Một trong những hướng đó là sử dụng chế phẩm sinh học từ nấm ký sinh côntrùng; đã và đang được một số nước quan tâm nghiên cứu nhằm phòng trừ các loàicôn trùng gây hại.. Vì vậy, sử dụng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
-@&? -BÁO CÁO TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH NÔNG HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG NẤM BEAUVERIA
AMORPHA (HOHNEL) SAMSON & H C EVANS, PAECILOMYCES SP1 PHÒNG TRỪ SÂU XANH BƯỚM
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
3.3 Nội dung nghiên cứu 4
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Chương 1 5
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Lược sử nghiên cứu ứng dụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sâu hại cây trồng 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Một số nghiên cứu về sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) 10
1.3 Đặc điểm của vườn quốc gia Pù Mát 11
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 12
1.3.2 Tài nguyên rừng 13
Chương 2 15
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 15
2.1.1 Cơ sở khoa học 15
2.1.1.1 Nấm ký sinh côn trùng (IPF) 15
2.1.1.2 Sự xâm nhiễm và phát triển của nấm trong cơ thể sâu hại 16
2.1.1.3 Triệu chứng bên ngoài của sâu hại bị nhiễm bệnh nấm côn trùng .18
2.1.1.4 Phòng trừ sinh học - biện pháp sinh học 20
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 21
Trang 32.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
Trang 42.3 Vật liệu nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Điều tra và thu thập mẫu nấm ký sinh côn trùng 23
2.4.2 Phân lập, nhân giống và tạo sinh khối nấm ký sinh côn trùng trên môi trường PDA 24
2.4.3 Thử nghiệm sử dụng nấm Beauveria amorpha (Hohnel) và Paecilomyces sp1 phòng trừ sâu xanh bướm trắng 26
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 27
2.4.5 Hoá chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 27
Chương 3 29
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Nguồn lợi nấm ký sinh côn trùng ở Vườn Quốc gia Pù Mát 29
3.2 Đặc điểm hình thái của Beauveria amorpha (Hohnel) và Paecilomyces sp1. 33
3.2.1 Nấm Beauveria amorpha (Hohnel) 33
3.2.2 Nấm Paecilomyces sp1 36
3.3 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) của dịch nấm Beauveria amorpha trong điều kiện phòng thí nghiệm 38
3.3.1 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng của dịch nấm Beauveria amorpha ở nồng độ 105 bào tử/ml 38
3.3.2 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng của dịch nấm Beauveria amorpha ở nồng độ 107 bào tử/ml 39
3.3.3 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng của dịch nấm Beauveria amorpha ở nồng độ 109 bào tử/ml 40
3.4 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) của dịch nấm Paecilomyces sp1 trong điều kiện phòng thí nghiệm 46
3.4.1 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng của dịch nấm Paecilomyces sp1 ở nồng độ 105 bào tử/ml 46
Trang 53.4.2 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng của dịch nấm Paecilomyces
sp1 ở nồng độ 107 bào tử/ml 48
Trang 63.4.1 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng của dịch nấm Paecilomyces
sp1 ở nồng độ 109 bào tử/ml 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 60
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Rau là cây thực phẩm cần thiết và rất quan trọng trong đời sống hàng ngàycủa nhân dân ta cũng như nhiều nước trên thế giới Rau là nguồn cung cấp nhiềuchất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người: Protêin, axít hữu cơ, vitamin vàcác khoáng chất Ngoài ra, rau còn là nguyên liệu và là mặt hàng xuất khẩu có giátrị Bên cạnh đó rau còn là nguồn thức ăn phục vụ cho chăn nuôi
Hơn 50% tổng sản lượng rau là các loại rau thuộc họ hoa thập tự
(Brassiceae) trong đó: bắp cải, cải xanh, su hào, … là những loài rau phổ biến trong
vụ Đông Xuân Những cây rau họ hoa thập tự trong quá trình trồng thường bị một
số loài sâu gây hại (sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, sâu khoang, rệp, bọ nhảy, …) Đểbảo vệ cây trồng chống lại dịch hại, người dân đã phải áp dụng nhiều biện phápkhác nhau: biện pháp thủ công, biện pháp canh tác, biện pháp vật lý, biện pháp hoáhọc, … Trong đó, biện pháp hoá học lâu nay được coi là biện pháp chủ lực và nó
đã phát huy vai trò tích cực trong thời gian qua Thực hiện biện pháp hoá học chohiệu quả cao, nhanh, đơn giản và dễ sử dụng
Theo Phạm Bình Quyền (1993), bình quân lượng thuốc hóa học sử dụngtrên 1ha gieo trồng từ 0,4 -0,55kg/ha Đặc biệt đối với các vùng chuyên canh rau,thuốc bảo vệ thực vật được dùng nhiều, liên tục gây ra nhiều tác hại đáng lo ngại:phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, gây tính chống thuốc cho cácloài sâu hại, tạo diều kiện cho các loài sâu hại trước đây là thứ yếu nay thành chủyếu (Bei- Biencơ, 1954; Bottrell, 1982; Fadeen, 1979; Sugonnyalv, 1968) Ngoàigây hại trực tiếp cho người, động vật, sinh vật có ích, thuốc còn lưu lại trong nôngsản phẩm, đất, nước
Năm 1992 có tới 4572 trường hợp nhiễm độc thuốc hóa học, dư lượngthuốc sâu được phát hiện trong nông sản thành phẩm là 32,57% tổng số mẫu phântích, trong đó có 7% số mẫu có dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép của FAO,WHO, 1986 (Trần Khắc Thi, 1995) [Dẫn theo Đinh Thị Hiền] [2]
Trang 8Tỉnh Nghệ An có tổng diện tích trồng rau hàng năm là 320ha Trong đódiện tích trồng rau chuyên canh có 85,8ha tập trung ở các xã ngoại thành TPVinh như Hưng Đông, Đông Vĩnh, Vinh Tân, Nghi Kim, … Năng suất bình quâncác loại rau là 248tạ/ha và cơ cấu gồm rau họ hoa thập tự chiếm 90%, các loạirau khác chiếm 10%.
Những năm gần đây do thường xuyên bị một số loài sâu hại chính tấn
công (Pieris rapae, Plutella xylostella, Spodoptera litura, rệp muội Brevicoryne
brassicae) gây hại từ đầu vụ đến cuối vụ đã gây nên những tổn thất nặng nề cho
nghề trồng rau ở đây
Để bảo vệ cây rau và tăng năng suất, hiện nay ở Nghệ An, biện pháp được
sử dụng phổ biến nhất để trừ các loài sâu này là sử dụng thuốc hóa học
Do sâu hại nhiều và khó phòng trừ nên người dân đã dùng những loạithuốc có độ độc cao, có loại không rõ nguồn gốc với số lần phun từ 4 -20 lần/vụrau, khoảng cách giữa các lần phun là 5 - 15 ngày Chính vì vậy đã và đang để lạirất nhiều hậu quả trực tiếp cho người tiêu dùng, vật nuôi, côn trùng có ích cũngnhư môi trường sinh thái
Xu hướng hiện nay trên thế giới trong quản lý sâu bệnh hại cây trồng là quản
lý tổng hợp dịch hại (IPM) và sử dụng biện pháp sinh học; trong đó, hướng thay thếchế phẩm sinh học cho hóa chất bảo vệ thực vật hiện đang được quan tâm nghiêncứu Một trong những hướng đó là sử dụng chế phẩm sinh học từ nấm ký sinh côntrùng; đã và đang được một số nước quan tâm nghiên cứu nhằm phòng trừ các loàicôn trùng gây hại
Như chúng ta đã biết, côn trùng thường bị chết bởi các loại bệnh khác nhau donhiều loại vi sinh vật gây nên như nấm, vi khuẩn, virus, nguyên sinh động vật, tuyếntrùng; bệnh do vi sinh vật có khi gây chết côn trùng chiếm 80 - 90% (Nguyễn VănĐĩnh và ctv, 2007) [17] Vì vậy, sử dụng các loài vi sinh vật gây bệnh cho côn trùng
để quản lý chúng là một biện pháp sinh học lý tưởng đối với côn trùng hại cây trồng.Nấm gây bệnh cho côn trùng là một nhân tố hữu dụng trong hệ thống quản lý sâuhại tổng hợp, nó được xem là một phương thức kiểm soát dich hại [6] Hơn nữa,
Trang 9nấm còn xâm nhập và tiêu diệt được những loài côn trùng chích hút mà những loàicôn trùng này không bị nhiễm bệnh vi khuẩn và virut.
