Điểm dừng chân đầutiên là Mờng Khoòng Bá Thớc sau đó một bộ phận chuyển xuống MờngKhô Bá Thớc và qua quá trình lịch sử đã định c ở khắp miền Tây Thanh Hoá.Cả hai dòng họ Hà Công, Cầm Bá
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
-*** -Hà trọng thái
Dòng họ Hà Công,Cầm Bá ở miền Tây Thanh Hóa
Trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
(1885-1918) Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
ý chí kiên cờng bất khuất của các dân tộc Mờng, Thái, Kinh, Dao, Thổ,Hmông, Tày, Khơ Mú Robecquain tác giả cuốn sách “ Le Thanh Hoa” khinói đến các dân tộc nơi đây đã viết: “ Miền Tây cha bao giờ sống riêng biệtmột cuộc sống hèn kém, luôn luôn hoà mình vào các sự kiện lớn lao của vùngChâu thổ và vùng vơng quốc An Nam”
Trang 2Trên vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hoá ấy các dòng họ thuộccác tộc ngời cùng cộng đồng dân c đã dũng cảm đơng đầu trớc mọi thế lựcphản động, thiên tai Sức mạnh của dòng họ đã góp phần tạo nên sức mạnhcủa dân tộc.
Trong suốt nhiều thế kỷ, dòng họ Hà Công, Cầm Bá là những dòng họlớn ở miền Tây Thanh Hoá Có vị trí to lớn và ảnh hởng sâu rộng trong cộng
đồng dân c nơi đây Về nguồn gốc tổ tiên dòng họ Cầm Bá vốn xuất phát từ họ
Lò Khăm ở vùng Sơn La (Tây Bắc) đến đây lập nghiệp từ trên 600 năm Dòng
họ này có uy tín và đợc tôn làm tạo trong nhóm Tày Dọ ở Thờng Xuân Dòng
họ Hà Công vốn từ Mờng Hạ, Mai Châu ( Hoà Bình) xuống định c ở miền TâyThanh Hoá vào thời Hậu Lê (đến nay đã hơn 400 năm) Điểm dừng chân đầutiên là Mờng Khoòng (Bá Thớc) sau đó một bộ phận chuyển xuống MờngKhô (Bá Thớc) và qua quá trình lịch sử đã định c ở khắp miền Tây Thanh Hoá.Cả hai dòng họ Hà Công, Cầm Bá không chỉ có uy tín lớn trong các tộc ngờimiền Tây mà còn có ảnh hởng sâu rộng trong cộng đồng dân c miền Tây Nghệ
An, các huyện Trịnh cố, Man Duy và Sầm Na của Lào, Hoà Bình, Sơn La (TâyBắc)…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đTrong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đợc triều đìnhphong kiến coi trọng
Tuy nhiên trong luận văn tốt nghiệp đại học năm 2005 tác giả chỉ mớinghiên cứu dòng họ Hà Công, Cầm Bá trong giai đoạn từ 1885-1896 (phongtrào Cần Vơng) trên phơng diện đấu tranh vũ trang chống Pháp Do đó chúngtôi thấy còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu dòng họ Hà Công, CầmBá trong công cuộc xây dựng, đấu tranh và phát triển kinh tế miền Tây, bảo vệvăn hoá truyền thống trớc sự tấn công dữ dội của thực dân Pháp và giáo lý KiTô giáo Kể từ sau phong trào Cần Vơng thất bại con cháu dòng họ Hà Công,Cầm Bá vẫn nối chí cha ông đứng lên chống Pháp Trong khoảng thời gian đóhai dòng họ đã đóng góp không ít công sức cho lịch sử địa phơng, lịch sử dântộc Tiếp tục nghiên cứu về dòng họ nhằm đảm bảo sự công bằng của lịch sử
Do đó, nghiên cứu về dòng họ Hà Công, Cầm Bá ở miền Tây ThanhHoá trong phong trào giải phóng dân tộc sẽ góp phần bổ sung, làm sáng tỏhơn việc nghiên cứu lịch sử dân tộc trong giai đoạn 1895-1918 trên các phơngdiện: đấu tranh vũ trang, đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế và đấu tranh để bảo vệtruyền thống văn hoá lâu đời Đặc biệt sẽ làm phong phú thêm công cuộc đấutranh giải phòng của nhân dân các dân tộc ít ngời trên lãnh thổ Việt Nam
Trang 3Đồng thời giúp giáo viên ở 11 huyện miền núi có tài liệu biên soạn, giảng dạylịch sử địa phơng Đặc biệt là làm sáng tỏ tình đoàn kết chiến đấu keo sơngiữa các dân tộc, các dòng họ, Mờng, Thái, Kinh, Dao xứ sở này
1.2 Về mặt thực tiễn.
Sách có câu “nhân sinh do tổ, tổ sinh tử tôn , ”, con cháu phải có nghĩa vụ
thờ phụng và ghi nhớ công đức tổ tiên đó là đạo lý và quy luật tất yếu của xãhội “nh đã từng nghe, cây có muôn lá cành vẫn do một gốc sinh ra, sông cóngàn sa muôn lạch cũng từ nguồn chảy về Cây có cội, nớc có nguồn vật thể cógốc có ngọn, sự việc có trớc có sau, có biết cái trớc mới đợc cái sau Vậy tại saokhông ghi chép thành sử sách truyền lại lâu dài cho đời sau” [ 38; 5 ]
Việc nghiên cứu về dòng họ đáp ứng nhu cầu tâm linh của ngời Việt đó
là "tín ngỡng thờ phụng tổ tiên" Xin đợc trích một đoạn văn của giáo sNguyễn Đình Chú trong "Báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học "Văn hoácác tỉnh Bắc Trung Bộ" tổ chức tại Vinh (1994) để thấy đợc tầm quan trọngcủa nó: "Vì niềm tin cần có giữa cuộc đời, vì thoả mãn một phơng diện trongtình cảm, vì muốn sống lại những kỳ niệm tuổi thơ với bao nhiêu thứ trong dịp
lễ hội tổ tiên ngày trớc, có Nam thanh nữ tú quần áo nghiêm trang sặc sỡ hẳnlên giữa cuộc đời lam lũ quanh năm, có trống chiêng náo động nhất thời giữacảnh làng quê im ắng, đói nghèo thủa ấy Có cờ quạt rớc sách phấp phới giữatrời xanh Có pháo hoa tung ánh sáng năm sắc bảy màu giữa đêm khuya trầmmặc của thế gian, có khói hơng nghi ngút gợi cho ngời biết thế nào là khôngkhí thiêng liêng mà tâm linh mình đón nhận, kể cả nắm xôi và vài ba miếngthịt nhỏ xíu nhng là của tổ tiên ban cho con cháu, nhai vào miệng nuốt vàolòng mà cảm thấy ngon lành, quý báu làm sao…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đvì bấy nhiêu thứ đó mà tu tạonhà thờ củng cố lại gia tộc thì ai dám nói là vô nghĩa"[ 78; 3]
Trong việc nghiên cứu dòng họ tuỳ theo quan điểm, chức năng vànhiệm vụ của một cá nhân, một tập thể mà có những góc độ nghiên cứu khácnhau Có ngời nghiên cứu dòng họ dới góc độ " Văn hoá dòng họ", "Lịch sửdòng họ" Nhng có ngời lại nghiên cứu dòng họ dới góc độ truyền thống đấutranh chống ngoại xâm trong một thời kỳ lịch sử xác định, và bản thân chúngtôi cũng muốn đi sâu vào tìm hiểu một dòng họ có ảnh hởng rất lớn đối vớiphong trào giải phóng dân tộc nh thế
Trang 4Trong truyền thống đấu tranh đầy máu và nớc mắt của dân tộc ViệtNam trớc thực dân Pháp xâm lợc nói chung và của đồng bào các dân tộc thiểu
số Thanh Hoá nói riêng, có nhiều dòng họ lớn đóng góp không ít công sức củamình cho lịch sử dân tộc Dòng họ Hà Công ở Điền L – Bá Thớc – ThanhHoá, Cầm Bá ở Trịnh Vạn - Thờng Xuân – Thanh Hoá là những dòng họ hội
tụ đợc những truyền thống ấy
Nghiên cứu về dòng họ Hà Công, Cầm Bá, nhất là những đóng góp củanhững dòng họ này trong phong trào chống Pháp dới danh nghĩa Cần Vơngcuối thế kỷ XIX đến hết chiến tranh thế giới thứ Nhất góp phần nghiên cứu vềquá trình đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân các dân tộc miền TâyThanh Hoá Tìm hiểu thêm về mối tình đoàn kết chiến đấu keo sơn giữa dântộc, dòng họ Mờng, Thái với dân tộc Kinh ở xứ sở này Vì những lý do trên
chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: Dòng họ Hà Công, Cầm Bá ở miền“
Tây Thanh Hoá trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc (1885 1918)” làm đối tợng nghiên cứu.
-2 Lịch sử vấn đề.
Từ những thập niên 80 của thế kỷ XX ở nớc ta, đặc biệt là ở nông thôn,
đợc sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc, vấn đề dòng họ, văn hoá dòng họ đợcnhiều cá nhân và tổ chức nhắc tới Biểu hiện qua việc khôi phục lại nhà thờ họ,tái lập gia phả, quy tập mồ mả, chấn chỉnh gia phong, dòng tộc, nghi lễ thờcúng…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đcác cuộc hành hơng về quê cha đất tổ…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đtất cả cũng nhằm khôi phục,phát huy truyền thống dòng họ, thể hiện lòng kính trọng, biết ơn của thế hệcon cháu đối với tổ tiên, quan trọng hơn nữa là giáo dục truyền thống tốt đẹpcho thế hệ trẻ
Quá trình nghiên cứu các dòng họ trong những thập niên gần đây đạt
đ-ợc những kết quả hết sức khả quan cả về lý luận và thực tiễn Trên lĩnh vựckhoa học xã hội nhân văn Từ việc một số nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểudòng họ nh một hiện tợng lịch sử, xã hội và văn hóa đặc thù của các dân tộc ởnớc ta đã thấy xuất hiện các hội thảo khoa học ví nh: Hội thảo về các dòng họVăn Miếu ở Hà Nội (1995); Hội thảo về dòng họ Nguyễn Xí ở Nghệ An(1997) Đặc biệt là Hội thảo khoa học "Văn hoá các dòng họ ở Nghệ An với
sự nghiệp thực hiện chiến lợc con ngời Việt Nam đầu thế kỷ XXI" (2001)
Trang 5Nghiên cứu về dòng họ Hà Công, Cầm Bá trong phong trào đấu tranhgiải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chúng tôi đặc biệt chú
ý đến các tác phẩm "Võ tớng xứ Thanh", "Văn hoá và lịch sử các dân tộctrong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam" (Nhà xuất bản VHTT Hà Nội - Năm2002), "Văn hoá truyền thống Mờng Khô"[85], "Văn hoá truyền thống ThờngXuân"; Các bài viết xung quanh Hội thảo về Cầm Bá Thớc – Nhân kỷ niệm
100 năm ngày mất của ông Đặc biệt là cuốn danh nhân Hà Văn Mao (kỷ yếuhội thảo khoa học) [39] Bên cạnh đó chúng tôi còn quan tâm đến các tácphẩm viết về các phong trào giải phóng dân tộc "Lịch sử Việt Nam" (tập II)(Giáo s viện sỹ Nguyễn Khánh Toàn), "Lịch sử 80 năm chống Pháp" của TrầnHuy Liệu, hay cuốn "D địa chí Thanh Hoá" (tập I) NXB Hà Nội [11], "Lịch sửThanh Hoá (1802 – 1930) NXB Thanh Hoá [10]
Tác phẩm "Văn hoá truyền thống Mờng Khô" của Uỷ ban nhân dânhuyện Bá Thớc do sở văn hoá thông tin xuất bản dày 203 trang tuy có đề cập
đến lịch sử và con ngời Bá Thớc từ thời kỳ xây dựng Bản Mờng Trong đó có
đề cập đến dòng họ Hà Công Tuy nhiên lại đề cập dới dạng văn hoá dân gian
Nghiên cứu về phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nửa cuối thể kỷXIX đầu thế kỷ XX qua các công trình: “Chống xâm lăng”, quyển 1: “Phongtrào Cần Vơng” (Trần Văn Giàu) [28], "Lịch sử 80 năm chống Pháp (TrầnHuy Hiệu) "Lịch sử Việt Nam" (tập II), "Lịch sử Thanh Hoá" (1802 – 1930),
“Phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân ân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX”(Luận án tiến sĩ lịch sử) của Vũ Quý Thu [82], “Nớc Đại Nam đối diện vớiPháp và Trung Hoa 1847-1885” (Yoshiharu Tsuboi) [45] đã giúp chúng tôi cócái nhìn khái quát về cuộc đấu tranh đầy gay go, quyết liệt và rất đỗi hàohùng của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Thanh Hoá nói riêng
Nhng công trình quan trọng nhất đề cập đến dòng họ Hà Công ở Bá
Th-ớc (Thanh Hoá), Cầm Bá (Thờng Xuân) phải kể đến cuốn "Lai lịch dòng họ
Hà Công" ở Mờng Hạ,(Mai Châu Hoà Bình); "Danh nhân Hà Văn Mao", cácbài viết xung quanh hội thảo Cầm Bá Thớc…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ Qua các tác phẩm ta thấy đợcchân dung vị danh nhân xứ Thanh Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc về mọi phơngdiện gia đình, thân thế, sự nghiệp cũng nh đôi nét sơ thảo về dòng họ HàCông, Cầm Bá - Dòng họ Lang Đạo
Trang 6Song, qua các công trình nghiên cứu trên có thể cho thấy, cho đến naycha có một công trình nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh, hệ thống về đề tàinày Do vậy đề tài này hi vọng giải quyết đợc một số nội dung mà các nhànghiên cứu đang quan tâm
3 Đối tợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu.
* Về đối tợng
Đề tài này chúng tôi không đi sâu vào nghiên cứu lịch sử của một dòng
họ mà chỉ đi vào nghiên cứu những đóng góp của dòng họ đó cho lịch sử địaphơng, dân tộc trong một thời kỳ xác định Tức là tập trung làm rõ vai trò củadòng họ Hà Công, Cầm Bá ở miền Tây Thanh Hóa trong thời kỳ Cần Vơng
đến hết Chiến tranh thế giới thứ Nhất
* Giới hạn nghiên cứu của đề tài.
Về không gian.
