quá trình biên soạn
đề tài Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp logíc, phơng pháp thống kê
đối chiếu, so sánh để xử lí t liệu, đánh giá và phân tích sự kiện
Để đề tài đợc phong phú và thể hiện tính hiện thực, chúng tôi tiến hành
điền dã trực tiếp một số địa bàn c trú của ngời Thổ ở Tân Kỳ, trực tiếp thăm hỏi
và phỏng vẫn một số nhà phụ trách văn hoá xã, nhà nghiên cứu văn hoá địa
ph-ơng để bổ sung t liệu
Trên cơ sở, những t liệu thành văn đã đợc xuất bản có liên quan đến vănhoá của ngời Thổ và những đóng ghóp của dân tộc Thổ ở Tân Kỳ để từ đó rút ranhững kết luận chính xác
Tinh thần của những phơng pháp này nói nh P De – Saussure “Chỉ biết
đến một góc độ, góc độ của ngời bản ngữ, và toàn bộ phơng pháp của nó là thuthập những tài liệu của ngời bản ngữ cung cấp: muỗn biết một hiện tợng nhất
định có tính hiện thực đến mức nào thì cần và chỉ cần xem, đối với ý thức ngờibản ngữ, nó tồn tại đến mức nào”
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1 Đối tợng nghiên cứu của đề tài.
- Đề tài đi sâu nghiên cứu về đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ ởTân Kỳ từ năm 1975 đến năm 2007
- Sơ lợc quá trình di c, định c và phát triển của dân tộc Thổ và huyện Tân
Kỳ từ 1975 đến năm 2007
- Đời sống kinh tế của dân tộc Thổ từ 1975 đến năm 2007
- Những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Thổ ở Tân Kỳ - Nghệ An
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4.2.1 Giới hạn về không gian.
Đề tài đề cập đến đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ ở huyện Tân
Kỳ - Nghệ An từ năm 1975 đến năm 2007, trong phạm vi địa giới ổn định làhuyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An
4.2.2 Giới hạn về thời gian.
Đề tài chủ yếu nghiên cứu Về đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ
ở huyện Tân Kỳ - Nghệ An từ năm 1975 đến năm 2007
Trang 10Và những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
5 Đóng góp của luận văn.
5.1 Luận văn là t liệu đầu tiên miêu tả tơng đối đầy đủ về đời sống kinh tế
- văn hoá của dân tộc Thổ ở huyện Tân Kỳ - Nghệ An
5.2 Luận văn tìm hiểu về sự di c của các nhóm dân tộc Thổ vào định c vàphát triển ở Tân Kỳ từ trớc những năm 1975 đến năm 2007
5.3 Luận văn tìm hiểu những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Thổ
ở Tân Kỳ- Nghệ An Vừa phong phú vừa đa dạng nhng vẫn có những đặc điểmriêng biệt, những bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình đối với văn hoá của 54dân tộc anh em
5.4 Đề tài là nguồn t liệu quan trọng giúp ích cho việc biên soạn, nghiêncứu và giảng dạy lịch sử địa phơng ở các trờng Cao đẳng và Trung học Còn cótác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, tình cảm trân trọng và biết giữ dìn nhữnggiá trị văn hoá truyền thống của dân tộc trong tầng lớp nhân dân ở Tân Kỳ nóichung ở Nghệ An nói riêng, nhất là bộ phận học sinh, sinh viên những chủ nhântơng lai
5.5 Kết quả của luận văn là những gợi ý hữu ích cho các nhà hoạch địnhchính sách định c, xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống vănhoá, an ninh quốc phòng ở các huyện có dân tộc ít ngời tỉnh Nghệ An
5.6 Đề tài giúp các quản lí văn hoá hoạch định những chính sách hợp lí đểgiữ dìn, bảo lu và phát triển những truyền thống văn hoá đó Góp phần xây dựng
và phát triển một nên văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
6 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luậnvăn đợc chia làm 3 chơng:
Trang 11Nội Dung Chơng 1
Khái quát đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc thổ
ở huyện tân kỳ trớc năm 1975.
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội.
1.1.1 Điền kiện tự nhiên.
Trang 12Sơn chạy dọc theo Truông Dong lên thợng nguồn đập Mộ Dạ rồi theo con đờngphân thuỷ chạy dài đến động dá Thợng Long; phía Đông và Đông Bắc giáp cáchuyên Yên Thành và Quỳnh Lu ranh giới phân chia theo dãy Bồ Bồ; phía Tây vàTây Nam giáp huyện Anh Sơn và Quỳ Hợp, dãy Pù Loi chạy đến tận lèn Phà Lô,cắt ngang qua Trại Lạt, Cây Chanh sang đồi Họng Bà, qua đồi Nho Học đến đồi
Độc Lập ở Tiên Kỳ Đến đây, dãy Pù loi vợt qua khe Loà chạy theo chân núi Pù
Hà cho đến tận khe Sắn.[13; 11]
Từ thị trấn Tân Kỳ có thể đi tới quốc lộ 7, quốc lộ 1 và tuyến đờng Hồ ChíMinh để ra Hà Nội với quảng đờng khoảng 300 km, hoặc đi về thành phố Vinhvới quảng đờng khoảng 100 km.Tân Kỳ đợc nhiều ngời biết đến bới đây là nơikhởi đầu của con đờng huyền thoại: đờng Trờng Sơn- Đờng Hồ Chí Minh
Ngày 19 tháng 4 năm 1963, huyện Tân Kỳ chính thức có tên trên bản đồ
địa lý hành chính nớc ta Toàn bộ diện tích đất đai của huyện Tân Kỳ ngày nay,trớc đây chủ yếu thuộc huyện Nghĩa Đàn, một phần thuộc huyện Anh Sơn vàhuyện Yên Thành Lạt đơc chọn làm thị trấn của huyện Tân Kỳ, nằm ngay km 0trên tuyến đờng Hồ Chí Minh
Ngợc dòng lịch sử, năm 1887, nhà Nguyễn chia Nghệ An thành 5 phủ:Anh Sơn, Diễn Châu, Hng Nguyên, Tơng Dơng, Quỳ Châu và 6 huyện: Nam
Đàn, Thanh Chơng, Nghi Lộc, Yên Thành, Quỳnh Lu, Nghĩa Đàn
Địa danh “phủ Quỳ Châu”, “huyện Nghĩa Đàn” tồn tại mãi đến Cánhmạng tháng 8 năm 1945 Ngày 25- 8 - 1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 148 SL bãi
bỏ các danh từ phủ, châu, quận Cấp trên cấp xã và dới cấp tỉnh nhất luật gọi là
cấp huyện Phủ Quỳ Châu đợc đổi thành huyện Quỳ Châu(cũ) bao gồm QuếPhong, Quỳ Châu và Quỳ Hợp hiện nay; còn huyện Nghĩa Đàn (cũ) bao gồm cảhuyện Tân Kỳ hiện nay Đến ngày 19- 4 - 1963, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết
định 52/CP phê chuẩn việc chia lại địa giới các huyện Quỳ Châu, Anh Sơn,Nghĩa Đàn thành 7 huyện mới trong đó có huyện Tân Kỳ Tên gọi: HUYệN T
ÂN Kỳ ra đời từ đó.[34; 10]
Lúc mới thành lập, huyện Tân Kỳ gồm 13 xã: Nghĩa Bình, Nghĩa Đồng,Nghĩa Hợp, Nghĩa Dũng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Giai Xuân, Nghĩa Phúc, TânHợp, Tiên Đồng, Kỳ Sơn, Hơng Sơn và Phú Sơn
Trang 13Ngày 17- 4- 1965, Bộ trởng Bộ Nội Vụ ra Quyết định số 142- NV, thànhlập thị trấn Nông trờng Sông Con, trực thuộc huyện Tân Kỳ Cùng ngày 17- 4-
1965, Bộ trởng Bộ Nội Vụ ra quyết định số 143- NV, chia xã Tiên Đồng thànhhai xã Đồng Văn và Tiên Kỳ Ngày 15- 4 – 1967, Bộ trởng Bộ Nội Vụ ra quyết
định số 141- NV, chia xã Giai Xuân thành hai xã Giai Xuân và Tân Xuân; đồngthời lập xã mới ( khai hoang ) lấy tên xã là Nghĩa Hành ( gồm các hợp tác xã:Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Đội Cung ) Ngày 01- 3- 1988, Hội đồng Bộ trởng ra Quyết
định số 22- HĐBT, chia xã Kỳ Sơn thành ba đơn vị hành chính lấy tên là xã KỳSơn, Kỳ Tân và thị trấn Tân Kỳ Nh vậy, hiện nay huyện Tân Kỳ có một thị trấn
và 22 xã, toàn huyện có 266 xóm, bản [34; 12]
1.1.1.2 Địa hình.
Nếu nhìn bao quát cả bốn phía, ta thấy Tân Kỳ nh hình một lòng chảo, địahình thấp dần về phía sông Con – vùng cao nhất là các xã Tân Hợp, Tân Xuân,Giai Xuân Vùng thấp là các xã nằm dọc theo sông Con
Núi cao nhất là đỉnh Pù Loi ( 1.100 m ), rồi đến đỉnh Pù à ( 490 m ), Bồ
Bồ (472 m).[34; 7] Ngoài ra núi đồi phân bố khắp địa bàn huyện Đầu dòngSông Con, phía hữu ngạn gồm các xã Nghĩa Đồng, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái làvùng đất bằng phẳng, thuận lợi cho việc trồng trọt và canh tác.Dạng địa hình úpbát san sát kề nhau, cái cao cái thấp, mấp mô, gồm các xã Nghĩa Hành, HơngSơn, Phú Sơn, vùng đất này đất đai canh tác chắng có là bao Đặc biệt Sông Con,lèn Rỏi cùng hệ thống núi đồi trùng điệp, chạy dài trên địa bàn toàn huyện từ xãNghĩa Bình sang Giai Xuân, Tân Xuân… và những cánh đồng nhỏ hẹp dọc đôi
bờ tả, hữu Sông Con (một nhánh phụ của sông Lam), tạo nên bức tranh hùng vĩvới nhiều màu sắc Dới chân những dãy núi là những xóm làng trù phú, yên vui
do chính bàn tay của các thế hệ ngời dân ở Tân Kỳ tạo dựng nên bằng mồ hôi,
n-ớc mắt và trí tuệ của mình, càng làm cho bức tranh nơi đây thêm hùng vĩ
1.1.1.3 Đất đai
Tân Kỳ có diện tích tự nhiên 72.556,72 ha, trừ diện tích sông ngòi và núi
đá 9.719,31 ha, quỹ đất còn lại là 62.837,41 ha Thổ nhỡng Trong 59.444 ha cótài liệu điều tra thổ nhỡng, huyện Tân Kỳ có 7 nhóm đất sau: Loại đất này thuậnlợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp nh cao su, cà phê, chè, hồ tiêu và cácloại cây ăn quả Đất phù sa 10.797 ha, trong đó phù sa đợc bồi hàng năm 3.084
Trang 14ha, đất phù sa không đợc bồi , chua 3.640 ha, đất không đợc bồi có glây 342 ha,
đất phù sa có nhiều sản phẩm feralit 3.731 ha Đất nâu vàng phát triển trên phù sa
cổ và lũ tích 1.312 ha Đất lùa vùng đồi núi 1.545 ha, trong đó đất feralit biến đổi
do trồng lúa nớc 1.470 ha, đất dốc tụ 75 ha Đất feralit đỏ vàng vùng đồi 38.881
ha, trong đó đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá vôi 8.332 ha, đất feralit vàng đỏphát triển trên đá phiến sét 23.111 ha, đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá cát kết1.242 ha, đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá mácma axít 6.196 ha Đất feralitxói màn trơ sỏi đá 115 ha, đất đen 2.945 ha, trong đó đất đen trên tuýp 1.841 ha,
đất đen trên đá các bô nát 1.104 ha, đất feralit đỏ vàng vùng núi thấp 3.849 ha,trong đó đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét 563 ha, đất feralit vàngxám phát triển trên đá cát kết 3.286 ha
Diện tích đất cha sử dụng còn lớn, trong đó đất bằng cha sử dụng 1.522,22
ha, đất đồi núi cha sử dụng 28.735,55 ha, đất có mặt nớc ch sử dụng 260,07 ha
Đất cha sử dụng còn ở nhiều xã: Nghĩa Hành 4.621,37 ha, Tân Hợp 4.477,25 ha,
Đồng Văn 4,083,09 ha, Giai Xuân 4.048, 60 ha, Nghĩa Dũng 3.214,34 ha, KỳSơn 2 602, 50 ha, Phú Sơn 2.600,60 ha…
Hiện trạng sử dụng đất cảu Tân Kỳ
Diện tích tự nhiên: 72.556,72 ha
Trong đó: Đất nông nghiệp: 12.745,38 ha, chiếm 17,5 %
Đất lâm nghiệp có rừng: 15.641,95 ha, chiếm 21,5%
Đất chuyên dùng: 3.134,35 ha, chiếm 4,3%
Đất ở: 797,89 ha, chiếm 1,1%
Đất cha sử dụng và sông suối, núi đá: 40.237,14 ha, chiếm 55,6% [10;259]
