TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Đỗ Hoàng Tuấn Tên luận văn: “Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn, Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu này sử dụng các thông
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Hoàng Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Trần Văn Đức đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Đông Sơn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Hoàng Tuấn
Trang 5MỤC LỤC Lời cam đoan Error! Bookmark not defined
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của luận văn 3
1.4.1 Về lý luận 3
1.4.2 Về thực tiễn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 5
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 5
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quản lý và quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 5
2.1.2 Đặc điểm, ý nghĩa của quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 12
2.1.3 Vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 14
2.1.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 15
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 21
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 23
2.2.1 Kinh nghiệm của một số huyện trong nước 23
2.2.2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 26
Trang 6Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá 28
3.1.2 Điều kiện về đất đai 29
3.1.3 Điều kiện kinh tế-xã hội 29
3.1.4 Khái quát về bảo hiểm xã hội huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa 33
3.2 Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Thu thập tài liệu 37
3.2.2 Xử lý số liệu 38
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 38
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 39
Phần 4 Kết quả và thảo luận 41
4.1 Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện đông sơn, tỉnh Thanh Hóa 41
4.1.1 Công tác quản lý đối tượng thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 41
4.1.2 Công tác quản lý tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 45
4.1.3 Công tác quản lý mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội 47
4.1.4 Công tác lập kế hoạch thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 48
4.1.5 Công tác kiểm tra, thanh tra quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 51
4.1.6 Đánh giá chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội trên đi ̣a bàn huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 55
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện đông sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016-2018 59
4.2.1 Hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 59
4.2.2 Năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý thu bảo hiểm xã hội 61
4.2.3 Nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động 62
4.2.4 Công tác tuyên truyền về hệ thống pháp luật và quy định về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 64
4.2.5 Phương pháp quản lý thu, bảo hiểm xã hội bắt buộc 66
4.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa 66
Trang 74.3.1 Nhóm các giải pháp tổ chức thu bảo hiểm xã hội 66
4.3.2 Nhóm các giải pháp cho cơ quan bảo hiểm xã hội 72
4.3.3 Nhóm giải pháp cho người sử dụng lao động và người lao động 80
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Kiến nghị 83
5.2.1 Kiến nghị đối với các cơ quan thu nhà nước 83
5.2.2 Kiến nghị với bảo hiểm xã hội tỉnh 83
Tài liệu tham khảo 85
Phụ lục 87
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHXHBB Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình dân số, lao động của huyện Đống Sơn giai đoạn 2016-2018 32 Bảng 3.2 Mô tả đối tượng và mẫu điều tra 38 Bảng 4.1 Mức độ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của các đơn vị và người
lao động năm 2018 42 Bảng 4.2 Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội
huyện Đông Sơn giai đoạn 2016 – 2018 43 Bảng 4.3 Tổng quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã
hội huyện Đông Sơn qua các năm 46 Bảng 4.4 Tổng hợp điều tra thu nhập và tiền lương đóng bảo hiểm xã hội tại
một số doanh nghiệp 48 Bảng 4.5 Kế hoạch thu và kết quả thu bảo hiểm xã hội bắt buộc của bảo hiểm xã
hội huyện Đông Sơn giai đoạn 2016-2018 49 Bảng 4.6 So sánh kết quả thực hiện thu bảo hiểm xã hội bắt buộc so với kế
hoạch được giao từ năm 2016 đến năm 2018 51 Bảng 4.7 Các hình thức kiểm tra giai đoạn 2016 – 2018 52 Bảng 4.8 Số tiền nợ đọng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội huyện
Đông Sơn, giai đoạn 2016-2018 53 Bảng 4.9 Bảng tổng hợp ý kiến về cơ chế chính sách và pháp luật về bảo hiểm
xã hội tại huyện Đông Sơn 59 Bảng 4.10 Bảng tổng hợp ý kiến đánh giá của đối tượng tham gia và đối tượng được
hưởng về thủ tục văn bản hướng dẫn thực hiện luật bảo hiểm xã hội 60 Bảng 4.11 Bảng tổng hợp ý kiến đánh giá về thái độ phục vụ, thời gian giải quyết
của đội ngũ cán bộ làm bảo hiểm xã hội 62 Bảng 4.12 Tổng hợp mức độ hiểu biết của chủ sử dụng lao động về bảo hiểm xã
