(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Trang 1-
PHẠM THANH TOÀN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO TỒN LOÀI BÁCH TÁN ĐÀI LOAN (Taiwania cryptomerioides Hayata) TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN HOÀNG LIÊN - VĂN BÀN,
HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 2-
PHẠM THANH TOÀN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO TỒN LOÀI BÁCH TÁN ĐÀI LOAN (Taiwania cryptomerioides Hayata) TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN HOÀNG LIÊN - VĂN BÀN,
HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
Ngành: LÂM HỌC
Mã số: 8.62.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ HOÀNG CHUNG
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào để bảo vệ luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ Các hình và ảnh sử dụng trong công trình là của tác giả và tập thể cộng tác./
Tác giả
Phạm Thanh Toàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” được hoàn thành theo chương
trình đào tạo Cao học lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học, khóa 26 (2018 - 2020) Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo và các thầy giáo, cô giáo thuộc Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên Nhân dịp này cho tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Hoàng Chung với tư cách là người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tác giả cũng xin cảm ơn Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thu thập số liệu ngoại nghiệp để hoàn thành luận văn này Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bàn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 5Phạm Thanh Toàn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
1.1.1 Nghiên cứu về Bách tán Đài Loan 5
1.1.2 Nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen 6
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 8
1.2.1 Nghiên cứu về cây Bách tán Đài Loan 9
1.2.2 Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen 13
1.3 Nhận xét, đánh giá chung 15
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 16
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 16
1.4.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 21
1.4.3 Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương 26
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
Trang 62.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 28
2.4.2 Phương pháp điều tra cụ thể 28
2.4.3 Phương pháp nội nghiệp 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Đặc điểm hình thái của cây Bách tán Đài Loan 39
3.1.1 Đặc điểm về phân loại của loài trong hệ thống phân loại 39
3.1.2 Đặc điểm hình thái cây 39
3.2 Một số đặc điểm sinh thái của loài Bách tán Đài Loan 43
3.2.1 Đặc điểm địa hình 43
3.2.2 Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa khu vực nghiên cứu 44
3.2.3 Đặc điểm đất đai nơi có Bách tán Đài Loan phân bố 45
3.3 Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Bách tán Đài Loan phân bố 46
3.3.1 Cấu trúc tổ thành rừng 46
3.3.2 Điều tra cấu trúc rừng khu vực phân bố loài Bách tán Đài Loan 46
3.3.3 Điều tra nhóm loài cây đi kèm 49
3.3.4 Đánh giá thực trạng khu vực phân bố loài Bách tán Đài Loan 51
3.4 Đặc điểm tái sinh và các nhân tố ảnh hưởng tới tái sinh loài Bách tán Đài Loan 52
3.5 Các biện pháp bảo tồn 53
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Hiện trạng đất đai và rừng khu BTTN Hoàng Liên-Văn Bàn 21
Bảng 1.2: Diện tích, dân số và mật độ dân số 22
Bảng 1.3: Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi lao động KBTTN 22
Bảng 1.4: Phân bố và thành phần dân tộc ở các xã vùng đệm 23
Bảng 3.1: Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa nơi có cây Bách tán Đài Loan phân bố 44
Bảng 3.2: Đặc điểm phẫu diện đất khu vực phân bố Bách tán Đài Loan 45
Bảng 3.3: Chỉ tiêu sinh trưởng loài Bách tán Đài Loan 46
Bảng 3.4: Các loài phân bố theo tầng thứ 47
Bảng 3.5 Tổ thành tầng cây gỗ ở khu vực nghiên cứu 48
Bảng 3.6: Số cây tái sinh theo ÔTC 49
Bảng 3.7: Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 50
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Vị trí Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn 17
Hình 1.2: Thành phần các dân tộc KBTTN 23
Hình 3.1: Hình thái thân cây BTĐL 40
Hình 3.2: Hình ảnh tán cây Bách tán tại khu BTNT Hoàng Liên - Văn Bàn 41
Hình 3.3: Hình lá Bách tán Đài Loan 42
Hình 3.4: Hình thái cành lá, nón, hạt Bách tán Đài Loan 42
Hình 3.5: Nón cái Bách tán Đài Loan (khi chín trên cành và khi tách hạt) 43
Hình 3.6: Cấu trúc tầng thứ khu vực nghiên cứu loài Bách tán Đài Loan 477
Hình 3.7: Xây dựng bản đồ số và cơ sở dữ liệu loài Bách tán Đài Loan 54
Hình 3.8: Chăm sóc Bách tán Đài Loan 55
Hình 3.9: Hình ảnh họp thôn, tuyên truyền bảo vệ loài BTĐL 56
Trang 10Nam (Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2005)
Bách tán Đài Loan là thực vật hạt trần còn sót lại của Thế giới, đến nay
đã được tìm thấy có mọc tự nhiên tại xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và hai thôn Lùng Cúng và Phìn Ngài, xã Nậm Có, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đây là loài thực vật không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học (loài thực vật có ít tiến hóa, phân bố rất hẹp) Loài này còn có ý nghĩa văn hoá lớn ở Trung Quốc do có hình dáng đẹp và sống lâu Đây còn là một trong những loài Thông cao nhất của Việt Nam và cũng có những giá trị tiêu biểu tương tự
Hiện các mối đe doạ chính đối với loài Bách tán Đài Loan được xác định là: quần thể nhỏ lại bị đe doạ bởi việc chia tách rừng, môi trường sống bị
