1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự lưu hành virus cúm gia cầm type AH5N6 tại một số chợ buôn bán gia cầm sống trên địa bàn các tỉnh hải phòng, lạng sơn và quảng ninh và ứng dụng kỹ thuật realtime RT

86 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáng lo ngại là kết quả giải trình tự gen của các mẫu virus cúm A/H5N6 phát hiện ở Việt Nam cho thấy có sự tương đồng đến 99% về kiều gen với chủng virus cúm A/H5N6 gây tử vong đầu tiên

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM XUÂN TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS CÚM GIA CẦM TYPE A/H5N6 TẠI MỘT SỐ CHỢ BUÔN BÁN GIA CẦM SỐNG TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH HẢI PHÒNG, LẠNG SƠN VÀ QUẢNG NINH VÀ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT REALTIME RT-PCR TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Xuân Trường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Thú y đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Thị Lan, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Bệnh lý, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Cơ quan Thú y vùng II, cùng tập thể cán bộ, công nhân viên Phòng Dịch tễ, Trạm Chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật - Cơ quan Thú y vùng II; Phòng Dịch tễ - Cục Thú y; Chi cục Thú y các tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh đã tạo mọi điều kiện tốt nhất và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Phạm Xuân Trường

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ cái viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục sơ đồ, hình, bản đồ, biểu đồ vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Khái niệm bệnh cúm gia cầm 3

2.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm trên thế giới 3

2.2.1 Tình hình chung 3

2.2.2 Tình hình dịch cúm H5N6 trên thế giới 9

2.3 Tình hình bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam 10

2.3.1 Tình hình chung 10

2.3.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm H5N6 12

2.4 Căn bệnh 15

2.4.1 Đặc điểm sinh học phân tử của virus cúm gia cầm 15

2.4.2 Kháng nguyên của virus cúm gia cầm 18

2.4.3 Tính thích ứng đa vật chủ của virus cúm 21

2.4.4 Cơ chế xâm nhiễm gây bệnh của virus cúm A trong tế bào vật chủ 22

2.4.5 Độc lực và khả năng gây bệnh của virus cúm gia cầm 23

2.4.6 Triệu chứng 24

2.4.7 Bệnh tích 24

2.4.8 Chẩn đoán bệnh 24

2.5 Sơ lược hoạt động giám sát cúm gia cầm tại Việt Nam 25

Trang 5

2.5.1 Kết quả giám sát 25

2.5.2 Kết quả phân tích virus cúm gia cầm tại Việt Nam 26

2.6 Công tác phòng, chống bệnh cúm ở gia cầm 27

2.7 Nguyên lý kỹ thuật REALTIME PCR 28

Phần 3 Nội dung, nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 30

3.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Nội dung nghiên cứu 30

3.3 Nguyên liệu 30

3.3.1 Mẫu thí nghiệm 30

3.3.2 Dụng cụ, hóa chất lấy mẫu, thiết bị, hóa chất xét nghiệm 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu 32

3.4.1 Phương pháp dịch tễ học mô tả, dịch tễ học phân tích 32

3.4.2 Phương pháp lấy mẫu 32

3.4.3 Phương pháp xét nghiệm virus cúm A/H5N6 32

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 33

Phần 4 Kết quả và thảo luận 34

4.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại các tỉnh từ 2010 – 6 tháng đầu năm 2016 34

4.2 Kết quả tiêm vaccine cúm gia cầm tại các tỉnh từ 2010 – 6 tháng đầu năm 2016 37

4.3 Tình hình dịch cúm gia cầm tại các tỉnh từ 2010 – 6 tháng đầu năm 2016 39

4.4 Kết quả giám sát virus cúm a/h5n6 tại 12 chợ của các 44

4.4.1 Kết quả lấy mẫu tại các tỉnh 44

4.4.2 Tỷ lệ nhiễm virus cúm type A trong các mẫu bệnh phẩm 45

4.4.3 Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype H5 trong các mẫu bệnh phẩm 47

4.4.4 Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype N6 trong các mẫu bệnh phẩm 50

4.4.5 Lưu hành virus cúm A/H5N6 qua các vòng lấy mẫu 53

4.4.6 Lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ lấy mẫu 56

Phần 5 Kết luận và đề nghị 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Đề nghị 60

Tài liệu tham khảo 62

Phụ lục 67

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

PB2 Polymerase basic protein 2

PBS Phosphate Buffered Saline

PCR Polymerase Chain Reaction

WHO World Health Organization

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 - 2016 6

Bảng 2.2 Tình hình bệnh cúm H5N1 trên người giai đoạn 2003 - 2016 8

Bảng 2.3 Tóm tắt các chủng virus cúm gia cầm tại Việt Nam, 2003 - 2016 27

Bảng 3.1 Trình tự các đoạn mồi và đoạn dò để phát hiện virus H5N6 31

Bảng 4.1 Tình hình dịch cúm gia cầm tại các tỉnh giai đoạn 2010 - 2016 40

Bảng 4.2 Kết quả lấy mẫu tại các tỉnh 45

Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm virus cúm type A trong các mẫu bệnh phẩm 46

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype H5 trong các mẫu bệnh phẩm 48

Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype N6 trong các mẫu bệnh phẩm 50

Bảng 4.6 Lưu hành virus cúm A/H5N6 qua các tháng lấy mẫu 55

Bàng 4.7 Lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ lấy mẫu 57

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Lịch sử đại dịch cúm ở người 4

Sơ đồ 2.1 Cơ chế hoạt động của Taqman probe 29

Sơ đồ 3.1 Quy trình xét nghiệm phát hiện virus cúm A/H5N6 33

Hình 2.1 Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm 15

Hình 2.2 Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A 18

Hình 2.3 Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A ở tế bào chủ 23

Biểu đồ 2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 – 2016 5

Biểu đồ 2.2 Tình hình bệnh cúm H5N1 ở người giai đoan 2003 - 2016 7

Bản đồ 2.1 Phân bố không gian ổ dịch H5N1 từ năm 2007 đến 2011 13

Bản đồ 2.2 Phân bố không gian ổ dịch H5N10 từ năm 2012 đến 2014 13

Bản đồ 2.3 Dịch cúm gia cầm năm 2015 – 2016 14

Bản đồ 4.1 Phân bố các ổ dịch cúm GC tại các tỉnh giai đoạn 2010 – 2011 41

Bản đồ 4.2 Phân bố các ổ dịch cúm GC tại các tỉnh giai đoạn 2012 – 2013 41

Bản đồ 4.3 Phân bố các ổ dịch cúm GC tại các tỉnh năm 2014 42

Bản đồ 4.4 Phân bố các ổ dịch cúm H5N6 các tỉnh giai đoạn 2015 – 2016 42

Biểu đổ 4.1 Tổng đàn gia cầm tại các tỉnh giai đoạn 2010 – 2016 34

Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ tiêm phòng cúm tại các tỉnh giai đoạn 2010 – 2016 38

Biểu đồ 4.3 Phân bố các ổ dịch cúm GC trong năm giai đoạn 2010 – 2016 43

Biểu đổ 4.4 Tỷ lệ nhiễm virus cúm type A trong các mẫu bệnh phẩm 47

Biểu đổ 4.5 Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype H5 trong các mẫu bệnh phẩm 48

Biểu đổ 4.6 Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype N6 trong các mẫu bệnh phẩm 51

Biểu đồ 4.7 Lưu hành virus cúm A/H5N6 qua các tháng lấy mẫu 55

Biểu đồ 4.8 Lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ lấy mẫu 58

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Phạm Xuân Trường

Tên luận văn: “Nghiên cứu sự lưu hành virus cúm gia cầm type A/H5N6 tại một số chợ

buôn bán gia cầm sống trên địa bàn các tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh và ứng dụng kỹ thuật Realtime RT-PCR trong chẩn đoán bệnh”

Ứng dụng kỹ thuật Realtime RT-PCR trong chẩn đoán bệnh

Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả, dịch tễ học phân tích đối với điều tra tình hình chăn nuôi gia cầm, công tác tiêm phòng vaccine phòng cúm, tình hình dịch cúm gia cầm tại các tỉnh trong giai đoạn từ năm 2010 đến 6 tháng đầu năm 2016

Sử dụng quy trình TYV2-HDPP-VR-54 -TCCS 16:2016/TYV2-CĐ của Cơ quan Thú y vùng II để xét nghiệm virus cúm A/H5N6 trong các mẫu bệnh phẩm thu được

Kết quả nghiên cứu chính

Tình hình chăn nuôi gia cầm tại các tỉnh từ 2010 – 6 tháng đầu năm 2016

Kết quả tiêm vaccine cúm gia cầm tại các tỉnh từ 2010 – 6 tháng đầu năm 2016 Tình hình dịch cúm gia cầm tại các tỉnh từ 2010 - 6 tháng đầu năm 2016

Nghiên cứu lưu hành virus cúm A/H5N6

- Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm virus cúm type A trong các mẫu bệnh phẩm

- Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype H5 trong các mẫu bệnh phẩm

- Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype N6 trong các mẫu bệnh phẩm

- Nghiên cứu lưu hành virus cúm A/H5N6 qua các vòng lấy mẫu

- Nghiên cứu lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ lấy mẫu

Trang 10

Công tác tiêm phòng vaccine cúm gia cầm tuy đã được sự đầu tư, quan tâm của chính quyền địa phương song tỷ lệ tiêm phòng hàng năm không cao so với quy định; Trong giai đoạn 2010 – 2016, tại 3 tỉnh đã xảy ra 70 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 và H5N6 trong đó tại Quảng Ninh có 34 ổ làm ốm chết, phải tiêu hủy 52.039 con; tại Hải Phòng 25 ổ dịch với số gia cầm phải tiêu hủy là 106.881 con và tại Lạng Sơn có 11 ổ dịch với 7.428 con gia cầm phải tiêu hủy

Tỷ lệ dương tính với virus cúm A 34,89% (95%CI: 32,21-37,63) Trong đó tại Quảng Ninh tỷ lệ dương tính là 50,23% (95%CI: 45,41-55,05), tại Lạng Sơn 31,67% (95%CI: 26,89-36,75) và tại Hải Phòng là 22,22% (95%CI: 18,39-26,44)

