1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hệ thống cây xanh đô thị ở huyện lâm thao và tam nông, tỉnh phú thọ

110 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 820,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Lê Thị Ánh Hồng Tên Luận văn: Quản lý hệ thống cây xanh đô thị ở huyện Lâm Thao và Tam Nông, Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu t

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Phượng Lê

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Thị Ánh Hồng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Phượng Lê đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức Văn Phòng Huyện ủy, UBND huyện Lâm Thao và UBND huyện Tam Nông, Phòng Tài Chı́nh - Kế hoa ̣ch, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Thị Ánh Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mu ̣c bảng vii

Danh mục hộp, sơ đồ ix

Trích yếu luận văn x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Đóng góp của luận văn 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hệ thống cây xanh đô thị 4

2.1 Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống cây xanh 4

2.1.1 Các khái niệm có liên quan 4

2.1.2 Đặc điểm của quản lý hệ thống cây xanh 5

2.1.3 Vai trò của quản lý hệ thống cây xanh đô thị 6

2.1.4 Nguyên tắc quản lý cây xanh đô thị 7

2.1.5 Nội dung nghiên cứu quản lý hệ thống cây xanh 8

2.1.6 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hệ thống cây xanh 16

2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý hệ thống cây xanh 18

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý hệ thống cây xanh trên thế giới 18

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý hệ thống cây xanh ở Việt Nam 24

2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông 30

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 31

Trang 5

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên ở huyện Lâm Thao 31

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện lâm thao 33

3.1.3 Đặc điểm tự nhiên ở huyện Tam Nông 35

3.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Tam Nông 36

3.2 Phương pháp nghiên cứu 41

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 41

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 42

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 43

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45

4.1 Thực trạng quản lý hệ thống cây xanh ở huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông 45

4.1.1 Xây dựng bộ máy cơ quan quản lý nhà nước 45

4.1.2 Công tác ban hành và tuyên truyền các văn bản hướng dẫn 47

4.1.3 Quản lý quy hoạch hệ thống cây xanh 50

4.1.4 Quản lý thiết kế - thi công hệ thống cây xanh 53

4.1.5 Quản lý chất lượng hệ thống cây xanh 58

4.1.6 Công tác kiểm tra, giám sát 61

4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hệ thống cây xanh huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông 63

4.2.1 Hệ thống chính sách 63

4.2.2 Năng lực của cơ quan quản lý 65

4.2.3 Sự phối hợp của các cơ quan trong quản lý hệ thống cây xanh 67

4.2.4 Ý thức của người dân 68

4.2.5 Sự tham gia của cộng đồng 69

4.3 Giải pháp tăng cường quản lý hệ thống cây xanh đô thị ở huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông 70

4.3.1 Định hướng quản lý hệ thống cây xanh đô thị ở huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông 70

4.3.2 Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý hệ thống cây xạnh đô thị ở huyện Lâm Thao và Tam Nông 74

Trang 6

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 86

5.1 Kết luận 86

5.2 Kiến nghị 87

5.2.1 Kiến nghị đối với cấp ủy chính quyền địa phương 87

5.2.2 Kiến nghị đối với UBND tỉnh Phú Thọ 87

Tài liệu tham khảo 89

Phụ lục 92

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BVMT Bảo vệ môi trường

CPVLXD Cổ phần vật liệu xây dụng CQHCNN Cơ quan hành chính nhà nước

HDB Ủy ban phát triển nhà đất

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Chỉ tiêu diện tích cây xanh công cộng ở đô thị Việt Nam và trên

thế giới 27

Bảng 3.1 Tổng hợp một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội huyện Lâm Thao 34

Bảng 3.2 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất 3 năm 2016 - 2018 37

Bảng 3.3 Quy mô và cơ cấu dân số, lao động huyện Tam Nông năm 2018 38

Bảng 3.4 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tam Nông qua 3 năm (2016-2018) 39

Bảng 3.4 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin sơ cấp 42

Bảng 4.1 Các văn bản pháp luật và chính sách có liên quan đến quy hoạch, phát triển và quản lý hệ thống cây xanh đô thị 47

Bảng 4.2 Công tác tuyên truyền về quản lý hệ thống cây xanh đô thị 49

Bảng 4.3 Đánh giá của người dân về công tác tuyên truyền quản lý hệ thống cây xanh đô thị 50

Bảng 4.4 Quy hoạch hệ thống cây xanh huyện Lâm Thao và Tam Nông 52

Bảng 4.5 Đánh giá của người dân về sự phù hợp của quy hoạch hệ thống

cây xanh 53

Bảng 4.6 Thiết kế - thi công hệ thống cây xanh ở huyện Lâm Thao và

Tam Nông 54

Bảng 4.7 Đánh giá của người dân về thiết kế thi công hệ thống cây xanh

đô thị 55

Bảng 4.8 Thiết kế - thi công công viên ở huyện Lâm Thao và Tam Nông 55

Bảng 4.9 Đánh giá của người dân về thiết kế thi công công viên 56

Bảng 4.10 Thành phần loài cây bóng mát ở Lâm Thao và Tam Nông 57

Bảng 4.11 Đánh giá của người dân về sự phù hợp của loài cây bóng mát 57

Bảng 4.12 Đánh giá về chất lượng giống cây trồng 58

Bảng 4.13 Số lượng cây xanh được đánh số ở huyện Lâm Thao và huyện

Tam Nông 59

Bảng 4.14 Hoạt động tưới nước, cắt tỉa cảnh, tạo tán và thay thế cây xanh 60

Bảng 4.15 Đánh gia của người dân về tình hình chăm sóc cây xanh đô thị 61

Bảng 4.16 Kết quả đánh giá công tác thanh tra, giám sát 62

Bảng 4.17 Đánh giá của cán bộ và người dân về công tác thanh kiểm tra 63

Trang 9

Bảng 4.18 Đánh giá cơ chế, chính sách quản lý cây xanh đô thị 64 Bảng 4.19 Trình độ chuyên môn của Ban quản lý công trình công cộng huyện

Lâm Thao và huyện Tam Nông 66 Bảng 4.20 Đánh giá của nhân viên về sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý hệ

thống cây xanh đô thị 68

Trang 10

DANH MỤC HỘP, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1 Bộ máy quản lý hệ thống cây xanh đô thị của huyện Lâm Thao và

Tam Nông 46 Hộp 4.1 Ý kiến của cán bộ về sự phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý hệ

thống cây xanh đô thị 68 Hộp 4.2 Cần nâng cao ý thức của người dân trong việc trồng, chăm sóc và bảo

vệ cây công cộng 69

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Lê Thị Ánh Hồng

Tên Luận văn: Quản lý hệ thống cây xanh đô thị ở huyện Lâm Thao và Tam Nông,

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp để thu thập thông tin về quản lý cây xanh đô thị tại các cơ quan hành chính cấp huyện của huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông; Kết hợp phương pháp thu thập số liệu sơ cấp thông qua điều tra các đối tượng liên quan như 03 Lãnh đạo, chuyên viên Ban Quản lý các công trình công cộng phụ trách công tác cây xanh; 15 Công nhân trực tiếp chăm sóc cây; 02 Cán bộ phòng Tài nguyên & Môi trường và 60 Người dân (đại diện các tổ dân phố, hội, và người dân) nhằm thu thập các thông tin phục vụ cho nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp phân tích số liệu truyền thống như phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê, thống kê so sánh và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ nội dung nghiên cứu quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông

Kết quả chính và kết luận

Qua kết quả nghiên cứu có thể đánh giá được thực trạng của hoạt động quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông Hiện nay, Công tác đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị được chú trọng, bộ mặt đô thị của thành phố ngày một khang trang Đặc biệt hệ thống cây xanh trên một số tuyến phố, khu vực được cải tạo, trồng mới đã góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, cải tạo vi khí hậu, bảo vệ môi trường sống, tạo không gian kiến trúc, tăng thẩm mỹ cảnh quan đô thị Tuy nhiên, hệ thống cây xanh hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường cảnh quan, tỷ lệ diện tích cây xanh, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý, công tác quản lý về cây xanh đô thị chưa được thực hiện đầy đủ theo các quy định của Nhà nước Còn có các vi phạm về cây xanh như việc: chặt, trồng, thay thế chưa đúng chủng loại thậm chí tại một

số tuyến phố Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc phát triển cây xanh trên địa bàn huyện đó là thiếu quy định riêng về quản lý cây xanh đô thị, chậm bổ

Trang 12

sung, rà soát quy hoạch tổng thể về phát triển cây xanh đô thị và lập hồ sơ quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn Quỹ đất dành cho cây xanh chưa tương xứng; tỷ lệ diện tích cây xanh, vườn hoa, công viên chưa đáp ứng các định mức Việc trồng cây xanh ở những nơi công cộng vẫn còn mang tính tự phát, manh mún, thiếu quy hoạch về lựa chọn, bố trí loại cây trồng phù hợp ở từng công trình Sự tham gia, vào cuộc của các cấp, các ngành trong công tác quản lý, phát triển cây xanh đô thị chưa nhiều; chưa tạo được các phong trào về cải tạo, phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý cây xanh đô thị huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông gồm những yếu tố sau: Hệ thống chính sách; Năng lực của cơ quan quản lý; Sự phối hợp của các cơ quan trong quản lý hệ thống cây xanh; Ý thức của người dân; Sự tham gia của cộng đồng

Một số giải pháp tăng cường quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông như sau: Giải pháp quản lý nhà nước: Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý cây xanh đô thị, Hoàn chỉnh bộ máy quản lý cây xanh, Hoàn thiện công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch; Giải pháp đối với đơn vị cơ quan sự nghiệp: Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý hệ thống cây xanh, Hoàn thiện công tác thống

kê, đánh số cây, Nâng cao công tác thanh tra, giám sát quản lý cây xanh đô thị, Nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ, chăm sóc cây xanh đô thị; Giải pháp khoa học kỹ thuật: Nghiên cứu lựa chọn giống cây trồng, Hoàn thiện quy trình chăm sóc, tưới và cắt tỉa ; Xã hội hoá công tác quản lý và phát triển cây xanh đô thị: Huy động nguồn lực con người, Phát triển nguồn lực tài nguyên, Phát triển nguồn lực tài chính

Trang 13

THESIS ABSTRACT Author: Le Thi Anh Hong

Thesis title: The management of urban green trees systems in Lam Thao and Tam Nong

district, Phu Tho province

Academic Institution: Vietnam National University of Agriculture

Research object

Based on the assessment the situation and analyzing the factors affecting the management of urban green tree systems in Lam Thao district and Tam Nong district, Phu Tho province, then proposing solutions to manage urban green trees in Lam Thao and Tam Nong district in the future

