Việc ứng dụng nấm ký sinh vào phòng trừsâu hại kho với nhiều ưu việt như an toàn cho con người, môi trường, bảo đảmtính bền vững… Nghiên cứu góp phần làm cơ sở dẫn liệu cho việc xây dựng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực vàchưa từng được sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp
đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Thu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo PGS TS Trần NgọcLân Thầy đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để chỉ dẫn, dìu dắt tôi trongsuốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài này, đã truyền chotôi niềm đam mê, sự hăng say được làm nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ kỹthuật Chi cục Kiểm dịch thực vật Vùng VI - Nghệ An đã tạo mọi điều kiện về thờigian cũng như sự giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này.Xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo khoa Nông Lâm Ngư,Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và có những chỉ bảo, góp ý sâusắc trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Và tôi xin được chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè
đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thànhluận văn này
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5Mục lục iiiDanh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt vii
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài nghiên cứu 3
3 Phạm vi, đối tượng và nội dung nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiệt hại của nông sản trong kho 151.2.2 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt hại kho 171.2.3 Nghiên cứu về sử dụng nấm ký sinh côn trùng phòng trừ sâu mọt
hại kho
20
1.3.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản 231.3.2 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu hại kho 251.3.3 Nghiên cứu về sử dụng nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ sâu
hại nông nghiệp
27
1.4 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà đề tài luận văn
tập trung nghiên cứu
29
1.4.2 Những vấn đề mà đề tài tập trung nghiên cứu 29
Chương II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 312.3.1 Điều tra thành phần sâu mọt hại kho bảo quản các loại nông sản 312.3.2 Xác định một số loài thiên địch của sâu mọt hại kho nông sản 322.3.3 Phân lập và nuôi cấy các loài nấm ký sinh côn trùng để sử dụng
trong phòng trừ
33
2.3.4 Thí nghiệm đánh giá khả năng phòng trừ một số loài sâu mọt hại
kho nông sản của một số chế phẩm EPF
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NKSCT: Nấm ký sinh côn trùng
KSCT: Ký sinh côn trùng
IPM: Quản lý dịch hại tổng hợp
Trang 8DANH MỤC HÌNH
TrangHình 1.1 Mọt gạo Sitophilus oryzae L. 6Hình 1.2 Triệu chứng gây hại của S oryzae 6Hình 1.3 Mọt gạo Sitophilus zeamais M. 6Hình 1.4 Triệu chứng gây hại của S zeamais 6Hình 1.5 Mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus P. 6Hình 1.6 Triệu chứng gây hại của A diaperinus 6Hình 1.7 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum H. 6Hình 1.8 Triệu chứng gây hại của T castaneum 6Hình 1.9 Chu trình phát triển của bào tử nấm ký sinh trong cơ thể ký chủ 12Hình 1.10 Cơ chế xâm nhiễm của nấm ký sinh côn trùng 13Hình 1.11 Cấu trúc của paeciloxazine được chiết xuất từ nấm Paecilomyces sp. 14
Hình 3.4 B bassiana trên môi trường PDA 51Hình 3.5 B amorpha trên môi trường PDA 51
Hình 3.7 Paecilomyces sp1 trên môi trường cấp 2 (sau cấy 2 ngày và 10 ngày) 51Hình 3.8 Paecilomyces sp1 trên môi trường cấp 2 sau cấy 20 ngày 51Hình 3.9 B amorpha trên môi trường cấp 3 (sau cấy 7 và 14 ngày) 51Hình 3.10 Nhân sinh khối nấm trong tủ nuôi cấy 51Hình 3.11 Hoạt hoá gia công chế phẩm nấm 51
Hình 3.16 S oryzae bị chết bởi nấm B bassiana 54
Hình 3.17 S oryzae bị chết bởi nấm B amorpha 54
Hình 3.18 Tỷ lệ S zeamais chết theo thời gian sau khi xử lý với dịch bào tử nấm B.
Trang 9Hình 3.20 So sánh hiệu lực diệt mọt S zeamais của B amorpha và B bassiana
(B: B amorpha (3,8 x 107 bt/ml); D: B bassiana (3,8 x 107 bt/ml))
57
Hình 3.21 S zeamais bị chết bởi nấm B bassiana 59Hình 3.22 S zeamais bị chết bởi nấm B amorpha 59Hình 3.23 T castaneum bị chết bởi nấm B amorpha 59Hình 3.24 T castaneum bị chết bởi nấm B bassiana 59Hình 3.25 Tỷ lệ T castaneum chết theo thời gian sau khi xử lý với dịch bào tử
Hình 3.31 Tỷ lệ S oryzae chết sau các ngày xử lý với chế phẩm B amorpha ở
nồng độ 1,2 x 108 (bào tử/g); liều lượng: A 2,0g; B 3,0g
67
Hình 3.32 Tỷ lệ S oryzae chết sau các ngày xử lý với chế phẩm B bassiana ở
nồng độ 1,2 x 108 (bào tử/g); liều lượng: A 2,0g; B 3,0g
67
Hình 3.33 Tỷ lệ S oryzae chết sau các ngày xử lý với chế phẩm Paecilomyces
sp1 ở nồng độ 8,6 x 108 (bào tử/g); liều lượng: A 2,0g; B 3,0g
67
Hình 3.34 So sánh ở liều lượng 3,0g của 3 chế phẩm nấm có hiệu lực tiêu diệt S.
oryzae cao nhất: A B amorpha (1,2 x 108 bt/g); B B bassiana (1,2 x
108 bt/g); C Paecilomyces sp1 (8,6 x 108 bt/g)
67
Hình 3.35 S oryzae nhiễm nấm B amorpha 69
Hình 3.36 S oryzae nhiễm nấm Paecilomyces sp1. 69
Hình 3.37 S.zeamais nhiễm nấm B amorpha 69
Hình 3.38 S zeamais nhiễm nấm Paecilomyces sp1. 69
Trang 10Hình 3.39 Tỷ lệ S zeamais chết theo thời gian sau khi xử lý với chế phẩm
nấm B amorpha ở nồng độ 1,2 x 108 (bào tử/g) với các liềulượng khác nhau: A 2,0g; B 3,0g
70
Hình 3.40 Tỷ lệ S zeamais chết theo thời gian sau khi xử lý với chế phẩm
nấmB bassiana ở nồng độ 1,2 x 108 (bào tử/g) với các liều lượngkhác nhau: A 2,0g; B 3,0g
71
Hình 3.41 Tỷ lệ S zeamais chết theo thời gian sau khi xử lý với chế phẩm nấm
Paecilomyces sp1 ở nồng độ 8,6 x 108 (bào tử/g) với các liều lượng khácnhau: A 2,0g; B 3,0g
72
Hình 3.42 So sánh ở liều lượng 3,0g của 3 chế phẩm nấm có hiệu lực tiêu diệt S zeamais
cao nhất: A B amorpha (1,2 x 108 bt/g); B B bassiana (1,2 x 108 bt/g); C
Paecilomyces sp1 (8,6 x 108 bt/g)
72
Hình 3.43 Tỷ lệ T castaneum chết sau các ngày xử lý với chế phẩm B bassiana ở
nồng độ 1,2 x 108 (bào tử/g); liều lượng: A 2,0g; B 3,0g
75
Hình 3.44 Tỷ lệ T castaneum chết sau các ngày xử lý với chế phẩm B amorpha ở
nồng độ 1,2 x 108 (bào tử/g); liều lượng: A 2,0g; B 3,0g
75
Hình 3.45 Tỷ lệ T castaneum chết sau các ngày xử lý với chế phẩm Paecilomyces
sp1 ở nồng độ 8,6 x 108 (bào tử/g); liều lượng: A 2,0g; B 3,0g
75
Hình 3.46 So sánh ở liều lượng 3,0g của 3 chế phẩm nấm có hiệu lực tiêu diệt
T castaneum cao nhất: A B amorpha (1,2 x 108 bt/g); B B.
