1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện thanh trì, thành phố hà nội

126 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 5,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế việc sản xuất rau an toàn của hộ, đề tài đề xuất một số giải pháp như sau: 1 Hoàn thiện về cấp giấy phép sản xuất kinh doanh đảm bảo vệ sinh an toàn t

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN BÍCH LIÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH RAU TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tất Thắng

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và hình ảnh trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Bích Liên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc TS Nguyễn Tất Thắng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

UBND huyện Thanh Trì, UBND các xã Yên Mỹ; Lĩnh Nam; Duyên Hà đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Thanh Trì, UBND các xã Yên Mỹ; Lĩnh Nam; Duyên Hà đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Bích Liên

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Trích yếu luận văn xi

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục sơ đồ x

Danh mục hình x

Danh mục hộp x

Trích yếu luận văn xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Những đóng góp mới của luận văn về lý luận và thực tiễn 3

1.4.1 Về lý luận 3

1.4.2 Về thực tiễn 4

1.5 Kết cấu nội dung luận văn 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 5

2.1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 5

2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Vai trò của quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau 10

2.1.3 Trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 12

2.1.4 Yêu cầu quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 15

2.1.5 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau 16

2.1.6 Nội dung quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 20

Trang 5

2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm trong

sản xuất kinh doanh rau 24

2.2 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 27

2.2.1 Các văn bản liên quan 27

2.2.2 Kinh nghiệm một số nước trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới 28

2.2.3 Kinh nghiệm một số tỉnh trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam 33

2.2.4 Bài học rút ra kinh nghiệm 36

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 37

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 38

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40

3.2 Phương pháp nghiên cứu 43

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 43

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 45

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 46

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47

4.1 Khái quát hệ thống tổ chức, công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, các quy định sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì 47

4.1.1 Khái quát về hệ thống quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì 47

4.1.2 Khái quát về sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì qua 3 năm 2014-2016 49

4.2 Thực trạng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì 50

4.2.1 Xây dựng, lập kế hoạch vệ sinh an toàn thực phẩm 50

4.2.2 Công tác tổ chức quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 52

4.2.3 Thực hiện quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 54

4.2.4 Thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm 67

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì 73

4.3.1 Các cơ chế, chính sách trong quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 73

Trang 6

4.3.2 Trình độ của cán bộ quản lý 75

4.3.3 Nhận thức của người dân 78

4.3.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 79

4.3.5 Sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý 80

4.3.6 Phân tích thuận lợi, khó khăn của huyện Thanh Trì trong thực hiện công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau thời gian qua 80

4.4 Các giải pháp trong công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa bàn 83

4.4.1 Định hướng trong công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 83

4.4.2 Giải pháp quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì 84

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 93

5.1 Kết luận 93

5.2 Kiến nghị 94

Tài liệu tham khảo 96

Phụ lục 98

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm về chế độ nhiệt, ẩm độ ở huyện Thanh Trì 39 Bảng 3.2 Tình hình sử dụng đất phân theo xã năm 2016 40 Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động năm 2016 41 Bảng 3.4 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Thanh Trì qua các năm

(2015 - 2016) 42 Bảng 3.5 Nguồn thu thập thông tin thứ cấp 44 Bảng 3.6 Số lượng mẫu điều tra 45 Bảng 4.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh rau của 3 xã từ năm 2014 –

2016 trên địa bàn huyện Thanh Trì 49 Bảng 4.2 Công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm của các hộ

sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì 52 Bảng 4.3 Tình hình thực hiện mục tiêu quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn

thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì 55 Bảng 4.4 Tình hình thực hiện các dự án, đề án do Trung tâm y tế chủ trì giai

đoạn 2014 – 2016 58 Bảng 4.5 Tình hình cấp giấy phép đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 59 Bảng 4.6 Kết quả cấp giấy phép đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại huyện

Thanh Trì từ 2014 đến 2016 60 Bảng 4.7 Phương thức phổ biến, tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm 61 Bảng 4.8 Các nội dung thông tin, tuyên truyền quản lý nhà nước về vệ sinh

an toàn thực phẩm tiếp cận với người dân 62 Bảng 4.9 Tình hình tập huấn cấp giấy phép vệ sinh an toàn thực phẩm trên

địa bàn huyện Thanh Trì 63 Bảng 4.10 Tình hình tập huấn nâng cao nhận thức quản lý vệ sinh an toàn thực

phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì 64 Bảng 4.11 Tình hình tập huấn đối với công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an

toàn thực phẩm 66 Bảng 4.12 Tần suất phối hợp giữa các đơn vị trong quá trình thanh tra 68 Bảng 4.13 Tổ chức hoạt động thanh tra trong giai đoạn 2014 - 2016 69 Bảng 4.14 Kết quả kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh

doanh rau tại huyện Thanh Trì 71

Trang 9

Bảng 4.15 Tình hình vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh

doanh rau tại huyện Thanh Trì 72

Bảng 4.16 Kết quả xử lý vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì 72

Bảng 4.17 Đánh giá các chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì 73

Bảng 4.18 Nhận định về mức độ ảnh hưởng của độ trễ văn bản chính sách 74

Bảng 4.20 Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý 76

Bảng 4.21 Số năm công tác của cán bộ thanh tra 77

Bảng 4.22 Nhận thức của người nông dân quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 78

Bảng 4.23 Trang thiết bị phục vụ cho bộ máy quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 79

Trang 10

tổ chức tại xã Lĩnh Nam – huyện Thanh Trì năm 2016 65

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1 Ban hành chính sách như hiện nay là kịp thời rồi 74 Hộp 4.2 Mặc dù ban hành chậm nhưng vẫn kịp triển khai 75 Hộp 4.3 Làm nghề thanh tra cần phải có kinh nghiệm 77

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Trần Bích Liên

Tên luận văn: “Quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội”

Cơ sở đào tạo:Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Quản lý Nhà nước vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau ở nước ta nói chung và của huyện Thanh Trì nói riệng; Hiện nay là vấn đề hết sức cấp thiết mà được Đảng, Nhà nước và các cơ quan ban ngành liên quan quan tâm đến Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn gặp nhiều khó khăn, chưa nhận được sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, các cơ sở sản xuất và người dân Vì vậy việc nghiên cứu về quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì là vấn đề hết sức cấp thiết đang đặt ra giúp cho cán bộ có thể quản lý có hệ thống các hộ, cơ sở, doanh nghiệp, HTX sản xuất kinh doanh rau đảm bảo vệ sinh an toàn chất lượng trên địa bàn huyện, để từ

đó cung cấp cho thị trường người tiêu dùng lượng rau sạch đảm bảo sức khỏe cho người dùng

Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã đưa ra mục tiêu cho đề tài sau: Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước, vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau; thứ hai, phân tích thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội; Thứ ba đề xuất các giải pháp nhằm quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trong thời gian tới