Theo Blanford và Scholte (2005), việc sử dụng nấm ký sinh để diệt côn trùng
là một khuynh hướng hoàn toàn mới [20], [37]
Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu và sử dụng thành công các loài nấm để
phòng trừ nhiều loài sâu hại cây trồng như Metarhizium (M anisopliae, M.
flavoveride), Hirsutella (H lecaniicola, H thompsonii), Verticillium lecanii, Akanthomyces aranearum, Beauveria bassiana, [19] Ở Việt Nam, đã có một số
công trình nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm nấm trong phòng trừ sâu hại như: sử
dụng nấm Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae để phòng trừ rầy nâu hại
lúa từ năm 1991 đến năm 1995 (Phạm Thị Thùy, 1999); phòng trừ châu chấu hại
ngô, mía bằng chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae [7]; cũng như dùng M.
anisopliae để phòng trừ mối nhà [13] [18] [5]; phòng trừ các loài sâu gây hại cho
rau cải (sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, bọ nhảy, …) [9] Hiện tại, trong tự nhiêncòn có rất nhiều các loài nấm ký sinh côn trùng khác có khả năng sử dụng trongphòng trừ các loài côn trùng gây hại vẫn chưa được quan tâm, khảo nghiệm [17] Xuất phát từ những thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu và sử dụng nấm Beauveria amorpha (Hohnel) Samson & H.C Evans, Paecilomyces sp1 phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau thập tự.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với các mục đích sau:
(1) Tìm hiểu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của 2 loài nấm có khả năngkiểm soát sâu hại trên môi trường PDA ( Potato Dextrose Agar)
(2) Thử nghiệm khả năng phòng trừ của 2 loài nấm Beauveria amorpha (Hohnel) Samson & H.C Evans và Paecilomyces sp1 đối với sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.).
Qua đó, có thể coi đây là một trong những dẫn liệu đầu tiên đánh giá vềnguồn lợi nấm ký sinh côn trùng Mặt khác, đề tài nghiên cứu là bước khảo
nghiệm về việc sử dụng hai loài nấm ký sinh côn trùng Beauveria amorpha
Trang 10(Hohnel) Samson & H C Evans và Paecilomyces sp1 trong phòng trừ các loài
sâu hại cây trồng, tạo tiền đề thuận lợi cho những nghiên cứu tiếp theo
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nấm Beauveria amorpha (Hohnel) Samson & H C Evans và Paecilomyces
sp1 được thu thập ở Vườn Quốc gia Pù Mát và trong sinh quần nông nghiệp(Trại thực nghiệm Nông nghiệp Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh)
- Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) hại bắp cải, cải xanh, su hào.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành theo hướng đánh giá khả năng phòng trừ
của 2 loài nấm ký sinh côn trùng có triển vọng: Beauveria amorpha (Hohnel) Samson & H C Evans và Paecilomyces sp1 đối với sâu xanh bướm trắng (Pieris
rapae L.) hại cải xanh, cải bắp, su hào.
3.3 Nội dung nghiên cứu
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu nêu trên, đề tài nghiên cứu với cácnội dung sau:
(1) Đánh giá nguồn lợi nấm ký sinh côn trùng ở Vườn Quốc gia Pù Mát
(2) Đặc điểm hình thái của Beauveria amorpha (Hohnel) Samson & H C Evans và Paecilomyces sp1 ký sinh côn trùng
(3) Thử nghiệm khả năng phòng trừ của Beauveria amorpha (Hohnel) Samson
& H C Evans đối với sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) hại rau thập tự.
(4) Thử nghiệm khả năng phòng trừ của Paecilomyces sp1 đối với sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) hại rau thập tự.
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sơ thu thập và đánh giá khả năng phòng trừ sâu hại của một sốloài IPF có triển vọng, nhằm cung cấp các dẫn liệu làm cơ sở khoa học cho việc
sử dụng chế phẩm sinh học sản xuất từ nấm ký sinh côn trùng để phòng trừ sâuhại trong hệ thống quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lược sử nghiên cứu ứng dụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sâu hại cây trồng
Theo Steinhaus (1956), minh họa đầu tiên về nấm gây bệnh côn trùng đượcReaumur công bố năm 1726 với một loài nấm thuộc giống Cordyceps gây bệnh cho sâu
non họ Noctuidae Torrubia (1749), đã ghi nhận một loài cánh màng (có thể là Polistes)
bị chết do nấm Cordyceps sphecocephala Nhưng Agostino Bassi (người Italia) mới
được coi là “ông tổ” của bệnh lý côn trùng [22]
Các nghiên cứu từ thế kỷ XVIII cho đến nay đã đưa ra nhiều bằng chứngchứng tỏ côn trùng bị nhiều loài nấm gây hại Trên cơ sở nghiên cứu chủ yếu tậptrung vào vai trò đối lập của nấm gây bệnh côn trùng có ý nghĩa kinh tế như nấmhại trên tằm tơ “muscardine” và ong mật (honey bee) (Agostino Bassi, 1895) [30].Agostino Bassi (1773 - 1856) [30] nghiên cứu về bệnh tằm vôi
“muscardine”, đây là bệnh làm thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trong ngành côngnghiệp tơ lụa ở Italia Năm 1835, Bassi đã xác định được nguyên nhân gây bệnh
“muscardine” ở tằm là do nấm bạch cương (Beauveria bassiana) Nấm đã được
nhân lên ở trên và trong cơ thể tằm và bệnh tằm vôi là bệnh truyền nhiễm, dichuyển một cách tự nhiên trực tiếp từ ấu trùng bị bệnh sang ấu trùng khỏe mạnhhoặc cơ thể bị nhiễm qua thức ăn Agostino Bassi đã gợi ý dùng vi sinh vật đểdiệt sâu hại
Trang 12Beauveria bassiana là vi sinh vật đầu tiên được xác nhận như là một tác
nhân gây bệnh ở động vật - côn trùng (tằm dâu) Loài nấm này được đặt tên là
Beauveria bassiana để ghi nhớ người đã phát hiện ra nó Thuật ngữ
“muscardine” được hiểu là nấm ký sinh côn trùng hoặc là một nguyên nhân gâybệnh bởi nấm [30]
Sau công bố của Bassi thì ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu sửdụng nấm trừ côn trùng gây hại Audouin (1837) đã đề xuất, có thể dùng nấmbạch cương gây hại tằm để trừ một số loài côn trùng khác
Những thí nghiệm của Pasteur về nấm bạch cương trên tằm đã mở đườngcho việc nghiên cứu dùng nấm trừ sâu hại Chính Pasteur (1874) đã đề xuất tìm
kiếm nấm côn trùng thích hợp để trừ rệp hại rễ nho Phylloxera (Weiser, 1966).
Ilya Metchnikoff (1845 - 1916) [30], năm 1879 đã tiến hành nghiên cứu dùng nấm
Metarhizium anisopliae để trừ bọ hung hại lúa mì, xuất bản một bản mô tả về sự
nhiễm tự nhiên của con bọ da (Anisoplia austriaca) trên lúa mì do nấm ký sinh màu xanh (Metarhizium anisopliae Metchnikoff) và mô tả phương pháp bố trí thí nghiệm
cho việc thử nghiệm khả năng kiểm soát côn trùng bằng nấm ký sinh Thí nghiệmcủa Metchnikoff thành công trên đồng ruộng đã khích lệ nhiều nhà nghiên cứu vềnấm cũng như các vi sinh vật khác để trừ sâu hại [11]
Trong khoảng 40 năm trở lại đây nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, sử dụng
nấm Metarhizium sp một cách hợp lý trong biện pháp phòng trừ tổng hợp đã mang lại hiệu quả cao Tại Malaixia đã nghiên cứu nấm Metarhizium anisoplia
để phòng trừ mối ngầm dưới đất đạt hiệu quả 64,57% sau 14 ngày Tại Philipin
đã nghiên cứu sử dụng nấm Metarhizium anisoplia để diệt rầy nâu hại lúa, hiệu
lực đạt 60% sau 10 ngày Tại Úc năm 1991, Milner đã nghiên cứu nấm
Metarhizium sp để phòng trừ bọ hung hại mía đạt hiệu quả 68% Còn ở Brazil,
Nigieria các nhà khoa học đã dùng nấm Metarhizium flavoviridae để phòng trừ
châu chấu cho thấy hiệu quả có thể đạt 90% sau 14 ngày phun
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Walker A J (1938),Miisprat J (1946), Laird M (1960), … cho biết có thể sử dụng nấm
Trang 13Coelomomyces để diệt muỗi Về lĩnh vực nghiên cứu nấm diệt muỗi này đã được
thực hiện khá tốt
Năm 1916, Lebedeva L.A đã mô tả nấm Cordiceps clavulata elletev ký sinh trên Eulecamium corni Bouch ở vùng Curska.
Năm 1907, Bainier đã mô tả tỉ mỉ giống nấm Paecilomyces.