bassiana (1,2 x 108 bt/g); C Paecilomyces sp1 (8,6 x 108 bt/g)
75
Hình 3.47 T castaneum bị nhiễm nấm Paecilomyces sp1. 77
Hình 3.48 T castaneum bị nhiễm nấm B bassiana 77
Hình 3.49 A diaperinus bị nhiễm nấm B bassiana 77
Hình 3.50 A diaperinus bị nhiễm nấm Paecilomyces sp1. 77
Hình 3.51 Tỷ lệ A diaperinus chết theo thời gian sau khi xử lý với chế phẩm
nấm B bassiana ở nồng độ 1,2 x 108 (bào tử/g) với các liềulượng khác nhau: A 2,0g; B 3,0g
78
Hình 3.52 Tỷ lệ A diaperinus chết theo thời gian sau khi xử lý với chế
phẩm nấm B amorpha ở nồng độ 1,2 x 108 (bào tử/g) với cácliều lượng khác nhau: C 2,0g; D 3,0g
79
Trang 11Hình 3.53 Tỷ lệ A diaperinus chết theo thời gian sau khi xử lý với chế
phẩm nấm Paecilomyces sp1 ở nồng độ 8,6 x 108 (bào tử/g)với các liều lượng khác nhau: A 2,0g; B 3,0g
79
Hình 3.54 So sánh ở liều lượng 3,0g của 3 chế phẩm nấm có hiệu lực tiêu diệt
A diaperinus cao nhất: A B amorpha (1,2 x 108 bt/g); B B.
bassiana (1,2 x 108 bt/g); C Paecilomyces sp1 (8,6 x 108 bt/g)
80
Trang 12DANH MỤC BẢNG
TrangBảng 3.1 Thành phần sâu mọt hại kho bảo quản nông sản ở TP Vinh 39Bảng 3.2 Mức độ phổ biến của các loài sâu mọt trong các loại hình
nông sản bảo quản tại TP Vinh
Bảng 3.5 Tỷ lệ mọt gạo S oryzae bị chết theo thời gian sau khi xử lý
dịch bào tử nấm của hai loài B amorpha, B bassiana
55
Bảng 3.6 Tỷ lệ mọt ngô S zeamais bị chết theo thời gian sau khi xử lý
dịch bào tử nấm của hai loài B amorpha, B bassiana
58
Bảng 3.7 Tỷ lệ mọt thóc đỏ T castaneum bị chết theo thời gian sau khi xử lý
dịch bào tử nấm của hai loài B amorpha, B bassiana
62
Bảng 3.8 Tỷ lệ mọt khuẩn đen A diaperinus bị chết theo thời gian sau khi
xử lý dịch bào tử nấm của hai loài B amorpha, B bassiana
65
Bảng 3.9 Tỷ lệ mọt gạo S oryzae bị chết theo thời gian sau khi xử lý 3 chế
phẩm nấm B amorpha, B bassiana và Paecilomyces sp1
68
Bảng 3.10 Tỷ lệ mọt ngô S zeamais bị chết theo thời gian sau khi xử lý 3
chế phẩm nấm B amorpha, B bassiana và Paecilomyces sp1
73
Bảng 3.11 Tỷ lệ mọt thóc đỏ T castaneum bị chết theo thời gian sau khi xử lý 3
chế phẩm nấm B amorpha, B bassiana và Paecilomyces sp1.
76
Bảng 3.12 Tỷ lệ mọt khuẩn đen A diaperinus bị chết theo thời gian sau
khi xử lý 3 chế phẩm nấm B amorpha, B bassiana và
Trang 13Sâu mọt là những loài gây hại nghiêm trọng trong các kho bảo quản, dự trữnông sản Tổn thất mà chúng gây ra rất to lớn mà không thể bù đắp được.