1.1.1.4 Tài Nguyên rừng và khoáng sản.
Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng và đất có khả năng lâm nghiệp toànhuyện là 34.571,80 ha, chiếm 47,65% diện tích tự nhiên Trong 15.643,00 ha đấtlâm nghiệp có rừng, rừng tự nhiên 13.263,95 ha (rừng phòng hộ 10.451,5 ha,rừng sản xuất 2.812,90 ha) và rừng trồng 2.378,0 ha (rừng phòng hộ 244,10 ha,rừng sản xuất 2133,90 ha) Diện tích đất trồng đồi trọc có khả năng sử dụng cholâm nghiệp là 18.928,80 ha Độ che phủ rừng tăng lên từ 11% năm 1995 lên 31%năm 2005 Trữ lợng gỗ năm 2000 có 703.237,0 m3 (rừng tự nhiên 659,097 m3,
Trang 15rừng trồng 44.140 m3), tăng 428.052,0 m3 so với năm 1995 Trữ lợng nứa, mét
có 15,2 triệu cây
Trên địa bàn huyện Tân Kỳ có 4 loại khoáng sản trữ lợng khá: Đá vôi trữ ợng khoảng 150 triệu m3, phân bố đều trên diện tích 7.737 ha, tập trung tại cácxã Tân Hợp, Đồng Văn, Nghĩa Phúc, Tiên Kỳ, Kỳ Sơn (Lèn Rỏi) Đất sét nunggạch ngói, gốm sứ tập trung ở vùng Cừa xã Nghĩa Hoàn, trữ lợng khá, chất lợngtốt Than bùn trữ lợng ớc 540.000 m3 và đá hoa cơng ở xã Đồng Văn, Tiên Kỳ.[10; 261]
l-1.1.1.5 Khí hậu và thuỷ văn.
Tân Kỳ là một trong những huyện trung du miền núi Nghệ An, địa hình đa dạng,phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều khối núi đá vôi và nhiều dãy núi lớn nhỏ, do đóchế độ khí hậu – thời tiết diễn biến thất thờng, phức tạp, không theo một quyluật nhất định Tuy năm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền Bắc,song các huyện phía Tây Nghệ An nh Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Quỳ Hợp, Quỳ Châu,Quế Phong, Anh Sớn, Tân Kỳ, lại có chế độ thời tiết vô cùng phức tạp [12;21] Mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ và lợng ma giũa cácvùng trên địa bàn huyện Tân Kỳ không đều nhau: Vùng Giai Xuân, Tân Xuân mathấp hơn vùng Nghĩa Đồng, Nghĩa Thái Về Mùa đông vùng Nghĩa Đồng, NghĩaThái, Nghĩa Dũng, Nghĩa Hợp, Nghĩa Bình có độ ẩm lớn hơn vùng Giai Xuân,Tân Hợp….Theo số liệu thống kê của Phòng Thống Kê huyện Tân Kỳ, nhiệt độtrung bình hàng năm 23,50C Nhiệt độ tập trung cao nhất vào tháng 4, 5, 6 , 7, 8
có thể lên tới 39,50C Về mùa đông có khi nhiệt độ xuống thấp 30C Lợng muatrung bình hàng năm tơng đối lớn, khoảng từ 1.525mm - 1.700 mm nhng phân bốkhông đều Ma lớn tập trung theo mùa từ tháng 5 đến tháng 10 và thờng gắn liềnvới các cơn bão có sức gió từ cấp 8 – 9, giật cấp 10 hoặc cấp 11 Ma kéo dài, n-
ớc đổ từ các sờn núi dốc xuống tạo nên muôn vàn khe suối nhỏ, chảy xiết dữ dội,
do diện tích rừng nguyên sinh bị cạn kiệt nên từ những măm 1980 lại đây hiện ợng lũ lụt, ngập úng ngày càng tăng gây xói mòn nghiêm trong trên địa bànnhiều xã Trong những ngày ma lũ nớc sông Con cuồn cuộn chảy xiết, đục ngầumang theo cả đá cuội, cát sạn, cây rừng mọi hoạt động giao thông đờng thuỷ, bộkhông thể hoạt động Độ ẩm trung bình hàng năm cao nhất là tháng 8,9,10, thấp
Trang 16t-nhất ở tháng 1, 2, 3, (20%) Gắn với hai mùa nóng lạnh, mỗi năm là hai mùa gióchính Gió Tây (từ tháng 4 đến tháng 8) gây khô nóng, ảnh hởng đến cây trồng vàvật nuôi Mặc khác, các khối núi đá đồ sộ, đứng dựng theo hai hớng Tây Bắc,
Đông Nam trên địa bàn huyện đã làm tăng thêm sự nóng bức; còn gió mùa ĐôngBắc thờng bắc đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gây ra ma phùn và giá rét, s-
ơng muối Hiện tợng ma đá và sơng muối tuy không diễn ra liên tục hàng nămnhng vẫn thờng xuyên xuất hiện gây ảnh hởng xấu đến đời sống con ngời và sảnxuất [13; 22]
Thuỷ văn, thiên nhiên ban tặng cho Tân Kỳ con sông Con mang đặc tính tựnhiên, đi qua địa phận 12 xã của huyện Tân Kỳ với chiều dài 60 km và 6 khe lớn
là Khe Thiềm, Khe Thần, Khe Lá, Khe Loà, Khe Sanh, Khe Cừa với tổng chiềudài 300 km Mực nớc nớc sông dao động theo mùa cha khi nào cạn Con sôngnày ngoài tác dụng giao thông đờng thuỷ, phục vụ vận chuyển hàng hoá cho cácvùng phụ cận, nguồn nớc tới cho các bãi ven sông, nó còn cung cấp thực phẩmtôm cá cho ngời dân nơi đây Về công trình thuỷ lợi có 119 hồ đập vừa và nhỏtổng dung tích 47,2 triệu m3 nớc, 450 ha mặt nớc và lợng ma khoảng 1700mm/năm là nguồn nớc phục vụ dân sinh Nguồn nớc ngầm tơng đối dồi dào, trừ một
số vùng của hai xã Tân Hợp, Giai Xuân, mực nớc ngầm thấp, không đào hoặckhoan đợc giếng nên thờng thiếu nớc sinh hoạt vào mùa hè [10; 259]
Nh vậy, từ xa xa, nhân dân Tân Kỳ đã đồng lòng chung sức, chung lng đấucật khai phá ruộng hoang, đầm lầy, bãi lác, lau sậy,…khắc phục mọi khó khăncủa địa hình, sự khắc nghiệt về khí hậu thời tiết, tận dụng những điều kiện tựnhiên có sẵn (đồi, núi, đồng, bãi, sông, khe,…), đắp đập dựng nhà, ổn định cuộcsống Để có đợc những thành tựu nh hôm nay, nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên vànhân dân Tân Kỳ phải vật lộn với vùng đất rừng thiêng nớc độc, chấp nhận mọikhó khăn thử thách về khí hậu – thời tiết , dịch bệnh,… xây dựng quê hơngbằng sức lực và trí tuệ của mình Mồ hôi nớc mắt của các thế hệ cha anh đã đổxuống mảnh đất này để cho cây cỏ đơm hoa kết trái, quê hơng ngày càng giàu
đẹp
1.1.2 Điều kiện về xã hội.
1.1.2.1 Dân c.
Trang 17Trên dải đất vùng Tây Bắc Nghệ An (bao gồm các huyện Quỳ Châu, QuỳHợp, Quế Phong, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ) xa kia đã từng có ngời nguyên thuỷ sinhsống và chống chọi với thiên tai, thú dữ để tồn tại, phát triển qua nhiều thời đại.
Điều đó đã đợc các nhà khảo cổ học chứng minh qua các di chỉ Thẩm ồm (cóhiện vật chứng tỏ hang này đã có ngời vợn cách nay khoảng 20 vạn năm) và các
di chỉ Hang Hổ (Quỳ Hợp), làng Vạc (Nghĩa Đàn)…, tại Hang Chùa Lèn Rỏi(Tân Kỳ) có di chỉ thời đại đồ đá giữa (với các cộng cụ bằng đá đã tìm thấy nhrìu, công cụ chặt, nạo, chày nghiền, dao đá…) thuộc Văn Hoá Hoà Bình Đặcbiệt tại xã Giai Xuân, đồng bào đã đào đợc chiếc trống đồng thuộc loại II Hê gơ.Theo các nhà sử học, trống đồng loại này đợc chế tác muộn hơn trống đồng ĐôngSơn (cách ngày nay khoảng từ 1.300 đến 1.500 năm) [34; 12]
Trải qua hàng trăm thế kỷ khai sơn phá thạch, chống chọi với thiên tai, thúdữ, c dân bản địa phát triển và tiếp nhận thêm nhiều nguồn c dân ở các nơi hội tụ
về vùng đất này Trớc cách mạng tháng Tám 1945, vàng đất Tân Kỳ dân c thathớt, chỉ vài ba ngàn ngời, đến năm 1963 (khi thành lập huyện) có 21 ngàn ngời;năm 1968 có trên 37.000 ngời; năm 1977 có trên 62.000 ngời; năm 1993 có trên116.500 ngời; năm 2003 có gần 132.000 ngời Đến nay (2008), dân số huyện Tân
Kỳ đã có trên 140.000 ngời, bao gồm các dân tộc Kinh, Thái, Thổ, Thanh Tân
Kỳ là vùng đất kinh tế mới của tỉnh nên dân số tăng nhanh chủ yếu là tăng cơhọc, tiếp nhận hàng vạn đồng bào ở các huyện đồng bằng nh Nam Đàn, DiễnChâu, Yên Thành, Nghi Lộc, Hng Nguyên, Đô Lơng… lên khai hoang xây dngquê hơng mới
Gia tăng dân số 1,52%/ năm, cơ cấu dân số, tỉ lệ theo giới tính: Nam64.469 ngời, chiếm 49,73%, nữ 65,162 ngời, chiếm 50,27% dân số Tỉ lệ theonhóm tuổi; số ngời dới 15 tuổi chiếm 33,35%, từ 15 – 19 tuổi chiếm 58,55%, từ
60 tuổi trở lên chiếm 8,10% dân số Tổng số lao động trong độ tuổi 64.562 ng ời,chiếm 49,80% dân số Trong đó lao động thờng xuyên có việc làm 58.094 ngời,chiếm 90% tổng số lao động trong độ tuổi Lao động thiếu việc làm thờng xuyên
517 ngời, chiếm 0,49% Lao động phổ thông chiếm 95,3%, lao động qua đào tạochiếm 4,7% tổng lao động có việc làm thờng xuyên Lao động phân bố chủ yếutập trung vào sản xuất nông lâm ng nghiệp 52.946 ngời, chiếm 91,14% Lao
Trang 18động công nghiệp, xây dựng 2.113 ngời, chiếm 3,64% Lao động dịch vụ, thơngmại 3.035 ngời, chiếm 5,22% tổng lao động có việc làm thờng xuyên.[10; 262].
