1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên lợn đang nuôi tại các nông hộ huyện thanh hà tỉnh hải dương nghiên cứu các đặc tính sinh học phân tử của chủng virus PRRS

73 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 4,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HOÀNG THỊ LỤA TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN PRRS TRÊN LỢN ĐANG NUÔI TẠI CÁC NÔNG HỘ HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG NGHIÊN CỨU CÁC ĐẶC TÍNH

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HOÀNG THỊ LỤA

TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN (PRRS) TRÊN LỢN ĐANG NUÔI TẠI CÁC NÔNG HỘ HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG NGHIÊN CỨU CÁC ĐẶC TÍNH SINH HỌC PHÂN TỬ

CỦA CHỦNG VIRUS PRRS: KTY-PRRS-07

Mã số: 60 64 01 01 Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Đình Thâu

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Lụa

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc thầy giáo TS Trịnh Đình Thâu đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và cán bộ, nhân viên các Phòng, Trạm trực thuộc Chi cục thú y Hải Dương và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Lụa

Trang 4

iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn 3

2.1.1 Khái niệm 3

2.1.2 Hình thái và cấu tạo của virus PRRS 3

2.1.3 Phân loại virus PRRS và nguyên nhân gây bệnh 6

2.1.4 Khả năng gây bệnh và sức đề kháng 8

2.1.5 Cơ chế gây bệnh của virus 8

2.1.6 Triệu chứng lâm sàng 10

2.1.7 Vật chủ và phương thức truyền lây 11

2.1.8 Chẩn đoán 11

2.1.9 Phòng và điều trị bệnh 13

2.2 Tình hình dịch bệnh PRRS 18

2.2.1 Trên thế giới 18

2.2.2 Tại Việt Nam 19

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 24

3.1 Nội dung nghiên cứu 24

3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24

3.2.1 Tình hình chăn nuôi và dịch PRRS ở lợn tại Thanh Hà năm 2014 24

Trang 5

iv

3.2.2 Nghiên cứu đặc sinh học phân tử của chủng virus KTY-PRRS-07 24

Phần 4 Kết quả và thảo luận 30

4.1 Tình hình chăn nuôi và hội chứng tai xanh ở lợn tại Thanh Hà năm 2014 30

4.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại Thanh Hà Năm 2014 30

4.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn tại xã Tiền Tiến, xã Tân việt, xã Quyết Thắng, xã Thanh Sơn huyện Thanh Hà năm 2014 31

4.1.3 Tình hình hội chứng PRRS ở lợn tại Thanh Hà năm 2014 31

4.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh PRRS ở lợn tại Thanh Hà năm 2014 33

4.2.1 Phân bố dịch theo thời gian 33

4.2.2 Tình hình dịch PRRS ở lợn tại xã Tiền Tiến, xã Quyết Thắng, xã Thanh Sơn, xã Tân Việt 36

4.2.3 Tỷ lệ mắc PRRS theo các loại lợn tại Thanh Hà năm 2014 37

4.3 Nghiên cứu các đặc tính sinh học phân tử 39

4.3.1 Đặc tính sinh học của chủng virus KTY-PRRS-07 39

4.3.2 Đặc tính sinh học phân tử của chủng virus KTY-PRRS-07 41

4.4 Một số giải pháp phòng, chống dịch bệnh PRRS thực tế của Thanh Hà 47

4.4.1 Các giải pháp hành chính 48

4.4.2 Các giải pháp chuyên môn 48

4.4.3 Các biện pháp kỹ thuật 48

Phần 5 Kết luận và đề nghị 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 51

Tài liệu tham khảo 52

Phụ lục 56

Trang 6

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADN Axit Deoxyribo nucleic

ARN Axit ribonucleic

MAC- 145 Môi trường thận khỉ xanh

DMEM Dulbecco’s Modified Eagle Medium

FBS Fetal bovine serum

TPB Tryptose Phosphate Broth

P P-value

PCR Polymerase Chain Reaction

PRRS Porcine reproductive and respiratory syndrome TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

VSTĐ Vệ sinh tiêu độc

Trang 7

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Protein cấu trúc của PRRS 5

Bảng 2.2 Arterivirus gây bệnh trên động vật 8

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của Thanh Hà năm 2014 30

Bảng 4.2 Số lợn/hộ chăn nuôi tại xã Tiền Tiến, Quyết Thắng, Tân Việt, Thanh Sơn năm 2014 31

Bảng 4.3 Tình hình dịch PRRS ở lợn tại Thanh Hà năm 2014 32

Bảng 4.4 Tình hình dịch PRRS ở lợn tại Thanh Hà năm 2014 36

Bảng 4.5 Tình hình bệnh PRRS theo các loại lợn tại Thanh Hà năm 2014 38

Bảng 4.6 Khả năng gây bệnh tích tế bào của chủng virus KTY-PRRS-07 39

Trang 8

vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Cấu trúc hạt của PRRS virus 4

Hình 2.2 Sơ đồ hệ gen của virus PRRS 4

Hình 2.3 Bộ gen của virus PRRS 5

Hình 2.4 Cây phả hệ thể hiện sự liên quan của virus PRRS với các virus khác trong bộ Nidovirales và họ Picornaviridae dựa trên dữ liệu chuỗi gen RNA-dependent RNA polymerase (RdRp) ( Gorbalenya và cs, 2006) 7

Hình 2.5 Hình ảnh xâm nhiễm và phá huỷ đại thực bào của PRRS 9

Hình 2.6 Tình hình dịch bệnh PRRS ở Việt Nam (năm 2007) 20

Hình 4.1 Tình hình dịch PRRS ở lợn theo thời gian tại Thanh Hà năm 2014 33

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện số xã có dịch PRRS ở lợn theo thời gian tại Thanh Hà năm 2014 35

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện số hộ có lợn mắc PRRS theo thời gian tại Thanh Hà năm 2014 35

Hình 4.4 Tỷ lệ (%) mắc bệnh PRRS ở lợn tại các xã ở của huyện Thanh Hà năm 2014 37

Hình 4.5 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh PRRS trên các loại lợn tại Thanh Hà năm 2014 38

Hình 4.6 Bệnh tích tế bào sau 60 giờ gây nhiễm 40

Hình 4.7 Bệnh tích tế bào sau 72 giờ gây nhiễm 40

Hình 4.8 Bệnh tích tế bào sau 48 giờ gây nhiễm 40

Hình 4.9 Bệnh tích tế bào sau 60 giờ gây nhiễm 40

Hình 4.10 Quy luật nhân lên của chủng virus KTY-PRRS-07 41

Hình 4.11 Kết quả phản ứng RT – PCR với mồi ORF5 với dịch triết môi trường nuôi cấy tế bào (virus PRRS) 42

Hình 4.12 So sánh trình tự nucleotide của đoạn gen ORF5 của chủng virus PRRS nghiên cứu với chủng virus ATCC VR-2332 và chủng virus JXA1 (vắc-xin) 43

Hình 4.13 So sánh trình tự amino acid mã hóa từ đoạn gen ORF5 của chủng virus PRRS nghiên cứu với chủng virus ATCC VR-2332 và chủng virus JXA1 (vắc-xin) 44

Hình 4.14 Cây sinh học phân tử thể hiện mối quan hệ nguồn gốc phát sinh loài 46

Trang 9

viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Hoàng Thị Lụa

Tên luận văn: “ Tình hình hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên lợn đang

nuôi tại các nông hộ huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương Nghiên cứu các đặc tính sinh học phân tử của chủng virus PRRS: KTY-PRRS-07 ”

II Phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

- Tình hình chăn nuôi và dịch PRRS ở lợn tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương năm 2014

- Một số đặc điểm dịch tễ của PRRS ở lợn tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương năm 2014

- Nghiên cứu đặc tính sinh học sinh học phân tử chủng virus KTY-PRRS-07

Vật liệu

Nguyên liệu:

+ Thu thập và phân tích số liệu: Số liệu điều tra về tình hình chăn nuôi lợn và tình hình dịch PRRS ở lợn được thu thập thông qua các tài liệu lưu trữ của Cục thống kê, Chi cục thú y, Trạm thú y (số liệu thứ cấp) về các chỉ tiêu:

Tổng số lợn (con)

Số lợn mắc PRRS (con)

Số lợn bị tiêu hủy (con)

+ Mẫu có chứa virus PRRS chủng virus KTY-PRRS-07

Dụng cụ : Máy PCR , máy ly tâm, bộ điện di, buồng đếm Neubauer, tủ ấm, lò vi sóng Hóa chất: DMEM, FBS, PBS, Trypsin − EDTA, DMSO, Agarose 1.2%

Phương pháp nghiên cứu

- Tiến hành dùng bảng hỏi (phiếu điều tra) để điều tra các hộ chăn nuôi; Kết hợp

Trang 10

ix

phỏng vấn sâu cán bộ thú y cơ sở để thu thập thêm thông tin

- Phương pháp nuôi cấy tế bào

- Phương pháp phân lập virus

- Phương pháp tiến hành phản ứng RT – PCR

- Phương pháp giải trình tự gen

- Phương pháp xử lý số liệu: Phân tích xác nhận chuỗi gen thu được thông qua chương trình Blast trên Ngân hàng gen (GenBank)

III Kết quả chính và kết luận

- Tổng đàn trâu bò năm 2014 đạt 994 con, giảm so với năm 2015 là 1,05 lần.Tổng đàn lợn đạt 5.860 con giảm so với năm 2015 là 1,14 lần Số gia cầm năm

2014 có 509.830 con giảm so với năm 2015 là 1,35 lần

- Năm 2014, dịch PRRS đã xảy ra trên đàn lợn của 43 hộ chăn nuôi ở 12 thôn thuộc 4 xã: xã Tiền Tiến, xã Quyết Thắng, xã Thanh Sơn, xã Tân Việt với tổng số lợn mắc bệnh là 259 con Số lợn chết và bị tiêu huỷ là 51 con

- Dịch PRRS ở lợn trên địa bàn huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương xảy ra vào tháng 4 Thời gian phát sinh các ổ dịch kéo dài từ 01/4 đến 30/4/2014

- Số lợn nái mắc bệnh là 63 con chiếm 3,95% tổng số nái và tiêu hủy cả 10 con, chiếm 15,87% số nái mắc PRRS Lợn đực giống không có con mắc bệnh chiếm 0,00 %

Số lợn thịt và lợn con theo mẹ bị mắc PRRS là 196 con, chiếm 2,22%, chết và tiêu hủy

41 con chiếm 20,92% số lợn thịt và lợn con theo mẹ bị mắc PRRS

- Xã Tân Việt có 3,50% lợn mắc bệnh, xã Quyết Thắng có 1,85% lợn mắc bệnh,

xã Tiền Tiến có 2,37% lợn mắc bệnh, xã Thanh Sơn có 2,29% lợn mắc bệnh

- Chủng virus KTY-PRRS-07 có khả năng phá hủy tế bào mạnh hơn chủng JAX1

- Đoạn gen GP5 của chủng virus KTY-PRRS-07 có độ dài 720pb và hiệu giá 2,25 x 106 TCID50/ml

- Có tất cả 71 vị trí sai khác về nucleotide giữa 3 chủng so sánh: Chủng virus KTY-PRS-07 có 6 sự sai khác so với chủng JAX1 và 66 sự sai khác so với chủng ATCC VR-2332

- Tất cả có thay đổi vị trí 30 amino acid trong đó: Chủng virus KTY-PRRS-07 có

6 sự sai khác so với chủng JAX1 và 29 sự sai khác so với chủng ATCC VR-2332

- Chủng PRRS-07 nằm trong cùng nhánh phát sinh với chủng PRRS-01, KTY-PRRS-03 và chủng SHZ-2010; HUAY2-11; HENHB1 nằm khác nhánh phát sinh với các lineage 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9 (Bắc Mỹ) và nhánh phát sinh của chủng virus Lelystad (Châu Âu)

Trang 11

KTY-x

THESIS ABSTRACT

Author: Hoang Thi Lua

Thesis title: "The situation of respiratory disorders and fertility (PRRS) in pigs are

raised in households in Thanh Ha district, Hai Duong city Study the molecular biology

of PRRSV strains: KTY-PRRS-07 "

Industry: Veterinary Code: 23150998

Training Facility: Vietnam National University of Agriculture

Number PRRS pigs ( amount)

Number of pigs destroyed(amount)

+ Samples containing PRRSV strain of PRRS-KTY-07

Tools: PCR machines, centrifuges, electrophoresis sets, Neubauer counting chambers, incubators, ovens

Chemicals: DMEM, FBS, PBS, Trypsin - EDTA, DMSO, agarose 1.2%

Trang 12

xi

- The method of conducting the reaction RT - PCR

- Sequencing Method gen

- data processing method: Analysis of gene sequences obtained certification through Blast on Banking program gene (GenBank)

III Main results and conclusions:

- Total cattle in 2014 reached 994 , to go down from 1.05 times in 2015 Total pigs are 5,860 to go down from 1.14 times in 2015.Total poultry in 2014 are 509,830 to

go down from 1.35 times in 2015

- 2014, PRRS has occurred on the 43 pig farms in 12 villages in four communes : Tien Tien commune ,Quyet Thang commune , Thanh Son commune, Tan Viet commune with a total of 259 infected pigs Total pigs dead and destroyed are 51

- Epidemiologic PRRS in pigs Thanh Ha district, Hai Duong city occurred on May 4 The time arising from the outbreak lasted 01/4 to 30/4/2014

- Total infected sows are 63 accounting for 3.59 % of amount and destroyed 10 ,accounting 15.87% of PRRS infected sows Boars are not accounted for 0.00% disease Number of pigs and piglets infected with the PRRS is 196, accounting for 2.22%, death and destruction accounts for 20.92% of the 41 pigs and piglets infected with PRRS

- Tan Viet commune has 3,50% of infected pigs, Quyet Thang commune has 1.85 % of infected pigs,Tien Tien commune has 2.37% of infected pigs, Thanh Son commune has 2.29% of infected pigs

- Vaccine virus KTY-PRRS-7 has the ability to destroy cells more powerful virus JAX1

- The GP5 gene of PRRS virus strains-07 KTY-720pb length and 2,25 x 106TCID50 titre / ml

- A total of 71 other false position nucleotides between 3 strains of comparison: strain KTY-PRS-07 has 6 differences compared with JAX1 strains and 66 differences compared with ATCC VR-2332 strains

- All changes in the amino acid position 30 which : KTY-PRRS virus strain-07 with 6 difference compared with JAX1 strains and 29 differences compared with ATCC VR-2332 strains

- Race KTY-PRRS-07 in the same branch arising with KTY-PRRS-01 strain , KTY-PRRS-03 and strain SHZ-2010; HUAY2-11; HENHB1 is another lineage branched arise with 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9 (North America) and branches of strains arising Lelystad (Europe)

Trang 13

1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS - Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome), còn gọi là bệnh “tai xanh” (Blue Ear),

là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm, do virus PRRS (PRRSV), thuộc họ

Arteriviridae, bộ Nidovirales gây ra (Benfield D và cs, 1997), virus này phát

sinh, phát triển và làm cho bệnh ngày càng trầm trọng hơn, lợn bệnh chết chủ yếu

do các vi khuẩn kế phát (Bierk M và cs, 2001) Bệnh lây lan nhanh và làm chết

nhiều lợn nhiễm bệnh

Hiện nay, PRRS đã và đang trở thành dịch ở nhiều nước trên thế giới, gây tổn thất nặng nề cho nền kinh tế PRRS lần đầu tiên được phát hiện ở Mỹ vào năm 1987, ở châu Âu (tại Đức năm 1990, tại Hà Lan năm 1991) và tại châu Á vào đầu những năm 1990