Việt Nam là nước nhiệt đới ẩm, là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sâu mọtsinh trưởng và phát triển Nghiên cứu của Hill D S năm 1983 [33] đã thu thập vàxác định đươc 38 loài côn trùng hại sản phẩm trong kho vùng nhiệt đới
Việt Nam cũng là nước sản xuất nông nghiệp, hàng năm lúa gạo và cà phêxuất khẩu đứng thứ 2 trên thế giới bởi vậy mà hàng hoá dự trữ trong kho rất lớn.Theo Tổng cục thống kê (2007) thì sản lượng lúa gạo ở nước ta đứng thứ 5 trênthế giới
Tổn thất nông sản do sâu mọt gây ra chiếm một phần đáng kể trong tổng sốlương thực dự trữ Tổ chức FAO (1999) thống kê được hàng năm trên thế giớimức tổn thất về lương thực trong bảo quản trung bình là 6 - 10% Theo đánh giácủa Lê Doãn Biên (1995) [9] thì ở Việt Nam thiệt hại do côn trùng gây ra cho ngũcốc bảo quản trong kho là 10%, riêng ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng 18%(bộ môn Nghiên cứu côn trùng, Tổng Cục lương thực Việt Nam)
Thiệt hại do sâu hại kho gây ra là rất lớn về nhiều mặt: Nó làm giảm sốlượng sản phẩm, chất lượng, giá trị thương phẩm như làm giảm protein, lipit,vitamin biến tính, màu sắc không bình thường, hàng hoá bị biến chất, gây thiệt hạilớn về kinh tế Làm nhiễm bẩn hoặc nhiễm độc nông phẩm, do đó làm ảnh hưởngđến sức khoẻ người tiêu dùng hoặc trực tiếp truyền bệnh cho người và cả gia súc.Con người phải thêm chi phí khắc phục hậu quả Ngoài ra còn mất uy tín hàng hoátrên thương trường và đặc biệt là mất mát hạt giống cho mùa vụ sau
Hai loài mọt gạo Sitophilus oryzae L và mọt đục hạt nhỏ Rhyzopertha
dominica Fab phân bố trên toàn thế giới Cambell và Sinla (1976) đã quan sát ở
điều kiện thuận lợi, sâu hoàn thành hết vòng đời thì mọt gạo gây thiệt hại 60% vàmọt đục hạt 70% trọng lượng hạt (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [1]
Ở Việt Nam, hiện nay đều tập trung vào biện pháp xử lý sâu mọt hại kho bằngthuốc hoá học, chủ yếu là thuốc xông hơi như Phosphine, Sumithion, DDVP, Mặc
dù hiệu quả nhanh, chi phí thấp nhưng kết quả để lại đó là gây ô nhiễm môi trường,
Trang 14để lại dư lượng trong nông sản, gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người và hìnhthành nên nhiều dòng kháng thuốc trừ sâu (Bùi Công Hiển, 1995) [1]
Xu hướng hiện nay là sử dụng biện pháp IPM và IPM-B trong phòng trừ sâuhại nông nghiệp Một trong những biện pháp phòng trừ sâu mọt đang được nhiềungười quan tâm bởi tính ưu việt của nó là biện pháp sinh học như sử dụng thiênđịch (bắt mồi, ký sinh) Việc ứng dụng nấm ký sinh côn trùng vào phòng trừ sâumọt hại kho là một hướng đi mới và đầy triển vọng đã được nghiên cứu và ứngdụng ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, người ta đã ứng dụng NKSCT vàotrong phòng trừ sâu hại cây trồng, còn đối với sâu hại kho tàng thì chưa được quantâm nghiên cứu
Nấm ký sinh côn trùng là hướng nghiên cứu còn rất mới ở Việt Nam vàcũng chưa được quan tâm đúng mức Việc ứng dụng nấm ký sinh vào phòng trừsâu hại kho với nhiều ưu việt như an toàn cho con người, môi trường, bảo đảmtính bền vững… Nghiên cứu góp phần làm cơ sở dẫn liệu cho việc xây dựng và ápdụng quy trình sử dụng chế phẩm sinh học mà cụ thể là chế phẩm từ nấm ký sinhcôn trùng để phòng trừ sâu mọt hại kho
Đồng thời nghiên cứu thường xuyên về thành phần sâu hại kho để kịp thờingăn chặn tránh hiện tượng bùng phát thành dịch và tìm hiểu về thành phần thiênđịch của sâu hại trong kho nhằm đề xuất các biện pháp thích hợp trong phòng trừsinh học đối với sâu hại nông sản trong kho
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết này, góp phần phục vụ công tác phòngtrừ sâu mọt hại kho theo hướng bền vững sinh học, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Hiệu lực phòng trừ sâu mọt hại kho nông sản của một số chế phẩm nấm ký sinh côn trùng”.
Trang 152 Mục đích, yêu cầu của đề tài nghiên cứu
2.1 Mục đích của đề tài nghiên cứu
- Xác định thành phần sâu mọt hại kho nông sản để nắm bắt được đối tượnggây hại kho chủ yếu
- Xây dựng biện pháp sinh học phòng trừ sâu mọt hại kho bằng sử dụng nấm
ký sinh côn trùng
- Xác định mức nồng độ và trạng thái tốt nhất của nấm có thể lây nhiễm sâuhại đạt hiệu quả cao
2.2 Yêu cầu của đề tài nghiên cứu
- Thu thập và xác định thành phần sâu mọt hại kho lương thực, kho thức ăngia súc tại Thành phố Vinh - Nghệ An
- Điều tra biến động mật độ sâu mọt hại kho tại một số kho nông sản và khothức ăn gia súc
- Thử nghiệm hiệu lực của các loài nấm ký sinh côn trùng lên một số loài sâumọt hại kho chủ yếu
3 Phạm vi, đối tượng và nội dung nghiên cứu
số loại sâu gây hại phổ biến trong kho
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các loài sâu mọt hại kho nông sản, có 4 loài gây hại chủ
yếu: Mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus; mọt ngô Sitophilus zeamais Motschulsky; mọt thóc đỏ Tribolium castaneum Herbst; mọt khuẩn đen
Alphitobius diaperinus Panzer.
Trang 16- Nghiên cứu một số loài nấm ký sinh côn trùng Beauveria bassiana (Balsamo) Vuillemin, Beauveria amorpha (Hohnel) Samson & H C Evans,
Paecilomyces sp1 và hiệu lực phòng trừ của chúng đối với sâu hại kho.
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần sâu mọt hại kho chủ yếu trong các kho nông sản vàthức ăn gia súc tại Thành phố Vinh năm 2008
- Nghiên cứu mức độ biến động số lượng của sâu hại trong các kho nông sản
và thức ăn gia súc tại Thành phố Vinh năm 2008
- Nghiên cứu hiệu lực phòng trừ một số loài sâu mọt hại kho chủ yếu bằngnấm ký sinh
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Những kết quả nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiên địch trong cáckho nông sản, góp phần bổ sung vào danh mục thành phần sâu mọt hại kho đãcông bố ở nước ta
- Đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại kho bằng biện pháp sinh học đặc biệt
xử lý kịp thời…
- Kết quả bước đầu thử nghiệm phòng trừ các loài sâu hại kho bằng nấm kýsinh côn trùng, góp phần xây dựng biện pháp phòng chống sâu mọt hại kho bằngcác biện pháp sinh học bền vững, không gây ô nhiễm môi trường và không gâyđộc hại cho con người và các loài động vật khác