Đề tài đi vào nghiên cứu, khảo sát về dòng họ Hà Công, Cầm Bá cũng
nh các nhân vật tiêu biểu của dòng họ ở miền Tây Thanh Hoá Một nội dungquan trọng khác là đi sâu vào tìm hiểu địa bàn hoạt động của nghĩa quân Điền
L, Trịnh Vạn các căn cứ xây dựng của nghĩa quân trên các vùng, Mờng lớnkhác nhau Để từ đó xác lập đợc một cách tơng đối hoàn chỉnh về vai trò vị trícủa dòng họ trên một phạm vi không gian xác định
Về thời gian.
Nghiên cứu một mảng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc củanhững dòng họ Cụ thể là họ Hà Công, Cầm Bá trong thời kỳ Cần Vơng đếnnhững năm đầu thế kỷ XX Tức là từ khi phong trào Cần Vơng nổ ra theo lờikêu gọi "Cần Vơng" của vua Hàm Nghi cho đến khi phong trào Cần Vơng thấtbại, kéo dài đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất Cụ thể là đi vào nghiên cứukhởi nghĩa Hà Văn Mao, Hà Công Tú, Hà Công Hng và con của Hà CôngMao là Hà Triều Nguyệt (tức Lĩnh Nguyệt) (thuộc dòng họ Hà Công); khởinghĩa Cầm Bá Thớc, Cầm Bá Lá, Cầm Bá Tích, Cầm Bá Thành…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ(Cầm Bá)cũng nh sự đóng góp chung của cả dòng họ về nhân lực và vật lực trên tất cảcác phơng diện quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội
Nh vậy, phong trào giải phóng dân tộc do con em dòng họ Hà Công,Cầm Bá khởi xớng, lãnh đạo từ phong trào Cần Vơng đến hết Chiến tranh thế
Trang 7giới thứ nhất đợc luận văn chia ra hai giai đoạn lớn: Từ 1885-1895 và từ 1918.
Nhiệm vụ
- Luận văn tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về quátrình hình thành, phát triển của dòng họ Hà Công (Điền L), Cầm Bá (TrịnhVạn) ở miền Tây Thanh Hóa và vai trò của hai dòng họ đó trong các phongtrào yêu nớc chống thực dân Pháp xâm lợc từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ
XX Thể hiện trên các lĩnh vực: Đấu tranh trên lĩnh vực quân sự; kinh tế; vănhóa t tởng
- Những hoạt động tiêu biểu của các nghĩa quân Điền L, Trịnh Vạn,các căn cứ quân sự
- Trên những cơ sở đó đa ra những nhận xét, đánh giá về vai trò, vị trí
và nguyên nhân thất bại của những phong trào yêu nớc chống Pháp do con emdòng họ Hà Công, Cầm Bá khởi xớng, lãnh đạo Cũng nh đa ra một số đề xuấtnhằm bảo tồn, tôn tạo những di tích lịch sử có liên quan
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Khi Nghiên cứu đề tài này chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn về nguồntài liệu, bởi với những biến động lịch sử cùng với sự quan tâm cha đúng khoahọc của các cơ quan chức năng dẫn đến các nguồn tài liệu quý bị thất lạc, mấtmát, sách hỏng Từ đó khi nghiên cứu chúng tôi phải đối chiếu, so sánh độ tincậy của thông tin
Cơ sở tài liệu phục vụ cho đề tài này gồm:
* Nguồn tài liệu thành văn
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã khai thác các nguồn tài liệu
thành văn sau:
- Các bộ địa lý, lịch sử, các bộ sử của Quốc sử quán Triều Nguyễn, tài
liệu lu trữ ở các cơ quan Trung ơng và tỉnh Thanh Hóa, các bộ lịch sử Đảng:
"Sơ lợc lịch sử Cẩm Thuỷ", lịch sử Đảng bộ huyện Ngọc Lặc, lịch sử Đảng bộThờng Xuân, lịch sử Đảng bộ Nông Cống, lịch sử Đảng bộ Triệu Sơn, lịch sử
Đảng bộ Bá Thớc…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ
Trang 8- Văn bia: "Hà Khải Công Bia Tự" và "Chơng Khải phu nhân bia tự" lậpthời Hà Công Thái năm Minh Mạng thứ 14.
- Gia phả của dòng họ Hà Công ở Mờng Khoòng (Cổ Lũng), ở mờngHạ (Mai Châu Hoà Bình), họ Phạm Bá (Ca Da), Cầm Bá (Thờng Xuân) và các
bộ gia phả của các dòng họ lớn khác
- Dựa vào sách chữ Thái cổ: ở bản Kén, ở Mờng Khoòng (các bản dịchcủa ông Hà Nam Ninh trởng ban dân vận- phó chủ tịch huyện Bá Thớc, nay đãnghỉ hu tại thị trấn Cành Nàng)
- Các nguồn tài liệu khác mà chúng tôi đã liệt kê ở tài liệu tham khảo Nguồn tài liệu trên là cơ sở quan trọng để chúng tôi khôi phục lại bứctranh lịch sử về dòng họ Hà Công, Cầm Bá trong khoảng thời gian đầy biến
động đó
* Nguồn tài liệu điền d thực địa.ã thực địa
Để bổ sung cho nguồn tài liệu còn hết sức hạn chế, chúng tôi đã dựavào nguồn sử liệu điều tra điền dã thực địa ở địa phơng Đó là lời kể của các
cụ già, của con cháu dòng họ Hà Công, Cầm Bá và các dòng học khác có ngờitừng đi theo nghĩa quân Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc Thần phả thành Hoànglàng Đắm, nhà phủ, đền chùa, tài liệu ảnh có liên quan đến dấu tích các cuộckhởi nghĩa, những câu chuyện dân gian, những bài vè kể cả những bài mocúng tế đợc lu truyền trong nhân dân, và các dòng họ sử dụng trong ngày kỵ(giổ) tổ hoặc các nhân vật lịch sử
* Một số công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nớc.
Ngoài ra, sau khi đi sâu vào nghiên cứu đề tài này chúng tôi còn tiếpcận những công trình nghiên cứu của các học giả đi trớc
Phơng pháp nghiên cứu:
Cơ sở phơng pháp luận
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã quán triệt sử dụng phơng pháp
luận, quan điểm sử học Mác Xít- t tởng Hồ Chí Minh Đó là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt toàn bộ luận văn
Trang 9Bên cạnh đó chúng tôi hết sức cố gắng tiến hành các bớc của việc xácminh, phê phán một t liệu lịch sử để qua đó có đợc một nguồn t liệu chính xác,mang lại hiệu quả khoa học cao.
5 Đóng góp của luận văn.
Dòng họ Hà Công, Cầm Bá ở miền Tây Thanh Hóa trong phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc từ phong trào Cần Vơng đến hết Chiến tranh thếgiới thứ nhất (1885-1918) là một đề tài nghiên cứu mang tính chất địa phơng,song qua đó đáp ứng đợc một phần nhu cầu của dòng họ Hà Công, Cầm Bátrong việc khôi phục những giá trị truyền thống của dòng họ Từ đó giáo dụctruyền thống yêu nớc, tinh thần thợng Võ, ý chí kiên cờng bất khuất lòng quảcảm, sẵn sàng hy sinh vì quyền lợi chung cho dân tộc trong con em dòng họ
Đồng thời nó sẽ góp phần làm sáng tỏ những công lao to lớn khác củacác dòng họ có lịch sử phát triển lâu đời, nơi sinh ra những cá nhân kiệt xuấtcho lịch sử dân tộc (Hà Thọ Lộc, Hà Nhân Chính, Hà Công Luận, Hà CôngThái, Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt, Cầm Bá Thiều, Cầm Bá Tiêu,Cầm BáThớc, Cầm Bá Thành, Cầm Bá Lá, Cầm Bá Tích, Cầm Bá Trừng …Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ), lịch sửquê hơng trong những thời kỳ kháng chiến sôi động
Lần đầu tiên luận văn phục dựng lại những diễn biến, những hoạt độngcủa nghĩa quân Điền L, Trịnh Vạn Những hoạt động của con em dòng họ HàCông, Cầm Bá trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, và văn hoá,trong suốt những chặng đờng lịch sử đau thơng song rất đỗi hào hùng của dântộc
Luận văn, Lần đầu tiên đi vào nghiên cứu những đóng góp của hai dòng
họ (mang trong mình những bản sắc văn hóa khác nhau của dân tộc MờngThái) trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế, chính trị-quân sự, văn hóa t tởng Tức làlàm rõ cuộc đấu tranh của hai dòng họ đó trên các lĩnh vực quân sự-chính trị,văn hóa t tởng, kinh tế
Luận văn đã làm sáng tỏ truyền thống văn hóa dân tộc (dân tộc Thái,Mờng) tinh thần thợng võ của của dòng họ Hà Công, Cầm Bá đã có ảnh hởng
đặc biệt sâu sắc tới con em dòng họ trong các cuộc khởi nghĩa Từ đó tạo cho
họ ý chí kiên cờng bất khuất trớc kẻ thù
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống về dòng họ HàCông, Cầm Bá Luận văn có thể là tài liệu giảng dạy lịch sử địa phơng, đồng
Trang 10thời sẽ góp phần hệ thống hoá t liệu để nghiên cứu các đề tài có phạm vi rộnghơn.
6 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn
đ-ợc trình bày ở 3 chơng:
Chơng 1: Quá trình định c, phát triển của dòng họ Hà Công, Cầm Bá ở
miền Tây Thanh Hóa
Chơng 2: Dòng họ Hà Công, Cầm Bá ở miền Tây Thanh Hóa trong
phong trào Cần Vơng chống Pháp (1885-1896)
Chơng 3: Những đóng góp của dòng họ Hà Công, Cầm Bá từ sau phong
trào Cần Vơng đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất (1896-1918)
Nội dung
Chơng 1.
Quá trình định c, phát triển của dòng họ Hà Công, Cầm Bá
ở miền Tây Thanh Hoá
1.1 Vài nét về vị trí chiến lợc, truyền thống yêu nớc của miền Tây Thanh Hoá.
1.1.1 Vị trí chiến lợc
Miền Tây Thanh Hoá là một vùng rộng lớn (8000km2) chiếm 3/4 diệntích toàn tỉnh Phía Bắc giáp tỉnh Sơn La, Hoà Bình, phía Tây giáp Lào, phía
Đông tiếp giáp các huyện trung du và đồng bằng Thanh Hoá
Dới thời Nguyễn Thanh Hoá gồm 5 phủ là Hà Trung, Thiệu Hoá,Quảng Hoá, Thọ Xuân, Tĩnh Gia Trong đó miền Tây bao gồm các huyệnThạch Thành, Cẩm Thuỷ, Lôi Dơng, Quảng Lê và 3 châu là Quan Hoá, ThờngXuân, Lang Chánh Năm Minh Mạng thứ 8 (1827) nhà Nguyễn lại đặt thêmmột phủ Ky Mi ở Tây Bắc Thanh Hoá gọi là phủ Trấn Man lãnh 3 huyện Ky
Mi là Trịnh Cố, Man Duy và Sầm Na
Trang 11Cho đến nay miền Tây Thanh Hoá bao gồm 11 huyện miền núi: MờngLát, Quan Sơn, Quan Hoá, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Lang Chánh,Bá Thớc, Nh Thanh, Nh Xuân, Thờng Xuân Có vị trí quan trọng cả về kinh tếlẫn quốc phòng; là nơi có truyền thống văn hoá lâu đời của các dân tộc: Mờng,Thái, Kinh, H’Mông, Dao, Thổ, Tày và Khơ Mú.
và Sầm Na
Trong chiến tranh nếu làm chủ đợc địa bàn rừng núi Thanh Hoá sẽ làbàn đạp tiến xuống đồng bằng hoặc khi rút lui có thể sang vùng Hoà Bình lênTây Bắc rồi qua Trung Quốc hoặc sang rừng núi đất Lào ở phía Tây Rõ ràngmiền Tây Thanh Hoá có cái thế tiến lên có thể tiêu diệt quân thù khi thời cơ
đến, hay có đờng rút lui khi các phong trào yêu nớc gặp khó khăn
Thực tế lịch sử cho thấy miền Tây Thanh Hoá từng là căn cứ địa mangtính chất chiến lợc trong các cuộc chiến tranh dựng nớc và giữ nớc
Trang 12Trong suốt thời Bắc thuộc Thanh Hoá - miền Tây Thanh Hoá từng lànơi đợc chọn làm căn cứ cho các cuộc khởi nghĩa (Hai Bà Trng ở thế kỷ I;cuộc khởi nghĩa của bà Triệu năm 248 ở núi Na, Thiệu Sơn, Nông Cống…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ).