Những năm gần đây, chăn nuôi lợn đang ngày càng phát triển mạnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp của nước ta, trở thành nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ nông dân Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, lưu lượng động vật và sản phẩm động vật nhiều, kèm theo đó là sự gia tăng về tình hình dịch bệnh Đã có rất nhiều bệnh du nhập vào nước ta theo con đường lưu thông Virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta năm 1997, trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam, và gây ra những thiệt hại lớn cho nghành chăn nuôi Tổng số gia súc mắc bệnh năm 2007 là 88.945 con, số chết và phải tiêu hủy là 19.217 con Tổng số lợn mắc bệnh năm 2008 là 298.095 con, số chết

và phải tiêu huỷ là 286.351 con Năm 2009 có 5.044 lợn mắc bệnh và 4.363 lợn buộc phải tiêu huỷ Bệnh này đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nghành chăn nuôi lợn của cả nước cũng như tỉnh Hải Dương và phải kể đến huyện Thanh Hà

Trong những năm gần đây, đàn lợn của huyện Thanh Hà phát triển khá mạnh cả về tốc độ và giá trị sản xuất Tuy nhiên, dịch bệnh đã làm nhiều lợn ốm chết, gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Do vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết trong quá trình phòng chống dịch bệnh đạt hiệu quả, giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra

Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên và để có căn cứ xây dựng các giải

Trang 14

2

pháp khoa học dựa trên những đặc điểm dịch tễ quan trọng nhằm phòng và khống chế Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản một cách hiệu quả và sát thực với điều kiện chăn nuôi của Thanh Hà, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“ Tình hình hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên lợn đang nuôi tại các nông hộ huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương Nghiên cứu các đặc tính sinh học phân tử của chủng virus PRRS: KTY-PRRS-07 ”

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Cung cấp thông tin và số liệu cụ thể cùng những luận chứng về tình hình mắc bệnh PRRS trên địa bàn huyện Thanh Hà năm 2014

Biết được đặc tính sinh học của chủng virus PRRS từ đó đưa loại vacxin vào tiêm phòng cho đàn lợn một cách có hiệu quả

Trang 15

3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN 2.1.1 Khái niệm

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndome, viết tắt là PRRS), là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của loài lợn (kể cả lợn rừng), biểu hiện đặc trưng là các rối loạn sinh sản ở lợn nái như sảy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu, cũng như ở lợn con theo mẹ và lợn nái hậu bị còn thể hiện viêm đường hô hấp rất nặng như sốt, ho, khó thở, chết với tỷ lệ cao (Anomymous, 1992)

Bệnh còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như:

+ “Bệnh bí hiểm ở lợn” (Mystery Disease Syndrome)

+ Hội chứng vô sinh và hô hấp ở lợn (Swine Infertility and Respiratory Syndromde, được viết tắt là SIRS)

+ Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (Porcine Endemic and Respiratory Syndrome, được viết tắt là PEARS)

+ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome)

+ Căn cứ vào triệu chứng và bệnh tích, bệnh này còn được gọi là “Bệnh lợn tai xanh” (Blue-ear disease), ở Việt Nam tên bệnh “Tai xanh” trở nên phổ

biến hiện nay

Năm 1992, Hội nghị Quốc tế về bệnh này được tổ chức tại St Paul, Minnesota (Mỹ) đã nhất trí dùng tên Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) và được Tổ chức Thú y thế giới công nhận

2.1.2 Hình thái và cấu tạo của virus PRRS

* Cấu trúc hạt: virus tai xanh là một virus có hình cầu, đường kính 50

-70nm, chứa nHCLeocapsid cùng kích thước có cấu trúc đối xứng 20 mặt, đường kính 35nm, được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ bọc dính chặt với cấu trúc bề mặt giống như tổ ong, trên bề mặt có những gai nhô ra, vỏ có chứa lipid

Bộ gen của virus PRRS là chuỗi dương ARN có kích thước từ 13- 15kb Sợi ARN của virus có đầu 5’ và đầu 3’ Gen ARN polymeraza chiếm khoảng 75% đầu 5’ của bộ gen, gen này mã hoá cho các protein cấu trúc của virus nằm ở đầu 3’

Trang 16

tử 25.000bp và GL có khối lượng phân tử 42.000

Acid nHCLeic: Sự nhân lên của virus không bị ảnh hưởng khi dùng hợp chất ức chế tổng hợp ADN là 5-bromo-2-deoxyuridin, 5-iodo-2-deoxyuridin và mitomycin C chứng tỏ axit nHCLeic đó là ARN Sợi ARN này có kích thước khoảng 15kb

Hình 2.2 Sơ đồ hệ gen của virus PRRS

Cấu trúc hệ gen của PRRS bao gồm 7 khung đọc mở (ORF), gồm: ORF1, ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6 và ORF7 Trong đó, ORF1 được chia làm hai phần bao gồm ORF1a và ORF1b, chiếm tới khoảng 80% tổng số độ dài hệ gen của virus, chịu trách nhiệm mã hoá ARN thông tin tổng hợp các enzym ARN

Trang 17

5

polymerase của virus ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6, ORF7 là các phần gen tạo nên khung đọc mở mã hoá các protein tương ứng, đó là GP2 (glycoprotein 2), GP3, GP4, GP5 (hay còn gọi là glycoprotein vỏ (E, envelope), protein màng M (membrane protein), và protein cấu trúc nHCLeocapsid N (nHCLeocapsid protein) Các protein được glycosyl hóa (là hiện tượng gắn thêm hydrat cacbon vào một vị trí axit amin xác định) là: GP2, GP3, GP4, GP5, và các protein không được glycosyl hóa là M và N

Các nghiên cứu đã dựa vào phân tích trình tự axit amin của virus chủng

2332 và chủng Lelystad cho thấy rằng các virus này đang tiến hóa do đột biến

ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen

Bảng 2.1 Protein cấu trúc của PRRS

GP 3 45 KD ORF 3 Quan trọng trong miễn dịch

GP 4 31 KD ORF 4

GP 2 29 KD ORF 2

GP 5 25 KD ORF 5 Bám dính tế bào đa dạng nhất

M 19 KD ORF 6 Có tính bảo tồn cao nhất

N 19 KD ORF 7 Tính kháng nguyên cao

Hình 2.3 Bộ gen của virus PRRS

Nguồn: http://www.porcilis-prrs.com/microbiology-prrsv-structure

Những nghiên cứu của Benfield và cs (1992) cho thấy các chủng virus thuộc

Trang 18

6

dòng Châu Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất định so với chủng virus của Châu Mỹ Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng

có sự tương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên

Trong các tế bào bị nhiễm virus PRRS, virus sinh ra 6 ARNm Tất cả 6 ARNm có trình tự sắp xếp chung ở đầu 5' của hệ gen ARN và tất cả chúng đều

có đuôi 3' polyA Muelenberg kết luận rằng dựa trên chuỗi nHCLeotit, tổ chức hệ gen, cũng như cách nhân lên của virus thì có thể xếp chúng vào nhóm virus động

mạch (Arterivirus) mới (Meulenberg và cs, 1993)

2.1.3 Phân loại virus PRRS và nguyên nhân gây bệnh

Virus PRRS lần đầu tiên được phân lập từ một ổ dịch ở Hà Lan, được xác định là nguyên nhân chính gây ra hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn

Virus thuộc nhóm Arterivirus, thuộc họ Arteriviridae, bộ Nidovirales, có cấu trúc

hệ gen là RNA sợi đơn dương, gồm 7 khung đọc mở khác nhau mã hoá cho các

protein của virus Bộ Nidovirales gồm có 4 họ, bao gồm: Coronaviridae, Arteriviridae, Toroviridae, Roniviridae (Hình 2.3)

Tên gọi của nhóm Arterivirus được bắt nguồn từ một loại virus trong họ

đó, đó là virus gây viêm động mạch ở ngựa (Equine arteritis virus) Các thành

viên trong họ Arteriviridae có cấu trúc và sự nhân lên giống với các virus trong

họ Coronaviridae Sự khác biệt giữa hai họ này chính là kích thước hệ gen, trong

đó hệ gen của Arteriviridae chỉ bằng một nửa hệ gen của Coronaviridae và nét

đặc trưng của chúng là bản sao mã giống nhau chung cho các loại virus của bộ

Nidovirales Họ Arteriviridae chỉ có một giống duy nhất là Arterivirus chứa tất cả

bốn thành viên là virus gây viêm động mạch ở ngựa (EAV), virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS), virus gây tăng hoạt enzyme lactase dehydrogenase (LDV) và virus sốt xuất huyết ở khỉ (SHFV) (Cavanagh, 1997)