Trang 17CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Côn trùng gây hại nông sản sau thu hoạch
1.1.1.1 Mọt gạo Sitophilus oryzae L (Coleoptera: Curculionidae)
Mọt gạo thường phát triển mạnh trong gạo, ngô, thóc, nhưng cũng thường cómặt ở các ngũ cốc khác Kích thước cơ thể: 2,3 - 3,5mm Mặt lưng màu nâu đếnnâu đen, không bóng, trên góc mỗi cánh trước có 2 điểm màu đỏ (hình bánnguyệt), đôi khi không rõ Tấm lưng ngực trước có những lỗ chấm tròn nông, sắpxếp có quy luật Trên cánh cứng có 4 đốm vàng Cánh màng phát triển
Sâu non: Màu trắng, đầu màu nâu cong hình chữ C, không có chân
Đặc tính sinh học: Mọt bay khoẻ Sâu non, nhộng phát triển trong hạt Điềukiện thích hợp ở nhiệt độ 28 - 300C, ẩm độ 75 - 90%, thuỷ phần hạt từ 13 - 17%mọt phát triển vòng đời là 31 - 37 ngày
1.1.1.2 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum H (Coleoptera: Tenebrionidae)
Mọt trưởng thành: Dài 3 - 3,5 mm, rộng 1 - 1,2 mm màu nâu đỏ Râu chuỗihạt 11 đốt, 3 đốt ngoài hình chùy rõ ràng Mắt kép màu đen, to Nhìn mặt bụng sẽthấy khoảng cách 2 mắt kép bằng đường kính 1 mắt kép, cánh cứng dài che phủhết bụng, trên cánh có những điểm lõm làm thành hàng dọc
Sâu non: Màu vàng, dài 6 - 7 mm, có 3 đôi chân ngực phát triển Đốt bụng cuốicùng xẻ thành 2 gai nhọn cong lên Trên mặt lưng của mỗi đốt có khoang màu vàng Đặc tính sinh học: Mọt trưởng thành bay khoẻ, sâu non bò từ nơi này đến nơikhác Mọt trưởng thành và sâu non đều ăn, thuộc nhóm côn trùng hại thứ cấp.Trong điều kiện tối thích ở nhiệt độ 350C, ẩm độ tương đối là 100%, thức ăn là bột
mỳ thì vòng đời hết 20 ngày Ở nhiệt độ 300C, ẩm độ dưới 70%, thức ăn bằng bột
mỳ thì vòng đời là 27 ngày
Trang 18H 1.1 Mọt gạo Sitophilus oryzae L H 1.2 Triệu chứng gây hại của S oryzae
H 1.3 Mọt gạo Sitophilus zeamais M H 1.4 Triệu chứng gây hại của S zeamais
H 1.5 Mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus P H 1.6 Triệu chứng gây hại của A diaperinus
H 1.7 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum H H 1.8 Triệu chứng gây hại của T castaneum
Trang 191.1.1.3 Mọt khuẩn đen to Alphitobius diaperinus P (Coleoptera: Tenebrionidae)
Trưởng thành: Thân hình bầu dục, màu đen bóng, kích thước 5 - 7 mm Bờbên của mảnh lưng ngực phía trên cong vào, còn phần sau gần như thẳng Mắt kép
bị bờ bên của đầu che khuất 1/2 - 2/3 mắt, chỉ còn lại 3 - 4 mắt đơn Đốt cháy chântrước rất rộng làm thành gai Đường dọc cánh sâu hơn
Sâu non: Khi đẫy sức dài 11 - 13 mm, hình ống dài màu nâu, có 3 đôi chânngực, đốt bụng cuối cùng nhọn
Đặc điểm sinh học: Mọt trưởng thành và sâu non đều thích sống tập trung ởcác nơi sàn, nền kho ẩm thấp và ăn các loại thực vật ẩm mốc, sản phẩm mục nát.Mọt trưởng thành tự ăn lẫn nhau và có khả năng nhịn đói Ở nhiệt độ 250C, ẩm độ70% chúng sống được 100 ngày và đẻ khoảng 1000 trứng, trong môi trường khôráo sâu non tuổi nhỏ đều chết, sâu non đẫy sức chịu đựng được
1.1.1.4 Mọt ngô Sitophilus zeamais Motschulsky (Coleoptera: Curculionidae)
Hình dạng rất giống mọt gạo Kích thước thường lớn hơn (3,5 - 5mm) Cánhtrước trơn bóng và các điểm đỏ trên cánh khá rõ Các lỗ chấm trên tấm lưng ngựctrước thô và dày ở phía trước Rất khó phân biệt với mọt gạo nếu chỉ dựa vào hìnhthái bên ngoài Do đó việc phân biệt dựa vào hình dạng cơ quan sinh dục đực ởmọt gạo có hình bán nguyệt còn ở mọt ngô có hình 3 góc Bề mặt trên của cơ quansinh dục đực mọt gạo đơn giản không có lông dài còn ở mọt ngô có 2 lông dài.Đầu máng đẻ trứng của con cái mọt gạo có hình chữ Y, còn mọt ngô là hình mócnhọn
Mọt ngô cũng có thể bay được Khả năng sinh trưởng và phát triển của mọtngô tốt nhất là trong ngô hạt, sau đó mới đến thóc gạo và các ngũ cốc khác Mọtchịu lạnh rất tốt
1.1.2 Triệu chứng gây hại của sâu mọt trên nông sản
Mỗi loài sâu mọt sau khi gây hại đều để lại các triệu chứng khác nhau trênvật bị hại Đôi khi những triệu chứng đặc trưng này là dấu hiệu quan trọng nhất đểnhận biết sự hiện diện của loài sâu hại trên nông sản
Trang 20Trong công tác kiểm dịch thực vật, việc nắm vững các đặc điểm nhận biết,phát hiện các đối tượng dịch hại thông qua các triệu chứng gây hại của chúng là rấtquan trọng Thông qua các triệu chứng gây hại này mà cán bộ kiểm dịch thực vật cóđược những nhận định ban đầu đúng đắn, từ đó có thể đưa ra các biện pháp kiểm trasinh vật gây hại tiếp theo để phát hiện đối tượng một cách chính xác
1.1.2.1 Triệu chứng gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum L.
Triệu chứng gây hại của Tribolium castaneum L trưởng thành không rõ ràng Sâu non khi hại trong hạt lạc, không đục thành lỗ như R dominica và các
loài hại nguyên phát khác Chúng cắn nát nhân của các hạt ra giống như loài
Carpophilus dimidiatus Fabr.
Khi ăn sâu non thường không phá hỏng phần vỏ của hạt Chỉ khi nào hạt bịsâu ăn hết mà chúng chưa đẫy sức, thì chúng mới chui sang hạt khác để hại tiếp.Khi đẫy sức sâu non hoá nhộng ngay trong hạt Trong hạt có thể có cả sâu non,nhộng và trưởng thành cùng sống
Loài này thường phát sinh trên các loại hạt để lâu ngày, hoặc trong các kho
để lẫn nhiều sản phẩm khác, đặc biệt là chúng thích các loại sản phẩm vụn, bột,mềm như cám Bởi vậy mà ở trong kho thức ăn gia súc thường tập trung rất nhiềumọt thóc đỏ và trong kho lúa, gạo Khi ăn chúng tiết ra dịch thối làm mềm thức ănthường để lại mùi thối, làm mất giá trị thương phẩm
1.1.2.2 Triệu chứng gây hại của mọt gạo Sitophilus oryzae L.
Trưởng thành có vòi nhọn, khi ăn hại nó dùng vòi đục một lỗ nhỏ Khi đẻtrứng mọt dùng vòi khoét một lỗ sâu vào hạt, rồi đẻ trứng vào những lỗ này, sau
đó tiết ra một thứ dịch nhầy bít kín lỗ đó lại Sâu non nở ra ăn hại ngay trong hạt
và lớn lên, làm hạt chỉ còn lại một lớp vỏ mỏng, nhưng nhìn bên ngoài tưởngchừng như hạt còn nguyên vẹn Khi ăn hại nó thường ăn phôi trước, sau mới đếnnội nhũ và các bộ phận khác