Đặc biệt trong thời kỳ độc lập tự chủ (thế kỷ X) các triều đại phong kiến Đinh,Tiền Lê, Lý – Trần – Hồ đều chọn Thanh Hoá làm hậu cứ, đất căn bản, đấtphên dậu phía Nam, là nơi đóng Kinh Đô (nhà Hồ) trong quá trình dựng n ớc,chống ngoại xâm
Đặc biệt hơn nữa miền Tây Thanh Hoá với các vùng Thọ Xuân, NgọcLặc, Lang Chánh, Bá Thớc…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ đã trở thành căn cứ địa kháng chiến của nghĩaquân Lam Sơn Nơi đã diễn ra nhiều trận đánh quyết liệt nh Ba Lẫm, Kình
Động Để rồi đến 1424 nghĩa quân Lam Sơn đã di chuyển vào Nghệ An tạodựng thêm lực lợng tấn công ra Bắc thu lại giang sơn
Trong cuộc chiến tranh Nam Bắc triều ở thế kỷ XVI miền Tây ThanhHoá là địa bàn hoạt động, là căn cứ và có vai trò quan trọng trong quá trìnhkhôi phục nhà Lê Trung Hng Sử còn chép lại Nguyễn Kim đã huy động cácchúa đất từ Thanh Hoá đến Mộc Châu chống lại nhà Mạc
Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn ánh chính thức lênngôi lấy hiệu là Gia Long, lấy Huế làm kinh đô Năm 1820 Minh Mạng kế tục
sự nghiệp trị nớc của vua cha, nhận thấy vị trí chiến lợc của miền Tây ThanhHoá trong việc phòng thủ đất nớc ông đã cho xây dựng tại đây nhiều căn cứquân sự tiêu biểu:
Bảo Minh Lơng: ở xã Mỹ Chánh, châu Lang Chánh đắp 1 bảo lớn NămMinh Mạng thứ 18 (1837), đặt quân phòng thủ, sau đổi thành Châu lỵ
Bảo Tùng Hoá: ở xã Hồi Xuân, châu Quan Hoá: “Chỗ này thuộc thợng
lu ba con sông lớn: Sông Mã từ động Lung Linh chảy xuống, sông Lũng từ
động Sơn Trà chảy xuống, sông Lô từ động Tam Lô chảy xuống hợp lu ở
đoạn sông Hồi Xuân Chỗ này rộng thoáng, trớc kia lỵ sở châu Quan Hoá
đóng ở đây, bị giặc tàn phá Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) quan Kinh Lí đến
đấy đắp 1 bảo lớn, gọi là “Động Tùng Hoá, phái binh đóng giữ” [82; 26]
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc, miền Tây ThanhHoá đã trở thành một căn cứ vững chắc của phong trào Cần Vơng Thanh Hoá
Chính vì tầm quan trọng đó nên năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam
đ-ợc thành lập, ngay mới ra đời Đảng ta chỉ rõ: “…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đLực lợng đấu tranh của cácdân tộc thiểu số là một lực lợng lớn (…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ) phải nổ lực tổ chức quần chúng lao
Trang 13động và các dân tộc ấy vào Đảng, Công hội, Nông hội, Phản đế liênminh(…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ) Cần tổ chức và chỉ đạo công nông và các tổ chức lao động khácnhau trong các dân tộc thiểu số, bênh vực quyền hàng ngày của họ Kịch liệtchống các sách lợc áp bức và bóc lột của đế quốc, vua quan (…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ) Trong cácdân tộc thiểu số với những nhiệm vụ cách mạng phản đế và điền địa Đông D-
ơng” [7; 22]
Trong cuộc chiến tranh cách mạng đặt dới sự lãnh đạo của Đảng cộngsản Đông Dơng, miền Tây Thanh Hoá không chỉ có ý nghĩa cho chiến lợccách mạng Việt Nam mà còn đóng vai trò quan trọng liên quan đến cáchmạng của ba nớc Đông Dơng Do đó ngay từ đầu mới giành đợc chính quyềnvấn đề Thợng du đã đợc trung ơng Đảng và Hồ Chủ Tịch quan tâm sâu sắc.Trong th gửi đồng bào Thợng du Thanh Hoá ngày 21-02-1947 ngời viết:
“ Cùng đồng báo yêu quý
Tôi đến thăm Thanh Hoá, tôi định lên thăm đồng bào nhng có việc gấp phải về ngay cha lên đợc tôi lấy làm tiếc Lần sau có dịp tôi đã lên thăm đồng bào
Lúc này toàn thể quốc dân đang ra sức chống giặc cứu nớc, tôi chắc
đồng bào Thợng du đều ra sức đoàn kết, chuẩn bị tham gia quét giặc cứu nớc
để giữ quyền thống nhất độc lập của tổ quốc Việc dìu đắt đồng bào Thợng du tôi trông cậy vào lòng ái quốc và lòng hăng hái của các vị Lang Đạo.
Tôi gửi lời chúc các vị Lang Đạo và toàn thể đồng bào mạnh khoẻ”.[7;
Trang 14Về dân tộc M ờng :
Ngời Mờng ở Thanh Hoá cho đến nay có dân số lên tới 33 vạn ngời.Trớc 1945 họ sống chủ yếu ở các mờng cổ, mờng lớn nh: Mờng Ký, Mờngống, Mờng Ai, Mờng Khô, Mờng Khôông, Mờng Phấm, Mờng Vong, MờngVống, Mờng Kìm, Mờng Kợi, Mờng Rặc, Mờng Đèn, Mờng Chánh, Mờng
Đủ, Mờng ó, Mờng Đẹ…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ sau này có một bộ phận ngời Mờng từ tỉnh HoàBình khi rải rác, khi tập trung di c vào Thanh Hoá Số này sống chủ yếu ởhuyện Thạch Thành, Nh Thanh và một số huyện khác
Đặc trng văn hoá Mờng Thanh Hoá mang đậm nét riêng biệt của ngờiMờng Trong (Moón Ha) Họ tự gọi và vốn coi mình là Moón Ha và chỉ ngờiMờng ở các nơi khác ở phía Bắc (tính từ Ninh Bình trở ra) là Moón He é (tứcngời Mờng ngoài) “Trong” với “Ngoài” là khái niệm chỉ vị trí c trú của tộcngời Mờng cả nớc Nhng với ngời Mờng Thanh Hoá khái niệm Moón Ha vàMoón Heé còn là khác niệm trên dới Điểm khác biệt dễ nhận thấy ngời phụnữ Mờng Ngoài là chít khăn trắng, mặc áo khóm xẻ ngực, phụ nữ Mờng Trong(ở chủ yếu các huyện Bá Thớc, Lang Chánh, Ngọc Lặc và hữu ngạn sông Mãcủa huyện Cẩm Thuỷ) chít khăn đen có thêu, mặc áo khóm xẻ trên vai, đầuváy (cạp váy) có hoa văn mặc ra bên ngoài áo Điều đặc biệt về tiếng nói tuykhác nhau về cách phát âm song họ đều hiểu nhau trong giao tiếp cũng nh rất
đoàn kết
“Về sắc thái văn hoá, xã hội của ngời Mờng đợc xây dựng và phát triểntrên cơ sở nông nghiệp trồng lúa và hoa màu.Sự thật thà, ngay thẳng, qúy trên,nhờng dới, tơng trợ, giúp đỡ nhau rõ ràng “Luật Mờng lệ bản”: “Chửi đừngchửi nặng, mắng đừng mắng đau, còn có ngày thơng nhau trở lại” [1;10-11] Xã hội Mờng xa có tầng lớp thống trị và bị trị, tuy nhiên sự phân chiagiai cấp cha phải là sâu sắc lắm Đứng đầu mỗi mờng là Cun (nếu là mờnglớn), Lang (nếu là mờng vừa và nhỏ), đứng đầu mỗi làng, chòm là Đạo Vì thếngời ta thờng gọi là chế độ Lang Đạo Đó là chế độ cha truyền con nối (tậpấm) có quyền thế lớn về tinh thần, kinh tế và hành chính Triều đình phongkiến các thời và kể cả thực dân Pháp sau này cai trị vùng Mờng đều phải thôngqua Lang Đạo Những dòng họ Lang Đạo có thể lực lớn đợc làm quan châu,các Lang Đạo khác làm Chánh Tổng, Lý Trởng, xã Chòm đó là chế độ Thổ
Ty ở miền Tây Thanh Hoá chế độ Lang Đạo chỉ đợc xoá bỏ hẳn từ sau Cáchmạng tháng Tám 1945
Trang 15Dân tộc Thái
Theo thống kê 1-4-1999, Thanh Hoá có 22 vạn ngời Thái (chiếm 21%ngời Thái hiện đang sinh sống trên tổ quốc Việt Nam) Tập trung ở vùng núiphía Tây, giáp Lào trong các huyện Mờng Lát, Quan Hoá, Quan Sơn, Bá Th-
ớc, Lang Chánh, Thờng Xuân, Nh Thanh; phía Bắc tiếp giáp với khối Thái TâyBắc qua Hoà Bình, Sơn La; phía Nam tiếp giáp với khối Thái Nghệ An quaQuỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong; phía Đông tiếp giáo với cộng đồng Mờng– Việt trong đó có các mờng Lớn nh: Mờng Ai, Mờng ống, Mờng Bi, MờngChánh Sống xen kẽ với ngời Thái có ngời Khơ Mú, H’mông, Dao, Việt M-ờng Đây là vùng đất cổ có nhiều di tích lịch sử, nằm trong lu vực sông Mã,sông Chu màu mỡ Xác định niên đại trên 2 vạn năm đã có ngời ở Trong kí ứccủa ngời già truyền nhau qua các thế hệ, ngời Thái đã có mặt ở đây từ lúc ông
bà còn lấy “cây móc làm mai khai ruộng, rừng núi cha có dấu chân ngời”.Những cuộc chuyển c đến hầu hết là đến thêm
Ngời Thái có chữ viết riêng, có khả năng t duy, thể hiện t tởng tình cảmcủa dân tộc mình ở vùng rẻo cao biên giới của Thanh Hoá tiếng Thái còn làtiếng phổ thông của một số ngời H,Mông, Dao, Khơ Mú nói cha thạo tiếngViệt khi giao tiếp với nhau Ngời Thái có sắc phục văn hoá riêng, trong hội hè,vui chơi có rợu cần Khặp Thái, Khua Luống, là những nét văn hoá đậm đàbản sắc dân tộc Thủ công mỹ nghệ có nghề đan lát và dệt thổ cẩm, nhà ở củangời Thái cũng giống nh ngời Mờng là nhà sàn vững chắc, rộng rãi, khangtrang Trong sinh hoạt gia đình tôn ti trật tự, có thể ở với nhau vài thế hệ NgờiThái sinh sống thờng dựa vào thung lũng núi cao, ven bờ khe suối, có con nớc
để lập bản dựng mờng Bản có lệ bản, mờng có luật mờng Các hoạt động kinh
tế chủ yếu của ngời Thái là canh tác ruộng nớc và khai thác nơng rẫy, thuỷ sản, săn bắt
lâm-Ngời Thái ở miền Tây Thanh Hoá chia làm hai nhóm: nhóm Thái ờng Xuân: tập trung ở Mờng Chiếng Ván, Mờng Luộc, Mờng Xăng Khó…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đHay còn gọi là Thái Dọ (Tày Dọ) Nhóm này chuyển từ Tây Bắc sang Lào vàquay trở về Thanh- Nghệ Do đó dân tộc Thái ở vùng này có nhiều đặc điểmsắc thái văn hoá giống nhau Điều đó nói lên vì sao Cầm Bá Thớc khi lãnh đạophong trào yêu nớc miền Tây chống Pháp lại đợc đông đảo đồng bào Thái ởNghệ An và Lào đi theo Nhóm Thái thứ hai ở vùng Tây Bắc Thanh Hoá vàchiếm đại đa số Tập trung ở các huyện Quan Hoá, Bá Thớc, Quan Sơn, Mờng
Trang 16Th-Lát có bộ phận chuyển xuống vùng Lang Chánh, Thờng Xuân sống xen kẽ vớingời Thái Dọ và Mờng – Việt.
Đặc điểm quan trọng của ngời Thái Thanh Hoá là không phân biệt sắctộc, họ gọi nhau theo danh từ mờng bản: Mờng Khoòng, Mờng Ký, mờng CaDa:
Bản anh M
Bản chị mờng em Cả hai ta,
Không anh cũng em, Không anh cũng bác Không chị cũng em ” [1; 348]
Sự tồn tại của ngời Thái trong mối quan hệ với ngời Xá (Khơ Mú), ngờiMờng, ngời Việt, ngời Lào đã tạo ra đặc điểm địa phơng của nền văn hoá TháiThanh Hoá
Dân tộc Kinh
Đồng bào Kinh đến miền Tây từ những ngày cả dân tộc đang tiến hànhcuộc kháng chiến chống Pháp xâm lợc (1858-1945) Nhng mãi đến sau khihoà bình lập lại dân tộc Kinh mới xem miền Tây là vùng đất cần đợc canh tác
Đặc biệt trong những năm 1963-1967 thực hiện cuộc vận động đồng bào miềnxuôi lên tham gia xây dựng và phát triển kinh tế văn hoá miền núi, đến naycác dân tộc Thái, Mờng, Kinh, Dao, H’mông, Tày…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đđã chung sống trong cộng
đồng nh anh em ruột thịt
Dân tộc Tày:
Dân số 444 ngời (0,01% dân số cả tỉnh) (1999) sống tập trung ở vùngLang Chánh (Thanh Hoá) Trớc cách mạng tháng Tám c trú trong 24 bản
Đồng bào tự nhận mình là Tày Đeng Thực ra ngời Tày ở đây là ngời Tháitheo sự phân loại của nghiên cứu dân tộc học Theo “Đại Nam Nhất ThốngChí”, thời Nguyễn ngời Tày đã có mặt ở vùng Đà Bắc (Ninh Bình) Từ thờinhà Trần đến nhà Lê Ngời Tày c trú ở miền Tây Thanh Hoá có muộn hơn, họsống chủ yếu ở Mờng Đeng (Đanh) Là một trong bốn mờng Vó thế lực nhấtcủa ngời Thái ở miền Tây Thanh Hoá (3 mờng khác là mờng Ca Da (huyệnQuan Hoá), Mờng Khoòng (Bá Thớc), mờng Chiếng Ván (huyện ThờngXuân) Địa giới của Mờng Đen (Đanh) khá tơng ứng với hai xã Yên Khơng vàYên Thắng ngày nay Mờng là đơn vị tổ chức hành chính cao nhất trong tổ
Trang 17chức xã hội truyền thống của ngời Tày Đeng Đứng đầu mờng là Tạo Mờng,
đứng đầu poọng (là đơn vị hành chính trung gian giữa bản và mờng) là TạoPoọng (quan Poọng, Chá Poọng, Mo Mùm); đứng đầu bản là Tạo Bản (quanbản) Tạo mờng đợc coi là tợng trng cho quyền lực tối cao của bản mờng, kháiniệm mờng và Tạo đợc coi nh là một Tất cả đất đai, ruộng nơng…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đvề hìnhthức thuộc về bản mờng nhng thực tế lại thuộc về Tạo Mọi ngời dân trong m-ờng nhận ruộng phải lao dịch và nạp tô cho Tạo…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ
Bên cạnh Tạo mờng, dòng họ nhà Tạo cũng có quyền hành rất lớn Họ
đợc cấp ruộng, ngời phục dịch và không phải gánh vác nghĩa vụ của mờng,
Trong văn hoá ứng xử thật đúng nh nhận xét của A.Bourier:
“Đời sống gia đình địa vực Tày êm dịu, trẻ con đợc nuông chiều vàkhông bao giờ là đối tợng của những sự trừng phạt bằng roi vọt nh vẫn thờngxuyên xảy ra đối với trẻ em Việt Nam Ngời ta không nghe điểm những lờichửi rủa thô tục nhất hay xảy ra ở xứ Việt Nam ngời ta không va chạm nhautrong những vụ kiện liên miên Thời vận của những ông quan tham lam, ngời
ta không phải đề phòng mỗi lúc bọn trộm cắp rình mò luôn luôn xung quanhchúng ta nh ở miền xuôi Có thể nghề hành khất không hề đợc biết đến ở đây
Địa phơng tha dân dễ dàng cung cấp nhu yếu phẩm cho nhân dân Nhân dânkiếm sống không khó khăn gì dù thích nhàn hạ Chúng ta hãy thêm vào những
đức tính tự nhiên này tính thật thà và dễ thông cảm{87; 8}
Dân tộc Dao:
Dân số 5077 ngời (1999) Ngời Dao ở tỉnh Thanh Hoá sống rải rác ở cáclng chừng núi các huyện Quan Sơn, Quan Hoá, mờng Lát…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ Hiện nay có hainhóm Dao, Dao đen tiền và Dao quần chịt ( còn gọi là Dao tam đảo) Theo
Đại Nam nhất thống chí (tập IV, phần Hng Hoá, tr 202) do Quốc sử quản triềuNguyễn biên soạn thì đầu thế kỷ XIX ở châu Đà Bắc (Ninh Bình) Châu QuanHoá (Thanh Hoá) đã xuất hiện ngời Dao đen tiền Ngời Dao quần chịt thiên di
Trang 18về sau Văn hoá Dao đợc hình thành trên nền tảng địa lý xứ lạnh Canh táctheo phơng pháp hoả canh là chính, có kinh nghiệm chăn nuôi, săn bắn Vớitục làm nhà đất, uống rợu hoẵng, dùng lá cây dệt vải, dùng sáp ong sơn đầu.Khác hẳn với văn hoá Mờng – Thái ở phơng Nam xứ nóng có kinh nghiệmlàm ruộng nớc, đánh bắt cá, ở nhà sàn, uống rợu cần.