PRRS được phân chia thành 2 kiểu gen di truyền (genotype): kiểu gen châu Âu (type I), đại diện tương ứng là chủng Lelystad (LV) và kiểu gen châu

Mỹ (type II), đại diện tương ứng là chủng VR-2332 Hai kiểu gen khác nhau tới 60% về nucleotide, cả về mặt di truyền và kháng nguyên Bốn dưới chủng (subtype) đã được xác nhận trong các genotype châu Âu và có tính đa dạng cao trong mỗi một kiểu gen và dưới chủng Hơn nữa, PRRS cũng có sự khác nhau

về hệ gen gần loài (Rowland R, 1999) Các chủng virus này gây bệnh trên động vật cảm thụ với bệnh cảnh giống nhau, nhưng chúng lại đại diện cho 2 kiểu gen

Trang 19

7

khác biệt

Hình 2.4 Cây phả hệ thể hiện sự liên quan của virus PRRS với các virus

khác trong bộ Nidovirales và họ Picornaviridae dựa trên dữ liệu chuỗi gen

RNA-dependent RNA polymerase (RdRp) ( Gorbalenya và cs, 2006)

Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về chuỗi nucleotide khá cao, đến 20%, đặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ Chính sự khác biệt và sự đa dạng

về tính kháng nguyên, khả năng biến đổi cấu trúc kháng nguyên của virus đã làm tăng thêm những khó khăn trong việc sản xuất vacxin phòng chống bệnh này Điều cần lưu ý nữa là sự đa nhiễm PRRS ở một số quốc gia, đó là sự trộn lẫn nhiều genotype, tức là căn bệnh do PRRS lưu hành trên đàn lợn gồm cả 2 dòng virus: Bắc Mỹ và châu Âu (Cavanagh, 1997)

Trang 20

Bệnh sốt xuất huyết khỉ, có bệnh lý toàn thân thường giết chết con vật

2.1.4 Khả năng gây bệnh và sức đề kháng

Khả năng gây bệnh:

Virus chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng cũng mắc bệnh

Về mặt độc lực, người ta thấy virus tồn tại dưới 2 dạng:

- Dạng cổ điển: có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn

- Dạng biến thể độc lực cao: gây nhiễm và chết nhiều lợn (Tô Long Thành

và Nguyễn Văn Long, 2008)

Sức đề kháng:

PRRS có thể tồn tại 1 năm trong nhiệt độ lạnh từ -200C đến -700C; trong điều kiện 40C, virus có thể sống 1 tháng; với nhiệt độ cao, cũng như các virus khác, PRRS đề kháng kém: ở 370C chịu được 48 giờ, 560C bị giết sau 1 giờ Với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường có pH acid, virus dễ dàng bị tiêu diệt Ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng (Jenny G et al , 2007)

2.1.5 Cơ chế gây bệnh của virus

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, đích tấn công của virus là đại thực bào, đặc

Trang 21

9

biệt đại thực bào ở phế nang và phế quản Đại thực bào là loại tế bào duy nhất có

receptor phù hợp với cấu trúc hạt virus, vì thế virus hấp thụ và thực hiện quá trình

nhân lên chỉ trong tế bào này và phá huỷ nó Có một tỷ lệ lớn tế bào đại thực bào

trong nang phổi bị virus xâm nhiễm rất sớm (Rossow K D, 1994)

Lúc đầu, PRRS có thể kích thích các tế bào này cung cấp nguyên liệu cho

quá trình sao chép của virus, nhưng sau 2 hoặc 3 ngày virus sẽ giết chết chúng,

các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác Ở giai đoạn

đầu của quá trình xâm nhiễm của PRRS, dường như hiệu giá kháng thể chống lại

các loại virus và vi khuẩn không liên quan khác trong cơ thể của lợn tăng cao do

sự kích hoạt của đại thực bào trong hệ thống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự

nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở

cơ thể lợn ( Rossow K D, 1994)

Hình 2.5 Hình ảnh xâm nhiễm và phá huỷ đại thực

bào của PRRS

Trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào là tế bào có thẩm quyền

miễn dịch, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đáp ứng miễn dịch cả không

đặc hiệu và đặc hiệu, đây là loại tế bào trình diện kháng nguyên thiết yếu, mở

đầu cho quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu Khi tế bào đại thực bào bị virus

phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào

trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát

Hậu quả suy giảm miễn dịch còn thể hiện ở góc độ không hoặc giảm hiệu lực của

các vacxin khác ở lợn như vacxin dịch tả, tụ huyết trùng, Điều này có thể thấy

rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm PRRS sẽ có sự tăng

đột biến về tỷ lệ viêm phổi thứ (kế) phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong

đường hô hấp (Drew TW, 2000)

Trang 22

Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ Số con sống

sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy (Kamakawaa A et al , 2006) Lợn có triệu chứng biếng ăn, ho nhẹ, lông xơ xác, gầy yếu, sưng mí mắt và kết mạc, đôi khi đây là triệu chứng mang tính chẩn đoán đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi mắc bệnh PRRS có biểu hiện: tai, mõm tím, rối loạn hô hấp, tiêu chảy phân màu nâu đỏ hoặc xám Tỷ lệ lợn chết là 15% hoặc cao hơn do viêm phổi và bội nhiễm vi khuẩn kế phát

Lợn nái: các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai

gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai: thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch và cs , 2007)

Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi Lợn chậm động dục trở lại

Lợn đực giống: sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện

tượng tai xanh Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn (Lê Văn Năm, 2007) lượng tinh ít, chất lượng kém Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản ( Nguyễn Như Thanh, 2007)

Bệnh tích:

Bệnh tích đặc trưng nhất là ở phổi Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc

Trang 23

11

trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy bị bệnh có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh

Một số bệnh tích khác có thể thấy như: thận có thể có xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu họng, amidan sưng hoặc sung

huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết;

loét van hồi manh tràng (Nguyễn Như Thanh và cs , 2001)

2.1.7 Vật chủ và phương thức truyền lây

- Vật chủ: PRRS chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm

nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Ngoài ra, lợn rừng cũng mắc bệnh và đây có thể được coi là nguồn dịch thiên nhiên và phát tán bệnh Theo Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), PRRS được xác định không lây truyền và gây bệnh sang gia súc khác và con người (Rossow K D, 1994)

- Đường truyền lây: Virus PRRS có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước

tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường; tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virus cũng là nguồn lây lan bệnh Ở lợn nái mang thai, virus có thể

từ mẹ xâm nhiễm sang bào thai và gây bệnh Lợn con nhiễm bệnh và lợn mang trùng có thể đào thải virus ra môi trường trong vòng 6 tháng (La Tấn Cường, 2005)

Bệnh truyền chủ yếu theo đường không khí, có thể lây trực tiếp thông qua sự tiếp xúc giữa lợn ốm, lợn mang trùng với lợn khoẻ và cũng có thể lây gián tiếp qua các nhân tố trung gian (không khí, đất, nước, thức ăn,…) bị nhiễm virus, virus có khả năng phát tán rộng và dễ gây nhiễm qua đường hô hấp ( Cho J.G et al , 2006)

2.1.8 Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng

Chẩn đoán dựa vào 2 nhóm triệu chứng:

+ Triệu chứng đường sinh sản: chủ yếu đối với lợn nái Vào giai đoạn đầu của dịch PRRS, có thể thấy hiện tượng sảy thai ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai và đẻ non, có các thai yếu, thai chết lưu, đồng thời có thai gỗ, lợn con yếu, chết trước khi cai sữa

+ Triệu chứng đường hô hấp: Chủ yếu dựa vào biểu hiện viêm phổi ở lợn con và lợn vỗ béo (Tô Long Thành, 2007)

Trang 24

12

Chẩn đoán bằng phương pháp giải phẫu bệnh

+ Đối với lợn con, lợn vỗ béo, lợn xuất chuồng: Bệnh tích khi mổ khám thấy phổi rắn, chắc và có vùng xám và hồng