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: thực trạng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doan rau trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội Đối tượng khảo sát, điều tra là cán bộ chuyên môn huyện, cán bộ chuyên môn xã Trong đó, chủ đầu tư xây dựng được điều tra bao gồm 90 hộ dân và 30 doanh nghiệp và Hợp tác xã Các địa điểm được lựa chọn để điều tra trên địa bàn huyện Thanh Trì là xã Yên Mỹ, xã Lĩnh Nam và Xã Duyên Hà Các Doanh nghiệp được chọn theo phương thức ngẫu nhiên từ danh sách được cấp bởi ban quản lý vệ sinh an toàn thực cấp xã

Về tổng quan nghiên cứu đề tài đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản như:Các khái niệm liên quan đến: Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, quản lý nhà nước,Thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm, sản xuất kinh doanh rau, các yếu tố ảnh

Trang 12

hưởng đến vệ sinh an toàn thực phẩm Thực tiễn quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau ở một số nước trên thế giới và nước ta nói chung cũng như khái quát, qua đó nghiên cứu đã rút ra một sô bài học kinh nghiệm trong việc quản

lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng như: chọn điểm nghiên cứu, thu thập tài liệu, phương pháp phân tích Việc điều tra các đối tượng liên quan cũng được lựa chọn, tiến hành với việc điều tra 90 hộ nông dân sản xuất rau na toàn ở địa bàn 3 xã : Xã Duyên Hà, xã Lĩnh Nam, xã Yên Mỹ Qua đó nhằm làm rõ về thực trạng, các yếu

tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho ta thấy được: Thanh Trì là huyện có số hộ trong rau lớn trên địa bàn Thành phố Hà Nội, người dân các xã như: Duyên Hà, Yên Mỹ chủ yếu sống dựa vào nghề trồng rau Tuy nhiên, diện tích rau trên địa bàn vẫn chưa đưa lại hiệu quả kinh tế cáo cho người dân Nguyên nhân là do rau sạch của người dân chưa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm kể cả từ khâu sản xuất cho đến khâu thu hoạch Người dân địa bàn chủ yếu tham gia dự án trồng RAT nhưng thực tế rau vẫn chưa đảm bảo an toàn Do đó, các cơ sở doanh nghiệp, HTX không thu mua nhiều mà chủ yếu người dân phải tự mang đi tiêu thụ Đông thời, nhiều hộ dân được cấp phép đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng họ chưa hiểu được rõ và nhận thức đúng về

vệ sinh an toàn thực phẩm

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế việc sản xuất rau an toàn của hộ, đề tài đề xuất một số giải pháp như sau: (1) Hoàn thiện về cấp giấy phép sản xuất kinh doanh đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.; (2) Cải tiến công tác thanh, kiểm tra, xử lý vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau; (3) Tăng cường thông tin tuyên truyền; (4) Nâng cao năng lực bộ máy làm công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì; (5) Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra, kiểm tra; (6) Tăng cường sự phối hợp giữa thanh tra UBND Thành phố Hà Nội và chính quyền huyện; (7)Giải pháp về sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành Cuối cùng, để các giải pháp đưa đạt được hiệu quả tôi đưa ra kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước, chính quyền và bản thân hộ sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Các kiến nghị này nếu được thực hiện tốt thì việc quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì se đạt được kết quả tốt hơn, mang lại hiệu quả lâu dài

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Author’s name:Tran Bich Lien

Thesis title: “State Management of Food Safety in Vegetable Production and Trading in Thanh Tri District, Hanoi”

Institute:Vietnam National University of Agriculture

State management of food safety in vegetable production and trading in Vietnam

in general and in Thanh Tri district is the concerned issue of the Communist Party, Vietnam Government and the related agencies However, in fact, the management of food safety has still faced with many difficulties It does not have the close coordination between Government agencies, producers and farmers Therefore, the study on state management of food safety in vegetable production in Thanh Tri district is an urgent issue, that is set up to help the Government agencies to manage systematically households, farms, enterprises and cooperatives producing and trading vegetables in the district to ensure quality and safety, to provide consumers safe vegetables for ensuring consumer’s health

To carry out the research, we have set some objectives: (1) contributing to the systematization and clarification of theoretical and practical basis of state management, food safety in production and trading vegetables, (2) analyzing of current situation, and factors affecting the state management of food safety in vegetable production and trading in Thanh Tri district, Hanoi, (3) proposing some solutions for state management

of food safety in vegetable production and trading in the future

Research subjects is the status of food safety management in vegetable production in Thanh Tri district, Hanoi Informant are specialist of district and commune We carry out the survey of construction investors at 90 households, 30 enterprises and cooperatives The study sites for the survey are Yen My Commune, Linh Nam Commune and Duyen Ha Commune of Thanh Tri District The enterprises were randomly selected from the list provided by the food safety management agency at commune level

As for literature review, the study covers theoretical issues such as: definitions

of State management of food safety, state management, food and food safety, production and trading of vegetables, and factors affecting food safety Through studying on the practice of food safety management in vegetable production and trading

Trang 14

in some countries in the world and Vietnam, this study has drawn some lessons learned

in management State food safety

The research methods are site selection, data collection and analytical methods

We conduct survey on 90 vegetable farmers at 3 communes: Duyen Ha Commune, Linh Nam Commune, Yen My Commune, which aims at clarifying the factors affecting the state management of food safety in vegetable production and trading in Thanh Tri district

The results of this study show that Thanh Tri is the district with many households growing vegetable in Ha Noi Farmer in the communes of Duyen Ha and Yen My mainly depend on vegetable production However, the vegetable production has not brought economic efficiency The reason is that the vegetables are not ensured safe from production to harvest Most farmers participate in the safe vegetable projects, but the vegetables are still not safe Therefore, enterprises and cooperatives hardly buy, so most farmers must sale the vegetable to market by themselves In addition, many households are licensed as safe vegetable, but they do not understand fully about food safety

In order to overcome the shortcomings of the safe vegetable production of the households, this study proposes some solutions as follows: (1) Complete the granting of licenses to food safety production; (2) Improving the inspection and punishment of food safety violations in vegetable production and trading; (3) Promoting information dissemination; (4) Improve the capacity of the food safety management in Thanh Tri district; (5) To enhance the capacity of management, inspection and examination; (6) Strengthening the coordination between the inspectorate of Hanoi People's Committee and district authorities; (7) Coordination among agencies If implementing these recommendations well, the State management of food safety in Thanh Tri district will achieve better long-term effects

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với toàn thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Bởi vì nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của mỗi con người Ở nước ta hiện nay, có rất nhiều các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm Tuy nhiên, các cơ sở này vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, đa phần chưa đảm bảo về cả chất lượng và số lượng Do

đó công tác quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn cần phải được thắt chặt, có sự kiểm tra và thanh tra để bảo vệ quyền lợi cũng như tính mạng của người tiêu dùng