Lợi dụng sự khác biệt về văn hoá, dới thời thực dân phong kiến, chúng
đã thực hiện nhiều chính sách thâm độc nhằm tạo ra những mâu thuẫn, nghi
kỵ giữa các dân tộc ở khu vực miền Tây Thanh Hoá cũng nh với Ninh Bình:
“Ngời Pháp cho phép ngời Dao phát cây làm nơng thoải mái khôngphải đóng thuế Đợc quyền di chuyển địa điểm đến bất cứ khu vực nào Khiquyền lợi của ngời Dao lại các tộc ngời khác đụng chạm thì ngời Dao cóquyền đi thẳng tới quan cai trị đề xuất ý kiến yêu cầu can thiệp Chính sách đótạo ra xu hớng ngời Dao tiến dần về khai phá các khu rừng gần trung tâm caitrị của Pháp” [77; 204, 205]
Hệ quả của nó đã làm cho các tộc ngời này ít hiểu biết về nhau (Tày vớiMờng, Thái) văn hoá khó giao lu với nhau, nảy sinh thành kiến dân tộc Vănhoá Dao vẫn còn bị bng bít ở các lng chừng núi Nhng trớc vận mệnh dân tộc
bị đe doạ ngời Dao đã sát cánh bên các nghĩa quân miền Tây đồng loạt đứnglên chống Pháp Trong những phong trào yêu nớc đó có không ít con em của
đồng bào dân tộc Dao đã ngã xuống
Dân tộc Khơ Mú:
Còn có tên gọi Xá Cẩu, Khạ KLẩu, Măng Cẩu, Tềnh, Pu Thênh, TàyHạy, Mứn Xen.Từ Lào đến, ngời Khơ Mú c trú ở Tây Bắc và miền núi ThanhHoá, Nghệ An cha bao lâu Về mặt nhân chủng ngời Khơ Mú, cũng nhKháng, La Ha đã đợc hình thành từ kết quả của quá trình chuyển biến từnhững loại hình Indônêdiêng trở thành Nam á ở Lào ngời Khơ Mú sống tậptrung trên lu vực sông Nậm Hu và Luang-Pabang, với số dân hàng chục vạnngời Những tài liệu dân tộc học – lịch sử còn lại của đồng bào cho thấyrằng, ngời Khơ Mú đến Việt Nam chỉ trên độ một trăm năm nay Điều đó giảithích vì sao ở Thanh Hoá ngời Khơ Mú chiếm một số lợng nhỏ (1999 là 600ngời = 0,02% dân số Thanh Hoá) chủ yếu sống ở hai chòm suối Cánh (xã TamChung) và suối Lách (xã Quang Chiểu) Quan Hoá, với hai dòng họ lớn: họ RaVai ( họ mang tên thú- hổ) sau dổi sang họ của dân tộc Thái là Lơng,và họXioóc ( họ mang tên chim- chim ăn cá bên bờ suối) đổi sang họ Thái là Lò.Tuy nhiên cũng có thể đã có những nhóm nhỏ c trú ở Tây Bắc xa hơn nữa.Thực tế thì ngời Khơ Mú sống tập trung ở biên giới Việt- Lào thuộc hai huyện
Trang 19Điện Biên và Sông Mã Từ đó họ đã đến những nơi khác của Tây Bắc nh TuầnGiáo, Mờng La, Văn Chấn…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ
Theo nguồn truyền thuyết “Toi ăm óc nậm đin” còn lu lại ngời Thái vàdân tộc Khơ Mú (Xá) cùng chung một mẹ Ngời mẹ chửa bằng bụng đẻ ra 30ngời con (dân tộc Thái) chửa bẳng lng đẻ ra 30 ngời con dân tộc Xá (KhơMú) Đành rằng đây là những truyền thuyết nên tính chất hoang đờng rất lớn,song ta có thể thấy ngời Khơ Mú và ngời Thái đã có mối quan hệ mật thiết từlâu đời
Dân tộc Hmông
Dân tộc Hmông tên tự gọi là Hmông, Na Miẻo hay còn có tên gọi khácMẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng (dân số 13.325 ngời (1999) Ngôn ngữ, tiếngnói thuộc ngữ hệ Hmông –Dao
Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, ngời Mèo và ngời Dao có quan
hệ với nhau về nguồn gốc Họ cũng c trú trên một khu vực (Trung Quốc) trongthời cổ đại Nếu nh ngời Dao có mặt ở Việt Nam khá sớm, có thể từ thế kỷ XI
và đến những vùng c trú hiện nay chủ yếu ở thế kỷ XIII thì ngời Mèo đến ViệtNam muộn hơn Đợt di c đầu tiên của họ đến nớc ta cách đây khoảng 300năm Theo ý kiến của tiến sĩ Trần Hữu Sơn trong “truyền thống văn hoáHmông” thì, cũng nh nhiều dân tộc khác, các đợt di c của ngời Mèo cũng nhdân tộc Dao có liên quan chặt chẽ đến các cuộc khởi nghĩa nông dân chống
địa chủ phong kiến Trung Quốc Trong các cuộc đấu tranh vũ trang, họ đã thấtbại và buộc phải di c từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam Miền Tây ThanhHoá (Quan Hoá, Mờng Lát, Quan Sơn) đã trở thành những vùng đất trù phúcho họ dừng chân ở ngời Mèo cũng nh ngời Dao còn lu lại nhiều truyện kểphản ánh sâu sắc các cuộc đấu tranh vũ trang chống phong kiến Do đó khi
đến Việt Nam nói chung và Thanh Hoá nói riêng trong những điều kiện chophép họ đã ra sức khai phá ruộng nơng, xây dựng quê hơng mới Đặc biệt khithực dân Pháp tiến hành đánh chiếm Lào Cai và cũng nh một số tỉnh khác, dântộc Hmông đã anh dũng đứng lên đánh giặc, bảo vệ bản làng trong suốt nhiềuthập kỷ Thực sự họ đã coi Việt Nam là quê cha đất tổ của mình
Dân tộc Thổ
Là một dân tộc ít ngời gồm các nhóm Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan lai –
Ly Hà, Tày Poọng C trú chủ yếu ở các huyện miền Tây Nghệ Tĩnh và ThanhHoá nh: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tơng Dơng (Nghệ An),
Nh Xuân, Quan Hoá (Thanh Hoá) Theo điều tra dân số 1999 dân tộc Thổ ởThanh Hoá có 8.980 ngời
Trang 20Tiếng Thổ nằm trong ngôn ngữ Việt - Mờng Trong lịch sử dân tộc Thổcùng với các dân tộc lân cận nh Thái, Mờng Việt đã diễn ra quá trình hoà hợp
tự nhiên theo chiều tiến bộ của xã hội
Địa bàn c trú cuả ngời Thổ là khu vực đồi núi tơng đối thấp và thoải,nối liền vùng núi cao với vùng đồng bằng Khác với ngời Thái sống vây quanhcác đầu nguồn và mạch nớc, do đó họ làm ruộng nớc là chủ yếu Ngời Thổsống ngay cạnh những con sông lớn không có tác dụng thuỷ lợi nên họ chỉquen trồng lúa trên rẫy dốc hoặc rẫng bằng Trớc cách mạng tháng Tám đấtrừng là sở hữu công cộng, ai chọn và phát rẫy ở mảnh đất nào sẽ sử dụng chỗ
đó tới khi tự ý bỏ đi Cùng với cây lúa, ngời Thổ cũng có ruộng ngô, khoai,sắn, và săn bắn, đánh bắt thủy sản
Cho đến nay ngôi nhà của ngời Thổ đang chuyển dần từ nhà sàn sangnhà đất Ngôi nhà là sự biểu hiện của tình trạng kết hợp nhiều nguồn văn hoátrong quá trình hình thành tộc ngời này
Trên phơng diện xã hội, dới thời thuộc Pháp dân tộc Thổ cũng tồn tạihai giai cấp bị trị và thống trị Với đơn vị hành chính nhỏ nhất là làng đứng
đầu là Trùm làng (với nhiệm vụ đốc thúc các công việc siêu dịch, thuế khoá vàcác phần đóng góp khác của làng đối với quan trên, Trùm làng cai quản việcxây dựng sửa sang, tu bổ các đền miếu, là ngời chủ tế lễ Đặc biệt chức vụTrùm làng đợc bầu lại hàng năm
Ngời dân sống trong làng ngoài các nghĩa vụ đóng góp đối với quantrên còn phải hàng năm đến làm rẫy cho Trùm làng đồng thời phải biếu xén, lễlạt mỗi khi trong nhà có công việc hoặc theo tiết Xuân Thu nhị kỳ hàng năm
Trong xã hội ngời Thổ đáng chú ý hơn cả là các mối quan hệ giữa ngờidân với các chức dịch, giữa ngời chủ với ngời đi ở, giữa các gia đình nhân dânthấm đậm tình tơng trợ hữu ái: Giúp đỡ nhau dựng nhà cửa, đổi công trong sảnxuất…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ Quan hệ giữa Trùm làng và ngời dân cũng tơng đối bình đẳng vàkhông cách biệt là bao Ngời dân tới gặt lúa cho Trùm làng là bắt buộc nhngTrùm làng cũng phải đáp lại bằng những bữa cơm rợu đàng hoàng Trong xãhội Thổ có những hiện tợng mớn ngời ở nhng không giống miền xuôi Ngời ở
đợc ăn mặc, làm việc nh con nhà chủ, khi lớn lên, chủ nhà cũng lo dựng vợ gảchồng cho họ Những trờng hợp ai muốn thôi việc nếu đã đợc ba năm, chủ nhà
sẽ cho một con trâu đực, nếu đợc 4 năm trở lên sẽ đợc một con trâu cái, coi
Trang 21nh giúp vốn để xây dựng đời sống D luận xã hội lên án những chủ nhà bạc đãingời ở.
Chế độ hôn nhân trong nội bộ tộc ngời ( trớc Cách mạng tháng Tám) làmột yếu tố hết sức quan trọng thể hiện ý thức về thành phần dân tộc của ngờiThổ Ngời Thổ không có ý thức phân biệt về hôn nhân, nam nữ đợc tự do tìmhiểu Tuy nhiên giữa dân tộc Thổ với các dân tộc khác nh Việt, Thái, Mờng…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đthì ngợc lại sự phân biệt quá rõ rệt
Về đời sống văn hoá tinh thần của ngời Thổ cũng rất phong phú, trong
đó vốn văn học dân gian khá đa dạng Qua các sáng tác dân gian có thể tìmhiểu đời sống nhân dân Thổ cũng nh tâm t, tình cảm của họ
Về truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm
Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nớc và giữ nớc Trong suốt hàng ngànnăm các dân tộc miền Tây vừa ra sức xây dựng bản mờng, vừa phải liên tục
đứng lên chống giặc ngoại xâm
Năm thứ III trớc Công Nguyên, nhà Hán mang quân sang đánh NamViệt Nhân cơ hội đó ở đất Tây Vu, Tây Vơng đã nổi dậy định khôi phục đấtnớc, nhng không thành công Vào năm 40 sau công Nguyên trong cuộc khởinghĩa do Trng Trắc, Trng Nhị lãnh đạo chống ách thống trị của quân xâm lợcHán, các dân tộc Nam, Lý (tổ tiên của ngời Tày– Mờng hiện nay) ở CửuChân, Nhật Nam, Giao Chỉ đã tham gia tích cực Đông đảo ngời Mờng ở vùngHoà Bình, Thanh Hoá đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, giúp đỡ nghĩaquân xây dựng căn cứ trên các đồi núi Nhờ lực lợng đông đảo của các tộc ng-
ời miền xuôi, miền núi quân Hai Bà đã hạ liên tiếp 65 thành, giải phóng toàn
bộ lãnh thổ hai quận Giao Chỉ và Cửu Châu, khởi nghĩa này tồn tại trong 3năm trời
Vào giữa thế kỷ VI Lý Bí nổi dậy khởi nghĩa chống lại phong kiến
Ph-ơng Bắc và thành lập nên nớc Vạn Xuân Tuy nhiên khi bị thua trong trận giaotranh với quân xâm lợc Trần Bá Tiên ở hồ Diễn Triệt ( xã Yên Lập, huyện LậpThành, Vĩnh Phú), Lý Bí đã giao binh quyền cho Triệu Quang Phục và chạylên động Khuất Lão (Tuyên Quang) chuẩn bị lực lợng chiến đấu, anh ruột Lý
Bí là Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử chạy vào Cửu Chân dói sự truy kích củagiặc Lý Thiên Bảo đã chạy lên vùng ngời Di, Lao gần biên giới Ai Lao ( miềnTây Thanh Hoá), đến vùng động Dã Năng, đầu nguồn sông Đào Giang đắpthành dựng nớc Ngời đời gọi là Đào Lang Vơng Chính vùng đất này, sau khi
Trang 22Lý Thiên Bảo mất, với lực lợng mạnh Lý Phật Tử đã tiến ra Bắc lập ra nhà LýNam Đế năm 571.