đe dọa, cháy rừng, chặt chọn lọc của người dân địa phương, khả năng tái sinh rất ít và biến động, thiếu cơ sở khoa học và kiến thức về bảo tồn Vì vậy, loài này được đánh giá là đang bị tuyệt chủng trầm trọng A2c, B1ab (i-v), B2ab (i-v), C2a(ii) ở cấp quốc tế và quốc gia Về mặt pháp lý, loài này được dẫn trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007; được xếp vào nhóm IA: Thực vật rừng đang bị
đe dọa tuyệt chủng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại trong nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Việc bảo tồn loài Bách tán Đài Loan là rất cần thiết không những cho Việt Nam và cả trên thế giới, có ý nghĩa rất lớn đối với bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu Vì vậy, xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu
Trang 11đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bách tán Đài
Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) có nguy cơ tuyệt chủng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng bảo tồn và
phát triển bền vững loài cây có triển vọng và quý, hiếm này tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nhằm cung cấp thông tin về đặc điểm hình thái, sinh thái học cơ bản của loài Bách tán Đài Loan tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở tỉnh Lào Cai và Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nhằm cung cấp thông tin về đặc điểm hình thái và sinh thái học của
loài Bách tán Đài Loan
- Xác định được một số đặc điểm tái sinh tự nhiên và phân bố của loài
Bách tán Đài Loan tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở tỉnh Lào
Cai và Việt Nam
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Về mặt khoa học: Bổ sung các thông tin khoa học và là cơ sở khoa
học cho các nhà quản lý bảo tồn
- Về mặt thực tiễn: Cơ sở để thực hiện nghiên cứu loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn
loài tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới thực vật rất phong phú và đa dạng với khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao, trong đó thực vật ngành Thông chỉ chiếm có trên 600 loài, một con số đáng khiêm tốn
Cây thuộc ngành Thông là những loài cây có nguồn gốc cổ xưa nhất, khoảng trên 300 triệu năm Các vùng rừng cây ngành Thông tự nhiên nổi
tiếng thường được nhắc tới ở Châu Âu với các loài Vân sam (Picea), Thông
(Pinus); Bắc Mỹ với các loài Thông (Pinus), Củ tùng (Sequoia, Sequoiadendron) và Thiết sam (Pseudotsuga); Đông á như Trung Quốc và
Nhật Bản với các loài Tùng bách (Cupressus, Juniperus), Liễu sam (Cryptomeria) và Bách Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) Các loài cây
thuộc ngành Thông đã đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của một
số nước như Thụy điển, Na Uy, Phần Lan, Lịch sử lâu dài của Trung Quốc cũng đã ghi lại nguồn gốc các cay ngành Thông cổ thụ hiện còn tồn tại đến ngày nay mà có thể dựa vào nó để đoàn tuổi của chúng Chẳng hạn trên núi Thái sơn (Sơn Đông) có cây Tùng ngũ đại phu do Tần Thủy Hoàng phong tặng tên cây; cây Bách hán tướng quân ở thư viện Tùng Dương (Hà Nam), cây Bách nước Liêu (cong gọi là Liêu bách) trong công viên Trung Sơn (Bắc Kinh) Đồng thời, nhiều nơi khác trên thế giới cũng có một số cây cổ thụ
nổi tiếng như cây Củ Tùng (Sequoia) có tên "cụ già thế giới" ở California
(Mỹ) đã trên 3.000 năm tuổi, cây Tuyết từng (Cedrus đeoât) trên đảo Ryukyn (Nhật Bản) qua máy đo đã 7.200 năm tuổi Tại Li Băng hiện còn một đám
rừng gồm 400 cây Bách Li Băng (Cedrus) nổi tiếng từ thời tiền sử, trong đó
có 13 cây cổ địa có hàng nghìn năm tuổi
Trang 13Cây trong ngành Thông là một trong những nhóm cây quan trọng nhất trên thế giới Các khu rừng cây ngành Thông rộng lớn của Bắc bán cầu là nơi lọc khí cacbon, giúp làm điều hòa khí hậu thế giới Rất nhiều dãy núi trên thế giới gồm rừng các loài cây ngành Thông chiếm ưu thế đóng một vai trò quyết định đối với việc điều hòa nước cho các hệ thống sông ngòi chính Những trận lụt lội khủng khiếp gần đây ở các vùng thấp như các nước Trung Quốc và
Ấn Độ có quan hệ trực tiếp tới việc khai thác quá mức cây ngành Thông phòng hộ đầu nguồn Rất nhiều loài thực vật, động vật và nấm phụ thuộc vào cây ngành Thông để tồn tại, do đó không có cây ngành Thông thì những loài này sẽ bị tuyệt chủng Ngành Thông cung cấp một phần chính gỗ cho xây dựng, ván ép, bột giấy và các sản phẩm giấy của thế giới Nhiều loài còn cho
gỗ quý với những công dụng đặc biệt như dùng đóng tàu hay làm đồ mỹ nghệ Phần lớn cây thuộc ngành Thông có gỗ dễ gia công, bền Cây thuộc ngành Thông còn là nguồn cung cấp nhựa quan trọng trên toàn thế giới, Hạt của nhiều loài còn là nguồn thức ăn quan trọng cho dân địa phương ở các vùng xa như ở Chi Lê, Mexico, Úc và Trung Quốc
Hiện tại có trên 200 loài cây thuộc ngành Thông được xếp là bị đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn thế giới, rất nhiều loài khác bị đe dọa trong một phần phân bố tự nhiên của loài, những đe dọa hay gặp nhất là việc khai thác quá mức lấy gỗ hay các sản phẩm khác, phá rừng làm bãi chăn thả gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống cho con người cùng với sự gia tăng tần suất của các đám cháy rừng Tầm quan trọng đối với thế giới của cây thuộc ngành Thông làm cho việc bảo tồn chúng trở nên có ý nghĩa đặc biệt Sự phức tạp trong các yếu
tố đe dọa gặp phải đòi hỏi cần có một loạt các chiến lược được thực hành để bảo tồn và sử dụng bền vững các loài cây này Bảo tại chỗ thông qua các cơ chế như hình thành các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp tốt, có hiệu quả đối với những khu vực lớn có rừng nguyên sinh Công tác bảo tồn đòi hỏi sự cộng tác của mọi người từ các ngành nghề và tổ chức khác