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, thực phẩm chính là nguyên nhân đã gây ra khoảng 50% các trường hợp tử vong đối với con người trên toàn thế giới Ngộ độc do thực phẩm luôn luôn là vấn đề bức xúc Ở Việt Nam, theo tài liệu của Cục an toàn thực phẩm của Bộ Y tế, số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm cũng như số người bị nhiễm độc thực phẩm còn khá cao, đặc biệt là các trường hợp mắc bệnh nhiễm trùng bởi thực phẩm Theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê năm 2015, toàn quốc ghi nhận 171 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong, so với năm 2014, số vụ giảm 22 vụ (11,4%), số mắc giảm 237 người (4,6%) và số tử vong giảm 19 người (45,2%) (Phan Văn Hớn, 2016)

Tại UBND Thành phố Hà Nội năm 2016, có 09 vụ ngộ độc thực phẩm , làm 400 người nhập viện và 01 người tử vong Đặc biệt, các vụ ngộ độc thực phẩm ở các bếp ăn tập thể, có quy mô lớn, số người ăn đông đang có chiều hướng gia tăng, năm 2015 xảy ra 7 vụ và khoảng 351 người phải nhập viện, đến năm 2016 xảy ra 9 vụ NĐTP ở các bếp ăn tập thể và 400 người mắc, tăng 295%

so với năm 2015 Đồng thời, công tác quản lý VSATTP tại Thành phố Hà Nội vẫn còn nhiều tồn tại, chưa có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng; điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn; năng lực cán bộ hạn chế, hàng năm có trên 50% số vụ NĐTP không xác định rõ nguyên nhân là những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý VSATTP của Thành phố Hà Nội (UBND TP Hà Nội, 2016)

Trang 16

Một trong những nguyên nhân gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm là do người dân, HTX và các doanh nghiệp không hiểu biết về các quy định trong sản xuất, kinh doanh rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng trực tiếp đên sức khỏe của người sản xuất và người tiêu dùng

Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau vẫn còn nhiều hạn chế, lực lượng quản lý mỏng, cơ chế

xử phạt nhẹ, sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương chưa được sát sao Do đó tình trạng vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau vẫn tiếp tục diễn ra Chính vì thế mà cần phải có biện pháp để quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau một cách hợp lý và hiệu quả Thực

tế đó đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách, văn bản pháp luật để quản lý, giám sát chặt chẽ trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong hoạt động sản xuất kinh doanh rau

Nhận thức được thực tế trên, đề tài lực chọn tìm hiểu vấn đề “Quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản

lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau tại địa bàn

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong sản xuất kinh doanh rau

Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội

Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước trong sản xuất kinh doanh rau cho địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Trang 17

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý về an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau liên quan đến quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì

Đối tượng điều tra khảo sát đề tài: Các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm; Cán bộ làm công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

ở các tuyến từ tỉnh đến xã, cộng tác viên an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì Nhóm người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng; Các hoạt động của công tác quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm; 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Nghiên cứu và đánh giá quá trình thực hiện, những kết quả đạt được trong việc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau Từ đó, đưa ra một số giải pháp chủ yếu về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau tại địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới

Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi địa giới hành chính huyện Thanh Trì, tập trung nghiên cứu tại 3 xã trọng điểm (Xã Yên Mỹ; Lĩnh Nam; Xã Duyên Hà)

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng QLNN trong sản xuất rau giai đoạn 2014 – 2016; Đề xuất giải pháp thực hiện đến năm 2025

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.4.1 Về lý luận

Luận án đã tập hợp, hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên các khía cạnh: Khái niệm quản lý Nhà nước, vai trò của quản lý Nhà nước về vệ sinh

an toàn thực phẩm, trách nhiệm quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, Nguyên tắc quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, nội dung quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm từ đó phát triển vận dụng vào nghiên cứu quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội

Trang 18

1.4.2 Về thực tiễn

Luận án đã trình bày với nhiều dẫn liệu và minh chứng về các nội dung quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm và cơ sở thực tiễn về quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, định hướng và chiến lược quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam, cũng như thực tiễn quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở một số địa phương ở Việt Nam và những bài học kinh nghiệm rút ra

từ thực tiễn quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì Từ những nội dung đó Luận văn phân tích những thực trạng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội theo các mặt tồn tại hạn chế và nguyên nhân của quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn nghiên cứu; và phân tích các yếu tố ảnh hưởng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi

1.5 KẾT CẤU NỘI DUNG LUẬN VĂN

Kết cấu nội dung của Luận văn bao gồm các phần sau:

Phần 1 Mở đầu

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu

Phần 4 Kết quả nghiên cứu

Phần 5 Kết luận và kiến nghị

Trang 19

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Quản lý: Là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có

cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của minh và đưa ra ra định nghĩa riêng về quản lý

Với khái niệm trên, quản lý bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý

và khách thể quản lý

Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau

Khách thể quản lý là sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý,

đó là các hành vi của con người các quá trình xã hội

Quản lý ra đời nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong công việc Thực chất của quản lý con người, quản lý xã hội để phát huy cao nhất khả năng của con người, ổn định và phát triển xã hội theo định hướng đã đề ra Mục đích quản lý ở đây là cái đích do chủ thể quản lý đã định trước, đây là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn các phương pháp và thực hiện các biện pháp tác động quản lý khoa học phù hợp quy luật phát triển khách quan của xã hội (Hồ Văn Vĩnh, 2013)

Quản lý nhà nước: Là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước (Trần Ngọc Đường, 2015)

Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước Như vậy tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước

Trang 20

Theo quan điểm của G.V.Atamantrruc “Quản lý nhà nước là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ cấu của nhà nước) lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước"

Trong số các loại hình quản lý (Quản lý nhà nước, tự quản địa phương, quản trị, quản lý của các tổ chức xã hội, tự điều chỉnh nhóm (tập thể), hành vi ứng xử hoặc hành động hợp lý của một cá nhân) thì quản lý nhà nước có vị trí đặc biệt bởi các thuộc tính của nó: “Trước hết, sự ảnh hưởng quyết định lên đặc điểm của các tác động định hướng mục tiêu, tổ chức và điều chỉnh, vốn được thực hiện bởi loại hình quản lý này, là do chủ thể của nó - nhà nước gây nên Với tất cả những sự khác biệt trong việc luận giải về nhà nước và tính đa dạng của những biểu hiện của nó, hầu như tất cả mọi người đều nhất trí nêu bật sức mạnh quyền lực mạnh mẽ được đặt trong nó ”

Thực tế, nhà nước vì thế mới là nhà nước và bởi vậy khác với các cơ cấu

xã hội khác ở chỗ là trong nó quyền lực nhà nước được tập trung và do nó thực hiện trong xã hội - theo quan hệ đối với con người Còn quyền lực là mối tương giao, mà trong quá trình của mối tương giao đó, vì những nguyên nhân khác nhau