Đến năm 1987, trên thế giới đã mô tả được hơn 750 loài nấm gây bệnh hại côntrùng trong tổng số 100 000 loài nấm (Pavlyuskin, 1987) [11]
Hiện nay, theo đánh giá của David Hawksworth, trong tự nhiên có khoảng1,5 triệu loài nấm ký sinh côn trùng đang chờ các nhà khoa học khám phá [25].Mặc dù có khoảng hơn 750 loài nấm ký sinh gây bệnh côn trùng đã đượcbiết [10] Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào một số ít nấm ký sinh
côn trùng ở trong hệ sinh thái nông nghiệp vùng nhiệt đới như: Beauveria
bassiana, Metarhizium anisopliae, Isaria fumosorosea, Isaria farinosa, Hirsutella citriformis, Verticillium lecanii
1.1.2 Ở Việt Nam
Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu sử dụng nấm ký sinh côntrùng để phòng trừ sâu hại cây trồng và đã đạt được những kết quả đáng kể Tuynhiên ở Việt Nam, cho đến nay mới chỉ tập trung nghiên cứu ứng dụng hai loài nấm
Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae, được tiến hành từ năm 1995.
Phạm Thị Thùy và cộng sự năm 2003 đã nghiên cứu ảnh hưởng của 2 loài
nấm Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae đối với sâu xanh đục quả
đậu; sâu ăn lá đậu tương tại Hà Tĩnh ở vụ hè thu cho kết quả: Đối với sâu xanhđục quả đậu, ở cùng nồng độ 5 x 108 bt/ml, sau 7 - 10 ngày nấm Beauveria
bassiana có hiệu lực diệt sâu đạt 62,8 - 72,3%, còn nấm Metarhizium anisopliae
đạt 69,2 - 75,1% Đối với sâu ăn lá đậu tương, sau 7 - 10 ngày phun với nấm Bb
tỷ lệ sâu chết đạt 60,3 - 76,1%, còn nấm Metarhizium anisopliae đạt 65,4 - 69,8%,
hiệu quả kéo dài đến 15 ngày sau phun [10]
Chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae cũng đã được Phạm Thị Thùy và
cộng sự, 2005 sử dụng phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa (BCCHD) ở Hải Phòng
Trang 14và cho kết quả khá cao Với pha sâu non BCCHD trong điều kiện nhiệt độ trungbình là 31,10C, ẩm độ trung bình 82,1% và có mưa, hiệu quả sau 10 ngày ở các địađiểm phun đều đạt từ 78,5 - 89,6%, sau 30 ngày phun đạt 85,4 - 95,4% Ở cùng điềukiện như trên nhưng đối với trưởng thành BCCHD, sau 10 ngày phun ở các địa điểmphun đều đạt từ 61,3 - 75,0%, sau 30 ngày phun đạt 76,5 - 85,8% [8].
Nghiên cứu đặc tính sinh học và hiệu lực diệt côn trùng có hại của nấm
Metarhizium anisopliae Sorokin (Phạm Thị Thùy, Ngô Tự Thành, 2005) cho kết
quả như sau: Đối với sâu tơ, sau 8 ngày phun ở 2 nồng độ 2 x 108 bt/ml và 4 x 108bt/ml tỷ lệ sâu chết đạt lần lượt là 72,2% và 83,4% Đối với sâu xanh bướmtrắng, tỷ lệ sâu chết đạt thấp hơn Sau 12 ngày phun với nồng độ 3 x 108bt/ml, tỷ
lệ sâu chết đạt 61,8% còn với nồng độ 6 x 108 bt/ml thì tỷ lệ sâu chết là 70,3%
Đối với mối nhà, nấm Metarhizium anisopliae cho hiệu lực phòng trừ rất cao, tỷ
lệ mối chết đạt 100% sau 7 ngày xử lý ở nồng độ 5 x 108 bt/ml [9]
Nguyễn Xuân Thanh, Phạm Thị Thùy, 2005 cho biết chế phẩm nấm
Metarhizium anisopliae có khả năng phát triển và ký sinh gây bệnh trên rệp sáp
hại rễ cây cà phê rất tốt trong điều kiện tự nhiên ở Daklak Thí nghiệm ở nồng độdịch bào tử nấm 108bt/ml, phun lên hỗn hợp phân hữu cơ xốp bón quanh gốc vàgiữ ẩm, hiệu quả trừ rệp sau phun 45 ngày đạt 90%, sau 12 tháng đạt trên 70% [12]
Ngoài ra, nấm Metarhizium anisopliae còn được ứng dụng trong phòng trừ
bọ xít hại cây trồng Sau 10 ngày thí nghiệm ở nồng độ 9 x 109 bt/ml, tỷ lệ bọ xítnon hại nhãn vãi chết đạt 72,5%, bọ xít xanh hại lúa chết đạt 53,2% và bọ xít đenhại lúa chết 43,8% (Đàm Ngọc Hân, Phạm Thị Thùy, 2007) [1]
Cùng với Phạm Thị Thùy, Nguyễn Thị Thùy thì Tạ Kim Chỉnh cũng là tácgiả có nhiều đề tài được công bố và đã được ứng dụng như sử dụng vi nấm thuộc
giống Paecilomyces, Metarhizium và Beauveria diệt trừ mối Mới đây nhất,
Trung tâm nghiên cứu phòng trừ mối đã cho ra đời ba chế phẩm Metavina 90DP,
Metavina 10DP và Metavina 80LS từ Metarhizium cùng thực hiện một mục tiêu
diệt trừ mối tận gốc mà không gây độc hại, giá thành lại rất rẻ so với so với các
Trang 15phương pháp trước đây, đó là ứng dụng của kết quả nghiên cứu của nấm
Metarhizium đối với mối.
Trường đại học Cần thơ đã đưa 3 loại nấm Metarhizium, Paecilomyces,
Verticillium vào nuôi cấy và chế thành chế phẩm sinh học phun trên cây trồng để
diệt trừ côn trùng gây hại Sau 2 năm thử nghiệm, nấm Metarhizium cho kết quả:
diệt được từ 50% trở lên đối với ấu trùng sâu ăn tạp trên hoa màu; 80% rầy mềm
trên bí, dưa; 80% bộ cánh cứng phá hại cây dừa Nấm Paecilomyces và
Verticillium diệt được 70% ấu trùng sâu bệnh gây hại nhiều loại cây trồng.
Tại Nghệ An và Hà Tĩnh cũng đã có nghiên cứu và ứng dụng chế phẩmBeauverin trong việc diệt trừ sâu róm hại thông nhưng hiệu quả chưa cao
Có thể nói, nghiên cứu và sử dụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sâuhại cây trồng vẫn là một hướng nghiên cứu còn khá mới lạ và ít được quan tâm ở
nước ta Các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở một số nấm như Beauveria,
Metarhizium, Paecilomyces Mặc dù vậy, với những kết quả của các nghiên cứu đó
đã mở ra một hướng đi mới trong công tác diệt trừ côn trùng có hại mà thực sự:
“thân thiện với môi trường”
Hiện nay, trong tự nhiên không chỉ có 2 loài nấm Beauveria, Metarhizium mới
có khả năng phòng trừ sâu hại, còn rất nhiều các loài nấm ký sinh côn trùng có thể
sử dụng trong phòng trừ côn trùng gây hại mà chúng ta chưa biết đến hoặc chưa
quan tâm nghiên cứu, như các loài thuộc giống Akanthomyces, Aschersonia,
Beauveria, Hirsutella, Isaria, Paecilomyces [17], … Cho đến nay, mới chỉ có một
công trình nghiên cứu đánh giá nguồn lợi nấm ký sinh côn trùng ở Vườn Quốc gia
Pù Mát (Nghệ An) cũng như sử dụng các loài nấm ký sinh côn trùng trong phòngtrừ sâu hại cây trồng của Trần Ngọc Lân (2007) [17] Ngoài ra, chưa có công trìnhnghiên cứu nào khác đánh giá nguồn lợi nấm ký sinh côn trùng ở Vườn Quốc gia Pù
Mát nói riêng, ở Việt Nam nói chung và sử dụng các loài nấm như Beauveria
amorpha, Paecilomyces sp1 trong phòng trừ sinh học.