Trang 14nhau Những người làm công tác này đều phụ thuộc vào việc định dạng chính xác loài cây mục tiêu hay các sinh vật khác có liên quan và vào các thông tin cập nhật ở các mức độ địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế
Loài Bách tán Đài Loan Taiwania cryptomerioides lần đầu tiên được
phát hiện từ Đài Loan vào năm 1906 và được phát hiện ở Việt Nam vào năm
2002 Từ khi được phát hiện, các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung vào nghiên cứu về phân bố, sinh thái, sinh học, gỗ, nhân giống và thành phần hóa học của vỏ thân và lá Kết quả nghiên cứu các lĩnh vực nêu trên đã khẳng định:
* Trên thế giới loài này đã được ghi nhận có phân bố tại 4 địa điểm là Đài Loan, Trung Quốc (Quí Châu, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam), Myanma
và Việt Nam (Lào Cai, Yên Bái) và đánh gía tình trạng bảo tồn: sắp bị tuyệt
chủng A.1d (Nguyen Tien Hiep và cộng sự, 2004)
1.1.1 Nghiên cứu về Bách tán Đài Loan
* Đặc điểm hình thái học
Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) là cây gỗ
lớn, cao có thể từ 10m đến 90m, có đường kính lên tới 3 - 3,5m và thường tìm thấy những cây như vậy trong các khu rừng lá kim (Liu và Su, 1983) Cây có thể sống tới 1.000 năm tuổi nên nó được đánh giá là loài thực vật
có ít tiến hóa nhất, có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, lá lưỡng hình, hình kim, tán cây rộng, cấp hình thoi Quả có chiều dài từ 10-20cm, rộng 3-7 cm Hạt giống hình chữ nhật với cánh rộng, vỏ màu nâu đỏ hay xám trắng, vỏ bên ngoài 1,4-1,5 cm dày, xơ; vỏ bên trong 3-6 mm dày, tiết nhựa màu trắng Thân màu nâu xám, nứt dọc (Liu, 1970)
* Phân bố và sinh thái
Bách tán Đài Loan có nguồn gốc Đông Á, phát triển ở vùng núi của miền Trung Đài Loan, các địa phương ở phía tây nam Trung Quốc tiếp giáp Myanmar và miền Bắc Việt Nam (Thomas và Farjo, 2011) Bách tán Đài Loan mọc ở độ cao 500-2.800 m; rừng lá kim, hoặc rừng thường xanh
Trang 15thung lũng xen cây lá rộng, hoặc hỗn hợp trên đất axit, đỏ, hoặc màu nâu
ở vùng ôn đới ấm hoặc ấm với mùa hè và lượng mưa mùa thu lớn nhưng mùa đông khô hơn, thường nằm rải rác và xen với một số loài như:
Chamaecyparis formosensis, C obtusa var, Cunninghamia lanceolata, Pinus wallichiana, hoặc Tsuga dumosa, nhưng đôi khi hình thành rừng
thuần loài (Fu và cộng sự, 1999) Loài Bách tán Đài Loan có sức chịu
lạnh từ -6,6 ° C đến -1,10C (Bannister và Neuner, 2001)
* Giá trị sử dụng
Bách tán Đài Loan là loại gỗ tốt, thường dùng để làm nội thất và đồ gia dụng…(Fu Li -kuo và Jin Jian -ming, 1992) Đây cũng là một cây được ứng dụng nhiều trong y học, đặc biệt nó chứa các hợp chất có đặc
tính chống ung thư (Kan He và cộng sự, 1997) Các loài có ý nghĩa văn
hóa đáng kể ở Trung Quốc do tuổi thọ và tầm vóc của nó
* Chương trình bảo tồn nguồn gen Bách tán Đài Loan
Năm 2001, Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng kế hoạch hành động
về bảo tồn cây Bách tán Đài Loan, nghiêm cấm các hành vi khai thác, sử dụng loài cây này dưới bất kỳ hình thức nào (Wang và cộng sự, 2001)
Hiện nay một số nước như Malaysia, Hàn Quốc…đã sử dụng phương pháp bảo quản cực lạnh cho hạt giống và mẫu giống Chương chình bảo quản đã được IPGRI phối hợp với Trung tâm Giống Đan Mạch tài trợ cho bảo tồn nguồn gen loài Bách tán Đài Loan ở các nước nhiệt đới
1.1.2 Nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen
Vào năm 1980, các tổ chức quốc tế quan trọng nhất là IUCN, WWF, FAO và UNESCO đã chấp nhận một định nghĩa mới cho bảo tồn,
đó là “Bảo tồn tài nguyên di truyền” Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn các biến dị di truyền hiện tồn tại giữa các xuất xứ, các quần thể, các gia đình và các cá thể trong loài, là nguồn gốc của sự đa dạng và đảm bảo cho sự ổn định của loài qua một quá trình tiến hóa mà biến dị di truyền là
Trang 16yếu tố quyết định Biến dị di truyền cũng là nguồn nguyên liệu chính của công tác cải thiện giống Lượng biến dị di truyền trong một quần thể càng lớn thì càng có nhiều cơ hội để chọn được các cá thể có đặc tính mong muốn (Zobel và Talbert, 1984)
Ngày nay bảo tồn nguồn gen là một trong những lĩnh vực quan trọng trong công tác chọn giống cây nông nghiệp Hoạt động bảo tồn nguồn gen đang được nhiều Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới quan tâm Riêng Viện lúa Quốc tế tại Philippin đã có hàng chục ngàn mẫu lúa được lưu giữ
Trước sự tàn phá của các hệ sinh thái rừng, biến đổi khí hậu và sự suy giảm của đa dạng di truyền, các nước ở một số khu vực và các tổ chức quốc tế đã quan tâm và chú ý từ rất lâu tới công tác bảo tồn nguồn gen cây rừng Trong các năm 1908-1938, Hiệp hội các tổ chức nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (IUFRO) đã tổ chức thu thập và khảo nghiệm xuất xứ cho
13 lô hạt của Pinus taeda từ 11 nước khác nhau Từ cuối những năm 1950
hàng loạt loài và xuất xứ của những loài cây lá kim quan trọng nhất như
P.caribaea, P.kesiya, P.oocarpa, P.merkusii… đã được thu thập và khảo
nghiệm Thu thập mẫu giống và khảo nghiệm xuất xứ cho các loài cây lá rộng như Tếch, Lõi thọ, Bạch đàn, keo…cũng được nhiều nước tiến hành trong 20 năm gần đây
Cây rừng thường được bảo tồn dưới dạng sưu tập cây sống trên thực địa như các vườn thực vật, vườn thụ mộc và các khu bảo tồn nguồn gen
chuyển chỗ (ex situ) Ưu điểm của biện pháp này là cây liên tục sinh
trưởng và phát triển, dễ dàng quan sát và đánh giá lâu dài, song yếu điểm
là chi phí cao cho việc xây dựng và bảo vệ, nguy cơ bị sâu bệnh hại cao…hiện nay đã có khoảng trên 1.500 vườn Nhiều vườn thực vật đã có tuổi trên 100 năm như vườn thực vật Bogor, Indonesia Vườn này được xây dựng từ năm 1817 trên diện tích 87 ha với một bộ sưu tập khổng lồ