+ Trên tiêu bản vi thể: Viêm phổi kẽ tăng sinh đa điểm hoặc lan tràn làm vách phế nang dày lên, viêm não giữa và giảm số lượng tế bào lympho trong các

tổ chức lympho

+ Đối với thai sảy và thai chết lưu: Không có bệnh tích đại thể hoặc vi thể (Tô Long Thành, 2007)

Phát hiện virus

Lấy bệnh phẩm là huyết thanh, huyết tương, bạch cầu, phổi, hạch Amidan,

tổ chức Lympho, dịch báng của thai chết lưu hoặc lợn chết ngay sau khi sinh để phát hiện virus

Có thể áp dụng một số kỹ thuật sau đây để phát hiện virus:

- Phân lập virus trên một số loại tế bào: Tế bào phế nang của lợn, tế bào MA-104, tế bào MARC-145, CL-2621 và CL-11171

- Phương pháp bệnh lý miễn dịch

- Phương pháp huỳnh quang gián tiếp phát hiện kháng nguyên

- Phương pháp sinh học phân tử

+ Phương pháp nhân gen (RT-PCR)

+ Phương pháp lai phân tử tại chỗ (in situ hybridization)

Phản ứng RT-PCR có độ chính xác cao đáp ứng được yêu cầu phát hiện sớm và chính xác virus PRRS trên đàn lợn Trong quá trình chẩn đoán, việc ứng dụng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật RT-PCR góp phần xây dựng chiến lược kiểm soát bệnh trong ngành chăn nuôi lợn Việt Nam (Nguyễn Ngọc Hải

và cs, 2007)

Phương pháp sinh học phân tử có độ nhạy và độ chính xác cao đang được ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán xác định bệnh dịch, và cung cấp các dữ liệu di truyền học của virus PRRS giúp cho việc nghiên cứu và điều chế vacxin phòng bệnh thế hệ mới

Chẩn đoán huyết thanh học

Có thể phát hiện kháng thể kháng virus PRRS trong huyết thanh, dịch của

Trang 25

13

cơ thể hoặc từ thai chết lưu bằng một số phương pháp huyết thanh học bao gồm phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp, phương pháp miễn dịch enzyme, ELISA và phản ứng trung hòa huyết thanh

Trong đó, ELISA là phương pháp tiện lợi hơn cả Thuận lợi của phương pháp này là có thể chẩn đoán một số lượng lớn các mẫu huyết thanh và các kết quả thu được của các phòng thí nghiệm (khi chẩn đoán huyết thanh cùng lúc) là tương đối đồng nhất (Tô Long Thành, 2007)

Tuy nhiên, việc chọn lọc kháng nguyên chẩn đoán là hết sức quan trọng

do PRRS là nhóm virus đa dòng, đa chủng

2.1.9 Phòng và điều trị bệnh

Vệ sinh phòng bệnh:

Để phòng bệnh PRRS cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, nhất là trong điều kiện thực tế của Việt Nam Để các biện pháp vệ sinh phòng bệnh đạt hiệu quả, việc thay đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi lớn tập trung, nhập con giống phải khoẻ mạnh rõ nguồn gốc đóng vai trò quan trọng đầu tiên Bên cạnh đó, cần phải áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh an toàn thú y Thường xuyên chăm sóc tốt cho lợn để nâng cao sức đề kháng cho lợn, đối với lợn mới mua về không rõ nguồn gốc cần cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2011)

Phòng bệnh bằng vacxin:

Bệnh chưa có loại thuốc nào đặc hiệu để điều trị, trong khi điều trị cần sử dụng thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa bệnh kế phát Chính vì vậy, để phòng chống bệnh ngoài việc chăn nuôi an toàn sinh học, chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì tiêm phòng vacxin cũng là một giải pháp Việc tiêm vacxin sẽ giúp tạo được kháng thể cho đàn lợn, làm giảm tình trạng mẫn cảm của gia súc với chủng virus gây bệnh

Hiện trong "Danh mục vacxin được phép lưu hành và sử dụng tại Việt Nam" của Bộ Nông nghiệp và PTNT có 7 loại vacxin có thể sử dụng để phòng, chống bệnh PRRS ở lợn, cụ thể:

Vacxin nhược độc BSL-PS 100 của Công ty Bestar - Sing-ga-po, chủng vacxin JKL 100 thuộc dòng Bắc Mỹ;

Trang 26

14

Vacxin nhược độc Amervac PRRS của Công ty Hipra - Tây Ban Nha, chủng vacxin VP046 BIS;

vacxin Porcilis PRRS của Công ty Intervet Hà Lan

Vacxin nhược độc Ingelvac PRRS MLV của Công ty Boehringer - Đức, chủng vacxin ATCC VR-2332 thuộc dòng Bắc Mỹ;

Vacxin vô hoạt PRRS của Công ty Chengdu- Trung Quốc, chủng JXA1 thuộc dòng Bắc Mỹ;

NVDC-Vacxin nhược độc chủng JXA1-R của Công ty China Animal Husbandry Industry Company (CAHIC) - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ; Vacxin nhược độc chủng độc lực cao (live (JXA1-R Highly Pathogenic Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome vaccine), của Công ty Đại Hoa Nông - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ

Tuy nhiên, để phòng bệnh hiệu quả, người chăn nuôi cũng cần thực hiện tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin phòng 4 bệnh đỏ là: Dịch tả lợn, Đóng dấu lợn, tụ huyết trùng lợn và Phó thương hàn lợn Ngoài ra tiêm thêm vacxin E.coli, Suyễn lợn để phòng bệnh

Một số vacxin phòng PRRS đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép nhập vào Việt Nam ( Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007) như:

1 Vacxin PRRS BSL-PS100: là loại vacxin sống nhược độc, dạng đông khô có nguồn gốc từ chủng JKL-100 thuộc dòng virus gây PRRS Bắc Mỹ Một liều vacxin chứa ít nhất 105TC50 Vacxin chỉ được pha với dung dịch chuyên biệt,

sử dụng tiêm bắp với liều 2ml/con Miễn dịch chắc chắn sau tiêm 1 tuần và kéo dài 4 tháng

Lợn con tiêm lần đầu vào lúc 3 tuần tuổi

Lợn đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi và tái chủng hàng năm

Nái hậu bị và nái sinh sản tiêm phòng trước khi cai sữa cho con hoặc trước lúc phối giống

2 Vacxin PRRS BSL-PS100: là loại vacxin vô hoạt chế từ chủng PRRS dòng Châu Âu Một liều vacxin chứa ít nhất 107,5 TCID50 Vacxin an toàn và gây miễn dịch tốt

Liều dùng 2ml/con tiêm bắp

Trang 27

15

Lợn con tiêm lần đầu vào lúc 3-6 tuần tuổi

Nái hậu bị tiêm lúc 18 tuần tuổi, tiêm nhắc lại sau 3-4 tuần

Nái sinh sản tiêm 3-4 tuần trước khi phối giống

Lợn đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi, tái chủng sau mỗi 6 tháng

Bảo quản vacxin ở 2oC – 6oC

3 Vacxin Amervac-PRRS: là loại vacxin nhược độc đông khô, chứa virus chủng Châu Âu VP 046 BIS, mỗi liều ít nhất 103,5TCID50 Vacxin này có khả năng bảo hộ tất cả các chủng Châu Âu khác và Châu Mỹ Đây là chủng an toàn nhất trong các chủng Châu Âu và hoàn toàn không gây hoàn nguyên độc lực Liều lượng 2ml/con tiêm vào cơ cổ

Lợn con tiêm 1 lần vào lúc 3-4 tuần tuổi khả năng bảo hộ đến 5 tháng tuổi Nái hậu bị tiêm 1 lần ở thời điểm 5 tuần tuổi trước khi phối giống

Lợn đực giống tiêm lúc 5 tuần tuổi, tái chủng sau mỗi 6 tháng/lần

Lợn nái tiêm 1 lần sau khi sinh 12 – 15 ngày

Bảo quản vacxin ở 2oC – 8oC

Hiện nay, tuy chưa có những đánh giá cụ thể về hiệu quả sử dụng vacxin ở Việt Nam nhưng việc tiêm phòng vacxin chỉ thực sự hiệu quả khi được thực hiện đồng bộ các biện pháp khác như chăn nuôi an toàn sinh học, kiểm tra huyết thanh định kỳ