1.2 Một số nghiên cứu về sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.)
Trang 16Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) là loài gây hại phổ biến trên rau họ
hoa thập tự (Brassiceae) ở khắp các vùng trồng rau Chúng gây hại trong suốtthời gian sinh trưởng của cây rau Sau khi nở, sâu non gặm lá xanh, chừa lạimàng Lớn lên sâu cắn thủng lá, làm lá bị khuyết Khi mật độ sâu cao, ruộng rautrở nên xơ xác
Bướm hoạt động ban ngày, giao phối và đẻ trứng vào buổi sáng Trứng đẻrải rác ở mặt dưới lá Mỗi bướm cái đẻ khoảng 120 - 140 trứng Sâu non có 5tuổi, hoạt động rất chậm chạp nhưng bám vào lá rất chắc
Vòng đời trung bình 19 - 30 ngày, phụ thuộc vào nhiệt độ rõ rệt Theo tàiliệu của Bộ môn Côn trùng, trường Đại học Nông nghiệp I (2004), phạm vi nhiệt
độ từ 240C - 300C và độ ẩm không khí 82% - 90% là thích hợp nhất cho sâu xanhbướm trắng hoạt động
Mưa và nhiệt độ cao là 2 yếu tố hạn chế loài sâu này phát triển số lượng trênđồng ruộng Mưa là nguyên nhân làm cho sâu non bị chết đuối, bị rửa trôi hoặc
bị gây chết Đồng thời mưa còn hạn chế khả năng giao phối và đẻ trứng củatrưởng thành
Theo kết quả nghiên cứu những năm 1997 - 1999 tại Viện Bảo vệ Thực vậtthấy rằng ở điều kiện khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng thì thời gian mỗi lứasâu chịu tác động chủ yếu của nhiệt độ không khí, còn mật độ sâu tại mỗi đỉnhcao lại chịu ảnh hưởng của cả nhiệt độ và lượng mưa
Theo nghiên cứu những năm 1995 - 1997 ở viện BVTV cho thấy tại đồngbằng sông Hồng mỗi năm có thể có tới 15 lứa sâu gối tiếp nhau nhưng đỉnh caomật độ dẫn đến gây hại chỉ vào tháng 2 và tháng 5
Để phòng trừ sâu xanh bướm trắng, hiện tại nông dân thường xuyên sửdụng thuốc hóa học không theo quy trình và không đảm bảo thời gian cách li,dẫn đến dư lượng thuốc tồn tại nhiều trông sản phẩm Đứng trước thực tế đó,biện pháp sinh học ngày càng được chú ý Các tài liệu đã thể hiện rõ 3 địnhhướng nghiên cứu và phát triển BPSH trong phòng trừ tổng hợp sâu hại rau họhoa thập tự đó là:
Trang 17- Duy trì, bảo vệ và tạo điều kiện để các thiên địch tự nhiên phát triển
- Sử dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học: Bacillus thuringiencis (Bt),
Beauveria bassiana (Bb), Metarhizium sp.
- Nhân thả một số loài ong ký sinh có hiệu quả cao để phòng trừ sâu trênđồng rau
Thành công lớn nhất của biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại rau họhoa thập tự là việc nghiên cứu, sản xuất quy mô công nghiệp và sử dụng rộng rãicác chế phẩm sinh học Theo Vũ Quang Giảng - Trường ĐH Tây Bắc, chế phẩmsinh học Bt có hiệu quả trừ sâu xanh bướm trắng rất rõ rệt Sau 7 ngày phun, vớicác nồng độ 0,1; 0,15 và 0,2% đã cho hiệu lực diệt sâu xanh bướm trắng đạttương ứng 67,4%; 77,43% và 84,00% [15] Phạm Thị Thùy (Viện BVTV) chobiết: kết quả điều tra trên đồng ruộng rau cải và cải bắp tại xã Mai Dịch, huyện
Từ Liêm, Hà Nội cho thấy tỉ lệ nhiễm tự nhiên của nấm Metarhizium anisopliae
trên sâu xanh bướm trắng là 12,5 – 14,5%; Thí nghiệm phòng trừ sâu xanh bướm
trắng (Pieris rapae L.), sử dụng nấm Metarhizium anisopliae, ở nhiệt độ trung bình
26,5 0C và độ ẩm trung bình 83,1% với hai nồng độ 3 x 108 bt/ml và 6 x 108 bt/ml;hiệu quả gây chết tăng theo nồng độ dịch bào tử và tăng theo thời gian xử lý Tỷ lệsâu chết đạt từ 61,8% đến 70,3% sau 12 ngày xử lý [9]
Việc đánh giá hiệu lực của một số loài nấm KSCT trong phòng trừ sâu hạivẫn đang tiếp tục ở các cơ quan nghiên cứu BVTV
1.3 Đặc điểm của vườn quốc gia Pù Mát
Vườn Quốc gia Pù Mát được chuyển từ Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát
từ ngày 08 tháng 11 năm 2001 theo Quyết định số 174-TTG của Thủ tướngChính phủ; nằm trên sườn Đông của dải Trường Sơn Do có địa hình phức tạp vàdốc nên dải Trường Sơn vẫn còn một diện tích rừng bao phủ lớn mặc dù có rấtnhiều khu vực đã bị tàn phá nghiêm trọng bởi các hoạt động khai thác gỗ và cáchoạt động khác của con người Hệ thống các khu bảo vệ được tiết lập trên dảiBắc Trường Sơn và tiếp nối với các khu vực khác hầu hết bị các hoạt động khaithác gỗ tấn công (Eve, 1998)
Trang 18Theo luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng Vườn quốc gia Pù Mát, một sốđặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu như sau:
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
* Địa hình
Vườn Quốc gia Pù Mát nằm trên dải Trường Sơn Độ cao từ 100 - 1.841 m.Trong đó, 90% diện tích của Vườn Quốc gia có độ cao dưới 1000 m Những khuvực cao nhất nằm ở phần phía Nam của Vườn, nơi mà các đỉnh giông của các dảinúi Trường Sơn được tìm thấy và đó cũng là khu vực biên giới Việt - Lào Đỉnhcao nhất của Vườn Quốc gia là núi Pù Mát với độ cao 1.841 m nằm trên hệ thốngđỉnh giông này Từ đỉnh giông này, các thung lũng dốc trải dài xuống tạo thành một
hệ thống giông đồi có dốc khoảng 900 so với đỉnh giông chính Những giông nàyvới độ dốc rất cao, tạo thành các đỉnh có độ cao từ 800 - 1500 m Các thung lũngdốc kết cấu địa hình phức tạp và cản trở việc tác động vào môi trường sống tự nhiên
* Thủy văn
Tất cả các sông suối chảy từ hệ thống các đỉnh giông về hướng Đông Bắc và
đổ vào sông Lam Vườn Quốc gia Pù Mát có 4 lưu vực sông chính là Khe Bu (làsông nhánh của Khe Choang), Khe Choang, Khe Khặng và Khe Thơi Tất cả cáccon sông này thông thường đều có thể đi qua được nhưng khó đi về mùa lũ Rấtnhiều con suối nhánh thường bị cạn vào mùa khô Phần lớn các con sông chảy rấtnhanh có lớp đáy và bờ là đá cuội và đá tảng lớn Bốn con sông chính này có thể đi
bè xuôi dòng được ở một số đoạn nhất định trong Vườn Quốc gia Không có một ao
hồ nào trong Vườn mặc dù có một số vùng thung lũng bằng và bị lũ vào mùa mưa
* Khí hậu
Trong Vườn Quốc gia Pù Mát không có một trạm khí tượng thủy văn nào;
do đó, thông tin về thời tiết của Vườn được dựa vào thông tin lấy từ trạm khítượng của huyện (SFNC, 1997) Trong khi những số liệu này được sử dụng vàoviệc nhận biết khí hậu của Vườn Quốc gia Pù Mát thì những ảnh hưởng của độcao cũng cần phải được xem xét đến
Trang 19Mặc dù kinh nghiệm của tỉnh cho biết, ở đây có khí hậu nhiệt đới nóng,nhưng sự khác nhau của thời tiết theo mùa cũng cần được xem xét Nhiệt độ vàlượng mưa ở đây rất cao do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam mang lại nhữngmùa hè nóng và oi bức (từ tháng 5 đến tháng 10), những mùa đông khô lạnh vàmùa mưa (tháng 11 đến tháng 3) Vào mùa đông, sương mù khá phổ biến trongnhiều tháng ở những vùng thấp.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23,50C Nhiệt độ cao nhất từ trước tới nay
là 42,60C và thấp nhất là 2,00C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1791 mm,khoảng 40 ngày mưa (209 mm) trong thời gian mùa khô (tháng 11 đến tháng 4) vàkhoảng 93 ngày mưa (1059 mm) vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10)
1.3.2 Tài nguyên rừng
* Hệ thực vật
Qua tập hợp kết quả các đợt điều tra từ trước đến nay cho thấy hệ thực vật
Pù Mát có số lượng loài tương đối phong phú Theo thống kê bước đầu ghi nhậnđược VQG Pù Mát có 1297 loài thuộc 607 chi và 160 họ thuộc 6 ngành thực vậtbậc cao
Qua đó cho ta thấy khu hệ thực vật VQG Pù Mát khá phong phú về thànhphần loài, ngành thực vật phong phú nhất là nghành Ngọc lan – Magnoliophyta(92,91%) bình quân mỗi chi có 2,14 loài và mỗi họ có 8,11 loài Sự phong phúnày được quyết định bởi trước hết thành phần thực vật Pù Mát có quan hệ vớinhiều khu hệ thực vật lân cận Đó là luồng thực vật Hymalaya - Vân Nam - QuíChâu di cư xuống với đại diện là các loài trong ngành thông Pinophyta và cácloài lá rộng rụng lá, luồng thực vật Malesia- Indonesia đi lên với các đại diệnthuộc họ Dầu Dipterocarpaceae Luồng thực vật India – Myanmar đi từ phía Tây
đi sang với các họ đại diện thuộc họ Tử vi Lythraceae Họ Bàng Combretaceae.Đặc biệt là khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam- Nam Trung Hoa chiếm một
tỷ trọng lớn nhất Thứ hai là VQG Pù Mát có một diện tích rừng tự nhiên ít bịtác động còn mang nhiều tính nguyên sinh, thể hiện sự đa dạng sinh học cao
Trang 20Nếu đối chiếu với khu hệ thực vật của một số VQG khác như VQG Cúc Phươngnơi có bề dày nghiên cưú về thực vật (từ 1992), và VQG Bến En nơi rừngnguyên sinh hầu như không còn mới thấy được tính đa dạng loài của VQG Pù Mát.
