1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thân thế và sự nghiệp danh nhân văn hoá trần đình phong

93 655 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thân thế Và Sự Nghiệp Danh Nhân Văn Hóa Trần Đình Phong
Tác giả Nguyễn Xuân Thành
Người hướng dẫn PGS. Hoàng Văn Lân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 32,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên mảnh đất xứ Nghệ, xã Mã Thành - Yên Thành từ lâu đợc biết đến là một vùng quê nghèo, cuộc sống của ngời dân còn gặp nhiều khó khăn.Song đây cũng chính là mảnh đất rất giàu về truyền

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

Nguyễn xuân thành

thân thế và sự nghiệp danh nhân văn hóa trần đình

Trang 2

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.54 Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Và qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hội đồng gia tộc họTrần Đình ở làng Yên Mã, đặc biệt là các bác trong họ nh: Trần ĐìnhLạp,Trần ình LĐình L u, Trần Đình Ngơi, Trần ình DĐình L ơng, Trần Đình Đúc thviện Đại học Vinh, th viện Nghệ An, th viện Yên Thành, Bảo tàng tổng hợpNghệ An, UBND xã Mã Thành đã nhiệt tình cung cấp tài liệu giúp tác giảhoàn thành luận văn

Cuối cùng, tác giả xin đợc nói lời cảm ơn đối với anh em gia đình, bạn

bè, ngời thân và đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ trong suốt thời gian qua

Vinh, ngày 8 tháng 12 năm 2008

Tác giả

Trang 3

Nguyễn Xuân Thành

MụC LụC

Trang

Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài 8

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Bố cục của luận văn 11

NộI DUNG Chơng I Quê hơng, thời đại và sự lập nghiệp của Trần Đình Phong 1.1 Quê hơng 13 1.1.1 Vài nét về mảnh đất và con ngời Yên Thành - Nghệ An 13

1.1.2 Xã Mã Thành - nơi sinh thành danh nhân văn hoá Trần Đình Phong .

……… 22

1.2 Thời đại. 30 1.2.1 Khái quát về xã hội Việt Nam dới triều Nguyễn 30

1.2.2 Sự xâm lợc của t bản Pháp và chính sách đối phó của triều Nguyễn

. 34 Chơng 2 Trần Đình Phong - con ngời và sự nghiệp 2.1 Vài nét về tiểu sử 37

2.2 Sự nghiệp của danh nhân văn hoá Trần Đình Phong 39

2.2.1 Trần Đình Phong - Tấm gơng sáng về truyền thống hiếu học………

……… 39

2.2.2 Trần Đình Phong - Vị quan thanh liêm, vì dân vì nớc 44

2.2.3 Trần Đình Phong - Nhà s phạm tràn đầy tâm huyết và tài năng………

…… 52

2.2.4 Trần Đình Phong - Với việc đào tạo nhân tài cho đất nớc 56 2.2.5 Sự nghiệp trớc tác 66

Trang 4

Chơng 3 Di sản văn hoá về trần đình phong và sự

tri ân của hậu thế.

3.1 Nhà thờ và mộ tiến sĩ Trần Đình Phong 69

3.2 Giá trị về văn hoá nghệ thuật và khoa học 84

3.3 Sự tri ân của hậu thế đối với tiến sĩ Trần Đình Phong. 90

Tài liệu tham khảo 99

Phụ lục I 102

Phụ lục II 106

Phụ lục III 107

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lịch sử của xã hội loài ngời cũng nh lịch sử mỗi dân tộc, đó là do

sự sáng tạo của quần chúng nhân dân Quần chúng nhân dân chính là động lực chủ yếu, quyết định làm nên lịch sử Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy rằng đôi khi sự nổ lực của các cá nhân kiệt xuất cũng có sức ảnh hởng hết sức sâu đậm trong gia tộc, quê hơng và đất nớc Họ chính là các nhân vật quan trọng góp phần làm nên lịch sử và cũng chính họ là những điểm sáng trong truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc

Trong lịch sử giữ nớc và dựng nớc của dân tộc Việt Nam, đã có không ít con ngời nổi tiếng mà tài năng, đức độ của họ đã để lại dấu ấn không thể phai

mờ trong suốt chiều dài lịch sử Các nhân vật lịch sử ấy chính là điểm sáng của trang sử vàng dân tộc Vì vậy, việc nghiên cứu các nhân vật lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của con ngời Việt Nam, vì một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1.2 Thời kỳ cận đại Việt Nam là thời kỳ gắn liền với cuộc chiến tranh

xâm lợc của t bản Pháp Trong điều kiện đó, việc đánh giá các nhân vật lịch sử

đôi khi cũng gặp khó khăn Thực tế, trong cơn biến loạn của đất nớc, đa số sĩ phu đã thể hiện đợc tinh thần yêu nớc, ý thức dân tộc Đặc biệt, trong hoàn

Trang 5

cảnh đó có những sĩ phu có nhân cách, khi không thể xuất đầu lộ diện và hành

động nh hồi đất nớc còn có độc lập, chủ quyền Họ đã xin từ quan về quê dạyhọc hoặc "làm quan nhân nghĩa ẩn tại triều,” thế mà vẫn gìn giữ trọn khí tiết

và tinh thần dân tộc Trần Đình Phong là một con ngời nh thế Đó cũng là điềuthôi thúc, khích lệ chúng tôi tìm tòi, nghiên cứu về ông

1.3 Trên mảnh đất xứ Nghệ, xã Mã Thành - Yên Thành từ lâu đợc biết

đến là một vùng quê nghèo, cuộc sống của ngời dân còn gặp nhiều khó khăn.Song đây cũng chính là mảnh đất rất giàu về truyền thống lịch sử, văn hóa.Nơi đây, từng sản sinh ra không ít ngời con u tú cho dân tộc, trong đó khôngthể không nhắc đến Trần Đình Phong Ông chính là một trong những hiệnthân tiêu biểu cho con ngời ở mảnh đất nơi đây và cũng chính ông là nguời đãgóp phần làm rạng danh cho vùng quê nghèo mà hiếu học này Cuộc đời và sựnghiệp của Trần Đình Phong là một tấm gơng sáng mà lớp lớp con cháu đi saucần noi theo và học tập Trần Đình Phong là một trí thức phong kiến có họcvấn uyên thâm Thế nhng, cũng nh một số sĩ phu khác, ông bớc vào con đờngcông danh sự nghiệp trong một bối cảnh đất nớc không mấy thuận lợi Đó làlúc triều đình Phong kiến bớc vào giai đoạn suy tàn, khủng hoảng và đó cũng

là lúc thực dân Pháp đang đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lợc nớc ta

Là một trí thức tài năng trên nhiều phơng diện, từng giữ nhiều chức vụquan trọng trong bộ máy nhà nớc song dù ở cơng vị nào, ông vẫn luôn tỏ ra làmột nhân cách lớn, một nhà Nho hết lòng vì dân, vì nớc, luôn đợc nhân dânkính trọng Ông thực sự là một nhân vật có nhiều đóng góp to lớn cho dân tộcvào nửa sau thế kỷ XIX

Việc nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của ông là một việc làm cầnthiết, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc, về một thế hệ nhà Nho tr-ởng thành trong thời đại đó Qua đó, hiểu rõ hơn những truyền thống tốt đẹpcủa quê hơng Yên Thành nói riêng và đất nớc Việt Nam nói chung Từ đó giữgìn và phát huy ngày càng tốt hơn truyền thống quê hơng, khích lệ tinh thầnhọc tập và sáng tạo đối với các thế hệ đi sau của đất nớc

2 Lịch sử vấn đề:

Nghiên cứu các vấn đề văn hóa nói chung, về danh nhân văn hóa nóiriêng là một đề tài thực sự lý thú và hấp dẫn Song cũng đòi hỏi sự nổ lực,công phu của ngời làm khoa học Ngày nay, khi việc trở về với cội nguồn

đang trở thành một xu thế thì vấn đề nghiên cứu các danh nhân văn hóa nổi

Trang 6

tiếng của các dòng họ càng thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhànghiên cứu Chính vì thế, từ trớc tới nay đã có một số công trình, bài viết củacác tác giả đề cập đến nhân vật Trần Đình Phong nhng phần lớn chỉ đề cập ởnhững vấn đề riêng lẻ, cụ thể:

Trong cuốn “Lịch sử huyện Yên Thành” tập I, NXB Nghệ An - 1990 và

“Lịch sử xã Mã Thành” do Sở Văn Hóa Thông Tin ấn hành - 1999 Tác giảNgô Đức Tiến cũng có đề cập đôi nét cơ bản về quê hơng, gia đình và sựnghiệp của Trần Đình Phong

Trong cuốn “ Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ”, Tập IV NXBNghệ An 1995 của tác giả Ninh Viết Giao Thông qua việc tập hợp các giaithoại về các nhân vật lịch sử xứ Nghệ, tác giả Ninh Viết Giao cũng đã có dịpgiới thiệu một số giai thoại về cụ về cụ Nghè Trần Đình Phong

Trong cuốn “Câu đối xứ Nghệ” tập I, NXB Nghệ An - 2005 của nhóm tác giảCảnh Nguyên, Nguyễn Thanh Hải, Đào Tam Tĩnh Thông qua việc nói về hệthống câu đối đặc sắc của xứ Nghệ, tác giả cũng đã đề cập đến một số nét cơbản về tiểu sử Trần Đình Phong, về các câu đối của ông cũng nh những câu

đối mà ngời đời hay các môn sinh viết tặng

Trong hồ sơ khoa học về di tích “Nhà thờ và mộ Trần Đình Phong” củaBan quản lý di tích và danh thắng Nghệ An thuộc Sở Văn Hóa Thông Tin (nay

là sở VHTT và Du Lịch) lập năm 1992 Trên cơ sở giới thiệu về nhà thờ và mộTrần Đình Phong - một di tích lịch sử văn hóa Nhiều vấn đề về thân thế, sựnghiệp Trần Đình Phong cũng đã đợc làm sáng tỏ

Hay bài viết “Trần Đình Phong (1843 - 1909)” của tác giả Đỗ Minh Nụtrong cuốn “Danh nhân Nghệ An”, tập I, NXB Nghệ An - 1998 Trong khinói về thân thế và sự nghiệp danh nhân văn hóa Trần Đình Phong Tác giả đã

có một nhận xét hết sức đáng chú ý nh sau: Trần Đình Phong với cuộc sốngcủa bản thân đã nổi lên là một ông quan thanh liêm, chính trực, một bậc thầycao hiền, một ngời khảo cứu, trớc tác có những đóng góp nhất định, sức lao

động của Trần Đình Phong cũng khiêm nhờng nh bản tính của ông

Trên một số tạp chí, tác giả Nguyễn Phớc Tơng là nhà nghiên cứu đãdành nhiều trang viết tâm huyết về Trần Đình Phong Trong bài “Tiến sĩ Trần

Đình Phong trên đất Quảng Nam” đăng trên tạp chí Thông tin KHCN Nghệ

An số 5.2006 và bài “Tiến sĩ Trần Đình Phong” đăng trên tạp chí Huế xa vànay số 77(9 - 10)/2006 Tác giả Nguyễn Phớc Tơng đã giới thiệu nhiều chi tiết

Trang 7

cụ thể về con ngời, cuộc đời và sự nghiệp Trần Đình Phong Qua đó, cho thấy

ông là một nhân vật có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc vào nửa sau thế kỷXIX

Ngoài ra, trong một số cuốn sách nh: “Khoa bảng Nghệ An”, “Các nhàkhoa bảng trong chế độ phong kiến Việt Nam”, “Các nhà khoa bảng Việt Nam

từ 1075 - 1919”, “Những ông nghè ông cống triều Nguyễn”… đều đã giới đều đã giớithiệu một cách hết sức ngắn gọn, cô đọng về tiểu sử Trần Đình Phong

Nhìn một cách tổng quát, các công trình, bài viết trên đều đã đề cập đếnnhân vật Trần Đình Phong Tuy nhiên, phần lớn còn mang tính chất sơ lợc,riêng lẽ, vẫn cha có một công trình nào trình bày một cách hệ thống, đầy đủ,toàn diện về ông Do đó, cha làm rõ đợc mối liên hệ, sự tác động của quê h-

ơng, gia đình và thời đại đến con ngời và sự nghiệp ông Từ đó, cha nêu bật

đ-ợc vai trò của Trần Đình Phong đối với quê hơng, đất nớc

Mặc dù vậy, những công trình, bài viết trên cũng là nguồn tài liệu hếtsức quan trọng và quý giá để chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đềtài này

3 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài:

3.1 Phạm vi nghiên cứu.

- Trên cơ sở những tài liệu hiện có và khả năng của bản thân, luận văn sẽtập trung nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp Trần Đình Phong Giới hạn thờigian của đề tài sẽ kéo dài trong thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX.(Khi Trần Đình Phong qua đời) Tuy nhiên, để tỏ lòng tri ân với những ngời đã

có nhiều đóng góp cho quê hơng, đất nớc và cũng để làm sáng tỏ hơn tình cảmcủa quê hơng, hậu thế đối với ông Chúng tôi đã đề cập tới những di sản vănhóa liên quan đến Trần Đình Phong đợc trùng tu trong những năm gần đây

- Về không gian: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về Trần đình Phongtrên quê hơng ông và các tỉnh mà ông đã từng làm quan, dạy học: Thanh Hóa,Huế, Quảng Nam…

3.2 Nhiệm vụ.

Luận văn sẽ tập chung giải quyết các nhiệm vụ khoa học sau đây:

- Tìm hiểu về quê hơng, gia đình và thời đại Trần Đình Phong

- Con ngời và sự nghiệp của Trần Đình Phong, những nơi ông đã từngsống và làm việc

Trang 8

- Nhà thờ và mộ Trần Đình Phong, một di sản văn hóa để lại cho hậu thế.