Tỷ lệ dương tính với virus cúm subtype H5 6,45% (95%CI: 6,43-6,51) Trong đó tại Hải Phòng là 8,10% (95%CI: 8,02-8,25), tại Lạng Sơn 6,39% (95%CI: 6,29-6,57) và Tại Quảng Ninh là 4,86% (95%CI: 4,78-5,01)

Tỷ lệ dương tính với virus cúm subtype N6 5,15% (95%CI: 5,12-5,20) Tỷ lệ này

ở lần lượt ở các tỉnh như sau: Hải Phòng 7,87% (95%CI: 7,79-8,02), Lạng Sơn 4,44% (95%CI: 4,35-4,63) và Quảng Ninh 3,01% (95%CI: 2,93-3,16)

Lưu hành virus cúm A/H5N6 tập trung vào tháng 12,1,2 hàng năm Điều này cũng phù hợp với quy luật hàng năm của dịch cúm gia cầm ở nước ta

Phát hiện 12/12 (100%) chợ có lưu hành virus cúm type A, tại 10/12 (83,33%) chợ giám sát có sự lưu hành virus cúm subtype H5 và subtype N6

Trang 11

THESIS ABSTRACT The writer: Pham Xuan Truong

The master thesis: “Study of circulation of A/H5N6 avian influenza virus at some live

bird markets in 3 provinces including Hai Phong, Lang Son and Quang Ninh and application of Realtime RT-PCR technique to diagnose avian influenza disease”

Training facility: Vietnam National University and Agriculture

Research purpose

In oder to detemine circulation of A/H5N6 avian influenza virus in studied provinces aimed at raising early warning and finding out the most suitable control and prevention measures

Application of Realtime RT-PCR technique to diagnose avian influenza disease

Methods of studying

Descriptive and analytical epidemiology are used to investigate status of poultry husbandry, vaccination against avian influenza and HPAI outbreaks at studied provinces between 2010 and June 2016

Application of Realtime RT-PCR technique (TYV2-HDPP-VR-54 and TCCS 16:2016/TYV2-CĐ) to detect A/H5N6 virus from samples collected from live bird markets at studied provinces

Main results

Poultry production situation of studied provinces during 2010-June 2016

Result of vaccination against avian influenza during 2010-June 2016

HPAI oubreak status at studied provinces during study period

Study of circulation of A/H5N6 avian influenza virus in 3 provinces

- Infection rate of avian influenza type A virus detected from tested samples

- Infection rate of avian influenza subtype H5 virus detected from tested samples

- Infection rate of avian influenza subtype N6 virus detected from tested samples

- Circulation of A/H5N6 virus through sampling rounds

- Circulation of A/H5N6 virus at live bird markets during surveillance period

Trang 12

During 2010-2016, there were 70 HPAI outbreaks due to A/H5N1 and A/H5N6 virus occured at Haiphong, Langson and Quang ninh province Among of that, 34 outbreaks happened in Quangninh leading to 52.039 birds destroyed; 106.881 birds were destroyed from 25 outbreaks in Haiphong and 11 outbreaks in Langson made 7.428 birds destroyed

Proportions of detection of Influenza A was 34,89% (95%CI: 32,21-37,63), but fluctuated between locals, 50,23% (95%CI: 45,41-55,05), in Quangninh, 31,67% (95%CI: 26,89-36,75) in Lang son and 22,22% (95%CI: 18,39-26,44) in Haiphong

Detection rate of samples positive with subtype H5 was 6,45% (95%CI: 6,51) The highest rate of 8,1% (95%CI: 8,02-8,25) in Haiphong, 6,39% (95%CI: 6,29- 6,57) in Lang son and the lowest was Quangninh with 4,86% (95%CI: 4,78-5,01) 5,15% (95%CI: 5,12-5,20) samples tested positively with N6 subtype The highest rate of 7,87% (95%CI: 7,79-8,02) in Haiphong, 4,44% (95%CI: 4,35-4,63) in Lang son and the lowest was Quangninh with 3,01% (95%CI: 2,93-3,16)

6,43-Circulation of A/H5N6 was more prevalent in December, January and February of the year when HPAI outbreaks also occured more often at that time

All 3 provinces (100%) under surveillance activity found positive with A/H5N6 Influenza Type A virus was detected in all of LBMs during surveillance, 10/12 markets (83,33%) found positive with H5, N6 subtype during study period

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, bệnh cúm gia cầm đã và đang xảy ra khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại nặng nề về mặt kinh tế, chính trị và xã hội do đó nó là mối quan tâm và đáng lo ngại của toàn cầu Từ khi dịch xuất hiện đến nay đã có 75 quốc gia và vùng lãnh thổ thế giới xuất hiện dịch khiến hàng trăm triệu gia cầm ốm chết, phải tiêu hủy và đã có 844 người mắc bệnh, tử vong 449 người tại 16 quốc gia, diễn biến dịch ngày càng phức tạp

Tại nước ta, bệnh Cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên và bùng phát thành dịch vào cuối tháng 12 năm 2003 ở Hà Tây sau đó dịch nhanh chóng lây lan ra khắp cả nước Kể từ khi dịch xuất hiện, đến năm 2015 đã có 5.611 ổ dịch cúm gia cầm với khoảng 60 triệu con gia cầm các loại mắc bệnh phải tiêu hủy bắt buộc Nghiêm trọng hơn, virus cúm đã lây sang người làm 127 người mắc bệnh,

số bệnh nhân tử vong là 64 người (Phạm Thành Long, 2016)

Tháng 4 năm 2014, virus cúm H5N6 lần đầu tiên được phát gây bệnh trên gia cầm và gây chết người tại tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc Tháng 8 năm 2014, Cục Thú y cũng lần đầu tiên phát hiện cúm A/H5N6 trên lãnh thổ Việt Nam, cụ thể trên đàn gà 80 con tại xã Chi Lăng huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và trên đàn vịt tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Trước đó, chủng virus này đã được phát hiện ở vịt trời và chim hoang dã tại Thuỵ Điển, Đức, Mỹ, Trung Quốc Đáng lo ngại là kết quả giải trình tự gen của các mẫu virus cúm A/H5N6 phát hiện ở Việt Nam cho thấy có sự tương đồng đến 99% về kiều gen với chủng virus cúm A/H5N6 gây tử vong đầu tiên trên người tại Trung Quốc Từ đó đến nay, virus cúm A/H5N6 tiếp tục được phát hiện tại nhiều tỉnh trong cả nước trong đó có các tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh và các tỉnh khác: Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tuyên Quang,

Sự xuất hiện của virus cúm A/H5N6 trên gia cầm ở Việt Nam đang góp phần nối dài danh sách những chủng virus cúm gây bệnh cho người Bởi cơ thể người chưa có kháng thể chống lại những virus mới, trong khi đặc tính của virus cúm luôn biến đổi để thích nghi

Chợ buôn bán gia cầm sống rất phổ biến tại nước ta, người dân có thói quen mua gia cầm sống và giết mổ tại chợ Gia cầm đến từ nhiều nguồn khác nhau và

có nhiều loài gia cầm khác nhau được bán tại chợ Nơi bán và giết mổ cùng một

Trang 14

chỗ, không được vệ sinh tiêu độc khử trùng thường xuyên, người buôn bán, người mua tiếp xúc trực tiếp với gia cầm do đó nguy cơ virus cúm gia cầm nói chung và virus cúm A/H5N6 nói riêng từ gia cầm xâm nhập và lây nhiễm cho người là rất cao

Kỹ thuật Realtime RT-PCR là một kỹ thuật hiện đại trong chẩn đoán, cho phép phát hiện nhanh, chính xác virus Kết quả hiển thị bằng giá trị Ct (Cycle of threshold) và cho phép định lượng được hàm lượng virus không phức tạp như kỹ thuật PCR truyền thống cần điện di DNA trên gel agarose khi phản ứng kết thúc

để đọc kết quả nên mất nhiều thời gian Kể từ khi được áp dụng tại nước ta, kỹ thuật này đã chứng tỏ sự ưu việt của nó giúp nhanh chóng xác minh được nhiều loại mầm bệnh trong đó có bệnh cúm gia cầm phục vụ cho công tác phòng chống dịch kịp thời tại các địa phương

Để phát hiện lưu hành virus tại các chợ buôn bán gia cầm sống nhằm cảnh bảo sớm dịch cúm gia cầm và điều chỉnh các biện pháp phòng chống dịch cho phù hợp cũng như dựa vào những đặc điểm ưu việt của kỹ thuật Realtime RT-

PCR, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự lưu hành virus cúm gia cầm type A/H5N6 tại một số chợ buôn bán gia cầm sống trên địa bàn các tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh và ứng dụng kỹ thuật Realtime RT- PCR trong chẩn đoán bệnh”

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Xác định sự lưu hành của chủng virus cúm gia cầm A/H5N6 trên địa bàn các tỉnh nghiên cứu nhằm cảnh báo sớm dịch cúm gia cầm và điều chỉnh các biện pháp phòng, chống dịch cho phù hợp

Ứng dụng kỹ thuật Realtime RT-PCR trong chẩn đoán bệnh

1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Sau khi có kết quả xác định tỷ lệ lưu hành virus cúm gia cầm A/H5N6 trên địa bàn 3 tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh kết hợp với các số liệu giám sát do Cục Thú y đã triển khai trước đó sẽ giúp các ban, ngành chức năng của địa phương có cái nhìn tổng thể về sự xuất hiện, lưu hành chủng virus gây bệnh trên địa bàn, từ đó có các giải pháp cụ thể phòng, chống lây bệnh cúm ở gia cầm và biện phòng tránh lây nhiễm bệnh cúm từ động vật sang người

Nâng cao năng lực cho thú y cơ sở các kỹ thuật trong lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu bệnh phẩm

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 KHÁI NIỆM BỆNH CÚM GIA CẦM

Cúm gia cầm (Avian Influenza – AI) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở

gia cầm, do nhóm virus cúm typ A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Đây là nhóm virus có biên độ vật chủ rộng, được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên hai kháng nguyên bề mặt capsid của hạt virus là HA và NA (De Wit, 2008) Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 subtyp