4 Vacxin nhược độc chủng độc lực cao (live (JXA1-R Highly Pathogenic Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome vaccine) của Công ty Đại Hoa Nông - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ Mỗi liều vacxin chứa ít nhất 105,0 TCID50 virus PRRS nhược độc chủng JXA1-R Hàm lượng kháng thể đạt cao nhất vào khoảng 21 – 28 ngày sau khi tiêm vacxin, thời gian bảo hộ kéo dài 4 – 6 tháng

Lợn 14 - 30 ngày tuổi: tiêm 1ml/con Sau 28 ngày tiêm nhắc lại 2ml/con Sau đó định kỳ 4 tháng tiêm nhắc lại 1 lần với lượng 2ml/con

Lợn trên 30 ngày tuổi: tiêm 2ml/con Sau đó định kỳ 4 tháng tiêm nhắc lại với liều 2ml/con

Lợn nái hậu bị: tiêm 2ml/con trước khi phối giống 30 ngày

Lợn nái sinh sản: tiêm 2ml/con sau đẻ 14 - 28 ngày

Trang 28

16

Vùng có nguy cơ dịch PRRS xẩy ra, ổ dịch cũ, tiêm ngay vacxin JXA1 – R cho toàn đàn với liều 2ml/con

Kiểm dịch vận chuyển

- Kiểm soát chặt chẽ lợn, sản phẩm của lợn vận chuyển qua biên giới

- Tại các địa phương, kiểm soát chặt chẽ lợn, sản phẩm của lợn vận chuyển xuất, nhập vào địa phương

- Xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật

Kiểm dịch giết mổ

Lợn đưa đến lò mổ được nhân viên thú y tại lò mổ thực hiện kiểm tra tiêu chuẩn vệ sinh theo Quy trình kiểm soát giết mổ động vật do Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn qui định

- Trước khi đưa vào giết mổ

+ Nhân viên thú y kiểm tra lâm sàng tình trạng sức khoẻ và vệ sinh đối với

lợn đưa vào giết mổ

+ Đối với lợn được vận chuyển từ các huyện hoặc tỉnh khác đến còn phải

được kiểm tra có giấy chứng nhận kiểm dịch hợp lệ

- Trong khi giết mổ

Lợn được kiểm soát chặt chẽ theo nguyên tắc sau:

+ Kiểm tra vệ sinh: thân thịt phải được vệ sinh sạch sẽ, không dính lông,

phân và các chất bẩn khác, chọc tiết phải đảm bảo ra hết máu;

+ Kiểm tra phẩm chất thịt: thân thịt phải có phẩm chất tốt, màu sắc, mùi đặc trưng; khám và phát hiện những biểu hiện khác thường và những triệu chứng

bệnh lý;

+ Phủ tạng phải được vệ sinh sạch sẽ, thân thịt con nào phải để liền phủ

tạng con đó hoặc đánh số để việc kiểm tra được thuận tiện, tránh nhầm lẫn;

+ Phủ tạng phải được khám tuần tự từng bộ phận, tránh thiếu sót; khám và

phát hiện những biểu hiện khác thường, những triệu chứng bệnh lý;

+ Các yêu cầu trong công tác kiểm tra: kiểm tra thân thịt sau khi giết mổ phải được tiến hành ngay sau khi hoàn thành việc giết mổ nhằm phát hiện ngay bất kỳ sự bất bình thường nào của thân thịt; khi kiểm tra nếu phát hiện thấy có bệnh tích nghi ngờ thì phải đưa tới khu vực riêng (khu xử lý) để kiểm tra lại lần

cuối, sau đó mới đưa ra quyết định xử lý

Trang 29

17

+ Kết quả kiểm tra sau khi giết mổ phải cung cấp được các thông tin cần thiết để đánh giá một cách khoa học các tổn thương bệnh lý có khả năng ảnh

hưởng đến chất lượng của thịt

- Sau khi giết mổ

+ Lợn đủ tiêu chuẩn vệ sinh thú y được đóng dấu hoặc lăn dấu kiểm soát giết mổ trên thân thịt, được phép cấp giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển sản

phẩm động vật

+ Lợn không đủ tiêu chuẩn vệ sinh thú y sẽ bị đóng dấu xử lý hoặc dấu hủy

và được nhân viên thú y giám sát xử lý, tiêu hủy

Điều trị bệnh

Bệnh do virus gây ra nên chưa có thuốc điều trị đặc hiệu để trị tiệt căn bệnh Việc sử dụng thuốc điều trị có tác dụng làm giảm triệu chứng hoặc chống bội nhiễm các bệnh khác mà không diệt ngay được virus bệnh Nếu không bị bội nhiễm bệnh khác gây chết, cơ thể heo sẽ tự tạo được kháng thể tự nhiên chống lại virus PRRS và lợn dần hồi phục Thực tế cho thấy, các trại nuôi có qui trình vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, qui trình tiêm phòng các bệnh nguy hiểm như Dịch tả,

Tụ huyết trùng, Thương hàn, Suyễn heo đầy đủ thì kể cả khi có bệnh phát sinh cũng chỉ xảy ra ở mức độ nhẹ và khả năng khỏi đạt đến 90% nếu được chăm sóc điều trị hợp lý Hiện nay bệnh PRRS không có thuốc điều trị, chỉ có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa bệnh kế phát

Với những trại đang xảy ra dịch thực hiện đúng các bước sau:

- Loại bỏ những con bị quá nặng

- Tách những con bỏ ăn ra chuồng riêng

- Giãn mật độ nuôi tối đa

- Không tắm cho lợn có dấu hiệu bị bệnh, chỉ rửa chuồng, tích cực vệ sinh

- Sát trùng chuồng trại ngày 1 – 2 lần

- Pha thuốc hạ sốt vào nước cho uống khi đàn lợn có triệu chứng sốt cao

- Một tuần cho uống 2 ngày thuốc để giải độc gan, thận

- Sử dụng cám có thuốc kháng sinh cho đến khi hết bệnh (1 – 2 tháng)

- Với những con bỏ ăn: Phải tách ra để tiêm thuốc kháng sinh và thuốc điều trị triệu chứng

Trang 30

Không nên sử dụng thuốc kháng viêm dạng Corticoids

Thời gian điều trị phải kéo dài từ 10 – 15 ngày lợn mới có thể hết bệnh Đối với lợn nái phải lấy thân nhiệt ít nhất 2 lần/ngày và tiêm thuốc hạ sốt cho những con > 39,50C

Nên xem xét kỹ và chẩn đoán chính xác có phải bị PRRS (chết ít < 30%) hay là dịch tả lợn (chết 100% khi có triệu chứng bệnh)

* Cụ thể phác đồ điều trị như sau:

- Chống nhiễm bệnh kế phát: Dùng kháng sinh có tác dụng với đường

hô hấp

Nếu lợn còn ăn thì trộn vào thức ăn hàng ngày một trong các loại kháng sinh: Flofenicol 40ppm (40gr/tấn thức ăn) hoặc 10 – 15 ngày, Lincomix S liều 2kg/tấn thức ăn, Tylansulfa – G 2kg/tấn thức ăn

Nếu con vật bỏ ăn dùng một trong các loại kháng sinh: Amoxicilin LA 15% liều 1ml/10kgP, Linco – spectin, Cafelosporin liều 1gr/30 – 50kgP

Liệu trình dùng từ 3 – 7 ngày

Với lợn nái hoặc lợn bột có thể tiêm chậm vào tĩnh mạch vành tai còn đối với lợn con có thể tiêm bắp ở vùng cổ

- Nâng cao sực đề kháng: Có thể sử dụng kết hợp một số loại sau:

VTMC 5% liều 5 – 10 ml/con/ngày (có thể tiêm bắp)