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

4.1 Nguồn tài liệu.

Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã tham khảo và nghiêncứu các tài liệu sau đây:

4.1.1 Tài liệu gốc.

Chúng tôi tham khảo các bộ sử, d địa chí cổ, trớc tác của Trần Đình Phongnh: Thanh Khê Xã Chí, Quỳ Trạch Đăng Khoa Lục, Gia phả họ Trần ở làng YênMã - Yên Thành, các hoành phi, câu đối, văn bia ở nhà thờ và mộ Trần ĐìnhPhong

4.1.2 Tài liệu nghiên cứu.

Chúng tôi tham khảo các tài liệu nghiên cứu lịch sử, văn hóa nh: Lịch

sử Việt Nam, tập I của Trơng Hữu Quýnh, NXB Giáo Dục - 1998, Nghệ An

ký của Bùi Dơng Lịch, Q1.2 NXB.KHXH - 2004, Lịch sử Nghệ Tĩnh, tập 1,NXB Nghệ Tĩnh, Vinh - 1984, Nghệ An lịch sử văn hóa của Ninh Viết Giao,Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng, NXB Nghệ An - 2005, Văn hóa cácdòng họ Nghệ An (Kỷ yếu hội thảo khoa học) NXB Nghệ An - 1997, NguyễnNhã Bãn Bản sắc văn hóa của ngời Nghệ Tĩnh NXB Nghệ An 2001

4.1.3 Các tài liệu khác.

Chúng tôi còn khai thác các tài liệu là hồ sơ, tạp chí, lu trữ tại th việnNghệ An, Bảo tàng tổng hợp Nghệ An, Tạp chí Huế xa và nay, Tạp chí KHCNNghệ An có liên quan đến đề tài

4.1.4 Tài liệu điền dã.

Để có thêm nguồn tài liệu chúng tôi còn đi khảo sát thực tế một số nơi

nh nhà thờ họ Trần Đình và nhà thờ Trần Đình Phong ở xã Mã Thành - YênThành, quần thể bia mộ của cụ Trần Đình Phong Đồng thời chúng tôi còntiến hành gặp gỡ, trao đổi với các vị bô lão địa phơng và con cháu của cụ Trần

Đình Phong trên quê hơng ông

4.2 Phơng pháp nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã vận dụng phơng pháp lịch sửkhi trình bày về quê hơng, gia đình, thời đại Trần Đình Phong, thân thế và sựnghiệp của ông Đồng thời sử dụng phơng pháp logic để làm rõ sự ảnh hởng,

sự tác động của quê hơng, gia đình, thời đại đến thân thế và sự nghiệp Trần

Đình Phong

Trang 9

Chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp so sánh, đối chiếu gia phả vănbia, các nguồn tài liệu chính sử địa phơng… Từ đó giúp cá nhân đa ra nhữngphân tích, nhận định nhằm làm sáng tỏ hơn thân thế và sự nghiệp của ông đốivới sự phát triển của văn hóa dân tộc.

5 Đóng góp của luận văn:

- Qua việc thực hiện đề tài này, luận văn muốn giới thiệu cho bạn đọcmột cách đầy đủ hơn về quê hơng, gia đình danh nhân văn hóa Trần ĐìnhPhong Một trong những nơi đã có công lớn trong việc dỡng dục, hình thànhnhân cách, tài năng danh nhân văn hóa Trần Đình Phong Đồng thời, qua đógiúp độc giả hiểu rõ hơn về lịch sử địa phơng huyện Yên Thành, một vùng quênghèo song nổi tiếng về truyền thống hiếu học Chính từ mảnh đất này đã sảnsinh biết bao con ngời tài năng cho đất nớc Từ đó góp phần giáo dục đạo đức,

t tởng cho thế hệ trẻ, hình thành ở họ niềm tự hào, ý thức giữ gìn và phát huyngày càng tốt hơn truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hơng, đất nớc

- Luận văn thực hiện thành công sẽ góp phần làm phong phú thêm bộ sử

địa phơng, thông qua đó sẽ cung cấp những nguồn tài liệu quý để đi sâu, tìmhiểu, nghiên cứu những vấn đề về lịch sử và văn hóa dân tộc

- Trần Đình Phong là nhà văn hóa lớn của dân tộc sống vào nửa sau thế

kỷ XIX Ông là ngời có nhiều đóng góp to lớn cho đất nớc trên nhiều phơngdiện, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa giáo dục Tài năng và đức độ của Trần ĐìnhPhong đã đợc ngời đời sau nhắc nhiều song dờng nh vẫn cha có những côngtrình nghiên cứu mang tính hệ thống về ông Thực tế, đã có một số bài viết về

ông nhng với số lợng thật khiêm tốn Cá nhân tôi thấy rằng, đó thực sự là một

điều rất đáng để suy nghĩ

Tiếp nối truyền thống uống nớc nhớ nguồn, qua việc thực hiện đề tàinày Luận văn muốn thế hệ sau có một cái nhìn đầy đủ hơn về một con ngờitài năng đáng kính mà cho đến nay sử sách còn ít viết nhiều về ông

- Cuối cùng thực hiện đề tài này, luận văn còn muốn góp phần vào việcthực hiện "chiến lợc con ngời" ở Việt Nam trong thời đại mới: Thời kỳ hộinhập và phát triển Qua đó, giúp chúng ta có thể rút ra cho mình những bàihọc quý báu trong việc bồi dỡng và đào tạo nhân tài cho đất nớc Đồng thờigóp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới trên đất nớc ta đi đến thành công, vì mụctiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

6 Bố cục của luận văn.

Trang 10

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn đợcchia làm 3 chơng nh sau:

Chơng 1 Quê hơng, thời đại và sự lập nghiệp của Trần Đình Phong Chơng 2 Trần Đình Phong - con ngời và sự nghiệp.

Chơng 3 Di sản văn hoá về Trần Đình Phong và sự tri ân của hậu thế

Trang 11

NộI DUNG

ChƯƠNG I quê hơng, thời đại và sự lập nghiệp của

Trần Đình Phong.

1.1 Quê hơng.

1.1.1 Vài nét về mảnh đất và con ngời Yên Thành - Nghệ An

Huyện Yên Thành trớc đây nằm trong địa giới huyện Đông Thành, phủDiễn Châu Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), huyện Đông Thành tách ra thànhhai huyện Đông Thành và Yên Thành Huyện Yên Thành ở phía Bắc, trị sở

đóng ở Yên Lý (Diễn Yên) Năm Thành Thái thứ 10 (1898) thực dân Pháp vàchính quyền nhà Nguyễn nhận thấy chia hai huyện theo chiều Đông - Tây thì

địa d từ Tây sang Đông quá dài, bề ngang hẹp nên chia lại hai huyện theochiều Nam - Bắc, huyện Đông Thành ở phía Đông, huyện Yên Thành ở phíaTây, đều thuộc phủ Diễn Châu

Huyện Yên Thành nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành

phố Vinh 55 km về phía Bắc Chiều Bắc Nam từ Hòn Sơng giáp Quỳnh Lu ởphía Bắc, đến Tràng sơn giáp Nghi Lộc, ở phía Nam dài gần 40 km, thuộc 180

55' đến 190 12', vĩ độ Bắc Chiều Đông từ thôn Ngọc Sơn làng Đại Độ đến làngTràng Thịnh, ở phía Tây dài 35 km thuộc 105011’ đến 1050 34' độ kinh Đông.Cách bờ biển nơi gần nhất ở xã Đô Thành 6km, nơi xa nhất ở xã Thịnh Thànhgần 40 km

Huyện Yên Thành phía Đông giáp huyện Diễn Châu, phía Bắc là huyệnDiễn Châu và Quỳnh Lu, phía Tây là huyện Nghĩa Đàn và Tân Kỳ, phía Nam

là huyện Nghi Lộc và Đô Lơng Huyện Yên Thành hiện nay có diện tích tựnhiên là 56.204 ha, trong đó đất canh tác có 15 647 ha chiếm 29%

Về hình thể, huyện Yên Thành giống nh hình một lòng chảo không cân

Ba phía Bắc, Tây, Nam là rừng núi và đồi trọc ở giữa phía Đông là một vùng

đồng trũng tiếp giáp với Diễn Châu Nơi cao nhất là đỉnh núi Vàng Tâm ở phíaTây Bắc làng Quỳ Lăng cao 544m Nơi sâu nhất là vùng trũng ven sông Điển,sông Câù Bà, âm 0,6 m so với mực nớc biển Với vùng đất trũng ở phía Đông

đã tạo một nên diện tích trồng lúa lớn cho cả huyện Yên Thành đợc mệnhdanh là vựa lúa lớn của tỉnh Nghệ An Có câu:

“Hết nớc thì có nớc nguồnHết gạo thì có gạo buôn Đông Thành ’’

hay nh:

“Nghệ Yên Thành, Thanh Nông Cống’’

Trang 12

đã phần nào nói lên đây là vùng sản xuất lơng thực chủ yếu, vùng đồng bằngrộng nhất của tỉnh Nghệ An.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng đồng bằng Yên Thành có độ nghiênglớn, mặt cắt dày, nên diễn ra quá trình mài mòn, rữa trôi và bồi tụ Đồng bằnghẹp ngang, lũ rút rất nhanh mang theo ra biển cả những phần đất mịn cha kịplắng đọng Vì vậy, đất nhẹ, giữ nớc giữ mùn kém Độ màu mỡ không bằng

đồng sông Mã, kém xa đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ ở giữa cánh đồng lạixuất hiện những nhánh núi, quả đồi, lèn đá xé lẻ, một số cánh đồng ở vùngtrũng bị nhiễm mặn Tuy vậy, từ mấy nghìn năm nay, đây là địa bàn quantrọng nhất để sản xuất lúa và hoa màu, là nơi cung cấp tôm cá và là nơi tậptrung đông dân c của tỉnh

Yên Thành là huyện có diện tích đồi núi tơng đối lớn, chiếm hầu hết phầnlớn đất đai, phân bố chủ yếu ở phía Bắc, phía Tây, phía Nam huyện Tuy nhiên,phần lớn là rừng núi và đồi thấp, có độ nghiêng dốc lớn ở đây xa kia có thảmrừng xanh bao phủ, rừng có nhiều gỗ quý nh lim, sến, kiền kiền, gụ, dổi, vàng tâm,táu, trai Rừng ở đây có nhiều động vật và các loại dợc liệu khá quý hiếm Tuynhiên do sự khai thác thiếu quy hoạch cho nên nguồn tài nguyên rừng đang cạnkiệt dần, rừng hiện nay đang có chủ yếu là rừng tái sinh

Một dạng địa hình khác ở Yên Thành là do hiện tợng lắng đọng trầmtích đá vôi kiến tạo nên, làm hình thành rất nhiều lèn đá Nơi đây có nhiềuhang động kín đáo, có nhiều mạch nớc ngầm và khoáng sản nh đá vôi, phốt-pho- rít Núi đồi, lèn đá, thung lũng và đồng bằng đã tạo ra nhiều cảnh quan

đẹp đẽ và đó cũng là vốn đất chủ yếu của Yên Thành

Suốt mấy ngàn năm lao động cần cù và sáng tạo, ngời dân Yên Thành

đã dựa vào vốn đất ấy để khai thác tạo lập làng xóm, đồng ruộng, ruộng vờn.Hiện nay, địa hình Yên Thành có ba vùng rõ rệt; vùng đồi núi bán sơn địa,vùng đồng bằng thâm canh, vung đồng trũng

Yên Thành nơi có khí hậu và thời tiết khá phức tạp, có những mặt u đãinhng cũng có những mặt khắc nghiệt Nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đớigió mùa, hằng năm nhận đợc lợng bức xạ khá lớn của mặt trời Tổng nhiệt l-ợng cả năm hơn 85000 C Nhiệt độ trung bình hàng năm 230 C Lợng ma trungbình hằng năm cũng tơng đối cao Tập trung phần lớn vào các tháng cuối mùahạ, khi nhiệt độ hạ thấp đột ngột, áp thấp nhiệt đới xuất hiện, thờng có nhữngcơn bão lớn, làm thiệt hại về tài sản và tính mạng con ngời Lịch sử đã ghi lại

Trang 13

những trận bão lũ ghê gớm nh hồi tháng 8 năm Nhâm Thìn (1842), năm BínhNgọ (1846).