Phân bố dân c
Dân số thị trấn Tân Kỳ 5.916 ngời, chiếm 4,6 % dân số huyện
Dân số 21 xã 123.716 ngời, chiếm 95,4 % dân số huyện
Mật độ dân số toàn huyện 178,66 ngời/km2, mật độ dân số thị trấn 794 ngời/km
2, khu vực nông thôn 22 xã 172 ngời/ km2 Mật độ dấn số xã cao nhất 621 ời/ km2 (xã Nghĩa Thái), xã thấp nhất 49 ngời/ km2 (xã Tân Hợp)
ng-Tính đến tháng 7- 2005, dân tộc Kinh chiếm trên 77% số dân toàn huyện.Các dân tộc thiểu số có 6.107 hộ gồm 29.569 nhân khẩu, chiếm khoảng 22,5% sốdân toàn huyện [35; 24]
Dân tộc Thổ phần lớn sống tập trung từ lâu đời tại các xã: Tân Hợp, TânXuân, Giai Xuân và c trú lẻ tẻ ở các xã Đồng Văn, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hoàn
Dân tộc Thái ( thuộc nhóm Thái Trắng, Tày Chiềng) sống tập trung ở haixã Tiên Kỳ, Đồng Văn và sống xen kẽ với ngời Kinh, ngời Thổ ở nhiều xã khác
Dân tộc Thanh (thuộc nhóm Thái Đen, Mãn Thanh)”Theo qui định củanhà nớc, dân tộc Thái bao gồm ba nhóm: Tày Mờng (Hàng Tổng), Tày Khăng vàTày Thanh (Mãn Thanh) Riêng ở huyện Tân Kỳ, cho đến nay, đồng bào ManThanh vẫn tự nhận mình là một dân tộc riêng, gọi là dân tộc Thanh” sống xen kẽvới ngời Kinh ở các xã Nghĩa Dũng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Bình, PhúSơn Toàn huyện có 63 xóm, bản có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, c trú.[34; 14]
Qua từng chặng đờng lịch sử, cộng đồng các dân tộc trên địa bàn huyệnTân Kỳ đã đoàn kết tơng trợ nhau, cùng ra sức chống chọi với thiên tai, thú dữ vàgiặc giã để xây dựng và bảo vệ bản làng quê hơng Tuy mỗi dân tộc đều có bảnsắc văn hoá riêng, nhng do sự giao lu, quan hệ mật thiết với nhau từ bao đời nên
đã có sự giao thoa, đan xen, bổ sung lẫn nhau, tạo nên nếp sống văn hoá phongphú, đa dạng cả về cách trang phục, ẩm thực, kiến trúc nhà cửa, chế tạo công cụsăn bắt, hái lợm, trồng trọt, chăn nuôi Ngoài ra sự đan xen văn hoá còn thể hiện
rõ trong văn hoá phi vật thể nh tục thờ cũng tổ tiên, trong các lễ hội, ngày tết,
Trang 19đám cới…Tuy có sự đan xen văn hóa thờng xuyên và lâu đời nhng từng dân tộcvẫn giữ đợc bản sắc văn hoá riêng của mình.
Từ lâu, đồng bào Kinh ở miền xuôi đã sớm hoà nhập với phong tục tập quán của
đồng bào các dân tộc miền núi Phần đông ngời Kinh vốn ở vùng thâm canh lúanớc, phổ biến nhiều kinh nghiệm hay về thâm canh lúa, trông mía, làm vờn…Một số khá đông ngời Kinh có nghề truyền thống nh mộc, rèn, đan lát, nunggạch… đã góp phần tích cực làm cho nền kinh tế – xã hội Tân Kỳ ngày càngkhởi sắc Hiện nay, trong các cấp bộ đảng, chính quyền, mặt trận, các bannghành, đoàn thể từ huyện xuống cơ sở, cán bộ dân tộc Kinh đang ngày đêmcùng đoàn kết với cán bộ các dân tộc Thổ, Thanh, Thái, ra sức xây dựng Tân Kỳtrở thành một huyện miền núi giàu mạnh
Nhà thơ Xuân Đức đã viết “Tân Kỳ - quê của muôn quê ” Quả vậy, nếu xét
nguồn gốc, dân Tân Kỳ bao gồm hầu hết 19 huyện, thành, thị trong tỉnh Nghệ An
và 64 tỉnh thành trong cả nớc
1.1.2.2 Giáo dục, y tế và tôn giáo
Tân Kỳ là một huyện miền Tây Nghệ An, bớc vào công cuộc đổi mới
Đảng bộ và nhân dân Tân Kỳ quyết tâm đầu t cao nhất cho phát triển giáo dục và
y tế để nhanh chóng bắt kịp các huyên miền xuôi hoàn thành phổ cập cấp 1, 2trong thời kì đổi mới (1986 – 1995)
Giáo dục Đến năm 2006, huyện có 281 lớp mẫu giáo với 6.383 cháu, 44
trờng tiểu học, 715 lớp với 20.531 học sinh, 19 trờng trung học cơ sở, 361 lớphọc với 19.451 học sinh 3 trờng trung học phổ thông, 136 lớp học với 6.063 họcsinh Quy mô các cấp học phát triển khá Mạng lới trờng lớp phân bố đều khắpcác địa bàn vùng sâu, vùng xa Chất lợng dạy và học đạt khá Tỷ lệ trờng học đợcxây dựng kiên cố: bậc tiểu học 5,5%, bậc trung học cơ sở 10,5%, bậc trung họcphổ thông 25% Năm 1997, toàn huyện đợc công nhận phổ cập giáo dục tiểu học
đúng độ tuổi và xoá mù chữ Đến năm 2006 có 16 phổ cập giáo dục trung học cơ
sở, 18 trờng học đạt chuẩn Quốc gia.[10; 265]
Y tế Đến năm 2007, huyện có 1 bệnh viện huyện, 4 phòng khám đa khoa,
1 trung tâm y tế dự phòng, 22/22 xã có trạm y tế xã Toàn huyện có 103 bác sĩ, 4dợc sĩ đại học trên 203 cán bộ, nhân viên y tế Việc khám chữa bệnh, chăm sócsức khoẻ ban đầu cho nhân dân khá, trên địa bàn huyện không có dịch bệnh lớn
Trang 20xảy ra Trẻ em dới 1 tuổi đợc tiêm chủng mở rộng đạt tỉ lệ 96% Tỷ lệ trẻ em dới
5 tuổi suy dinh dỡng giảm từ 56% năm 1990 xuống 42% năm 1995 và 38% năm
2000, năm 2006 còn 29% Tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm từ 48,5% năm 1990 xuống38,5% năm 1995 và 22,1% năm 2000, năm 2006 chỉ còn 9,7% [10; 266]
Tôn giáo Đạo Phật du nhập vào nớc ta từ thế kỷ thứ II và phát triển mạnh
dới triều đại Lý, Trần (thế kỷ XI – XIII) Mức độ phát triển của đạo Phật ở Tân
Kỳ không mạnh nên chỉ có ảnh hởng ít nhiều đến đời sống tâm linh của một bộphận dân c Thiên chúa giáo đợc du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XV, vào Nghệ
An khoảng thế kỷ XVIII Nhà Chung Xã Đoài (thuộc huyện Nghi Lộc) là mộttrung tâm công giáo lớn của ba tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Tại Tân Kỳhiện có hai giáo xứ, 2 vị linh mục, 942 hộ với 4.697 tín đồ (bằng khoảng 3,5%tổng số dân toàn huyện Đồng bào Công giáo c trú tập trung ở các vùng Quỳ Hậu( xã Kỳ Tân), Làng Rào (xã Tân Hơng), Tân Diên (xã Đông Văn) Trong huyện
có 45 xóm, bản của 12 xã có đồng bào công giáo c trú [34; 15]
Trong tiến trình lịch sử, đồng bào lơng, giáo, đồng bào các dân tộc cótruyền thống đoàn kết giúp đỡ tơng trợ lẫn nhau và cùng chung sức chống thùtrong giặc ngoài, xây dựng quê hơng
1.2 Khái quát về các dân tộc định c ở Tân Kỳ.
Cách mạng tháng Tám thắng lợi, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đãmang lại sự đổi mới sâu sắc cho mỗi con ngời Việt Nam nói chung và nhân trênhuyện Tân Kỳ nói riêng (lúc này đang còn thuộc địa phận huyện Nghĩa Đàn vàAnh Sơn) Những ngời dân sinh sống ở Yên Thành, Quỳnh Lu, Đô Lơng, H ngNguyên, Thanh Chơng, Nam Đàn…bắt đầu di dân lên vùng đất huyện Tân Kỳ
Đặc biệt sau ngày miền Bắc hoàn toàn đợc giải phóng thực hiện chủ trơng của
Đảng và Nhà nớc về việc xây dựng kinh tế mới ở miền Tây Nghệ An, nhân cáchuyện miền xuôi lên định c ngày càng đông, thành phần c dân bắt đầu bị xáotrộn
Dân Tộc Thổ phần lớn sống tập trung từ lâu đời tại các xã: Tân Hợp, TânXuân, Giai Xuân và c trú lẻ tẻ ở các xã Đồng Văn, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hoàn…
Dân tộc Thái (thuộc nhóm Thái Trắng, Tày Chiềng) sống tập trung ở haixã Tiên Kỳ, Đồng Văn và sống xen kẽ với ngời Kinh, Ngời Thổ ở nhiều xã khác
Trang 21Dân tộc Thanh (thuộc nhóm Thái Đen, Man Thanh), sống xen kẽ với ngờiKinh ở các xã Nghĩa Dũng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Bình, Phú Sơn.