- vật chất, xã hội, trí tuệ, thông tin con người tự nguyện (có ý thức) hoặc bị cưỡng bức thừa nhận sự tối thượng của ý chí của những người khác, cũng như của những quy định có tính quy phạm về mục tiêu, về những giá trị khác, và thực hiện các hành vi hoặc hành động này khác, xây dựng cuộc sống của mình phù hợp với những đòi hỏi của chúng Một quyền lực nào đó tồn tại trong gia đình, trong nhóm người, trong tập thể, nó được gìn giữ trong các truyền thống, tập quán, dư luận xã hội, đạo đức v.v.v Nhưng tất cả điều đó đều không thể so sánh với quyền lực nhà nước, mà trong nguồn gốc nó có tính chế định pháp luật (tính chính thống), còn trong việc thực hiện - nó có sức mạnh của bộ máy nhà nước nắm trong tay các phương tiện cưỡng chế (Trần Ngọc Đường, 2015)

Tính chất đặc thù của quản lý nhà nước là sự phổ biến toàn cộng đồng xã hội, thậm chí vượt ra ngoài giới hạn của nó, lên các cộng đồng xã hội khác của con người trong khuôn khổ chính sách quốc tế do nhà nước thực hiện

Nhà nước vốn là hiện tượng xã hội phức tạp (theo thành phần các yếu tố)

và đa diện (theo các chức năng), và với tư cách là chủ thể quản lý, nó cũng tạo cho quản lý nhà nước tính hệ thống

Trang 21

Đối với quản lý nhà nước, tính chất hệ thống có ý nghĩa nguyên tắc Chỉ

có sự hiện hữu của tính chất này mới tạo cho quản lý nhà nước sự hòa hợp, sự phối hợp, sự trực thuộc cần thiết, tính mục tiêu, tính hợp lý và tính hiệu quả nhất định

Trong xã hội tồn tại nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể nhân dân Trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước có những đặc điểm khác biệt sau:

Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp

Đối tượng của quản lý nhà nước là toàn thể nhân dân (dân cư) sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

Quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” (Trần Ngọc Đường, 2015)

Như vậy quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Quản lý nhà nước do bộ máy hành chính nhà nước thực hiện rất đa dạng: quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng và v.v Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm: là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động về vệ sinh an toàn thực phẩm

Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là quản lý theo ngành do nhiều cơ quan thực hiện Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội

Trang 22

Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh

và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP

Quản lý nhà nước về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược, kế hoạch

có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý và nghiên cứu khoa học (Quốc hội, 2010)

2.1.1.2 Thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm

Khái niệm thực phẩm: Là những sản phẩm dùng cho việc ăn, uống của con người ở dạng nguyên liệu tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm Thực phẩm không bao gồm

mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm

Khái niệm vệ sinh thực phẩm: Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và phù hợp của thực phẩm ở mọi khâu thuộc tru trình thực phẩm

Khái niệm an toàn thực phẩm: Là sự bảo đảm thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chuẩn bị hoặc ăn theo mục đích sử dụng

Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm: Là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển, cũng như

sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng (Trần Đáng, 2007)

Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng Quan niệm này rất đầy đủ, lột tả được bản chất của vấn đề nhưng đề ngắn gọn và dễ hiểu mà vẫn bao hàm được ý nghĩa trong quản lý nhà nước, khái niệm được chấp nhận hơn cả là: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người, không chứa các tác nhân sinh học, hóa học, lý học quá giới hạn cho phép” (Hữu Danh, 2016)

Trang 23

2.1.1.3 Sản xuất kinh doanh rau

Sản xuất: Là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Có 2 phương thức sản xuất là:

Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường

Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao.Phát triển kinh tế thị trường phải theo phương thức thứ hai Nhưng cho dù sản xuất theo mục đích nào thì người sản xuất cũng phải trả lời được ba câu hỏi cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? (Phí Mạnh Hùng, 2009)

Tóm lại sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống con người

Kinh doanh: Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người Hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh như công ty, tập đoàn, tư nhân nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân

Để đánh giá các hoạt động kinh doanh, người ta có nhiều chỉ tiêu khác nhau nhưdoanh thu, tăng trưởng, lợi nhuận biên, lợi nhuận ròng Tại Việt Nam, nhiều người còn nhầm lẫn giữa kinh doanh (business) và kinh tế (economic)

Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện

mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất (Lê Văn Tâm, 2004)

Rau: Là tên gọi chung của các loại thực vật có thể ăn được dưới dạng lá là phổ biến tuy trong thực tế có nhiều loại ăn hoa, củ, quả cũng có thể gộp chung vào các loại rau

Trang 24

Sản xuất kinh doanh rau là: Là thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm rau hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời

2.1.2 Vai trò của quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

Trong những năm gần đây vấn đề VSATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xẩy ra liên tiếp, gây thiệt hại nhiều đến tính mạng con người và tiền của Trước những diễn biến đó thì vai trò của nhà nước đặc biệt quan trọng Trước hết nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến VSATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Ngoài ra, thông qua các văn bản chính sách, nhà nước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản lý của từng Bộ, ngành và các cấp chính quyền quản lý chặt chẽ vấn đề VSATTP Thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch có liên quan đến VSATTP, nhà nước sẽ trực tiếp quản lý vấn đề VSATTP nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của tất cả các mặt hàng thực phẩm (Viện nghiên cứu lập pháp, 2016)

Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra các cấp

để quản lý vấn đề VSATTP Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanh tra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước Các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với Bộ Y tế để cùng quản lý các vấn đề liên quan đến ATVSTP

Nhà nước tổ chức tuyên truyền, giáo dục về VSATTP cho nhân dân để nâng cao ý thức và hiểu biết vấn đề này Chỉ đạo tổ chức tháng hành động vì chất lượng VSATTP, đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệu quả Như vậy, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong mọi lĩnh vực có liên quan đến thực phẩm từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng Mặt khác, Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý VSATTP

có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực,

Trang 25

từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản lý của nhà nước ngày càng trở lên quan trọng Vai trò của quản lý nhà nước về VSATTP trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế mang tính dẫn dắt và chỉ hướng Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác VSATTP hiện nay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Cơ quan nhà nước là nơi tập hợp, đề xuất và ban hành các tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp (Thanh Hà, 2011)

Vai trò không thể thiếu của quản lý nhà nước về VSATTP là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát về vệ sinh, an toàn, môi trường, Nhà nước đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử

lý những vi phạm

Nhờ có vai trò quản lý của nhà nước về VSATTP đã tạo niềm tin đối với người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ trên thị trường

Mặt khác, vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Định hướng cho công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng chủ trương chính sách đã đề ra Hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (Quốc Hội, 2010)

Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có vai trò là đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý cho cộng đồng, góp phần nâng cao sức khỏe của người dân ở mọi lứa tuổi, làm tăng tuổi thọ và giảm tỷ lệ mắc bệnh, tăng cường sức lao động,

Trang 26

học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội, thể hiện nếp sống văn minh Mặt khác, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm cải thiện sức khỏe nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Quốc Hội, 2010)