hội bắt buộc với các đơn vị điều tra 63 Bảng 4.13 Tổng hợp mức độ hiểu biết của người lao động về bảo hiểm xã hội
bắt buộc với các đơn vị điều tra 64
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức bảo hiểm xã hội huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa 34 Hình 4.1 Số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội năm 2018 43 Hình 4.2 Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội giai đoạn 2016-2018 44 Hình 4.3 Kế hoạch thu và kết quả thu bảo hiểm xã hội bắt buộc của bảo hiểm xã
hội huyện Đông Sơn giai đoạn 2016-2018 50 Hình 4.4 Tình hình nợ đọng của từng khối tham gia bảo hiểm xã hội giai đoạn
2016 - 2018 53
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Đỗ Hoàng Tuấn
Tên luận văn: “Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn,
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu này sử dụng các thông tin, số liệu đã được công bố từ giáo trı̀nh, bài giảng, các báo cáo, các công trình nghiên cứu đã công bố của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến bảo hiểm xã hội bắt buộc
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã chọn đối tượng điều tra, gồm: Lãnh đạo và cán bộ quản lý thu bảo hiểm xã hội, chủ doanh nghiệp và người lao động về tình hình thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội của chủ doanh nghiệp
và người lao động, tình hình quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Đông Sơn Đối với thông tin sơ cấp sau khi thu thập, được làm sạch và tiến hành tổng hợp
xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, tiến hành phân tổ thống kê để làm cơ sở cho việc so sánh, phân tích và rút ra những kết luận thực tiễn
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được tiến hành phân tổ thống kê và tổng hợp thống kê, tính toán các loại số tuyệt đối, tương đối, số bình quân, các chỉ số Sử dụng
Trang 12các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân để so sánh và phân tích làm rõ mối quan hệ của các hoạt động… Từ đó, đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn
Số liệu sau khi phân tổ thống kê đề tài tiến hành so sánh giữa các chỉ tiêu với nhau hoặc so sánh các năm với nhau để thấy sự biến động và sự khác biệt từ đó có những nhận định về thực trạng để làm căn cứ để đưa ra những giải pháp cho đề tài
Kết quả nghiên cứu chính và kết luận:
Nghiên cứu đã đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc: Khái niệm, vai trò, nội dung của thu bảo hiểm xã hội bắt buộc Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả thu bảo hiểm xã hội bắt buộc Thông qua tổng kết và rút kinh nghiệm từ thực tiễn về bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới cũng như thực tiễn kết quả thu bảo hiểm xã hội của bảo hiểm xã hội các huyện để rút ra những kinh nghiệm cho nghiên cứu
Nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc: Năm 2018, bảo hiểm xã hội huyện Đông Sơn thực hiện việc thu thu BHXH bắt buộc đối với với 329/520 đơn vị, chiếm 63.3% số đơn vị đang hoạt động trên địa bàn huyện; với số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 14.144/18.423 lao động trong các đơn vị chiếm 76,8% Đến cuối năm 2018, bảo hiểm xã hội huyện đã mở rộng thêm được 17 đơn vị với 206 lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc Trong những năm qua bảo hiểm xã hội huyện Đông Sơn đã hoàn thành khá tốt công tác thu bảo hiểm xã hội theo kế hoạch của BHXH tỉnh giao
Nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả thu bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm: Cơ chế chính sách pháp luật; Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của người lao động và người sử dụng lao động; Phương thức thu, chi bảo hiểm xã hội; Năng lực đội ngũ cán bộ; Cơ sở vật chất kỹ thuật
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế và nâng cao kết quả hoạt động của công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc đòi hỏi rất cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp về công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc như: Giải pháp về công tác tổ chức thu bảo hiểm
xã hội bắt buộc; giải pháp cho cơ quan bảo hiểm xã hội như đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; giải pháp nâng cao nhận thức về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao động
Trang 13THESIS ABSTRACT Master candidate: Do Hoang Tuan
Thesis title: “Mandatory social insurance collection management in Dong Son disttict,
Thanh Hoa province”
Educational institution: Vietnam National University of Agriculture
General objectives:
To evaluate the current status of mandatory social insurance collection management in Dong Son district, Thanh Hoa province; based on that, to propose the main solutions to enhance the mandatory social insurance collection management in Dong Son district