Research Methods

Research used secondary data collection methods to collect information on urban green tree system management at district-level administrative agencies of Lam Thao district and Tam Nong district; Combining primary data collection method to collect information from related stakeholders such as 03 leaders, experts of the Management Board of public constructions in charge of green trees; 15 workers directly take care of trees; 02 staff of the Department of Natural Resources and Environment and 60 people (representatives of residential groups, associations, and people) Research used a number of traditional analysis methods such as descriptive statistical methods, statistical division, comparative statistics and research indicators

Main results and conclusions

Through the research results, it is possible to assess the status of urban green trees management activities in Lam Thao district and Tam Nong district Currently, the investment in construction of urban infrastructure system is focused; the urban face of the city is getting more and more spacious Especially, the green tree system on some streets and areas has been renovated and planted, contributing to the construction of a civilized and modern city, microclimate improvement, protection of the living environment, creating an architectural space, increasing aesthetic urban landscape However, the green tree system does not meet the requirements of the landscape environment, the proportion of green tree area and irrational plant structure, the management of urban green trees has not been fully implemented according to State regulations There are also violations of green trees management such as: cutting, planting, replacing not right species even in some streets One of the reasons for

Trang 14

limiting the development of greenery in two districts is the lack of specific regulations

on management of urban green tree, slow addition and review of the master plan on urban green tree development and make the document of urban green tree management

in the area Land for green trees is not adequate; percentage of area of green trees, flower gardens and parks that do not meet the norms The planting of trees in public places is still spontaneous and fragmented, lack of planning on selection and arrangement of suitable plants in each project The participation of all management levels and branches in the management and development of urban green trees is not much; have not yet created movements on renovation and development of urban green tree in the city

The factors affecting urban greenery management in Lam Thao district and Tam Nong district including: Policy system; Capacity of management agencies; Coordination of agencies in managing green tree systems; People's awareness; Community involvement Some solutions to strengthen management of urban green trees in Lam Thao district and Tam Nong district are as follows: State management solution; Completing the system of urban green tree management policies, completing the management green trees, complete planning and management planning; Solutions for government agencies: Improving the capacity of staffs working on management of green trees, completing statistics, numbering trees, improving inspection and supervision work management of urban green tree, raising people's awareness in protecting and tending urban green tree; Scientific and technical solutions: Research and selection of plant varieties, completion

of care, irrigation and pruning procedures; Socializing the management and development of urban green tree: Mobilizing human resources, developing natural resources and developing financial resources

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Từ xa xưa đến nay, cuộc sống của loài người luôn gắn bó và không thể tách rời khỏi thiên nhiên Cây xanh là một phần quan trọng của thiên nhiên, là tài sản quan trọng đối với sự sống của con người, có vai trò vô cùng to lớn trong cuộc sống của chúng ta Cây xanh vừa bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta và còn trang trí cảnh quan thêm đẹp hơn Không chỉ mang ý nghĩa

về mặt cảnh quan, cây xanh còn mang nhiều giá trị về mặt điều hòa vi khí hậu Ngoài giá trị về tạo bóng mát, chắn gió, chắn bụi, giảm ồn, cây xanh còn mang ý nghĩa rất lớn cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và trở thành nơi trú ngụ cho các loài động vật Đất nước ta đang trên đà đi lên công nghiệp hóa và hiện đại hóa, các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất…mọc lên ngày càng nhiều và vấn đề ô nhiễm môi trường là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là ở các đô thị Dưới sự phát triển và tác động của con người, các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên nhiên đang dần bị mất đi Khí hậu thay đổi, thời tiết bất thường cộng với nhiều nguồn ô nhiễm (nguồn nước, rác thải, khói bụi, tiếng ồn…) gây ra cho con người những bất lợi về sức khỏe đặc biệt là về yếu tố tinh thần

Lâm Thao và Tam Nông là 2 huyện đồng bằng xen đồi núi thấp của tỉnh Phú Thọ, nằm ở phía Tây Nam của tính Phú Thọ, có hệ thống giao thông khá thuận lợi, là cửa ngõ giữa miền núi và vùng đồng bằng, đồng thời là cửa ngõ quan trọng giữa Thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Tây Bắc, có điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá, khoa học công nghệ giữa các địa phương trong và ngoài huyện Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa của 2 huyện diễn ra mạnh mẽ với nhiều dự án các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được thành lập, tạo điều kiện về việc làm, thu hút lao động tại chỗ, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân 2 huyện Tuy nhiên, mặt trái của quá trình đô thị hóa là tình trạng ô nhiễm môi trường, các vấn đề xã hội tiêu cực phát sinh Nhận thức sâu sắc những tác động mặt trái của phát triển kinh tế thị trường, Đảng bộ, chính quyền 2 huyện đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm phát triển bền vững, trong đó có việc chú trọng phát triển

hệ thống cây xanh đô thị nhằm điều hòa khí hậu, tạo cảnh quan môi trường xanh, sạch đẹp

Trang 16

Từ trước 2011, công tác quản lý hệ thống cây xanh đô thị tại các huyện, thành thị trên địa bàn tỉnh Phú Thọ được tổ chức thành nhiều đầu mối, tại huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông do ban quản lý công trình công cộng, các biện pháp quản lý còn thiếu tính khách quan, không kịp thời, sự phân công và phân cấp trong quản lý bị chồng chéo, nhiều đơn vị hoạt động không chuyên trong lĩnh vực cây xanh đô thị cũng tham gia quản lý Việc quá nhiều đơn vị thi công và quản lý cây xanh đã tạo ra những khó khăn nhất định cho việc thực hiện công tác quản lý và phát triển cây xanh trên địa bàn 2 huyện Chính vì vậy năm 2011, UBND tỉnh Phú Thọ đã quyết định giao công tác này cho UBND huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông quản lý và phát triển cây xanh đô thị thông qua Ban Quản lý các công trình công cộng của huyện Kể từ khi được giao quản lý công tác này, Ban Quản lý các công trình công cộng của 2 huyện đã tích cực tham mưu quy hoạch, xây dựng, phát triển hệ thống cây xanh đô thị như: Chủ trương trồng mới 1 triệu cây xanh đô thị, “Đề án cải tạo, thay thế cây xanh đô thị hai bên đường phố giai đoạn năm 2014-2015” (UBND huyện Lâm Thao và Tam Nông) Tuy nhiên trên thực tế, đề án cải tạo hệ thống cây xanh chưa có sự nghiên cứu sâu về thực trạng của hệ thống cây xanh đường phố nên khi triển khai còn gặp phải nhiều vướng mắc, chất lượng thi công và giám sát công tác trồng cây, chăm sóc, bảo vệ cây xanh trên địa bàn huyện chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng vi phạm lấn chiếm không gian xanh công cộng hoặc bị chuyển chức năng sử dụng trong đô thị vẫn diễn ra phổ biến, ý thức và trách nhiệm của người dân chưa cao…

Từ yêu cầu thực tiễn và các vấn đề nêu trên, tôi đã lựa chọn và tiến hành

nghiên cứu đề tài “Quản lý hệ thống cây xanh đô thị ở huyện Lâm Thao và

Tam Nông, tỉnh Phú Thọ” làm luận văn thạc sĩ kinh tế Với mong muốn kết quả

nghiên cứu của đề tài có thể góp một phần nhất định vào việc quản lý hệ thống cây xanh trên các tuyến đường của hai huyện

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hệ thống cây xanh đô thị ở huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, từ đó đề xuất giải pháp quản lý cây xanh ở huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông trong thời gian tới

Trang 17

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hệ thống cây xanh;

- Đánh giá thực trạng và phân tích yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý

hệ thống cây xanh ở huyện Lâm Thao và Tam Nông tỉnh Phú Thọ;

- Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý hệ thống cây xanh ở huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hệ thống cây xanh ở huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông tỉnh phú thọ

Hệ thống cây xanh đô thị và cây xanh bóng mát trên các tuyến đường thuộc thị trấn huyện Lâm Thao và Tam Nông tỉnh Phú Thọ

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung Đề tài tập trung nghiên cứu cây xanh bóng mát trong phạm

vi dọc các tuyến đường ở trung tâm huyện Lâm Thao và Tam Nông tỉnh Phú Thọ

- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu tại huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ

- Phạm vi thời gian: nghiên cứu đánh giá thực trạng trong giai đoạn 2015 – 2018; giải pháp đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020 và những năm tiếp theo

1.4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Về lí luận: đã tổng hợp và phát triển được các khái niệm, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng có liên quan đến quản lý cây xanh đô thị tại huyện Lâm Thao

và huyện Tam Nông

- Về thực tiễn: Nghiên cứu đã chỉ ra trong quá trình quản lý cây xanh đô thị tạo huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông hiện nay có rất nhiều ưu điểm như công tác quy hoạch, công tác thiết kê thi công, công tác chăm sóc bảo vệ xây xanh ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trong công tác quản lý cây xanh đô thị Vì vậy từ những ưu điểm và hạn chế nghiên cứu đề

ra được nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn huyện Lâm Thao và huyện Tam Nông

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HỆ

THỐNG CÂY XANH ĐÔ THỊ 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÂY XANH

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

- Khái niệm về đô thị

Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995)

Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị (Tô Văn Hùng và Phan Hữu Bách, 2005)

Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp, cơ sơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện (Ban Tổ chức - Cán bộ chính phủ - Bộ xây dựng, 1990)

Như vậy, theo tác giả, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của cả một miền đo thị, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện

- Khái niệm về quản lý cây xanh đô thị

Quản lý cây xanh đô thị bao gồm: quy hoạch, trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ và chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị (Chính phủ, 2010)

Quản lý cây xanh đô thị là một lĩnh vực hoạt động phức hợp, liên quan đến rất nhiều các đối tượng và ngành nghề khác nhau trong đô thị; và đòi hỏi sự hợp tác biện chứng nhiều tầng thứ giữa các bên nhằm đem lại lợi ích tối đa cho người dân (Chính phủ, 2010)

Quản lý cây xanh đô thị bền vững đảm bảo sự cân bằng các yếu tố về xã hội, kinh tế và môi trường, góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái đô thị thích ứng với những điều kiện mới; trong đó, con người là một thành tố quan trọng Phát triển đa dạng hệ sinh thái đô thị bằng việc sử dụng nhiều loài cây có giá trị thẩm mỹ, đa dạng về hình thái và chủng loại giúp thu hút các loài động vật liên