Đến thế kỷ XV cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra đã dấy lên một phongtrào đấu tranh mạnh mẽ, rộng khắp, liên tục ở các vùng dân tộc ít ngời miềnTây Vùng đất miền Tây trở thành cứ địa kháng chiến chống Minh Ngay từnhững ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đồng bào các dân tộc miền núi
đã tham gia một cách đông đảo, nhiệt tình Đồng bào Mờng ở vùng đất LamSơn vẫn coi Lê Lợi là thủ lĩnh dân tộc mình Thanh niên ngời dân tộc Mờng,Thái tham gia nghĩa quân rất đông, nên nghĩa quân Lam Sơn còn đợc gọi là
“Đội lính Mờng Lam Sơn”
Điển hình nh Lê Lai ngời Làng Dựng Tú (xã Kiên Thọ) Ngọc Lặc (ngàynay) ông cha đời đời làm Phụ đạo vùng này Cả gia đình Lê Lai gồm hai anh
em và ba ngời con trai đều tham gia cuộc khởi nghĩa và 4 ngời đã hy sinh anhdũng trong chiến đấu Hành động xả thân cứu nớc của Lê Lai đã trở thành mộthình tợng anh hùng không bao giờ phai mờ trong ký ức của dân tộc ta
Năm 1419 nghĩa quân đến đóng ở Lê Sơn huyện Quan Hoá, nhân dânThái, Lào đã cung cấp cho nghĩa quân nhiều long thực, voi ngựa, vũ khí.Trong 6 năm miền Tây Thanh Hoá đã trực tiếp xảy ra 6 trận đánh lớn Trong
đó có trận Ba Lẫm, Kình Động (vùng Cổ Lũng ngày nay) và Đèo ứng (Thiếtống) là quyết liệt hơn cả Trong trận Kình Động quân địch có 10 vạn nhngvẫn bị quân ta đánh cho hồn bay phách lạc Tên các vị công thần nh Lê Sát, Lê
Ba, Lê Sa Lôi, Lê Sa Lung…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ ợc nhân dân tôn trọng đặt tên cho các bản để đghi nhớ công ơn
Trong cuộc kháng chiến chống Minh miền Tây Thanh Hoá còn là nơihoạt động của những đội quân đợc ghi trong sử là “Đội quân áo đỏ” của nhiềudân tộc ít ngời Dựa vào rừng núi hiểm trở các đội quân này đã đánh du kích
và giành đợc nhiều thắng lợi Sau này “đội quân áo đỏ” cùng nhiều cánh quânkhác cùng thành Đông Quan buộc Vơng Thông phải đầu hàng
Vào thế kỷ XVI một số hào trởng ở Mờng Khô, Mờng Lau, MờngKhoòng đã đợc triều đình phong thởng công trạng nh Hà Thọ Lộc, Hà LânChính (đợc phong đến Thái uý) đây là những nhân vật đợc ghi vào chính sử
Khi Quang Trung đại phá quân Thanh, “một phong trào dân tộc” rộngrãi ở khắp mọi nơi, ngoài các dân tộc ở miền Nam (Tây Nguyên, Chàm ) còn
có sự tham gia tích cực của nhân dân các dân tộc miền Tây Thanh Hoá, Nghệ
Trang 23An Nhất là lúc nghĩa quân tuyển ngời ở Nghệ An, Thanh Hoá và lúc chặn
đánh các đội quân địch trên đờng rút chạy qua biên giới Có thể, chính ngờiMờng là những ngời đã dẫn quân Tây Sơn do Đô đốc Bảo và Đô đốc Long chỉhuy từ Ninh Bình ra Thăng Long đại phá quân Thanh qua đờng tắt Yên Mỗ –Cúc Phơng– Nho Quan – Lạc Sơn – Lơng Sơn – Kim Bôi – ngã ba Thái.Cuối năm 1788–1789 những ngời Mờng có nhiều chiến công đã đợc QuangTrung phong tớc Công, tớc Hầu
Cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lợc nớc ta triều đình Huế nhanhchóng đầu hàng bằng các hiệp ớc Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874) VớiHiệp ớc Hác Măng (1883) Pa-tơ-nốt (1884) nhà Nguyễn chính thức đầu hàngquân xâm lợc Đêm ngày 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885 phái chủ chiến đứng
đầu là Tôn Thất Thuyết tổ chức tấn công Toà Khâm Sứ và đồn Mang Cá mở
đầu phong trào Cần Vơng Hởng ứng Chiếu Cần Vơng trên khắp cả nớc đều
đứng lên trực tiếp chống thực dân Pháp xâm lợc Từ đây miền Tây Thanh Hoálại bớc vào một cuộc kháng chiến sôi động dới sự lãnh đạo của của các dòng họLang Đạo
Vì những truyền thống đó cho nên Robecquain tác giả cuốn “Le ThanhHoa", khi nói đến các dân tộc nơi đây đã viết:
“Miền Tây cha bao giờ sống riêng biệt một cuộc sống hèn kém, luônluôn hoà mình vào các sự kiện lớn lao của vùng Châu Thổ và vùng VơngQuốc An Nam” [40; 140]
1.2.Quá trình định c, phát triển của dòng họ Hà Công, Cầm Bá ở miền Tây Thanh Hoá.
1.2.1 Một số dòng họ lớn ở miền Tây và vùng phụ cận.
Một số dòng họ lớn ở M ờng Thạch Thành:
Thạch Thành là huyện thuộc miền Tây Thanh Hoá, trớc đây gồm 4 Mờng lớn:Mờng Đủ, Mờng Già, Mờng ó mờng xa kia thờng qua lại quan hệ mật thiếtvới nhau
Mờng Đủ là một trong những mờng lớn của huyện Thạch Thành.Vốn
xa là vùng đất của huyện Quảng Bằng phủ Thiệu Thiên, tỉnh Thanh Hoá Đây
là vùng đất c trú lâu đời của ngời Mờng Thạch Thành Theo gia phả họ LuVĩnh cho biết họ Lu Vĩnh vốn là họ Quách ở mờng ngoài, dòng họ này đếncắm đất đầu tiên ở Mờng Đủ Ông tổ họ này sau khi dựng đất này nên mờngnên bản "đã đem binh mờng đến Tây Đô giúp vua Kẻ Chợ xây thành" Sau
Trang 24này khi triều Hồ thất bại giặc Minh đã trả thù nên cả mờng phải chạy giặc.Gia phả họ Lu Quang cho rằng, dòng họ này là ông tổ thứ hai của đất Mờng
Đủ Theo tộc phả thì dòng họ này có hai ngời là Tự Pháp Liên và Tự Pháp Vân
đã có công dựng lại mờng sau lần mờng phải chạy giặc Dòng họ Lu Đình và
Lu Trọng theo gia phả chép thì hai dòng họ này đến Mờng Đủ sau họ Lu Vĩnh
và họ Lu Quang Gia phả cho biết cả hai dòng họ này đều là họ Phạm, một ởHậu Lộc, một ở Cẩm Thuỷ đến Mờng Đủ vào dịp Lu Quang Liên đã từ MờngDậm trở về
Qua gia phả ta có thể khẳng định chắc chắn đến đằu thế kỷ XVIII ởMờng Đủ đã có bốn dòng họ Lu: Lu Quang, Lu Vĩnh Lu Đình, Lu Trọng ctrú Bốn họ này đều làm chủ Mờng Đủ vối cách phân chia sau:
- Dòng họ Lu Quang c trú dọc theo vùng đồi phía Đông Bắc
- Dòng họ Lu Vĩnh c trú ở triền đồi phía Đông Nam
- Dòng họ Lu Đình và Lu Trọng c trú ở triền đồi phía Tây
Thờng thì trởng họ ở phía trên, các chi thứ lần lợt ở phía thấp dầnxuống chân đồi Lối c trú theo địa vực của từng dòng họ này tồn tại khá lâu
đời cho đến nay đã có sự xen kẻ giữa các dòng họ trong khu vực trên Mặc dù
có sự phân biệt về địa vực nhng các dòng họ này không hề có sự xích míchmất đoàn kết
Do công lao khai phá đất đai, dựng mờng lập bản dòng họ Lu Quang
đ-ợc nắm chức Cun cai trị cả mờng Sau này khi chức Cun mất đi dòng họ này vẫntiếp tục nắm các chức dịch quan trọng nh Chánh tổng, Lý trởng
Đầu thế kỷ XX có thêm một số dòng họ khác di c tới nh: Dòng họNguyễn Hữu ở Ninh Bình (tỉnh Hà Nam Ninh cũ) vào và họ Nguyễn Đình ởHậu Lộc lên Cho đến nay Mờng Đủ là nơi tập trung đông dân nhất tronghuyện Thạch Thành Do những biến cố lịch sử đến trớc cách mạng Tháng TámMờng Đủ gần nh đã trở thành một làng, nh làng ngời Kinh ở huyện
Họ Hà Công ở M ờng Ký (Bá Th ớc).
Mờng Kỷ (Bá Thớc) có hai dòng họ Hà - Hà Công (Kha Khun) làm tạoMờng, tạo Bản Hà Văn (Kha Lặc) làm dân thờng "Páy" Họ Hà lập nghiệp ở
đây cùng với tên Mờng Ký ra đời
Theo sách "Pựn Mờng" (nền Mờng), lịch sử của ngời Mờng viết bằngchữ Thái thì: "ở vùng này thời Hậu Lê gọi là Mờng Muồn bao gồm một vùngrộng lớn thuộc Quan Hoá, Quan Sơn Lang Chánh và một số xã Thiết Kết, ở
Trang 25giữa có núi Mng Mờng đồ sộ Lúc bấy giờ có một viên Quan họ Hà cùng vớimột ngời họ Lơng đi bán phẩm, đi thuyền từ Đa Bút, Vĩnh Lộc ngợc sông Mã
đi lên Ông Quan này không biết tên thật là gì nhng có một cái sẹo ở má (sẹotiếng Thái nghĩa là Páo) nên ngời đơng thời đặt cho ông là "Hà Páo" Nguồngốc của Hà Páo vốn ở trên Mờng Thợng, Mờng Hạ theo thủ lĩnh Thái, Mờngsang Mộc Châu, Xa Khả Tam nhập vào nghĩa quân Lê Lợi Do có công Thủlĩnh họ Hà đợc thởng công phong tớc Quận Công cho nên lấy họ là Hà Công
và đợc phân đóng quân trấn ải vùng Ba Bông – Chiêng Giành Do ở đây liêntục đời này sang đời khác đã biến thành ngời địa phơng, nói tiếng Kinh Nhng
do sau này mắc họa buộc phải chạy loạn và lu lạc đến Mờng Kỷ
Nhân ngày vui Hà Páo đặt tên cho Mờng mới lập là Mờng Kỷ để ghinhớ sự kiện lấy ván Kỷ (ván khung cửi) làm bảng học chữ và nhờ có chữ mới
mở mang lại bản Mờng Dân Mờng tôn thầy dạy chữ (Hà Páo) làm Tạo, ông
đổi từ Hà Công sang Hà Văn để dấu tung tích, tránh truy lùng Ông QuanChuông trớc đây không rõ họ gì cũng lấy họ Hà theo thầy nhng là Hà Văn(Kha Lặc), lấy trộm họ Hà Hai họ này tuy một bên làm Tạo,một bên một bênlàm Páy nhng rất thân thiết, tôn trọng nhau Khi có Tạo lên nhà, họ Hà Vănkhông cần phải trải chiếu mời ngồi Còn họ Lơng đợc giao cho làm Mo, làm
Mụ cùng lo việc bản mờng
Họ Hà ở Mờng Kỷ duy trì mối quan hệ thờng xuyên với Mã Đà - ĐaBút cho đến kháng chiến chống Pháp (1953-1954) mới thôi về giỗ tổ VĩnhLộc Đối với Mờng Hạ và Mờng Hớc Kha vẫn đợc coi là quê gốc Khi Mo ng-
ời chết, họ Hà đa Mo qua trạm Co Lơng, lên Mờng Hạ rồi đa về Hớc Khà rồimới lên trời theo Đẳm Chao Còn họ Lơng vẫn thờng hỏi thăm họ hàng ởHoằng Hoá
Họ Hà ở Mờng Kỷ có quá trình gắn bó thân thiết với ngời dân địa
ph-ơng, không tỏ ra cờng quyền ác bá, đợc dân thờng tin yêu, mến phục đồngthời có mối quan hệ tốt với nhiều nơi Điển hình là cai tổng Hà Văn Nho mộtngời yêu nớc trong phong trào Cần Vơng cuối thế kỳ XIX đã chiến đấu và hysinh khi bảo vệ Tống Duy Tân (10/1892)
Họ Phạm Bá (Lò Khăm) ở M ờng Ca Da
Theo gia phả họ Phạm Bá xã Hồi Xuân (Quan Hoá) thì ông tổ họ là LòKhăm Ban, một võ tớng của triều đình Luông Pha Băng, vào thế kỷ XV Khi
Trang 26Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa đa quân lên núi Chí linh có đa th cầu cứu vua Lào.Vua Lào sai tớng Lò Khăm Ban mang quân giúp Lê Lợi Nhng về sau quânNgô xúi giục vua Lào theo Ngô cho gọi Lò Khăm Ban về Nhng tớng KhămBan cảm phục tấm lòng nhân đức của Lê Lợi đã khớc từ lệnh nhà vua tìnhnguyện ở lại dới trớng của Lê Lợi Trong quân có nhiều ngời họ Phạm ông đổitên là Phạm Yừn để che dấu tung tích Phạm Yừn chiến đấu dũng cảm, lập đợcnhiều chiến công đợc phong làm Trịnh Võ Hầu, làm Quận công, "Lam Sơnthực lục" ghi là tử trận năm ất Tỵ (1425) tại Lạng Giang vùng Bắc Hà Vănbia Bản Khằm ghi là tại Lũng Cú, Lạng Sơn Ngày 18 tháng 3 năm Khải Địnhthứ hai có sắc phong thần cho tớng quân Khăm Ban và giao cho dân vùngChâu Thợng cúng tế.