In order to conduct the research, we have selected the researched objects which are: managers and staffs who manage social insurance collections, enterprise employers and employees These researched objects have been questioned about the execution of social insurance policy of employers and employees, the mandatory social insurance collection management in Dong Son district
The primary data after being collected, has been processed by Microsoft Excel, statistically classified for analysis, comparison and practical conclusions
The data after being collected shall be statistically classified and statistically
Trang 14recapitulated, calculated for absolute value, relative value, average value and indexes These values shall be utilized to compare and analyze the relation of activities Based on that, to evaluate the affection scale of key factors to the mandatory social insurance collection management in Dong Son district
The data after being classified will be utilized to compare between indexes or years to indicate the trending and difference; based on that to provide the consideration
of current status from which to propose solutions for the research
Main outcomes and conclusions:
The research has mentioned the theoretical basis system of mandatory social insurance collection: concept, definition, role and content of mandatory social insurance collection It also indicated the key factors affecting the mandatory social insurance collection Based on the practical experience of social insurance on several countries worldwide as well as practical outcomes of mandatory social insurance collection in other districts, the research has learnt its own lesson
The research has evaluated the current status of mandatory social insurance collection management: in 2018, Social Insurance unit of Dong Son district has performed the SI collection on 329/520 units, accounted for 63.3% active units of the district; total employees participating in mandatory SI is 14,144/18,423 employees, accounted for 76.8% By the end of 2018, District SI has expanded its collection for 17 units with 206 employees participating in mandatory SI During the past years, Dong Son district SI has well performed the planned collection of social insurance according
to the Provincial plan
The research has indicated the key factors affecting to the outcomes of mandatory social insurance collection: Government policies; Awareness, mentality, habits of employers and employees; SI collection and expenditure methods; Competence of officers; Infrastructure
In order to overcome the limitations and enhance the outcomes of mandatory social insurance collection, it is required to perform multiple synchronized solutions on mandatory social insurance collection such as: solution for execution and performance
of mandatory SI collection; solution for SI agency such as training to improve the competence of officers, enhance the inspection and monitoring; solution to enhance the knowledge and awareness on mandatory social insurance of employers and employees
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, coi trọng đến chính sách an sinh xã hội nói chung, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) nói riêng Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một công quỹ độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH Thu đóng góp BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng góp của các bên
tham gia BHXH Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọngBHXH từ các cơ quan
đơn vị, từ người tham gia BHXH Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng
Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thu BHXH có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện chính sách BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH Đồng thời đây cũng là một khâu bắt buộc đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình Do vậy công tác thu BHXH là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao, thực hiện thường xuyên, liên tục, kéo dài trong nhiều năm và có sự biến động về mức đóng và số lượng người tham gia
Thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên
cơ sở nguyên tắc có đóng, có hưởng, đặt ra yêu cầu đối với thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Do vậy, quản lý thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH Để thu BHXH đạt hiệu quả cao thì tăng cường quản lý thu BHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất, khoa học trong cả hệ thống, từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả và quản lý tiền thu BHXH…Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách BHXH thời gian qua còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất là trong công tác thu
Trang 16BHXH đã và đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm giải quyết