2.1.3 Trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Trách nhiệm trong quản lý:

Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là trách nhiệm của Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, và Ủy Ban nhân dân các cấp Căn cứ Luật an toàn thực phẩm, số 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm

2010 và Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm, quy định rõ trách nhiệm của từng Bộ trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm,

cụ thể:

Trách nhiệm Bộ Y tế:

Chủ trì xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia, quy hoạch tổng thể về an toàn thực phẩm;Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chỉ tiêu và mức giới hạn an toàn đối với sản phẩm thực phẩm; dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm; Yêu cầu các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn thực phẩm; Quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Chủ trì tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm; cảnh báo sự cố ngộ độc thực phẩm; Thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của các

bộ khác khi cần thiết

Trách nhiệm trong quản lý ngành:

Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thực

Trang 27

phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nuốc uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng và các thực phẩm khác theo quy định của Chính Phủ; Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

Trách nhiệm Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn:

Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phẩn công quản lý; Quản lý an toàn thực phẩm đối với sản xuất ban dầu nông, lâm, thủy sản, muối; Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả, trứng và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính Phủ; Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

Trách nhiệm Bộ Công thương:

Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột và tinh bột, thực phẩm khác theo quy định của Chỉnh Phủ; Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; Ban hành

Trang 28

chính sách, quy hoạch về chợ, siêu thị, quy định điều kiện kinh doanh thực phẩm tại các chợ, siêu thị Chủ trì việc phòng chống thực phẩm giả, gian lận thương mại trong lưu thông, kinh doanh thực phẩm; Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

Trách nhiệm Ủy ban nhân dân các cấp:

Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật địa phương; xây dựng

và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất thực phẩm an toàn đề bảo đảm việc quản lý được thực hiện trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm; Chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn; quản lý điều kiện bảo đảm

an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý; Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn; Bố trí nguồn lực, tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực cho công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn; Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, truyền thông, nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm, ý thức chấp hành pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng, ý thức của người tiêu dùng thực phẩm; Thanh tra, kiểm tra,

xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn quản lý Trách nhiệm trong thanh tra an toàn thực phẩm: Thanh tra về an toàn thực phẩm là thanh tra chuyên ngành Thanh tra an toàn thực phẩm do ngành y tế, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngành công thương thực hiện theo quy định của pháp luật

về thanh tra Chính phủ quy định việc phối hợp giữa các lực lượng thanh tra an toàn thực phẩm của các bộ, cơ quan ngang bộ với một số lực lượng khác trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm

Nội dung thanh tra về an toàn thực phẩm gồm:

Thanh tra việc thực hiện các quy định kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành Việc thực hiện các tiêu chuẩn có liên quan đến an toàn thực phẩm do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng

Trang 29

đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm Hoạt động quảng cáo, ghi nhãn đối với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý Hoạt động chứng nhận hợp quy, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm Thực hiện các quy định khác của pháp luật về an toàn thực phẩm

Trách nhiệm trong kiểm tra an toàn thực phẩm:

Kiểm tra an toàn thực phẩm là trách nhiệm thuộc các bộ được giao trách nhiệm quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc kiểm tra an toàn thực phẩm trong phạm vi địa phương theo quy định của Bộ quản lý ngành và sự phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Trong trường hợp kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều ngành hoặc địa phương, cơ quan chủ trì thực hiện kiểm tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan hữu quan thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan đề thực hiện Hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm phải đảm bảo nguyên tắc: Khách quan, chính xác, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử Bảo vệ bí mật thông tin, tài liệu, kết quả kiểm tra liên quan đến cơ quan, tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm được kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức; Không được sách nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm; Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, có kết luận liên quan; Bộ trưởng bộ quản lý ngành quy định cụ thể về hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm trong phạm vi quản lý nhà nước được phân công

2.1.4 Yêu cầu quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Theo quy định của Luật an toàn thực phẩm năm 2010, nguyên tắc quản lý

an toàn thực phẩm được quy định như sau:

Đảm bảo an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về

an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh Quản lý an toàn thực phầm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp

rõ ràng và phối hợp liên ngành Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 30

2.1.5 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

a Văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

Chính phủ

Căn cứ vào Nghị định 79/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định

hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm và các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động liên quan đến vệ sinh

an toàn thực phẩm.Căn cứ vào Nghị định 67/2016/NĐ-CP của Chính phủ về quy định điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y Tế Nội dung Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế.Căn cứu vào Nghị định 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm Nội dung nghị định nêu rõ xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với các hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh

Bộ Y tế

Thực hiện nhiệm vụ được giao trong Luật An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã

đã tham mưu trình Chính phủ ban hành 02 Nghị định và ban hành theo thẩm quyền 15 Thông tư để hướng dẫn thi hành Luật, đó là các văn bản: Căn cứ vào Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Căn cứ vào Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm; Căn cứ vào Thông tư số 05/2012/TT-BYT ngày 1/3/2012 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với ô nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm; Căn cứ vào Thông tư số 15/TT-BYT ngày 12/9/2012 Quy định

về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Căn cứ vào Thông tư số 16/TT-BYT ngày 22/10/2012 quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của

Bộ Y tế; Căn cứ vào Thông tư 19/TT-BYT ngày 9/11/2012 hướng dẫn việc công

Trang 31

bố hợp quy và công bố phù hợp quy định ATTP; Căn cứ vào Thông tư số BYT ngày 30/11/2012 Quy định cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế; Căn cứ vào Thông

26/TT-tư số 20/TT-BYT ngày 15/11/2012 ban hành QCQG đối với sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ đến 12 tháng tuổi; Căn cứ vào Căn cứ vào Thông tư số 21/TT-BYT ngày 15/11/2012 ban hành QCQG đối với sản phẩm dinh dưỡng công thức với mục đích y tế đặc biệt cho trẻ đến 12 tháng tuổi; Căn cứ vào Thông tư 27/TT-BYT ngày 30/11/2012 hướng dẫn quản lý phụ gia thực phẩm; Căn cứ vào Thông tư số 30/TT-BYT ngày 5/12/2012 quy định điều kiện ATTP đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố; Thông

tư số 08/2013/TT-BYT ngày 13 tháng 3 năm 2013 hướng dẫn quảng cáo thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế; Căn cứ vào Thông tư số 11/TT-BYT ngày 8/4/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn chỉ định tổchức chứng nhận hợp quy đối với thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn; phụ gia thực phẩm; chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; vật liệu bao gói, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm; Căn

cứ vào Thông tư số 24/TT-BYT ngày 14/8/2013 quy định mức giới han tối đa dư lượng thuốc thú y trong thực phẩm; Căn cứ vào Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 1/8/2013 quy định điều kiện, trình

tự, thủ tục chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước

Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội

Căn cứ vào Quyết định số 130/2004/QĐ-UB ban hành “Quy định tạm thời

về quản lý sản xuất, kinh doanh rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội” Trong đó, nội dung quyết định có đề cập tới việc phải có đủ trang, thiết bị và dụng cụ phù hợp, đảm bảo hợp vệ sinh và an toàn thực phẩm Căn cứ vào Quyết định số 17/2010/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội : Ban hành “Quy định tạm thời phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội” Căn cứ vào Quyết định số 16/2016/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội: Ban hành quy định phân công trách nhiệm quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn Thành phố Hà Nội

b Một số quy định về phân cấp phân bổ, cơ chế quản lý VSATTP rong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn huyện Thanh Trì