Đánh xong giặc Ngô, các con ông xây dựng thái ấp ở 12 động quanhvùng CaDa, dọc theo sông Mã, sông Luồng, sông Lò Dòng họ này có nhiềungời làm quan và Tạo, cai quản một vùng rộng lớn Phạm Ngọc Chúc con traiPhạm Yến đợc nhà vua phong Thợng Tớng quân Trong tờ sắc đề ngày 24tháng 7 năm Gia Thái thứ t và bổ nhiệm làm Giám đốc Điệu Hoá, phụ tráchKhu Xuân Lĩnh Các chức Tri châu, Chánh tổng của châu Quan Hoá kế hết
đời này sang đời khác đều do họ Phạm Bá ở Ca Da đảm nhiệm vì thế mới cótên Quan Hoá và tự danh họ là Phạm Bá để phân biệt với họ Phạm Văn thuộc
đẳng cấp dân thờng
Trong qua khứ, có một bộ phận chuyển c về phía Tây sống rải rác ở một
số bản thuộc biên giới Việt Lào, lấy tên gốc là Lò Khăm
Họ Phạm Bá có những tập tục đáng lu ý, vật tôn thờ và kiêng kỵ là Quạ
Đen nguyên nhân gắn với truyền thuyết về quạ cứu ngời và tên Mờng Ca Da(Quạ cứu chữa) khi có ngời chết quan tài đặt theo chiều nằm ngang với chiềusàn nhà, chân quay ra phía gian ngoài Lời Mo đa ma ngợc sông Mã lên XộpHào xuôi sông Nậm U đến Luông Pha Băng thăm quê cha đất tổ, sau đó xuôitheo sông Nậm Khoong đến Viên Chăn và đi tiếp đến Đon Cang (Hòn Đảo) từ
Đon Cang lên chợ Lăng Dơng sắm đồ, sắm đồ xong lên thuyền sang ngang
đến gốc si lên trời Họ Phạm Bá còn có tập tục mỗi năm gặp gỡ anh em bênLào một lần tại đại giới để cúng vía, chúc mừng nhau nhắc lại những lời hẹn -
ớc Trong ngày lễ này thờng làm thịt trâu hoặc bò cùng nhau ăn uống, tìnhcảm lu luyến
Trang 27Họ Phạm Bá thờng lấy vợ gả chồng ở các Mờng xa nh Mờng ánh, ờng Hạ, Mờng Bi, Mờng Khoòng, Mờng Lau, Mờng Ký, Mờng Đủ để tăng c-ờng mối liên kết bang giao đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ lơng thực vì Mờng
M-Ca Da ít ruộng thiếu sông suối
Hiện nay họ Phạm Bá và Lò Khăm đang phát huy tốt vai trò dòng họtrong xã hội, nhiều ngời trởng thành trong công tác, học tập, sản xuất và chiến
đấu Giữ mối quan hệ hữu nghị thắm thiết với bà con bên nớc cộng hoà dânchủ nhân dân Lào
Họ Lê Đình - một dòng họ lớn ở Bàn Thạch, ở nhà thờ tổ có đôi câu đối:
"Bàn Thạch Long hồ thiên tự tạo
Đình tổ nhân đa địa cổ truyền"
Trải qua những biến cố lịch sử họ Lê Đình vẫn bảo tồn đợc các ngôi
mộ tổ, bia đá, lu lại gia phả…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đTrong các cuộc chiến tranh giữ nớc hàng trămtrai gái đã cầm súng lên đờng chiến đấu trong đó hàng chục ngời đã ngãxuống vì nền độc lập tự do của tổ quốc
Nhiều con cháu họ Lê Đình có nhiều trình độ đại học, cao đẳng, sau đại học.Ngành hóa chất có kỹ s, chuyên viên Lê Đình Thế, ngành ngân hàng có thạc
sỹ Lê Đình Hạc, hội họa có họa sĩ Lê Đình Dũng, Lê Đình Bảo, nghệ sĩ điêukhắc điêu khắc Lê Đình Qùy, thạc sĩ Lê Đình Sơn, bác sĩ Lê Đình Ba (côngtác trong quân đội), nhà thơ Lê Đình Bằng, thầy giáo Lê Đình An…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ
"Cây có cội, nớc có nguồn Con chim có tổ con ngời có tông…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ"câu nói
ấy nhắc nhở con cháu dòng họ Lê Đình đang công tác ở mọi miền tổ quốc đạo
lý uống nớc nhớ nuồn, thể hiện trách nhiệm đối với quê hơng đất nớc
***
Tóm lại, các dòng họ này trong lịch sử đã phát huy truyền thống đáng
tự hào về sự đóng góp công sức vào quá trình xây dựng và bảo vệ quê hơng, về
Trang 28ý chí phấn đấu vơn lên thể hiện năng lực nổi trội trong hoạt động xã hội trong
đó việc học tập và rèn luyện thành tài với mong muốn đợc cộng đồng thừanhận và tôn kính Điểm nổi bật là mối quan hệ họ hàng và quan hệ trong cộng
đồng làng xã trong bản Mờng có xu thế hài hoà, tôn trọng nhau, cha phát triểnthành ý thức cục bộ, phân biệt dòng họ Chính vì vậy tạo nên những lực lợngmạnh, là trung tâm của những cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lợc [78; 15-16]
1.2.2 Dòng họ Hà Công định c, phát triển ở miền Tây
Dân tộc Thái Thanh Hoá khi thăm hỏi nguồn gốc của khách xem làcon cái nhà ai, thờng dùng câu: "Tán tộc ma ngốp đớ, cháo đớ" (ngài thuộc vềlộc nào, mầm nào) bởi trong trong truyền thống văn hoá, người phải có họcũng nh cây phải có vờn vậy (Cân mi họ, co mi suộn) Nói về ông tổ dòng họngời Thái gọi là "Đẳm" "Đẳm Chao" "Đẳm Pạng" (Đẳm có nghĩa là cán, làgốc, là chuôi) Ngạn ngữ có câu "Cần tôộc nhăng mi họ, câu khó nhăng mỉ n-
ơng"(ngời buồn tủi còn có họ, ngời nghèo khó còn có Mờng) Dòng họ HàCông ở miền Tây khi nói về dòng họ nhà mình với một thái độ đầy tự hào, tựtôn và có ý thức bảo vệ danh dự dòng họ một cách quyết liệt
Khi nghiên cứu về quá trình định c phát triển của dòng họ Hà Công ởmiền Tây Thanh Hoá chúng tôi đã căn cứ vào những tài liệu sau:
Thứ nhất, gia phả dòng họ Hà Công ở Mờng Khoòng (Cổ Lũng), giaphả về dòng họ Hà Công ở Mờng Hạ (Mai Châu- Hoà Bình), họ Phạm Bá ở Ca
Da, Cầm Bá (Thờng Xuân)
Thứ hai, văn bia: “Hà khải Công bia tự” và “Chơng khải phu nhân biatự”, lập từ thời Hà Công Thái năm Minh Mạng thứ 14
Thứ ba, chúng tôi đã sử dụng nguồn t liệu điền dã thực địa Chủ yếu qualời kể của cụ Hà Công Quý năm nay đã hơn 90 tuổi ở Điền L (Bá Thớc); TàoQuang Toại 80 tuổi xã Điền Trung, huyện Bá Thớc Những t liệu của ông HàNam Ninh phó chủ tịch huyện Bá Thớc hiện đã nghỉ hu tại thị trấn CànhNàng Các chắt nội, chắt ngoại hiện đang còn sinh sống tại Điền L quê hơng
ông Con cháu các gia đình thân cận nhà ông nhiều ngời đang còn sống nhcháu ông Đốc Xiềng, Quản Xăm, Xã Khò…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ
Trang 29Thứ t, chúng tôi đã căn cứ vào Thần phả thành hoàng làng Đắm, nhàphủ đền chùa, truyện thơ Khăm Panh, các dấu tích lịch sử còn lu dấu lại vềmối quan hệ giữa Mờng Khô với Mờng Khoàng…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ
Do đó chúng tôi đi đến những nhận định Tổ tiên xa của dòng họ HàCông gốc ở Quảng Tây, có ba anh em đi buôn bán ở Kẻ chợ Ngời anh cả lấy
vợ là Tống Thân, Dạ Niệu, ngời anh hai lấy vợ là Vân Hoá Còn em út ngợclên đất Khát lấy nàng Ngoan Băn sinh đợc con trai đặt tên là Mớn Náu Đồngsau lớn lên lám chúa đất Hớc Khà Tạo Khà sinh đợc hai con trai Con cả làcon vợ hai tên là Lang Bôn Con thứ là con vợ cả tên là Lang Bắp Ngời chacho Lang Bắp ăn Mờng Khà Luông, Lang Bôn ăn mờng Khà Nọi Nhng LangBôn không nhận nên đa dân vào đất Mờng Mùn Từ đó dòng họ Hà Công dầnphát triển trên khu vự lãnh thổ Tây Bắc Đến thời tạo Kha Bằng đã cùng dân đikhai hoá những vùng đất đai bỏ hoang mở mang đến Bản Púng, Bản Beo, NàNóc Tạo lấy nàng Ngăm sinh ra tạo Lang Xôm Tạo Lang Xôm lấy nàng M-ờng Khểnh sinh hạ đợc ba con trai Ngời con cả là Khằm Bông, con thứ làKhằm Piềng, con út là Khăm Panh Ba anh em ra sức cùng dân khai khai pháruộng đất kể cả những nơi khó làm và chia nhau nh sau:
Ông Khằm Bông ăn đất Mờng Hạ, đợc coi giữ gốc Mờng Ông lấy BảnUống, Bản Bao, Bản Lầu, Bản Lồm, Bản Nghe làm đất mờng tức mờng trungtâm, lấy “phạ” làm chiềng và lấy các bản Củm, Lọng, Buốc, Cha lang, Hiềm,Ngõa, Băng, Bớc, Búa, Vặn, Pục, Pheo, Púng, Nong Luông, Nà Chào, Xô, Te,
Pu, Xam Khoè làm bản pọng
Ông Khăm Piềng ăn đất Mờng Thợng gồm các pọng: Bản Pớt, Bản Bó,Bản Nhót, Bản Chác Lác, Bản Văn, Bản Cọng, Đồng Bảng, Bản Tòng, NongTáu, Bản Pặt, Bản Báng
Còn ông Khăm Pành không có đất ăn Ba ông mới sai dân xuống MờngKhoòng xem xét đất đai và bắt dân mờng xuống khai phá Khi xong, KhằmPành đem theo số dân đợc chia xuống ở dới đó Đất ông Khằm Bông lúc đótới tận giáp Châu Mộc Đất ông Khằm Piềng cũng vậy tới tận Kẹm Màn
Nh vậy dòng dọ Hà Công đến miền Tây vào thời Hậu Lê Điểm đặtchân đầu tiên là Mờng Khoòng Khun Kha tức Khăm Panh nhờ lấy con gáichúa đất Mờng Khòng mà đợc lên làm chủ Mờng Sau đó đem quân tấn côngcác mờng khác để mở rộng lãnh thổ : Khun Ha có 9 con trai đã phân đi caiquản các vùng đất sau:
Trang 30Khun ý Lân con đầu cho ở Chiềng Vang
Khun Mao con trai thứ cho ở Poọng Lặn
Tạo Khun Hiếng về ở Chiềng Đồn
Con trai bốn về ở Đắm Đan
Khun Tao về Chiềng Lau Lầm Chặng ăn cá
Con thứ sáu Khun Páo về ở Mờng Kháy
Con thứ bảy Khun Pẹp về ở Mờng Ai
Còn Khun Rè, Khun Róng về ở Mờng Khô, Mờng ánh
Đến thời Khun ý Lân (còn có tên là Hà Lân) hay Tạo quãng Uý Đơn,Thái Uý Lân Thì vào 1527 sau khi Mạc Đăng Dung cớp ngôi nhà Lê Theogia phả về lai lịch dòng họ Hà Công ở Mai Châu Hoà Bình: "Từ khi nhà Lê bịnhà Mạc cớp ngôi ông Tày Ngự (Nguyễn Kim) chạy lên miền ngợc Tạo M-ờng Khoòng là Quản uý đã đón ông Tày Ngự về Mờng Khoòng để lo việc n-
ớc Tạo Uý còn rủ Tạo Hạ theo Tạo Mờng Thợng không theo nhà Lê (vì đãtheo Mạc) nên Tạo Uý và Tạo Hạ theo lệnh ông Tày Ngự giết Tạo út Ngàn ởMờng Thợng Tạo Hạ và Tạo Khoòng đánh Mạc thắng nhiều trận Sau đó nhà
Lê lại đợc cả Mờng Xang và quân Lào sang giúp cuối cùng nhà Lê thắng, nhàMạc thua Vua Lê phong công đầu cho Mờng Khoòng, công hai cho MờngXang, công ba cho Mờng Mùn, công chót cho Mờng Thàng"
Theo sách ở bản Kén sau khi ông Mờng Khoòng đã già liền phân cáccon đi ăn đất mỗi ngời một nơi Con đầu là Nhân Định, đáng lẽ ở lại trung tâmMờng nhng hiền lành, hay nhờng nhịn đã để lại cho em thứ hai là Hà CôngTiến ở lại Poọng Lặn còn mình ăn đất bản Bó, Hà Thừa Chăng ăn đất bản
Đôn, Lý Sủn Hà Công Thành ăn đất bản Leo, ông Lơng ăn đất bản Cốc, cònTiêu Tai và con trai là Hà Thừa Tú xuống ăn đất Đắm Đan, Mờng Khô, MờngKhà
Nh vậy, từ Mờng Khoòng dòng họ Hà Công đã vơn ra cai quản các ờng xung quanh, và lan rộng ra cả miền Tây Thanh Hoá Trong đó chi họ HàCông ở Mờng Khô là mạnh hơn cả Chi họ này sau có những nhân vật nổitiếng nh: Hà Công Thái, Hà Văn Mao, Hà Triều Nguyệt…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ
m-Với chế độ cha truyền con nối, dòng họ Hà Công đã cai quản một vùng
đông dân nhiều ruộng nhất miền Tây Thanh Hoá Có những ngời chí lớn gắnliền với những biến động lịch sử của một vùng Điển hình nh Hà Công Luận
Trang 31(1759-1823) Ông quê huyện Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá, từng làm quan đời LêHiển Tông Cuối đời Lê tình hình trong nớc vô cùng rối ren, ông li khai khỏitriều Lê, mộ quân chiếm giữ vùng Thợng Du Thanh Hoá xng là Thống Chế.
Ông và viên thổ quan Nguyễn Đình Ba đã chiêu tập đồng bào Thợng DuThanh Hoá thành lập một khu tự trị
Khi Nguyễn ánh dấy binh chống Tây Sơn và kéo quân ra bắc ông đitheo (1794) và đợc thống lĩnh miền Tây Thanh – Nghệ, việc này đã tăng lựclợng cho Nguyễn ánh khá nhiều Khi Nguyễn ánh lên ngôi (Gia Long) ông
đợc phong tớc Quận Công vì là công thần ông đợc vua tặng một khẩu súngnạm vàng và một thanh đao nạm vàng
Đến thời Minh Mạng tuy đã già ông vẫn là một võ tớng xông pha trậnmạc Ông mất nơi chiến trận năm Quý Tỵ (1823) thọ 64 tuổi khi đi dẹp loạn
Hà Công Thái sinh thời đời vua Gia Long đã có công đánh giặc Xá Khoong ởtrấn Hng Hoá và đánh dẹp giặc cỏ ở vùng biên giới Việt Lào đợc nhà vuaphong tớc Quận Công có quyền cai quản từ núi Eo Lê, chợ Mầu, Chợ Bãi, M-ờng Ne cho đến tận ngọn nguồn sông Mã Khi ông mất dân Mờng lập nhà thờ
đầu cầu Đại Lạn gần Đống Tráng nơi đặt phần mộ của ông Nhà thờ này có
đặt tranh và tợng một con hổ xám Do tránh từ huý, ngời ta gọi hổ là Mèo, chonên nhà thờ này đợc gọi là Chùa Mèo Chùa Mèo vừa là nơi cúng dòng họLang Khô vừa là nơi vãn cảnh, hội hè của nhân dân vùng Mờng Khô
Trong bài tế Chùa Mèo hàng năm vào ngày 20/8 Âm lịch hàng nămthầy mo mời các vị thần linh đã từng làm ông Khô, cha truyền con nối gồm 9
Trang 32Nh thế dòng họ Hà Công lập nghiệp ở miền Tây tính đến Cách mạngtháng Tám năm 1945 mới có 9 đời và từ 1945 đến nay tổng cộng 12 đời.