1.1.2.3 Triệu chứng gây hại của mọt ngô Sitophilus zeamais M.
Trưởng thành đục lỗ chui vào trong hạt để ăn, tạo ra một lỗ tròn
Trang 21Lỗ đục của mọt ngô có đường kính khá lớn Miệng lỗ đục tròn, đặc biệt mọt
S zeamais không tạo ra các vết gặm nham nhở trên vỏ hạt Khi ăn mọt thường tạo
ra nhiều bột trắng rơi vãi ra các hạt xung quanh Trưởng thành của loài có khảnăng gây hại rất lớn
Sau khi trưởng thành đẻ trứng vào hạt thì chúng tiết ra dịch nhầy bịt kín lỗ đólại Sâu non thường sống ngay trong hạt Các hạt bị sâu non ăn hại rất khó phát hiện.Sâu non thường đục thành lỗ tròn chạy không theo đường thẳng trong hạt lạc
Khi hạt ngô bị hại nặng sẽ bị rỗng bên trong, ta cầm hạt lên bóp nhẹ chúng sẽ
vỡ nát Sâu non thường hoá nhộng ngay trong hạt bị hại Một hạt nhiều khi có 1 - 4sâu non, nhộng và trưởng thành nằm bên trong
Ở hầu hết các kho đều xuất hiện loại này với mật độ cao và cho thấy mức độgây hại của chúng là rất lớn
1.1.2.4 Triệu chứng gây hại của mọt khuẩn đen Alphitobius diapernus P
Mọt khuẩn đen gây hại lên hạt nông sản không đáng kể nhưng chúng thường
để lại mùi hôi trên nông sản nên làm giảm giá trị thương phẩm rất nhiều
1.1.3 Nấm ký sinh côn trùng
Nấm ký sinh côn trùng (EPF) hay nấm côn trùng là thuật ngữ đề cập vềnhóm sinh vật ký sinh gây bệnh cho côn trùng Theo Evans (1988), nấm ký sinhcôn trùng được chia thành 4 nhóm: (1) Ký sinh trong tức là nấm ký sinh trong cácnội quan, khoang cơ thể của côn trùng ký chủ; (2) Ký sinh ngoài tức là nấm pháttriển trên lớp cuticun vỏ cơ thể của côn trùng và gây nên bệnh hại cho ký chủ; (3)Nấm mọc trên côn trùng tức là những nấm đã được trực tiếp hoặc gián tiếp chứngminh chúng ký sinh trên côn trùng; (4) Cộng sinh có nghĩa là cả nấm và côn trùngcùng mang lại lợi ích cho nhau trong mối quan hệ cùng chung sống
Nấm còn được chia ra thành ký sinh sơ cấp (primery pathogen) và ký sinhthứ cấp (secondery pathogen) (Pu và Li, 1996) Nấm ký sinh sơ cấp thường nhiễmvào ký chủ côn trùng khoẻ mạnh, gây bệnh và sau đó giết chết côn trùng Trongkhi đó, nấm ký sinh thứ cấp chỉ có thể ký sinh trên những côn trùng yếu hoặc bịthương Các mầm bệnh ký sinh trên côn trùng trưởng thành hoặc côn trùng bị bệnh
Trang 22được gọi là ký sinh cơ hội hoặc ký sinh không chuyên tính, loại ký sinh này có thểnhiễm vào ký chủ thông qua sự xâm nhập qua lớp cuticun vỏ cơ thể côn trùng (dẫntheo Trần Ngọc Lân và cs, 2007) [24].
Như vậy nấm ký sinh côn trùng (EPF) được dùng để mô tả hiện tượng kýsinh trên hoặc trong ký chủ côn trùng của nấm Nấm ký sinh côn trùng là mộttrong những tác nhân chính trong phòng trừ sinh học sâu hại
• Đặc điểm của một số giống nấm ký sinh côn trùng
a, Giống Beauveria Vuillemin (Deuteromycota: Hyphomycetes)
Trên vật chủ, hệ sợi nấm mọc lộ xuyên qua lớp vỏ bên ngoài của vật chủ đểhình thành lớp rậm rạp màu trắng bao phủ quanh bề mặt của nó, đôi khi hình thànhdạng synnemata; tế bào phát sinh bào tử đính mọc thành bó rậm rạp hoặc mọcvòng hoặc mọc đơn, không màu, ngắn, hình dạng cơ bản là hình cầu hoặc hìnhchai dẹt và kéo dài ở đỉnh và phân nhánh nhiều lần ở khoảng cách ngắn phía dướicủa mỗi tế bào của một số đỉnh - hình thành bào tử (dạng có răng); bào tử 1 ngăn,trong suốt Cuống tế bào phát sinh bào tử đính luôn luôn có răng Ở phần cổthường kéo dài ra và sản sinh đa bào tử, tế bào phát sinh bào tử đính thường bóchặt hơn các bào tử dạng đơn
b, Giống Paecilomyces Bainier (Deuteromycota: Hyphomycetes)
Cuống bào tử đính thường phát triển nhanh, bó cuống bào tử đính có ở nhiềuloài, có vách, sản sinh ra dạng vòng xoắn ở kỳ phân nhánh và cuống bào tử đính(phialides), màu trong suốt đến có màu (không màu đen, nâu, hoặc màu oliu);cuống bào tử đính dạng chai bẹt hoặc dạng hình cái dùi hoặc hình gần cầu với các
cổ riêng biệt, sinh sản dạng đơn hoặc dạng vòng, bào tử 1 ngăn, trong suốt đến cómàu sáng (bóng của màu vàng xen lẫn màu đỏ, nâu, xanh nhạt hơi pha đỏ, hoặcmàu xanh lá cây), ở chuỗi phân kỳ khô Phialides với các cổ phân biệt, có dạngthuôn dài, bào tử gần như không có dạng hình cầu, màu trắng đến màu sáng, chuỗi
bào tử thường khá dài Bào tử hữu tính của giống Paecilomyces thuộc
Plectomycetes
Trang 231.1.4 Cơ chế tác động của nấm ký sinh côn trùng
Nấm ký sinh có thể làm giảm một cách đột ngột đối với quần thể côn trùng bởichúng có khả năng xâm nhiễm trực tiếp xuyên qua lớp vỏ cơ thể của côn trùng Một
số lượng các bào tử nấm sau khi được phát tán ra khỏi bề mặt của xác con côn trùng
đã bị nhiễm nấm lại tiếp tục một chu trình mới xuyên suốt trong quần thể
Một chu trình trong suốt vòng đời của nấm phải trải qua 6 pha
Pha 1: Tìm ký chủ
Bào tử sau khi phát triển hoàn thiện thì lộ ra khỏi bề mặt của cơ thể vật chủ
đã bị nhiễm nấm Bào tử phát tán ra ngoài môi trường, chờ cơ hội gặp vật chủthích hợp để ký sinh