NA (từ N1 đến N9) Sự tổ hợp giữa các subtype HA và NA sẽ tạo ra nhiều subtyp khác nhau Mặt khác, virus cúm A có đặc tính quan trọng là dễ dàng đột biến trong gen/hệ gen (đặc biệt ở gen NA và HA) hoặc trao đổi các gen với nhau, trong quá trình xâm nhiễm và tồn tại lây truyền giữa các loài vật chủ, dẫn đến việc tạo nên nhiều subtyp có độc tính và khả năng gây bệnh khác nhau (Nguyễn

Bá Hiên và cs, 2014)

Trước đây, bệnh được gọi là bệnh dịch tả gà (Fowl plague), nhưng từ Hội

nghị quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville (Mỹ) năm 1981 đã thay thế tên này bằng tên Highly pathogenic avian influenza – HPAI Tên này dùng để chỉ các virus cúm type A có độc lực mạnh, lây lan nhanh và có tỷ lệ tử vong cao Tổ chức Thú y thế giới đã xếp HPAI thuộc danh mục A, là 1 trong 15 bệnh nguy hiểm ở động vật Tại nước ta, bệnh cúm gia cầm nằm trong danh mục các bệnh bệnh động vật trên cạn phải công bố dịch; Danh mục các bệnh truyền lây giữa động vật và người; Danh mục bệnh động vật cấm giết mổ, chữa bệnh; Danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phải áp dụng biện pháp phòng bệnh bắt buộc bằng vắc xin cho động vật nuôi và Danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phải áp dụng biện pháp giám sát định kỳ (Bộ NNPTNT, 2016)

2.2 TÌNH HÌNH BỆNH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI

2.2.1 Tình hình chung

Cúm gia cầm lần đầu được phát hiện ở Italia vào năm 1878 với tên gọi là

dịch hạch gà (Fowl plague) nhưng tới năm 1901 mới xác định được yếu tố gây

bệnh là căn nguyên siêu nhỏ có khả năng qua màng lọc và tới năm 1955 xác định được nguyên nhân chính xác nguyên nhân gây bệnh cúm gia cầm là virus cúm type A thông qua kháng thể bề mặt A/H7N1 và A/H7N7 gây chết nhiều ở gà và

gà tây và các loại động vật khác (Beard et al., 1998)

Trang 16

Bên cạnh đó virus cúm gia cầm còn lây lan và tạo ra các đại dịch gây tử vong rất lớn trên người Lịch sử các đại dịch cúm ở người xảy ra trên thế giới được mô tả theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1 Lịch sử đại dịch cúm ở người

Nguồn: Phạm Thành Long (2016)

Từ năm 1889 – 1890 đã xảy ra 1 đượt dịch cúm làm chết khoảng 1 triệu người trên thế giới Nguyên nhân được xác định có thế do 2 chủng virus cúm H3N8 hoặc H2N2 (Valleron, 2010)

Năm 1918 – 1919, một đại dịch cúm (cúm Tây Ban Nha) đã nổ ra với mức

độ trầm trọng đã gây tử vong khoảng 20 – 100 triệu người trên toàn thế giới Các nghiên cứu sau này đã chứng minh được virus gây ra đại dịch này là H1N1

(Taubenberger et al., 1997)

Cúm Châu Á hay cúm Nga xảy ra trong giai đoạn 1889 - 1890 do virus cúm type A/H2N2 gây nên, bắt đầu từ Hong Kong năm 1957 Số người tử vong ước tính từ 1 đến 1,5 triệu người

Cúm Hong Kong – Hong Kong Flu do virus cúm type A/H3N2, xảy ra năm

1968 Tổn thất tử vong ước tính vào khoảng 0,75 đến 1 triệu người

Trang 17

Cúm Nga – Russia flu do virus cúm type A/H1N1 xảy ra năm 1977

Đại dịch cúm H1N1 giai đoạn 2009 – 2010 đã gây tử vong cho khoảng hơn

100 nghìn tới gần 400 nghìn người trên thế giới

Chủng virus cúm A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên

gà tại Scotland vào năm 1959 và có thể là biến thể H5N1 đầu tiên trên thế giới Năm 1997 ở Hong Kong, lần đầu tiên virus cúm gia cầm H5N1 đã gây ra ổ dịch trên gia cầm và lây sang người làm 18 người nhiễm bệnh, 6 người chết và hàng triệu gia cầm đã bị tiêu hủy nhằm ngăn chặn dịch lây lan Đây là lần đầu

tiên virus cúm A/H5N1 gây bệnh trên người (Wu et al., 2008)

Từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2004, bệnh cúm gia cầm đã liên tiếp xảy ra với quy mô lớn ở 11 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á Sự lây lan nhanh chóng dịch cúm gia cầm xảy ra đồng thời ở một số nước đã trở thành mối quan tâm lớn trên toàn cầu Các chủng virus gia cầm độc lực cao đã được phân lập và định type là chủng H5N1, ở Đài Loan là chủng H5N2 (Bùi Quang Anh, 2005; Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2004; Phạm Sỹ Lăng, 2004; Tô Long Thành, 2004) Từ đó đến nay, hàng năm dịch đều xảy ra tại nhiều nước trên thế giới với nhiều chủng virus khác nhau Tính đến hết tháng 6 năm 2016, dịch cúm gia cầm đã xảy ra tại 75 quốc gia và vùng lãnh thổ tại tất cả các châu lục trong đó chủ yếu tại các quốc gia châu Á (http://www.oie.int) Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn

2004 – 2016 được thể hiện theo biểu đồ 2.1 và bảng 2.1:

Biểu đồ 2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 – 2016

Trang 18

Bảng 2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 - 2016

vẫn có rất nhiều quốc gia giới thông báo đã xảy ra các ổ dịch cúm gia cầm

Các quốc gia thuộc Châu Á đặc biệt là khu vực Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Camphuchia, Indonesia, Việt Nam Được coi là khu vực tồn tại lâu dài các ổ dịch do có nhiều điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh lưu hành như tổng đàn gia cầm lớn, phương thức chăn nuôi, buôn bán, giết mổ lạc hậu (Phạm Thành Long, 2016)

Virus cúm liên tục biến đổi tạo ra các chủng virus mới gây bệnh trên gia cầm Ở giai đoạn 2003 – 2004 mới chỉ có 2 chủng virus gây bệnh là H5N1 và H5N2 thì tới nay đã xuất hiện 10 chủng virus cúm có khả năng gây bệnh cho gia cầm và bùng phát thành dịch Tại một số quốc gia hiện mới chỉ phát hiện 1 chủng virus như Ấn Độ (H5N1), Nam Phi (H5N2), Mexico (H7N3)… Bên cạnh đó tại các quốc gia khác đã phát hiện nhiều chủng virus khác nhau gây bệnh cho gia cầm như: Trung Quốc (H5N1, H5N2, H5N3, H5N6, H5N8, H5N9), Đức (H5N1, H5N8, H7N7), Việt Nam (H5N1, H5N6) gây khó khăn cho công tác chẩn đoán xác định mầm bệnh cũng như tốn kém về kinh tế cho công tác phòng chống dịch Không chỉ gây bệnh cho gia cầm, các chủng virus cúm đã lây sang người gây tỷ lệ tử vong rất cao có khi lên tới 100% Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế

Trang 19

giới, từ năm 2003 đến tháng 2/2016, trên toàn thế giới đã có 844 trường hợp bệnh nhân mắc bệnh cúm gia cầm H5N1 trong đó có 449 trường hợp tử vong chiếm tỷ

lệ 53,20% tại 16 quốc gia trên thế giới trong đó nghiêm trọng nhất là ở giai đoạn

2003 – 2009 với 468 ca mắc, 282 ca tử vong tại 15 quốc gia, giai đoạn 2010 –

2015 với 376 ca mắc, 167 ca tử vong tại 7 quốc gia (http://www.who.int)

Trong các quốc gia có người mắc và tử vong do bệnh cúm thỉ Ai Cập là quốc gia chịu thiệt hại lớn nhất với 346 ca mắc, 116 ca tử vong trong đó đặc biệt nghiêm trọng vào năm 2015 với 136 ca mắc và 39 ca tử vong Cùng với Indonesia với 199 ca mắc, 167 ca tử vong Hai quốc gia này năm nào cũng có người mắc và tử vong do bệnh cúm gia cầm

Các ca mắc và tử vong trên người tập trung chủ yếu ở các nước thuộc Châu

Á và Châu Phi đặc biệt là khu vực Đông Á và Đông Nam Á

Tình hình bệnh cúm gia cầm H5N1 ở người trên thế giới giai đoạn 2003 -

2016 cụ thể theo biểu đồ 2.2 và bảng 2.2

Biểu đồ 2.2 Tình hình bệnh cúm H5N1 ở người giai đoan 2003 - 2016

Trang 21

Năm 2013, tại Trung Quốc đã xảy ra dịch cúm A/H7N9 trên người nhiều tỉnh thành trong cả nước sau đó dịch tiếp tục được phát hiện tại một số quốc gia khác như Hồng Kong, Đài Loan, Canada và Malaysia Đến tháng 3/2016 đã ghi nhận 766 trường hợp dương tính với cúm A(H7N9) ở người trong đó Trung Quốc là quốc gia ghi nhận nhiều nhất (747 người), Đài Loan (4 người), Hồng Kông (12 người), Malaysia (1 người) và Canada (2 người) Số trường hợp tử vong là 296 người Hiện tình hình dịch cúm A/H7N9 trên người tại Trung Quốc vẫn diến biến phức tạp Đặc tính của virus cúm A/H7N9 là dễ biến đổi, thích nghi cao với động vật có vú, có khả năng lây lan rộng Tuy nhiên, đến nay chưa

có hiểu biết đầy đủ các nguồn lây bệnh Đặc biệt biểu hiện cúm A/H7N9 ở gia cầm không rõ ràng (http://www.vncdc.gov.vn)

Cũng vào cuối năm 2013 tại tỉnh Giang Tây - Trung Quốc đã phát hiện 1 ca mắc và tử vong do virus bệnh cúm A/H10N8 kết quả nghiên cứu cho thấy đã tìm thấy virus trên các loài chim hoang dã, đã có biến đổi và lây sang người