Trang 32

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (Luật ATTP) đã chuyển hoạt động quản lý về an toàn thực phẩm (ATTP) sang cơ chế quản lý theo nhóm sản phẩm Đây được xem là một chính sách quan trọng của Luật ATTP, theo đó, việc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP được xác định theo hướng quản lý theo nhóm sản phẩm thay vì quản lý theo phân khúc sản xuất, kinh doanh thực phẩm với hi vọng khắc phục sự chồng chéo trong quản lý nhà nước về ATTP của các Bộ, ngành đồng thời xác định rõ hơn trách nhiệm mỗi Bộ, ngành trong lĩnh vực quản lý nhà nước về ATTP Một phần của nội dung chính sách này là tư tưởng giảm số Bộ tham gia quản lý nhà nước về ATTP từ 8 Bộ (theo Pháp lệnh

Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003) xuống chỉ còn 3 Bộ là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công Thương Theo quy định của Luật An toàn thực phẩm (tại Điều 62, Điều 63, Điều 64), trách nhiệm quản lý An toàn thực phẩm của các Bộ cụ thể như sau:

Bộ Y tế: quản lý ATTP trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý ATTP đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn: quản lý ATTP trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt; thủy sản và sản phẩm thủy sản; rau, củ, quả và sản phẩm rau, củ, quả; trứng và các sản phẩm từ trứng; sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý ATTP đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

Bộ Công Thương: quản lý ATTP trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột và tinh bột

và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ; Quản lý ATTP đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

Trang 33

Như vậy, tại tuyến Trung ương, công tác quản lý ATTP được giao cho 3

Bộ quản lý: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công thương

Tại Bộ Y tế, Cục An toàn thực phẩm được thành lập để giúp Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ATTP Tại Bộ Công thương, công tác quản

lý ATTP giao cho Vụ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối, ngoài ra còn có Cục Quản lý Thị trường Tại cấp huyện và cấp xã các địa phương, theo báo cáo của UBND các tỉnh, tại cấp huyện và cấp xã đã bố trí cán bộ làm công tác an toàn thực phẩm Tuy nhiên, số lượng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra Tại cấp huyện, công tác quản lý về an toàn thực phẩm giao cho phòng kinh tế hoặc phòng kinh tế - nông nghiệp, phòng y tế hoặc trung tâm y tế huyện đảm nhận Tuy nhiên, ở những quận hoặc thành phố thuộc tỉnh, do không có Phòng Nông nghiệp, công tác quản lý về an toàn thực phẩm được giao cho Phòng Y tế hoặc Trung tâm Y tế thực hiện Tại cấp xã có 01 cán bộ y tế kiêm nhiệm nhiệm vụ giúp UBND về an toàn thực phẩm UBND xã, phường có Ban Chỉ đạo vệ sinh ATTP do Phó Chủ tịch UBND, xã phường làm Trưởng Ban, Phó Ban là Trạm trưởng Trạm y tế; các thành viên khác gồm cán bộ công an, tư pháp, văn hóa xã hội, tài chính, an ninh trật tự Tuy nhiên, việc quản lý về vệ sinh ATTP ở cấp

xã, phường lại gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân là cán bộ làm công tác này đều kiêm nhiệm trong khi hoạt động mua, bán thực phẩm phần lớn diễn ra cuối buổi chiều, buổi tối và ban đêm nên rất khó để tổ chức đoàn đi kiểm tra Bên cạnh đó, hầu hết cán bộ xã phường không có trình độ chuyên môn, thiếu dụng cụ phân tích, kiểm nghiệm

Thực tế đòi hỏi phải có vài ngàn tiêu chuẩn về thực phẩm, song đến nay chỉ mới ban hành được 717 tiêu chuấn Việt Nam Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến bất cập trong việc thanh tra, kiểm soát thực phâm trên thị trường Pháp lệnh VSATTP có hiệu lực từ tháng 1 1/2003 nhưng đến nay vẫn chưa có nghị định hướng dẫn thi hành, vấn đề VSATTP liên quan mật thiết tới nhiều ngành sản xuất nhưng khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các Bộ, ngành chưa quan tâm thích đáng đến vấn đề này, chưa có sự thống nhất chung về yêu cầu VSATTP đối với các sản phẩm thực phẩm Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về VSATTP còn chậm, một số tiêu chuẩn về VSATTP không còn phù hợp với phương thức quản lý thực phẩm hiện nay Theo đánh gía của uỷ ban KH, CN&MT của Quốc hội, phần lớn các tiêu chuẩn không đáp ứng được yêu cầu hội

Trang 34

nhập kinh tế quốc tế (mức độ tương thích của tiêu chuấn VSATTP Việt Nam với tiêu chuẩn quốc tế hiện nay ở mức 32,2%)

Mặc dù bộ Y tế- Ban chỉ đạo liên ngành đã có công văn gửi tất cả các địa phương trong cả nước cũng như các bộ ngành liên quan đề nghị đánh giá kế hoạch thực hiện chương trình hành đông quốc gia đến năm 2010 của Chính phủ, nhưng đến cuối tháng 7/2007 mới chỉ có 30/64 tỉnh, thành phố và 8/13 bộ, ngành gửi báo cáo về bộ Y tế Có thê thấy rằng, ngay cả các cấp chính quyền vẫn còn thái độ thờ ơ, vô cảm với vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và đời sống của người đan như thế thì việc chỉ có gần 38% người sản xuất; 42,5% người kinh doanh thực phâm và gần 40% người tiêu dùng có hiểu biết và thực hành đúng về VSATTP Hiện nay việc bộ luật về VSATTP vẫn còn nhiều bất cập Thực phẩm

bị phát hiện chứa hàn the nhưng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự được chỉ

có thể xử lý bằng hình thức thiêu huỷ bởi vì luật pháp nước ta quy định việc vi phạm phải được chứng minh là gây hậu quả nghiêm trọng trong khi đó phải 20 năm sau khi ăn, người tiêu dùng mới bị hàn the gây tác động lúc đó thì lấy đâu ra chứng cứ đế truy tố nữa

Thiếu cơ sở pháp lý đế thanh tra xử lý các đơn vị vi phạm là ý kiến chung của nhiều nhà quản lý ví dụ như trong năm 2003 trên địa bàn TP.HCM đã xảy ra

22 vụ ngộ độc trong đó có đến 17 vụ ngộ độc tập thê với hơn 1000 lượt người bị ngộ độc Nguyên nhân chính là do sử dụng thực phâm không đảm bảo VSATTP Trước tình hình trên sở Y tế đã tiến hành thanh tra và đã xử phạt vi phạm với hơn