Trang 19

quan; nhưng công tác lựa chọn cây đô thị vẫn cần đảm bảo ưu tiên sử dụng các loài cây bản địa hoặc những loài cây đã được thử nghiệm cho kết quả tốt (Chính phủ, 2010)

Quản lý cây xanh đô thị là trách nhiệm của cộng đồng Việc thể chế quản

lý xã hội hóa, tổng hợp nhiều bên tham gia để tạo ra một sức lan tỏa cộng đồng trong việc quản lý nguồn lợi ích chung (đồng thời cũng là nguồn rủi ro chung) của nguồn tài nguyên dùng chung này Bên cạnh đó, việc phân cấp phân quyền theo phương thức xã hội hóa góp phần đảm bảo công tác quản lý cây xanh đô thị một cách toàn diện

2.1.2 Đặc điểm của quản lý hệ thống cây xanh

Theo Nghị định 64/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, “Cây xanh đô

thị” là cây xanh sử dụng công cộng, cây xanh sử dụng hạn chế và cây xanh

chuyên dụng trong đô thị; “Quản lý cây xanh đô thị” bao gồm: Quy hoạch, trồng,

chăm sóc, ươm cây, bảo vệ và chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị

Quản lý cây xanh đô thị được gắn liền với thuật ngữ “Lâm nghiệp đô thị” hay “quản lý rừng đô thị” Khái niệm lâm nghiệp đô thị có nguồn gốc ở Bắc Mỹ

trong những năm 1960, Jorgensen đã giới thiệu các khái niệm này bao gồm giải quyết các vấn đề cây trong thành phố, quản lý cả các cây đơn lẻ và trong toàn bộ khu vực bị ảnh hưởng bởi đô thị hoá; bao gồm cây xanh đường phố, cây xanh công viên, cây xanh tại các khu vực công cộng khác, cây xanh tại vườn nhà riêng

và tất cả các mảng xanh tự nhiên còn sót lại trong khu vực này

Tài nguyên rừng đô thị liên quan đến vị trí của cây xanh đô thị:

1) Các không gian mở, vị trí của cây xanh đường phố, cây xanh quảng trường, hàng cây và các lối đi

2) các cây riêng lẻ hoặc các khóm cây nhỏ trồng trong vườn, nghĩa trang trên đất hoang trong các khu công nghiệp…

3) Vị trí của cây trong thảm thực vật và cây bụi Tất cả được tìm thấy trong hoặc gần khu vực đô thị và đều liên quan đến yếu tố thực vật thân gỗ Vai trò của cây xanh đô thị được thể hiện các vai trò khác nhau liên quan đến:Tổng thể hoạch định chính sách, quy hoạch và thiết kế các biện pháp kỹ thuật (lựa chọn cây trồng và thiết lập nơi trồng) và công tác quản lý Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, nhiều người tán thành về các thế mạnh cơ bản của các phương pháp tiếp cận lâm nghiệp đô thị:

Trang 20

1) Là sự tích hợp, hợp nhất các yếu tố khác nhau trong cấu trúc xanh đô thị; 2) Đó là chiến lược, nhằm phát triển các chính sách dài hạn và kế hoạch cho tài nguyên cây đô thị, kết nối với các lĩnh vực, chương trình nghị sự và các chương Trình khác

3) Nhằm mục đích cung cấp nhiều lợi ích nhấn mạnh đến kinh tế, môi trường, văn hóa – xã hội tốt và các dịch vụ mà rừng đô thị có thể cung cấp 4) Đó là đa và mục tiêu trở thành liên nghành, bao gồm đến các chuyên môn về tự nhiên cũng như khoa học xã hội

5) Đó là sự tham gia, mục tiêu phát triển quan hệ đối tác giữa tất cả các bên liên quan Mô hình lâm nghiệp đô thị là mô hình đa lĩnh vực và đa vai trò của các bên liên quan trong các hoạt động chính của cây xanh đô thị

2.1.3 Vai trò của quản lý hệ thống cây xanh đô thị

Quản lý cây xanh đô thị bền vững đảm bảo sự cân bằng các yếu tố về xã hội, kinh tế và môi trường, góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái đô thị thích ứng với những điều kiện mới; trong đó, con người là một thành tố quan trọng Quản lý cây xanh đô thị giúp phát triển đa dạng hệ sinh thái đô thị bằng việc sử dụng nhiều loài cây có giá trị thẩm mỹ, đa dạng về hình thái và chủng loại giúp thu hút các loài động vật liên quan; nhưng công tác lựa chọn cây đô thị vẫn cần đảm bảo ưu tiên sử dụng các loài cây bản địa hoặc những loài cây đã được thử nghiệm cho kết quả tốt trong thời gian dài

Quản lý cây xanh giúp bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái đô thị Xây dựng bộ khung bảo vệ thiên nhiên, đảm bảo sự phát triển bền vững và cân bằng sinh thái đô thị Định hướng phát triển đô thị toàn quốc đã nêu rất rõ về quan điểm “giữ gìn và bảo vệ bộ khung thiên nhiên bảo vệ

sự phát triển bền vững, cân bằng môi trường sinh thái đô thị” Do đó cần quy hoạch các khu vực duy trì trạng thái tự nhiên của cây xanh mặt nước vv liên kết thành một hệ thống có thể gọi là hệ khung thiên nhiên tạo động lực sinh thái đô

thị, đặc biệt là hệ thống thảm thực vật trong đô thị

Phát hành, thực hiện và giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ cây xanh; Cung cấp không gian để tổ chức các hoạt động công cộng dựa trên giấy phép sự chấp thuận của các cơ quan chức năng

Trang 21

2.1.4 Nguyên tắc quản lý cây xanh đô thị

Chính phủ thống nhất quản lý cây xanh đô thị, có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của pháp luật Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh sử dụng công cộng đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tham gia quy hoạch; trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ cây xanh đô thị (Chính phủ, 2010)

Việc quản lý, phát triển cây xanh đô thị phải tuân thủ quy hoạch đô thị, quy chuẩn kỹ thuật đồng thời góp phần tạo cảnh quan, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học Khi triển khai xây dựng khu đô thị mới, chủ đầu tư phải đảm bảo quỹ đất cây xanh; cây xanh được trồng phải đúng chủng loại, tiêu chuẩn cây trồng theo quy hoạch chi tiết khu đô thị mới đã được phê duyệt đồng thời phải có trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ cây xanh đến khi bàn giao cho cơ quan quản lý theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Chính phủ, 2010)

Khi xây dựng mới đường đô thị phải trồng cây xanh đồng bộ với việc xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật Khi cải tạo, nâng cấp đường đô thị, các công trình đường ống kỹ thuật hoặc khi tiến hành hạ ngầm các công trình đường dây, cáp nổi tại các đô thị có liên quan đến việc bảo vệ, chặt hạ, dịch chuyển, trồng mới cây xanh, chủ đầu tư phải thông báo cho cơ quan quản lý cây xanh trên địa bàn biết để giám sát thực hiện Việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị phải tuân thủ theo Điều 14 của Nghị định này (Chính phủ, 2010)

Việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị phải tuân thủ theo: Cây đã chết,

đã bị đổ gãy hoặc có nguy cơ gãy đổ gây nguy hiểm; Cây xanh bị bệnh hoặc đến tuổi già cỗi không đảm bảo an toàn; Cây xanh trong các khu vực thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Các trường hợp chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị phải có giấy phép: Cây xanh thuộc danh mục cây bảo tồn; Cây bóng mát trên đường phố; Cây bóng mát; cây bảo tồn; cây đã được đánh số, treo biển trong công viên, vườn hoa, các khu vực công cộng và các khu vực thực hiện dự án đầu

tư xây dựng công trình; Cây bóng mát có chiều cao từ 10 m trở lên; cây bảo tồn trong khuôn viên của các tổ chức, cá nhân Các trường hợp được miễn giấy phép chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị là: chặt hạ ngay do tình thế khẩn cấp, do thiên tai hoặc cây đã chết, đã bị đổ gãy Trước khi chặt hạ, dịch chuyển phải có biên bản, ảnh chụp hiện trạng và phải báo cáo lại cơ quản lý cây xanh đô thị chậm nhất trong vòng 10 ngày kể từ ngày thực hiện xong (Chính phủ, 2010)

Trang 22

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị bao gồm: Đơn đề nghị nêu rõ vị trí chặt hạ, dịch chuyển; kích thước, loại cây và lý do cần chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị; Sơ đồ vị trí cây xanh đô thị cần chặt hạ, dịch chuyển; Ảnh chụp hiện trạng cây xanh đô thị cần chặt hạ, dịch chuyển (Chính phủ, 2010)

Tiếp nhận hồ sơ và thời gian giải quyết cấp giấy phép: Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị được nộp tại cơ quan quản lý cây xanh đô thị theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thời gian giải quyết cho việc cấp giấy phép chặt hạ, dịch chuyển tối đa không quá 15 ngày làm việc,

kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thẩm quyền cấp giấy phép chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị (Chính phủ, 2010)

Thực hiện việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị: Thời hạn để thực hiện việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị không quá 30 ngày kể từ ngày được cấp giấy phép; Đối với việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh trong các dự án đầu tư xây dựng công trình phải được thực hiện theo tiến độ thực hiện dự án; Trước khi triển khai việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện phải thông báo cho chính quyền địa phương; Việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị trong các khu vực công cộng và trong các khuôn viên của tổ chức, cá nhân quản lý phải bảo đảm quy trình kỹ thuật, an toàn cho người và tài sản (Chính phủ, 2010)

Đơn vị thực hiện dịch vụ quản lý cây xanh đô thị được giao nhiệm vụ chặt

hạ, dịch chuyển cây xanh sử dụng công cộng đô thị trên địa bàn phải tuân thủ đúng quy định tại Điều này Trong trường hợp chặt hạ, dịch chuyển cây xanh sử dụng công cộng đô thị và trồng cây mới phải bảo đảm đúng quy định Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu chính đáng về chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị ngoài việc tuân thủ các quy định tại Điều này còn phải có trách nhiệm đền bù giá trị cây, chịu mọi chi phí cho việc chặt hạ, dịch chuyển cây xanh đô thị (Chính phủ, 2010)