*Hệ động vật
Qua kết quả khảo sát các năm 1993, 1994 và 1998, 1999 của các nhà khoahọc trong và ngoài nước đã thống kê được 939 loài động vật ở Pù Mát, bao gồmcác nhóm: Thú, Chim, Bò Sát, Lưỡng cư, Cá, Bướm Ngày và Bướm đêm Con số
đó chứng tỏ Pù Mát có tính đa dạng sinh vật cao nhất so với các khu rừng đặcdụng khác ở Việt Nam đặc biệt là loài thú tới 132 loài, các nhóm khác như Bướmngày, Bướm đêm, Cá, Chim tương đương với khu bảo tồn Vũ Quang và PhongNha, hai khu gần kề và cùng nằm trên dải Trường Sơn Bắc
Trang 21Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học
2.1.1.1 Nấm ký sinh côn trùng (IPF)
Khái niệm “Nấm ký sinh côn trùng - Insect pathogenic fungi (IPF)” hay “Nấmcôn trùng - Insect fungi” được các nhà khoa học sử dụng như các thuật ngữ đồngnghĩa, đề cập về nhóm sinh vật (nấm) ký sinh gây bệnh cho côn trùng
Theo Evans (1988), nấm ký sinh côn trùng được chia thành 4 nhóm:
(1) Ký sinh trong, tức là nấm ký sinh trong các nội quan, khoang cơ thể củacôn trùng ký chủ
(2) Ký sinh ngoài, tức là nấm phát triển ở tầng cuticun ngoài vỏ cơ thể củacôn trùng và gây nên bệnh hại cho côn trùng
(3) Nấm mọc trên côn trùng, tức là những nấm đã được trực tiếp hoặc giántiếp chứng minh chúng ký sinh trên côn trùng
(4) Cộng sinh, có nghĩa là cả nấm và côn trùng cùng mang lại lợi ích chonhau trong mối quan hệ cùng chung sống
Nấm ký sinh côn trùng còn được chia thành ký sinh sơ cấp (primerypathogen) và ký sinh thứ cấp (secondery pathogen) (Pu và Li, 1996)
Nấm ký sinh sơ cấp thường nhiễm vào ký chủ côn trùng khỏe mạnh, gâybệnh và sau đó giết chết côn trùng Trong khi đó, nấm ký sinh thứ cấp chỉ có thể
ký sinh trên những côn trùng bị yếu hoặc côn trùng bị thương Các mầm bệnh kýsinh trên côn trùng trưởng thành hoặc côn trùng bị bệnh được gọi là ký sinh cơ hộihoặc ký sinh không chuyên tính; loại ký sinh này có thể nhiễm vào ký chủ thôngqua sự xâm nhập qua lớp cuticun vỏ cơ thể của côn trùng Các ký sinh trên côntrùng bị thương gọi là bệnh lây qua vết thương, chỉ có thể xâm nhập vào côntrùng qua vết thương
Trang 22Như vậy, nấm ký sinh côn trùng (IPF) được dùng để mô tả hiện tượng nấm
ký sinh trên hoặc trong cơ thể ký chủ côn trùng Khái niệm này cũng được dùngcho nấm ký sinh trên nhện bởi vì nhện và côn trùng là 2 lớp trong một ngành(phyllum) Động vật chân khớp (Arthropoda) và chúng có cùng một kiểu sinh thái
là ăn thực vật hoặc ăn thịt và sinh sống chủ yếu trên cây (Tzean và cs, 1997) [32]
2.1.1.2 Sự xâm nhiễm và phát triển của nấm trong cơ thể sâu hại
Nấm ký sinh côn trùng có thể xâm nhiễm vào cơ thể côn trùng qua conđường hô hấp, tiêu hóa hoặc qua cơ quan sinh dục, nhưng phần lớn là qua lớp vỏcuticun của chúng Tức là phải có sự tiếp xúc của bào tử nấm và bề mặt cơ thểvật chủ Bào tử nấm bám vào bề mặt cơ thể vật chủ, khi đủ điều kiện ẩm độ bào
tử mọc mầm và xâm nhiễm vào bên trong cơ thể côn trùng qua lớp kitin
Các bộ côn trùng dễ bị nhiễm nấm bao gồm: Coleoptera, Diptera, Homoptera,Hymenoptera và Lepidoptera Việc các loài côn trùng bị nấm xâm nhiễm là một cơ
sở chứng tỏ mối quan hệ chặt chẽ giữa côn trùng và thực vật
Nấm xâm nhiễm vào cơ thể côn trùng gồm 3 giai đoạn chính:
- Giai đoạn xâm nhập:
Tính từ khi bào tử nấm mọc mầm đến lúc hoàn thành việc xâm nhập vàotrong xoang cơ thể côn trùng Bào tử nấm sau khi mọc mầm phát sinh mầm bệnh,
nó giải phóng các enzym ngoại bào tương ứng với các thành phần chính của lớp vỏcuticun của côn trùng để phân hủy lớp vỏ này như: Protease, chitinase, lipase,aminopeptidase, carboxypeptidase A, esterase, N-axetylglucosaminidase, cenlulase.Các enzym này được tạo ra một cách nhanh chóng, liên tục và với mức độ khácnhau giữa các loài và thậm chí ngay trong một loài
Enzym protease và chitinase hình thành trên cơ thể côn trùng, tham giaphân hủy lớp da côn trùng (cuticula) và lớp biểu bì (thành phần chính làprotein) Lipase, cenlulase và các enzym khác cũng là những enzym có vai tròkhông kém phần quan trọng Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là enzym phân hủyprotein (protease) và kitin (chitinase) của côn trùng Hai enzym này có liên quantrực tiếp đến hiệu lực diệt côn trùng của nấm ký sinh côn trùng (Dẫn theo Hà Thị
Trang 23Quyến và cs., 2005 [4]; Tạ Kim Chỉnh và cs., 2005 [12]; Charley A K at al., 1991[22]; Eguchi M., 1992 [24]; Janet Jennifer et al., 2006 [26]); Lerger R J et al.,
1986 [28])
- Giai đoạn phát triển của nấm trong cơ thể côn trùng đến khi côn trùng chết:
Đây là giai đoạn sống ký sinh của nấm Trong xoang cơ thể côn trùng nấmtiếp tục phát triển, hình thành rất nhiều sợi nấm ngắn Khi hệ sợi nấm được hìnhthành trong cơ thể, nó phân tán khắp cơ thể theo dịch máu, phá hủy các tế bàomáu và làm giảm tốc độ lưu thông máu Toàn bộ các bộ phận nội quan bị xâmnhập Nấm thường xâm nhập vào khí quản làm suy yếu hô hấp Hoạt động củacôn trùng trở nên chậm chạp và phản ứng kém với các tác nhân kích thích bênngoài Kết quả là vật chủ mất khả năng kiểm soát hoạt động sống và dẫn đến chết(Dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2000 [10]; David Pramer, 1965 [23])
- Giai đoạn sinh trưởng của nấm sau khi vật chủ chết:
Đây là giai đoạn sống hoại sinh của nấm ký sinh Xác côn trùng chết lànguồn dinh dưỡng có giá trị cho các vi sinh vật Thông thường, các bộ phận bêntrong cơ thể côn trùng sẽ bị phân hủy bởi vi khuẩn hoại sinh Trên bề mặt ngoài
của cơ thể côn trùng, các nấm hoại sinh như Aspergillus spp., Penicillium spp và
Fusarium spp định cư ở lớp biểu bì và cạnh tranh với vi khuẩn ở bên trong cơ
thể côn trùng Do nấm côn trùng có khả năng sản xuất ra các chất có hoạt tính nhưthuốc kháng sinh ức chế hoạt động của vi khuẩn và nấm hoại sinh khác nên chúng
có thể cạnh tranh với các sinh vật này để tồn tại và phát triển, làm cho xác vật chủkhông bị phân hủy
Sau khi nấm côn trùng đã sử dụng cạn kiệt nguồn dinh dưỡng bên trong cơthể côn trùng, nó chuyển sang giai đoạn hình thành bào tử
Ở giai đoạn xâm nhiễm vào bên trong cơ thể côn trùng, nấm sử dụng cácenzym ngoại bào để phân hủy lớp vỏ cuticun Khác với giai đoạn này, ở giai đoạnnấm đâm xuyên, mọc thành sợi ra bên ngoài nó sử dụng toàn bộ tác động cơ học.Sau đó các bào tử được hình thành trên lớp sợi nấm ở bề mặt cơ thể vật chủ Nhiều
Trang 24côn trùng bị bao bọc toàn bộ bên ngoài bởi hệ sợi nấm và các bào tử, vì vậy mà rấtkhó hoặc không thể xác định các vật chủ (Dẫn theo Janet Jennifer et al., 2006) [26].