Toàn huyện có 63 xóm, bản có đồng bào dân tộc thiểu số c trú
2.1.1 Dân tộc Thái.( Tày Chiềng hay là Thái Trắng)
Đất Tân Kỳ là quê hơng lâu đời của ngời Thái (chủ yếu là Thái Trắng vàThái Đen) Thái Trắng là nhóm c trú lâu đời nhất so với các nhóm Thái khác ởTân Kỳ hay miền núi Nghệ An Về nguồn gốc của mình thì nhóm Thái Trắngkhông nhớ rõ nguồn gốc của mình, đồng bào chỉ nhớ ông cha mình cho biết họvào định c và lập làng bản ở đây từ thế kỷ XIII - XIV
Đại bộ phận ngời Thái tại Tân Kỳ sống ở chân núi, trong các thung lũng,dọc theo các sông suối, những nơi có nhiều ruộng đất màu mỡ, quá trình canh táccày bừa đã tạo nên một số cánh đồng tốt Bên cạnh trồng lúa nớc, đồng bào vẫnlàm kinh tế nơng rẫy theo trình tự luân canh bỏ hoá, một mảnh nơng thờng chỉlàm hai, ba vụ là cùng, thậm chí có nơi chỉ làm một vụ, do trớc đây có tình trạng
định c mà du canh
Ngoài kinh tế ruộng nớc và nơng rẫy, thì nghề săn bắt mang lại một nguồnthực phẩm không nhỏ đối với đồng bào Nhng việc săn bắn của đồng bào có luậttục bản mờng nên đồng bào, chỉ giết con to chứ không giết con nhỏ, chỉ bắt chim
to không phá tổ chim… chính những việc làm này đã tạo nên sự cân bằng sinhthái Dân tộc Thái ở Tân Kỳ thuờng có ba hình thức săn bắn, bẫy sau đây
Một là hình thức săn Săn thú đông ngời là phơng thức tồn tại của c dânThái mang dấu vết cổ xa còn lu truyền đến những năm 1960 Cả bản đi săn, cókhi cả hai bản hợp thành một phờng săn, phờng săn có chủ phờng săn thờng là tr-ởng bản có nhiệm vụ tổ chức, cũng tế con vật trớc bàn thờ tổ tiên Thú săn đợc
đem về làm thịt, cũng tế nấu ăn chung, sau khi đã chia phần cho trởng bản và
ng-ời giết chết con thú đầu tiên
Hai là hình thức bắn Hình thức này yêu cầu ngời đi săn phải thạo dùngsúng kíp tự tạo và có cho săn hỗ trợ, đồng bào thờng đi săn ban ngày hoặc ban
đêm, nhờ chó phát hiện dấu vết con thú, ngời đi săn rình bắn và chó rợt đuổi đếnnơi con thú gục chết Còn thú to thì phải hai ngời cùng rình bắn, rợt đuổi có khivài ngày Phơng thức này dần ngày càng mất dần
Trang 22Ba là hình thức bẫy Đây là hình thức đợc sử dụng rộng rãi trong cộng
đồng dân tộc Thái, tất cả mọi thành viên đều có thể làm đợc việc này, vì bẫy của
đồng bào có nhiều loại Có loại bẫy chim Có loại bẩy thú Có thể chia làm mấyloại bẩy sau; Bẩy Thắt là loại bẩy dùng để bẫy chim và thú nhỏ, Bẫy sập loại nàydùng để săn thú to hoặc vừa, Bẩy lao thờng dùng để săn thú to trong rừng sâu,Bẩy kẹp dùng để săn thú nhỏ…
Sống trong nền kinh tế tự cung tự cấp, các gia đình ngời Thái ở Tân Kỳ
đều biết làm một số nghề thủ công Hầu hết đàn ông đều biết làm nhà, đan lát,làm công cụ cho nghề lúa nớc, nơng rẫy, đánh cá… và một số ngời biết làm đồgốm, rèn sắt, làm đồ trang sức, làm nỏ, súng kíp… Phụ nữ biết làm nghề dệt vải,dệt thổ cẩm…Nghề dệt của phụ nữ Thái không chỉ ở Tân Kỳ mà ở cả miền núiNghệ An nổi tiếng về việc dệt vải, thổ cẩm và thêu thùa với mục đích giải quyếtviệc mặc cho bản thân mình, chồng, con và những ngời thân trong gia đình mình
là chính Ngời phụ nữ của dân tộc Thái từ khi còn nhỏ đã đợc mẹ tập làm nghềdệt, khi đi lấy chồng đã biết dệt thành thạo Sản phẩm dệt gồm: quần, váy, áo,
đệm, chăn các loại khăn phiêu…Trong đó là nghề dệt thổ cẩm là đáng lu ý hơncả Vật liệu để dệt thổ cẩm gồm sơi bông, các loại lá cây, thân cây, rễ cây, đểnhuộm màu Dụng cụ để dệt thổ cẩm là cái khung cửi, nhà có bao nhiêu phụ nữ
là có bấy nhiêu khung cửi Để dệt đợc một tấm thổ cẩm không phải dễ dàng, phảiqua một công đoạn từ khi trồng bông rồi hái bông, cán bông, bung bông, lănbông thành cun cún rồi kéo bông thành sợi, sau đó là nhuộm sợi bông thành cácloại màu, guồng vào ống mét, vào con suốt, đem chăng sợi, rồi mới đem lênkhung cửi
Ngoài ra đồng bào dân tộc Thái ở Tân Kỳ còn có nhiều vẫn đề cần đợcnghiên cứu nh; về mặt tổ chức xã hội, Văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể, cadao, truyện thơ, đồng dao, vè, dân ca, phong tục tập quán, tín ngỡng ăn tết và lễhội…
2.1.2 Dân tộc Thanh ( Mãn Thanh hay là Thái Đen).
Đây là một tộc ngời c trú lâu đời tại huyện Tân Kỳ, có trớc khi thành lậphuyện có thể coi tộc ngời này là dân gốc của huyện Tân Kỳ Về nguồn gốc của
tộc ngời này theo một số t liệu và các già làng, trởng bản dân tộc Mãn Thanh ở
Tân Kỳ đều khẳng định ngời Thanh ở Tân Kỳ có nguồn gốc từ Thanh Hoá vào
Trang 23Ba anh em Lơng Văn Hải, Lơng Văn Quý (còn gọi là Hội Quý), Lơng Văn Hán
đa ngời Mãn Thanh từ Lang Chánh - Thanh Hoá vào sinh cơ lập nghiệp ở huyệnTân Kỳ vào đầu thế kỷ XX Nh vậy, so với các dân tộc Thái, Thổ… trú ở miền cTây Nghệ An tại các huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong… ngời Thanh ởTân Kỳ có lịch sử hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Có thể do bị ràngbuộc bởi quan hệ huyết thống và quan hệ cộng c, nên sự phân tầng trong nhómngời Thanh ở Tân Kỳ không gay gắt nh ở nhiều vùng miền khác
Một điểm rất đáng lu ý trong đời sống tâm linh của đồng bào Thanh là họthờ cúng cả bên nội và bên ngoại Lễ vật trên mâm cỗ cúng bố mẹ chồng cũnggiống nh bố mẹ vợ Một nét khá nổi bật khác của đồng bào Thanh là bàn thờ tổtiên đợc bố trí ngay ở gian đầu, sát cạnh cầu thang Bàn thờ chỉ là một tấm gỗmỏng có chiều dài khoảng 40 - 45cm, chiều rộng 30 - 35cm, rất đơn giản và trênbàn thờ chỉ có một bát hơng ngoài ra không có các đồ tế khác nh ta thờng gặp ởngời Kinh Khi giỗ tết, mâm cỗ đợc đặt ngay trên tấm phản vẫn dùng làm giờngnằm cho khách, hoặc con trai đầu lòng trong nhà thờng ngày ở ngay dới bàn thờ
Ngời Thanh vốn nổi tiếng về nghề săn bắn thú rừng kể cả các loại thú dữnh: hổ, báo, gấu… đến các loại thú nhỏ nh chồn, cáo, lợn…Ngoài cung, tên,mác, nỏ, lao nhọn, ngời Thanh còn sử dụng lới (đan bằng sợi gai của ngời Thổ)
để đón lõng và bắt thú Chó săn đợc huấn luyện chu đáo và đợc phân làm hailoại: chó đánh hơi và chó săn mồi Chó đánh hơi cả phờng có 1 - 3 con, loại nàynhỏ, mũi thính, nhanh nhẹn và có chức năng chính là phát hiện ra con mồi lêntiếng sủa để báo hiệu cho phờng săn Khi phát hiện ra con mồi, chó đánh hơi coi
nh hoàn thành nhiệm vụ và trong nhiều truờng hợp nó đợc chủ giữ lại không cho
đuổi theo con mồi để tránh trờng hợp bị con thú làm trọng thơng Chó săn mồi,mỗi phờng săn thờng có từ 10 - 30 con Loại này to khoẻ, dữ tợn, khi phát hiện racon mồi nó lập tức lao theo và liều chết xông vào xua đuổi, cắn xé con mồi cho
kỳ đợc Khi săn đợc thú ngời Thanh thờng chia phần cho chó, ngời đâm con thú
đầu tiên họăc bắn gục con thú đợc chia một phần, còn nữa chia đều cho các thànhviên trong phờng săn Hoạt động săn bắn của ngời Thanh trớc đây diễn ra khá th-ờng xuyên, mang tính cộng đồng cao và lôi cuốn hầu hết thanh niên, đàn ôngtrong bản tham gia Hoạt động này vừa góp phần bảo vệ mùa màng, loại bỏ thú
Trang 24dữ ra khỏi địa bàn c trú, bản làng đem lại cuộc sống bình yên, đồng thời cũngmang lại nguồn thực phẩm giàu dinh dỡng mà núi rừng Tân Kỳ rất phong phú Nhóm ngời Thanh ở Tân Kỳ còn rất giỏi trong việc đan lới, thả câu đểbắt cá Họ còn biết sử dụng các loại lá, vỏ cây, rễ cây trong tự nhiên để bắt cá.Giống nh các dân tộc thiểu số ở Nghệ An và trong cả nớc, trớc cách mạng thángTám năm 1945, ngời Thanh, Ngời Thổ ở Tân Kỳ khi ốm đau, bệnh tật, ngoài việcmời thấy mo, thầy cũng về đuổi ta ma ra khỏi ngời bệnh, họ còn biết sử dụngmuôn vàn loại lá, thân, rễ, củ, hoa… của các loại dợc thảo sắn có trong tự nhiên
để tự chữa bệnh cho các thành viên trong gia đình cũng nh trong cộng đồng
Nh-ng Nh-ngời Thanh ở Tân Kỳ nay đã hoàn toàn khác trớc Phần lớn bà con đã chuyển
từ nhà sàn xuống ở nhà đất nh ngời Kinh Đời sống vật chất và tinh thần của bàcon cũng thay đổi và chịu ảnh hởng sâu sắc của ngời Kinh Từ sản xuất nôngnghiệp, trồng trọt, chăn nuôi đến chế biến thức ăn, phong tục, tập quán, lối sống,ứng xử, giao tiếp… đều khác trớc
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Thổ ở huyện Tân Kỳ
tr-ớc năm 1975.