2.1.5 Nội dung nghiên cứu quản lý hệ thống cây xanh

2.1.5.1 Xây dựng bộ máy cơ quan quản lý nhà nước

Ở cấp huyện, ban quản lý công cộng huyện Lâm Thao và ban quản lý công cộng huyện Tam Nông có trách nhiệm tham mưu với hai UBND huyện tổ chức quản lý cây xanh dọc theo các tuyến đường, những công viên, vườn hoa còn lại

Trang 23

và các không gian công cộng khác trong địa bàn huyện Các nhà cung cấp dịch

vụ (được hiểu bao gồm cả cơ quan nhà nước và tư nhân) được chính quyền các cấp có thẩm quyền phân công quản lý trực tiếp cây xanh đô thị, công viên và vườn hoa theo hợp đồng Mối liên thông trong công tác quản lý, thiết kế và thi công các hạng mục hạ tầng kỹ thuật giữa các cơ quan quản lý nhà nước đang chỉ được thực hiện trên các văn bản quy phạm pháp luật Thực tế triển khai gặp rất nhiều khó khăn và chồng chéo Công tác quản lý lưu hồ sơ và cập nhật thông tin giữa các cơ quan gần như không được triển khai Đây là vấn đề mang tính hệ thống trong công tác quản lý và lưu trữ hồ sơ của các cơ quan quản lý nhà nước Các đơn vị quản lý và triển khai phần lớn là độc lập, thiếu tính đồng bộ không chỉ dẫn đến lãng phí mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và cảnh quan đô thị Đối với các tuyến đường hiện hữu, việc triển khai cải tạo và sửa chữa hay hạ ngầm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đang triển khai độc lập giữa các lĩnh vực chuyên môn Về lý thuyết, chúng được quản lý bởi phòng quản lý hạ tầng kỹ thuật và công trình ngầm, nhưng thực tế lại đang được các đơn vị quản lý trực tiếp theo ngành dọc phụ trách, quản lý và triển khai Vai trò của người dân trong khu vực chưa thực sự được làm rõ, người dân chưa được tham gia triệt để vào công tác quản lý và phát triển cây xanh đô thị nói chung và cây xanh bóng mát trên các tuyến được thuộc khu vực mình sinh sống Họ mới chỉ tham gia chủ yếu và công tác giám sát quá trình thực hiện và phản biện công tác này qua các phương tiện thông tin đại chúng (Lê Xuân Thái, 2015)

2.1.5.2 Cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn

Để quản lý tốt và phát huy có hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển cây xanh đường phố cần đảm bảo một hệ thống văn bản pháp quy thống nhất và đồng

bộ Các thuật ngữ, định nghĩa và quy định chung mang tính ràng buộc cần chuẩn hóa, thống nhất và đầy đủ theo trật tự: Luật, Nghị định, Thông tư, tiêu chuẩn kỹ thuật Chương trình phát triển, các đồ án quy hoạch (từ quy hoạch tổng thể, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị), Quy chế quản lý theo các

đồ án quy hoạch được duyệt và các đồ án thiết kế chi tiết không gian kiến trúc cảnh quan… Bên cạnh đó, các văn bản pháp lý ban hành cần dựa trên nguyên tắc

về sự đồng thuận của các bộ, ban ngành và tổ chức liên quan; nhằm đạt được sự thống nhất cao trong công tác quản lý nhà nước; từ đó công tác triển khai thực hiện mới thực sự hiệu quả; xóa bỏ sự chồng lấn và thiếu thông tin liên ngành như giai đoạn hiện nay Từ đó, mỗi địa phương có những hướng dẫn cụ thể phù hợp

Trang 24

với đặc trưng văn hóa, không gian kiến trúc cảnh quan và điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của từng khu vực Các văn bản thực thi tại địa phương chỉ nên dừng lại ở mức độ hướng dẫn mang tính mở, không nên trở thành các quy định mang tính chất ràng buộc và cứng nhắc Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện cần tuân thủ sự ràng buộc chặt chẽ với các đồ án quy hoạch và thiết kế cây xanh

đã được phê duyệt

Năm 2005, Bộ xây dựng có thông tư 20/2005/TT-BXD ngày 20 tháng 12 năm 2005 về việc hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị Để đáp ứng các yêu cầu mới của quá trình đô thị hóa nhanh tại việt Nam, thông tư 20/2005/TT-BXD nhanh chóng được bổ sung bằng thông tư số 20 /2009/TT-BXD ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Bộ xây dựng Tuy nhiên, trong thông tư này một số chỉ tiêu cây xanh cũng chưa nêu rõ ví dụ như vị trí tiêu chuẩn cho việc áp dụng đường kính thân cây Năm 2010, Chính phủ ban hành nghị định 64/2010/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 về việc quản lý cây xanh đô thị Đây là văn bản pháp lý cấp nhà nước đầu tiên trong việc quản lý hệ thống cây xanh tại Việt Nam Hơn nữa,

từ năm 2005 công tác xã hội hóa công tác quản lý, trồng, chăm sóc, bảo vệ cây xanh đô thị và phát triển vườn ươm cây được khuyến khích và cụ thể hóa trong thông tư hướng dẫn của Bộ xây dựng; mặc dù vậy, dù ra đời sau nội dung này không được đề cập rõ ràng trong nghị định 64/NĐ-CP

2.1.5.3 Quản lý quy hoạch hệ thống cây xanh

Quy hoạch chi tiết và thiết kế hệ thống cây xanh đô thị cần quan tâm đến tính chất đặc thù về không gian và hoạt động của con người trên từng tuyến đường, bao gồm: chủng loại cây, hình thức không gian, kích thước không gian, khống chế chiều cao cây, khoảng cách trồng cây… Từ đó góp phần hình thành các tuyến đường đặc trưng về cảnh quan và từng bước nâng cao chất lượng cảnh quan và môi trường cho đô thị Cần gắn thiết kế cây xanh đô thị với công tác thiết kế đô thị Quy hoạch cây xanh phải được thực hiện và xem là một thành phần không thể thiếu trong quy hoạch hạ tầng kỹ thuật trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị Góp phần đồng bộ hóa hệ thống hạ tầng cảnh quan với hạ tầng

kỹ thuật đô thị Đồng thời chuẩn hóa công tác quản lý và kiểm soát không gian kiến trúc cảnh quan và không gian công trình ngầm đô thị

Quy trình thiết kế và thi công cây xanh bóng mát trên các tuyến đường chưa hợp lý, thường đi sau so với hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác đã được triển

Trang 25

khai hoàn chỉnh; định vị hệ thống cây xanh không đảm bảo yêu cầu và có sự chồng chéo giữa các hệ thống kỹ thuật Rất khó hình dung hoạt động của các công trình ngầm Bên cạnh đó, khả năng quản lý và lưu trữ hồ sơ không đảm bảo dẫn đến việc chồng lấn giữa các hệ thống hạ tầng kỹ thuật Quy cách hố trồng trên các tuyến đường hiếm khi đạt tiêu chuẩn; thậm chí gốc còn bị bịt kín để phục

vụ cho các hoạt động của cư dân địa phương; nhiều nơi, hố trồng gần như nằm sát vỉa hè Chỉ ít tuyến đường tại nội thành, các gốc cây được bảo vệ bằng hình thức rào sắt (gỗ) thấp hoặc trồng các loài cây phủ đất Nhiều tuyến đường, người dân còn tận dụng khoảng xanh hiếm hoi trong hố trồng cây để tăng gia sản xuất rau sạch hoặc cây cảnh thân bò Hoạt động này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan đường phố (Lê Xuân Thái, 2015)

2.1.5.4 Quản lý thiết kế - thi công hệ thống cây xanh

Cây xanh đường phố còn chịu nhiều áp lực của quá trình đô thị hóa và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật Công tác quản lý cây bóng mát đô thị đang còn chưa triệt để, các hộ dân cư sống ngoài mặt phố vẫn có tự do trồng cây xanh bóng mát không theo quy định Chính vì vậy, nhiều loài cây thuộc danh mục cây cấm trồng vẫn được triển khai trên thực tế và gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới không chỉ chất lượng không gian kiến trúc cảnh quan mà còn liên quan đến vấn

đề môi trường đô thị Các loài cây dân tự trồng thường là những loài cây phát triển nhanh, có khả năng sống bằng hình thức giâm hom, giâm cành Hơn nữa, những loài cây lớn nhanh cũng thường là những loài cây có thân cành giòn, dễ gãy và không có khả năng chống chịu trong mùa mưa bão Điển hình là các loài cây Trứng cá, Dâu da xoan… Bên cạnh đó, việc điều tra phát hiện sâu bệnh của cây xanh mới chỉ thực hiện bằng mắt và được tiến hành không thường xuyên Nguyên nhân chính là do nhân lực mỏng của cơ quan quản lý cây xanh đô thị và sâu bệnh hại bên trong; chúng chỉ được phát hiện khi đã bộc lộ bên ngoài, đồng thời cũng là thời điểm rủi ro xảy ra Nhiều trường hợp biểu lộ ra ngoài trong thời gian dài vẫn chưa được xử lý ảnh hưởng lớn đến chất lượng cảnh quan đô thị và

sự phát triển của cây xanh

2.1.5.5 Quản lý trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh

Đối với cây đường phố, chính bộ rễ lại là cơ quan gặp phải nhiều vấn đề nhất: không đủ đất, không đủ dinh dưỡng, vướng vào hạ tầng đường sá, đường điện, đường nước ngầm, hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngầm khác, đất chặt, đất ô nhiễm, cằn cỗi, thiếu nước hoặc ngập úng, các tác động cơ học đè nén, chặt phá

Trang 26

v.v Những đặc điểm môi trường này là đặc trưng của mọi đường phố, ảnh hưởng đến bộ rễ cây rất nhiều và là nguyên nhân làm cây kém phát triển Muốn cho cây xanh sống được trong môi trường hoàn toàn khắc nghiệt này, cần tạo ra một môi trường hoàn toàn nhân tạo dành riêng cho cây xanh; chủ động tạo ra những không gian đủ cho sự phát triển của rễ, thay hoàn toàn đất bằng giá thể nhân tạo, tưới tiêu nhân tạo, cung cấp chất dinh dưỡng, vi lượng nhân tạo, tạo ra môi trường vi khuẩn và nấm cộng sinh nhân tạo, tạo điểm bám nhân tạo v.v Môi trường nhân tạo này có công suất cao hơn nhiều lần so với môi trường tự nhiên,

do đó không cần khối lượng lớn, lại đáp ứng mọi nhu cầu kỹ thuật của đường đô thị Công tác quản lý hệ thống cây xanh gồm các nội dung:

Trồng cây xanh đường phố

a) Đối với các tuyến đường lớn có chiều rộng hè phố trên 5m nên trồng các cây loại 2 hoặc loại 3 theo quy định phân loại cây đô thị tại địa phương

b) Đối với các tuyến đường trung bình có chiều rộng hè phố từ 3m đến 5m nên trồng các cây loại 1 hoặc loại 2 theo quy định phân loại cây đô thị tại địa phương

c) Đối với các tuyến đường nhỏ có chiều rộng hè phố hẹp dưới 3m, đường cải tạo, bị khống chế về mặt bằng và không gian thì cần tận dụng những cây hiện

có hoặc trồng tại những vị trí thưa công trình, ít vướng đường dây trên không và không gây hư hại các công trình sẵn có, có thể trồng dây leo theo trụ hoặc đặt chậu cây

d) Khoảng cách giữa các cây trồng được quy định tuỳ thuộc vào việc phân loại cây (tham khảo Phụ lục 1) hoặc theo từng vị trí cụ thể của quy hoạch trên khu vực, đoạn đường Chú ý trồng cây ở khoảng trước tường ngăn giữa hai nhà phố, tránh trồng giữa cổng hoặc trước chính diện nhà dân đối với những nơi có chiều rộng hè phố dưới 5m

e) Khoảng cách các cây được trồng tính từ mép lề đường từ 0,6m đến 1,0m căn cứ theo tiêu chuẩn phân loại cây (tham khảo Phụ lục 1);

f) Cây xanh đường phố và các dải cây phải hình thành một hệ thống cây xanh liên tục và hoàn chỉnh, không trồng quá nhiều loại cây trên một tuyến phố

Trồng từ một đến hai loại cây xanh đối với các tuyến đường, phố có chiều dài

dưới 2km Trồng từ một đến ba loại cây đối với các tuyến đường, phố có chiều dài từ 2km trở lên hoặc theo từng cung, đoạn đường

Trang 27

g) Đối với các dải phân cách có bề rộng dưới 2m chỉ trồng cỏ, các loại cây bụi thấp, cây cảnh Các dải phân cách có bề rộng từ 2m trở lên có thể trồng các loại cây thân thẳng có chiều cao và bề rộng tán lá không gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông, trồng cách điểm đầu giải phân cách, đoạn qua lại giữa hai giải

phân cách khoảng 3m - 5m để đảm bảo an toàn giao thông

h) Tại các trụ cầu, cầu vượt, bờ tường nghiên cứu thiết kế bố trí trồng dây leo để tạo thêm nhiều mảng xanh cho đô thị, có khung với chất liệu phù hợp cho dây leo để bảo vệ công trình Tại các nút giao thông quan trọng ngoài việc phải tuân thủ các quy định về bảo vệ an toàn giao thông tổ chức trồng cỏ, cây bụi, hoa tạo thành mảng xanh tăng vẻ mỹ quan đô thị

i) Cây xanh được trồng cách các góc phố 5m - 8m tính từ điểm lề đường giao nhau gần nhất, không gây ảnh hưởng đến tầm nhìn giao thông

k) Cây xanh được trồng cách các họng cứu hoả trên đường 2m - 3m; cách cột đèn chiếu sáng và miệng hố ga 1m - 2m

l) Cây xanh được trồng cách mạng lưới đường dây, đường ống kỹ thuật (cấp nước, thoát nước, cáp ngầm) từ 1m - 2m

m) Cây xanh được trồng dọc mạng lưới đường dây dẫn điện phải đảm bảo hành lang an toàn lưới điện theo quy định của Nghị định số /4/106/2005/NĐ-

CP ngày 17/8/2005 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp

Ô đất trồng cây xanh đường phố

a) Kích thước và loại hình ô đất trồng cây được sử dụng thống nhất đối với cùng một loại cây trên cùng một tuyến phố, trên từng cung hay đoạn đường b) Xung quanh ô đất trồng cây trên đường phố hoặc khu vực sở hữu công cộng (có hè đường) phải được xây bó vỉa có cao độ cùng với cao độ của hè phố nhằm giữ đất tránh c) Tận dụng các ô đất trồng cây bố trí trồng cỏ, cây bụi, hoa tạo thành khóm xung quanh gốc cây hoặc thành dải xanh để tăng vẻ đẹp cảnh quan đô thị làm bẩn hè phố hoặc các hình thức thiết kế khác để bảo vệ cây và tạo hình thức trang trí

Kỹ thuật chăm sóc cây mới trồng

Chăm sóc cây năm đầu tiên sau khi trồng: Sau khi trồng phải dùng cọc

chống đỡ cây, tùy theo trường hợp có thể dụng 1 -3 cọc chống, theo quy trình

Trang 28

hiện nay tạ huyện sử dụng 4 cọc chống Cọc chống phải tương xứng với cây trồng (đường kính đầu lớn của cọc chống từ 6 – 8 cm) Phải kiểm tra cọc chống thường xuyên và chống sửa lại để cây trồng luôn luôn được thẳng

Các khu trung tâm, tuyến đường đông người qua lại, khu vực tập trung mua bán, cây thường bị bẻ phá phải có lồng sắt bảo vệ (hình tròn hoặc hình vuông) Hàng tháng phải làm cỏ, vun gốc và sửa cọc chống Nếu đất ở gốc bị đóng váng phải xới xáo rồi vun lại Sau đó 2 tháng lặp lại 1 lần

Dùng kéo cắt tỉa chồi mất cân đối hoặc chồi gốc 1 tháng/lần (vết cắt phải sắc bén, không dập xước), phun thuốc trừ sâu đối với cây bị sâu bệnh

Chăm sóc cây năm thứ 2 sau khi trồng: Đầu năm làm cỏ vun gốc và nếu nơi

đất xấu phải bón phân (5 -10 kg phân chuồng/cây)

Trong 6 tháng nắng, mỗi tuần tưới 1 lần và tưới thật đẫm

Cứ 4 tháng làm cỏ vun gốc 1 lần

Chống sửa cây nghiêng 4 tháng 1 lần

Cắt tỉa tạo hình 1 lần trong năm

Trồng dặm cây chết vào đầu mùa mưa

Phun thuốc trừ sâu đối với cây sâu bệnh

Chăm sóc cây trồng những năm tiếp theo: Cắt tỉa tạo hình cây xanh mỗi

năm 2 lần, vết cắt phải sắc bén, không tét vỏ, sơn vết cắt

Tẩy chồi thân từ 6m trở xuống mỗi năm 2 lần

Tháo bỏ đinh, dây cột, biển đóng vào cây

Kỹ thuật cắt tỉa cây xanh đô thị

Căn cứ vào mục đích cắt tỉa của cây, thời gian cắt tỉa, kỹ thuật cắt tỉa để tiến hành cắt tỉa cây Thời kỳ cắt tỉa:

- Cây lá kim cắt tỉa vào khoảng tháng 10-11 hoặc đầu xuân

- Cây thường xanh cắt tỉa vào khoảng tháng 5-6 hoặc 9-10

- Cây rụng lá cắt tỉa vào tháng 7-8 hoặc 11-3 sang năm trước khi cây ra chồi non Nếu cắt tỉa ở giai đoạn nuôi dưỡng thì căn cứ vào yêu cầu tạo hình tán và chiều cao để tiến hành cắt tỉa Giai đoạn này các nhánh chưa chắc đã tạo thành cành chính vì thế nên xem xét để cắt tỉa

Trang 29

Nếu cắt tỉa giai đoạn phát dục thì cần giữ lại cánh nhánh có ra chồi, căn cứ vào khả năng nhánh có thể phát triển thành cánh chính hay không Đối với cây đường phố chiều cao phân cành phải trên 2.5m Vì thế, những cành nào không đạt tiêu chuẩn có thể cắt bỏ

Nếu cắt tỉa ở giai đoạn nuôi dưỡng và bảo trì thì cần xác định cành chính, cành phụ, cành nào có khả năng phát triển để tạo hình cho cây Những cành nhỏ

có thể được cắt bỏ Trình tự cắt tỉa:

- Cắt tỉa những cành nhỏ mọc từ thân ra, ảnh hưởng đến thẩm mỹ của cây

- Cắt tỉa những cành nhỏ mọc từ cành nhánh

- Cắt tỉa cành mọc hỗn loạn không theo định hướng

- Cắt tỉa cành mọc quá dài làm ảnh hưởng đến hình thái của cây

- Cắt tỉa cành mọc ngược, không theo tính chất chung của cây

- Cắt tỉa cành nhỏ và yếu

- Khai thác, sử dụng

- Bảo vệ, quản lý thông tin cây xanh

2.1.5.6 Giám sát – kiểm tra

Cây xanh đường phố còn chịu nhiều áp lực của quá trình đô thị hóa và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật Việc sử dụng cây có đường kính lớn có thể tạo cảm giác hoàn chỉnh trong thời gian ngắn, tuy nhiên về lâu dài sự phát triển của cây xanh sẽ gặp nhiều vần đề về sức khoẻ và tính bền vững

Cây xanh trồng với kích thước D1.3 lớn, đặc biệt với những cây rễ cọc, bộ

rễ tự nhiên sẽ không còn được bảo đảm với kích thước bầu theo quy định Bộ rễ

tự nhiên sẽ bị cắt cụt Sau khi trồng, rễ cây không thể phát triển bình thường Với kích thước này, hệ rễ của cây đã hóa gỗ và không có khả năng tái sinh sau khi chặt, chỉ có những rễ phụ phát triển Hệ rễ này sẽ phát triển yếu, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây xanh và không tương xứng với sự phát triển của tán cây Bên cạnh đó, việc chặt và thay thế cây xanh đã gây ra hậu quả nghiêm trọng về môi trường vi khí hậu và cảnh quan đường phố Việc thay thế chủng loại cây mới cần rất nhiều thời gian để khôi phục được môi trường sinh thái và chất lượng cảnh quan cho tuyến đường này Nguyên nhân chủ yếu chính

là công tác quản lý lỏng lẻo, tinh thần thần trách nhiệm của các tập thể, cá nhân tham gia công tác quản lý cây xanh chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của xã

Trang 30

hội Công tác quản lý cây bóng mát đô thị đang còn chưa triệt để, các hộ dân cư sống ngoài mặt phố vẫn có tự do trồng cây xanh bóng mát không theo quy định Chính vì vậy, nhiều loài cây thuộc danh mục cây cấm trồng vẫn được triển khai trên thực tế và gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới không chỉ chất lượng không gian kiến trúc cảnh quan mà còn liên quan đến vấn đề môi trường đô thị Các loài cây dân tự trồng thường là những loài cây phát triển nhanh, có khả năng sống bằng hình thức giâm hom, giâm cành Hơn nữa, những loài cây lớn nhanh cũng thường

là những loài cây có thân cành giòn, dễ gãy và không có khả năng chống chịu trong mùa mưa bão Điển hình là các loài cây trứng cá, dâu da xoan…