2.1.1.3 Triệu chứng bên ngoài của sâu hại bị nhiễm bệnh nấm côn trùng
Những cá thể sâu hại bị nhiễm nấm thường có các vệt chấm đen xuất hiệntrên bề mặt, có thể tại nơi bào tử nấm bám vào và mọc mầm xâm nhiễm vào bên
trong cơ thể vật chủ Nơi xâm nhập của nấm Beauveria bassiana thường có vệt
chấm đen hình dạng bất định
Khi bị bệnh do nấm, sâu hại ngừng hoạt động khoảng 2 - 3 ngày trước thờiđiểm phát triển hoàn toàn của nấm ở trong cơ thể vật chủ Nếu bị bệnh do nấm
Beauvera thì sâu hại sẽ ngừng hoạt động khoảng 7 ngày trước khi chết.
Những cá thể sâu hại bị nhiễm bệnh nấm côn trùng thường có màu hồngnhạt Một số loài nấm có thể làm cho sâu bệnh trở nên có màu vàng nhạt, xanh lácây hoặc nâu Cơ thể sâu bị bệnh ngày càng trở nên hóa cứng
Cơ thể côn trùng bị chết do nấm côn trùng không bao giờ bị tan nát, mà thườngvẫn giữ nguyên hình dạng như khi còn sống Toàn bộ bên trong cơ thể sâu chết bệnhchứa đầy sợi nấm Sau đó, các sợi nấm này mọc ra ngoài qua vỏ cơ thể và bao phủtoàn bộ bề mặt ngoài của cơ thể sâu chết bệnh Đây là đặc điểm rất đặc trưng để phânbiệt sâu chết bệnh do nấm côn trùng với các bệnh khác (Dẫn theo Phạm Văn Lầm,2000) [29]
Thomas M B., Read A F (2007) [33], nêu sơ đồ xâm nhiễm của nấm kýsinh côn trùng vào cơ thể vật chủ (hình 2.1)
Theo Thomas M B., Read A F., chu kỳ phát triển của nấm ký sinh côn
trùng, như nấm Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae gồm các giai
đoạn: Bào tử đính tiếp xúc với tầng cuticun của lớp vỏ vật chủ Bào tử nảy mầm
và sinh sản hình thành vòi và giác bám (cấu trúc cơ quan xâm nhập)
Sự xâm nhập của bào tử đính là sự tổ hợp của sức ép cơ học và sự tác độngcủa enzim phân giải tầng cuticun Quá trình sinh trưởng bên trong xoang máu cơthể vật chủ và sự sinh sản của bào tử đính làm vật chủ bị chết Tầng cuticun của
vỏ cơ thể vật chủ là tầng chống chịu đầu tiên trong việc bảo vệ chống lại sự xâm
Trang 25nhiễm của nấm và nó có vai trò quyết định tính chuyên hóa đặc hiệu của nấm.Nếu nấm phá vỡ được tầng cuticun thì sự xâm nhiễm thành công, sau đó phụthuộc vào khả năng chiến thắng được phản ứng miễn dịch bẩm sinh ở côntrùng của nấm Các loài côn trùng có thể phản ứng lại sự xâm nhiễm này củanấm bằng cả hai phương thức là tế bào và thể dịch Sự hình thành hoạt độngmiễn dịch càng sớm ở điểm phân giải bào tử đính trong suốt quá trình xâmnhập Các loài nấm nói chung đều có hai phương thức để chiến thắng các phảnứng tự vệ của vật chủ: Sự phát triển của các dạng sinh trưởng giai đoạn tiềm
ẩn là sự ngụy trang hữu hiệu từ các phản ứng tự vệ của côn trùng và sự sảnxuất ra các chất miễn dịch phân hóa thuận nghịch của bộ phận ức chế hệ thốngbảo vệ
Hình 2.1 Cơ chế xâm nhiễm của nấm ký sinh côn trùng
Nguồn: Thomas M.B & Read A.F (2007), Can fungal biopesticides control
malaria ? Nature Microbiology Reviews 5, 377 - 383).
Trang 262.1.1.4 Phòng trừ sinh học - biện pháp sinh học
Những quan sát, khuyến cáo cũng như thực nghiệm về Biện pháp sinh học(BPSH) đã được ghi nhận từ lâu Thành công đầu tiên trong thực tiễn của BPSHđạt được từ năm 1889 Để diễn tả BPSH, khi đó người ta dùng các cách gọi khácnhau như “Sử dụng côn trùng kẻ thù của sâu hại”, “Dùng ký sinh của sâu hại”,
“Phương pháp tự nhiên” Năm 1916, Howard nói rằng để biểu thị phương phápnày phải dùng thuật ngữ “Phương pháp sinh học chống côn trùng” Smith đã viết
và sử dụng thuật ngữ “Biện pháp sinh học” hay “Đấu tranh sinh học” từ năm
1919 Đến năm 1920, Smith và Armitage đã dùng thuật ngữ này cho đầu bài báokhoa học “Biện pháp sinh học trừ rệp sáp ở California” Ngay trong bài báo này,các tác giả cũng không hoàn toàn sử dụng thuật ngữ “Biện pháp sinh học”, …Vậy BPSH (hay đấu tranh sinh học) là gì? Thuật ngữ được Smith dùng đểbiểu thị việc sử dụng thiên địch để trừ côn trùng hại (Doutt, 1964; Huffaker,Messenger, 1976) Sau đó mỗi tác giả dùng nó với một định nghĩa riêng Do đó,khái niệm “Biện pháp sinh học” cho đến nay có nhiều định nghĩa và nhiều sựtranh luận
Theo Sweetman (1958), Biện pháp sinh học với nghĩa rộng của nó bao gồmviệc sử dụng kháng sinh trong y tế, việc sử dụng sinh vật sống để trừ động vật, cỏdại, côn trùng và bệnh hại cây trồng
De Bach (1964) cho rằng không có một định nghĩa đơn độc nào có thể làmthỏa mãn được, vì thuật ngữ “biện pháp sinh học” được dùng với nhiều nghĩakhác nhau Do đó, De Bach đề nghị cần có hai định nghĩa: một định nghĩa phục
vụ cho ý nghĩa sinh thái cơ bản nhằm mô tả kết quả hoạt động của các thiên địch.Một định nghĩa khác để mô tả các hoạt động của con người về biện pháp sinh học.Doutt (1972) đã định nghĩa: Biện pháp sinh học là sử dụng một cách rấtthông minh các loài ký sinh, bắt mồi ăn thịt để khống chế quần thể các loài gâyhại Đây là chiến lược dùng để điều khiển quần thể loài hại bằng một phương pháprất hiệu quả và tương hợp tuyệt vời với sự duy trì chất lượng môi trường xungquanh Định nghĩa này của Doutt nghiêng về BPSH trừ sâu hại Còn biện pháp
Trang 27sinh học đối với bệnh hại cây trồng được các nhà bệnh lý thực vật định nghĩa nhưsau: Biện pháp sinh học là sự sử dụng một hoặc nhiều sinh vật (trừ hoạt động củacon người) để làm giảm mức độ nhiễm bệnh hoặc hoạt tính gây bệnh của bệnhnguyên (Cook, Baker, 1983) [16]
Năm 1971, Tổ chức đấu tranh sinh học thế giới đã định nghĩa như sau: Biệnpháp sinh học là việc sử dụng những sinh vật sống hay các sản phẩm hoạt độngsống của chúng nhằm ngăn ngừa hoặc giảm bớt tác hại do các sinh vật hại gây ra(IOBC, 1971) [16]
“Phòng trừ sinh học là việc sử dụng sinh vật để giảm mật độ sinh vật khác,
là phương pháp thành công, hiệu quả nhất và an toàn với môi trường nhất trongviệc quản lý dịch hại” (Van Lenteren, 2005) [5]
Như vậy, có thể nói các thuật ngữ “phòng trừ sinh học”, “Biện pháp sinhhọc”, “đấu tranh sinh học” (biological control) và cả “phòng trừ tự nhiên”(natural control) đều có chung một nghĩa là sử dụng sinh vật và các sản phẩm củachúng để làm giảm số lượng quần thể dịch hại, làm giảm sự gây hại và dịch hạicây trồng
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về nấm ký sinh côn trùng và sử dụngnấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ các loài sâu hại cây trồng đã và đang đượccác nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam tiến hành nghiên cứu Sửdụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sâu hại là một hướng nghiên cứucòn khá mới lạ nhưng hứa hẹn một biện pháp phòng trừ sâu hại trong tương lai,bởi nó có nhiều ưu điểm hơn các biện pháp khác như: không ảnh hưởng đến sứckhỏe con người, không làm mất cân bằng sinh học; đặc biệt, nấm ký sinh côntrùng có tính chuyên hóa cao đối với ký chủ do đó chúng không gây ảnh hưởngđến hệ thiên địch, …
Trên thế giới, người ta cũng đã tập trung nghiên cứu về nấm ký sinh côntrùng và sử dụng chúng trong phòng trừ sâu hại Các nghiên cứu của Wagenaar,Melissa M., Gibson, Donna M., Clardy, Jon (2002) [39] cho thấy, giống
Trang 28Ankanthomyces có loài A gracilis được xem như là tác nhân phòng trừ sâu hại
loài Staphylococcus aureus.