Trang 17gồm 3.504 loài của 1.273 chi và 199 họ thực vật Ngoài ra còn có một số vườn sưu tập và vườn thụ mộc dành riêng cho một hoặc một vài loài Chẳng hạn ở Malaysia có vườn thụ mộc của Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia (FRIM) là sưu tập sống của các loài cây loài Shorea, sưu tập cao
su ở Viện nghiên cứu cao su, sưu tập các cây cọ dầu…
Để có cơ sở cho việc chọn các khu và quần thụ để bảo tồn tại chỗ (in situ) hay thu hái giống cho bảo tồn chuyển chỗ, việc đánh giá mối
quan hệ di truyền bên trong mỗi họ thực vật (Family) hoặc chi (Genus) và
xuất xứ trong một loài để xác định vị trí của các loài cần bảo tồn và đánh giá đa dạng di truyền của các loài là rất cần thiết Bên cạnh việc điều tra khảo sát thực địa trong một số năm gần đây, chỉ thị phân tử (DNA markers) đã được sử dụng rộng rãi trong đó phải kể đến các chỉ thị quen thuộc như đồng men (Isoenzyme), AND đa hình được nhân bản ngẫu nhiên (RAPD), đa hình độ dài các đoạn cắt giới hạn (RFLP), các đoạn nhân bản chọn lọc (AFLP), các đoạn lặp lại có trình tự đơn giản (SSP), micro-satellite, AND lục lạp (cpDNA)…(Changtragoon, 2004; Uma
Shaanker, Ganeshaiah và Bawa, 2001; Wang & Szmidt, 1993; Wang et al,
2004; Geburek, 1997)
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, trong những năm qua tài nguyên đa dạng sinh vật bị khai thác quá mức và tàn phá nặng nề, nên vấn đề bảo tồn đa dạng sinh vật là một yêu cầu cấp bách ở nước ta hiện nay
Vườn quốc gia (VQG) Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai nằm trong hệ thống các VQG của Việt Nam, được thành lập từ tháng 07 năm 2002 trên
cơ sở chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hoàng Liên - Sa Pa thành VQG Hoàng Liên Đây là một trong những VQG có vị trí rất đặc biệt của Việt Nam, có dãy núi Hoàng Liên Sơn là phần kéo dài của núi
Trang 18Ailao Shan từ Trung Hoa, bắt nguồn từ dãy Himalaya VQG Hoàng Liên nằm ở phía Đông của dãy núi Hoàng Liên, gồm hàu hết các đỉnh núi có độ cao trên 1.000 m, trong đó có đỉnh Phan Si Păng cao tới 3.143 m so với mặt nước biển, được ví như nóc nhà của Đông Dương nói chung và của Việt Nam nói riêng Đồng thời dãy núi Hoàng Liên còn là nơi giao thoa của hai tiểu vùng khí hậu ôn đới núi cao và á nhiệt đới Vì vậy, VQG Hoàng Liên được các nhà khoa học xác định là một trong những trung tâm
đa dạng sinh vật vào bậc nhất của Việt Nam, là nơi còn sót lại nhiều loài đặc hữu quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới
Dãy Hoàng Liên Sơn cũng là nơi phân bố chính của một số loài thực vật thuộc ngành Thông Tai đây, các loài thuộc ngành Thông xuất hiện tương
đối nhiều như Kim giao núi đá (Nageia fleuryi), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thiết sam (Tsuga dumosa), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông tre lá ngắn (Podocapus pilgeri), Sa mộc (Cunninghamia lanceolata) Và đặc biệt
có loài Vân sam Phansipawng là loài đặc hữu của đỉnh Phan Si Păng, Thiết sam núi đất là loài của dãy núi Himalaya mọc thành quần thể nhỏ ở độ cao
trên 2.400 m và một quần thể duy nhất của loài Bách tán Đài Loan (Taiwania
cryptomerioides Hayata) đã được tìm thấy tại đây
1.2.1 Nghiên cứu về cây Bách tán Đài Loan
Trang 19và tuổi khoảng 1.500 năm Sự phát hiện loài này ở Việt Nam càng cho thấy tầm quan trọng của Việt Nam đối với cây lá kim Ở Việt Nam, chiều cao của cây có thể tới 40 m với đường kính ngang ngực 1,2 m Đây là loài cây cao vuợt tán, một thân, tán hình tháp rộng hay có một số cành ngang lớn và các cành nhỏ rủ ở phần trên của tán Vỏ: nâu hay đỏ, nứt dọc hay bong ra không đều, dày ở những cây truởng thành Lá: hai dạng,
lá già nhỏ, gần dạng vảy, dài tới 8 mm, xếp dày, lỗ khí ở cả hai mặt, cây non và lá non của cây già dài tới 1,5 cm, đầu nhọn, thường có màu xanh nhạt Nón: nón cái ở đỉnh, đơn độc hay mọc thành cụm, hình trụ hay hình bầu dục, dài tới 2,5 cm và rộng 1 cm với 10- 30 vảy ráp Nón đực mọc thành cụm
(http://kiemlamangiang.gov.vn/conservation.aspx?madv=18610101335&maldv=186101017)
* Đặc điểm sinh học và sinh thái học
Hạt: hình trứng thuôn, dài tới 7 mm, có cánh Phạm vi phân bố ở độ cao: 1.800 - 2.100 m Dạng rừng: trên đất phong hoá từ granit Khí hậu: nhiệt đới gió mùa vùng núi, nhiệt độ trung bình 13-18oC, lượng mưa trên 2.000 mm Cây lá kim mọc kèm: Pơ mu (Fokienia hodginsi) Tái sinh tự nhiên: thỉnh thoảng bắt gặp, bị hạn chế do cháy rừng thường xuyên 1 kg hạt có thể chứa từ 450.000 đến 700.000 hạt Hạt mới thu hái từ Văn Bàn đạt tỷ lệ nảy mầm trên 40% Hạt khô có thể bảo quản sau khi đã làm khô
ở 4oC trong vài năm mà không giảm đáng kể tỷ lệ nảy mầm Hạt nên gieo vào mùa xuân, nảy mầm trong 3-4 tuần, cây non cần tránh nắng và trồng khi còn nhỏ Sinh trưởng ban đầu nhanh Sinh dưỡng: Cây non hiếm gặp trong quần thể tự nhiên Hom từ cây trưởng thành có thể ra rễ nhưng tỷ lệ rất thấp
(http://kiemlamangiang.gov.vn/conservation.aspx?madv=18610101335&maldv=186101017)
Trang 20* Phân bố địa lý
Theo các tài liệu khoa học, cây Bách tán Đài Loan lần đầu tiên được phát hiện ở Đài Loan năm 1906, sau đó được ghi nhận có phân bố ở Trung Quốc (Quý Châu, Hồ Bắc, Vân Nam), Myanmar Tại Việt Nam, cây Bách tán Đài Loan lần đầu tiên được phát hiện vào năm 2002 với ước tính khoảng 130 cá thể tại xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, khi được phát hiện có nhiều cá thể đã hơn 400 năm tuổi