1.3.1 Tổng quan về dân tộc Thổ ở Nghệ An.
Ngời Thổ ở Nghệ An đã đợc hội nghị xác định thành phần dân tộc tỉnh Nghệ An (Cửa Lò, tháng 12 năm 1973) và hội nghị xác minh thành phần dân tộc của Viện Dân tộc học, Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam coi là một dân tộc (ethnos) và đợc chính thức công bố trong các văn bản Nhà nớc
Ngời Thổ ở Tỉnh Nghệ An có dân số khoảng 59.736 ngời [36; 1], sống tậptrung trong các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ và một nhóm nhỏ tronghuyện Con Cuông Địa bàn c trú này là một ngã ba đờng của sự giao lu xuôi ng-ợc; phía Đông Bắc gần gũi với ngời Mờng, tỉnh Thanh Hoá; phía Đông và phíaNam giáp với vùng ngời Kinh của các huyện đồng bằng Diễn Châu, Quỳnh Lu,Yên Thành, Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; phía Tây và phía Tây Bắc là vùng c trú lâu
đời của ngời Thái Từ trớc tới nay ngời Thổ sống xen kẽ với ngời Kinh và ngời
Thái Mức độ sống xen kẽ ngày càng đậm hơn (ở huyện Nghĩa Đàn năm 1960,
ngời Kinh chiếm 35%, ngời Thổ và ngời Thái chiếm 65% dân số Từ 1960 đến
1970, ngời kinh lên khai hoang 22.000 ngời, các công, nông, lâm trờng 50.000 ngời Hiện nay ngời Kinh chiếm 60%, ngời Thổ 20% và ngời Thái chiếm 11%
Trang 25dân số Nhìn chùn cả bốn huyện thì ngời Kinh chiếm 57%, ngời Thái 32% và
lu truyền những câu cửa miệng ngây ngô nh “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân Nhà Làng , ngu nh ” “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân Mờng , bẩn ” “Tìm hiểu đời sống kinh tế - văn hoá của dân tộc Thổ huyện Tân
nh Mờng”…[8; 446] Cách gọi theo địa danh cũng rất thông dụng trong ngờiThổ, ngời ta quen thuộc với những tên gọi Thổ Lâm La, Thổ Cát Mộng, Thổ QuỳHợp, Thổ Sông Con…, ngoài ra, tuỳ theo mỗi nhóm, ngời Thái thờng gọi ngời
Thổ bẵng những tên gọi ngời Họ, chỉ ngời Thổ ở vùng Giai Xuân, Tân Xuân,Nghĩa Phúc huyện Tân Kỳ Ngời Kẹo, chỉ ngời Thổ ở các xã Nghĩa An, NghĩaTiến ( trừ làng Cát Mộng) và các làng Đơng (xã Nghĩa Quang), U, Rải (xã NghĩaThắng) huyện Nghĩa Đàn Ngời Mọn, chỉ ngời Thổ xã Nghĩa Đức, làng CátMộng (xã Nghĩa Tiến) huyện Nghĩa Đàn và một số xã huyện Quỳ Hợp NgờiCuối, chỉ ngời Thổ ở xã Tân Hợp huyện Tân Kỳ và xã Nghĩa Quang (ba làng Lở,Rạch, Đóng) huyện Nghĩa Đàn Do tiếng nói nặng nhẹ chút ít nên ngời ta cònphân biệt thành ngời Cuối Tẻ (ở Tân Hợp) và ngời Cuối Nếp (ở Nghĩa Quang).Qua nghiên cứu tôi đặc biệt chú ý đến ba tên gọi Cuối, Kẹo và Mọn, ba tên ấyphần nào biểu hiện nguồn gốc của những bộ phận trong cộng đồng ngời Thổ ýnhĩa cuả các tên Kẹo (Kinh), Mọn (Mờng)…( Kẹo là tên ngời Thái gọi ngờiKinh Cuối có nghĩa là ngời, ở Nghĩa Quang và Tân Hợp các cụ già đều xácnhận Tiếng Con Kha, Ly Hà, Đan Lai, cũng giống nh thế Mọn là Tên gọi củangời Mờng, tiếng Thổ cũng là ngời, (Mon Mến: ngời mình) Việc nghiên cứunguồn gốc của một số dòng họ đã giúp thấy rõ hơn về ba bộ phận hợp thành ngờiThổ ngày nay Các cụ già ở nhiều xã còn nhớ những mẫu chuyện về các cuộc di
c thời trớc, về làng quê tổ tiên của họ Những ngời di c tới đây từ hai hớng chính:hớng Nam từ các huyện Quỳnh Lu, Diễn Châu, Anh Sơn , chuyển lên; hớng phía
Đông Bắc từ các huyện Nh Xuân - Thanh Hoá chuyển vào Hầu hết các họ nóitrên đã chuyển vào đây từ 5 đến 10 đời, do nguyên nhân chạy giặc, trốn su thuế,dịch tả, hoặc do hậu quả của một cuộc khởi nghĩa thất bại… Về mặt số lợng,
Trang 26chắc chắn rằng số họ gốc Mờng rất ít so với họ gốc Kinh, song cùng với tên gọingời Kẹo, Mọn , Cuối và quá trình hình thành dân tộc Thổ ở Nghệ An [8; 451].
Nếu nh mặt tên gọi và nguồn gốc cho ta thấy rõ các bộ phận hợp thànhdân tộc Thổ thì mặt đời sống và văn hoá lại biểu hiện những nét chung của dântộc ấy Ngời Thổ ở bất kỳ nhóm nào hay khu vực nào đều sử dụng thành thạochiếc cày nơng ( cần nộn) và nắm chắc kỹ thuật trồng lúa nơng Họ còn trồng
đay, gai, vừng và nhiều kinh nghiệm thu nhặt củ nâu, măng, nấm, song, mây,…nghề săn thú bằng lới phổ biến ở khắp các xã với phơng thức chia thịt thànhtruyền thống Điều đáng chú ý là ở vùng ngời Thổ sinh sống vắng mặt nhiềunghề thủ công phổ biến trong các dân tộc anh em khác, nh : nghề thêu, nghềgốm, … Ngời Thổ quen ở nhà sàn, song nhà sàn của họ không có gì đặc sắc Nhàsàn của họ giống hệt ngời Mờng, ngời Thái, ngôi nhà của ngời Thổ chủ tự ý bỏtrống chải phía Đông, để ánh nắng buổi sáng xuyên suốt, và nhà thờng dựngbằng cột kê hoặc chôn Cũng nh nhà ở, bộ quần áo mặc và chiếc khắn đội đầucủa ngời Thổ đậm nét vay mợn Họ không nắm đợc các kỹ thuật dệt vải, nhuộmvải, thêu thùa… Ngời đàn ông Thổ mặc chiếc quần trắng cạp vấn, chiếc áo dài l-
ơng đen và đội khăn nhiễu tím Ngời đàn bà mặc áo năm thân và váy đen hoặcnâu, đầu đội khăn vuông trắng Tất cả những thứ đó đều do đổi chác hoặc muacủa ngời Kinh, ngời Thái.Trong chu kỳ đời sống của ngời Thổ, tục ngủ mái là tục
lệ phổ biến trong toàn vùng Việc cới xin, ngời Thổ kết hôn trong một dân tộc đó
là kết hôn nội tộc không có kết hôn chính thức giữa ngời Thổ với dân tộc khác nóthể hiện ý thức về thành phần dân tộc và góp phần củng cố cộng đồng tộc ngờingày càng bền chặt Ma chay về đại thể đều thống nhất ở những thể thức chung
về sự tốn kém, nhiêu khê
1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Thổ ở huyện Tân Kỳ
trớc năm 1975.
Cũng nh các dân tộc khác ngời Thổ ở huyên Tân Kỳ đợc hình thành sớmtrớc khi thành lập huyện Dân số ngời Thổ trớc năm 1975 có 11.205 nhân khẩu.Ngày nay riêng ở huyện Tân Kỳ, cộng đồng ngời Thổ c trú trên địa bàn 16/ 21 xãthị trấn với 16.620 ngời, chiếm 12, 3% dân số toàn huyện( năm 2004 dân số toànhuyện Tân Kỳ là 135.000 ngời, năm 2008 dân số Tân Kỳ tăng lên 140.000 ngời).Các xã có đông ngời Thổ c trú là:Tân Hợp: 3.220 ngời; Giai Xuân: 5.417 ng-
Trang 27ời;Nghĩa Phúc: 2.539 ngời; Tân Xuân: 2.488 ngời; Đồng Văn 2.436 ngời,…Những xã này cộng đồng ngời Thổ chiếm từ 52% - 86% dân c toàn xã.[35; tr36].
Về nguồn gốc của mình theo cụ Trơng Văn Hai (ngời Thổ Cuối), 86 tuổi,trởng bản ( xóm) Khe Cấm, xã Tân Hợp huyện Tân Kỳ, thì cho rằng nguồn gốccủa ngời Thổ ở đây đa phần có nguồn gốc từ Thanh Hoá Họ di c vào đây từ thời
kỳ chiến tranh Lê - Trịnh, do trốn tránh áp bức, su thuế, lao dịch… quá nặng nề,một phần vì do mất mùa đói kém, nên họ phải rời bỏ làng bản để đi tìm vùng đấtmới.Và hằng năm, vào mùa xuân họ vẫn về tế họ và thăm bà con của mình ởThanh Hoá Còn Anh Nguyễn Văn Hạnh (ngời Thổ) Trởng ban văn hoá xã GiaiXuân huyện Tân Kỳ thì cho rằng bà con dân tộc Thổ ở đây có nguồn gốc từ cáchuyện miền xuôi nh: Thanh Chơng, Diễn Châu, Quỳnh Lu… đi lên và tham giavào nghĩa quân Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa ở vùng núi Thanh Nghệ Tĩnh, rồi họ
định c ở đây Đặc biệt các cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thế kỉ XVII, XVIII,XIX thất bại, bị triều đình phong kiến và bọn thực dân đàn áp một cách dã man,nên những ngời thua trận và nhân dân miền xuôi chạy trốn lên Tân Kỳ (vì lúc đó
là rừng núi hoang vu)
Ban đầu ngời Thổ ở huyện Tân Kỳ định c ở những vùng trung tâm củahuyện, nhng từ năm 1963 huyện Tân Kỳ đợc thành lập, một làn sóng di c của ng-
ời Kinh lên vùng kinh tế mới ở huyện Tân Kỳ, lập ra những nông trờng kinh tế
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Xã hội chủ nghĩa Cho nên đại bộ phận ngờiThổ ở Tân Kỳ rút dần lên các vùng sâu hơn của huyện Tân Kỳ, trong hoàn cảnhkhó khăn của nơi c trú mới còn phải chịu cảnh áp bức của dân tộc khác và trảiqua một quá trình thoái hoá rõ rệt Trong quá trình sinh sống biệt lập, ý thức vềnguồn gốc của dân tộc mình bị phai nhạt, ý thức về nhóm địa phơng và ý thứcliên nhóm ( những nhóm tộc ngời thân thuộc) đợc củng cố Vì thế chúng takhông thấy gì làm lạ khi các thành viên của nhóm này không còn nhớ về nguồngốc và tên gọi cổ xa của họ Mặc dù có sự khác biệt nhất định giữa các nhóm vềnguồn gốc về văn hoá xã hội đặc biệt là ngôn ngữ, nhng giữa các nhóm đều cóchung một phơng thức sản xuất, một cung cách sinh hoạt Quan hệ hôn nhân giữacác nhóm này đợc tiến hành dễ dàng không có sự phân biệt đáng kể ý thứcchung về cộng đồng nguồn gốc thể hiện rất rõ khi họ coi nhau là anh em, bà conthân thuộc
Trang 28Đặc biệt trong quá trình cộng c các nhóm này có xu hớng dời ra c trú cùngvới ngời Thái, vì vậy đã tạo điều kiện cho quá trình đồng hoá tự nhiên xẩy ra giữacác nhóm này với ngời Thái Là một dân tộc có dân số đông có trình độ kinh tế,xã hội có phát triển cao, ngời Thái đã có một ảnh hởng rất lớn đến các nhóm dântộc này ở đây đã diễn ra một quá trình đồng hoá (Thái hoá) các nhóm dân tộcnày về các mặt : kinh tế, văn hoá, xã hội và ngôn ngữ Tiếng Thái đối với NgờiThổ ở Tân Kỳ đợc phổ biến khá rộng rãi Do c trú hàng thế kỷ bên cạnh ngờiThái nên tiếng nói của ngời Thổ ở đây cũng chịu ảnh hởng, ngoài ra chiếc nhàsàn, trang phục, đồ uống… cũng chịu nhiều ảnh hởng đậm nét.Tôn giáo và tínngỡng, văn học nghệ thuật hầu hết chịu ảnh hởng của ngời Thái và một phần củangời Kinh.