Nắng nóng không chỉ rải đều quanh năm, mà tập trung vào các tháng 6,

7, mùa hè có gió nồm từ biển thổi vào và gió Tây Nam từ dãy trờng sơn thổisang Gió Tây Nam rất khô nóng, làm cho lợng nớc bốc hơi nhanh, đồng điềnkhô cạn Mùa hè nhiệt độ trung bình 350 C, có ngày lên tới 39 đến 400 C Khicha có hệ thống nông giang và hồ đập, những đợt gió Lào kéo dài gây tác hạirất lớn đến mùa màng và sức khoẻ con ngời Mùa đông, gió mùa đông bắcxâm nhập, nhiệt độ hạ đột ngột, tạo nên sự khô hanh, cũng có khi đem theo m-

a dầm kéo dài

Điều kiện tự nhiên nh vậy ảnh hởng đến tập quán, tính cách của ngờidân Yên Thành, đồng thời ngời dân ở đây cũng đổ biết bao mồ hôi nớc mắt đểkhai thác, tạo nên một vùng đất giàu đẹp của Đông Yên nhị huyện, một phầnmáu thịt của giang sơn cẩm tú Việt Nam

Là mảnh đất có lịch sử lâu đời, Yên Thành là nơi từ rất sớm đã có ngờiViệt cổ sinh sống Kết quả khảo cứu của các nhà khảo cổ học tại các địa điểm

nh Bảo Thành, Vĩnh Thành, Đồng Thành, Hậu Thành là cở sở khoa họcquan trọng cho phép chúng ta có thể khẳng định điều đó

Lịch sử Yên Thành gắn liền với lịch sử đấu tranh kiên cờng chống giặcngoại xâm và áp bức cờng quyền, vơn lên bảo tồn sự sống, làm chủ quê hơng

đất nớc Th tịch, dã sử, khảo sát thực địa cho chúng ta thấy trên đất Yên Thànhmỗi ngọn núi, khúc sông, cánh đồng, mỗi thôn xóm đều có ghi những chứngtích anh hùng Nhà yêu nớc Lê Doãn Nhã viết:

“Nhớ thời núi tụ anh linh

Quy lai giáo dựng, Động Đình gơm reo

Trời chiều nổi áng cờ treoNhớ ơn tằng tổ hiểm nghèo xông pha’’

Địa thế hiểm yếu, ba phía là núi, giữa là đồng bằng nhìn ra biển Tiến

có thể đánh, thoái có thể giữ Lòng dân yêu nớc, giám xã thân vì nghĩa lớn,

đặt nền móng cho truyền thống yêu nuớc và cách mạng của Yên Thành Hầu

nh không có cuộc kháng chiến nào của nhân đân Nghệ Tĩnh mà không có con

em Yên Thành tham gia Có lúc Yên Thành là đất đứng chân, là nơi gửi gắmniềm tin của những ngời lãnh đạo vào những phút khó khăn nhất của cuộckháng chiến giữ nớc

Trang 14

Dới thời Bắc thuộc, trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lợcNguyên Mông, ngọn lửa chiến tranh không lan ra trên đất Yên Thành, nhngnhân dân đã tích cực ủng hộ các vị hoàng thân, quốc thích xây dựng hậu cứ,cung cấp binh lính và lơng thực cho cuộc kháng chiến ở phía Bắc và kìm chânquân giặc ở phía Nam.

Thời Lý, đợc Lý Thái Tông phái vào làm tri châu Nghệ An, Uy minh

v-ơng Lý Nhật Quang đã khai khẩn miền đồng bằng Yên Thành, tuyển mộ binh

sĩ, lơng thảo phục vụ cho việc dẹp giặc, giữ vững nớc nhà

Thời Trần, trong cuộc kháng chống quân xâm lợc Nguyên Mông, nhândân Yên Thành tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ đất nớc Vua nhà Trầntrong thời điểm gay go nhất của cuộc kháng chiến đã chọn Hoan Diễn làm đất

đứng chân và gửi gắm vào đây niềm tin của cả dân tộc:

“Cối kê cựu sự quân tu kýHoan Diễn do tồn thập vạn binh”

(Cối Kê chuyện cũ ngời nên nhớ Hoan Diễn kia còn chục vạn quân)Theo tiếng gọi của đất nớc, hàng nghìn con em quê lúa Yên Thành đãlên đờng giết giặc Tiêu biểu cho những ngời đi đầu ấy là trạng nguyên BạchLiêu Ông học rộng tài cao, không ra làm quan, khi nớc nhà lâm nguy, ônglàm môn khách cho Thợng tớng Thái s Trần Quang Khải và đã góp phần cùng

bộ tham mu của Trần Quang Khải chặn đứng bớc tiến của đạo quân Toa Đô từChiêm Thành đánh ra

Thời nhà Lê, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, Lê Lợi đã pháinhững tớng lĩnh tin cậy vào đây để xây dựng căn cứ, lập thắng địa, tuyển chọnthắng binh Trong điều kiện đó nhân dân Yên Thành đã góp sức cùng cả nớcnổi dậy đánh đuổi quân Minh [35,35] ra khỏi bờ cõi nớc ta, hoàn thành sựnghịêp giải phóng quê hơng đất nớc

Đến cuối thế kỷ XVIII, nhân dân Yên Thành lại vùng lên mạnh mẽtrong phong trào Tây Sơn Chính Yên Thành là một trong những địa phơngcung cấp quân lính quan trọng cho Quang Trung - Nguyễn Huệ khi ông dừngchân tuyển thêm quân ở Nghệ An trên đờng tiến quân ra Bắc đánh đuổi quânThanh Nhân dân các làng còn đem trầu rợu, cơm gạo ủng hộ các đoàn quânTây Sơn Vậy là, Yên Thành đã góp sức mình vào chiến thắng vang dội củanghĩa quân Tây Sơn

Trang 15

Đặc biệt, từ khi ngọn cờ Cần Vơng tung bay trên núi rừng ấu Sơn

(H-ơng Khê) thì phong trào đấu tranh của nhân dân Yên Thành càng phát triểnvới quy mô lớn, có tổ chức, liên kết chặt chẽ với phong trào chống Pháp củaNghệ Tĩnh Yên Thành là căn cứ địa, là đại bản doanh, là trung tâm của cuộckhởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, hay còn gọi là khỡi nghĩa ĐồngThông, một trong hai cuộc khỡi nghĩa lớn ở Nghệ Tĩnh Tuy thất bại, nh ng nócũng thể hiện truyền thông yêu nớc nồng nàn và lâu đời của nhân dân huyệnlúa Yên Thành trong sự nghiệp bảo vệ đất nớc

Sau khi ra đời, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã dơng cao ngọn cờ độc lậpdân tộc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợinày đến thắng lợi khác Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, nhà nớcVNDCCH ra đời Đánh dấu sự thất bại của thực dân Pháp sau hơn 80 năm đô

hộ trên đất nớc ta, đi liền với thắng lợi đó là sự sụp đổ hoàn toàn của chế độphong kiến Việt Nam sau hàng năm tồn tại Tuy nhiên, với bản chất xâm lợc,sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thực dân Pháp đã quay lại xâm lợc n-

ớc ta lần nữa, tiếp đó là sự can thiệp của đế quốc Mỹ, hòng chia cắt lâu dài đấtnớc ta, biến Miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới Trong điều kiện

đó, nhân dân ta một lần nữa phải đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chốngPháp trờng kỳ 9 năm (1946 - 1954) và 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹxâm lợc Cũng với cả nớc, nhân dân Yên Thành luôn phát huy truyền thống tốt

đẹp của quê hơng, cùng góp công sức và chịu bao hy sinh mất mát để giành độclập dân tộc Theo tiếng gọi của tổ quốc, hàng ngàn con em Yên Thành đã lên

đờng tòng quân giết giặc Yên Thành còn là vùng hậu phơng vững chắc ở liênkhu IV [26; 16]

Trong suốt chiều dài lịch sử, thiên nhiên và con ngời xứ Nghệ trong đó

có Yên Thành luôn gắn bó, hoà quyện với nhau:

“Non nớc Hoan Châu đẹp tuyệt vờiSinh ra trung nghĩa biết bao ngời”

Nhà yêu nớc Nguyễn Xuân Ôn đã viết về thiên nhiên và con ngời ChâuHoan, Châu Diễn nh vậy Chính thiên nhiên u đãi và thử thách, thuận lợi vàkhó khăn, cùng với lịch sử dựng nớc và giữ nớc đã hun đúc nên con ngời YênThành

Sách “Đại Nam nhất thống chí ” viết: “Đất xấu dân nghèo, tập tục cầnkiệm Nhà nông chăm chỉ ruộng nơng, học trò a chuộng học hành” Nhà sử

Trang 16

học Phan Huy Chú ca ngợi Nghệ An núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu,cảnh tợng tơi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả Nam Châu Ngời thì thuầnhoà mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý lạ đợc khí tốt của sông núi, nênsinh ra nhiều bậc danh hiền thật là nơi hiểm yếu nh thành đồng ao nóng củacả nớc và then khoá của triều đại [35;21].

C dân Yên Thành ngày xa không đông lắm, dân số tăng chậm, chỉ đến khicác quan cai trị Châu Diễn chọn Quỳ Lăng và Kẻ Dền để xây dựng lỵ sở, cùngvới công cuộc chuyển dân từ ngoài Bắc vào khai dân lập làng, c dân mới tăngnhanh ở đây không có các tuyến giao thông chính đi qua nên nghề thủ côngnghiệp và buôn bán còn chậm phát triển, cuộc sống trong các làng xã mang tính

tự cung tự cấp khép kín, rất thuận lợi cho công cuộc đánh giặc giữ làng và khaithác đất đai ở phạm vi nhỏ nhng lại trì trệ chậm thích ứng vói mọi biến động củaxã hội

Vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt và mọi áp bức bất công của xã hội cógiai cấp, dẫu cuộc sống có nhiều lúc cay đắng, lay lắt với những bát cháo raumá, bữa cơm độn khoai nhng ngời dân Yên Thành luôn xây dựng, vun đắp chomình một cuộc sống lạc quan yêu đời Vào những ngày hội, nhân dân thờng tổchức các trò vui chơi nh: đánh đu, chơi cờ, chọi gà, đấu vật, hát tuồng, chèo.Trong huyện có nhiều phờng tuồng nổi tiếng nh Xuân Nguyên, Phúc Tăng,Liên Trì, Văn Hội Làng Quỳ Lăng có những phờng hát chèo nổi tiếng LàngXuân Nguyên có phờng hát ca trù của họ Nguyễn đợc xếp vào loại trò đại hàng,từng biểu diễn ở kinh đô Huế năm 1925 và nhiều nơi trong vùng

Những ngời dân Yên Thành còn là tác giả của một vùng văn hoá dân giankhá đặc sắc với những tục ngữ, ca dao, câu đố, chuyện cổ, chuyện trạng DânYên Thành thờng hay kể vè hát ví, hát dặm Vào những ngày mùa những phờnggặt thuê từ các huyện bạn đến Yên Thành đem theo bao lời ví, điệu hò của cácvùng quê Nghệ Tĩnh pha trộn, hoà nhập vào những làn điệu của Yên Thành, làmcho nơi đây trở thành nơi giao lu của những ngọn nguồn văn hoá dân gian xứNghệ Đêm đêm bên cối giã gạo, giữa sân trục lúa, lời ca điệu ví, câu chuyệntrạng nẩy nở

Yên Thành từ lâu nổi tiếng là đất học Dẫu nghèo đói, nhng ai cũng muốncho con học dăm ba chữ để làm ngời Nhiều gia đình chắt chiu từng hạt gạo, củkhoai nuôi con ăn học Nhân dân đã nuôi dỡng, chăm sóc nhiều học trò u tú đổ

Trang 17

đạt cao trong các kì thi Theo “Nghệ An đăng khoa lục” từ thời Trần đến thờiNguyễn, ở Yên Thành có 18 vị đại đại khoa, trong đó có 4 trạng nguyên, 3 thámhoa, 2 hoàng giáp, 5 tiến sĩ, 4 phó bảng Đó là Bạch Liêu, vị trạng nguyên đầutiên của xứ Nghệ Tiếp đó là các nhà khoa bảng nh: Hồ Tông Thốc, Hồ Tông

Đốn, Hồ Tông Thành, Hồ Doãn Văn, Nguyễn Văn Bính, Lê Văn Học, Phan DuyThực, Trần Đăng Dinh, Phan Tất Thông, Nguyễn Hng Công, Nguyễn Hữu Đạo,Trần Trọng Xuân, Luyện Tông Hàn, Phan Dỡng Hạo, Lê Doãn Nhã, Trần ĐìnhPhong, Phan Võ

Để khuyến khích việc học, làng xã nào cũng dành một phần ruộng công

để làm học điền Những ngời đậu đạt cao đợc làng cấp ruộng, dựng nhà Nhiềulàng xã mang đậm truyền thống hiếu học của quê hơng nh Tam Thọ, Yên Mã,Tràng Thành, Quỳ Lăng, Giai Lạc, Yên Nhân, Vân Tụ Cũng vậy, học giỏi, đỗ

đạt nhng kẻ sĩ Yên Thành phần nhiều từ quần chúng mà ra nên sống gắn bó vớiquê hơng, gần gũi và rất thơng dân Họ sống tiết tháo, cơng trực, tham gia và

đóng góp tích cực vào sự tiến bộ của quê hơng Khi đất nớc gặp lâm nguy, cóngời đã bỏ cả công danh quan trờng, cùng nhân dân đứng lên chống giặc nhphó bảng Lê Doãn Nhã Cũng có ngời về quê dạy học, mở mang dân trí, thứctỉnh tinh thần yêu nớc của nhân dân

Một truyền thống quý báu nữa của c dân Yên Thành là chuộng tínnghĩa, hiếu khách, kính trọng ngời già, biết ơn với những ngời có công với họhàng làng nớc Những ngời có công với khai khẩn đất đai, chiêu dân lập ấp,hoặc có công văn võ với dân, với nớc cũng đợc nhân dân quý trọng, tôn làmthành hoàng, làm phúc thần và lập đền thờ

Dẫu nghèo đói đến mấy, gia đình nào cũng lập bàn thờ cúng gia tiên,lấy ngày mất làm ngày kỷ niệm, tỏ lòng biết ơn ngời xa và sum họp gia tộc.[35;30]

Đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong c dân YênThành xuất hiện thêm một bộ phận những đồng bào theo đạo Thiên chúa.Trong điều kiện đó, phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của quê hơng, bàcon lơng cũng nh giáo, đoàn kết tơng thân tơng ái, đấu tranh chống giặc ngoạixâm và áp bức cờng quyền Có ngời vừa theo đạo vừa cống hiến cả đời mìnhcho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng

So với Thiên chúa giáo, đạo Phật đợc du nhập vào Yên Thành khá sớm

và nhanh chóng đợc nhân dân tiếp nhận Trải qua bao thăng trầm của lịch sử

Trang 18

đất nớc, dấu ấn của đạo Phật vẫn còn tồn tại hết sức sâu đậm trong đời sốngnhân dân nơi đây, nh thuyết nhân quả, thiện ác Trong đời sống hàng ngàymọi ngời đều lo làm điều thiện tránh điều ác, lo ở hiền để gặp lành Đâychính là những giá trị nhân văn cao đẹp trong truyền thống văn hoá của quê h-