2.1.6 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hệ thống cây xanh

2.1.6.1 Hệ thống chính sách

Ở cấp huyện, Ban quản lý các công trình công cộng là cơ quan quản lý nhà nước đối với hệ thống công viên cây xanh, đồng thời cũng là chủ đầu tư của các công trình công viên cây xanh Ban duy tu các công trình Hạ tầng kỹ thuật đô thị trực thuộc Sở Xây dựng cấp tỉnh là đại diện cho chủ đầu tư giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán các công trình hạ tầng cây xanh Tuy nhiên, sau khi được giao chịu trách nhiệm về quản lý và phát triển cây xanh đô thị, công viên cây xanh là đơn vị trực thuộc UBND huyện; do đó tính liên kết giữa công viên này với huyện gặp rất nhiều hạn chế trong quá trình vận hành và triển khai thực hiện

2.1.6.2 Năng lực của cơ quan quản lý

Thực hiện đồng thời vai trò là người lãnh đạo và người quản lý, do đó người đứng đầu CQHCNN cần có đồng thời cả năng lực lãnh đạo và năng lực quản lý Năng lực của người đứng đầu CQHCNN có thể nhìn nhận qua các góc độ:

Về kiến thức: người đứng đầu CQHCNN cần có phông kiến thức đúng tầm của một “người đứng đầu” Họ cần phải có tri thức toàn diện và phong phú, phông văn hóa rộng, có đầy đủ kiến thức về lãnh đạo và quản lý, đồng thời am hiểu chuyên môn Cần có kiến thức về khoa học quản lý nhà nước, về nghiệp vụ hành chính, chính trị, am hiểu chính sách và pháp luật Người đứng đầu CQHCNN đào sâu suy nghĩ để làm chủ vấn đề chính là điều cốt yếu đưa lại thành công cho các quyết định lãnh đạo, quản lý

Về kỹ năng: người đứng đầu CQHCNN cần có kỹ năng quản lý và lãnh đạo Với tư cách là người lãnh đạo, người đứng đầu CQHCNN cần có kỹ năng

Trang 31

trao quyền, ra quyết định, tập hợp, động viên, truyền cảm hứng cho nhân viên để

họ hoàn thành mục tiêu bất chấp những trở ngại Với tư cách là người quản lý, người đứng đầu CQHCNN cần thông thạo các kỹ năng lập kế hoạch, ngân sách,

tổ chức, biên chế, kiểm tra…

Về thái độ: người đứng đầu CQHCNN cần luôn thể hiện tinh thần của người “đứng mũi chịu sào”, luôn thể hiện thái độ của một người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thể hiện đúng vai trò là người đứng đầu, luôn sẵn sàng đương đầu với những khó khăn, thách thức để thực hiện chức năng, nhiệm

vụ được giao với hiệu quả cao nhất

2.1.6.3 Sự phối hợp của các cơ quan trong quản lý hệ thống cây xanh

Mối liên thông trong công tác quản lý, thiết kế và thi công các hạng mục hạ tầng kỹ thuật giữa các cơ quan quản lý nhà nước đang chỉ được thực hiện trên các văn bản quy phạm pháp luật Thực tế triển khai gặp rất nhiều khó khăn và chồng chéo Công tác quản lý lưu hồ sơ và cập nhật thông tin giữa các cơ quan gần như không được triển khai Đây là vấn đề mang tính hệ thống trong công tác quản lý và lưu trữ hồ sơ của các cơ quan quản lý nhà nước Các đơn vị quản lý và triển khai phần lớn là độc lập, thiếu tính đồng bộ không chỉ dẫn đến lãng phí mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và cảnh quan đô thị Đối với các tuyến đường hiện hữu, việc triển khai cải tạo và sửa chữa hay hạ ngầm hệ thống hạ tầng

kỹ thuật đang triển khai độc lập giữa các lĩnh vực chuyên môn Về lý thuyết, chúng được quản lý bởi phòng quản lý hạ tầng kỹ thuật và công trình ngầm, nhưng thực tế lại đang được các đơn vị quản lý trực tiếp theo ngành dọc phụ trách, quản lý và triển khai

Hơn nữa, các dự án đầu tư cải tạo và nâng cấp được lập kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện cùng lúc hoặc không đảm bảo về kỹ thuật và khả năng dự báo Do đó, nhiều tuyến đường liên tục được cải tạo và nâng cấp; không chỉ ảnh hưởng đến giao thông đi lại của người dân mà còn gây lãng phí nghiêm trọng Các dự án cải tạo, nâng cấp hay xây mới đang không có sự tham gia của chuyên gia, người làm trong lĩnh vực cây xanh đô thị; giai đoạn trồng cây xanh đô thị thường lại được thực hiện độc lập, và sau khi hệ thống hạ tầng giao thông và kỹ thuật khác đã hoàn chỉnh Nói cách khác, hạ tầng cây xanh chưa được chú trọng

và phát huy đúng vai trò của chúng trong không gian cảnh quan đô thị Chưa có

sự phối hợp giữa các nhà chuyên môn, nhà quản lý, và cơ quan ban ngành hoạt

Trang 32

động trong các lĩnh vực chuyên môn về hạ tầng kỹ thuật (bao gồm cây xanh đô thị) trong công tác quản lý, quy hoạch, tquy hoạch, thiết kế, triển khai thi công, giám sát thi công hệ thống hạ tầng đô thị nói chung

2.1.6.4 Ý thức của người dân

Ý thức của người dân trong công tác quản lý và phát triển cây xanh đô thị còn là một thách thức Việc đục khoét, đóng đinh; đổ rác, xây bục, bệ quanh gốc cây; treo, gắn biển quảng cáo, biển hiệu, giăng dây, giăng đèn trang trí vào cây xanh khi chưa được phép, những hành vi bị cấm, đang là hiện tượng vô cùng phổ biến và không có khả năng kiểm soát trên địa bàn huyện Thể hiện sự kém hiệu quả trong công tác xử lý vi phạm cũng như công tác tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư đô thị Cây xanh huyện trở thành nạn nhân

do chính con người gây ra, hàng trăm cây cổ thụ bị chặt hạ phục vụ cho các các

dự án cải tạo nâng cấp hạ tầng đô thị, hàng loạt cây bị thay thế theo chính sách xã hội hóa trong phát triển cây xanh của huyện

2.1.6.5 Sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của người dân trong công tác quản lý và phát triển cây xanh đô thị còn là một thách thức Việc đục khoét, đóng đinh; đổ rác, xây bục,

bệ quanh gốc cây; treo, gắn biển quảng cáo, biển hiệu, giăng dây, giăng đèn trang trí vào cây xanh khi chưa được phép…, những hành vi bị cấm, đang là hiện tượng vô cùng phổ biến Thể hiện sự kém hiệu quả trong công tác xử lý

vi phạm cũng như công tác tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư đô thị

Cây xanh trở thành nạn nhân do chính con người gây ra, hàng trăm cây

cổ thụ bị chặt hạ phục vụ cho các các dự án cải tạo nâng cấp hạ tầng đô thị, hàng loạt cây bị thay thế theo chính sách xã hội hóa trong phát triển cây xanh của huyện

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÂY XANH

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý hệ thống cây xanh trên thế giới

2.2.1.1 Canada

Năm 2000, Canada đã xuất bản cuốn sách có tên gọi “Các thành phố có

Hạ tầng xanh” Hạ tầng xanh là một quan điểm mới với nhiều thay đổi so với cách hiểu của chúng ta hiện nay trong đó liên quan tới tất cả các lĩnh vực về hạ

Trang 33

tầng kỹ thuật đô thị như vấn đề xử lý nước thải phi tập trung, vấn đề tiết kiệm năng lượng, vấn đề tổ chức giao thông đi bộ Sách chỉ dẫn cách xây dựng hạ tầng xanh trong đó cây xanh là một chỉ số rất quan trọng trong đánh giá Cộng đồng nở hoa - CIB là một nội dung trong cuốn sách đề cập tới vai trò của cộng đồng trong xây dựng các đô thị xanh (Vũ Thị Vinh, 2015)

Tiêu chí để lựa chọn Công đồng nở hoa (CIB): Đường phố sạch sẽ ngăn nắp; Bảo tồn các công trình kiến trúc và các di sản văn hóa; Giữ gìn cảnh quan thành phố; Bảo đảm độ che phủ của thành phố với nhiều màu xanh thiên nhiên;

Có nhiều khu vực trồng hoa; Có tái chế rác thải; Có sự tham gia tích cực của cộng đồng; Có sự quan tâm của chính quyền đô thị (Vũ Thị Vinh, 2015)

Thành phố có nhiều cộng đồng nở hoa là thành phố đạt được danh hiệu Thành phố tiêu biểu của phong trào CIB Branford - một trong những thành phố tiêu biểu của Canada về phong trào này Thành phố đã huy động mọi tầng lớp tham gia từ người lớn tuổi, các chị em phụ nữ và đặc biệt là các em học sinh trong các trường tiểu học và trung học Các em được tổ chức các cuộc thi xây dựng những vườn hoa đẹp từ thiết kế sáng tạo đến chăm sóc để vườn hoa ngày càng tươi tốt xanh đẹp Các em cũng được vận động tham gia các cuộc thi vẽ tranh trên những bức tường để tạo nên những mảng tường sinh động và hấp dẫn Việc làm của các em đã tạo nên ý thức chăm sóc cây xanh và giữ gìn bảo vệ cây xanh nơi mình sống và học tập Phong trào đã mang lại kết quả vô cùng to lớn (Vũ Thị Vinh, 2015)