Tuy nhiên, quá trình đồng hoá diễn ra không đồng đều, bên cạnh chịu ảnhhởng của ngời Thái, ngời Thổ ở Tân Kỳ còn chịu ảnh hởng của ngời Kinh, đặcbiệt thời gian sau này Do sự chuyển c ồ ạt lên miền núi Nghệ Tĩnh, Ngời Kinh
đã có ảnh hởng lớn đến dân tộc Thổ từ hai phía: ảnh hởng trực tiếp do cộng c tiếpxúc, trao đổi kinh tế, văn hoá, xã hội; ảnh hởng gián tiếp qua hệ thống giáo dụcphổ thông, các phơng tiện thông tin đại chúng, thông qua các tổ chức xã hội Họ
đã sử dụng tiếng Kinh (Việt) thành thạo, tiếp thu những yếu tố văn hoá tinh thầnngời Kinh
Vậy rõ ràng các nhóm Thổ đến địa bàn Tân kỳ vào những thời điểm khácnhau, tách khỏi cộng đồng gốc trong quá trình sinh sống đã hình thành ý thức vềnhóm địa phơng mình Trong quá trình cộng c bộ phận c dân đồng nhất là nhómKinh ở đồng bằng lên đã đóng vai trò trung tâm cố kết các nhóm này thành một
bộ phận đông hơn Do mức độ cố kết tộc ngời cha bền vững nên tính địa phơngbiểu hiện khá rõ nét Đây cũng là điều kiện để một bộ phận ngời Thổ giữ gìn đợcbản sắc văn hoá riêng của mình, đóng vai trò quan trong trong quá trình hìnhthành và phát triển cuả tộc ngời Thổ
1.3.3 Khái quát về đời sống kinh tế - văn hoá xã hội của dân tộc Thổ ở Tân
Kỳ trớc năm 1975.
1.3.3.1 Đời sống kinh tế.
Trớc cách mạng tháng Tám, đời sống kinh tế của ngời Thổ ở Tân Kỳ gặprất nhiều khó khăn, Vì trớc cách mạng vùng đất Tân Kỳ thuộc bốn Tổng của ba
Trang 29huyện ( Tổng Hạ Su và Cự Lâm của huyện Nghĩa Đàn, Tổng Lãng Điền củahuyện Anh Sơn, Tổng Vân Hội của huyện Yên Thành) Do chính sách áp bức bóclột cuả địa chủ và quan lại địa phơng và của quí tộc Thái, một phần do sống biệtlập trong những vùng sâu, cuộc sống du canh du c và sống dựa vào thiên nhiên.Ngoài việc trồng trọt nơng rẫy với năng suất hết sức thấp kém do bị thú rừng luônluôn phá hoại, họ phải cam chịu cuộc sống săn bắt, đánh cá hái lợm các cây cỏ,
rễ, củ và thân củ cũng nh các thứ rau rừng khác Sống ở vùng đồi núi bán sơn địanhng ngời Thổ ở đây không biết trồng lúa nớc, và làm một số nghề thủ công nhcác dân tộc khác ở trên cùng một địa bàn Dân tộc Thổ chỉ có nghề thủ côngtruyền thồng nổi bật là nghề đan võng gai, đây là sản phẩm chủ đạo phục vụ nhucầu trong đời sống của c dân ở đây, vì võng làm ra để trao đổi buôn bán lấynhững vật dụng cần thiết, ngời ta thờng dùng võng để đổi lấy vải hoặc váy củangời Thái.(công thức đổi: 1 võng = 1 váy(hoặc một tấm vải)
Kinh tế nơng rẫy là nên kinh tế chủ đạo của ngời Thổ trớc năm 1975, việclàm nơng rẫy đợc chia làm hai vụ trong một năm, nông lịch cha rõ ràng, chủ yếulàm theo tập quán Việc chọn đất cũng theo kinh nghiệm cha ông truyền lại, chỉnhìn những nơi nào đất có cỏ cây tốt, nhiều mùn, không thấy xói mòn, không quá
xa bản là chọn vùng đất đó Việc phát rẫy đợc tiến hành theo từng hộ gia đình,dụng cụ chỉ là dao và rạ phát và chỉ làm vào mùa nắng để thuận tiện cho việc đốtcây sau khi phát Đốt đến đâu thì gieo trỉa đến đấy, tuỳ theo điều kiện thiên nhiênnăm đó mà chọn loại cây trồng gì để gieo trỉa, thơng thì chỉ trồng lúa, ngô, sắn.Công việc gieo hạt đợc làm thủ công, dùng một chiếc gây gỗ dài 1,2m, đờng kính0,5cm, đợc vót nhọn một đầu Dùng đầu nhọn đó để chọc lỗ sâu khoảng 0,5cm,
và cho hạt giống xuống lỗ đó, tuỳ theo từng loại giống ngô thì hai, ba hạt, lúa thìphải tám, chín hạt, sau đó dùng đất và tro để lấp lỗ lại, để tránh muông thú ănmất hạt giống Công việc chăm sóc cây giống sau khi phát triển không đợc chú ý,chỉ làm cỏ một lần khi cây phát triển đợc 20cm và sau đó chỉ chờ đến ngày thuhoạch
Việc bảo quản giống khá đơn giản, đến mùa thu hoạch chọn những bônggiống có hạt to và chắc , bó thành bó đem về phơi khô trên bếp và đến ngày gieotrỉa vụ khác thì đem ra mà không có thêm sự xử lý nào Chính điều đó mà hiệu
Trang 30quả của kinh tế nơng rẫy thấp, dẫn đến cái nghèo vẫn bám riết lấy đời sống củangời Thổ ở Tân Kỳ
Trong điều kiện nh vậy, kinh tế tự nhiên; săn bắt, đánh cá, hái lợm, trởthành hết sức quan trọng trong đời sống của đồng bào Thổ Do sống ở vùng rừngnúi hẻo lánh nên việc săn bắt là bản tính tự nhiên của họ, từ già trẻ gái trai aicũng có thể làm đợc việc này.Nhng công việc săn bắt phải tuân thủ chặt chẽ, nhất
là trong việc săn thú lớn (chỉ thanh niên trai tráng khoẻ mạnh và những ngời già
có kinh nghiêm lâu năm mới đợc phép) trớc khi đi săn họ phải tập hợp đợc đôngngời lập thành phờng săn, nhóm săn trình trởng bản và xin chọn ngày và hớng đicho các phờng nhóm Họ có rất nhiều phơng thức săn bắt: Trong đó săn bắt bằngLới mắt cáo (yêu cầu phải đông ngời) là đặc trng của ngời Thổ ở Tân Kỳ cũng
nh ở Nghệ An Lới mắt cáo bện bằng sợi gai, sợi gai to, khoảng 10 - 15 mm đờngkính Cạnh mắt cáo dài 15cm, toàn lới dài 9 đến 10m, rông 3m Khi thú mắc lới,dùng giáo để đâm Giáo dài 2m50, mũi sắt dài 40cm Thờng săn đợc nai, hoẵng,lợn rừng, hổ… Còn phơng thức chia thịt cũng rất đặc trng; ở Giai Xuân đợc chia
nh sau:
* Ngời tìm đợc dấu chân 1 đùi
* Ngời đâm giáo đầu 1 vai sụn
* Ngời đâm giáo sau 1 bắp
* Ngời có lới may trúng nữa đùi
* Những ngời có lới rủi (không trúng) nữa đùi
Còn lại đợc chia đều cho những ngời tham gia cuộc săn
Còn phơng thức chia thịt ở Tân Hợp:
* Thủ đợc chia cho nhà có lới trúng
* 1 vai đợc chia cho các ngời đâm giáo (Lợn 4 giáo, Nai 3 giáo, Hoẵng 2giáo)
* Hai mông đợc chia cho các nhà đuổi thú
Còn lại đợc chia đều cho mọi ngời, kể cả những ngời đã có phần ở trên.[8; 457]
Ngoài ra, đánh bắt cá cũng rất phổ biến trong đời sống tự nhiên của ngờiThổ, vì làng bản của họ thờng sống gần các con khe, suối có nguồn tôm, cá tựnhiên lớn Đây là điều kiện thuân lợi cho việc phát triển ngề đánh bắt cá, và đâycũng là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của bà con, nh:
Trang 31canh lơn, cá nớng, cá nâu canh,… cho nên công cụ và phơng pháp đánh bắt cátruyền thống rất đa dạng và hoang sơ: Lặn bắt cá ngủ đêm, cất vó trời (căng vó là
là trên mặt nớc, kích động cho cá nhảy vào), xúc bọt nớc (đợc cá to khoảng 7 đến
8 cân), chài… tất cả những phơng thức đánh bắt đó trong toàn bộ cộng đồng dântộc Thổ ai cũng làm đợc Cho nên công việc đánh bắt cá đợc làm mọi nơi và mọilúc, có thể đi làm rãy, đi chơi, đi rừng,… nhìn thấy cá là tiến hành bắt Họ sửdụng công cụ và vật dụng có ngay trên ngời để đánh bắt nh; áo quần, váy, dao, rổ đều là ph
… ơng tiên đánh bắt khá hiệu quả theo cách làm của bà con nơi đây
Nhìn chung, đời sống kinh tế của ngời Thổ trớc năm 1975 rất bấp bênh,cuộc sống khá hoang sơ, cha ổn định, vì nhiều lý do: do quan niệm phong tục tậpquán lạc hậu trói buộc họ; do sự chèn ép cố ý hay tự nhiên của ngời Kinh đã đẩy
họ vào con đờng cùng cực và khó khăn Kinh tế tự nhiên đóng vai trò quan trọngtrong việc cung cấp lơng thực thực phẩm cho bữa ăn của đồng bào
1.3.3.2 Đời sống văn hoá xã hội.