Từ cuối tháng 9 năm 2015 cũng tại Trung Quốc đã phát hiện 4 trường hợp trẻ em từ 1 tới 15 tuổi tại 2 tỉnh An Huy và Hồ Nam dương tính với virus cúm A/H9N2 Tại thời điểm báo cáo 4 trường hợp trên đang trong tình trạng nhẹ Theo Tổ chức Y tế thế giới, một số trường hợp mắc cúm A/H9N2 đã được ghi nhận từ năm 1999 Một số trường hợp hoặc chùm ca bệnh nhỏ có thể xảy ra do

sự lưu hành của virus cúm A/H9N2 trong quần thể gia cầm khu vực châu Á và Trung Đông Hiện chưa có bằng chứng về việc lây truyền dễ dàng virus cúm A/H9N2 từ người sang người (http://www.vncdc.gov.vn)

2.2.2 Tình hình dịch cúm H5N6 trên thế giới

Chủng virus cúm type A/H5N6 đã từng được phát hiện ở vịt trời và chim hoang dã tại Thụy Điển, Đức, Mỹ và Đài Loan tuy nhiên chưa ghi nhận các ổ dịch trên gia cầm Chủng virus này lần đầu được phát hiện gây bệnh trên gia cầm vào tháng 4 năm 2014 tại Tứ Xuyên, Tây Nam, Trung Quốc, cơ quan chức năng

đã phải tiêu hủy 1.338 con gà Cũng tại đây, lần đầu tiên một người đàn ông 49 tuổi tử vong do nhiễm virus cúm A/H5N6

Vào tháng 7 năm 2014, tại tỉnh Luang Prabang, Lào cũng đã phát hiện ổ dịch cúm A/H5N6 trên đàn gia cầm 200 con của 1 hộ chăn nuôi (www.oie.int) Tháng 9/2014, tiếp tục phát hiện các ổ dịch cúm A/H5N6 tại thành phố Cáp

Trang 22

Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc với hơn 86 nghìn con ngỗng đã bị tiêu hủy bắt buộc (www.oie.int)

Đầu năm 2015 xuất hiện 1 trường hợp bệnh nhân nam 44 tuổi, sống ở Khu

tự trị Tây Tạng, tỉnh Vân Nam – Trung Quốc có tiền sử tiếp xúc với chim hoang

dã chết Mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân được xét nghiệm cho kết quả dương tính với cúm A/H5N6 Như vậy, tính tới tháng 6/2016, trên lãnh thổ Trung Quốc đã xảy ra 35 ổ dịch cúm gia cầm H5N6 với gần 52 nghìn con mắc bệnh, số gia cầm phải tiêu hủy lên tới 273 nghìn con và 2 trường hợp mắc bệnh trên người trong

đó có 1 trường hợp tử vong (http://www.vncdc.gov.vn)

Tháng 1 - 2 năm 2016, thông qua chương trình giám sát chủ động, các nhà khoa học Hồng Kong đã phát hiện virus H5N6 trên mẫu bệnh phẩm thu thập từ chim hoang dã (WWW.oie.int) Cũng Theo Tổ chức Thú y thế giới, virus cúm A/H5N6 là chủng virus có độc cao nhưng chưa có bằng chứng lây truyền từ người sang người

2.3 TÌNH HÌNH BỆNH CÚM GIA CẦM Ở VIỆT NAM

2.3.1 Tình hình chung

Bệnh cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng

12/2003 do virus cúm gia cầm H5N1 độc lực cao (HPAI) gây ra Kể từ khi dịch xuất hiện, đến năm 2015 đã có 5.611 ổ dịch cúm gia cầm với khoảng 60 triệu con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy bắt buộc Nghiêm trọng hơn, virus cúm đã lây sang người làm 127 người mắc bệnh, số bệnh nhân tử vong là 64 người (Phạm Thành Long, 2016) Diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm H5N1 tại Việt Nam giai đoạn 2003 – 2008 được chia thành 6 đợt chính:

- Đợt 1: từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2004, dịch đã xảy ra ở 2.574 xã, 381 huyện thuộc 57 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là

45 triệu con chiếm khoảng 16% tổng đàn gia cầm cả nước (www.cucthuy.gov.vn) Trong năm 2003 có 3 ca mắc và tử vong ở người do virus cúm H5N1

- Đợt 2: từ tháng 4 đến tháng 11/2004, dịch xuất hiện ở 46 xã tại 32 huyện thuộc 17 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 84.078 con (www.cucthuy.gov.vn) Trong năm 2004, có 29 ca H5N1 ở người, trong đó số tử

Trang 23

vong là 20 người

- Đợt 3: từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005, dịch xảy ra ở 670 xã, 182 huyện thuộc 36 tỉnh Số gia cầm tiêu huỷ là 1.296.184 con bao gồm 470.495 con

gà và 825.689 thủy cầm (www.cucthuy.gov.vn) Trong năm 2005, có 61 ca H5N1 ở người, trong đó có 19 ca tử vong

- Đợt 4: từ tháng 10/2005 đến 01/2006 với 24 tỉnh, thành có dịch Tổng số gia cầm tiêu huỷ là 3.972.763 con trong đó gà 1.338.523 con, thuỷ cầm và loài khác là 2.634.24con (www.cucthuy.gov.vn)

- Đợt 5: bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007, đã xảy ra 269 ổ dịch tại 33 tỉnh thành trong cả nước làm ốm chết và phải tiêu hủy bắt buộc là 397.943 con (www.cucthuy.gov.vn) Trong năm 2007 có 8 ca H5N1 ở người, trong đó số người chết là 5 ca

- Đợt 6: từ đầu năm 2008: xảy ra rải rác tại 57 xã của 40 huyện thuộc 21 tỉnh Tổng số gia cầm tiêu huỷ là 60.090 con, trong đó có 23.498 gà, 36.592 thuỷ cầm (www.cucthuy.gov.vn) Năm 2008 có 6 ca mắc cúm H5N1 ở người và 5 trong số 6 ca đã tử vong

Năm 2009, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 68 xã của 34 huyện thuộc 17 tỉnh với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy trên 127.000 con (www.cucthuy.gov.vn) Năm 2009 có 5 ca mắc H5N1 ở người và đều tử vong Năm 2010, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 46 xã của 24 tỉnh làm 42.614 con gia cầm mắc bệnh, chết và phải tiêu hủy bắt buộc (www.cucthuy.gov.vn) Trong năm 2010, có 7 ca mắc H5N1 ở người và có 2 ca tử vong

Trong năm 2011 có 82 xã, 43 huyện thuộc 22 tỉnh có dịch Tổng số gia cầm mắc bệnh 110.311 con, số tiêu hủy là 151.356 con (Nguyễn Ngọc Tiến, 2013) Năm 2012 đã xảy ra 296 ổ dịch ở 112 huyện, 32 tỉnh làm ốm chết và phải tiêu hủy 616.109 con trong đó có 117.946 con gà, 479.859 vịt và 18.304 ngan (Nguyễn Ngọc Tiến, 2013) Trong năm này có 4 ca mắc bệnh trên người và có 2

ca tử vong

Năm 2013 đã xảy ra 104 ổ dịch cúm gia cầm tại 64 huyện, 31 tỉnh Số gia cầm ốm chết phải tiêu hủy bắt buộc là 141.687 con Ngoài việc xảy ra trên đàn gia cầm, trong năm 2013 còn phát hiện ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 trên chim

Trang 24

yến tại Ninh Thuận làm ốm chết và tiêu hủy hơn 4.000 con và trên chim cút tại Tiền Giang với hơn 30.000 con chim cút phải tiêu hủy Trong năm này có 2 ca mắc bệnh và tử vong 1 người

Trong năm 2014 đã xảy ra 181 ổ dịch tại 96 huyện, 33 tỉnh trong cả nước,

số gia cầm phải tiêu hủy là 212.780 con Trong năm này có 2 ca mắc bệnh ở người và đều đã tử vong (Cục Thú y, 2014)

Năm 2015 cả nước chỉ xảy ra 19 ổ dịch nhỏ lẻ tại 17 huyện, 12 tỉnh thành trong cả nước với số gia cầm phải tiêu hủy là 58.128 con (Cục Thú y, 2015)

6 tháng đầu năm 2016 cả nước mới xảy ra 3 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 tại 3 huyện thuộc 3 tỉnh là Trà Vinh, Nghệ An và Cần Thơ làm ốm chết và phải tiêu hủy bắt buộc 1.695 con gia cầm các loại (Cục Thú y, 2016)

2.3.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm H5N6

Tháng 8/2014, phát hiện ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 đầu tiên ở nước ta trên đàn gà 80 con của 1 hộ chăn nuôi tại xã Chi Lãng, huyện Tràng Ðịnh, tỉnh Lạng Sơn Sau đó các ổ dịch cúm H5N6 tiếp tục được phát hiện tại các tỉnh khác trong cả nước Ðến cuối tháng 12/2014, cả nước đã xảy ra 7 ổ dịch cúm A/H5N6 tại 6 xã, 6 huyện của 6 tỉnh là Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Lào Cai, Quảng Trị, Quảng Ngãi và Quảng Nam làm 17.188 con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy bắt buộc Ngoài ra trong quá trình giám sát chủ ðộng, virus cúm A/H5N6 cũng được phát hiện tại các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam (Cục Thú y, 2014)

Năm 2015, dịch cúm gia cầm H5N6 đã xảy ra tại 23 xã, 18 huyện của 12 tỉnh trong cả nước là Đắk Nông, Hà Nam, Lai Châu, Lào Cai, Nam Định, Nghệ

An, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Hải Phòng, Sơn La, Thái Bình và Tuyên Quang làm ốm chết và phải tiêu hủy bắt buộc 34.624 con gia cầm các loại trong đó có 17.509 con gà, 7.052 thủy cầm và 10.063 con chim cút (Cục Thú y, 2015)