ơng

Đạo Nho vào Yên Thành muộn hơn đạo Phật, nhng đây là hệ t tởng có

ảnh hởng hết sức sâu đậm trong đời sống tâm lý, tập quán, lối sống của nhândân Do ảnh hởng của Nho giáo, nhiều phẩm chất cao quý đợc vun đắp, hìnhthành làm rờng cột cho văn hoá ứng xử của con ngời nơi đây Trong suốtchiều dài lịch sử nhiêù phẩm chất cao quý tiếp tục đợc kế thừa và phát triển,

đó là những t tởng nh: trung với nớc hiếu với dân, lấy báo ơn dân đền nợ nớclàm nghĩa, giành độc lập cho dân tộc làm nhân Đây cũng chính là nhữngtruyền văn hoá tốt đẹp cần đợc giữ gìn và phát huy nhằm giáo dục cho thế hệtrẻ của đất nớc

Có thể nói, cùng với nhân dân xứ Nghệ, c dân Yên Thành đã góp phầntạo dựng truyền thống văn hoá tốt đẹp cho con ngời Việt Nam, mang bản sắcriêng của một vùng quê: yêu quê hơng đậm đà tha thiết, đoàn kết tơng thân t-

ơng ái, cần cù chịu khó tiết kiệm, thuần hậu, chất phác, thẳng thắn, thật thà,tình nghĩa trong cuộc sống

1.1.2 Xã Mã Thành – nơi sinh thành danh nhân văn hoá nơi sinh thành danh nhân văn hoá Trần Đình Phong.

Mã Thành là một xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Yên Thành.Cách huyện lỵ Yên Thành 18 km, tiếp giáp với các xã Tân Sơn (Quỳnh Lu),Tân Thành, Thọ Thành, Đức Thành, Lăng Thành

Về hình thể, xã Mã Thành là hình ảnh thu nhỏ của huyện Yên Thành,vừa có núi, đồi trọc, vừa có ruộng tới nớc hồ đập, vừa có đồng trũng tới nớcnông giang Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, chủ yếu là đồi núi, suối khe,thung lũng Vì vậy, Mã Thành là một trong những xã đợc cộng nhận là xãmiền núi đầu tiên của huyện Yên Thành (1995) Mã Thành có tổng diện tích

đất tự nhiên là 6.156 ha, trong đó đất có khả năng nông nghiệp là 1.200 ha

Địa hình chủ yếu của Mã Thành là rừng núi và đồi trọc Rừng nơi đây

có nhiều loại gỗ quý, nhiều động vật quý hiếm, nhiều sản vật nh các loại câythuốc nam, song mây Nơi đây, rừng núi, đồi cây, khe suối, thung lũng tạothành cảnh quan hùng vĩ

Trang 19

Nhất cao là động Mồng GàThứ nhì hòn Nhọn, thứ ba hòn SờngTrong ba ngọn núi của Yên Thành thì Mồng Gà và Hòn Sờng nằm trên

đất cũ Mã Thành Nhng ngọn núi gần gũi, gắn bó với dân Mã Thành hơn cả lànúi Yên Mã Núi Yên Mã không cao lắm nhng thế núi có hình con ngựa đangphi về phía Nam, hớng ra đồng bằng Làng Yên Mã cũng lấy tên núi đặt chotên làng Biết bao nhiêu thế hệ ngời dân nơi đây nhìn ở dáng núi để ấp ủ, gửigắm niềm kiêu hảnh, biểu lộ cốt cách vững chãi, mạnh mẽ của khí chất conngời ở một vùng quê

Một dạng địa hình khác là núi đá vôi Núi đá vôi ở Mã Thành có ở bốnnơi Đó là lèn Đá Dựng, lèn Đốc Đạo, Hòn Cô, Hòn Cốc Lèn Đá Dựng tuykhông lớn lắm, nhng giữa thung lũng xanh nổi lên một hòn lèn nhỏ vút cao, đ-

ợc ngời xa ví nh cái bút lông vẽ lên trời Lèn Đốc Đạo nằm sâu trong núi, cónhiều hang động kín đáo Phía trớc lèn có những thung lũng rộng Xa kia, đâychính là đất đứng chân của các bậc anh hùng nghĩa sĩ dùng làm căn cứ chốngquân xâm lợc, cũng là nơi nơng náu của những ngời sa cơ thất thế Nghĩa quânCần Vơng cũng từng dựa vào hang động nơi đây làm căn cứ Nay ở đây vẫncòn giữ lại di tích bờ luỹ, hang Đề Niên, Bãi Tập Các hang động ở đây vừaghi dấu những chiến tích lịch sử, vừa là cảnh quan đẹp có thể làm danh thắng

tự nhiên để du lịch, thởng ngoạn

Giữa các đồi rừng là các thung lũng rộng, các hóc chọ, biềng khe Càng

đi xuống phía Nam các thung lũng càng rộng mở ra cánh cánh đồng lúa trớcmặt Đất ruộng ở Mã Thành khá phức tạp Có đất sờn đồi ở các thung lũnghẹp Có đất ruộng tới nớc của hệ thống nông giang Nhng vì mặt cắt ngăn,

đồng ruộng hẹp nên bị rửa trôi liên tục, độ canh tác mỏng, độ màu mở kém

Điều này đã ảnh hởng rất lớn tới tình hình sản xuất và đời sống của ngời dânnơi dây

Một dạng địa hình khác của Mã Thành là suối khe, bàu hồ Vì vậy màtên gọi của Mã Thành có khi là An Mã, Trúc Đà nhng tên Lội Truyền, SuốiKhe, Thanh Khê đều xuất phát từ khe suối Bởi lẽ, nhiều đồi núi ắt có nhiềusuối khe, hóc chọ

Trang 20

Từ một vùng đồi núi hoang vu, rậm rạp “núi khe rừng rậm” (Thanh KhêXã Chí - Trần Đình Phong) Trải qua bao thế kỷ lao động cần cù sáng tạo, từcác vị triệu tổ bổ nhát quốc đầu tiên, với bao vất vả nhọc nhằn chống chọi vớithiên tai, đói khát, thú giữ, dịch bệnh Nhng với sự cố gắng bền bỉ của nhiềuthế hệ con em ở các làng Mã Thành Họ đã xây dựng nên một mảnh đất MãThành hôm nay màu mở, xanh tơi, xóm làng đông vui trù phú.

Mã Thành cũng nh các xã ở Yên Thành nằm trong khu vực nhiệt giómùa, nhng lại nằm gọn trong khu vực miền Trung của đất nớc, có nhiều đồinúi nên khí hậu và thời tiết khá phức tạp Có mặt u điểm thuận lợi, nhng cũng

có khó khăn thử thách đối với con ngời Một năm có thể chia làm hai mùa rõrệt:

Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 dơng lịch, mùa này tiết trời nóng nực,nhiệt độ trung bình 300 C, có ngày lên tới 400 C, trong những tháng cuối mùahạ (7,8,9,) thờng hay có áp thấp, bão tố đi liền với ma lớn Có khi có gió lốclàm h hỏng hoa màu, nhà cửa Mỗi năm có tới 4 - 5 cơn bão, thờng từ số 2 đến

số 10 Lịch sử nơi đây đã ghi lại những trận bão lụt lớn nh cơn bão năm NhâmThìn(1842), Bính Ngọ(1846) và gần đây là trận lụt năm Mậu Ngọ (1978)

Mùa lạnh từ tháng 11 năm trớc đến tháng 3 năm sau Mùa lạnh thờng

có gió mùa Đông Bắc thổi về làm cho thời tiết khô hanh, cũng có khi kéo theo

ma dầm dai dẳng

Cũng nh c dân các xã khác của huyện Yên Thành, c dân Mã hành từhàng nghìn năm nay phải chống chọi với những thử thách khắc nghiệt củathiên nhiên Vừa phải luồn lách, chế ngự, thích nghi với thiên nhiên để trụvững trên vùng đất này mà sản xuất và sinh sống Những yếu tố thiên nhiên,thời tiết không chỉ đợc ghi đậm trong cảnh quan, đồng ruộng, làng xóm màcòn thấm sâu vào khí chất con ngời Mã Thành: kiên trì, gan góc, quyết tâm v-

ợt khó vơn lên, nhất là trong học hành để tạo lập cuộc sống [36; 23]

Do tác động bởi yếu tố tự nhiên và yếu tố lịch sử, cho nên ở Mã Thành

c dân cũng đợc kết tụ từ rất nhiều nguồn khác nhau

Đất Mã Thành ở gần phủ lỵ Quỳ Lăng, thời kỳ Bắc thuộc, phủ lị doquan lại và binh lính ngời Trung Quốc sang cai trị Do đó, có thể khẳng địnhnhững dòng họ gốc ngời Hoa ở vùng Yên Thành, Diễn Châu, là một trongnhững nhóm c dân đến Mã Thành khá sớm

Trang 21

Trong cuốn “Nghệ An phong thổ ký” của Bùi Dơng Lịch có viết: cácdòng họ nh họ Tạ, họ Bạch, họ Cung, họ Hà, họ Tăng quan lại và binh línhngời Hoa từ phơng Bắc vào trấn trị ở Châu Diễn rồi lu lại ở Đông Thành kếthôn với con gái các họ của ngời Việt, rồi trở thành ngời Việt Gia phả họ Bạch

ở Trúc Hạ, Thanh Đà có lẽ là nhiều đời nhất (đến Bạch Liêu là đời thứ 5), Giaphả họ Nguyễn (Yên Mã) ghi vị triệu tổ là Nguyễn Phúc Thanh ở Trần LuQuận, thuộc Bắc Quốc, sang Việt Nam đến đời thứ ba lên đất Mã Thành, năm

1546 cùng các vị khác lập nên An Mã trang

Một nguồn dân c khác cũng từng đến Mã Thành là các vị triệu tổ từngoài Bắc vào do quốc biến Trong đó, có vị triệu tổ của họ Trần, vốn là concháu của Trần Nguyên Hãn Trong cuốn Gia phả họ Trần và tài liệu về Dòng họTrần trên đất Nghệ Tĩnh cũng đã khẳng định rằng: dòng họ Trần Đình ở YênThành thuộc dòng dõi Trần Nguyên Hãn( khai quốc công thần bậc nhất đời Lê).Nhng vì nghi kỵ nên Lê Lợi đã bức tử Trần Nguyên Hãn Sau khi bị bức tử,một bộ phận con cháu đã chạy vào Nghệ An, sau đó lên Mã Thành sinh cơ, lậpnghiệp [36; 27]

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, quá trình di dân tới Mã Thành tiếptục diễn ra, trong đó đáng chú ý là quá trình di dân của hàng trăm hộ dân ở xãLăng Thành Năm 1980, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nớc trong việcgiãn dân, tách dân, c dân các xã Diễn Quãng, Diễn Yên, Nhân Thành đã lênMã Thành để xây dựng vùng kinh tế mới, đến nay từ các nông trang, nông trại

ấy đã trở thành những xóm làng đông vui trù phú

Cùng với qúa trình di dân theo chủ trơng của Đảng và Nhà nớc là quátrình di dân tự do Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của giặcMỹ(1964 - 1972) Một số nông dân ở các xã Phú Thành, Hồng Thành, ThọThành đã vào cày trại ở Hoóc Choạc, Rộc Lúa thuộc đất Mã Thành Lúc đầumỗi nhà chỉ 2 - 3 ngời lên đây cắm lều, cày trại, thả trâu bò lúc nông nhàn, vềsau lên cả nhà rồi cắm đất lập nghiệp

Hiện nay, dân số Mã Thành đã phát triển và trở thành một trong nhữngxã đông dân của huyện Yên Thành Một vùng quê tập hợp c dân từ nhiềunguồn, “vùng quê nhiều giọng nói” nhng tất cả đều gắn bó với quá khứ vẽvang và hiện tại sôi động trên mảnh đất này

Trang 22

ở mảnh đất Mã Thành, dẫu thiên nhiên khắc nghiệt, cuộc sống cònnhiều khó khăn, thiếu thốn song ngời dân Mã Thành cũng rất tự hào về truyềnthống văn hoá quê hơng Truyền thống đó có khi đợc ghi lại trên từng váchnúi, mái đình, có khi đợc lu lại trong khí chất, tính cách, tâm hồn ngời dân

Nói đến Mã Thành là nói đến đất học Truyền thống hiếu học từ lâu đãngấm vào xơng, thấm vào máu của ngời dân xứ Nghệ Nơi “đất xấu dânnghèo, tập tục cần kiệm, nhà nông chăm chỉ ruộng nơng, học trò a chuộng họchành Mã Thành cũng là một địa danh tiêu biểu cho truyền thống hiếu học,khổ học của xứ Nghệ

Ngay từ những khoa thi đầu tiên của nhà nớc phong kiến Việt Nam,thuở vùng đất Hoan Diễn còn gọi là Trại, ngời mở đầu cho nền khoa cử ởNghệ An là ngời Thanh Đà - Mã Thành Đó là Bạch Liêu, vị trạng nguyênkhai khoa đầu tiên của xứ Nghệ Bạch Liêu còn có tên gọi là Bạch Đồng Liêu,sinh ngày15 tháng Giêng năm Bính Thìn (1236) Tơng truyền, hồi nhỏ BạchLiêu đã khôi ngô, đỉnh đạc khác thờng, 6 tuổi đã biết đọc sách vở, 7 tuổi đãbiết làm thơ, 8 tuổi đã biết làm văn Năm 15 tuổi văn chơng đã giỏi, điểm sách

đã thông, tiếng tăm vang lừng khắp quận huyện Ngời đơng thời gọi ông làThần đồng Từ mốc son đó, bảng vàng khoa cử Mã Thành tiếp tục đợc làmrạng danh bởi không ít những con ngời tài danh, nổi tiếng, trong đó có Trần