Ngời Thổ ở huyện Tân Kỳ trớc đây do ở 3 tổng của ba huyện, nên có đờisống văn hoá xã hội khác nhau Nhng họ vẫn có nét đặc trng về văn hoá xã hộichung của một tộc ngời
Tổ chức xã hội trớc Cách mạng của ngời Thổ vẫn duy trì một chế độ xã hộikhá hoang sơ Đó là một chế độ xã hội cha có pháp luật, bộ máy hành chính hầu
nh cha có gì, con ngời gắn bó với nhau và duy trì cộng đồng của mình chủ yếubằng những thiết chế và tập quán nguyên thuỷ sơ khai hoặc sơ kỳ phong kiến
Đơn vị hành chính nhỏ nhất là bản, các bản chỉ có từ 20 đến 25 hộ gia đình, cácgia đình thờng có họ hàng dòng tộc với nhau.Để duy trì trật tự, luật tục và lề thóimỗi bản thờng có một già làng Già làng thông thờng do dân bầu ra chứ khôngphải cha truyền con nối, ngời đó thờng là ngời đứng đầu dòng họ hoặc ngời caotuổi nhất trong bản, có uy tín và hiểu biết và phong tục tập quán của dân bản.Trong ý thức của dân bản già làng bào hàm vinh dự chứ không bao hàm quyềnlợi, đợc dân bản tôn kính, phục tùng một cách tự giác không điều kiện Nhiêm vụcủa già làng bao gồm các công việc xã hội nhằm duy trì trật tự bản làng, chủ trìviệc cũng ma bản hàng năm, giải quyết các xích mích, bất hoà trong bản, chỉ huyviệc di chuyển nơi c trú, đi săn bắt, hoặc giải quyết các mâu thuẫn với các dântộc khác…
Trang 32Về tôn giáo và tín ngỡng
Đó là những sinh hoạt tôn giáo thờ các thần nh: Thần Đông, Thần Tây,Cao Sơn tức thợng đẳng tối linh, Thần Cố(chuyên săn bắn)… trong những dịp tếtmùa xuân, nghi lễ mùa thu,… cũng tế ở nhà làng, hàng năm ngời Thổ thờng tổchức cũng ma bản một lần vào tháng giêng để cầu mong sự phồn thực và củng cố
sự đoàn kết cũng nh ý thức cộng đồng Đây cũng là một hình thức biến dạng củacủa tục cũng thành hoang làng của ngời Kinh Cúng ma bản là hình thức sinhhoạt lớn nhất , điều khiển là già làng, trong ngày cũng dân bản đợc nghỉ ngơi, ăn,chơi, nhảy múa, ca hát…
Về quan hệ giao tiếp.
Ngời Thổ sống rất vô t, sôi nổi và thẳng thắn Mặc dù cuộc sống khókhăn, thiếu thốn nhng họ không biết đến sự tính toán thủ đoạn, khi lao đọng thìhết mình, khi ăn uống thì thoải mái vô t Khi tiếp khách chân tình quý trọng, thái
độ yêu ghét rõ ràng Nó trở thành một nếp sống đợc định hình nh một nguyên tắcứng xử của cộng đồng
Trong kho tàng văn học dân gian, họ chịu nhiều ảnh hởng của các dântộc khác nh các tác phẩm: Mo Mờng, Kể Đáng… và các điệu hát nh: Hát Cuối,hát phờng Vải, hát Ví … với hình thức hát xớng và giọng điệu
Chế độ hôn nhân.
Sau những buổi hội hè, trai gái đợc tự do mời bạn về nhà ngủ cùng ( ngủmái), trớc sự vui vẻ của mọi ngời trong gia đình Họ ngủ đôi trai gái hoặc mộttrai ba bốn gái, một gái ba bốn trai, họ nói chuyện vui vẻ hoặc tìm hiểu tâm tìnhmột cách trong sáng Rất hiếm có trờng hợp làm chuyện mờ ám Sau khi tìm hiểucả hai bên ng thuận, nhà trai tìm bà mối đến mối mai, dạm hỏi đến lễ cới.Tronggiai đoạn này có quy định rất chặt chẽ: mỗi tháng nhà trai phải đến biếu nhà gáimột lễ gồm bánh và rợu Nếu bỏ lễ coi nh bỏ vợ, đó là cha kể đến các lễ tếtnguyên đán, đoan ngọ, rằm tháng bảy, lễ cơm mới… ngời con trai phải đến ở rể,
có vùng ngời con trai phải đến ở rể hẳn hay ở 10 đến 15 năm hoặc đến lao động
10 đến 15 ngày mới đợc cới (tuỳ theo từng dòng họ quy đinh cho ngời con rể)
Về ma chay
Đáng chú ý là tục quấn ngời chết trong nhà lâu ngày, thờng là hàng tuần,
có nơi kéo dài 3 đến 4 tháng hoặc lâu hơn nữa Các bớc tiến hành một đám tang ở
Trang 33Giai Xuân hồi đầu trớc Các mạng: Tang chủ trình làng, làng tới giúp đẽo hòm,làm bằng gỗ của tang chủ đã chuẩn bị trớc, tập trung họ hàng đa ngời chết dạochơi trong làng (tám đòn 32ngời khênh), đa ngời chết đi thăm các nhà ngời thânquen, đa ngời chết ra bến nớc gội đầu (các chỗ nghỉ dọc đờng có thi vật, múa s
tử, con cái lăn trên đờng đi ba lần), sau đó mới chôn cất Toàn đám tang giết chếtkhoảng 32 trâu đối với những gia đình có chức vị, tiền của Còn những gia đìnhkhông có chức vị và tiền của thì đám tang của họ vẫn diễn ra giống nh những gia
đình khác nhng lễ vật đợc bớt đi và còn tốn kém nhiều thứ khác
Từ góc độ đồng đại, cộng đồng ngời Thổ ở Tân Kỳ có cuộc sống thể hiện
rõ điểm xuất phát thấp, cộng lao động thô sơ, phơng thức sản xuất lạc hậu, đờisống vật chất và tinh thân nghèo nàn Song từ hoàn cảnh đặc biệt ấy, cộng đồngngời Thổ đã tìm đợc cách tiếp cận tự nhiên, xã hội phù hợp cho riêng mình.Những gì giúp họ tồn tại và phát triển cũng đủ cho phép chúng ta khẳng định bảnchất cần cù, chịu thơng chịu khó, năng lực ứng xử thông minh của cộng đồng đểcùng chung sống với thế giới xung quanh Nhọc nhằn, thầm lặng trầm tích nênbản sắc văn hoá riêng có diện mạo đặc trng một tộc ngời Không thể nhầm lẫnvới một cộng đồng nào khác, đến cách tác động vào thế giới tự nhiên để biến tựnhiên của nó thành tự nhiên cho mình
Trang 34Dân tộc Thổ ở huyện Tân Kỳ trớc những năm 1975, mặc dù sống ở gầnnhững thung lũng, khe suối nhng ngời họ không biết làm ruộng nớc Mà kinh tếchủ yếu của đồng bào là kinh tế nơng rẫy, phụ thuộc vào thiên nhiên Nhng saugiải phóng, nhờ có sự quan tâm của Nhà Nớc và chính sách kinh tế mới của
Đảng, của chính quyền địa phơng tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có điềukiện sống thuận lợi và phát triển ngang bằng cùng với các dân tộc khác
Những năm 1975 đến 1980 mặc dù sau giải phóng đồng bào đợc chiaruộng đất để tái định canh định c, nhng với thói quen làm kinh tế nơng rẫy rất ít
đồng bào nhận ruộng khoán toàn huyện chỉ có khoảng 745hộ/ 3.283 hộ nhậnruộng khoán Nhng khi nhận ruộng đồng bào không có kinh nghiệm trồng lúa n-
ớc nên năng suất lúa thấp, ghặp phải hạn hán, sâu bệnh… nên năng suất lúa thấpchỉ 1tạ lúa đến 1,2 tạ/ 1ha.Chính điều đó đã dẫn đến đồng bào nhanh chóng bỏruộng về với núi rừng đến năm 1980 chỉ còn 135hộ/ 3.759hộ
Từ Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tân Kỳ lần thứ XII, nhiệm kì 1983
-1986, (từ ngày 23 đến ngày 26 - 12 - 1982) Mục tiêu cơ bản của giai đoạn này làphấn đấu đảm bảo tự cân đối lơng thực, thực phẩm tại chỗ, chăn đứng nạn phárừng làm rẫy… Thực hiện nghị quyết của đại hội, từ đó hoàn chỉnh quy hoạchphát triển kinh tế - xã hội, tích cực tận dụng khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồntài nguyên rừng, đất đai, đẩy mạnh mặt trận nông nghiệp…
Tiến công vào mặt trận nông nghiệp, Đảng bộ và nhân dân huyện với tinhthần, dựa vào sức mình là chính Đảng bộ huyện động viên tốt cán bộ, đảng viên
và nhân dân tập trung xây dựng lại mặt trân nông nghiệp, mở rộng diện tích canhtác ở các xã… Với quyết tâm của đảng bộ huyện và xã có chơng trình hành động
cụ thể để, chặn đứng nạn phá rừng làm rẫy của đồng bào dân tộc Thổ ở huyệnTân Kỳ Kết hợp với phòng nông nghiệp huyện và cán bộ đảng viên của các xã
có đồng bào dân tộc Thổ sinh sống, mở cuộc vận động kêu gọi bà con định canh
định c, để làm đợc việc này thì phải giúp bà con nhận thấy cái lợi trong việctrồng cây lúa nớc và tác hại của việc phá rừng làm rãy Mặc dù công tác vận
động gặp rất nhiều khó khăn, vì thói quen và phong tục của ngời Thổ đã ăn sâuvào cuộc sống của họ không dễ gì thay đổi
Những năm đầu cuộc vận động giúp đồng bào định c, gặp nhiều khó khăn,nhng với quyết tâm của cán bộ đảng viên để thực hiện tốt nghị quyết đề ra Họ đã
Trang 35thành công trong việc giúp đỡ đồng bào định canh định c, với tinh thần “dắc taychỉ việc” cùng làm việc với đồng bào, cán bộ đảng viên đã giúp đỡ đồng bào bớc
đầu những kinh nghiệm trồng lúa nơc, mặc dù những năm đầu thực hiện gặpnhiều thất bại, do thiên tai, lũ lụt, và do bà con mới bớc đầu tìm hiểu trồng lúa n-
ớc Nhng kết quả đạt đợc rất khả quan năm 1984 toàn bộ diện tích trồng lúa nớccủa đồng bào dân tộc Thổ ở huyện Tân Kỳ là 105,57 ha, đạt 3,2tạ đến 3,6tạ/1ha
Đến năm 1986 diện tích tăng lên 235,81ha đạt 76,82% kế hoạch Đại hội đề ra[35; 189] Điều quan trọng là cơ cấu cây trồng thay đổi, diện tích trồng lúa 2 vụlúa năm tăng lên Kết quả lớn hơn là đã giúp đồng bào dân tộc Thổ ở huyện Tân
Kỳ bớc đầu làm quen với phơng thức canh tác trồng lúa nớc.Đến cuối năm 1986
đã có 4.378 hộ/ 6.453hộ, chiếm 82% dân số dân tộc Thổ trên toàn huyện chuyểnsang hình thức làm kinh tế ruộng nớc
Đến những năm 1995 thì toàn bộ đồng bào dân tộc Thổ huyện Tân Kỳ đãbiết làm ruộng nớc Diện tích trồng lúa nớc ngày càng đợc mở rộng, cụ thể năm
1990 diện tích trồng lúa nớc của đồng bào dân tộc Thổ ở huyện Tân Kỳ là368.72ha/ 2879.35ha, nhng đến năm 2006 diện tích tăng lên 744.6ha/4467.06hacủa toàn huyện Năng suất bình quân cung tăng lên từ 3,2 đến 3,6 tạ/1ha năm
1986, lên 4,7 đến 5,5 tạ/ 1ha năm 2006.[35; 203]
Dẫn đến việc cung ứng dịch vụ giống, vật t phân bón cũng đa dạng đápứng nhu cầu của đồng bào Những giống lúa cho năng suất cao nh lúa lai, lúathuần, nhi u, Q.u, TH 3-3, thục hng…các loại phân bón cũng đợc đa vào sử dụng
để tăng năng suất lúa
Chính việc biết trồng lúa nớc đã làm thay đổi hoàn toàn đời sống của đồngbào dân tộc Thổ, đồng bào dần dần bặt nhịp với cuộc sống của đồng bào ngờiKinh, khoảng cách giữa ngời Kinh và ngời Thổ dần đợc rút ngắn trên mọi phơngdiện Để nhìn rõ sự chuyển biến trong đời sống kinh tế nông nghiệp của đồng bàongời Thổ ở Tân Kỳ, tôi xin trích báo cáo cụ thể kết quả sản xuất vụ đông xuân
2007 - 2008 của xã Giai Xuân huyện Tân Kỳ ở Phần phụ lục 6,7
Trang 36Tháng hai: Đốt rẫy, trồng ngô, lúa, sắn.