200 triệu đồng Tuy nhiên khi phát hiện vi phạm lại thiếu quy chế xử phạt Điều này khiến cho việc xử phạt rất lúng túng

2.1.6 Nội dung quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

2.1.6.1 Xây dựng lập kế hoạch về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

Xây dựng kế hoạch VSATTP là nhiệm vụ quan trọng nhằm khẳng định việc lập kế hoạch thực hiện có thực tế hay không, thể hiện tính khả thi của dự án

Xây dựng kế hoạch quản lý VSATTP nhằm giúp cho công tác quản lý thực hiện một cách khoa học, đảm bảo tiến hành công việc theo thời gian nhất định đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ cho việc phát triển kinh tế cũng như các điều chỉnh khác của công tác quản lý

Trang 35

Việc xây dựng kế hoạch VSATTP nhằm xác định trách nhiệm của một hệ thống các bộ phận các tổ chức thực hiện công tác quản lý cũng như các quy định cho tổ chức thực hiện, đồng thời thông qua đó thực hiện chức năng kiểm tra giám sát các cá nhân, tổ chức thực hiện công quản lý, chấn chỉnh các hoạt động sai trái trong tổ chức thực hiện (UBND thành phố Hà Nội, 2016)

2.1.6.2 Tổ chức quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

Tổ chức quản lý VSATTP trong sản xuất kinh doanh rau là công việc thực hiện quản lý, giám sát hoạt động sản xuất đã được cơ quan chuyên môn thực hiện Tổ chức quản lý VSATTP là công việc quan trọng nhằm huy động đầy đủ các nguồn lực để tiến hành quản lý hoạt động sản xuất đảm bảo VSATTP Từ đó, tiến hành cấp giấy phép cho các cơ sở sản xuất đảm bảo Công tác tổ chức quản

lý thể hiện trách nhiệm của các hộ, cán bộ trong hoạt động kinh doanh Cần xác định được trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong thực hiện công tác quản lý, cũng như người tổ chức thực hiện (Quốc Hội, 2010)

2.1.6.3 Thực hiện quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

a Công tác thực hiện chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về vệ sinh an toàn thực phẩm; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP, các quy định và tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm.Ban hành các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm và các quy định về chứng nhận y tế trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (Quốc Hội, 2010)

b Công tác cấp phép, phê duyệt đảm bảo VSATTP

Cấp phép vệ sinh an toàn thực phẩm cho hộ kinh doanh Cơ sở vật chất đảm bảo các quy định về an toàn thực phẩm Chủ cơ sở, người trực tiếp tham gia sản xuất phải được cấp Giấy chứng nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm,

có giấy khám sức khỏe trong vòng 06 tháng Phải được thẩm định và đạt yêu cầu theo quy định của pháp luật.Cấp phép vệ sinh an toàn thực phẩm cho hộ sản xuất rau an toàn Bảo đảm điều kiện về đất canh tác, nguồn nước, địa điểm sản xuất để sản xuất thực phẩm an toàn; Tuân thủ các quy định của pháp luật về sử dụng giống cây trồng, giống vật nuôi, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng, chất tăng trọng, chất phát dục, chất bảo quản thực phẩm và chất khác liên quan đến an toàn thực phẩm Tuân thủ quy

Trang 36

định về kiểm dịch và vệ sinh thú y trong giết mổ động vật và kiểm dịch thực vật đối với thực phẩm trồng trọt; Thực hiện xử lý chất thải theo quy định về bảo vệ môi trường; Chất tẩy rửa, chất diệt khuẩn, chất khử độc khi sử dụng phải đảm bảo an toàn cho con người và môi trường; Duy trì các điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm,, lưu giữ hồ sơ gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quá trình sản xuất thực phẩm tươi sống

Điều kiện về địa điểm: theo đó địa điểm của cơ sở sơ chế rau, quả phải có diện tích phù hợp, có khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn gây

ô nhiễm và các yếu tố gây hại khác; Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thực phẩm;Có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói, vận chuyển và bảo quản các loại sản phẩm thực phẩm;Có hệ thống xử lý chất thải và được vận hành thường xuyên Duy trì các điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh;Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trực tiếp sản xuất kinh doanh thực phẩm.Quy trình sơ chế, chế biến phải đảm bảo thực phẩm không bị ô nhiễm chéo, tiếp xúc các yếu tố độc hại hoặc ô nhiễm (Quốc Hội, 2010)

c Công tác tuyên truyền, tập huấn quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

Sở Thông tin và Truyền thông, UBND các huyện, huyện, thành phố; UBND các xã, Thị trấn, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức, trách nhiệm và nhận thức của các tầng lớp nhân dân đối với việc ủng hộ, tham gia công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị định 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính

về an toàn thực phẩm Thực hiện tốt Nghị định 67/2016/NĐ-CP của Chính phủ

về quy định điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y Tế Nội dung Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế.Thông báo công khai các tổ chức, cá nhân có hành vi cố tình vi phạm trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị xử lý và đình chỉ hoạt động và thu giấy phép kinh doanh đối với các hộ nông dân và các cơ sở kinh doanh rau theo quy định của pháp luật (Quốc Hội, 2010)

Trang 37

2.1.6.4 Thanh tra, kiểm tra, xử lý sai phạm trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

a Thanh tra, kiểm tra trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

Mục đích:

UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo thực hiện cho 3 sở: Sở Công Thương,

Sở Y Tế, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tiến hành kiểm tra, đánh giá việc triển khai Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2016 của các cấp, các ngành; việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu thực phẩm tập trung vào các thực phẩm là rau, thịt và sản phẩm chế biến từ rau, thịt theo chủ đề của Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2016 là “Tiếp tục tăng cường sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng rau, thịt an toàn”.Thông qua đợt thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những bất cập, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; phát hiện, ngăn chặn, xử lý các trường hợp vi phạm về bảo đảm an toàn thực phẩm, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm

an toàn thực phẩm

Yêu cầu:

Thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những vấn đề tồn tại trong quản lý, những vi phạm về bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, tiêu dùng thực phẩm là rau, thịt và sản phẩm chế biến từ rau, thịt

Phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các qui định của pháp luật, các kiến thức về bảo đảm an toàn thực phẩm Đảm bảo đúng tiến độ, theo sự chỉ đạo thống nhất của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm (Quốc Hội, 2010)

b Xử lý sai phạm trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (đối với những cơ

sở thuộc diện phải có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm) Giấy cam kết sản xuất thực phẩm an toàn (đối với cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ) Giấy chứng nhận sức khỏe, xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm của chủ cơ sở

và người lao động trực tiếp tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm.Hồ sơ công bố tiêu chuẩn sản phẩm, chứng nhận hợp quy, chứng nhận hợp chuẩn đối với những