Đình Phong

Cũng vậy, từ thời kỳ nhà Lê tới thời kỳ nhà Nguyễn, Mã Thành còn cótới 20 vị đậu sinh đồ, tú tài, cử nhân Một trong số những ngời đổ đạt caotrong thời gian này có cả các con trai của cụ Nghè Yên Mã nh Trần ĐìnhPhiên, Trần Đình Chín, Trần Đình Nam Học hành đổ đạt nhng phần lớn cácnhà nho ở Mã Thành đều xuất thân từ nông dân nên khi về dạy học hoặc ralàm quan đều rất thơng dân, yêu làng yêu nớc Họ là lớp trí thức nêu gơnghiếu học, khổ học, sống có tiết tháo, nhân nghĩa

Tiếp nối truyền thống văn hoá của quê hơng, khắp trong làng trong xã,việc học luôn đợc tôn vinh Các gia đình nông dân, dù nghèo vẫn cố gắng nuôithầy dạy cho con học dăm ba chữ để làm ngời Các thầy đồ luôn đợc nhân dân

và học trò quý trọng Truyền thống“ tiên học lễ, hậu học văn” luôn đợc đề cao.Học trò đỗ đạt là niềm tự hào của làng, của tổng, của huyện Làng luôn dànhmột phần ruộng để lập nhà thánh, làm học điền nhằm khuyến khích việc học

Trang 23

Từ sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, hởng ứng lời kêu gọi

“diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, các lớpbình dân học vụ, xoá mù cho ngời lớn, các lớp vở lòng đợc mở khắp các làng.Trong khó khăn gian khổ của 9 năm kháng chiến trờng kỳ, việc học đợc xem

là một trong ba nhiệm vụ chiến lợc nên cả làng, cả huyện tạo đợc một phongtrào học chữ quốc ngữ Nhờ đó mà trình độ dân trí của nhân dân, nhất là con

em nông dân đợc mở mang Từ sau ngày hoà bình lập lại, nhờ việc học hànhtiếp tục đợc đẩy mạnh, lớp lớp con em Mã Thành đã trởng thành trong khángchiến tiếp tục có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổquốc

Ngời dân Mã Thành cũng có một đời sống tinh thần hết sức phong phú.Chính sự lạc quan và yêu đời đã giúp họ tạo dựng nên một đời sống văn hoádân gian khá đặc sắc Trong nhân dân còn lu giữ đợc không ít những truyện

kể, những câu vè, câu ví, câu chuyện trạng về một vùng quê giàu truyền thốngnhân văn Chính những ngời nông dân nghèo, những thầy đồ của làng cũng làtác giả dân gian của những bài vè, bài hát ví, hát ghẹo Trai gái các làng đi củi,

đi gặt, đi cấy hoặc lúc nông nhàn, những đêm trăng sáng thờng hát ví, hátghẹo Nhiều bậc cao niên còn nhớ những câu hát của một thời son trẻ:

Nhớ rừng anh lại nhớ emTrông lên trăng lặn hết đêm lại rừngThấy em bứt củi anh mừng

Rú rừng có đẹp em đừng quên anh

Và biết bao thế hệ con em Mã Thành lớn lên trong lời hát ru của bà, của mẹ:

Học đi cho biết con ơiBiết trời, biết đất, biết ngời, biết taHọc đi cho biết nớc nhà

Biết đâu bờ cõi, biết ông cha vẫy vùng

Vào những dịp hội làng, hội mùa, các làng thờng tổ chức diễn tuồng,diễn chèo, tổ chức các các trò chơi dân giã nh đấu vật, đánh đu, chọi gà, bìnhthơ Từ những hoạt động dân gian đó, nhân dân Mã Thành luôn tự hào vì đãgóp phần tô đẹp cho truyền thống văn hoá của mảnh đất Yên Thành - XứNghệ

Một truyền thống nữa của nhân dân Mã Thành đó là truyền thống đoànkết Do phải sống giữa một vùng thiên nhiên khắc nghiệt, công cuộc khai phá

Trang 24

đất đai, tạo dựng cuộc sống luôn phải đối mặt với thiên tai bão lụt, thú giữ và

kẻ thù xâm luợc Nên từ lâu ngời dân ở đây đã gắn bó với nhau trong cồng

đồng, họ tộc, trong các giáp, các làng, trong tổng, trong huyện và mở rộnghơn là cả tỉnh, cả nớc Gia đình gắn bà con anh em, họ gắn với làng trongtình“ tình làng nghĩa xóm”, làng gắn với nớc Anh em trong họ tộc, cùng máu

mủ ruột thịt gắn kết với nhau theo thuyết hệ ghi trong tộc phả, bằng khoán ớccủa dòng họ Dân trong một làng gắn kết với nhau trong hơng ớc của làng.Hầu nh làng nào cũng có quỹ “Nghĩa Sơng” để giúp đỡ những ngời nghèo đói,hoạn nạn Nhng đậm nhất vẫn là tình cảm đoàn kết giữa những ngời cùnglàng, cùng xã

Ngòi dân Mã Thành cũng rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên và tôn trọngngời già Biết ơn những ngời ruột thịt đã khuất, hằng năm đến ngày mất củacác bậc tiên liệt, từ vị triệu tổ đầu tiên đặt chân lên đất Mã Thành đến các vị

đứng đầu các chi, hệ, phái và gần gũi hơn cả là cố can, ông bà con cháu xagần thờng về giỗ tổ Phần mộ của dòng họ thuộc những ngời đã khuất luôn đ-

ợc con cháu giữ gìn, chăm sóc Ngày tế tổ, ngày kỵ ông bà, cha mẹ và nhữngngày lễ khác trong năm là những dịp để con cháu sum họp làm lng cơm chénnớc đến nhà con trởng để cúng tổ tiên, tỏ lòng biết ơn những ngời đã khuất

Đối với những ngời già, làng luôn xem xét để miễn lao dịch, binh dịch

và các khoản đóng góp Vào những ngày đầu xuân, con cháu họ hàng thờng tổchức yến lão mừng thọ các cụ với nhiều hình thức trang trọng Tôn trọng ngờigià là một truyền thống tốt đẹp của ngời dân nơi đây vẫn đợc duy trì cho tớingày nay

Nhìn chung, những truyền thống, những tập tục của các làng ở MãThành có cái đợc lu truyền, gìn giữ cho đến ngày nay, có cái đã mất hoặc bị

đào thải qua thời gian Nhng tất cả đều góp phần bồi dỡng tình cảm, khí chấtcho ngời dân nơi đây; đó là hiếu học, yêu làng, yêu nớc, cần cù trong lao

động, gan góc dũng cảm trong đấu tranh, nghĩa tình trong cuộc sống

1 2 Thời đại.

1 2 1 Khái quát về xã hội Việt Nam dới triều Nguyễn.

Bớc vào thế kỷ XIX, giai cấp t sản Âu - Mỹ đã hoàn thành các cuộccách mạng t sản, phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa đợc xác lập trên toàn thế

Trang 25

giới Tiếp đó, các cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ từ châu Âu sang châu

Mỹ đã thúc đẩy nền kinh tế t bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng Sự pháttriển kinh tế t bản chủ nghĩa đã đặt ra nhu cầu bức thiết về nguyên liệu, thị tr -ờng, nhân công Để đáp ứng nhu cầu đó, chủ nghĩa t bản đua nhau xâu xécác thuộc địa trên quy mô lớn Trong bối cảnh đó, phần lớn các nớc á, Phi,

Mỹ la tinh đều trở thành đối tợng bị xâm lợc của các thế lực t bản

Trong khi đó ở Việt Nam, trong suốt các thế kỷ XVI - XVIII, đất nớcnằm trong tình trạng bị phân liệt nặng nề, chiến tranh xảy ra liên miên giữacác tập đoàn phong kiến Thời kỳ Nam – nơi sinh thành danh nhân văn hoá Bắc triều kéo dài 60 năm (1532 -1592), Nam – nơi sinh thành danh nhân văn hoá Bắc đánh nhau 36 trận lớn Chiến tranh Nam - Bắc cha chấmdứt hẳn thì nổ ra chiến tranh Đàng Ngoài và Đàng Trong (1627-1672) Haibên đọ sức với nhau trong 7 chiến dịch, mỗi chiến dịch có nhiều trận đánh.Thiệt hại về ngời nhiều hơn chiến tranh Nam - Bắc triều 60 năm Trong thờigian chiến tranh Đàng Ngoài và Đàng Trong còn có chiến tranh giữa Tây Sơn

và Chúa Nguyễn, Tây Sơn và Chúa Trịnh Đến năm 1788 phong trào nông dânTây Sơn đã đánh đổ cả ba tập đoàn phong kiến Nguyễn, Trịnh, Lê và bắt đầutập trung xây dựng triều đại của mình Tuy nhiên, triều đại Tây Sơn mới xáclập đã bộc lộ những mâu thuẫn nội bộ ngày càng gay gắt Cuộc xung đột giữahai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Hụê bùng nổ, tiếp đó là cái chết đột ngộtcủa vua Quang Trung, triều đình Quang Toản nối nghiệp nhng tỏ ra suy yếu.Nhân cơ hội đó, Nguyễn ánh đã cùng với số quân ít ỏi từ đất Xiêm trở về tiến

đánh Gia Định, lật đổ chính quyền Tây Sơn, bắt đầu triều đại của mình

Dòng họ Nguyễn ánh vốn có nguồn gốc từ lâu đời Khi Nguyễn Hoàngvào trấn thủ đất Thuận Quảng đã xựng dựng vùng đất Đàng Trong thành mộtlảnh thổ riêng với nền kinh tế, chính trị ổn định Từ giữa thế kỷ XVIII vùng

đất Đàng Trong của chúa Nguyễn lâm vào khủng hoảng Nhân cơ hội này,phong trào nông dân Tây Sơn lớn mạnh đã quật đổ chúa Nguyễn, làm chủvùng đất Đàng Trong Triều đại Tây Sơn xác lập (1778) nhng mối thù giữa haitập đoàn phong kiến Tây Sơn và nhà Nguyễn ngày càng sâu sắc Từ đó, họNguyễn vẫn tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi mong khôi phục lại cơ đồ.Trong các năm 1782, 1783 Nguyễn ánh (cháu của Nguyễn Phúc Khoát đãdựa vào các đại địa chủ và nhân dân Nam Bộ nói chung để chống lại Tây Sơn

Bị thất bại, Nguyễn ánh tạm bỏ đất Gia Định chạy trốn sang Xiêm Tháng 7năm 1784, Nguyễn ánh cầu viện quân Xiêm đa 3 vạn quân kéo về đánh Gia

Trang 26

Định Nhng thời gian này, quân Nguyễn ánh cha đủ sức để đánh đổ Tây Sơndới sự chỉ huy của chủ tớng Nguyễn Hụê Nhng rồi cơ hội phục hồi quyền lực

đã đến với Nguyễn ánh Nhân lúc vơng triều Tây Sơn mâu thuẫn, suy yếu,Nguyễn ánh từ Xiêm trở về chiếm lại Gia Định Làm chủ Gia Định, một mặtNguyễn ánh ra sức luyện quân, kén tớng, lập binh đồn điền sản xuất để tíchluỷ lơng thực, xây dựng đồn lũy vững chắc, mặt khác tìm cách liên hệ với nớcngoài nhờ giúp đỡ Thế lực t bản đợc Nguyễn ánh trông cậy là Pháp Dựa vào

sự giúp đỡ của ngời Pháp, Nguyễn ánh đem quân lần lợt chiếm lại các tỉnhNam Bộ, đồng thời mở rộng tiến công ra Bắc, làm chủ toàn bộ đất nớc

Năm 1802, sau khi đánh bại vơng triều Tây Sơn, Nguyễn ánh đặt niênhiệu Gia Long, lên ngôi Hoàng Đế, năm 1804, đổi quốc hiệu là Việt Nam, rồi

đợc Minh Mạng đổi tên là Đại Nam đóng đô ở Huế Nớc Đại Nam về danhnghĩa vẫn thần phục “Thiên Triều” nhà Thanh nhng trên thực tế là một nớc

độc lập

Nhà Nguyễn vừa xác lập đã phải kế thừa một di sản đất nớc suy yếu, trìtrệ về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội - hậu quả của cuộc nội chiến giữa cáctập đoàn phong kiến kéo dài từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII Tình trạngsuy yếu, trì trệ của đất nớc chẳng những không đợc khôi phục dới triềuNguyễn mà thậm chí càng trở nên trầm trọng hơn

Trớc hết, về chính trị xã hội, mặc dù nhà Nguyễn đã xây dựng một bộmáy chính trị tập trung thống nhất mạnh nhất từ trớc tới nay, từ Nam chí Bắc.Cho biên soạn bộ quốc sử Việt Nam để ngời Việt Nam đỡ lệ thuộc vào Bắc sửtrong việc học hành, để ngời Việt Nam đánh giá đúng hơn về bản lĩnh của dântộc mình Nhng nhà Nguyễn là triều đại Việt Nam duy nhất đợc dựng lênkhông phải từ một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, mà bằng một cuộcchiến huynh đệ tơng tàn và khốc liệt Để chấm dứt cái huynh đệ tơng tàn ấy,vua Gia Long sau khi lên ngôi đã trả thù cho dòng họ mình một cách hết sứctàn bạo Hơn nữa, trong việc biên soạn quốc sử Việt Nam, một số sử quan theolời Tự Đức khi đánh giá về các anh hùng dân tộc đã cho rằng: Ngô Quyềnkhông tài cán gì, sở dĩ thắng trận Bạch Đằng vì Nam Hán nhỏ thôi, vì HoằngThao chỉ là một thằng hèn, chớ nếu gặp phải tay Trần Bá Tiên mà bảo rằngNgô Quyền không phải theo gót Lý Nam Đế, Triệu Việt Vơng thì ít có lắm;

Trang 27

250 vạn quân Thanh bị đánh tan tành tại Đống Đa, Thăng Long không phảiNguyễn Huệ tài cao, quân sỹ ta giỏi mà tại vận hạn nhà Lê đã hết.