Đường glucoza 5% liều 10 – 20 – 30 ml/con/ngày

Urotropin 10% liều 5 – 10 – 20 ml/con/ngày

Trang 31

Âu đã kết luận rằng: các chủng virus ở mỹ và Châu Âu có sự khác biệt nhau về

bộ gen, tức là virus ở 2 nơi này có sự biến đổi về cấu trúc Điều đó chứng tỏ virus PRRS có khả năng biến chủng ( Otake Setal ,2000)

Nghiên cứu về trình tự gen của chủng virus cường độc ở Trung Quốc, Tian Kegong (2007) thu được kết quả như sau: ở một số ổ dịch, bộ gen của virus PRRS tương đồng 93,2 – 94,2% với bộ gen của chủng VR2332 (Bắc Mỹ) Một

số ổ dịch khác lại thấy bộ gen của virus PRRS tương đồng 63,4 – 64,5% với bộ gen của chủng gây bệnh Lelystad (chủng Châu Âu) Từ đó, Tian kegong cũng thấy các virus đã có sự đột biến ở một số axit amin

Sergi Bruguera sau khi nghiên cứu về tác hại của bệnh PRRS và hiệu quả của vacxin Amervac - PRRS đã cho biết: ở đa số trại để giảm thiệt hại do bệnh gây ra thì lựa chọn tốt nhất là “sống chung với kẻ thù” tức tiêm vacxin phòng bệnh và quản lý chăm sóc nuôi dưỡng Vacxin Amervac - PRRS là vacxin an toàn và hiệu quả cao với cả virus chủng Châu Âu và Bắc Mỹ, giúp kiểm soát bệnh PRRS rất tốt (Sergi Bruguera (2007), “Quyết định xử lý bệnh PRRS an toàn

và hiệu quả với chương trình chủng ngừa bằng vacxin Amervac - PRRS, (Tài

liệu hội thảo Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và bệnh liên cầu khuẩn ở lợn, Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội, tr 45-63)

2.2.2 Tại Việt Nam

Virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta năm 1997, trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam, 10 trong số 51 con có huyết thanh dương tính với vi rút PRRS và cả đàn được tiêu hủy ngay Tuy nhiên, theo điều tra ở một số địa bàn thuộc thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận cho thấy 25% mẫu huyết thanh lợn có kháng thể virus PRRS (596/2.308 mẫu) và 5/15 trại (chiếm 33%) nhiễm virus PRRS (Nguyễn Lương Hiền và cs, 2001) Một nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm ở một trại chăn nuôi công nghiệp tại TP Hồ

Trang 32

20

Chí Minh là 5,97% (Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân, 2003) Năm 2003, tỷ

lệ nhiễm bệnh PRRS trên lợn nuôi tập trung ở Cần Thơ là 66,86% (La Tấn Cường, 2005)

Năm 2007: Dịch bệnh PRRS xuất hiện tại 405 xã, thuộc 75 huyện của 21 tỉnh, thành phố Tổng số gia súc mắc bệnh là 88.945 con, số chết và phải tiêu hủy

mới bắt đầu từ tháng 3/2007 (Hình 2.6)

+ Ngày 12/3/2007, dịch bệnh trên đàn lợn đầu tiên xuất hiện tại tỉnh Hải Dương Sau đó, do không quản lý được việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm, dịch PRRS đã lây lan nhanh và phát triển mạnh tại 7 tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông

Trang 33

21

Hồng bao gồm: Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Phòng với 31.750 lợn mắc bệnh và số lợn chết lên tới 7.296 con Sau hơn 1 tháng tích cực khống chế, dịch PRRS ở vùng này đã tạm thời được dập tắt

+ Ngày 25/6/2007 dịch xuất hiện tại Quảng Nam, dịch bệnh đã lây sang Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng với 33.433 con lợn mắc bệnh và 7.127 con chết

+ Ngày 13/7/2007, tại tỉnh Long An, đã xác định có dịch bệnh PRRS với

91 lợn mắc bệnh và 8 con chết, địa phương đã tiêu huỷ 34 con Điều này cho thấy bệnh đã xuất hiện ở đồng bằng sông Cửu Long (Hình 2.6)

Năm 2008: Từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 7/2008 dịch xảy ra tại 17 tỉnh,

thành phố

+ Ngày 28/03/2008 dịch xuất hiện tại Thanh Hoá và Hà Tĩnh Tỉnh Thanh Hoá có 193.003 lợn bị ốm, tiêu huỷ 192.946 con, Hà Tĩnh với 30.020 con bị ốm, tiêu huỷ 30.015 con Riêng tỉnh Thanh Hoá chiếm 73% tổng số lợn ốm và tiêu huỷ trong cả đợt dịch trên toàn quốc

+ Ngày 01/04/2008, tại Nghệ An đã xuất hiện dịch PRRS với 8.455 con mắc bệnh và tiêu huỷ 8.455 con

+ Ngày 11/04/2008 dịch tái xuất hiện tại Thừa Thiên - Huế làm 16.389 lợn

ốm, tiêu huỷ 16.389 con

+ Ngày 14/04/2008 tại Thái Bình đã xác định có dịch và có 9.447 lợn mắc bệnh, tiêu huỷ 9.447 con

+ Ngày 18/04/2008 dịch xuất hiện tại Nam Định với số lợn mắc bệnh là 4.784 con và có 4.768 con bị tiêu huỷ

+ Trong tháng 4/2008 dịch xảy ở Thái Nguyên (17/04), Ninh Bình (19/04), Vĩnh Long (21/04)

+ Tháng 5 đến tháng 7/2008 dịch xảy ra ở các tỉnh: Bình Phước, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Lào Cai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ninh

Sau đợt dịch này, tổng số lợn ốm là 271.215 con, số tiêu huỷ là 261.854 con (Đậu Ngọc Hào và cs, 2008)

Năm 2009: năm 2009, dịch xảy ra ở 49 xã thuộc 14 huyện của 8 tỉnh, thành phố: Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Quảng Nam, Gia Lai, Bạc Liêu, Bà Rịa

- Vũng Tầu và Đắk Lắk với 5.044 lợn mắc bệnh và 4.363 lợn buộc phải tiêu huỷ

Trang 34

22

(Cục Thú y., 2010)

Năm 2010: xảy ra 02 đợt dịch, đợt thứ nhất tại miền Bắc (Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Ninh, Hòa Bình, Cao Bằng, Sơn La); Đợt thứ hai xảy ra tại một số tỉnh miền Nam (Sóc Trăng, Quảng Trị, Tiền Giang, Lào Cai, Long An, Bình Dương, Bạc Liêu, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Phước, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Hậu Giang, Bà Rịa-Vùng Tàu, Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, KomTum, Đắc Nông, Gia Lai, Trà Vinh, Bình Thuận, Quảng Ninh, Ninh Thuận, Phú Yên, Sơn La, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tĩnh) với 1.978

xã thuộc 286 huyện của 52 tỉnh, thành phố có dịch làm 1.114.166 con mắc bệnh

và trong đàn có lợn bệnh; số chết, tiêu hủy là 438.699 con (Cục Thú y , 2011) Nguyễn Lương Hiền và cs (2001) điều tra tình hình lợn mắc bệnh PRRS ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, đã thấy 25% mẫu huyết thanh heo

có kháng thể PRRS (596/2.308 mẫu) và 33% (5/15 trại) nhiễm PRRS

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2001) cho biết virus PRRS gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi Người và các động vật khác không mắc bệnh nhưng loài vịt trời lại mẫn cảm với virus này Virus PRRS có khả năng nhân lên trong cơ thể vịt trời làm cho mầm bệnh bị reo rắc trên diện rộng

Bùi Quang Anh và cs 2008 nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh PRRS đã kết luận: Lợn nái và lợn con theo mẹ bị mắc với tỷ lệ lớn tỷ lệ chết của các loại lợn mắc PRRS khoảng 15 - 20%, cao hơn so với các nghiên cứu khác (Bùi Quang Anh và cs, 2008a)