6 tháng đầu năm, đã xảy ra 8 ổ dịch cúm H5N6 tại 7 huyện của 5 tỉnh là Quảng Ngãi, Lạng Sơn, Nghệ An, Kon Tum và Tuyên Quang làm 17.750 con gia cầm các loại phải tiêu hủy bắt buộc (12.456 gà, 1.094 thủy cầm và 4.000 con chim cút) (Cục Thú y, 2016)

Phân bố các ổ dịch cúm gia cầm ở nước ta từ trước tới nay được thể hiện qua các bản đồ sau:

Trang 26

- Các ổ dịch thường tập trung chủ yếu tại các tỉnh thuộc 3 vùng đồng bằng lớn của cả nước là đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh duyên hải Miền trung và các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm đây là những vùng có tổng đàn gia cầm lớn, mật độ chăn nuôi gia cầm rất cao, hoạt động buôn bán, vận chuyển gia cầm và các sản phẩm gia cầm rất nhộn nhịp, tình trạng buôn bán gia cầm nhập lậu qua biên giới tại các tỉnh phía Bắc, hoạt động nuôi vịt chạy đồng tại các tỉnh phía Nam do đó có nhiều cơ hội thuận lợi cho virus cúm phát tán và lây bệnh cho gia cầm

Trang 27

2.4 CĂN BỆNH

Cúm gia cầm (Avian Influenza – AI) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở

gia cầm, do nhóm virus cúm typ A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Đây là nhóm virus có biên độ vật chủ rộng, được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên hai kháng nguyên bề mặt capsid của hạt virus là HA và NA Nhóm virus cúm A có 16 subtyp HA (từ H1 đến H16) và 9 subtyp NA (từ N1 đến N9)

Sự tổ hợp giữa các subtype HA và NA sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau

Họ Orthomyxoviridae đã được phát hiện bao gồm 4 nhóm virus, đó là: nhóm virus cúm A (Influenza A), nhóm virus cúm B (Influenza B), nhóm virus cúm C (Influenza C) và nhóm Thogotovirrus Các nhóm virus khác nhau bởi các kháng nguyên bề mạt capsid, ơ virus cúm A và B là Hemagglutinin (HA), ở virus cúm C là Hemagglutinin Esterase Fusion (HEF) và ở Thogotovirrus là

Glycoprotein (GP) (Ito et al., 1998; Murphy and Webster, 1996)

2.4.1 Đặc điểm sinh học phân tử của virus cúm gia cầm

Hình thái và cấu trúc của virus cúm gia cầm type A qua kính hiển vi điện

tử, virus có dạng hình khối tròn, hình trứng hoặc dạng khối dài, đường kính khoảng 80 – 120 nm Virus có vỏ bọc ngoài, phân tử lượng của hạt virus khoảng

250 triệu Da

Hình 2.1 Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm

Nguồn: http://micro.magnet.fsu.edu/cells/viruses/influenzavirus.html

Trang 28

Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền RNA của virus, bản chất cấu tạo là màng lipit kép có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm được đặc hiệu hóa gắn vào các protein màng của virus Trên bề mặt có khoảng 500 “gai mấu” nhô ra và phân bố dày đặc, mỗi gai mấu dài khoảng 10 – 14 nm có đường

glycoprotein gồm: HA, NA, M1 (matrix) và các dấu ấn khác của virus (Bender et al., 1999; Zhao et al., 2008) Có sự phân bố không đồng đều giữa các phân tử

NA và HA (tỷ lệ khoảng 1NA/4HA), đây là 2 loại protein kháng nguyên có vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm của virus ở tế bào cảm nhiễm (Murphy

and Webster, 1996; Uiprasertkul et al., 2007)

Hệ gen của virus cúm A là RNA sợi đơn âm (viêt tắt là (-) ssRNA), gồm 8 phân đoạn riêng biệt (HA, NA, M, NS, NP, PA, PB1 và PB2) nối với nhau thành

1 sợi duy nhất bên trong vỏ capsid, mã hóa cho 11 protein tương ứng của virus

(Ito et al., 1998; Conenello et al., 2007)

Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein

enzyme PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzyme polymerasa của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus Protein PB2 có khối lượng phân tử theo tính tán khoảng 84.103 Da (trên thực tế là 87,103 Da) (Murphy và Webster, 1996) Tính thích nghi nhiệt độ cơ thể loài vật chủ được cho là có liên quan đến vị trí amino acid 627 ở protein PB2 (ở virus cúm gia cầm

vị trí này là Glu - thích ứng nhiệt độ cơ thể gia cầm khoảng 400C, còn ở virus thích nghi trên người là Lys - thích ứng nhiệt độ cơ thể người khoảng 370C)

(Subbarao et al., 1998)

Phân đoạn 2 (gen PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp

enzyme PB1- tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp enzyme promerase trong quá trình tổng hợp RNA virus, chịu trách nhiệm gắn mũ RNA (Murphy và Webster, 1996) Gần đây, đã có phát hiện thêm 1 protein (PB1-F2) được mã hóa bởi 1 khung đọc

mở khác nhau của PB1, có vai trò gây ra hiện tượng apoptosis (hiện tượng tế bào

chết theo chương trình) (Tumpey et al., 2002)

Phân đoạn 3 (gen PA) kích thước 2233 bp, là phân đoạn gen bảo tồn cao,

mã hóa tổng hợp protein enzyme PA có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 83000 Da (trên thực tế là 96.103Da) PA là một tiểu đơn vị của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên mã RNA trong quá trình tổng hợp

RNA của virus (Luong and Palese, 1992)

Phân đoạn 4 (gen HA) có độ dài thay đổi theo từng chủng virus cúm A

Trang 29

Đây là gen chịu trách nhiệm mã hóa tổng hợp protein HA, gồm hai tiểu phần là

HA1 và HA2 Vùng nối giữa HA1 và HA2 gồm một số amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là điểm cắt cắt của enzyme

protease, đây là vùng quyếtđịnh độc lực của virus (Bosch et al., 1981; Gambotto

et al., 2008) Protein HA có khối lượng phân tử khoảng 63.103 Da (nếu không

được oxy hóa) và 77.103 Da (nếu được oxy hóa, trong đó HA1 là 48.103 Da và

HA2 là 29.103 Da) (Keawcharoen et al., 2005; Luong and Palese, 1992)

Phân đoạn 6 (gen NA), là một gen kháng nguyên của virus, có chiều dài

thay đổi theo từng chủng virus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1 thay đổi khoảng từ 1350 – 1410 bp) (Lê Thanh Hòa, 2004) Đây là gen mã hóa tổng hợp protein NA - kháng nguyên bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân tử khoảng 50.103 Daton

Phân đoạn 5 (gen NP) kích thước khoảng 1556 bp, mã hóa tổng hợp

nucleoprotein (NP) - thành phần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận

chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế bào chủ

Phân đoạn 7 (gen M) có kích thước 1027 bp mã hóa cho protein đệm

(matrix protein - M) của virus Có khoảng 3000 phân tử MP trên bề mặt capsid của virus Protein M1 là protein nền, là thành phần chính của virus có chức năng bao bọc RNA tạo nên phức hợp RNP và tham gia vào quá trình "nảy chồi" của virus Protein M2 là chuỗi polypeptide bé, có khối lượng phân tử là 11.103 Da, là protein chuyển màng – kênh ion cần thiết cho khả năng lây nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởi áo” virus, trình diện hệ gen ở bào tương tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên vật chủ (Luong and Palese, 1993; Murphy and Webster, 1996; Basler, 2007)

Phân đoạn 8 (gen NS), là gen mã hóa protein không cấu trúc (non structural

protein), có độ dài ổn định nhất trong hệ gen mã của virus cúm A, kích thước khoảng 890 bp, mã hóa tổng hợp hai protein là NS1 và NS2, có vai trò bảo vệ hệ gen của virus

Như vậy, virus cúm A có hệ gen được cấu trúc từ 8 phân đoạn riêng biệt và không có gen mã hóa enzyme sửa chữa RNA, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện các đột biến điểm trong các phân đoạn gen/hệ gen qua quá trình sao chép nhân lên của virus, hoặc trao đổi các phân đoạn gen giữa các chủng virus cúm đồng nhiễm trên cùng một tế bào, rất có thể dẫn đến thay đổi tính kháng nguyên tạo nên chủng virus cúm A mới (Suarez and Schultz-Cherry, 2000)

Trang 30

Hình 2.2 Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A

Nguồn: Murphy and Webster (1996)

2.4.2 Kháng nguyên của virus cúm gia cầm

virus vào tế bào chủ (Bender et al., 1999; Wagner et al., 2002) Phân tử HA có

dạng hình trụ, dài khoảng 130 ăngstron (Å), cấu tạo gồm 3 đơn phân (trimer), mỗi đơn phân (monomer) được tạo thành từ 2 tiểu đơn vị HA1 (36 kDa) và HA2 (27 kDa), liên kết với nhau bởi các cầu nối disulfide (-S-S-) Các đơn phân sau khi tổng hợp đã được glycosyl hóa (glycosylation) và ngắn vào mặt ngoài capsid

là tiểu đơn vị HA2, phần đầu tự do hình chỏm cầu được tạo bởi dưới đơn vị HA1 chứa đựng vị trí gắn với thụ thể thích hợp của HA trên bề mặt màng tế bào đích

(Bosch et al., 1981; Wagner et al., 2002)

Sự kết hợp của HA với thụ thể đặc hiệu (glycoprotein chứa sialic acid) trên

bề mặt màng tế bào, khởi đầu quá trình xâm nhiễm của virus trên vật chủ giúp cho virus xâm nhập, hòa màng và giải phóng RNA hệ gen thực hiện quá trình nhân lên ở trong tế bào cảm nhiễm Quá trình kết hợp phụ thuộc vào sự phù hợp cấu hình không gian của thụ thể chứa acid sialic của tế bào đích với vị trí gắn với

Trang 31

thụ thể này trên phân tử HA của virus cúm, quyết định sự xâm nhiễm dễ dàng

của virus ở các loài vật chủ khác nhau (Wagner et al., 2002) Vị trí acid amin 226