Rõ ràng, với quan điểm viết sử nh vậy thì quốc sử sẽ mất tác dụng trongviệc giáo dục t tuởng yêu nớc, giáo dục ý thức dân tộc đang cần đợc phục hồi

để đối đầu với kẻ thù xâm lợc phơng Tây đang rình rập trớc ngõ Đó là cha nói

đến việc nhà Nguyễn còn giữ mãi việc học và thi lạc hậu theo Nho giáo Bắcphơng cho nên tinh thần thủ cựu còn ngự trị từ vua đến quan và cả dân nữa

Mà trong thế kỷ XIX bảo thủ là con đờng chết

Hơn nữa, triều đình nhà Nguyễn không đủ vững mạnh vì bị mất lòngdân Trong 100 năm tồn tại, nhà Nguyễn đã chứng kiến hơn 400 cuộc khỡinghĩa nông dân mà nguyên nhân của tình trạng đó là nổi cơ hàn, thống khổcủa nhân dân

Về kinh tế, nhà Nguyễn mặc dù đã thi hành một số chính sách khuyếnkhích nông nghiệp phát triển Tuy nhiên, nhìn chung so với thời đại, nền nôngnghiệp Việt Nam vào thời Nguyễn vẫn còn nằm trong tình trạng hết sức lạchậu, đời sống ngời nông dân hết sức đói khổ do nạn chấp chiếm ruộng đất,thiên tai mất mùa, đói kém, tô thuế nặng nề

Đối với công thơng nghiệp, nhà nớc thi hành những chính sách ngặtnghèo nh “trọng nông ức thơng”, “bế quan toả cảng”, nắm độc quyền buônbán nguyên liệu công nghiệp Hậu quả từ những chính đó của nhà Nguyễn làmột nền công nghiệp trì trệ, một nền thơng nghiệp bế tắc

Về quân sự, nhà Nguyễn rất chú ý xây dựng quân đội Quân đội đợc tổchức một cách khá quy cũ với số lợng đông nhng chỉ đủ sức đàn áp các phongtrào nông dân khởi nghĩa còn đối với thực dân Pháp thì tỏ ra kém cỏi do chiếnlợc, chiến thuật vô cùng lạc hậu

Về ngoại giao, nhà Nguyễn chỉ giữ mối quan hệ với triều đình MãnThanh - Trung Quốc, còn đối với các nớc đế quốc thì thi hành chính sách bếquan toả cảng Ngoài ra đối với các nớc láng giềng nhỏ yếu, lẽ ra phải đoànkết hợp tác để chống lại kẻ thù chung là thực dân phơng Tây thì nhà Nguyễnlại gây chiến tranh xâm lợc Từ năm 1827 đến 1847, tiến hành chiến tranh liênmiên với Campuchia, rồi mâu thuẫn gay gắt với xiêm, chiếm đất gây chiến vớiLào Hậu quả là nguồn tài lực quốc gia ngày càng cạn kiệt, hơn nữa còn phá

Trang 28

vỡ khối đoàn kết giữa các dân tộc tạo điều kiện cho kẻ thù phơng Tây xâm ợc.

l-Về mặt xã hội, để giải quyết những mâu thuẫn đang ngày càng gay gắtgiữa nông dân và triều đình Nhà Nguyễn đã không tìm ra biện pháp hữu hiệu

mà dùng quân đội khá đông và mạnh để dìm các cuộc khỡi nghĩa trong biểnmáu Rốt cuộc, càng làm cho lòng ngời càng thêm oán hận, sức đề kháng củadân tộc trớc kẻ thù xâm lợc ngày càng giảm sút[ 15; 46]

Về lĩnh vực giáo dục, phải thừa nhận rằng nhà Nguyễn đã có sự chútrọng trong việc phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nớc Tuy nhiên,chơng trình và nội dung vẫn một mực đề cao Nho giáo, trong khi hệ t tởng này

đã trở nên lỗi thời trớc những vấn đề của thời đại

Tóm lại, đối với những nguy cơ của dân tộc, nhà Nguyễn đã có những

cố gắng nhất định thông qua việc thực hiện những chính sách về kinh tế, chínhtrị, xã hội nhằm củng cố và phát triển đất nớc Tuy nhiên, những chính sách

đó chẳng những không giải quyết đợc yêu cầu của đất nớc đặt ra mà thậm chícòn làm cho đất nớc rơi vào tình trạng suy yếu, khủng hoảng trầm trọng hơn.Nớc Việt Nam phong kiến thực sự đang đối mặt với nguy cơ xâm lợc của thựcdân Pháp

1.2.2.Sự xâm lợc của t bản Pháp và chính sách đối phó của triều Nguyễn.

Ngay từ thế kỷ XVII, XVIII, để phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế tbản chủ nghĩa, t bản Pháp đã nhòm ngó và âm mu xâm lợc Việt Nam Mở đầu

là hoạt động của các giáo sĩ, rồi đến các thơng gia Pháp Và đến thế kỷ XIX là

sự xuất hiện của quân đội cùng các phơng tiện chiến tranh Thật vậy, Năm

1858 liên quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận bắn đại bác vào cảng Đà Nẵng,chính thức thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lợc nớc ta

Thực tế, khi thực dân Pháp tiến hành xâm lợc nớc ta, triều đình cũng đã

có những cố gắng trong việc tổ chức cho nhân dân chống Pháp nhng vấn đề là

họ đã không tìm ra biện pháp hữu hiệu để bảo vệ độc lập dân tộc Chẳng hạnkhi địch tấn công Đà Nẵng, triều đình không tổ chức tấn công mà chỉ lo baovây địch ở ngoài mé biển Khi địch sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, chúng rút vàoGia Định chỉ để lại một lực lợng mỏng ở Đà Nẵng Vậy mà, triều đình vẫn ánbinh bất động, có đánh cũng chỉ đánh nhỏ lẻ Hơn nữa, triều đình lại có t tởngvô cùng thiển cận và mù quáng: Pháp ở xa Việt Nam quá, nên không đánh nớc

Trang 29

ta để làm gì, mà chỉ cần đòi bồi thờng chiến phí, vậy ta nên hoà hoãn hơn làchiến tranh với họ mà sức ta không chống nổi Chính vì với cách đó cho nêntriều đình đã tỏ ra lúng túng, không quyết tâm đánh giặc Và vì không quyếttâm đánh giặc nên cũng không tìm ra biện pháp hữu hiệu để chống lại kẻ thù.

Và nữa, lẽ ra cần phải đoàn kết với nông dân để hội tụ sức mạnh dân tộcchống Pháp thì nhà Nguyễn lại làm điều ngợc lại, tập trung lực lợng để đàn áp

đẩm máu các phong trào nông dân khỡi nghĩa Do sự hạn chế về tầm nhìn và

sự không quyết tâm trong việc đánh giặc nên nhà Nguyễn đã bỏ mất những cơhội trong việc đánh đuổi kẻ thù và bảo vệ nền độc lập dân tộc

Đó là thời điểm từ năm 1859 đến 1860, Pháp gặp khó khăn ở chiến ờng Việt Nam Đánh Đà Nẵng thất bại, chiếm Gia Định cũng không xong,trong lúc ở châu Âu chiến tranh Pháp - áo nổ ra dữ dội, lại gặp tổn thất ởchiến trờng Trung Quốc, việc tiếp viện cho chiến tờng Việt Nam vô cùng khókhăn Và sang năm 1862, Pháp lại bị vớng vào cuộc chiến tranh Mêhicô haongời tốn của nhng đã không đàn áp nổi và cuối cùng phải rút khỏi Mêhicô.Vậy mà, triều đình vẫn cứ chủ hoà, để rồi ký hiệp ớc 1862 với Pháp

tr-Triều đình càng tỏ ra nhu nhợc, thực dân Pháp càng lấn tới Sau khichiếm đợc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ không mấy khó khăn, chúng tiếp tụcchiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ mà không tốn một ngời lính, một viên

đạn Năm 1870, khi cuộc chiến tranh Pháp - Phổ bùng nổ, Pháp đaị bại, 40vạn quân Pháp bị Đức bắt làm tù binh, 149.000 quân tử trận, Pháp phải bồi th-ờng chiến phi hết sức nặng nề, lại phải chịu 650 ngàn quân Đức chiếm đóng

27 tỉnh Nớc Pháp suy sụp, dân Pháp sa sút tinh thần, nhân dân lao động kinhthành Pari nổi lên khỡi nghĩa vũ trang Quân Pháp ở Nam Kỳ chờ ngày bị triều

đình Huế tiêu diệt hoặc đợc chính quyền Pari rút về Pháp Vậy mà triều đình

Tự Đức không những không tiến công quân Pháp đang chờ chết hay đầu hàng,

mà lại cử một phái đoàn chính thức vào Sài Gòn trớc là để chia buồn việc Phápbại trận, sau là để dò hỏi xem ngày tháng năm nào Pháp trả lại 6 tỉnh cho triều

đình Huế và tất nhiên là chẳng bao giờ cả Nhng triều đình vẫn cứ chờ, chờ

đến khi Pháp vững chân ở Nam Kỳ để tiến đánh ra Bắc và lấy cả nớc ViệtNam làm thuộc địa Quả vậy, đến cuối năm 1873 quân Pháp đã chiếm gọn 4tỉnh Hà Nội, Hải Dơng, Ninh Bình và Nam Định chỉ trong hai tuần lễ Trong

điều kiện đó, quân Pháp đã vấp phải sự chống trả quyết liệt và sự vây hảm củaquân dân Hà Nội cùng quân dân các tỉnh Trận cầu Giấy diễn ra, Gácniê bịgiết tại chiến trờng, quân Pháp rơi vào tình cảnh hoảng loạn Tại các tỉnh

Trang 30

khác, quân Pháp đều bị quân ta vây hảm Trong tình thế đó, cuộc thơngthuyết sẽ diễn ra vô cùng thụân lợi đối với triều đình Ai ngờ, vua Tự Đức lạihạ lệnh cho nhân dân ngừng chiến để ký hiệp ớc 1874 với Pháp.

Và cứ theo cái đà đó, đến năm 1884 khi nhà Nguyễn ký hiệp ớc cuốicùng với Pháp ( hiệp ớc Ptơnốt) Việt Nam đã hoàn toàn trở thành một nớcthuộc địa [ 15; 49]

Trang 31

CHơNG 2 Trần đình phong con ng ời và sự nghiệp 2.1 Vài nét về tiểu sử.

Trần Đình Phong tự là Hơng Thúc, sau đổi là Uý Khanh, hiệu là Mã Sơntiên sinh, sinh năm Quý Mão, Thiệu Trị năm thứ 4 (1843) tại làng Yên Mã, XãThanh Khê, tổng Quỳ Trạch Nay là xã Mã Thành - Yên Thành - Nghệ An

Song thân của Trần Đình Phong là cụ Trần Đình Kiều và bà NguyễnThị Bình, cũng là ngời làng Yên Mã Trần Đình Phong là con thứ ba trong mộtgia đình có bốn ngời con trai là: Trần Đình Tùng, Trần Đình Huề, Trần ĐìnhPhong, Trần Đình Trấp Tất cả đều là những nhà Nho có tiếng và phát huy đợctruyền thống của dòng họ

Cũng thông minh và hiếu học nh mấy ngời con trai trong nhà, nhngTrần Đình Phong từ sớm đã nổi lên với một đức tính khiêm nhờng và giàulòng thơng ngời Điều này nếu không có các môn sinh của ông nói lại và nhândân không lu lại thì chúng ta thật khó lòng mà biết đợc Đây chính là mộttrong những đặc điểm nổi bật chi phối rất lớn đến nhân cách của Trần ĐìnhPhong trong suốt cuộc đời và sự nghiệp

Từ thuở nhỏ, Trần Đình Phong có tên thờng gọi là Bằng (lúc đi học gọi

là Nho Bằng) từng đợc thầy giáo Bùi Huy Chân rèn cặp, dạy dỗ Theo sách

“Thanh Khê Xã Chí” của Trần Đình Phong và Gia phả họ Bùi ghi lại: ThầyChân là một nhà Nho rất mực đức độ [27; 4] Ông đợc xem là một nhà giáo

đáng kính, đầy uy tín của nhiều lớp học trò thành danh ở vùng đất Yên Mã,trong đó có Trần Đình Phong

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình, dòng họ có truyền thống yêu nớc,hiếu học, cậu Nho Bằng từ sớm đã thể hiện rõ một khí chất thông minh hơnngời Nho Bằng rất đợc thầy giáo yêu mến bởi đạo đức, tính tình và trí thôngminh, điều này đợc thể hiện phần nào trong tài nghệ đối đáp và sự lịch thiệptrong cách ứng xử của ông

Bớc vào tuổi trởng thành, cũng nh bao sĩ tử luôn coi việc thi cử, đổ đạt

là phơng cách đúng đắn cho sự tiến thân trên con đờng lập nghiệp Bởi vậy,Trần Đình Phong càng quyết tâm theo đuổi con đờng khoa bảng Năm MậuThìn Tự Đức thứ 21 (1868) và Tự Đức thứ 23 (1870) Triều đình tổ chức kỳ thihơng ở Nghệ Tĩnh Trần Đình Phong đã dự thi và ông đều đỗ tú tài Khoa thi

Trang 32

năm Bính Tý (1876) ông đổ cử nhân Năm Kỹ Mão (1879) khi triều đình tổchức kỳ thi Hội, Trần Đình Phong cũng đã dự thi và lần này ông đỗ Đệ tamgiáp đồng tiến sĩ xuất thân (gọi tắt là tiến sĩ).