Trang 38

sản phẩm phải công bố.Nhãn sản phẩm thực phẩm đối với những sản phẩm thuộc diện phải ghi nhãn Tài liệu quảng cáo, hồ sơ đăng ký quảng cáo đối với những

cơ sở có quảng cáo sản phẩm thực phẩm là rau, thịt và sản phẩm chế biến từ rau, thịt Hồ sơ theo dõi về chất lượng sản phẩm, phiếu kiểm nghiệm định kỳ đối với thực phẩm là rau, thịt và sản phẩm chế biến từ rau, thịt có bao gói sẵn đã qua chế biến Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm là rau, thịt và sản phẩm chế biến từ rau, thịt, trang thiết bị, dụng cụ, con người được quy định tại Luật an toàn thực phẩm và Thông tư của các Bộ: Y

tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương Quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản đối với cơ sở sản xuất thực phẩm là rau, thịt và sản phẩm chế biến

từ rau, thịt Nguồn gốc nguyên liệu, phụ gia thực phẩm Nguồn nước dùng cho chế biến thực phẩm Việc kinh doanh và sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm; thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y Kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y Lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định khi cần thiết (Quốc Hội, 2010)

2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

2.1.7.1 Các cơ chế, chính sách trong quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản

lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền

Chính sách quản lý VSATTP là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu

Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thực hiện như thế nào đều do cơ chế quyết định, đó chính là những chính sách, chế độ quy định về an toàn thực phẩm Nếu cơ chế quản lý an toàn thực phẩm tuân thủ theo quy định, phù hợp với tình hình thực tế khách quan, tình hình kinh tế xã hội thì công tác quản lý sẽ đảm bảo và phát triển cả về chất và lượng (Chu Thi Hoa, 2016)

2.1.7.2 Tổ chức bộ máy trong quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Bộ máy quản lý tài chính các cấp gồm cấp uỷ đảng lãnh đạo chung, HĐND giám sát, UBND chỉ đạo, tổ chức thực hiện và phòng Nông nghiệp và

Trang 39

PTNT, các UBND xã là cơ quan tham mưu về công tác quản lý, giám sát, kiểm tra VSATTP Nếu phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Y tế, cấp cơ sở có năng lực, được sự lãnh đạo đúng đắn của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo bằng chủ trương, chính sách của UBND, sự phối kết hợp nhịp nhàng với Uỷ ban MTTQ, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Trạm Y tế , tăng cường tuyên truyền giáo dục, động viên, khuyến khích nhân dân thực hiện công tac sản xuất đảm bảo VSATTP, tích cực phát triển sản xuất kinh doanh, thi đua làm giàu chính đáng thì sẽ giảm được tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm Khi đó, UBND huyện phải chỉ đạo phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Y tế huyện, các tuyến cơ sở tìm các biện pháp để quản lý chặt chẽ công tác đảm bảo VSATTP

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ khi thực hiện công tác quản lý VSATTP đòi hỏi phải luôn học tập nâng cao nhiệm vụ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay trước đòi hỏi về công nghệ thông tin, sự đổi mới về công nghệ, đổi mới

về phương pháp tiếp cận và thực hiện công việc Đáp ứng kịp thời các phát sinh của nghiệp vụ công tác Đồng thời cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý VSATTP cần có đạo đức tác phong nghề nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ, lấy lợi ích tập thể lên trên, trung thực, ngay thẳng không gian trá, vụ lợi Ngoài ra trong quá trình tác nghiệp luôn luôn thực hiện công tác phối kết hợp với các bộ phận khi thực hiện nhiệm vụ (Chu Thi Hoa, 2016)

2.1.7.3 Trình độ của cán bộ quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Thanh Trì

Năng lực, trình độ của cán bộ làm công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm tốt thì công việc sẽ tiến triển vô cùng thuận lợi và ngược lại nếu năng lực chuyên môn thấp thì khi xử lý công việc kiểm tra, giám sát sẽ gặp phải một số khó khăn Sự phối kết hợp giữa chuyên môn và chính quyền địa phương là một việc hết sức quan trọng, nó thể hiện sự gắn kết của chuyên môn với chính quyền địa phương Vì khi có khó khăn về công việc nào đó thì chính quyền địa phương gặp chuyên môn để nhờ tư vấn, giải quyết, ngược lại khi chuyên môn muốn triển khai một việc nào đó trên toàn địa phương để có kết quả tốt và người dân ủng hộ thì phải kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương Chủ trì, phối hợp với Phòng nông nghiệp và Trung tâm y tế cấp huyện, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cấp xã thực hiện việc tuyên truyền, vận động hướng dẫn các tổ chức

và nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn; Chỉ đạo, điều hành Tổ công tác cấp

Trang 40

huyện đặt tại địa bàn thường xuyên kiểm tra tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn, phát hiện, lập hồ sơ vi phạm hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm Tiếp nhận hồ sơ vi phạm hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm do Tổ công tác huyện đặt tại địa bàn chuyển đến để ban hành các quyết định xử phạt, quyết định thu giấy phép kinh doanh hoặc chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm rau theo thẩm quyền và quy định của pháp luật Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc, tổ chức thực hiện kết luận kiểm tra quyết định xử lý vi phạm của cấp thẩm quyền đối với các hộ, cơ sở kinh doanh trên địa bàn Cấp tỉnh kết hợp cấp huyện thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn, hướng dẫn cán bộ làm công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (Lê Văn Tâm, 2004)

2.1.7.4 Nhận thức của người nhân về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh rau

Nhận thức của người dân đối với quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm cũng

là yếu tố ảnh hưởng tới cách thức quản lý của Nhà nước Qua quá trình điều tra trình độ người nông dân, người nghiên cứu sẽ nắm bắt được kiến thức của họ về ATTP, ý thức tự giác trong thực hiện sản xuất đảm bảo VSATTP… Từ đó, triển khai mở các lớp tập huấn phù hợp với trình độ của người nông dân, ban hành các quy định về sử dụng và quản lý nghiêm ngặt việc thực hiện

Mặt khác, trình độ dân trí thấp, tình trạng kinh doanh, sản xuất còn nhiều sai phạm mặc dù đã được nghe phổ biến sẽ phản ánh công tác đào tạo, tập huấn chưa tốt

Như vậy, yếu tố nhận thức của người dân ảnh hưởng khá lớn tới quản lý Nhà nước về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo hai chiều ngược nhau, giúp cho cơ quan quản lý thấy được mặt hạn chế để kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện

Như chúng ta đã thấy ở khu vực nông thôn, trình độ văn hóa là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hướng đến tình hình quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm Nếu trình độ hiểu biết của chủ hộ tốt, họ sẽ nhận thức tốt hơn về công tác vệ sinh

an toàn thực phẩm nói chung và công tác cấp phép nói riêng trên địa bàn và ngược lại (Mai Thanh Thế, 2016)

2.1.7.5 Cơ sở vật chất, trang thiết bị

Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị là yếu tố hết sức quan trọng trong quản lý VSAATP Tình trạng hiện nay, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, hệ thống quản lý, tổ

Ngày đăng: 14/07/2021, 15:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w