Ngay sau khi được phát hiện tại Lào Cai, Tổ chức Bảo tồn động, thực vật hoang dã Quốc tế (FFI) đã đề nghị hỗ trợ tỉnh Lào Cai tổ chức nghiên cứu, bảo tồn loài cây quí hiếm này; đồng thời, đề nghị Chính phủ Việt Nam đưa loài này vào sách đỏ Việt Nam và được xếp vào nhóm IA Bởi theo đánh giá của tổ chức này, đến thời điểm phát hiện, loài Bách tán Đài Loan được coi là sắp tuyệt chủng ở cấp quốc gia và trên thế giới
(http://kiemlamangiang.gov.vn/conservation.aspx?madv=18610101335&maldv=186101017)
* Giá trị sử dụng
Cây Bách tán Đài Loan gỗ màu hồng, có tinh dầu như gỗ Pơ mu, chống chịu được mưa nắng và mối mọt, từ lâu được bà con địa phương dùng làm nhà, gỗ chẻ ra thành tấm để lợp mái nhà, hàng trăm năm không hỏng Đây là loài cây bản địa còn sót lại rất ít tại rừng Văn Bàn, đang đặt
ra cho ngành lâm nghiệp Lào Cai cần có phương án bảo tồn và phát triển loài cây cực kỳ quí hiếm Được biết có chứa thành phần có tính chống ung thu và trừ sâu
(http://kiemlamangiang.gov.vn/conservation.aspx?madv=18610101335&maldv=186101017)
* Tình trạng:
Trang 21Phân hạng: CRA1a, B1, C2b, D1 (A Farjon, 1998) loài này xét trong toàn bộ khu phân bố trước đây được xếp ở mức sắp bị tuyệt chủng - VUA1d)
Biện pháp bảo vệ: Loài có trong Danh mục, Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (nhóm IA - nghiêm cấm khai thác, sử dụng với mục đích thương mại) của Nghị định số 06/2019/NĐ - CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ quy định về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp
* Chương trình nghiên cứu liên quan đến bảo tồn nguồn gen cây Bách tán Đài Loan
Tháng 10 năm 2001, nhóm nghiên cứu do TS Nguyễn Tiến Hiệp làm trưởng nhóm đã phát hiện ra Bách tán Đài Loan phân bố trên diện tích 3km2 Tiếp đến TS Aljos Farjon, trưởng nhóm chuyên gia về cây hình nón của IUCN đã đề xuất chi tiết kế hoạch bảo tồn loài cây này Theo ông thì việc đánh giá chi tiết về mặt kinh tế và xã hội tại các thôn gần khu vực phân bố của loài cây này cần được thực hiện đầu tiên, và cần tập trung vào đánh giá các mối đe dọa tới loài cây Bách tán Đài Loan kín
và rừng xung quanh đó
Loài cây này được phát hiện ở khu vực gần huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai giáp với huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Chúng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng do nhiều nguyên nhân về kinh tế, sinh thái và xã hội Do vậy đánh giá này là hết sức cần thiết cho việc xây dựng kế hoạch hành động Bảo tồn loài cây Bách tán này Nhóm đánh giá gồm 2 thành viên từ Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và Môi trường (CRES), Đại học Quốc Gia Hà Nội và Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp (CARES), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã triển khai đợt thực địa tại các thôn Phìn Ngài và Lùng Cúng thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái và thôn Nà
Trang 22Nheo, huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai từ ngày 8/12/2003 đến ngày 20/12/2003 (Đánh giá mối đe dọa đối với loài Bách tán Đài Loan
(Taiwania cryptomerioides ) ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái và
huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; Dự án Hoàng Liên Sơn, tháng 2 năm 2004)
Trong chương trình hợp tác với tổ chức FFI Việt Nam (Chương trình Việt Nam) đặc biệt được sự hỗ trợ kinh phí của Bộ Môi trường, Thực phẩm và các vấn đề nông thôn, Vương quốc Anh, từ năm 2007, Trung tâm Bảo tồn thực vật thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện dự án nghiên cứu “Bảo tồn năm loài thông ưu tiên bị đe dọa tuyệt chủng tại Việt Nam” Trong đó có Bách tán Đài Loan, một trong 5 loài mục tiêu của dự án, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định (Tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật - Viện KH&CN Việt Nam)
1.2.2 Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen
* Các nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen trong giai đoạn 1988-2005
Trong suốt thời gian từ năm 1988, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam được chỉ định là cơ quan đầu mối về bảo tồn nguồn gen cây rừng, và cũng từ đó công tác nghiên cứu bảo tồn nguồn gen được coi là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài nhằm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ các nguồn gen quý hiếm và đặc thù của đất nước góp phần duy trì sự tồn tại của một
số loài bị đe dọa cho các thế hệ tương lai Qua nhiều năm triển khai, đề tài nghiên cứu “Bảo tồn nguồn gen cây rừng” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam làm chủ trì đã thực hiện công việc điều tra, khảo sát, xây dựng phương án bảo tồn, thu thập hạt giống, cây con hoặc cành hom xây dựng một số khu sưu tập, quần thụ bảo tồn cho hàng chục loại cây rừng quý
Trang 23hiếm có giá trị kinh tế Một số loài trong thực tiễn trồng rừng sản xuất và phòng hộ
- Các loài cây lá kim
Trong nhiều năm qua, 53 loài cây lá kim có mặt tại nước ta đã được điều tra khảo sát và 33 loài đã được đánh giá mức độ đe dọa và tiềm năng gây trồng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2004) Có thể thấy rõ là nhiều loài cây
lá kim Việt Nam đang đứng trước các mức độ đe dọa cao, trong đó bị tuyệt chủng trong hoang dã là loài Hoàng đàn Chi lăng; mức độ rất nguy cấp (CR) có loài Thủy tùng và Thông Đỏ Lâm Đồng; mức độ nguy hiểm (EN) là 10 loài (Bách vàng, Bách đá xanh, Bách Đài loan, Đỉnh tùng, Thông đỏ pà Cò, Dẻ tùng sọc nâu, Thiết sam, Thông Pà Cò, Du sam đá vôi, Vân sam Fansipăng)
Bên cạnh Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1987-1999) đã triển khai một số điều tra có liên quan tới các loài cây quý hiếm cần được bảo vệ ở nước ta trong đó có các loài ở hệ núi