Từ năm 1879 đến năm 1885, Trần Đình Phong đợc triều đình Huế bổlàm tri phủ Kiến An, kiêm lý cả huyện Bình Giang Trong những năm từ 1885

đến 1891, vì mẹ mất, ông đã từ quan về quê chịu tang mẹ rồi định ở lại luôntại quê nhà Đây cũng chính là quãng thời gian mà Trần Đình Phong đã cónhiều đóng góp hết sức có ý nghĩa đối với quê hơng

Từ năm 1891, nhận đợc chỉ dụ của triều đình Huế, Trần Đình Phong

đảm nhận chức tri phủ Thọ Xuân - Thanh Hoá Năm 1897 vua Thành Tháiphong cho ông làm Thị giảng học sĩ làm quan giam khảo ở trờng thi ThừaThiên Rồi làm quan duyệt quyển khoa thi Hội năm Mậu Tuất 1898, sau đólàm Đốc học Quảng Nam Khoa thi năm Canh Tý (1900) ông đợc cử làm phóchủ khảo trờng thi Thanh Hoá Năm 1905 ông đợc thăng chức Tế tửu Quốc tửgiám và phong tớc Hồng lô tự khanh Năm 1908 Trần Đình Phong đợc phonglàm Biên tu sử quán Nhng cha đợc bao lâu, tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909),

ông lâm bệnh nặng rồi mất ở kinh đô Huế, thọ 67 tuổi Triều đình đã truy tặng

ông chức Lễ bộ thị lang, đồng thời tổ chức đa thi hài ông về an táng tại quênhà

Trong suốt cuộc đời của mình, Trần Đình Phong luôn tỏ ra là một nhâncách lớn, một trí tuệ uyên bác Ông chính là ngời có nhiều công hiến cho sựnghiệp giáo dục của đất nớc trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Quê hơng Mã Thành - Yên Thành, xứ Nghệ đã có công nuôi dỡng, hình thànhnhng phẩm chất cao đẹp của Trần Đình Phong Và cũng chính ông đã làmrạng rỡ cho mảnh đất quê hơng Nhân dân xứ Nghệ vẫn quen gọi ông là cụNghè Yên Mã

Tôn vinh sự đóng góp của ông đối với quê hơng, đất nớc, ngày nay, nhàthờ và mộ Trần Đình Phong đã đợc xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá cấp quốcgia Cũng tại quê hơng Yên Thành, để vinh danh ông, một ngôi trờng phổ thôngkhang trang mang tên ông đã đợc xây dựng, đó là trờng THPT Trần ĐìnhPhong ở xã Thọ Thành - Yên Thành Tại thành phố Vinh hiện nay, cũng có mộtcon đờng rất đẹp khang trang mang tên ông, đờng Trần Đình Phong

2.2 Sự nghiệp danh nhân văn hoá Trần Đình Phong.

Trang 33

2.2.1 Trần Đình Phong – nơi sinh thành danh nhân văn hoá Tấm g ơng sáng về truyền thống hiếu học.

Xứ Nghệ xa nay từng đợc biết đến là mảnh đất có thiên nhiên khắcnghiệt; nắng gắt, gió Lào cháy bỏng, ma bão, lũ lụt, hạn hán thất thờng đã làmcho mùa màng mất trắng Sống ở vùng đất không đợc“tạo vật u đãi”nh thế, từbao đời nay, cuộc sống của ngời dân xứ Nghệ hết sức nghèo khó, tầng lớp nho

sĩ cũng vậy Họ phải thờng lao động vất vả để kiếm sống, ngày làm đêm học Nên thờng lấy sự kiên nhẫn để tạo ra thành quả trong học tập Nhiều học trònghèo phải nuôi dỡng khát vọng của mình dới những ánh trăng, trên lng trâu,

đốt lá cây hoặc bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để đọc sách, dùng mo cau, láchuối thay cho giấy viết Dùng cành cây hoặc dùng ngón tay làm bút để viếtchữ trên cát, trên đất [33;50]

Vất vả, khốn khó và sự khắc nghiệt của thiên nhiên là thế, vậy mà, từrất lâu sự học đã đợc ngời dân xứ Nghệ hết sức coi trọng Bằng chứng là chínhquyền địa phơng tại các thôn, làng xã rất khuyến khích việc học Trong cuốn“Hơng ớc Nghệ An” mà tác giả Ninh Viết Giao su tầm đã cho thấy sự quan tâmrất lớn của làng xã đối với giáo dục khoa cử Hầu nh trong Hơng ớc làng nàocũng dành một phần rất lớn nói về giáo dục khoa cử Trong các Hơng ớc, lệlàng thờng có nhiều điều khoản u ái học trò, trọng vọng khoa cử, tạo điều kiệncho con em học tập Để khuyến khích việc học, làng còn trích ruộng công làmhọc điền để giúp học trò nghèo chăm học, học giỏi Các làng còn có quy chếmiễn su sai, tạp dịch cho học trò Khi học trò may mắn thi đậu sẽ đợc làng xãdành cho biết bao vinh dự, u ái, trọng vọng Việc đỗ đạt vinh quy bái tổ khôngcòn là chuyện riêng của gia đình mà còn là mối quan tâm của làng xã Các

ông tân khoa đỗ đạt đều tổ chức khao làng nhng phí tổn lại do họ hàng, làngxóm giúp Khi đạt đợc danh hiệu ông Nghè, ông Cống luôn đợc dân làngtrọng vọng, ngay cả cái tiếng Nhất trờng, Nhị Trờng, Tam trờng đối với làngxã vẫn là giá trị đảm bảo cho Nho sĩ Khi còn trẻ có những chỗ ngồi danh giátrên chiếu, giữa đình làng, trong các kỳ tế lễ hội họp Những chỗ mà ngay cảnhững ngời lắm ruộng, nhiều tiền, nhiều tuổi mơ ớc mà chẳng đợc Vinh dự chổngồi còn đi đôi phần biếu và nhiều quyền lợi vật chất khác Trong các dịp lễmừng thọ, yến lão các làng xã thờng có phần biếu cho những ngời đỗ đạt [26;55]

Trong hoàn cảnh đó, các học trò xứ Nghệ luôn ấp ủ khát vọng vơn lên

Điều này xuất phát từ nhiều lý do nhng trớc hết là để thoát khỏi hiện tại còn

Trang 34

nhiều nghèo khó Trong tiềm thức của họ luôn dấu kín một khát vọng cháybỏng là học hành, đỗ đạt để trở thành những ông Nghè, ông Cống vinh quy bái

tổ Để thực hiện đợc khát vọng đó, con đờng tốt nhất đó là học Chính vì điềunày, đã hun đúc nên ở con ngời xứ Nghệ những nét tính cách rất đặc trng, đó

là sự kiên nhẫn, cần cù, chăm chỉ trong học tập

Cũng vậy, ở xứ Nghệ dù vất vả, nghèo khó đến đâu song đã là cha là

mẹ, ai cũng muốn cho con mình học dăm ba chữ Câu châm ngôn mà họ ờng tâm niệm đó là: Để cho con đầy rơng vàng, sao bằng dạy con một quyểnsách nuôi con mà biết đọc sách bởi trong sách có vàng ngọc Do đó cha mẹcho con học hết thầy nọ qua thầy kia, qua các sách không chỉ để con biết chữnghĩa, biết sống có đạo lý mà còn mong đỗ đạt, hành đạo, làm rạng rỡ chocha ông, vẻ vang cho làng xã [9;193] Đây chính là ngọn nguồn sản sinh rabiết bao hiền tài, những nhà khoa bảng danh tiếng cho xứ Nghệ

th-Từ truyền thống vẻ vang của sự học quê hơng, sử sách còn lu danh biếtbao tấm gơng sáng loà về tinh thần hiếu học và khổ học, về nghĩa khí ở đờinh: Hồ Sĩ Dơng, Nguyễn Văn Giai, Văn Đức Khuê, Ngô Trí Hoà, Phan ThúcTrực, Nguyễn Xuân Ôn, Hoàng Phan Thái, Phan Bội Châu [9;192]

Từ mảnh đất xứ Nghệ, ngời dân Yên Thành cũng rất tự hào về truyềnthống hiếu học và khoa bảng của quê hơng Mảnh đất đã sản sinh ra không ítnhững nhà khoa bảng xuất sắc, danh tiếng Trong số những ngời con u tú củaquê hơng, Trần Đình Phong nổi lên là một điểm sáng trong vờn khoa bảngYên Thành thời Nguyễn

Trần Đình Phong sinh ra và lớn lên trong một gia đình, dòng họ cótruyền thống yêu nớc, hiếu học Từ lâu, khắp trong họ việc học hành của con

em rất đợc coi trọng và khuyến khích Ngời học giỏi giang, đỗ đạt bao giờcũng đợc anh em, làng xóm trọng vọng, kính nể Từ nhỏ, Trần Đình Phong đãrất thấm đợm điều tâm nguyện của cha ông: nhà ta cha có ngời thi cử, đỗ

đạt mong muốn có ngời thi cử đổ đạt đó là tâm nguyện của ta, của cải ta cóham gì [23;36] Đó cũng chính là động lực để Trần Đình Phong cũng nh con

em trong dòng tộc nổ lực vơn lên trong học hành, chinh phục đỉnh cao khoabảng

Với tên gọi là Nho Bằng, từ nhỏ Trần Đình Phong đã tỏ ra là một cậu bé

có trí óc sáng sủa, thông minh, từng đợc ví là thần đồng đất học [26; 50] ở

Trang 35

làng Yên Mã có lời truyền ngôn rằng: Khi bà Nguyễn Thị Bình vừa mang thaiTrần Đình Phong thì trên động con Nghé phía sau nhà cứ đêm đêm nổi lênmột làn gió trong đó có những âm thanh nghe nh tiếng nhạc, đôi lúc lại văngvẳng nh tiếng trẻ học bài Dân làng đã xôn xao vì hiện tợng ấy Khi bà Bình đãmãn nguyệt khai hoa thì luồng gió kia cũng ngừng thổi Dân gian đồn rằng,ngời con trai mà bà Bình mới sinh kia là “Gió” của trời giáng xuống nên mới

đặt tên là Phong Cũng vì thế mà sau này nhân dân đã đề tấm biển “Nhạcgiáng thần” để cúng ông trong nhà thờ [19;238]

Nhờ sự thông minh, sáng dạ lại rất chăm chỉ học hành Từ nhỏ, lúc còn

đi học Trần Đình Phong rất đợc thầy giáo quý mến và bạn đồng môn hết sứcngỡng mộ Càng chăm chỉ học, Nho Bằng càng tiến bộ trông thấy Điều nàylàm cho thầy giáo của cậu hết sức hài lòng Ngời có công khai trí, kèm cặp,dạy giỗ cho Nho Bằng là thầy giáo Bùi Huy Chân Đó là một thầy giáo vừa

đức độ, thông minh và tài hoa Nhờ sự góp sức dìu dắt của thầy, tài năng vàdanh tiếng của Trần Đình Phong ngày càng đợc nhiều ngời biết đến Chuyện

kể lại rằng: một lần có một ngời từ xa, nghe tiếng thầy Bùi Huy Chân bènmang trầu rợu đến để xin thầy bài chúc thọ bố Thầy giao việc đó cho nhoNho Bằng và hẹn sẽ sữa lại sau Nhng khi bài văn đợc viết xong, thầy Bùi xemlại và rất ngạc nhiên về tài văn chơng của cậu và quyết định cứ để nguyên nhthế, không sữa chữ nào

Có thể nói, học hành đỗ đạt là mong muốn của bất cứ học trò nào Bởivậy, sau bao nhiêu ngày tháng miệt mài đèn sách chờ ngày đi thi Bớc vào tuổitrởng thành cũng nh bao sĩ tử xứ Nghệ, Trần Đình phong cũng lều chỏng,khăn gói lên đờng đi thi để thực hiện khát vọng của mình

Một sự kiện quan trọng đánh dấu bớc tiến lớn qúa trình chinh phục sựnghiệp khoa bảng của Trần Đình Phong, đó là năm Mậu Thìn Tự Đức thứ21(1868) Khi triều đình tổ chức kì thi hơng ở Nghệ Tĩnh, Trần Đình Phong đã

dự thi song ở lần thi ấy ông chỉ đỗ đến tú tài Hai năm sau, tức là năm Tự Đứcthứ 23 (1870) tại trờng thi Nghệ Tĩnh, triều đình lại tổ chức kì thi Hơng Năm

đó, Trần Đình Phong cũng tham dự nhng dờng nh niềm vui vẫn cha thực sựmỉm cời đối với ông Lần này, Trần Đình Phong vẫn chỉ đỗ đến tú tài Viễncảnh đó, đã phần nào báo trớc con đờng khoa bảng của ông sẽ diễn ra không

Trang 36

mấy thuận lợi Thế nhng, đối với xóm làng, thành tích học tập của thầy TúKép lúc bấy giờ đã trở thành niềm khâm phục và quý trọng.