Dòng họ Hà Công ở miền Tây không chỉ phát về mặt công danh mà cònphát triển về mặt số lợng Hiện nay dòng họ sống trên khắp miền Tây và trãirộng ra vùng Mai Châu (Hoà Bình) Để duy trì sức mạnh dòng họ Lang Đạo,
họ Hà Công thờng tìm mọi cách gây dựng lực lợng Trớc hết bằng con đờnghôn nhân, họ Hà Công thờng dựng vợ gả chồng cho các dòng họ Lang Đạo ởcác châu, các mờng có thế lực: Mờng Bi, Mờng Vang (Hoà Bình) Mờng Ca
Da (Quan Hoá), Mờng Kìm (Cẩm Thuỷ), Châu Nh, Châu Thờng, châu LangChánh ở mạn sông Chu…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ với nhiều dân tộc: Mờng, Thái, Hoa Mặt khácdòng họ Hà Công cũng chấp nhận sự gia nhập của dòng họ khác vào dòng họmình Họ Hà Công còn tìm con đờng nhận anh em kết nghĩa với các Mờnglớn
Trong suốt chiều dài lịch sử dòng họ Hà Công đã xây dựng nên mộttruyền thống văn hoá đặc sắc Trong đó tinh thần thợng võ đặc biệt nổi trội.Tinh thần ấy bắt nguồn từ những lý do sau:
Thứ nhất, yếu tố dân tộc, địa bàn c trú quyết định, là dân tộc mangtrong mình truyền thống văn hoá Thái – Mờng, mỗi chàng trai của dòng họ
từ khi sinh ra, lớn lên đã tập làm quen với cung nỏ, những buổi đi săn thâu
đêm suốt sáng, phải luôn đối diện với nhiều thử thách trong cuộc sống
Thứ hai, truyền thống thợng võ đợc bắt nguồn từ tổ tiên để lại, từ thời
Hà Nhân Chính (Hà Thọ Trờng), Hà Thọ Lộc (Tạo Uý Lân) vốn là những viên
võ quan, từng giúp Nguyễn Kim, vua Lê dựng lại cơ đồ
Thứ ba, vốn dòng họ Lang Đạo, để giữ vững uy danh, dòng họ, lãnh đạobản mờng xây dựng kinh tế văn hoá và chống xâm lăng, con em dòng họ HàCông đã đợc đào tạo một cách cơ bản trên con đờng võ nghiệp
Trãi qua nhiều biến động lịch sử, truyền thống văn hoá của dòng họ HàCông trong đó có tinh thần thợng võ luôn đợc kế thừa và phát huy Thế hệ nàocũng có những vị tớng xông pha trận mạc và lập đợc nhiều chiến công hiểnhách
Nh vậy có thể kết luận rằng dòng họ Hà công ở miền Tây Thanh Hoá cónguồn gốc từ Mờng Hạ (Mai Châu, Hoà Bình) đến đây lập nghiệp đã hơn 400năm Điểm dừng chân đầu tiên là Mờng Khoòng sau đó chuyển đi cai quảncác vùng và xuống làm Lang đạo Mờng Khô Quá trình này đã làm chi dòng
Trang 33họ Hà Công ở Mờng Khô từ dân tộc Thái chuyển thành dân tộc Mờng và đãhoà nhập ba dòng máu Thái - Mờng - Kinh trong một chi họ Việc tìm hiểunguồn gốc của dòng họ có nghĩa ý to lớn trong việc tìm hiểu t tởng, tình cảmphong tục, tập quán, truyền thống văn hoá, đặc biệt khi nghiên cứu về cácdòng họ trong những thời kỳ lịch sử sôi động.
1.2.3 Đất tổ họ Cầm Bá
Dòng họ Cầm Bá ở miền Tây Thanh Hoá thuộc nhóm Tày Dọ, sinhsống tập trung chủ yếu ở Mờng Luộc, còn gọi là Mờng Chiếng Ván (TrịnhVạn) Đây là vùng nằm khá sâu trong một vùng rừng núi hiểm trở của huyệnThờng Xuân
Trong hội thảo về ngời nghĩa sỹ Cần Vơng yêu nớc Cầm Bá Thớc đãlàm sáng tỏ cội nguồn lịch sử và sự phát triển của dòng họ Cầm Bá các tác giả
đều thống nhất dòng họ Cầm Bá ở Thờng Xuân có xuất phát từ họ Lò Khăm ởvùng Sơn La (Tây Bắc), đến lập nghiệp cùng với cộng đồng miền Tây trên 600năm Dòng họ này có uy tín và đợc tôn làm Tạo trong nhóm Tày Dọ ở ThờngXuân Có những ngời nổi tiếng nh: Cầm Bá Kính, Cầm Bá Thiều, Cầm BáHiển, Cầm Bá Tiêu, Cầm Bá Thớc (thế kỷ XIX), Cầm Bá Thành và con cháucủa ông: Cầm Bá Bảo, Cầm Bá Tiến, Cầm Bá Trờng…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ
Về nguồn gốc của dòng họ Cầm Bá ở Thờng Xuân căn cứ vào gia phả
do ông Cầm Bá Thớc ghi lại vào năm 1891 nh sau:
"Tôi là Cầm Bá Thớc phụng biên danh vị các cụ từ ông tổ 10 đời lại giờ(trừ 10 đời về trớc thời lâu năm sắc bằng mục nát không thể nhận rõ mà biênghi đợc, và theo tục nhà những ngày lạ, ngày tết cũng không có biên chép gìcả để cho con cháu biết là kính phụng Chúng tôi đọc bản gia phả này từ bảndịch của ông Cầm Bá Bảo nguyên tri châu Thờng Xuân, cháu gọi ông Cầm BáThớc là ông bác – Tài liệu điền giã năm 1976 tại Mờng Chiềng Vạn)
Ông tổ 10 đời mà gia phả chép là ông Cầm Bá Kính làm thổ tù, caihuyện, Toán Lính Hầu đời vua Hoàng Định triều Lê (năm 1600), nh vậy 10
đời về sau tính từ năm 1600 đến 1891 (từ thời viết gia phả) là 291 năm Có thểtính tròn 300 năm Nếu tính 10 đời về trớc cũng là 300 năm nữa thì 20 đời màgia phả ghi là 600 năm và tính thời điểm hiện nay là 700 năm Do có thể ông
tổ thứ 20 của dòng họ Cầm Bá sống trong quãng cuối đời Lý, đầu đời Trần
Theo lời tuyên bố giải tán mờng theo đời sống mới ngày 3/3/1950, ôngCầm Bá Bảo lúc đó là tri châu Thờng Xuân viết: "Tổ tiên của ông trớc kia là ở
Trang 34Lai Châu -Thợng du Bắc Kỳ" vào ở rể cho một chi họ chuyên nghề (về) tế lễ
đền từ (gọi là chi ông Đăm, còn một chi nữa chuyên lo lễ nghi thờ trời – gọi
là ông Mờng) đã sống ở đây từ trớc Sau này cùng nhau đánh đuổi giặc Xá,quét sạch trộm cớp, vỡ ruộng, khai mờng, trồng trọt, chăn nuôi súc vật, quăngchài kiếm cá, săn thú, chiêu tập dân xây dựng cơ nghiệp Hai chi ông Đăm và
ông Mờng thấy rể có chữ nghĩa lại tháo vát mới đoàn kết lại cùng nhau tổchức mờng Chiếng Ván và để cho chi ông Cầm Bá Thảo nắm quyền cai trị
R Robert trong cuốn "Nhận xét về ngời Tày Đeng ở Lang ChánhThanh Hoá" khẳng định: ít nhất dòng họ Cầm Bá đã ở Chiềng Vạn đã 14 đời.Cho đến tận cuộc hội thảo mới đa đến một kết quả chính xác về thời gian định
c và phát triển của dòng họ Cầm Bá
Về danh xng "Tày Dọ" hay "Thái Dọ" cho đến nay không còn ai hiểu ýnghĩa của từ “Dọ” nữa Căn cứ vào các t liệu của ông Cầm Bá Bảo cung cấpthì dòng họ quý tộc Cầm Bá có nguồn gốc từ Lai Châu, thợng du Bắc Kỳ.Chúng tôi cho rằng chữ "Dọ" trong trờng hợp này có chung gốc với chữ Xo(hay Ro) – Mờng Xo ở Phong Thổ Lai Châu và chữ "Do" – Mờng Do củaVân Nam Trung Quốc, nh vậy, dòng họ Cầm Bá nói riêng và ngời TháiChiếng Ván nói chung với danh xng "Tày Dọ" có thể có nguồn gốc lịch sử ng-
ời Thái Mờng Xo, Mờng Do
Dòng họ Cầm Bá có mối quan hệ hết sức thân thiện với các Mờng lớn ởThanh – Nghệ và Lào Đối với Mờng Nọc – Quế Phong – Nghệ An nhómTày Dọ Thờng Xuân có sự tơng đồng về sắc thái văn hoá, tiếng nói Sự tồn tạicác dòng họ Cầm ở hai nơi này có mối quan hệ mật thiết từ lâu đời Theo tàiliệu viết tay của Cầm Văn Kim, những năm 1940-1945, cháu ngoại của CầmBá Thớc quê ở Quế Phong – Nghệ An thì Mờng Nọc một trong những quê h-
ơng lâu đời của ngời Thái, họ Lò Khăm (hay Lò Căm) là dòng họ làm Tạo LòKhăm (hay Lò Khăm) ở Tây bắc Nghệ An và Thờng Xuân Thanh Hoá đều gọitheo tiếng việt là họ Cầm Cầm là phiên âm yếu tố chất vàng ngọc Họ Cầmlàm thổ tù ở miền Tây Nghệ An ít nhất cũng từ thời nhà Lê (ví dụ nh Cầm Lạn
bị quân Minh lợi dụng chống lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Họ Cầm còn cóchi là họ Cầm Văn nh: chi Cầm Văn Viên, Cầm Văn Kim) Có chi đổi ra họLang Gia (ý chí thuộc tầng lớp lang Đạo) nh Lang Gia Sơn, Lang Gia Thuận,
có chi phiên âm thành họ Lô, có chi còn giữ tên cũ là Lò Khăm nh Lò KhămThi
Trang 35Họ Cầm Bá rất coi trọng mối quan hệ thân thiết với các mờng ở ThanhHoá, điển hình là ông Cầm Bá Thớc đã kết nghĩa anh em, uống máu ăn thề với
Hà Văn Mao – Lang đạo Điền L, sau này trở thành những thủ lĩnh trongphong trào Cần Vơng Thanh Hoá, sau này lại lấy em gái của Lang Văn Thiết
là Lang Thị T Con trai Cầm Bá Thớc là Cầm Bá Thành lại tiếp tục kết giaovới con trai Hà Văn Mao là Hà Triều Nguyệt và một số thổ ty châu Quan Hoá,Lang Chánh, Ngọc Lặc mu đồ khởi nghĩa Không may Hà Triều Nguyệt bịmắc mu "mỹ nhân kế" Việc bị bại lộ, Cầm Bá Thành, Hà Triều Nguyệt vàmột số đồng hữu khác bị bắt, tù đày Sau này con cháu hai họ vẫn gắn bó vớinhau hết sức mật thiết
Nh vậy, cho đến thế kỷ XVII, XVIII, XIX con cháu dòng họ Cầm Bá đã
định c ở khu vực miền Tây rất đông đúc Dòng họ này đã có ảnh hởng sâurộng trong cộng đồng dân c Điều đó cắt nghĩa vì sao phong trào chống Phápcủa con em họ Cầm Bá lại tồn tại trong vòng 10 năm trời đầy oanh liệt
Tiểu kết chơng 1
Miền Tây Thanh Hoá là một vùng rộng lớn, có vị trí quan trọng trongcông cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Ngay từ rất sớm các tộc ngời Thái, M-ờng, Dao, Khơ Mú, Kinh…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ đã định c và tạo nên một truyền thống văn hoá đặcsắc
Cho đến khi Thực dân Pháp xâm lợc về cơ bản miền Tây Thanh Hoávẫn thuộc vùng đất cai quản của các dòng họ lớn, mà ta thờng gọi là chế độThổ ty- Lang đạo Chính các dòng họ này đã lãnh đạo, đoàn kết nhân dân xâydựng bản mờng chống lại sự cớp bóc của thổ phỉ và chống ngoại xâm
Dòng họ Hà Công, Cầm Bá sau nhiều thế kỷ định c, phát triển ở miềnTây đã trở thành những dòng họ có lớn mạnh, có vai trò, vị trí, thế lực to lớntrong cộng đồng dân c miền Tây Do đó việc nghiên cứu về hai dòng họ nàytrong một thời kỳ lịch sử sôi động là hết sức cần thiết
Nh vậy, miền Tây Thanh Hoá ngay từ rất sớm đã trở thành vùng đấtdừng chân cho các tộc ngời đến sinh sống Với vị trí chiến lợc, truyền thốngvăn hoá lâu đời,trong suốt thời Bắc thuộc và các triều đại phong kiến ViệtNam miền Tây Thanh Hoá luôn nổi lên nh những lực lợng xung kích chống kẻthù xâm lợc Miền Tây đã trở thành chổ dựa vững chắc cho các lực lợng phong
Trang 36kiến, cho các cuộc khởi nghĩa của nhân dân giành độc lập dân tộc và xây dựngcủng cố chính quyền độc lập.
Chơng 2.