Nghiên cứu về chỉ tiêu lâm sàng, chỉ tiêu máu ở lợn mắc PRRS tại Hải Dương và Hưng Yên, Phạm ngọc Thạch, Đàm Văn Phải đã kết luận: Thời gian nung bệnh là 3 - 7 ngày, tần số hô hấp, tim mạch, thân nhiệt đều tăng cao so với sinh lý bình thường; Chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu đều thay đổi, đặc biệt là số lượng bạch cầu; Độ dự trữ kiềm trong máu tăng rất cao, trong khi đó hàm lượng đường huyết, protein tổng số của lợn bệnh lại giảm nhiều so với sinh lý bình thường Đối với lợn nái, số lượng thai chết tỷ lệ thuận với tuổi thai lợn chửa dưới 2,5 tháng có tỷ lệ thai chết là 20%, lợn chửa trên 2,5 tháng có tỷ lệ thai chết

93,75% (Benfield et al., 1992)

Trang 35

23

Lê Văn Năm (2007) bước đầu khảo sát các biểu hiện lâm sàng về bệnh tích đại thể bệnh PRRS tại một số địa phương thuộc Đồng Bằng Bắc Bộ đã thấy: các biểu hiện lâm sàng, bệnh tích đại thể của bệnh PRRS trong đợt dịch năm 2007 trùng hợp với các tài liệu đã công bố Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu chảy chiếm 83,25%, khản tiếng 60,50% ở lợn con theo mẹ, táo bón ở lợn lớn chiếm 50,50%, cao hơn

so với tài liệu đã công bố (Lê Văn Năm, 2007)

Nghiên cứu sự biến động kháng thể mẹ truyền cho con của nái nhiễm virus PRRS, Trần Thị Bích Liên và cs năm (2007) cho thấy: Hiệu giá kháng thể ở lợn con của nái dương tính với PRRS cao hơn của nái âm tính với PRRS Tuy nhiên, lượng kháng thể giảm dần theo tuổi của lợn con và đến 60 ngày tuổi thì lợn con không còn kháng thể (Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân, 2003)

Năm 2012: dịch xảy ra tại 353 xã, phường của 74 quận, huyện thuộc 23 tỉnh, thành phố, với số lợn mắc bệnh trên 77 ngàn con, số lợn chết và buộc phải tiêu hủy gần 45 ngàn con

Từ năm 2013 trở về đây dịch bênh PRRS đã được khống chế không thành dịch tuy nhiên vẫn xảy ra lẻ tẻ ở một vài địa phương

Trang 36

24

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài gồm 3 nội dung nghiên cứu:

- Tình hình chăn nuôi và dịch PRRS ở lợn tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương năm 2014

- Một số đặc điểm dịch tễ của PRRS ở lợn tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương năm 2014

- Nghiên cứu đặc tính sinh học sinh học phân tử chung virus KTY-PRRS-07

3.2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Tình hình chăn nuôi và dịch PRRS ở lợn tại Thanh Hà năm 2014

Vật liệu:

- Thu thập và phân tích số liệu: Số liệu điều tra về tình hình chăn nuôi lợn

và tình hình dịch PRRS ở lợn được thu thập thông qua các tài liệu lưu trữ của Cục thống kê, Chi cục thú y, Trạm thú y (số liệu thứ cấp) về các chỉ tiêu:

Tổng số lợn (con)

Số lợn mắc PRRS (con)

Số lợn bị tiêu hủy (con)

Phương pháp nghiên cứu:

- Tiến hành dùng bảng hỏi (phiếu điều tra) để điều tra các hộ chăn nuôi; Kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ thú y cơ sở để thu thập thêm thông tin

3.2.2 Nghiên cứu đặc sinh học phân tử của chủng virus KTY-PRRS-07

Vật liệu:

Chủng virus KTY-PRRS-07 phân lập được tại Thái Bình năm 2014

Dụng cụ : Máy PCR , máy ly tâm, bộ điện di, buồng đếm Neubauer, tủ ấm, lò

vi sóng

Hóa chất: DMEM, FBS, PBS, Trypsin − EDTA, DMSO, Agarose 1.2%

Phương pháp nuôi cấy tế bào

Để chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo, cần phải chuẩn bị lượng tế bào Marc-145 buồng đếm Neubauer cần thiết

Ngày đăng: 14/07/2021, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Vĩnh Phước (1978) "Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc". NXB Nông nghiệp Hà Nội: 185-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội: 185-203
31. Gorbalenya A.E., Enjuanes L., Ziebuhr J., Snijder E.J., (2006), Nidovirales: Evoling the largest DNA virus genome. Virus Res. Vol 177. pp. 17 – 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nidovirales
Tác giả: Gorbalenya A.E., Enjuanes L., Ziebuhr J., Snijder E.J
Năm: 2006
1. Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm, Văn Đăng Kỳ, Nguyễn Văn Long và Nguyễn Ngọc Tiến (2008). Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS). NXB Nông nghiệp Khác
2. Cục Thú y (2010). Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2009 Khác
3. Cục Thú y (2011). Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2010 Khác
6. Đậu Ngọc Hào, Văn Đăng Kỳ, Nguyễn Văn Long và Tiêu Quang An (2008). Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) ở lợn từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 7/2008 tại một số tỉnh trong cả nước. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XV, số 5/2008, tr. 14 – 20 Khác
7. Jenny G. C. và A.D. Scott (bản dịch - Trần Đức Minh) (2007). Virus gây Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y tập XIV, số 5/2007, tr. 74 – 80 Khác
8. La Tấn Cường (2005). Sự lưu hành và ảnh hưởng của hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (PRRS) ở một số trại chăn nuôi heo tập trung tại Cần Thơ. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Cần Thơ Khác
9. Lê Văn Năm (2007). Kết quả khảo sát bước đầu các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể PRRS tại một số địa phương thuộc Đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Hội thảo Hội chứng rối loạn hô hấp-sinh sản và bệnh liên cầu khuẩn ở lợn, ngày 11/10/2007, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội: 64-77 Khác
10. Nguyễn Ngọc Hải, Trần Thị Bích Liên, Trần Thị Dân và Nguyễn Ngọc Tuân (2007). Chẩn đoán virut gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (PRRS) bằng kỹ thuật RT-PCR. Khoa học Kỹ thuật Thú y tập XIV, số 5/2007, tr. 5 – 12 Khác
11. Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2007). Một số hiểu biết về virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp, tài liệu hội thảo hội chứng rối loạn hô hấp và sinh Khác
13. Nguyễn Lương Hiền (2001). Bước đầu khảo sát hội chứng rối loạn sinh sản và hộ hấp ở một số traị heo giống thuộc vùng thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo khoa học, Phần chăn nuôi thú y 1999-2000 Khác
14. Nguyễn Hoa Lý và Tô Liên Thu (2009). Thuốc khử trùng tiêu độc dùng trong chăn nuôi thú y và biện pháp sử dụng. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, XVI: 82-93 Khác
16. Nguyễn Như Thanh (2007). Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản. Hội thảo Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và bệnh liên cầu khuẩn gây ra ở lợn 10/2007.Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
17. Phạm Ngọc Thạch và cs (2007). Một số chỉ tiêu lâm sàng, chỉ tiêu máu ở lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (bệnh Tai xanh) trên một số đàn lợn tại tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. Hội thảo Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và bệnh do liên cầu gây ra ở lợn 10/2007 Khác
18. Tô Long Thành (2007). Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp của lợn. Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Thú y, tập XIV, số 3/2007, tr. 81 – 88 Khác
19. Tô Long Thành và Nguyễn Văn Long (2008). Kết quả chẩn đoán và nghiên cứu Virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên lợn Việt Nam từ tháng 3/2007 đến 5/2008. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y, XV: 5-8 Khác
20. Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân (2003). Tỷ lệ nhiễm PRRS và một số biểu hiện lâm sàng về rối loạn sinh sản-hô hấp trên heo tại một trại chăn nuôi. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y, X: 79-81.Tiếng Anh Khác
21. Anonymous (1992). Porcine reproductive and respiratory syndrome (PRRS or blue-eared pig disease). Vet. Ret. Vol 130. pp. 87 – 89 Khác
22. Benfield D., J. Christopher-Hennings and E. Nelson (1997). Persistent fetal infection of porcine reproductive and respiratory syndrome (PRRS) virus.Proceedings of the American, Association of Swine Veterinarians Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w