Pha 2: Xâm nhập ký chủ
Trong điều kiện phù hợp và gặp được vật chủ thích hợp thì bào tử sẽ bámchặt vào lớp vỏ côn trùng để bắt đầu giai đoạn ký sinh
Pha 3: Bào tử nảy mầm
Khi ở trong điều kiện môi trường thích hợp, gặp được vật chủ thì bào tử bắtđầu nảy mầm ngay trên bề mặt lớp vỏ côn trùng
Pha 4: Xâm nhiễm vào cơ thể ký chủ
Sau khi nảy mầm dưới dạng các ống mầm, bào tử dùng đĩa bám của mìnhxâm nhập vào cơ thể côn trùng bằng cách phá vỡ tầng cuticun bên ngoài lớp vỏcôn trùng bằng sự kết hợp giữa sức ép cơ học và tiết các enzym phá vỡ tầng cutin
và phát triển vào bên trong
Pha 5: Sinh trưởng trong ký chủ
Sau khi phá vỡ được lớp vỏ tế bào, các cành sợi nấm phát triển và lan rộngvào cơ thể Sử dụng các chất protein, lipit… trong cơ thể côn trùng biến thành chấtdinh dưỡng nuôi các sợi nấm Nấm dùng tế bào chất của vật chủ làm nguồn thức
ăn, làm cho vật chủ yếu dần và dẫn đến chết Các sợi nấm phát triển mạnh tạothành một mạng lưới bao phủ khắp cơ thể côn trùng
Pha 6: Phát tán bào tử
Trang 24Sau khi đã ăn hết khắp cơ thể côn trùng, lúc này bào tử đã phát triển hoànthiện và được phóng ra bên ngoài, trên bề mặt các sợi nấm Lúc này đã có thể quansát bào tử ở bên ngoài Sau đó bào tử lại được phát tán vào môi trường để tiếp tụcmột chu trình mới.
Hình 1.9 Chu trình phát triển của bào tử nấm ký sinh
trong cơ thể ký chủ(Nguồn: Bruce L Parker, Scott Costa, Margaret Skinner, 2004) [31]
Khi bào tử tiếp xúc với côn trùng để chuẩn bị xâm nhập, cơ thể côn trùng sẽxảy ra một sự kháng cự hay phòng thủ hoặc có một hệ thống miễn dịch để chốnglại sự xâm nhiễm Nếu như các enzym của nấm chiến thắng được sự phòng thủ củacôn trùng thì quá trình xâm nhiễm coi như đã thành công
Pha 4 được xem là quan trọng nhất, để đánh giá sự xâm nhiễm của nấm vào
cơ thể côn trùng Quá trình ở pha 4 diễn ra theo trình tự như sau: Sau khi bào tửnấm nảy mầm dưới dạng các ống mầm và ở cuối có một giác bám dạng đĩa bámchặt vào lớp vỏ côn trùng Lúc này cơ thể côn trùng xảy ra một cơ chế miễn dịch
để kháng cự lại sự xâm nhiễm của nấm Hệ thống miễn dịch của ký chủ côn trùngtiết ra các hợp chất đối kháng như quinine và melanine
Nghiên cứu về các bước xâm nhiễm của nấm ký sinh khi tiếp xúc với cơ thể vậtchủ (Matt B Thomas và Andrew F Read, 2007) [50] được thể hiện trong hình 1.10
Trang 25Hình 1.10 Cơ chế xâm nhiễm của nấm ký sinh côn trùng(Nguồn: Matt B Thomas và Andrew F Read, 2007)
Lớp biểu bì ngoài là hàng rào ngăn cách đầu tiên để nấm có thể xuyên qua.Trong bào tử nấm phải tiết ra các loại enzym để làm sao phá vỡ được tầng cuticunphía bên ngoài của vỏ côn trùng thông qua giác bám Nếu các enzym đó phá vỡđược kết cấu của mô sừng ngoài cùng thì coi như quá trình xâm nhiễm đã thànhcông Sau đó các chân giả xâm nhập qua lớp mô sừng thì vào đến tầng bên tronggồm chứa protein, kitin, lipit và ở đây phát triển thành các sợi nấm và bắt đầu quátrình xâm nhiễm của sợi nấm Sợi nấm ăn vào đến lớp biểu bì và vào tế bào chất
Ở tế bào chất, sợi nấm hình thành nên các blastospore hình thành nên các chất cóhoạt tính sinh học cao và những chất đó có thể là chất gây độc cho côn trùng Đâychính là quá trình sản sinh ra bào tử chồi Sau khi giết chết côn trùng, nấm ký sinhtạo ra các hợp chất có hoạt tính sinh học cao để nấm có thể tiếp tục sinh trưởnghoại sinh Cuối cùng, bên trong cơ thể côn trùng được thay thế bởi sợi nấm Trongđiều kiện môi trường thích hợp, sợi nấm sinh trưởng ra ngoài tạo ra các cấu trúcsinh sản và phát tán các bào tử sang các ký chủ mới Trong điều kiện môi trườngkhông thích hợp, hầu hết các loài nấm KSCT có thể tạo ra dạng bào tử nghỉ như
Trang 26chlamydospore, zygospore và oospore hoặc tạo ra dạng bào tử hữu tính nhưascospore Những dạng bào tử này cho phép nấm qua đông hoặc chống chịu lại vớicác điều kiện bất thuận (Latge et al., 1978; McCoy, 1981 và Pendland, 1982) [34].
Tỷ lệ nảy mầm và xâm nhập vào da của côn trùng cho thấy có sự liên quanvới tính độc của nấm và sự nhảy cảm của vật chủ (Pekrul và Grula, 1979; Fargues,1984) [34] Nghiên cứu này cho thấy sự quan sát ở các pha khác nhau của chutrình lây nhiễm và giải thích rõ hơn tầm quan trọng của việc nắm bắt được đặcđiểm của các pha để lựa chọn chủng nấm thích hợp cho việc sử dụng biện phápphòng trừ sinh học đối với côn trùng
1.1.5 Các chất trong nấm ký sinh có tính độc đối với côn trùng
Nấm ký sinh côn trùng được ứng dụng trong kiểm soát sinh học sở dĩ là dochúng chứa các hợp chất gây độc cho các loài côn trùng khi chúng tiếp xúc và tiếnhành xâm nhập vào cơ thể ký chủ
Nghiên cứu của Kanai Y., Fujimaki T., Kochi S (2004), cho thấy loài
Paecilomyces sp có chất paeciloxazine (hình 2.3) có khả năng sử dụng trong
phòng trừ ấu trùng của sâu tơ (Plutella xylostella).