đá vôi Dự án giống cây rừng vùng Đông Dương và Công ty Giống Lâm nghiệp TW (Nguyễn Đức Tố Lưu và Philip 2004) đã nghiên cứu về thực trạng và bảo tồn một số loài cây lá kim ở Việt Nam Nhiều Bộ và các nhà khoa học cũng đã có những nghiên cứu chung về đa dạng sinh học và phân loại thực vật (FIPI, 1996; Hội KHLN, 2001; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997; Phạm Hoàng Hộ 1999; Trần Đình Lý, 1993; Vũ Văn Chuyên và cộng sự, 1987) và đã đưa vào các chiến lược bảo tồn chung trong đó có các loài cây rừng như Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (Bộ KHCN&MT, 1995), Sách đỏ Việt Nam (Bộ KHCN&MT 1996), Chiến lược phát triển Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT 2006), Hệ thống Khu bảo tồn Thiên nhiên Quốc Gia (Chính phủ Việt Nam, 2003)
Trang 24Nhìn chung, loài này được nghiên cứu ở trong nước còn rất ít; từ sau khi được phát hiện vào năm 2002, tình hình nghiên cứu loài Bách tán Đài Loan ở trong nước có thể tóm tắt như sau:
* Ngày 06/10/2001, Hợp tác với tổ chức Động thực vật quốc tế (FFI), chương trình Việt Nam, Nguyễn Tiến Hiệp (Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Thực vật) đã thu được mẫu vật đầu tiên từ cây Bách tán mọc ở sườn đông bắc của dẫy núi Tà Xa, thượng nguồn lưu vực suối Nậm Qua, tọa độ địa lý
21056’ độ vĩ bắc, 104019’ độ kinh đông, ở độ cao khoảng 2000 - 2100 m so
với mặt biển (Số hiệu mẫu: Nguyễn Tiến Hiệp và Đỗ Tiến Đoàn NTH-5184)
đó, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể, đặc biệt là những loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên để có biện pháp bảo tồn vẫn đang là hướng nghiên cứu hết sức cần thiết và cấp bách
Ở Việt Nam, mặc dù các nghiên cứu về cấu trúc, tái sinh rừng, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể,… được thực hiện tương đối chậm so với thế giới nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng kể Chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cứu cung cấp những hiểu biết về vấn đề diễn thế, tái sinh, cấu trúc của hầu hết các hệ sinh thái rừng trong cả nước Các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây cụ thể cũng rất được quan tâm nghiên cứu, góp phần cung cấp
cơ sở cho việc gây trồng, bảo tồn nhiều loài cây gỗ quý như Lim xanh, Lát
Trang 25hoa, Pơ mu,… Tuy nhiên hiện nay, tài nguyên rừng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự khai thác quá mức của con người dẫn tới nhiều loài cây gỗ quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, số lượng loài bổ sung vào sách đỏ Việt Nam ngày càng nhiều Do đó, nếu chúng ta không có biện pháp bảo tồn cấp bách thì tương lai không xa nguồn gen quý hiếm của các loài cây này sẽ biến mất ngoài tự nhiên
Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides Hayata) là loài cây có
gỗ tốt, khó mối mọt, có thể dùng làm nhà, dùng đóng đồ dùng gia đình, làm
đồ mỹ nghệ, chạm khắc Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, Bách tán Đài Loan có phân bố tự nhiên tương đối hẹp nên việc bảo tồn và phát triển loài cây này đang là nhiệm vụ hết sức cấp bách của Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn nói riêng và của Việt Nam nói chung Tuy nhiên, cho tới nay những hiểu biết về đặc điểm sinh học, sinh thái đối với loài cây này còn rất ít, thiếu thông tin, chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu được đặt ra là cần thiết và cấp bách
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn nằm trong vùng trung tâm của dãy Hoàng Liên Sơn về phía Nam tỉnh Lào Cai, thuộc địa giới hành chính của các xã Nậm Xé, xã Nậm Xây và một phần xã Liêm Phú
- Có tọa độ địa lý như sau:
+ Từ 210 24’ đến 210 50’ vĩ độ Bắc
+ Từ 103057’ đến 104000’ kinh độ Đông
- Về địa giới như sau:
Phía Đông giáp các xã Nậm Chày, Dần Thàng, Minh Lương, Thẩm Dương, Khánh Yên Trung thuộc huyện Văn Bàn
Trang 26Phía Tây giáp xã Hố Mít, xã Phúc Than và xã Mường Than thuộc huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
Phía Nam giáp xã Hồ Bốn, xã Khao Mang, xã Mồ Dề, xã Chế Cu Nha
và xã Nậm Có thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái
Phía Bắc giáp xã Nậm Cang, xã Bản Hồ của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
- Ranh giới (Hình 3.1):
Hình 1.1: Vị trí Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn
Khu vực nghiên cứu nằm trong địa phận hai xã Nậm Xé, Nậm Xây và một phần của xã Liêm Phú, Huyện Văn Bàn
1.4.1.2 Địa hình
Địa hình của khu bảo tồn có 2 xã Nậm Xé, Nậm Xây thuộc vùng cao gồm hai dãy núi nằm liền kề vuông góc với nhau Dãy núi phía Bắc
có nhiều ngọn núi cao trên 1.700m (thuộc địa hình núi cao), các dãy núi
cơ bản thấp dần về hướng Đông Dãy núi phía Nam có dông núi hẹp tách biệt, chạy dài theo hướng Đông Tây Phần lớn địa hình thuộc núi cao và núi trung bình xen lẫn các thung lũng và hệ thống khe suối xen kẽ, mức
độ chia cắt mạnh, nhiều nơi tạo thành vách đứng Độ cao trung bình 700 ÷ 2.913 m Độ dốc trung bình 20 ÷ 500 Trong vùng có một số đỉnh núi cao
Trang 27như: Lang Cúng (2.913m) cao nhất, tiếp theo là Nam Kang Ho Tao (2.835m), Sinh Cha Pao (2.833m),
Đối với xã Liêm Phú địa hình thuộc dạng địa hình núi trung bình đến núi cao Đặc biệt có những đỉnh cao trên 2.000 m, có phân bố loài
Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) và chỉ gặp tại khu vực này
và khu vực giáp ranh của huyện Mù Căng Chải (Yên Bái)
1.4.1.3 Diện tích (có tại bảng 1.1), thực vật rừng
Thực vật ở Khu BTTN Hoàng Liên - Văn Bàn có số lượng loài cây khá phong phú Điển hình các loài thực vật quý hiếm như pơ mu, thông nàng, sến mật, giổi găng… luôn đi kèm với nhau trong khu phân bố
Hệ thực vật trong Khu BTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, tổng số có