Dòng họ Hà Công, Cầm Bá ở miền Tây Thanh Hoá
trong phong trào Cần Vơng chống Pháp (1885-1896)
2.1 Khái quát tình hình đấu tranh của nhân dân Thanh Hoá phong trào Cần Vơng chống Pháp (1885-1896).
Thanh Hoá là vùng có truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời, là nơi có vịtrí chiến lợc trong công cuộc chống ngoại xâm Thanh Hoá thật đúng với nhậnxét của Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895) một chí sĩ yêu nớc có t tởng Canh Tân:
“ Thanh Hoá là một vùng đất có đủ ba điều lợi cơ bản cho việc giữ nớcchống giặc: địa hiểm, binh lực và tài lực Tỉnh Thanh Hoá, về mặt Tây có núicao rộng lớn, ngời Kinh, ngời Thổ ở lẫn nhau, gặp thời có việc, lấy trungnghĩa mà kết liên dân ấy cũng nh sự kết liên với các dân tộc thiểu số của nhàTấn đời Xuân Thu và cũng nh dân Tam Bản của đời Lê ta trớc kia Mặt khác,
đèo núi Tam Điệp chặn ngang hiểm yếu không kém gì núi Hải Vân, mở ramột mặt để chế ngự các tỉnh miền Bắc có cái hình thế nh ngồi trên nhà cầmbình nớc mà đổ xuống dới thấp, tự nhiên, tài phú ở 13 tỉnh Bắc Kỳ – chảyquy về một tay ta cầm chắc vậy Miền Nam thì nh miền khe nớc lạnh –Hoàng Mai cũng là nơi hiểm yếu, quân không thể sắp hàng, xe không đi lọt,cũng là đất “Thịnh bình của nớc Triệu Thêm nữa, dân miền này siêng năng,nghĩa dũng có thể luyện tập tức là có đủ binh lực
Duy có mặt đông một dải “Trờng Sa” nh không có nơi nào yếu hiểm
n-ơng cậy đợc, song cửa biển lại hẹp và cạn tàu lớn nớc ngoài không vào đợc.Miền ấy rộng, dân đông, đất tốt mà dân thuần, một mai có biến cố không đợingoại binh mà binh tài đủ tự cung cấp, cũng là một dọc đất Ba Thục vậy
Trang 37Huống nữa đờng vận tải trong sông lu thông, không có cái nạn sóng gió, đờng
bộ xen lấn, không sợ cái nạn cắt đón, đứt đoạn dầu nớc ngoài có chăng cứngoài mặt biển chẳng nẻo đờng ách yếu cũng không thể làm thiệt hại” [8; 11]
Do vị trí trọng yếu đặc biệt đó nên năm 1879 khi dỡng bệnh tại ThanhHoá Tôn Thất Thuyết đã bắt liên lạc với những ngời tâm huyết trong tỉnh đểbất đầu có kế hoạch xây dựng cơ sở kháng chiến nơi đây Tiến sĩ Tống DuyTân đã đợc Tôn Thất Thuyết bổ dụng chức Đốc học Thanh Hoá, rồi Chánh sứSơn Phòng ở Quảng Hoá (Vĩnh Lộc) để lo liệu việc tuyển mộ quân lính, tíchtrữ lơng thực, chuẩn bị chống Pháp
Ngày 13-7-1885 chiếu Cần Vơng lần thứ nhất nêu rõ: “Nớc ta gần đâyngẫu nhiên gặp nhiều việc, trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào không nghĩ
đến việc tự cờng, tự trị Bọn Tây đợc phái đến càng ngang bức, hiện tình mỗingày quá thêm (…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ) Nhng chỉ có Luân Thờng quan hệ với nhau, trăm quankhanh sĩ không kể lớn nhỏ tất không bỏ xa trẫm: kẻ trí hiến mu kế, ngời dũnghiến sức lực, kẻ giàu bỏ của ra giúp quân phu đồng bào đồng trạch chẳng từgian hiểm nh thế mới phải chứ…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ” [40; 251]
Ngày 19-9-1885 chiếu Cần Vơng thứ hai một lần nữa “thông tác chocác khanh sĩ bách quan võ lớn nhỏ và toàn dân trong nớc mọi ngời đều biết”những âm mu xảo quyệt của giặc Pháp và hạ lệnh: “Trẫm hạ lệnh cho ai nấy
đều phải quyết tâm và khi có lệnh thì sẵn sàng nổi dậy tiêu diệt tất cả những
kẻ thù theo lũ rợ phơng Tây, không để tên nào trốn thoát Trẫm cấm chí không
ai đợc t thông với giặc, khiến cho chúng không thể mua đựơc lơng thực Rồiphải tìm cách tiêu diệt chúng bất ngờ Nếu chúng bắt ép phải làm việc chochúng thì bất luận hay dở đều làm, nhng phải luôn nghĩ cách tìm mu tiêu diệtchúng” [40; 257]
Tôn Thất Hàm (em trai Tôn Thất Thuyết) khi đó đang đơng chức tri phủNông Cống hởng ứng chiếu Cần Vơng liền bỏ chức quan trở về sơn phòngQuảng Trị bắt liên lạc với triều đình kháng chiến sau đó lại đợc cử ra lãnh đạophong trào yêu nớc chống Pháp ở Nông Cống
Có thể khẳng định từ sau chiếu Cần Vơng đợc ban ra, đặc biệt là cuộchọp giữa các nghĩa quân Thanh Hoá tại Bồng Trung (Vĩnh Lộc) bàn định ph-
ơng sách đẩy phong trào chống Pháp trong tỉnh lên một bớc mới, xây dựng nơi
đây thành một căn cứ vững chắc cho phong trào chung của toàn quốc, thìmạng lới chống Pháp trong danh nghĩa Cần Vơng đã đợc thiết lập trên toàn
Trang 38tỉnh, trên cả ba vùng: Đồng bằng, Trung du, Miền núi và miền biển đâu đâucũng có cơ sở kháng chiến, sẵn sàng đánh đuổi thực dân Pháp xâm lợc.
Vùng đồng bằng trung du bao gồm các nghĩa quân:
Nghĩa quân Hà Trung do Lãnh Toại (Nguyễn Viết Toại) Lãnh phi (ĐỗVăn Quýnh) cầm đầu; huyện Đông Sơn có toán quân của Lê Khắc Tháo (TámTháo); Nông Cống có đội nghĩa quân Nguyễn Ngọc Phơng với căn cứ CổnLâm – Kỳ thợng Xuyên suốt cả vùng tả ngạn sông Mã, từ huyện Yên Địnhlên Vĩnh Lộc, mở rộng ra các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ tiếp giáp cácchâu miền núi, có nghĩa quân của Tống Duy Tân, Cao Bá Điển (Cao Điển)(Hùng Lĩnh, Vĩnh Lộc) cũng đẩy mạnh hoạt động và làm cho thực dân Phápnhiều phen khiếp sợ
ở miền biển có các trung tâm kháng chiến khá mạnh: Hậu Lộc có độiquân của Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt; Hoàng Hoá có nghĩa binh củaNguyễn Đôn Triết, Lê Trí Trực, Lê Khắc Quýnh; ở huyện Tĩnh Gia có nghĩaquân của Nguyễn Phơng; Quảng Xơng nghĩa binh của Đỗ Đức Mậu (thôn
Đông Đa tổng Thái Lai, nay là xã Quảng Phong) Nguyễn Ngọc lỡng (xãQuảng Trờng); Vũ Đình Ngoạn (Lãnh Phiên – tổng cung Thợng nay là xãQuảng Châu)
Vùng miền núi: Gồm các nghĩa quân của Hà Văn Mao, ở tổng Điền L(Bá Thớc ngày nay); Hà Văn Nho (Mờng Kỷ, Bá Thớc), nghĩa quân của CầmBá Thớc, Đốc Tích, Đốc Thận tổ chức ở châu Thờng Xuân (…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ)
Sự kết hợp ngày càng khá chặt chẽ về tổ chức phòng thủ, tấn công giữacác nghĩa quân vùng đồng bằng, trung du miền biển lên miền núi đã tạo nên
điều kiện để các dân tộc Thanh Hoá bớc vào cuộc chiến đấu quyết liệt và ngàycàng quyết liệt với kẻ thù Có thể nói đây là thời kỳ sôi động nhất của nhândân Thanh Hoá chống lại sự xâm lợc của thực dân Pháp dới sự lãnh đạo củagiai cấp phong kiến ở thời kỳ Cận Đại
Trong luận án tiến sĩ cấp nhà nớc Cha-Fouriau, khi nghiên cứu vềphong trào yêu nớc Cần Vơng Thanh Hoá đã rút ra 3 đặc điểm của phong tràonơi đây:
Thứ nhất, phong trào Thanh Hoá là trung tâm của cả Bắc Việt Nam.Thứ hai, phong trào có nguy cơ lan rộng ra Bắc vào Nam phát triển gần
nh một cuộc tổng nổi dậy
Trang 39Thứ ba, phong trào tập hợp Sĩ phu Văn thân thúc đẩy nông dân ở đồngbằng cùng ngời Mờng ở vung cao và trên các ngã đi về phía Thợng du Bắc Kỳ.
Cha-Fourniau Khẳng địng: "Sự thật, một trong những nét đặc sắc của phong trào ở Thanh Hoá là tầm quan trong của một trong những dân tộc thiểu số ngời Mờng tham gia".
2.2 Miền Tây Thanh Hoá trong chính sách xâm lợc của thực dân Pháp
Sau khi đánh chiếm xong Ninh Bình và Nghệ An thực dân Pháp mới
đánh chiếm ra Thanh Hoá (11-1885) Vậy nguyên nhân nào thực dân Pháp lạikhông chiếm ngay tỉnh Thanh Hoá vốn đất rộng, ngời đông, lại nằm trên trục
đờng giao thông Bắc – Nam rất thuận lợi cho việc hành quân của chúng?phải chăng là chúng ngần ngại đa quân vào một địa phơng có đông đảo vănthân, sỹ phu yêu nớc Một lực lợng mà chúng biết trớc sẽ là đối thủ quyết liệtcủa chúng Địa phơng đó lại là đất khởi nghiệp của triều Nguyễn là đất quý h-
ơng của dòng họ Nguyễn Gia Miêu với ông vua trẻ Hàm Nghi – Linh hồncủa phong trào chống Pháp và đợc Tôn Thất Thuyết vốn có nhiều quan hệ vớinhững ngời yêu nớc tỉnh Thanh hết lòng phụ tá”?
Những lý do trên đều đúng, nhng quan trọng hơn vì thông qua các giáo
sỹ Pháp, chúng biết Thanh Hoá đã có sự chuẩn bị chu đáo cho cuộc khángchiến chống Pháp Do đó từ năm 1876 dới sự giúp đỡ của thực dân Pháp,Thiên chúa giáo đã du nhập vào Mờng Đeng và nhanh chóng thiết lập đợcnhững cơ sở cần thiết cho việc truyền đạo cũng nh điều tra tình hình tỉnhThanh Thực dân Pháp đã biết đợc đây là nơi có địa bàn hiểm yếu, lực lợngcanh phòng của nhà Nguyễn mạnh và hơn hết các dân tộc trên khắp các địabàn c trú đã thiết lập đợc một mạng lới nghĩa quân hùng mạnh để chống Pháp
Chỉ trong một thời gian ngắn các làng có phong trào chống Pháp mạnh
nh Cổ Định (Triệu Sơn), Bồng Trung (Vĩnh Lộc), Hà Ngoại (Hậu Lộc), BútSơn (Hoằng Hoá)…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ đều bị triệt hạ nhng Pháp cha dám và cha đủ lực lợng
đánh lên miền rừng núi
Phải tới cuối năm 1885 đợc sự phối hợp của triều đình Đồng Khánh(mới đợc thực dân Pháp đặt lên ngôi) viên trung tá Boa – le – vơ (Boilêvơ)mới lại kéo quân vào Thanh Hoá Chính lần này bằng lực lợng mạnh chúngmới dám thực hiện chính sách càn quét, bình định và tiêu diệt phong tràokháng chiến miền Tây mà trung tâm điểm của nó là triệt hạ cứ điểm Điền L
Trang 40(Mờng Khô) của Hà Văn Mao ở châu Quan Hoá Tuy nhiên, một lần nữa thựcdân Pháp đã thất bại.
Không từ bỏ ý định thực dân Pháp nhanh chóng tấn công và thiết lập
đồn Bái Thợng Nhằm chốt giữ vị trí quan trọng bên bờ sông Chu Ngăn chặnmối liên lạc giữa các đội nghĩa quân hai vùng Thợng Du và đồng bằng ThanhHoá Chính từ căn cứ này thực dân Pháp đã nhiều lần hành quân lên vùngnúiẻTịnh Vạn (Thờng Xuân) để tiêu diệt nghĩa quân Cầm Bá Thớc)
Đặc biệt từ khi miền đồng bằng đã lọt vào tay giặc, khởi nghĩa Ba Đìnhthất bại, căn cứ Cổn Lâm – kỳ Thợng bị giặc Pháp tấn công, tàn phá vàkhủng bố thì vai trò của miền Tây Thanh Hoá càng quan trọng đối với phongtrào Cần Vơng Thanh Hoá Đồng thời lại là cái gai trong mắt thực dân Pháp đãphải tiến hành nhiều cuộc càn quét, tấn công hòng tiêu diệt các căn cứ khángchiến nơi đây Mặt khác để hoàn thành nhiệm vụ bình định miền Tây thực dânPháp vừa tiến hành mua chuộc dụ dỗ các dân tộc, các tầng lớp nhân dân taysai cho chúng, vừa tích cực rao giảng Kinh phúc âm vào đồng bào theo đạo
Từ đó cô lập và dẫn đến bóp chết phong trào yêu nớc miền Tây
Để thực hiện đợc âm mu thôn tính Việt nam nói chung và Thanh Hoánói riêng, dập tắt phong trào Cần Vơng ở xứ sở này thực dân Pháp đã côngkhai trả thù ngời dân vô tội
“(…Trong suốt nhiều thế kỷ hai dòng họ quý tộc này đều đ) Làng bản đợc coi là phải chịu trách nhiệm tập thể về những sựkiện xảy ra trong vùng Nếu quân Pháp nghi ngờ làng nào cung cấp tin tức haytrợ giúp Cần Vơng, hoặc “ngang ngợc”, làng đó bị đốt và c dân phải sống vậtvạ không nhà cửa Các phơng pháp phỏng vấn cũng hà khắc và nhanh gọn.Hàng nghìn ngời bị hành quyết và tống giam không xét xử Năm 1891 Phủtoàn quyền báo rằng: “Nhiều nhà tù ở Côn Đảo không hề có hồ sơ”, quânPháp dùng pháo binh tàn phá những vùng họ đi càn Ngời Pháp cố gắng làmcho ngời ta biết về sự tàn phá bằng cách cho in những bức ảnh có cảnh hoangtàn của những Làng xã không chịu hợp tác” [82; 151-152]
Có thể nói cha bao giờ miền Tây lại xuất hiện những phong trào yêu
n-ớc chống Pháp sôi động Họ không chỉ đấu tranh trên lĩnh vực quân sự mà còntranh đấu trên lĩnh vực văn hoá t tởng và kinh tế Có thể nói đấu tranh trên lĩnhvực văn hoá, t tởng (truyền thống văn hoá các tộc ngời chống lại đạo ThiênChúa giáo) cũng không kém phần quyết liệt Đó là lý do vì sao thực dân Phápmãi mãi sẽ không bao giờ nô dịch đợc các dân tộc nơi đây