Hình 1.11 Cấu trúc của paeciloxazine được chiết xuất
từ nấm Paecilomyces sp.
(Nguồn: Kanai Y., Fujimaki T., Kochi S., 2004)
Trang 27Nghiên cứu của Boonphong S et al (2001) cho thấy loài Aschersonia
tubulata có chứa các hợp chất kháng vi khuẩn như 3b Acetoxy 15a và 22
-dihydroxyhopane Nghiên cứu về loài Beauveria cho thấy trong đó có chứa chất có
tính độc là beauverin [31]
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại và thiệt hại của nông sản trong kho
Có thể nói ở đâu có sự dự trữ và lưu giữ hàng hoá, nông sản ở đó xuất hiệncác loài sinh vật gây hại Cũng giống như hầu hết côn trùng gây hại cây trồng, côntrùng hại kho thường phá hại vật chất, chúng sử dụng gấp nhiều lần so với nhu cầuthực tế dinh dưỡng cần cho chúng (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [1] Sự phá hạicủa côn trùng đối với sản phẩm bảo quản thật đa dạng Một số loài trước đây đượccoi là phá hại thứ yếu thì nay đã trở thành hiểm họa Trong nhiều trường hợp, thiệthại có thể là rất lớn và thậm chí là vô giá
Theo thống kê của Matheson và Ross (1941), trên thế giới ước tính cókhoảng 1000000 loài côn trùng, trong đó có 900000 đã biết tên, chiếm 78% trongtổng số 1150000 loài động vật đã biết (dẫn theo Vũ Quốc Trung, 1978) [25].Hill D S (1983) [33] đã thu thập và xác định được 38 loài côn trùng gây hạisản phẩm trong kho vùng nhiệt đới
Bengstong (1997) [29] chỉ rõ các loài côn trùng gây hại kho chủ yếu là
Sitophilus spp., Rhyzopertha dominica, Tribolium castaneum, Sitotroga cerealella
và Ephestia cautella phân bố khắp thế giới và đặc biệt các vùng khí hậu ấm áp,
trong đó 200 loài dịch hại ngũ cốc cất giữ trong kho
Theo Bolin P (2001) [30] kết quả điều tra cơ bản của trường Đại họcOklahoma vào đầu và cuối thập kỷ 80, chỉ ra các loại côn trùng chiếm ưu thế gây
hại kho là Rhyzopertha dominica, Cryptolestes spp., mọt bột đỏ Tribolium
castaneum và ngài Ấn Độ.
Việc thay đổi kỹ thuật bảo quản nông sản sau thu hoạch, nguồn thức ăn củacôn trùng hại kho, các điều kiện sinh thái cũng có nhiều thay đổi, do vậy thànhphần, mật độ các loài côn trùng cũng luôn có sự biến đổi Cho đến nay việc nghiên
Trang 28cứu thành phần côn trùng gây hại trong kho nông sản vẫn đang được nhiều nhàkhoa học trên thế giới quan tâm.
Từ những thiệt hại to lớn đó mà đã có nhiều công trình nghiên cứu để đưa racác biện pháp phòng trừ
Năm 1868 người ta chở từ Mỹ sang Anh 145 tấn ngô, sau một năm bảo quảnrây ra được 13 tấn mọt gạo
Tổ chức FAO đánh giá thiệt hại trong kho tàng hàng năm trên thế giớikhoảng 10% số lượng hạt bảo quản, nghĩa là tách ra được 13 triệu tấn lúa gạo mất
đi do sâu mọt hại kho, hoặc 100 triệu tấn mất đi do bảo quản kém (Wolpert, 1967).Tổn thất ở vùng nhiệt đới cao hơn rất nhiều so với vùng ôn đới (dẫn theo Bùi CôngHiển, 1995) [1]
Theo Semple (1985 - 1989) [39] qua nghiên cứu ở Indonesia và một số nướcĐông Nam Á cho biết thiệt hại do sâu mọt hại từ 10 - 20% chủ yếu trên sản phẩmbảo quản cất giữ trong kho như ngô, thóc
Lam My - Yen (1993) [41]đã cho biết tổn thất sau thu hoạch đối với gạo cấtgiữ trong kho ở châu Á khoảng 2 - 6%
Tổn thất sau thu hoạch đối với thóc và gạo tại một số nước châu Á nhưMalaysia là 17%, Nhật Bản là 5% và Ấn Độ là 11 triệu tấn/năm
Ngoài gây tác hại trực tiếp đến nông sản phẩm sâu mọt hại kho còn làm giảmphẩm chất nông sản do tạo điều kiện thuận lợi cho các loại nấm mốc phát sinh gâyhại, các chất thải và bài tiết côn trùng có thể làm nông sản trở thành yếu tố quantrọng làm phát triển việc sản sinh ra Mycotoxin bởi vì chúng có thể tiếp nhận,mang và vận chuyển các vi sinh vật Ragunathan và cộng sự (1974) đã nghiên cứu
về mối quan hệ giữa nấm trong kho với mọt gạo nhận thấy chỉ có giai đoạn trứng
là không nhìn thấy nấm còn đều phát hiện thấy nấm Aspergillus ochnacerus,
Aspergillus flavus và các nấm khác ở giai đoạn ấu trùng, nhộng và trưởng thành,
đặc biệt trong phân của chúng có rất nhiều bào tử nấm (dẫn theo Bùi Công Hiển,1995) [1]
Trang 29Ngoài các nghiên cứu về thành phần sâu hại kho, công trình nghiên cứu vềmức độ tổn thất, còn có những nghiên cứu về đặc tính sinh học của sâu hại kho.Prakash (1984) [34] đã mô tả khá chi tiết các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh
học và sự phân bố của loài mọt đục hạt nhỏ Rhyzopertha dominica (F.) Howe
(1952) đã làm thí nghiệm và thấy rằng tốc độ đẻ trứng của mọt gạo ở 170C, 210C
và 250C tăng lên cùng ẩm độ Nghiên cứu, tìm hiểu và xác định ngưỡng nhiệt độ,
ẩm độ tối ưu cho côn trùng hại thóc gạo bảo quản có các tác giả Boldt (1974), Cox(1981), Germano (1982), Prakash và Rad (1985)…
1.2.2 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt hại kho
Ngày nay, những hiểu biết của chúng ta về các biện pháp hay các phươngpháp phòng trừ côn trùng gây hại nói chung và côn trùng hại kho nói riêng thậtphong phú Về nguyên tắc có thể nói rằng các biện pháp phòng trừ được ứng dụng
để phòng chống côn trùng nói chung cũng có thể sử dụng để phòng trừ côn trùnghại kho (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [1]