179 họ, 4 chi với 33 loài Như vậy, có thể khẳng định trong 10 họ đa dạng nhất ở Khu BTTN Hoàng Liên - Văn Bàn thì ít nhất mỗi họ có 33 loài trở lên
Đặc biệt loài bách tán Đài Loan được xếp vào danh mục các loài cần bảo tồn có tên trong sách Đỏ thế giới Là loài cây lá kim, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng Việt Nam Loài cây này có thể sống tới 1.000 năm và chỉ có duy nhất ở Khu BTTN Hoàng Liên - Văn Bàn Trong
số 120 cây mọc trên diện tích 3 km2, có hai cây cao 25 - 30m, tuổi đời trên 400 năm
1.4.1.4 Khí hậu
Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng Sa Pa thì Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa chuyển tiếp của vùng núi cao Đông Bắc và Tây Bắc, được chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa (tháng 4 ÷ 9) bị ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô và nóng; mùa khô (tháng 10 ÷ 3 năm sau) có gió mùa Đông Bắc lạnh và ít mưa
Trang 28- Nhiệt độ: Khu bảo tồn thiên nhiên có nhiệt độ bình quân hàng năm
là 22,90C, nhiệt độ cao nhất là 28,70C vào tháng 7, nhiệt độ thấp nhất 12,00C vào tháng 1
- Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.764,4 mm/năm Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 90,67% tổng lượng mưa cả năm, số ngày mưa bình quân 132 ngày/năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chiếm 9,33% tổng lượng mưa cả năm
- Ẩm độ: Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 86%, thời gian
có độ ẩm thấp nhất trong năm từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, đặc biệt tháng có độ ẩm thấp nhất tuyệt đối vào tháng 2 là 25% rất rễ gây cháy rừng vào thời gian này
1.4.1.5 Thủy văn
Trong khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn có 2 hệ thống suối chính, đó là suối Nậm Khóa và suối Nậm Xây Luông Hai hệ suối này có nhiều khe nhánh nhỏ và đón nước từ dãy Hoàng Liên Sơn ở ranh giới phía Tây rồi đổ về sông Nậm Chấn sau đó chảy ra Sông Hồng; lưu lượng nước biến đổi theo mùa Tuy nhiên, ở hệ suối chính thường có lưu lượng nước khá lớn, nhất là về mùa mưa
1.4.1.6 Địa chất, thổ nhưỡng
a Địa chất
Địa chất mang tính đặc trưng của dãy Hoàng Liên Sơn Các dông núi chủ yếu là đá cứng và Mácma silicat cổ cuối kỷ Palacosoic - đầu kỷ Mesozoic Những vận động kiến tạo kỉ thứ ba đã đẩy những dãy núi đá này lên độ cao như hiện nay và quá trình xói mòn sau đó đã tạo nên đặc trưng cảnh quan của Hoàng Liên Sơn, đỉnh núi nhọn và rất dốc (30 ÷ 900), rất nhiều vách đá dựng đứng và suối hẹp, rãnh sâu
b Thổ nhưỡng
Trang 29Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn có một số dạng đất như sau:
- N1IIIAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc từ 16 ÷
250, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mácma axít kết tinh chua, tầng mỏng
-N1IIIAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc từ 26 ÷
350, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mácma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N1IIIAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc > 350, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mácma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N2IIIXha1: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc từ 16 ÷ 250, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mácma axít kết tinh chua, tầng trung bình
- N2IVXha3: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc từ 26 ÷ 350, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mácma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N2VXha1: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc từ > 350, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mácma axít kết tinh chua, tầng trung bình
- N3III Xha3: Phân bố trên núi thấp (độ cao <700m), độ dốc từ 16 ÷ 250, đất Xám feralit phát triển trên đá Mácma axít kết tinh chua, tầng mỏng
Nhìn chung đất đai trong khu vực còn tốt, còn tính chất đất rừng Kết cấu chủ yếu là viên hạt, một loại kết cấu mang lại cho đất nhiều ưu điểm Thành phần cơ giới nằm trong khoảng từ thịt nhẹ đến thịt nặng phù hợp với đặc tính sinh thái của nhiều loài thực vật Hầu hết đất có độ dốc lớn nên rất dễ
bị xói mòn nếu không có lớp phủ thực vật hợp lí
Trang 30Bảng 1.1: Hiện trạng đất đai và rừng khu BTTN Hoàng Liên-Văn Bàn
Nguồn: BQL Khu BTTN Hoàng Liên-Văn Bàn, số liệu năm 2019
Về chất lượng rừng: Rừng giàu diện tích 9.806,99 ha (bằng 39,55% tổng diện tích của Khu bảo tồn), Rừng trung bình 7.036,65 ha (chiếm 28,37%), rừng nghèo 1.872,64 ha (chiếm 7,55%), còn lại là diện tích rừng phục hồi, rừng hỗn giao, rừng trồng và đất trống
1.4.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
1.4.2.1 Dân số, dân tộc
* Dân số
Khu BTTN nằm trong phạm vi hành chính của 03 xã thuộc huyện Văn Bàn: xã Nậm Xây, xã Nậm Xé và xã Liêm Phú
Trang 31Dân số có 7.650 người, 1.441 hộ Mật độ trung bình là: 28 người/km2, mật độ cao nhất là xã Liêm Phú (mật độ là: 64 người/km2) và thấp nhất xã Nậm Xé 07 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn khu vực là 2,02%
Khu bảo tồn có 4 dân tộc cùng chung sống ổn định, hòa đồng đó là: Tày, Kinh, H’Mông và Dao, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 98,7%
Trong tổng 03 xã trên, số hộ nằm trong Khu bảo tồn là: 14 hộ, 64 nhân khẩu với 29 lao động (Bản Nậm Si Tan thuộc xã Nậm Xé) Đây là đối tượng cần được đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất, khuyến khích đồng bào tham gia bảo vệ và phát triển rừng bền vững
Bảng 1.2: Diện tích, dân số và mật độ dân số
TT Thị trấn, xã Diện tích
(ha) Số hộ Số khẩu Lao
động
Mật độ (người/km 2 )
1 Nậm Xây 17.299,29 402 2.474 1.247 14