Không nản chí, không phụ lòng sự tin yêu của anh em xóm làng Vìtruyền thống của gia đình và cũng tự hiểu sức học của chính mình Thầy TúKép tiếp tục quyết tâm ngày đêm đèn sách, dùi mài kinh sử chờ ngày thi tiếpvì đỗ đạt là khát vọng của bất cứ học trò nào Năm Bính tý (1876), khi triều

đình tổ chức kỳ thi hơng, ông vẫn tiếp tục dự thi Và kết quả đã không phụlòng những cố gắng không biết mệt mỏi của ông Năm đó Trần Đình Phong đã

đỗ cử nhân Từ đây con đờng khoa bảng mới thực sự dọn lối vinh quang cho

ông

Tự biết đợc sức học của bản thân và cũng để thực hiện đợc khát vọngvinh danh tên tuổi trong bảng vàng khoa cử Cha bằng lòng với những thànhtích học tập mà mình đạt đợc Trần Đình Phong lại tiếp tục học hành chăm chỉchờ ngày thi Hội Năm Tự Đức thứ 32 (1879) khi triều đình mở Ân khoa, Trần

Đình Phong đã dự thi và lần này những cố gắng không biết mệt mỏi của ông

đã đợc đền đáp xứng đáng Khoa thi Hội năm ấy(1879) Trần Đình Phong đã

đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (gọi tắt là tiến sĩ), trở thành nhà khoabảng hàng đầu thời Nguyễn Tin vui Trần Đình Phong đỗ vào bậc đại khoa đãlàm cho cả gia đình, dòng họ và các làng trong cả huyện, trong vùng hết sứcvui mừng, tự hào ở mảnh đất quê hơng, tin vui Trần Đình Phong đỗ tiến sĩthực sự là một sự kiện lớn Ngời ta nể phục ông không chỉ vì tài năng mà còn

ở nghị lực, ý chí vơn lên để khẳng định danh tiếng và thực hiện đợc ớc mơ,hoài bão của mình Ông chính là tấm gơng sáng cho truyền thống hiếu họccủa quê hơng

Từ khi trở thành một nhà đại khoa hàng đầu, con đờng công danh sựnghiệp bắt đầu mở ra trớc mắt ông Trần Đình Phong bắt đầu đảm nhậnnhiều chức vụ quan trọng do triều đình giao phó Thế nhng, dù ở đâu, trên c-

ơng vị nào, Trần Đình Phong cũng tỏ ra là một ngời tận tâm và có những

đóng góp xuất sắc

Có thể nói, trên cơng vị nào: một vị quan đức hạnh, một bậc đại khoauyên thâm, một nhà giáo dục tài năng, một nhà s phạm lỗi lạc, một sĩ phu yêunớc tiến bộ, Trần Đình phong đều tỏ ra là một nhân cách lớn

Trang 37

2.2.2 Trần Đình Phong - Vị quan thanh liêm, vì dân vì nớc

Từ bao đời nay, con ngời xứ Nghệ đã hun đúc đợc nhiều phẩm chấtrất đáng quý Trên khắp mọi miền quê của đất nớc, dù ở đâu, làm gì họ cũngluôn giữ đựơc cốt cách ấy Các nhà nho xứ Nghệ xa nay rất trọng đạo, trọngkhí tiết và thể hiện điều đó rất rõ khi phải đơng đầu với những tệ nạn tiêu cực,bất công của xã hội, với vận mệnh lâm nguy của đất nớc Cũng thế, các nhànho khi mở trờng dạy học, nhận học trò thì không kể giàu sang, nghèo hèn màcoi trọng việc giữ lễ nghĩa với thầy Và rồi khi đỗ đạt, làm quan thì cũng rấtliêm khiết, thẳng thắn, chính trực trong xử lý công việc Biết bảo vệ lợi ích chonhân dân và xã thân vì đất nớc Đã có rất nhiều những tấm gơng nh vậy trongtầng lớp sĩ phu xứ Nghệ

Nguyễn Thiên Chơng, ngời ở Trung Cần, Nam Đàn, đậu tiến sĩ năm

1469 làm quan Hữu thị lang, vì dâng lời can dán vua mà vua không nghe nên

ông xin về quê, tử sĩ lúc 33 tuổi

Ngô Trí Hòa, ngời Diễn Kỷ, Diễn Châu, đậu Hoàng Giáp năm 1592,làm quan đến Thợng th, kiêm Tế tửu Quốc tử giám, năm 1618 dâng lên vua

Lê - chúa Trịnh điều trần 6 việc

1 Xin sữa đức chính, để cầu mệnh giúp

2 Xin đè nén kẻ quyền hào, để nuôi sức dân

3 Xin cấm phú dịch phiền hà, để đời sống của dân đỡ vất vả

4 Xin bớt xa xỉ, để của dân đợc thừa thải

5 Xin dẹp trộm cớp, để dân đợc yên

6 Xin sửa sang quân chính, để bảo vệ tính mạng cho dân

Ông Tây Khê - Trần Năng Tĩnh ở Thịnh Trờng, Nghi Lộc, làm quan

đến tri phủ, có học trò làm quan đến đại thần Khoa thi Hơng năm 1885, họctrò làm chánh chủ khảo, muốn giúp cho con của thầy thi đậu, ông liền củatrách rằng: “văn bài cốt để cân nhắc ngời tài sức, không ai đợc dụng ý riêng t”.Sau đó, 2 con của ông đã thi hỏng, học trò đến than phiền việc này với thầy,

ông nói rằng “thằng nhỏ có tài năng, nếu không có ông thì nó cũng cứ nên, cònnếu không có tài năng, ông giúp cho nó đợc đỗ thì sung sớng cái nổi gì ? ’’.Sau đó, ông làm bài thơ “Dạy con trồng cây” rất tâm đắc, độc đáo

Trang 38

Nguyễn Xuân Ôn, ngời huyện Diễn Châu, đậu tiến sĩ năm Tự Đức24(1871), khi đợc vua ban cho lựa một bông hoa mà mình a thích ở vờn ThợngUyển, ông đã chọn một búp hoa chuối” Có vị đồng khoa thắc mắc, ông đã

điềm nhiên đáp lại: “chẳng là thứ hoa ấy mang một mồi đạn súng thần công”.Khoa thi tiến sĩ năm Tân Mùi ( 1871), khi giặc Pháp đẩy mạnh xâm lợc nớc ta,

ông đã từ quan về quê dựng cờ khỡi nghĩa, hởng ứng phong trào Cần Vơngchống Pháp

Hồ Tông Thốc, hiệu là Động Đình, ngời thôn Tam Thọ, tổng Quỳ Trạch(Thọ Thành), 19 tuổi đậu trạng nguyên thời Trần, đợc xếp vào hàng đầu danhnhân văn học và sử học nớc ta Bản tính ông rất khiêm nhờng, không lấy vănchơng làm nổi tiếng cho mình, mặc dù có thể làm xong một mạch một trămbài thơ hay [33; 51]

Từ truyền thống đó của quê hơng - xứ nghệ, ở đất học Mã Thành - YênThành, từ xa đến nay đã có không ít những ngời con học hành thành danh đổ

đạt Những ông Nghè, ông Cống đều xuất thân từ nông dân, lớn lên bằng hạtgạo củ khoai của Yên Mã, Thành Đà nên khi đỗ đạt dù về quê dạy học hoặc ralàm quan đều rất thơng dân, yêu làng yêu nớc Họ là lớp trí thức sống có tiếttháo, nhân nghĩa [36; 44] Nổi lên trong lớp Nho sĩ ấy, Trần Đình Phong đợcbiết đến là một vị quan rất mực thanh liêm, chính trực, hết lòng vì dân vì nớc

Sinh thời, Trần Đình Phong luôn khuyên con cháu làm những điều lành,sống đừng chỉ vì danh lợi mà quyên đi tình nghĩa, đạo làm ngời Cần phải nổlực trong lao động để giúp dân, giúp nớc, ông đã nêu gơng về điều đó trongsuốt đời mình

Trần Đình Phong bớc vào con đờng công danh sự nghiệp trong một bốicảnh đất nớc không mấy thuận lợi Đó là lúc thực dân Pháp đã xâm lợc nớc ta

và chính phủ Nam Triều đang trên đà khủng hoảng suy vong Ông từng cómột câu nói rất nổi tiếng thể hiện rỏ trách nhiệm, khí tiết của một nhà nho đốivới đất nớc: “ Làm quan mà chẳng giúp ích đợc gì cho dân thì ở nhà làm nghềdạy học còn hơn” [19; 227] Với câu nói đó, đủ thấy ông đáng đợc ngời đời

đánh giá là một vị quan đức hạnh, ngời luôn chọn cho mình một lối sốngthanh cao, không ham đến địa vị, phú quý T tởng hành động đó của ông xuấtphát từ chỗ ông luôn nghĩ đến lợi ích của nhân dân và vận mệnh của đất nớc

Trang 39

Năm Kỷ mão Tự Đức thứ 32 (1879), Trần Đình Phong đỗ Đệ tam giáp

đồng tiến sĩ xuất thân Việc Trần Đình Phong đỗ tiến sĩ là một sự kiện lớn làmcho nhân dân trong vùng hết sức vui mừng Theo quy định của triều đình, tổngQuỳ Trạch sẽ tổ chức rớc ông Nghè Yên Mã vinh quy Trong hàng ngàn ngờinờm nợp cờ trống, ông Nghè Yên Mã không đi kiệu, ngồi xe mà đi bộ, tròchuyện cùng dân làng Việc đó tuy nhỏ nhng nó cũng minh chứng cho một lốisống hết sức giản dị, hoà đồng, gần gũi với nhân dân nơi ông Đó cũng là mộttrong những lí do giải thích tại sao tên tuổi ông vẫn sống mãi trong ký ức củanhân dân

ở làng quê Yên Mã, Trần Đình Phong còn đợc biết đến là một con ngờirất trọng lễ nghĩa Chuyện kể rằng khi dân làng và tổng rớc ông vinh quy.Bổng thấy thầy giáo của mình là Bùi Huy Chân còn đi ở phía sau, đằng xa

Ông Nghè liền đứng lại, đợi lúc thầy của mình đi tới nơi, học trò nhờng bớc đểthầy học đi lên phía trớc rồi mình mới tiếp theo sau [19; 225]

Khi đã trở thành một vị quan triều đình, cơ hội về địa vị và tớc lộc đã

mở ra trớc mắt nhng điều đó vẫn không làm mất đi ở ông khát vọng về mộtcuộc sống bình dị Năm ất Dậu (1885) vì mẹ mất, Trần Đình Phong xin vềquê chịu tang mẹ Bởi bản tính không ham công danh nên, Trần Đình Phong

định ở luôn tại quê nhà để đợc làm những công việc yêu thích Vốn là ngời rấttâm huyết với việc học của quê hơng, trong thời gian ở quê, ông đã cho mở tr-ờng, mở lớp dạy học để mở mang dân trí cho con em địa phơng Rất nhiềuthanh niên hai làng Yên Mã, Quỳ Lăng nhờ đợc tiếp thu những t tởng tiến bộcủa ông trong quá trình dạy học, sau này đã trở thành ngời tham gia tích cựctrong phong trào Cần vơng chống pháp do thủ lỉnh Nguyễn Xuân Ôn lảnh

đạo Mặt khác, ông vừa chăm lo xây dựng những công trình phúc lợi thiết thựccho dân nh hiến đất dời chợ An, lập đình chợ, đào giếng, sửa đình làng, làm

Trang 40

văn thánh của tổng Quỳ Trạch Đặc biệt, ông đã cho biên soạn hai tập sách “Quỳ Trạch Đăng Khoa Lục” và “ Thanh Khê Xã Chí”.

Đối với dân tộc, Trần Đình Phong đợc đánh giá là một trí thức yêu nớctiến bộ Điều đó đợc phản ánh sinh động trên nhiều chặng đờng đất nớc mà

ông đã đi qua, đặc biệt là ngay tại chính mảnh đất ông đã từng cất tiếng khócchào đời Từ thực tiễn cuộc sống của mình, ông đã chứng minh rằng: yêu nớckhông chỉ là hành động biết cầm gơm giết giặc chống lại kẻ thù xâm lợc màcòn phải biết dùng tài trí, sức lực của mình để làm lợi cho dân, cho nớc

Thực vậy, khi thực dân Pháp đã hoàn thành quá trình xâm lợc nớc ta, ởnhiều vùng quê của đất nớc Phong trào Cần Vơng đã dấy lên khắp nơi ở bênkia tổng Quỳ Trạch, quê hơng tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn Cụ Nghè Cồn Sắt đãdựng cờ khởi nghĩa kêu gọi nhân dân đứng lên giết giặc bảo vệ quê hơng.Trong điều kiện lịch sử đó, Trần Đình Phong với Nguyễn Xuân Ôn là bậc đạikhoa và là những ngời cùng nghĩa khí Vì vậy, Trần Đình Phong đã ủng hộngay việc làm yêu nớc của ông Nghè Cồn Sắt Ông đã một mặt động viên concháu và nhân dân trong vùng tham gia khỡi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn Mặtkhác, trực tiếp vận động nhân dân quyên góp lơng thực, vũ khí ủng hộ nghĩaquân Các tớng lĩnh của nghĩa quân cũng thờng lui tới làng Yên Mã để trao

đổi với Trần Đình Phong về phép quân cơ, về cách tích trữ lơng thực, quyêngóp vũ khí và kỷ thuật tác chiến Vì vậy, nghĩa quân luôn coi ông nh bạnchiến đấu nơi trận mạc Bản thân Trần Đình Phong đã nhiều lần đến thôn CồnSắt, xã Quần Phơng để trao đổi với Nguyễn Xuân Ôn và đã có nhiều sáng kiếnquan trọng Khi cuộc kháng chiến bớc vào giai đoạn gay cấn nhất, nghĩa quân

đã coi Thanh Khê là một trong những chổ dựa quan trọng Trong điều kiện đó,mặc dù không trực tiếp chống giặc nhng bằng ảnh hởng của mình, ông đã vận

động nhân dân, che chở nuôi nấng và giúp nghĩa quân vũ khí Trong nhữngcuộc giao chiến kịch liệt giữa nghĩa quân Cồn Sắt với thực dân Pháp đều có sựhậu thuẫn đắc lực của nhân Quỳ Trạch mà Trần Đình Phong là ngời đi đầutrong việc động viên, đốc thúc Có thể nói, Trần Đình Phong là một trợ thủ

đắc lực của Nguyễn Xuân Ôn trong cuộc khỡi nghĩa [227;19] Sáu năm ở quênhà, đây là quãng thời gian không lớn so với một đời ngời song thật ý nghĩa vìnhững việc ông đã làm cho dân, cho nớc

Ngày đăng: 18/12/2013, 12:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w