(aa226) của HA1 được xác định là vị trí quyết định phù hợp gắn HA với thụ thể đặc hiệu của nó, ở hầu hết các chủng virus cúm A lưu hành trong tự nhiên vị trí

này là Glycine, thích ứng với thụ thể Gal α-2,3 sialic acid (chứa sialic acid liên kết

với nhóm hydroxyl (4-OH) của galactose ở góc quay α-2,3) của tế bào biểu mô đường hô hấp của chim và gia cầm Ngoài ra, một số vị trí acid amin khác: Glutamine 222, Glycine 224 cũng có sự liên quan chặt chẽ đến khả năng thích ứng với thụ thể chứa sialic acid bề mặt màng tế bào chủ (Luong and Palese, 1993) Protein HA là kháng nguyên bề mặt quan trọng của virus cúm A, kích thích

cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng type HA và tham gia vào phản ứng trung hòa virus, được coi là protein vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus, là đích đến của bảo vệ miễn dịch học nhằm ngăn chặn sự xâm nhiễm của virus ở cơ thể nhiễm, cơ sở điều chế các

vacxin phòng cúm hiện nay (Bosch et al., 1998)

2.4.2.2 Protein NA (Neuraminidase)

Protein Neurominidase là một protein enzyme có bản chất là glycoprotein được gắn trên bề mặt capsid của virus cúm A, mang tính kháng nguyên đặc trưng theo từng saubtype NA Có 9 subtype (từ N1 - N9) được phát hiện ở virus cúm gia cầm, hai subtype N1 và N2 được tìm thấy ở virus cúm người liên quan đến

các đại dịch cúm trong lịch sử (Wasilenko et al., 2008) Có khoảng 100 phân tử

NA xen giữa các phân tử HA trên bề mặt capsid hạt virus Phân tử NA có dạng nút nồi hình nấm, đầu tự do (chứa vùng hoạt động) gồm 4 dưới đơn vị giống như hình cầu nằm trên cùng một mặt phẳng và phần kị nước gắn vào vỏ capsid

(Uiprasertkul et al., 2007)

Protein NA có vai trò là một enzyme cắ đứt liên kết giữa các gốc acid sialic của màng tế bào nhiễm với phân tử cacbonhydrate của protein HA, giải phóng hạt virus ra khỏi màng tế bào nhiễm, đẩy nhanh sự lây nhiễm của virus trong cơ thể vật chủ Mặt khác, NA tham gia vào phân cắt liên kết này trong giai đoạn

“hòa màng”, đẩy nhanh quá trình cởi áo “uncoating” giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương tế bào nhiễm, giúp cho quá trình nhân lên của virus nhanh

hơn (Uiprasertkul et al., 2007) Ngoài ra, NA còn phân cắt các liên kết glycoside,

giải phóng neuraminic acid làm tan loãng màng nhầy bề mặt biểu mô đường hô hấp, tạo điều kiện cho virus nhanh chóng tiếp cận tế bào biểu mô và thoát khỏi các chất ức chế không đặc hiệu Cùng với vai trò của kháng nguyên HA, cả 3 khâu tác

Trang 32

động trên của NA đều tham gia làm tăng độc lực gây bệnh của virus cúm A ở cơ thể vật chủ Do đó, NA là đích tác động của các thuốc, hóa dược ức chế virrus

không đặc hiệu hiện nay (Aoki et al., 2007)

Bên cạnh đó, NA còn là một kháng nguyên bề mặt virus, tham gia kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể chủ, sinh ra kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên NA của các chủng virus đương nhiễm có tác dụng phong tỏa protein NA Như vậy, kháng nguyên NA cùng với kháng nguyên HA của virus là các đích chủ yếu của cơ chế bảo hộ miễn dịch của cở thể với virus cúm A và là cơ sở điều chế các vacxin phòng cúm hiện nay cho người và gia cầm (Suarez and Schultz-

Cherry, 2000; Wu et al., 2008)

2.4.2.3 Các phương thức biến đổi kháng nguyên

a Hiện tượng lệch kháng nguyên

Lệch kháng nguyên (antigenic drift) thực chất là các đột biến điểm xảy ra các phân đoạn gen/hệ gen của virus Do virus cúm A ký sinh nội bào bắt buộc, không có cơ chế “đọc và sửa bản sao – proof reading” trong quá trình phiên mã

và sao chép ở nhân tế bào đích Sự thiếu hụt enzyme sửa chữa RNA dẫn đến các enzyme sao chép phụ thuộc RNA sẽ có thế “gài” thêm (đột biến giãn nở), làm mất đi hoặc thay thế (đột biến trượt-xóa) một hay nhiều nucleotide mà không được sửa chữa trong phân tử RNA chuỗi đơn mới của virus (Lê Thanh Hòa và cs, 2006) Tùy thuộc vị trí xảy ra các đột biến trong bộ ba mã hóa, mà có thể trực tiếp làm thay đổi các amino acid trong trình tự của protein được mã hóa biểu hiện, dẫn đến thay đổi thuộc tính của protein, hoặc được tích lũy trong phân đoạn gen xảy ra đột biến (đột biến điểm) Tần xuất xảy ra đột biến điểm rất cao, cứ mỗi 10.000 nucleotide (tương ứng với độ dài của RNA hệ gen của virus cúm A)

thì có 1 nucleotide sai khác (Wagner et al., 2002)

Hiện tượng này thường xảy ra ở các phân đoạn gen kháng nguyên NA và

HA, tạo ra các bộ mã tổng hợp các amino acid mới, hoặc làm thay đổi cấu trúc, thay đổi đặc tính của protein đó, hoặc có khả năng glycosyl hóa rất cao trong cấu trúc chuỗi polypeptide kháng nguyên, tạo ra một biến thể virus mới thay đổi độc

lực gây bệnh hay đặc tính kháng nguyên mới (Wasilenko et al., 2008)

b Hiện tượng trộn kháng nguyên

Hiện tương trộng kháng nguyên (còn gọi là trao đổi hay tái tổ hợp) các gen kháng nguyên (antigenic shift) chỉ có ở virus cúm và rất ít ở một số virus RNA gây bệnh gia cầm khác, cho phép 2 chủng virus cúm A khác nhau khi đồng

Trang 33

nhiễm trong một tế bào có thể xảy ra sự hòa trộn (reassort) hoặc trao đổi (swap) các phân đoạn gen của 2 chủng virus đó trong quá trình kết hợp lại RNA hệ gen, tạo ra các trạng thái khác nhau của RNA hệ gen của các hạt virus mới từ hai RNA hệ gen của những virus ban đầu Kết quả là đã tạo ra thế hệ virus mới có các phân đoạn gen kết hợp và đôi khi giúp cho chúng có khả năng lây nhiễm ở

loài vật chủ mới hoặc gia tăng độc lực gây bệnh (Chen et al., 2006)

c Hiện tượng glycosyl hóa

Glycosyl hóa (glycosiylation) là sự gắn kết của một chuỗi carbonhydrate (oligosaccharide) vào với amino acid Asparagine (N) ở một số vị trí nhất định trong chuỗi polypeptide HA và NA, hay một số polypeptide khác của virus cúm Thông thườn chuỗi oligosaccharide được gứn tại vị trí N-X-S/T (N = Asparagine;

X = amino acid bất kỳ, trừ Proline; S/T = Serine hoặc Threonine) Đây là những

vị trí đựơc cho là gắn kết với các kháng thể được cơ thể sinh ra do kích thích cuả kháng nguyên nhằm bảo vệ cơ thể nhiễm Hiện tượng lệch kháng nguyên sinh ra đột biến điển hình thành bộ mã của Asparagine tạo tiền đề cho hiện tượng glycosyl hóa xảy ra khi tổng hợp chuỗi polypeptide HA hay NA làm thay đổi biểu hiện đặc tính kháng nguyên của HA và NA, làm cho virus thoát khỏi tác động miễn dịch bảo hộ của cơ thể chủ và điều hòa sự nhân lên của virus (Baigent

và Mc Cauley, 2001)

Hiện tượng lệch kháng nguyên và glycosyl hóa xảy ra liên tục theo thời gian, còn hiện tượng trộn kháng nguyên có thể xảy ra với tất cả các chủng của virus cúm A, khi đồng nhiễm trong một tế bào ở tất cả các loài vật chủ khác nhau Đây cũng chính là vấn đề đáng lo ngại của virus cúm A/H5N1 hiện nay, mặc dù virus này chưa có sự thích nghi lây nhiễm dễ dàng ở người, nhưng nó có khả năng gây bệnh được cho người và rất có thể A/H5N1 tái tổ hợp (vay mượn) gen HA hay NA, hoặc cả hai gen của các chủng virus cúm A đã thích nghi ở người, để tạo ra một biến chủng virus mới thích ứng lây nhiễm dễ dàng ở người, gây ra nguy cơ của một đại dịch cúm mới và đặt ra một định hướng mới trong phòng chống dịch (Baigent và Mc Cauley, 2001)

2.4.3 Tính thích ứng đa vật chủ của virus cúm

Vật chủ tự nhiên của tất cả các chủng virus cúm A là chim hoang dã (chủ yếu là vịt trời), đây là nguyên nhân lan truyền virus trong tự nhiên rất khó kiểm soát Virus cúm A có khả năng gia tăng biên độ vật chủ của chúng trong quá trình lây truyền ở tự nhiên (De Wit, 2008) Đặc điểm thích ứng vật chủ này là điều

Trang 34

kiện thuận lợi để virus cúm A trao đổi, tái tổ hợp các phân đoạn gen, đặc biệt là các phân đoạn gen kháng nguyên (gen “độc” HA và NA) giữa các chủng tạo ra các chủng virus cúm mới có khả năng thích ứng xâm nhiễm ở các loài vật chủ mới đặc biệt khi chúng vượt qua được “rào cản loài” dễ dàng thích ứng lây nhiễm gây

bệnh từ gia cầm sang người và giữa người với người (Webster et al., 2002)

2.4.4 Cơ chế xâm nhiễm gây bệnh của virus cúm A trong tế bào vật chủ

Virus cúm A/H5N1 kí sinh nội bào bắt buộc, quá trình xâm nhiễm và nhân lên của virus xảy ra chủ yếu ở các tế bào biểu mô đường hô hấp, đường tiêu hóa của cơ thể nhiễm (Murphy and Webster, 1996) có những nét đặc trưng như sau:

- Quá trình xâm nhiễm của virus cúm A được mở đầu bằng sự kết hợp của

HA và thị thể thích ứng của nó trên bề mặt các tế bào này và cuối cùng là giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bào nhiễm

- Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt so với các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất) và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzyme neuraminidae Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giải phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng vài giờ (trung bình 6h)

Sự tạo thành các hạt virus mời không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này

bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử và rơi vào quá trình chết theo chương trình (apopyosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ (Beard, 1998)

- Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào, hệ gen của virus sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển, RNA phụ thuộc (RNA-transcription, RNA-dependent) Phức hợp protein – RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào (Beard, 1998)

Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp các sợi dương từ khuôn là sợi âm của hệ gen virus, từ các sợi dương này chúng tổng hợp nên RNA

hệ gen của virus mới nhờ RNA-poymerase Các sợi này không được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine – gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết hợp với nucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bào tương tế bào Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phân đoạn gen của virus và được enzyme PB2 gắn thêm 10 – 20 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó được vận chuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nộ bào có hạt để tổng hợp nên các protein của virus

Trang 35

2.4.5 Độc lực và khả năng gây bệnh của virus cúm gia cầm

Trong thực tế người ta chia virus cúm ra làm 2 loại: Loại virus độc lực thấp – LPAI và loại có độc lực cao - HPAI

- LPAI là loại virus khi phát triển trong cơ thể nhiễm, có thể gây bệnh cúm nhẹ không có triệu chứng lâm sàng điển hình và không làm chết vật chủ Đây là loại virus lây nhiễm rộng rãi và tạo nên các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trêm cùng một tế bào và trở thành một lọai virus HPAL nguy hiểm

- HPAL là loại virus cúm A có khả năng gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể nhiễm, trên gia cầm chúng thường gây chết 100% số gia cầm bị nhiễm trong vòng 48-72h sau nhiễm Virus loại HPAI phát triển tốt trên tế bào xơ phôi gà, tế bào thận chó (MDCK) không có trypsin Các vị dịch lớn đều do virus HPAI gây ra, thường là virus có kháng nguyên H5 và H7

Trang 36

Virus cúm A có tính thích ứng lây nhiễm cao với biểu mô đường hô hấp và cũng có thể tác động gây tổn thương nhiều cơ quan khác trong cơ thể của động vật cảm nhiễm, do đó còn được gọi là virus hướng đa phủ tạng Khả năng gây bệnh của virus cúm A phụ thuộc vào độc lực vào độc lực và tính thích nghi vật chủ của từng chủng virus ( De Wit, 2008)

2.4.6 Triệu chứng

Biểu hiện lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi, chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm virus …(Nguyễn Tiến Dũng, 2004)

Triệu chứng điển hình là gia cầm chết đột ngột, chết nhiều với tỷ lệ chết từ 20-100% Con vật sốt cao, ủ rũ, bỏ ăn uống, giảm đẻ, suy yếu và đứng tụm lại thành từng đám, lông xù, xơ xác, chảy nước mũi, dịch mũi nhày màu xám, khó thở, vươn cổ để thở, thở khò khè, hắt hơi, chảy nước mắt, viêm kết mạc mắt, nhắm mắt, sưng phù đầu, mào tích sưng phù, màu tím sẫm Con vật có triệu chứng thần kinh như co giật, mất thăng bằng, vận động xoay tròn

2.4.7 Bệnh tích

2.4.7.1 Bệnh tích đại thể

Bệnh tích thường gặp là mào, tích sưng to, tím tái phù quanh mí mắt Xuất huyết dưới da ống chân hoặc kẽ ngón chân thành vệt đỏ rất rõ Xuất huyết điểm trên bề mặt niên mạc và tương mạc nội tạng Xuất huyết hầu hết toàn bộ đường tiêu hóa, đặc biệt thấy rõ ở manh tràng và dạ dày tuyến Túi Fabricius xung huyết

và xuất huyết (Lê Văn Năm, 2004; Alexander, 2007)

2.4.7.2 Bệnh tích vi thể

Bệnh tích vi thể chủ yếu là xung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm bạch cầu đơn nhân ở não và một số cơ quan khác Mạch quản của cơ quan như mào, tích, gan, lách, phổi, thận, cơ tìm, cơ vân, não bị giãn rộng và thâm nhiễm tế bào (Beard, 1998)

2.4.8 Chẩn đoán bệnh

2.4.8.1 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học

Căn cứ vào các yếu tố dịch tễ học như bệnh lây lan nhanh, gia cầm mọi lứa tuổi, nhiều loại gia cầm mắc bệnh, tỷ lệ chết cao lên tới 100% số gia cầm mắc

Trang 37

bệnh, những vùng có ổ dịch cũ, những nơi gia cầm chưa được tiêm phòng vacxin cúm hoặc tiêm phòng chưa đủ thời gian đáp ứng miễn dịch, hoặc đã tiêm phòng nhưng qua khảo sát hiệu giá kháng thể bảo hộ chỉ đạt mức thấp

2.4.8.2 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích

Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích để chẩn đoán Lưu ý các đặc điểm chính như gia cầm bệnh chảy nhiều nước mắt, viên xoang mũi, mào tích tím tái, phù đầu và mí mắt, có triệu chứng thần kinh, da chân vùng không lông xuất huyết

Căn cứ những bệnh tích điển hình như phổi, gan, thận, lách sưng to Xuất huyết mỡ vành tim, ruột viêm cata, xuất huyết Xuất huyết dạ dày cơ, dạ dày tuyến giống bệnh Newcastle Túi fabricius xuất huyết điểm, lỗ huyệt xuất huyết

… (Alexander, 2007; Baigent và Mc Cauley, 2001)

2.4.8.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Chẩn đoán virus học: nuôi cấy, phân lập virus trên rứng gà có phôi ấp 9 –

10 ngày tuổi hoặc trên môi trường tế bào xơ phôi gà hoặc tế bào thận chó MDCK Giám định virus trong dịch nuôi cấy bằng các phản ứng HA, HI

Chẩn đoán virus bằng kỹ thuật Realtime RT-PCR: cho phép xác định virus với lượng rất nhỏ Khẳng định chắc chắn subtype H5 và N1, N6 căn cứ vào primer và probe được thiết kế đặc hiệu

Chẩn đoán huyết thanh học: dùng phản ứng HI để phát hiện và xác định hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gia cầm chưa tiêm phòng

Ngoài ra có thể dùng phản ứng ELISA để phát hiện kháng thể

2.5 SƠ LƯỢC HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CÚM GIA CẦM TẠI VIỆT NAM 2.5.1 Kết quả giám sát

Kể từ khi xuất hiện tại nước ta, dịch cúm gia cầm đã ảnh hưởng rất nhiều tới nước ta kể về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Chính vì vậy việc chủ động các biện pháp phòng bệnh luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức trên thế giới như FAO, VAHIP, CDC, USAID, qua rất nhiều chương trình giám sát chủ động nhằm phát hiện sự lưu hành của các chủng virus trong cả nước qua đó điều chỉnh các biện pháp phòng chống dịch cho phù hợp Sơ lược kết quả hoạt động giám sát cúm gia cầm tại nước ta giai đoạn 2008 – 2016 như sau:

Trang 38

- Đối với hoạt động giám sát chủ động cúm gia cầm H5N1: Qua các dự án

và ở các giai đoạn khác nhau tại nước ta đều phát hiện có sự lưu hành của virus cúm gia cầm A/H5N1với tỷ lệ khá cao Cụ thể trong tổng số 48.349 mẫu xét nghiệm đã phát hiện 1.782 mẫu bệnh phẩm dương tính với virus cúm gia cầm A/H5N1 (3,69%) trong đó ở dự án VAHIP trong tổng số 22.745 mẫu bệnh phẩm

có 680 mẫu dương tính với virus cúm A/H5N1 (2,99%); Ở dự án do FAO tài trợ

có 1.102/25.604 mẫu bệnh phẩm dương tính với virus cúm A/H5N1 (4,3%) Từ tháng 12/2015 đến tháng 2/2016 tiếp tục lẫy 3.840 mẫu bệnh phẩm tại các chợ buôn bán gia cầm sống kết quả có 34/3.084 mẫu bệnh phẩm dương tính với virus cúm A/H5N1 (1,10%) (Phạm Thành Long, 2016)

- Đối với giám sát lưu hành virus cúm A/H7N9 trên đàn gia cầm nhập lậu

và tại các chợ buôn bán gia cầm sống: Từ tháng 6/2013 đến tháng 2/2015 đã xét nghiệm 171.250 mẫu bệnh phẩm tại các tỉnh Biên giới phía Bắc nước ta (Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh) và các điểm trung chuyển, chợ buôn bán gia cầm lớn tại Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang Kết quả chưa phát hiện mẫu bệnh phẩm nào dương tính với virus cúm A/H7N9 Từ tháng 12/2015 đến tháng 2/2016 tiếp tục lấy 3.084 mẫu bệnh phẩm tại các chợ buôn bán gia cầm sống kết quả vẫn chưa phát hiện sự có mặt của virus cúm A/H7N9

trên lãnh thổ Việt Nam (Phạm Thành Long, 2016)

- Đối với giám sát lưu hành virus cúm gia cầm A/H5N6: từ 12/2015 đến tháng 2/2016 đã triển khai chương trình giám sát lưu hành virus cúm gia cầm H5N6 tại 68 chợ buôn bán gia cầm ở 60 huyện, 32 tỉnh trong cả nước Tổng số mẫu bệnh phẩm thu thập là 3.084 mẫu (mẫu gộp) Kết quả xét nghiệm cho thấy

có 108/3.084 mẫu dương tính với virus cúm A/H5N6 (3,50%) (Phạm Thành Long, 2016)