3 Liêm Phú 6.126,00 806 3.941 1.805 64
(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện Văn Bàn 2019)
Bảng 1.3: Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi lao động KBTTN
Trang 32* Dân tộc
Trong Khu bảo tồn có 4 dân tộc sinh sống; dân tộc Tày chiếm tỷ lệ cao nhất (36,58%), tiếp đến là Dân tộc Mông (33,81%), dân tộc Dao (27,75%) và dân tộc Kinh (2,3%) các dân tộc sống tập trung theo từng thôn bản
(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở huyện Văn Bàn năm 2019)
+ Dân tộc Tày, Dao, Mông sống tập trung thành làng (bản), nhà cách nhà gần nhau, nơi đất bằng gần các con sông, suối, làm nhà sàn bằng gỗ, tùy
Trang 33theo số lượng nhân khẩu trong gia đình để làm nhà to hay nhỏ, canh tác ruộng nước thông thạo như người Kinh và làm nương rẫy nhưng với diện tích nhỏ; xung quanh nhà có vườn trồng rau xanh và ao nuôi cá, chăn nuôi gia súc và gia cầm, tận dụng phân gia súc, gia cầm bón cho lúa, ngô và rau màu
1.4.2.2 Tình hình phát triển kinh tế các xã tại Khu bảo tồn Hoàng Liên Văn Bàn
Đất đai các xã trong Khu bảo tồn đã được quy hoạch sử dụng đất,
đã làm rõ các loại đất, tổ chức giao đất, các hộ gia đình phần lớn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất “Sổ Đỏ” với diện tích đất nông nghiệp, đất ở; đối với đất lâm nghiệp trước đây đã được giao Sổ Vườn rừng nay hoàn thiện hồ sơ cấp GCN quyền sử dựng đất và (Sổ Đỏ) để hộ gia đình quản lý, sử dụng đúng theo quy định của luật đất đai
* Nông nghiệp
- Việc sử dụng đất chủ yếu là khai thác màu mỡ của đất thông qua các hoạt động như: Sản xuất nương rẫy luân canh không trồng cây cải tạo đất và chống xói mòn đất; trồng lúa nước không bón phân hoặc có bón phân nhưng lượng phân bón ít; trồng cây ăn quả theo kiểu vườn tạp, cây trồng không theo quy hoạch, mỗi loại một vài cây không tạo ra khối lượng hàng hóa lớn có giá trị kinh tế cao để sản xuất hàng hoá; khai thác tài nguyên còn tùy tiện tự phát chưa chú trọng bồi bổ, tái tạo đầu tư
* Lâm nghiệp
Nghề rừng trong các xã: Là các xã vùng cao phần lớn là rừng tự nhiên và không có kế hoạch khai thác lâm sản hàng năm, người dân chủ yếu phát triển kinh tế rừng từ việc trồng thảo quả, tận thu lâm sản và khai thác lâm sản phụ như song mây trong rừng tự nhiên Những năm trở lại đây người dân đã được dự án 661, Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn tổ chức khoán bảo vệ rừng cho nhân dân địa phương, Các thôn bản đã tổ chức các tổ tuần tra bảo vệ rừng và thu nhập của người dân có được cải thiện thêm nhờ định xuất khoán BVR: 100.000 - 200.000
Trang 34đồng/ha/năm Cùng với thực hiện chính sách hưởng lợi theo Quyết định
178 của Chính phủ, nhưng ở khu vực này đa phần là rừng phòng hộ cực xung yếu, địa hình hiểm trở, đường xá phức tạp nên việc thực hiện chính sách hưởng lợi gặp nhiều khó khăn, nguyện vọng của nhân dân mong muốn Nhà nước tiếp tục cấp kinh phí hỗ trợ đầu tư cho công tác khoán bảo vệ rừng
* Chăn nuôi
Đa số các hộ gia đình đều có chăn nuôi gia súc, gia cầm Gia súc ở đây là Trâu, Bò, Ngựa, Dê, Lợn một số được thả rông ở các bãi cỏ chăn thả gia súc của thôn bản, tối được lùa về chuồng gần hộ gia đình
* Nuôi trồng thủy sản: Các xã trong khu bảo tồn thuộc xã vùng
cao, có nhiều suối như: suối Nậm Chấn lớn; Nậm Chấn nhỏ; Nậm Xi Tan; Nậm Mu; là nơi hội tụ của nhiều loài cá suối có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao
1.4.2.3 Cơ sở hạ tầng
a Điện
100% các xã đã được cung cấp điện lưới phục vụ cho đời sống sinh hoạt và sản xuất
b Giao thông vận chuyển
Tuyến đường quốc lộ 279 chạy song song với Khu bảo tồn, đi qua trung tâm các xã Minh Lương, Nậm Xé tuyến đường này được làm từ năm
1979, đây là tuyến đường huyết mạch giao lưu kinh tế nối liền giữa huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai với huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu, tuyến đường này mới được nâng cấp rải nhựa đường đảm bảo cho việc lưu thông hàng
hóa phục vụ đời sống cho cộng đồng dân cư nơi đây
c Mạng lưới thủy lợi
Nhìn chung các xã trong vùng đều có các công trình thủy lợi được kiên cố hóa phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp như xã Nậm Xây
Trang 35có 6 công trình tưới cho 54 ha ruộng nước; xã Nậm Xé có 5 công trình tưới cho 39 ha; xã Liêm Phú có 4 công trình tưới cho 75 ha
d Y tế
Nhìn chung công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho người dân các
xã trong khu bảo tồn đã được cải thiện nhiều so với trước, nhất là cơ sở vật chất đội ngũ y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ người dân
e Văn hóa giáo dục
- Tỷ lệ mù chữ tương đối cao, bình quân chung cho toàn vùng khoảng 30%, trong đó có một bộ phận tái mù do không sử dụng sách báo thường xuyên
- Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học bình quân ở các cấp như sau: Tiểu học: 81%; Trung học cơ sở: 47%; Trung học phổ thông: 6,7%; ngoài
ra các em còn được học ở trường dân tộc nội trú huyện Văn Bàn
1.4.3 Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương
* Thuận lợi:
- Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn có diện tích đất đai rộng lớn và tính chất đất còn tốt do vậy đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng về thành phần loài và hệ sinh thái của địa phương
- Địa hình phức tạp hiểm trở do vậy việc khai thác trái phép và các hoạt động làm suy giảm giá trị đa dạng sinh học ít
* Khó khăn:
- Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn có hệ động, thực vật phong phú là nơi nhòm ngó của các đối tượng khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên, địa hình hiểm trở khiến cho công tác quản lý và bảo vệ còn gặp khó khăn