Các nghiên cứu của Samson và Romach (1985) [34] chỉ ra rằng, các loài
thuộc giống Aschersonia trong đó có loài A aleyrodis có thể sử dụng để kiểm soát loài Trialeurodes vaporariorum thuộc họ Coccoidea, bộ Homoptera Mặt khác, tác giả này còn nghiên cứu về khả năng sử dụng chế phẩm từ A aleyrodis ở
nồng độ cao (1013 bào tử/ha) có thể hoàn toàn tiêu diệt được loài T vaporariorum
trên cây bầu bí Ngoài ra, các nghiên cứu của Evan (1988) [28]; Evans và Hywel
- Jones (1997) [27] đưa ra triển vọng sử dụng các loài thuộc giống Aschersonia như là thiên địch tự nhiên của các loài côn trùng thuộc họ Aleyrodiidae và Coccoidea.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về sử dụng nấm ký sinh côn trùngtrong phòng trừ sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, bọ nhảy, … hại rau cải và cải bắp đãđược tiến hành như: Nghiên cứu của Phạm Thị Thùy, Ngô Tự Thành (2005) về đặc
điểm sinh học và hiệu lực diệt côn trùng có hại của nấm Metarhizium anisopliae Sorokin [9], nghiên cứu này đã sử dụng nấm Metarhizium anisopliae Sorokin để phòng trừ sâu tơ (Plutella xylostella L), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L), bọ xít đen (Scotinophora lurida Burm.), mối nhà (Coptotermes formosanus Shizaki)
Năm 2006, Lê Thùy Quyên với đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất chế
phẩm nấm Metarhizium anisopliae Sorok Để ứng dụng phòng trừ sâu hại cây
trồng” đã được công bố và đạt giải thưởng Vifotec 2006 Chế phẩm nấm
Metarhizium từ nghiên cứu diệt trừ được các loài sâu xanh bướm trắng ăn su hào,
bắp cải, sâu khoang ăn lá cà chua, … cho kết quả diệt trừ sâu bệnh hơn 70% Đây là những “bước nhảy” trong nghiên cứu nấm ký sinh côn trùng và sửdụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sâu hại cây trồng ở nước ta; tạo tiền
đề cho những nghiên cứu tiếp theo sau này
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
a) Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm thu thập mẫu nấm KSCT được tiến hành tại Vườn Quốc gia Pù Mát
Trang 29- Sâu xanh bướm trắng được thu bắt tại Trại thực nghiệm Nông nghiệp KhoaNông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh và vùng chuyên canh rau Đông Vĩnh.
- Phân lập, nhân nuôi và thử nghiệm tại Phòng thí nghiệm Vi sinh và Công nghệsinh học Nông nghiệp thuộc Khoa Nông - Lâm - Ngư - Trường Đại học Vinh
b) Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 2008
2.3 Vật liệu nghiên cứu
Các loài rau họ hoa thập tự: cải xanh, cải bắp, su hào, …
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra và thu thập mẫu nấm ký sinh côn trùng
Thu thập mẫu nấm ký sinh côn trùng định kỳ 1 tháng/1 lần tại các khu rừngthuộc Vườn Quốc gia Pù Mát
Các mẫu IPF được thu thập trên lá, trên thân cây, trên tàn dư thực vật hoặctrong đất
a) Đặc điểm nơi thu mẫu
Do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu là nấm ký sinh côn trùng và côn trùng
bị nấm ký sinh Vì vậy, để nấm ký sinh côn trùng có thể sinh trưởng, phát triểnbình thường và thu thập được mẫu tốt thì điều kiện thời tiết phải ẩm ướt, nhiệt độbiến động từ 15 - 300C và độ ẩm từ 75 - 100% RH Do đó, nơi thu mẫu phải lànhững khu rừng nguyên sinh phát triển trên núi đất, có nhiều cây lớn, trên mặt đất
có ít các cây nhỏ, bằng phẳng hoặc độ dốc không quá lớn, để tạo điều kiện các lá
từ cây lớn có thể rơi xuống bề mặt đất, tạo thành thảm mục Khi thu thập mẫutrong mùa khô, chúng ta có thể thu ở các khu vực gần sông suối, nơi này có độ ẩmthuận lợi cho nấm phát triển
b) Phương pháp thu thập mẫu vật
• Trên lá hoặc thân cây
Trang 30IPF có thể tồn tại trên các sinh cảnh (habitat) khác nhau Nó có thể tồn tạitrên thân cây (cây đang sống hoặc chết) hoặc mặt dưới của lá (chủ yếu là các lágià) Trên mặt lá cũng có nhưng rất ít khi gặp Một số loài IPF có thể trên rêu,trên vỏ cây, …
2.4.2 Phân lập, nhân giống và tạo sinh khối nấm ký sinh côn trùng trên môi trường PDA
a) Chuẩn bị môi trường
Tiến hành chuẩn bị môi trường trong phòng thí nghiệm Công tác chuẩn bị môitrường được tiến hành trước mỗi đợt đi thu mẫu Môi trường phải đảm bảo các tiêuchuẩn sau: phải tươi, đủ lượng nước trên bề mặt để tạo điều kiện thuận lợi cho cácbào tử nấm phát triển tốt
Khi chuẩn bị môi trường cần chú ý công việc bảo đảm vệ sinh đĩa petri nếukhông sẽ bị nhiễm khuẩn Sự nhiễm khuẩn là một trong những trở ngại lớn ảnhhưởng đến sự thành công của quá trình phân lập và nhân nuôi IPF Có thể làmgiảm sự nhiễm khuẩn bằng cách pha thêm chất kháng sinh vào môi trường như:pennicillin streptomycin, chloramphenicol ở nồng độ 50 ppm
Môi trường PDA (Potato Dextrose Agar) bao gồm các thành phần:
Khoai tây (potato): 200 gamDextrose: 15 - 20 gamAgar: 15 - 20 gamNước cất: 1.000 ml
Trang 31Các bước nấu môi trường:
Bước 1 Cân 250g khoai tây
Bước 2 Rửa sạch khoai tây - không gọt vỏ
Bước 3 Cắt thành miếng nhỏ 12mm
Bước 4 Cân ra đúng 200g khoai tây đã rửa sạch
Bước 5 Xả nhanh để loại bỏ nước trên khoai tây
Bước 6 Cho khoai tây vào nồi có chứa 1l nước
Bước 7 Đun sôi đến khi khoai tây mềm ra
Bước 8 Trộn lẫn và ép hỗn hợp cho đến lúc nhuyễn ra
Bước 9 Thêm 20g agar và đun sôi cho đến khi hòa tan hoàn toàn agar.Bước 10 Thêm 20g dextrose và khuấy đến khi hòa tan hoàn toàn
Bước 11 Thêm nước vào nồi để đảm bảo dung tích 1l
Bước 12 Vô trùng ở áp suất 15 psi trong vòng 20 phút
b) Phân lập nấm ký sinh côn trùng
Khi thu được các mẫu vật nấm ký sinh ta thực hiện việc phân lập các loài nấmtrên các môi trường PDA Mỗi một loại mẫu thu thập được tiến hành phân lập lặp đilặp lại ít nhất 3 lần, mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 đĩa petri Trên mỗi đĩa petri bốtrí nấm ký sinh tại 4 điểm/đĩa môi trường Sau đó tương ứng mỗi điểm khác nhautrên đĩa phân lập ban đầu, tiến hành cấy sang các đĩa môi trường tương ứng cùngloại để phân lập loại nấm mục tiêu Tiếp tục cấy chuyển tiếp nếu cần thiết, côngviệc kết thúc nếu các đĩa petri có màu sắc, hình dạng, … coloni giống nhau