2.5.2 Kết quả phân tích virus cúm gia cầm tại Việt Nam

Để làm tốt công tác phòng, chống bệnh cúm gia cầm độc lực cao, ngoài việc xác định tỷ lệ lưu hành tại các địa phương trong cả nước thì công tác nghiên cứu, giải trình tự gen của virus để qua đó lựa chọn loại vaccine phù hợp cho công tác tiêm phòng trong cả nước Kể từ khi dịch cúm gia cầm xuất hiện tại nước ta tới nay, virus cúm luôn luôn thay đổi về cấu trúc tạo ra các chủng virus mới có độc lực cao gây nhiều khó khăn cho công tác phòng chống dịch tại các địa phương Quá trình biến đổi của các chủng virus cúm tại Việt Nam từ 2003 đến nay được thể hiện qua bảng sau:

Trang 39

Bảng 2.3 Tóm tắt các chủng virus cúm gia cầm tại Việt Nam, 2003 - 2016

2003 - 2005 Virus H5N1 xâm nhập vào Việt Nam Clade 1

2007 - 2008 Xuất hiện Clade 2.3.4 thay thế clade 1;

Clade 7 được phát hiện trên gà nhập lậu

Clade 1 phổ biến và có

những biến đổi

Clade 2.3.2/2.3.4 thỉnh

thoảng được phát hiện

2009 Phát hiện được nhiều nhánh của clade

2.3.4

2010 Xuất hiện clade 2.3.2 giống với chủng

phát hiện tại Mông Cổ, Hong Kong

2011 -2013 Biến đổi từ clade 2.3.4 sang 2.3.2.1 với

3 nhánh phụ A, B, C

2014 Clade 2.3.2.1C là chủ yếu

Xuất hiện virus H5N6 (Clade 2.3.4.4)

Clade 2.3.2.1C phổ biến Clade 1.1 có tại một vài ổ

dịch

2015 - nay H5N6 Clade 2.3.4.4 lưu hành chủ yếu H5N1 Clade 2.3.2.1C phổ

biến Nguồn: Phạm Thành Long (2016)

2.6 CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BỆNH CÚM Ở GIA CẦM

Tại nước ta hiện nay, bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao là 1 trong 5 bệnh

ưu tiên phối hợp liên ngành giữa y tế và thú y trong việc điều tra, giám sát, chia

sẻ thông tin và nghiên cứu khoa học theo Thông tư BNNPTNT Đối với công tác xử lý các ổ dịch cúm gia cầm thực hiện theo Thông

16/2013/TTLT-BYT-tư 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn

Đối với dịch cúm A/H7N9 thực hiện theo Quyết định số 210/QĐ-BNN-TY ngày 14/02/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Ban hành Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp với các chủng virus cúm nguy hiểm có khả năng lây lan sang người

Trong điều kiện chăn nuôi gia cầm như ở Việt Nam hiện nay, để kiểm soát dịch cúm gia cầm, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vacxin cho đàn gia cầm Theo kết quả nghiên cứu mới nhất, hiện nay

Trang 40

tại nước ta lưu hành 2 chủng virus cúm gia cầm chủ yếu là virus cúm A/H5N1 thuộc nhánh 2.3.2.1C và virus cúm A/H5N6 thuộc nhánh 2.3.4.4 (Cục Thú y , 2016) Do đó các loại vaccine được sử dụng cho công tác tiêm phòng hiện nay là:

- Vaccine cúm gia cầm H5N1 Navet-Vifluvac sử dụng để phòng bệnh cúm gia cầm do virus cúm A/H5N1 nhánh 1, A/H5N1 nhánh 2.3.2.1C và A/H5N6 nhánh 2.3.4.4 gây ra

- Vaccine cúm H5N1 Re-6 sử dụng để phòng bệnh cúm gia cầm do virus cúm A/H5N1 nhánh 2.3.2.1C gây ra

- Vaccine H5N1 Re-5 có thể phòng bệnh cúm gia cầm do virus cúm A/H5N1 nhánh 1 và virus cúm A/H5N6 nhánh 2.3.4.4 gây ra

Bên cạnh đó cần tăng cường hoạt động giám sát chủ động đặc biệt là tại các tỉnh vùng biên giới, các chợ buôn bán, các điểm thu gom gia cầm sống để phát hiện thêm các chủng virus mới cũng như xác định sự lưu hành của virus tại các địa phương qua đó đưa ra các cảnh báo sớm, các khuyến cáo kịp thời trong công tác phòng chống dịch

2.7 NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT REALTIME PCR

Kỹ thuật Realtime PCR là một kỹ thuật PCR sử dụng các đặc điểm của quá trình sao chép DNA Trong kỹ thuật PCR truyền thống, sản phẩm khuyếch đại được phát hiện qua phân tích điểm kết thúc bằng cách điện di DNA trên gel agarose khi phản ứng kết thúc Ngược lại, Realtime PCR cho phép phát hiện và định lượng sự tích lũy DNA khuếch đại ngay khi phản ứng đang xảy ra Khả năng này được phát hiện nhờ bổ sung vào phản ứng những phân tử phát huỳnh quang Những hóa chất phát huỳnh quang bao gồm thuốc nhuộm liên kết DNA

và những trình tự gắn huỳnh quang liên kết đặc hiệu với Primer gọi là Probe Khi DNA tương hợp với primer thì quá trình sao chép sẽ xảy ra và sự gia tăng lượng tín hiệu huỳnh quang tỷ lệ với sự gia tăng lượng DNA Ban đầu, tín hiệu huỳnh quang còn ở tín hiệu nền ta không thể phát hiện sự gia tăng tín hiệu cho dù có quá trình khuếch đại và sản phẩm đã tăng theo hàm mũ Đến một thời điểm xác định, sản phẩm khuếch đại đã tạo ra đủ tín hiệu huỳnh quang có thể phát hiện được Chu kỳ này được gọi là chu kỳ ngưỡng CT (Cycle of threshold) Đây cũng

là giá trị để đánh giá kết quả phản ứng

Cúm gia cầm có vật chất di truyền là RNA nên trong kỹ thuật Realtime PCR có thêm quá trình sao chép ngược từ RNA → DNA gọi là Reverse

Ngày đăng: 14/07/2021, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Taubenberger J.K. (1997). Initial genetic characterization of the 1918 "Spanish" influenza virus. Science. Vol 275. pp. 1793-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spanish
Tác giả: Taubenberger J.K
Năm: 1997
1. Bùi Quang Anh (2005). Báo cáo về dịch cúm gia cầm, Hội nghị kiểm soát dịch cúm gia cầm khu vực châu Á do FAO, OIE tổ chức, từ 23 – 25 tháng 2 năm 2005, thành phố Hồ Chí Minh Khác
2. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Y tế (2013). Hướng dẫn phối hợp phòng, chống bệnh lây truyền từ động vật sang người, Thông tư liên tịch 16/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT, Hà Nôi Khác
3. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2014). Ban hành Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp với các chủng virus cúm nguy hiểm có khả năng lây lan sang người, Quyết định số 210/QĐ-BNN-TY, Hà Nội Khác
4. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2016). Quy định vể phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, Thông tư số 07/2016/TT-BNN, Hà Nội Khác
5. Cơ quan Thú y vùng II (2016). Hội nghị giao ban công tác thú y vùng tả ngạn Sông Hồng 6 tháng đầu năm 2016, Thái Bình Khác
7. Cục Thú y (2015). Hướng dẫn giám sát cúm gia cầm tại chợ năm 2015, Hà Nội 8. Cục Thú y (2015). Báo cáo công tác thú y năm 2015, Hả Nội Khác
9. Cục Thú y (2016). Thông báo lưu hành virus LMLM, cúm gia cầm, tai xanh và hướng dẫn sử dụng vaccine năm 2016, Hà Nội Khác
11. Lê Thanh Hòa (2004). Họ Orthomyxoviridae và nhóm virus cúm A gây bệnh trên người và gà, Viện khoa học công nghệ Khác
12. Lê Thanh Hoà, Đinh Duy Kháng và Lê Trần Bình (2006). Sinh học phân tử virus cúm A/H5N1 và quan hệ lây nhiễm trong tự nhiên. Y – Sinh học phân tử, quyển I (chủ biên: Lê Thanh Hòa). NXB Y học, Hà Nội, tr. 29-48 Khác
13. Lê Văn Năm (2004). Bệnh cúm gia cầm. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y. XI, 01, 81–86 Khác
14. Nguyễn Bá Hiên, Phạm Sĩ Lăng, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Tùng, Đỗ Ngọc Thúy, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Trịnh Đình Thâu, Trần Quang Vui, Lê Văn Phan, Phạm Đức Phúc, Phạm Thị Mỹ Dung (2014). Bệnh cúm ở người và động vật. Nhà xuất bản Khác
15. Nguyễn Huy Đăng (2014). Giám sát sự lưu hành của virus cúm A/H5N1 ở gia cầm tại 4 chợ đầu mối trên địa bàn thành phố Hà Nội. Khoa học kỹ thuật Thú y tập XXI số 1/2014, 20-24 Khác
16. Nguyễn Ngọc Tiến (2013). Tình hình dịch cúm gia cầm giai đoạn 2008-2012 và các biện pháp phòng chống. Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y. XX, 01, 82-90 Khác
17. Nguyễn Tiến Dũng (2004). Bệnh cúm gia cầm, hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch. Hà Nội, 5-9 Khác
18. Nguyễn Tiến Dũng (2005). Giám sát bệnh cúm gia cầm tại Thái Bình. Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y. XII, 2, 6-12 Khác
19. Nguyễn Tiến Dũng (2005). Giám sát tình trạng nhiễm virus cúm gia cầm tại đồng bằng sông Cửu Long cuối năm 2004. Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y. XII, 3, 13-18 Khác
20. Phạm Sỹ Lăng (2004). Diễn biến của bệnh cúm gà trên thế giới. Hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch, Hà Nội, 33-38” Khác
21. Phạm Thành Long (2016). Kết quả giám sát lưu hành virus cúm gia cầm tại chợ giai đoạn 2015 – 2016. Tập huấn giám sát và lấy mẫu cúm gia cầm, cúm lợn, Thành phố Hải Phòng Khác
22. Phạm Thành Long (2016). Tình hình dịch cúm gia cầm tại Việt Nam. Tập huấn giám sát và lấy mẫu cúm gia cầm, cúm lợn, Thành phố Hải Phòng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w