Do đặc trưng của hệ sinh thái kho, nên chỉ có thể khai thác một số tiềm năngcủa phòng trừ sinh học
Arbogast (1984) [34] đã trình bày tổng quát hiện trạng sử dụng và viễn cảnhcủa phòng trừ sinh học đối với côn trùng hại kho, rồi kết luận rằng mặc dù giá trịtiềm năng của biện pháp phòng trừ sinh học được thừa nhận là rất lớn, nhưng vềmặt kỹ thuật đang còn mới phôi thai
Nakakita và cs (1991) [44] đã tìm thấy 3 loài ký sinh là Chaetospila elegans,
Proconura sp và Bracon hebetor và 4 loài ăn thịt gồm kiến (có 4 - 5 loài phổ
biến), Xylocoris flavipes, Scenopinus fenestralis và bò cạp giả Chelifer sp cùng
sinh tồn với các côn trùng hại kho ở Thái Lan Ngoài ra tác giả còn lưu ý loài thạchsùng luôn có mặt trong kho và chúng sinh sống bằng việc săn bắt các côn trùng bòđậu trên tường kho, trần kho
Kết quả nghiên cứu của J H Brower và cs (1996) [34] đã cho biết loài bọ xít
bắt mồi Xylocoris flavipes Reuter có khả năng tấn công 16 loài côn trùng hại kho
thuộc bộ Coleoptera và Lepidoptera Đặc biệt loài bọ xít bắt mồi nàu có khả năng
Trang 30tấn công ở tất cả các pha của mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst (Lecato,
1976)
Taro Imamura, Mika Murata và Akihiro Miyanoshita (2007) [49] đã nghiêncứu khả năng bắt mồi ăn thịt của các loài thuộc bộ Hemiptera đối với các loài côntrùng hại kho
Các nghiên cứu về sử dụng các loài thiên địch (bắt mồi ăn thịt và ký sinh)được nhiều nhà khoa học quan tâm (Brower, 1983; Keever et al., 1985; Cline etal., 1986; Awadallah và Afifi, 1990; Wen và Brower, 1994; Donnelly và Philips,2001; Nishi và Takahashi, 2002) Tác giả Akinori Nishi và cs (2003) [49] đã
nghiên cứu về khả năng bắt mồi ăn thịt của loài Ambophilus venator (Klug) bộ Hemiptera đối với loài Tribolium confusum Jacquelin gây hại kho nông sản.
Côn trùng thuộc các bộ Coleoptera, Heteroptera và Hymenoptera được thừanhận là có khả năng tấn công vào côn trùng hại kho và là yếu tố trong phòng trừsinh học
Nghiên cứu của Bare (1942) đã phát hiện một số mò mạt (Acarina) có thể ănthịt côn trùng và mò mạt khác trong kho
Kent-Jones và Amos (1957) đã nhận xét ong ký sinh có giá trị hạn chế sự
phát triển của các loài thuộc giống Tribolium.
Cho đến nay người ta đã được biết có một số vi khuẩn, nấm và nguyên sinhđộng vật có thể xâm nhập vào cơ thể côn trùng rồi lây nhiễm bệnh, gây dịch bệnhchết hàng loạt
Mc Gaughey (1980) [33] đã thông báo việc xử lý trên bề mặt hạt, khoảng 10
cm với một lượng nhỏ chế phẩm Bacillus thuringiensis, đã hạn chế khoảng 81% quần thể ngài thóc Ấn Độ (Plodia interpunctella) và ngài bột điểm (Ephestia
cautella), kết quả hạn chế tới hơn 92%.
Sukprakarn (1990) [47] có thông báo đã sử dụng Bacillus thuringiensis để phòng trừ ngài gạo (Corcyra cephalonica) trong kho bảo quản gạo ở Thái Lan.
Việc tạo ra các dòng kháng chống lại được sự tấn công của côn trùng là mộtmặt rất quan trọng của phòng trừ sinh học Như dạng mày ngô dày sẽ hạn chế sự
Trang 31tấn công của mọt và ngài ăn hạt; các hạt bị dập vỡ hay vỏ trấu bị xây xát dễ bị xâmnhiễm hơn so với hạt nguyên vẹn; một số hạt có chứa chất hoá học kháng sinh đãkhước từ được sự tồn tại của côn trùng…
Dgobie (1975)[34] đã thí nghiệm giữa loài mọt ngô (Sitophilus zeamais) với
một số chúng loại ngô khác nhau nhận xét thấy ban đầu số lượng trứng được đẻgần tương đương nhau, nhưng việc để kháng lại thể hiện ở việc sống sót của ấutrùng để sau này thành trưởng thành Do vậy, dòng ngô lai Kenia H622 có sức đềkháng kém hơn ngô vàng Kenia tới 3 lần và thời gian vòng đời của mọt cũngnhanh hơn 14%
Trong đó biện pháp bức xạ ion hoá được ứng dụng khá nhiều Người ta đã sửdụng tia bức xạ gamma, gia tốc điện từ, hạt bêta (Robertsin, 1974) và nơtron(Hooper, 1971; Smittle và cs, 1971) để giết chết côn trùng hoặc làm chúng bất thụ
hoặc suy nhược Nhìn chung ở liều chiếu xạ 0,5 kGy đã đủ gây bất thụ các loài ngài Lepidoptera và chỉ ở mức 0,25 kGy đã gây bất thụ các loài cánh cứng Coleoptera Loaharanu và cs (1972) nhận thấy liều 1,7 kGy đối với ngài Corcyra
cephalonica đã cho kết quả LD 99, còn theo Cogburn và cs (1973), ấu trùng ngài Ephestia cautella chỉ sống đến 4 tuần sau khi bị chiếu tia gamma với liều 1 kGy
(dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [1]
Kết quả của La Hue (1977) [41] nghiên cứu thì cho thấy bột điatomit rất cóhiệu quả, khi trộn lẫn vào lúa mì với tỷ lệ 1785 g/tấn đã ngăn chặn được sự phát
triển của một loạt các loài mọt gây hại phổ biến như Cryptolestes pusillus,
Sitophilus oryzae, Sitophilus granarius, Rhyzopertha dominica, Oryzaephilus surinamensis, Trogoderma parabile, Tribolium castaneum và Tribolium confusum.
Hiện nay biện pháp phòng trừ hóa học được xem là ứng dụng rộng rãi nhất
do hiệu lực tác động nhanh và tương đối dễ sử dụng
Golod và Webley (1980) [33] đã thống kê được một số loài cây được dùng
để chiết xuất ra các loại thuốc trừ sâu thảo mộc như cây xoan Ấn Độ (Azadirachta
indica), cỏ mật (Acorus calamus), cây ruốc cá (Derris spp.), cây thuốc lá…