Phương pháp phân lập nấm theo Smith (1938), Nguyễn Lân Dũng (1981),dựa vào tài liệu của Braett và Barry (1972)
c) Nhân nuôi với quy mô lớn nấm ký sinh côn trùng cho phòng trừ sinh học
Công việc này được tiến hành ngay sau khi phân lập thành công các loàinấm ký sinh trong các đĩa môi trường Tiến hành nhân nuôi trên nhiều đĩa môitrường lớn để đảm bảo đủ lượng bào tử cho thí nghiệm phòng trừ
Trang 322.4.3 Thử nghiệm sử dụng nấm Beauveria amorpha (Hohnel) và Paecilomyces
sp1 phòng trừ sâu xanh bướm trắng
Phương pháp thử nghiệm khả năng phòng trừ sinh học của IPF được tiếnhành theo Cescile H Lomer & Chris J Lomer (1997)
Mỗi loài nấm bố trí 4 công thức:
CTI: Phun dịch nấm ở nồng độ 105 bào tử/ml
CTII: Phun dịch nấm ở nồng độ 107 bào tử/ml
CTIII: Phun dịch nấm ở nồng độ 109 bào tử/ml
CTIV (Đối chứng): Phun nước cất
Mỗi công thức thí nghiệm nhắc lại 3 lấn, mỗi lần nhắc lại 30 con
* Phương pháp pha và phun dịch bào tử nấm
Pha chế phẩm với nước cất, lắc đều để cho bào tử nấm được giải phóng ra.Sau đó, lọc bỏ bã và lấy dịch chứa bào tử nấm
Sau khi pha xong, tiến hành đếm số lượng bào tử và xác định nồng độ bào
tử thích hợp cho từng công thức thí nghiệm bằng buồng đếm hồng cầu theophương pháp pha loãng vi sinh vật
Công thức tính số lượng bào tử:
Trong đó:
A: Số lượng bào tử trên 1mla: Số lượng bào tử đếm được trên buồng đếm hồng cầub: Số ô đếm được (16 x 5 = 80 ô nhỏ)
n: Hệ số pha loãng10000: Hằng sốĐếm 3 lần, lấy giá trị trung bình
Trước khi phun dịch nấm cần cho thêm vào dung dịch vài giọt Tween 80(chất bám dính) lắc đều, rồi chuyển dịch bào tử vào bình phun tay
Trang 33Sau khi xử lý, theo dõi số lượng sâu chết hàng ngày Những con sâu chếtcứng được đem vào bảo quản nơi có độ ẩm cao để tính khả năng mọc nấm trên
cơ thể sâu hại
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu cần quan tâm trong thí nghiệm là số sâu bị chết (cả đối chứng và thínghiệm) và số sâu mọc nấm sau các ngày xử lý
- Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm STASTIC và IRRISTAT
- Số liệu thu thập xử lý và được thể hiện qua các bảng biểu, biểu đồ, sơ đồ, … Hiệu lực diệt sâu của dịch bào tử nấm được tính theo phương pháp củaAbbott (1925):
M(%) =
a
a a
C
T
C
x 100Trong đó: M là tỷ lệ (%) chết của sâu hại;
Ca là số lượng sâu sống ở công thức đối chứng (không phun dịch bào tử nấm)
Ta là số lượng sâu sống ở công thức thí nghiệm
2.4.5 Hoá chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm
- Hoá chất: Cồn 960, Tween 20 hoặc Tween 80, các chất kháng sinh để sửdụng trong môi trường nuôi cấy nấm, …
- Thiết bị: Kính hiển vi, hiển vi soi nổi, máy ảnh, máy vi tính, tủ lạnh, tủsấy, máy lắc, …
- Dụng cụ: Các chai, hộp plastics, đĩa petri, ống nghiệm, …
Trang 34Kính hiển vi Kính hiển vi soi nổi Tủ định ôn
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nguồn lợi nấm ký sinh côn trùng ở Vườn Quốc gia Pù Mát
Nấm ký sinh côn trùng và công nghệ nấm - côn trùng là lĩnh vực mới đốivới Việt Nam Để xem xét khả năng ứng dụng của nấm ký sinh côn trùng trongphòng trừ sinh học, chúng tôi tham khảo các tài liệu chuyên khảo và các côngtrình nghiên cứu có liên quan cho thấy khả năng sử dụng IPF trong phòng trừ sâuhại cây trồng của các loài nấm ở đây rất lớn Trong 71 loài nấm ký sinh côn trùngthuộc 15 giống đã thu và định loại được cho thấy, có 11 giống nấm ký sinh côntrùng có thể sử dụng trong phòng trừ sâu hại cây trồng Kết quả được thể hiện ởbảng 6
Đối với giống Akanthomyces, các
nghiên cứu của Wagenaar, Melissa M.,
Gibson, Donna M., Clardy, Jon (2002) [37]
cho thấy, giống Ankanthomyces có loài A.
gracilis được xem như là tác nhân phòng trừ
sâu hại loài Staphylococcus aureus Hình 3.1 Nấm Akanthomyces
pistillariiformis.
Đối với giống Aschersonia, các nghiên cứu của Samson và Rombach (1985)
[29] chỉ ra rằng, các loài thuộc giống Aschersonia trong đó có loài A aleyrodis có thể sử dụng để kiểm soát loài Trialeurodes vaporariorum thuộc họ Coccoidea, bộ
Homoptera Mặt khác, tác giả này còn nghiên cứu về khả năng sử dụng chế phẩm
từ A aleyrodis ở nồng độ cao (1013 bào tử/ha) có thể hoàn toàn tiêu diệt được loài
T vaporariorum trên cây bầu bí Ngoài ra, các nghiên cứu của Evan (1988) [28];
Evans và Hywel-Jones (1997) [29] đưa ra triển vọng sử dụng các loài thuộc giốngAschersonia như là thiên địch tự nhiên của các loài côn trùng thuộc họAleyrodiidae và Coccoidea
Trang 36Các nghiên cứu của Sengonca C., Thungrabeab M., Blaeser P., (2007) [36] cho
thấy, loài Cordyceps sp có khả năng trong kiểm soát sinh học phòng trừ sâu non của
Frankliniella occidentalis (Pergande) (Thysanoptera: Thripidae).
Các nghiên cứu của Phạm Thị
Thuỳ và nnk, 2005 [1] cho thấy, có thể
sử dụng loài Beauveria bassiana (Bals.)
Vuill phòng trừ sâu róm hại thông ở các
tỉnh phía Bắc Việt Nam Ngoài ra, có thể
sử dụng loài nấm ký Hình 3.2 Nấm Beauveria bassiana ký
sinh trên cánh cứngsinh côn trùng này để phòng trừ cho nhiều loài sâu hại cây trồng nguy hiểm khác nhưchâu chấu hại lá (Ouedraogo RM 1993), rệp hại lúa, rầy nâu hại lúa…
Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Lộc
và cộng sự (2004) cho thấy, loài
Metarhizium anisopliae (Metschnikoff)
Sorokin có thể sử dụng để phòng trừ bộ
cánh cứng hại dừa ở các tỉnh miền Nam
Việt Nam Mặt khác, các nghiên cứu của Hình 3.3 Nấm Metarhizium
anisopliae
Phạm Thị Thùy và nnk., 1995 [9]; Nguyễn Văn Cảm, 1994 [7]; Trịnh
Văn Hạnh và cộng sự, 2005 [18]; Thungrabeab et al., 2006 [31] cho thấy, có thể sử dụng M anisopliae để phòng trừ sâu hại rau, sâu hại hành Thrips
tabaci Lindeman (Thys., Thripidae), châu chấu, mối nhà và nhiều loài sâu hại
cây trồng nguy hiểm khác Ngoài ra, các nghiên cứu của Entz S C et al.,
2006 [25] cho thấy loài M anisopliae (Metschnikoff) Sorokin sử dụng để
phòng trừ châu chấu một cách có hiệu quả trong vòng 7 ngày sau khi xử lý chếphẩm từ loài nấm này