Tháng mời, tháng mời một: Phát rẫy và thu hoạch sẵn
Tháng mời hai: thu hoạch lúa, làm nhà chuẩn bị Tết
* Dự báo thời tiết.
Sống nơi vùng đồi núi, cách dự báo của ngời Thổ thờng chỉ biết dựa vàothiên nhiên và kinh nghiệm cổ truyền của cha ông để lại Ngời Thổ lấy thời tiếtbuổi sáng, buổi chiều trong các ngày từ mồng 1 đến 12 tháng 1 âm lịch để dự báothời tiết của 12 tháng trong năm
Sáng đến chiều mồng một tết trời âm u thì thời tiết tháng 1 sẽ âm u, maphùn nhiều, thời tiết này thì không nên phát rẫy và đi săn
Sáng âm u chiều nắng: đầu tháng ma, cuối tháng nắng Thời tiết này thuậnlợi cho việc trông lúa, ngô, sắn, mà mùa màng sẽ đợc thắng lợi
Sáng nắng chiều âm u: đầu tháng nắng, cuối tháng ma Thời tiết này thuậnlợi cho việc phát rẫy và không nên trông lúa, ngô, sắn dẫn đến mất mùa
Sáng nắng, chiều nắng: cả tháng1 nắng có thể có ma phùn Thời tiết nàythuận lợi cho việc phát rẫy và trồng lúa, ngô, sắn, năm này có thể đợc mùa lớn
Sáng ma, chiều ma: cả tháng ma nhiều, nắng ít Thời tiết này không nênphát rẫy trồng lúa, ngô, sắn dẫn đến mất mùa.[42]
ợc thì mọi trong gia đình đánh dấu để cho mọi ngời trong bản biết mảnh đất này
đã có ngời chọn Cách đánh dấu rất đơn giản, họ chọn một mảnh đất dễ nhìn
Trang 37nhất, phát hết cây trong mảnh đất đó và lấy cây, nhánh đã phát dựng thành mộthình chóp để báo hiệu cho mọi ngời không đợc xâm phạm.
Theo kinh nghiệm của bà con, đất tốt là nơi có nhiều cây, nhiều đất mùn,
có độ dốc vừa phải đặc biệt là phải xa bờ suối vì theo bà con gần suối vùng đất đó
dễ bị các loài động vật xuống uống nớc phá hoại cây trồng của họ
Việc phất rẫy đợc tiến hành theo từng gia đình, không có sự tơng trợ nào
Dụng cụ phát rẫy chỉ là con dao, rạ phát Dụng cụ thu hoạch chỉ có Nải cu cu
(nải gặt lúa rẫy, hình 2 – 1, phụ lục 8) và cuốc đào
Mỗi năm đồng bào phát từ bốn đến sáu mảnh rẫy, mối mảnh từ một sào
đến khoảng gần hai sào ( khoảng 500 đến 750 m2) Nhìn chung rẫy của đồngbào không xa làng bản, chỉ cách bản khoảng 3 đến 4 km2 Mỗi mảnh đất thờng
đợc bà con canh tác một đến hai lần tuỳ theo mảnh đất đó cho vụ mùa nhiều hay
ít, nếu mảnh đất đó cho vụ mùa nhiều thì đợc trồng mùa vụ sau, còn ít thì khôngdùng nữa mà bỏ hoang và mọi ngời trong bản ai muỗn dùng thì chỉ việc trả côngmột gà và một chai rợu thì có quyền sử dụng và sở hữu luôn mảnh đất đó Sau khiphát đợc nữa tháng thì đồng bào tiến hành đốt rẫy, muỗn đốt rẫy thì phải thầy mo
đến cúng và làm bùa yểm để khỏi cháy sang vùng đất khác Hớng đốt thờng bắt
đầu từ dới chân núi lên trên, sau khi đốt xong đồng bào dọn sạch và lấy nhữngthân cây cha cháy hết làm bờ rào để tránh khỏi sự phá hoại
Nơng rẫy của ngời Thổ có 3 loại khác nhau Rẫy Lúa, Rẫy Ngô, Rẫy Sắn
Rẫy Lúa có nhiều loại khác nhau nh: lúa Ngom (lúa đen), lúa xét, cháo vàng,
cháo kén, chặt rặt, lúa pím, lúa pợp, rộng khơm, rộng dầm, ló ngần, ló đo, ló mọn, ló rẻ….Loại rẫy này đợc chọn làm rẫy dốc Rẫy ngô có 2 hai loại chủ yếu;
ngô cứt chồn (đen, vàng, trắng), ngô nếp Rẫy sắn có hai loại; sắn đỏ, sắn trắng.
Loại rẫy Ngô, Sắn đợc chọn vùng rẫy bằng, có độ dốc không cao
Công việc gieo hạt đợc làm thủ công, dùng một chiếc gây gỗ dài 1,2m, ờng kính 0,5cm, đợc vót nhọn một đầu Dùng đầu nhọn đó để chọc lỗ sâu khoảng0,5cm, và cho hạt giống xuống lỗ đó, tuỳ theo từng loại giống ngô thì hai, ba hạt,lúa thì phải tám, chín hạt, sau đó dùng đất và tro để lấp lỗ lại, để tránh muông thú
đ-ăn mất hạt giống
2.1.2.3 Chọn giống và bảo quản giống.
Trang 38Việc chọn giống đợc tiến hành khá đơn giản Vào mùa vụ thu hoạch đồngbào chỉ việc chọn những bông ngô, bông lúa tốt bó thành bó rồi đem về nhà gáclên giàn bếp hoặc phơi khô Rồi đem ra vò và sảy kỹ, sau đó cho vào đồ đựng
giống Bùa bê, hình 2 - 2, phụ lục 8.
Cách giữ giống sắn; Khi thu hoạch đồng bào giữ giống sắn ngay tại chỗ,sau khi thu hoạch củ sắn xong, đồng bào thờng chọn những cây sắn to khoẻ, câymập, không cong, và cây sắn đó cho năng suất nhiều Thì đồng bào chọn về nhà
họ chọn những vùng đất ẩm đào một cái hố vừa phải , sau đó cho những cây sắnmình đã chọn cho vào hố và lấy cây rơm tấp lên những cây sắn để giữ độ ẩm Khimùa vụ đến thì họ bốc những cây rơm ra khỏi cây sắn và chọn những cây sắnkhẻo, còn tơi, và không bị nấm mốc thì đợc chọn làm giống, còn những cây bịnấm mốc, hay chết khô thì bị loại Nhng những cây đó không đợc trồng lại nhng
nó lại đợc đồng bào tấp lại và để nó tự phân huỷ và đồng bào cứ lấy rơm tấp lên
khoảng độ một tháng mời lăm ngày họ sẽ thu đợc Đấm cu cụ (Mộc Nhĩ), Đấm
Tán ( Nấm Mèo).[42].
2.1.2.4 Chuyển biến trong làm nơng rẫy.
Trớc những năm 1985 thì kinh tế nơng rẫy là nguồn cung cấp lơng thựcchính của đồng bào dân tộc Thổ ở huyện Tân Kỳ Trớc năm 1985 thì kinh tế n-
ơng rẫy chủ yếu trồng lúa và sắn là hai cây lơng thực chủ đạo, chiếm 80% nguồncung cấp lơng thực thực phẩm của đồng bào Nhng những năm 1985 trở về trớcnăng suất kinh tế nơng rẫy thấp vì đồng bào cha áp dụng đợc khoa học kỹ thuậtvào sản xuất nên bình quân một ha lúa rẫy cho năng suất từ 0,7 - 1,0 tấn, sắn thìchỉ 1,0 - 1,3 tấn Cho nên thu nhấp từ nơng rẫy chỉ cung cấp đủ lơng thực mộtthời gian rất ngắn cho đồng bào khoảng 5 - 6 tháng/ 1năm, còn lại đồng bào phảisống dựa vào hái lợm, săn bắn hoặc sống nhờ vào trợ cấp của nhà nớc
Từ những năm 1985 - 2007 thì kinh tế nơng rẫy đóng vai trò tăng thêm thunhập cho đồng bào, nhờ biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất và câytrồng trên nơng rẫy cũng đa dạng hơn Bên cạnh các loại cây lơng thực trên cácnơng rẫy, đồng bào dân tộc Thổ còn trồng các loại cây công nghiệp dài ngàykhác nh keo, bạch đàn, cao su, …Đặc biệt từ Chính phủ triển khai chơng trình
135 thì nhiều hộ gia đình đã chuyển hình thức canh tác trên nơng rẫy, nhiều hộ
đã tự bỏ vốn mở rộng diện tích trên nơng rẫy đặc biệt là đất rừng để trồng cây
Trang 39công nghiệp dài ngày đây là nguồn thu nhập lớn của đồng bào vì 7ha cây keo,bạch đàn sau 3 - 5 năm cho thu nhập từ 27.000.000 - 30.000.000 đồng, ngoàinguồn thu nhập lớn cho đồng bào thì việc trông cây đã phủ xanh đất trống đồitrọc mang lại nhiều lợi ích cho đồng bào và xã hội Và hiện nay thì đồng bào ng -
ời Thổ huyện Tân Kỳ ở bất kì xã nào thì mỗi hộ cũng có 5 - 15ha đất rừng trôngcây công nghiệp Chúng ta có thể nhìn vào bảng so sánh cụ thể của một xã có thểthấy rõ điều này
Đánh giá kết quả sản xuất vụ Đông Xuân năm 1980 1981 của xã Giai Xuân
-Tân Kỳ
hoạch
Thực hiện
Đạt % KH
Đạt % KH
Trang 40Qua bảng thống kê chúng ta có thể thấy đợc sự chuyển biến nhanh trong
đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Thổ huyện Tân Kỳ, khi bớc vào thời kỳhội nhập Nhìn chung, đồng bào dân tộc Thổ ở Tân Kỳ ngày nay sản xuất nôngnghiệp là chính, nhng việc làm nơng rẫy đóng một phần quan trọng trong đờisống của đồng bào Nhng công cụ làm nơng rẫy của đồng bào còn lạc hậu, hoàntoàn dựa vào thiên nhiên, ít đầu t về phân bón Cho nên, năng suất thấp Trong
điều kiện nh vậy, kinh tế tự nhiên; săn bắt, hái lợm trở thành nhu cầu không thểthiếu trong đời sống của đồng bào
2.1.3 Chăn nuôi.
Chăn nuôi , đây cũng là một trong những loại hình kinh tế đóng vai tròquan trong trong đời sống kinh tế của đồng bào ngời Thổ, với địa hình đồi núibán sơn địa, thuận lợi cho việc chăn nuôi rất nhiều loại gia súc gia cầm
Từ 1975 - 1995 chăn nuôi đối với đồng bào thì chỉ mang lợi ích phục vụnhu cầu thực phẩm hàng ngày của các gia đình Mang tính chất manh mún bởi vìnguồn vốn cho chăn nuối đối với đồng không có cho nên không có khả năngnhân rộng vật nuôi Và việc chăn nuôi đồng bào chỉ dựa vào thiên nhiên vì vậtnuôi của mọi gia đình chỉ thả rông không có chuồng trại nếu có thì chỉ tạm bợ,