Trang 34

Chiến lược thành phố vườn thập niên 60: Singapore xanh và sạch; Trồng cây ven đường; Tạo nên những công viên và khoảng không gian mở Chiến lược thành phố vườn thập niên 70: Quy hoạch trồng cây ven đường; Trồng nhiều cây

có màu sắc như: bông giấy, kèn hồng, đầu lân ; Các dự án đặc biệt trồng cây, dây leo trên trụ đèn, tường chắn, cầu vượt ; Trồng cây trong bãi đậu xe; Ban hành luật công viên cây xanh Chiến lược thành phố vườn thập niên 80: Trồng cây ăn trái như xoài; Chuyên biệt hoá các công trình vui chơi giải trí; Cơ giới hoá

và số hoá: xe tưới nước, máy cắt cỏ ; Trồng cây đa màu sắc, có mùi hương; Ban hành luật bảo tồn cây xanh Chiến lược thành phố Vườn thập niên 1990: Xây dựng nhiều công viên vườn hoa cây xanh với những chức năng chuyên biệt: Công viên cân bằng sinh thái như công viên thiên nhiên, Công viên theo chủ đề như: công viên bờ biển Đông, công viên đồi Telok Blangal, Khu dự trữ ngập nước Sungei Byloh, vườn thực vật quốc gia Singapore Các công viên theo vùng, các công viên vườn hoa trong từng khu nhà ở Điều rất quan trọng là làm sao huy động được cao nhất sự tham gia của cộng đồng

Các tuyến đường tạo Hệ thống kết nối công viên, hành lang xanh, có thể

đi xe đạp, đi bộ dọc theo các kênh thoát nước, đường ven biển Các công trình tiện nghi nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, các tượng đài, khám phá thiên nhiên Cải tạo nâng cấp các công viên cũ: công viên Mt Faber, công viên West coast Tạo đường đi bộ râm mát: đường Orchard

Phát triển hạ tầng xanh: Cây xanh ven đường như xương sống của thành phố vườn; Mở rộng công viên quốc giaSingapore; Xanh hóa tầng cao: sân thượng, balcon, mái nhà, vách đứng ; Tạo cảnh quan cây xanh dọc sông, kênh, rạch; Tạo đường kết nối công viên, hành lang xanh năm 2007 - 74km

Biến Singapore thành cổng kết nối thông tin của ngành làm vườn Thế giới: Mặc

dù đất đai nhỏ chỉ trên 700 km2 nhưng Singapore đã có chủ trương xây dựng trở thành một địa chỉ toàn cầu về ngành nghề liên quan tới cây xanh với các biện pháp sau: Tổ chức lễ hội hoa Singapore; Giải thưởng cho các thiết kế cảnh quan công viên xuất sắc; lần đầu tiên trên thế giới các nhà thiết kế đạt giải tụ họp tại Singapore, với trên 200.000 khách trong vòng 10 ngày; Nuôi dưỡng các tài năng

và ngành công nghiệp làm việc tại chỗ: Quy hoạch tổng thể công nghiệp cảnh quan; Tái thiết và huấn luyện kỹ năng; Hội đồng công nghiệp cảnh quan Singapore; Chứng chỉ và kỹ năng hành nghề; Kích hoạt và nâng cao hình ảnh ngành công nghiệp; Nâng cao sức sản xuất; Cải thiện kỹ năng hành nghề; Thử

Trang 35

nghiệm các ý tưởng mới: Trung tâm quản lý đô thị và môi trường xanh; Khám phá các kỹ năng huấn luyện ở những lĩnh vực mới; Cải thiện hiệu quả và năng lực kỹ thuật

Từ thành phố vườn đến thành phố trong vườn: tiến trình có 3 cực: Phát triển hạ tầng xanh; Biến Singapore thành cổng kết nối thông tin của ngành làm vườn; Kích hoạt sự yêu thích sở hữu, đam mê mảng xanh của cộng đồng Với chủ trương kết nối khối liên minh PPP: Nhà nước - Tư nhân - Cộng đồng (public, private, people), Singapore đã có nhiều giải pháp như: Xây dựng Quỹ thành phố vườn, Chương trình Tình nguyện xanh, xây dựng các nhóm cộng đồng, trường học, doanh nghiệp và các công ty gắn kết chặt chẽ với các Trung tâm sinh thái và mảng xanh của nhà nước (Vũ Thị Vinh, 2015)

Mục tiêu quy hoạch “xanh hóa”; “vườn trong phố”; “xanh sạch đẹp ở bất

kì nơi đâu”, diện tích cây xanh đã chiếm 50% diện tích toàn Singapore – điều mà chưa một quốc gia nào đạt được Vì thế, các chuyên gia quy hoạch luôn xem Singapore là mẫu hình lý tưởng về quy hoạch Quốc đảo Sư tử từng được vinh danh là TP có quy hoạch “tỉ mỉ, sâu sắc” nhất trên thế giới nhờ những bước tiến vượt bậc trong quy hoạch, đặc biệt là sự ra đời của Ủy ban phát triển nhà đất (HDB) năm 1960, một nhánh của Bộ phát triển Quốc gia chuyên biệt về phát triển nhà Kể từ khi bắt đầu hoạt động, HDB đã gây dựng thêm hàng triệu căn hộ, nâng tầm vượt bậc về khái niệm nhà ở xã hội lên mức cao hơn bất kỳ đô thị nào trên thế giới Tới nay, hơn 80% dân số Singapore sống trong những tòa nhà HDB xây dựng Để đạt được kết quả này, HDB phải xử lý hơn 240 nghìn hộ gia đình nhập cư vẫn còn sống trong các khu nhà tạm mà các nhà quy hoạch nhận thấy cần thiết xóa bỏ những căn hộ ổ chuột làm mất mỹ quan đô thị như thế Không chỉ nhà ở, các không gian giành cho phát triển kinh tế, giao thông và môi trường xanh cũng được chính quyền Singapore đặc biệt quan tâm Ưu tiên phát triển không gian đô thị cho các hoạt động phát triển kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng mà trục đường Orchard trung tâm mua sắm phát triển nhất Singapore Mạng lưới giao thông được quy hoạch đồng bộ đáp ứng yêu cầu sử dụng trong vòng 40 năm tiếp theo Khu công nghệ cao, công nghệ sinh học được xây dựng gần các trường đại học lớn nhằm gắn kết giữa lý thuyết và thực hành Hệ thống giao thông của Singapore khá phong phú và hiệu quả Hệ thống tàu điện ngầm (MRT) có 84 ga với chiều dài 130km là hệ thống giao thông trọng yếu của Singapore, phục vụ 2 triệu lượt khách mỗi ngày Phương tiện giao thông công

Trang 36

cộng thuận tiện đến mức luôn thu hút người dân Singapore, vì thế giảm bớt sự phụ thuộc vào phương tiện di chuyển cá nhân Ít lệ thuộc vào phương tiện cá nhân đồng nghĩa áp lực áp lực hạ tầng giao thông sẽ giảm bớt, đồng thời, chất lượng môi trường cũng sẽ được cải thiện (Khánh Phương, 2018)

2.2.1.3 Australia

Bài học kinh nghiệm của Úc trong quy hoạch đô thị là dựa trên những tiêu chí: Bền vững về xã hội; Bền vững về tự nhiên; Bền vững về kỹ thuật; Bền vững

về tài chính

Bền vững về xã hội Các chuyên gia Úc luôn đánh giá bền vững về xã hội

là tiêu chí quan trọng nhất Quy hoạch đô thị ảnh hưởng đến nhiều tầng lớp khác nhau của xã hội Quy hoạch chỉ có thể được xem là tốt khi nó phục vụ con người,

vì con người, vì chất lượng sống nhân văn của con người, cân bằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, bảo đảm các yếu tố xã hội như giáo dục, y tế, việc làm, thu nhập, giao thông và các dịch vụ cần thiết khác Công tác truyền thông được phát huy hết tác dụng Công khai quy hoạch, lấy ý kiến người dân, kết hợp với công nghệ hiện đại để mục đích cuối cùng là làm sao quy hoạch phải là vì lợi ích của đông đảo nhân dân Công tác truyền thông được tiến hành trong nhiều giai đoạn của quy hoạch Sở Quy hoạch thành phố có bộ phận tiếp nhận ý kiến công chúng cùng đường dây điện thoại miễn phí để lĩnh hội tất cả ý kiến đóng góp của nhân dân, đảm bảo ý kiến người dân phải được tôn trọng và xem xét

Bền vững về tự nhiên “Tất cả mọi cấu phần của đồ án quy hoạch phải tồn tại thân thiện với môi trường sinh thái” – đó là tiêu chí quan trọng thứ hai được đặt ra Người Úc quý trọng từng giọt nước và bảo vệ nước như nguồn tài nguyên quý giá nhất Nếu một đồ án quy hoạch có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước mà không thể khắc phục được thì quy hoạch đó sẽ không thể được phê duyệt Bên cạnh đó, quy hoạch ưu tiên không gian xanh Cây xanh ở Úc cũng có quyền pháp lý và được bảo vệ như những công dân Mỗi cây đều có hồ sơ lý lịch

và được quản lý bằng công nghệ số Chỉ điều đơn giản này thôi cũng đủ thấy vì sao quy hoạch của Úc lại bền vững đến thế Tài nguyên khoáng sản của Úc khá phong phú được bảo vệ và gìn giữ cho thế hệ mai sau Thổ nhưỡng cũng rất được coi trọng, đặc biệt là những vùng có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất những sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao trở thành lợi thế cạnh tranh của Úc trên thị trường thế giới Bền vững về kỹ thuật Quy hoạch tích hợp mọi yêu cầu hạ tầng

Trang 37

kỹ thuật một cách đầy đủ và đồng bộ với các phương án hợp lý bảo đảm cho cuộc sống văn minh lâu dài Khi quy hoạch một tuyến đường, tất cả các công trình phụ trợ (điện, nước, thoát nước, viễn thông, cây xanh, chiếu sáng v.v…) được đưa vào một dự án Tiến độ thi công được thiết lập cụ thể chi tiết và đồng

bộ tránh đào đi đào lại

Khi dự án hoàn thành, các công trình phụ trợ sẽ được bán lại cho nhà cung cấp dịch vụ tương ứng Những công trình như cấp thoát nước, môi trường, cây xanh, chiếu sáng v.v… không thu được vốn từ nhà cung cấp dịch vụ thì chi phí được tính vào giá đất Bền vững về tài chính Các chuyên gia lập mô hình tài chính đầy đủ cho toàn bộ vòng đời của công trình Chuyên gia được phân công trách nhiệm phân tích kinh tế – xã hội và tài chính một cách nghiêm ngặt Công tác này thực hiện ở giai đoạn quy hoạch sơ bộ và thẩm định lại ở giai đoạn cuối cùng Mục đích là nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết trong đầu tư, vận hành, bảo dưỡng và quản lý công trình (Khánh Phương, 2018)

2.2.1.4 Nhật Bản

Tại Nhật Bản, quy hoạch được xem là một chương trình quảng bá xúc tiến đầu tư nghiêm túc Quy hoạch sau khi hoàn chỉnh sẽ được công bố rộng rãi trước công chúng, đặc biệt về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng Mục đích của việc này là để các nhà đầu tư và nhân dân cùng tham gia thực hiện Điểm đặc biệt nhất trong quy hoạch đô thị Nhật Bản là trong các chương trình phát triển đô thị có quy định tối thiểu 40% dự án phải ưu tiên cho địa phương quản

lý thực hiện Khi quy hoạch được lập nên, cần lấy ý kiến cộng đồng rất nhiều lần, đảm bảo 70% tự nguyện chấp thuận thì quy hoạch đó mới được phê chuẩn Khi quy hoạch đó được phê chuẩn, được sự đồng thuận thì sẽ được chuyển tải thành các quy định (gọi là chính sách phát triển đô thị) được chính quyền đô thị thực hiện Đây là công cụ pháp lý tương đương một văn bản dưới Luật Khi bản quy hoạch được phê duyệt sẽ trở thành công cụ chính thức để thực hiện quy hoạch Khi đó, quy hoạch sẽ được thông báo và quảng bá rộng rãi đến cộng đồng và có hiệu lực từ ngày được chính thức công bố Một bản quy hoạch được phê duyệt sẽ trở thành công cụ chính thức để thực hiện quy hoạch Bản chính thức được thông báo và quảng bá rộng rãi đến từng người dân và có hiệu lực từ ngày được chính thức công bố Sau khi các đồ án quy hoạch được phê duyệt thực hiện, các dự án này đều do chính quyền thành phố, chính quyền địa phương đảm nhiệm Các dự án do Bộ Xây dựng, Đất đai,

Trang 38

Giao thông và Du lịch (MLIT) phê duyệt hoặc thẩm định trình Chính phủ phê duyệt, tỉnh sẽ tiến hành triển khai thực hiện quy hoạch Quy hoạch đô thị có 3 sản phẩm chính: Quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hạ tầng và danh mục các

dự án phát triển Ngày nay, Nhật Bản đã thành công trong quy hoạch xây dựng

đô thị nhỏ gọn, thân thiện môi trường, giảm lượng CO2, phát triển đô thị trung tâm, đồng thời tiến hành chiến lược thông minh thu gọn các vùng ngoại ô, đạt được đô thị bền vững (Khánh Phương, 2018)

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý hệ thống cây xanh ở Việt Nam

2.2.2.1 Quy hoạch cây xanh phù hợp với hệ thống giao thông và đô thị

Trong 10 năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông nước ta phát triển theo chiều hướng mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam việc quy hoạch cây xanh cho các tuyến đường bộ vẫn chưa

có công trình nghiên cứu hoặc văn bản nào quy định cụ thể Việc trồng cây dọc các tuyến đường phần lớn đều mang tính chủ quan của chủ đầu tư mà chưa mang tính quy hoạch lâu dài và chú ý đến giải pháp BVMT

Để phát triển các dải cây bên đường giao thông không thể tiến hành một cách tùy tiện, mà cần phải đảm bảo một số nguyên tắc: Đảm bảo độ phủ xanh, diện tích xanh, số cây xanh… cho từng khu vực, đặc biệt là đoạn đi qua khu đông dân cư - nơi diện tích nhỏ nhưng mật độ dân cư lớn, làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến vệ sinh môi trường Các tiêu chuẩn này phụ thuộc vào số dân, sự phân bố dân cư, các hoạt động sản xuất, xây dựng, lượng xe lưu thông trên tuyến đường… Đồng thời, việc bố trí trồng cây, phát triển cây xanh phải đảm bảo yêu cầu cải thiện môi trường, chú ý đến việc ngăn chặn sự lan tỏa của các chất gây ô nhiễm, tiếng ồn từ các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, cơ sở tiểu thủ công nghiệp, xe cộ, giao thông Cần tính đến tính liên tục của hệ thống cây xanh trong tổng thể tuyến đường Các thành phần của cây xanh bao gồm: Cây vỉa hè, cây ở dải phân cách, cây trồng phủ xanh ta luy đường

Kết hợp điều kiện tự nhiên, đặc điểm khí hậu như hướng gió, tốc độ, chế

độ nhiệt, lượng mưa, tính chất đất đai khi bố trí trồng cây, phát triển cây xanh cho từng khu vực, trên cơ sở “đất nào cây ấy”, đặc biệt chú ý đến đất đai đã thay đổi cấu trúc bởi các công trình xây dựng Kết hợp với các di tích lịch sử, di tích văn hóa, danh lam thắng cảnh, vì đó là một bộ phận của hoạt động nghỉ ngơi giải trí, giáo dục văn hóa cho dân cư

Trang 39

Cây xanh dọc các tuyến đường bộ không nhất thiết phải phân bố đều, mà

có thể được phát triển ở những nơi thu hút đông đảo dân cư nhất Nguyên tắc này còn là phương châm “mềm dẻo” bởi nó phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội, nhất là nội thành - nơi mọi vị trí kiến trúc về cơ bản đã được an bài Đối với những cây xanh đã tồn tại cần thay thế các loại cây trồng 2 bên đường không phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, an toàn giao thông, văn hóa dân cư Trồng mới cây xanh trên các đoạn đường mới mở, cải tạo trên mỗi một tuyến đường nên trồng một loại cây nhằm tạo nên nét đặc trưng của tuyến Trên đoạn đường đi qua giữa trung tâm thành phố cần chú ý phát triển cây xanh hai bên vỉa hè Nếu điều kiện cho phép nên phát triển những đai cây xanh cách ly giữa tuyến đường này với khu dân cư Những đai cây xanh này ngoài những cây thân gỗ còn có thể phối kết với các cây bụi, bồn hoa, thảm cỏ Chúng vừa có tác dụng tạo cảnh quan vừa góp phần chống ồn, chống rung, ngăn cản bụi, làm giảm tác động xấu đến đời sống khu dân cư

Tại các vòng xoay, đảo giao thông trên các tuyến đường trong thành phố

có thể xây dựng các bồn nước động, phối kết với bồn hoa hoặc thảm cỏ, tránh trồng các loại cây cao dễ làm che khuất tầm nhìn, nhằm tăng vẻ sinh động và tạo cảnh quan cho đô thị Tránh việc xây dựng đảo giao thông là các khối bê tông trơ trọi.Mặt khác, muốn làm công tác quản lý cây xanh, phải nắm được tác dụng của cây xanh về mọi mặt (vệ sinh, cải tạo khí hậu ), những ảnh hưởng đến đời sống của con người và phải có những biện pháp để đạt tới những mục đích lâu dài và bền vững.Một số tiêu chuẩn chọn cây trồng vỉa hè: Cây có thân thẳng tự nhiên,

gỗ tốt, không giòn, dễ gãy bất thường gây tai nạn Cây có tán, cành lá gọn, rễ cái

và phần lớn bộ rễ ăn sâu trong đất, giữ cây vững chắc, khó bị chúc đổ Không có hoặc ít rễ ăn nổi gần mặt đất để tránh làm hư hại vỉa hè, mặt đường và công trình xây dựng xung quanh gốc cây Lá có bản rộng, hoa, quả không hấp dẫn ruồi nhặng làm ảnh hưởng đến vệ sinh…

Vòng đời sống cây tương đối dài để đỡ tốn kém khi phải trồng lại Có sức phát triển chiều cao tương đối nhanh, không quá chậm để sớm phát huy tác dụng Cây có sức chống chịu tốt với điều kiện tự nhiên và sâu hại phá hoại Cây có khả năng chống vi khuẩn trong không khí, cây có giá trị kinh tế Các tiêu chuẩn cần lựa chọn linh hoạt vì khó chọn được loài cây đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn đó Lưu ý các tiêu chuẩn về thân, rễ, lá Nên chú ý tạo nét riêng cho mỗi con đường

Trang 40

bằng loài đặc trưng và trên một đường hay một đoạn dài nên trồng một loài cây

để vừa dễ chăm sóc, vừa đẹp và cần trồng thẳng hàng

Bên cạnh việc quy hoạch cây xanh phù hợp hệ thống giao thông, Việt Nam đang hướng tới quy hoạch cây xanh phù hợp với đô thị Hiện tại, diện tích cây xanh công cộng trong các đô thị nước ta rất nhỏ bé so với QCXD 01:2008 của Bộ Xây dựng, cũng như so với các thành phố lớn ở nước ngoài như ở bảng dưới

Muốn đạt được mục tiêu trên, cây xanh trồng ở các khu đô thị phải là các cây thân gỗ có tán lá rộng rậm rạp và ít rụng lá, dày là loại cây chủ đạo dùng trong việc tổ chức cây xanh đường phố Mỗi khu đô thị nên trồng cùng một loại cây tạo nên nét đặc trưng của từng phố trong đô thị

Trên các đường chính trong khu đô thị có thể tổ chức vườn cây chạy dọc giữa đại lộ hoặc hai bên hè phố Trong các vườn cây này, cây thân gỗ có tán phải được trồng kết hợp với cây bụi, bồn hoa, thảm cỏ Cũng có thể bố trí

ở đây các bồn nước tĩnh theo nhiều hình thức phối kết với cây xanh để tạo thêm vẻ sinh động Tại quảng trường trung tâm, nơi từng diễn ra các cuộc mít tinh đông người thì việc sử dụng thảm cỏ dày thay cho các bề mặt bê tông hoặc trải nhựa sẽ làm cho nhiệt độ không khí và nhiệt độ bức xạ trên quảng trường giảm đáng kể

Còn các quảng trường lớn, tổ chức cây xanh mặt nước là việc cần làm Trên mặt hè phố quanh quảng trường có thể tổ chức vườn cây với nguyên tắc tổ chức cây xanh đường phố Riêng đối với phần đảo giao thông giữa quảng trường thì nguyên tắc tổ chức cây xanh, mặt nước hoàn toàn khác Để tránh hạn chế tầm nhìn, không cho phép trồng cây cao trên các đảo giao thông, vì vây ở đây tổ chức cây xanh chỉ cho phép kết hợp bồn hoa, thảm cỏ và có thể tổ chức nhô cao dần ở phía tâm đảo Ở các đảo giao thông lớn có thể tổ chức bồn nước động (có thể là nước phun hay nước chảy) ở tâm đảo, kết hợp với các bồn hoa, thảm cỏ xung quanh Ngày nay khi xu hướng tổ chức tượng đài trên các quảng trường giao thông không còn nữa thì việc tổ chức các hình thức bồn nước động đa dạng vừa làm phong phú cảnh quan quảng trường vừa giảm bớt được nhiệt độ không khí cũng như lượng khói bụi trên quảng trường

Ngày đăng: 14/07/2021, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w