Mặt khác, trong tình hình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nhiều DN mới được thành lập và cũng có không ít doanh nghiệp không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường, hoặc làm ăn thua lỗ kéo dài phải giải thể, phá sản Dẫn đến những biến động tăng, giảm, di chuyển lao động rất phức tạp và xảy ra thường xuyên, liên tục khó khăn cho công tác quản lý người tham gia cũng như thu BHXH Do vậy hoạt động thu BHXH là rất khó khăn Thực trạng đặt ra đó đòi hỏi cần phải có những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH làm cơ sở để giải quyết chế độ chính sách cho người tham gia, đảm bảo tăng trưởng quỹ BHXH và thực hiện công bằng xã hội
Bảo hiểm xã hội huyện Đông Sơn là tổ chức sự nghiệp BHXH cấp huyện, chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của BHXH tỉnh Thanh Hóa, sự quản lý về mặt hành chính Nhà nước của UBND huyện Đông Sơn, có nhiệm vụ quản lý Thu và tổ chức Chi trả các chế độ BHXH trên địa bàn khu vực Trong thời gian vừa qua quản
lý thu BHXH tại BHXH huyện Đông Sơn còn bộc lộ những hạn chế như: số đơn
vị, số lao động chưa tham gia BHXH còn lớn, tỷ lệ gia tăng về mức lương tham gia BHXH hàng năm chưa cao, số đơn vị nợ đọng BHXH tăng nhanh, việc thực hiện xử lý nợ đọng còn mang tính tự phát, thiếu sự phối hợp giữa cơ quan BHXH với các ban ngành và những đơn vị quản lý Nhà nước trên địa bàn Vì lý do đó, đề
tài: “Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh
Thanh Hóa” được lựa chọn nghiên cứu để khắc phục những hạn chế nói trên,
nhằm mở rộng và tăng trưởng nguồn thu BHXH, phát triển bền vững quỹ BHXH trên địa bàn huyện, và là bài học cho quản lý thu BHXH bắt buộc tại các địa phương khác
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn,
tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c
Trang 17- Đánh giá thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Đông Sơn, các doanh nghiệp, người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa nghiên cứu
Số liệu thứ cấp thu thập tập trung trong 3 năm gần đây (2016, 2017, 2018)
Dữ liệu sơ cấp thu thập vào 2 năm (2018, 2019)
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
1.4.1 Về lý luận
Đề tài đã làm sáng tỏ những vẫn đề lý luận về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc: Khái niệm, vai trò, nội dung của quản lý thu BHXH bắt buộc
Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH bắt buộc Thông qua tổng kết và rút kinh nghiệm từ thực tiễn về quản lý thu BHXH của các huyện khác để rút ra những kinh nghiệm cho quản lý thu BHXHBB tại huyện Đông Sơn, Thanh Hóa
Trang 181.4.2 Về thực tiễn
Luận văn đã trình bày với nhiều dẫn liệu và minh chứng sắc nét để phân tích thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá theo nhiều khía cạnh khác nhau, nêu lên được những thành tựu đạt được, những mặt còn tồn tại, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn, để từ đó đưa ra những giải pháp giúp công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá được tốt hơn Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tốt để áp dụng vào thực tế về công tác quản lý thu BHXHBB của huyện, là tài liệu quý giúp các địa phương khác có thể tham khảo
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quản lý và quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
Trên thế giới, BHXH ra đời cách đây hàng trăm năm và trở thành giải pháp hữu hiệu giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống và trong quá trình lao động BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển Để đảm bảo quyền lợi cơ bản cho người lao động trên toàn thế giới và an toàn
xã hội, ILO ban hành Công ước số 102 ngày 04/6/1952 về quy phạm tối thiểu an
toàn xã hội, có quy định 09 chế độ trợ cấp gồm: “chế độ chăm sóc y tế; chế độ trợ
cấp TNLĐ-BNN; chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp thất nghiệp; chế độ trợ cấp tàn tật; chế độ trợ cấp tuổi già; chế độ trợ cấp tiền tuất
và chế độ trợ cấp gia đình” (Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội, 1993)
Ở nước ta hệ thống an sinh xã hội được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm từ rất sớm, đặc biệt chính sách BHXH Năm 1941, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh
về nước, trong 10 chính sách của Việt Nam, thì chính sách BHXH được Người đề cập khá toàn diện, với việc ký hàng loạt Sắc lệnh: số 54 (03/11/1945) quy định điều kiện về hưu cho công chức các ngạch; số 58 (10/11/1945) về việc nghỉ gia hạn không lương cho công chức tất cả các ngạch; số 74 (17/12/1945) quy định chế độ hưu cho các nhân viên, công chức mắc bệnh lao, bệnh phong phải nghỉ việc dài ngày Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BHXH đã được thể hiện trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 Điều 32 Hiến pháp 1959 quy định: "người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động Nhà nước mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để đảm bảo cho mọi người được hưởng quyền đó"
Từ năm 1995, cơ chế quản lý BHXH được đổi mới toàn diện bằng việc Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH, đặc biệt Luật BHXH được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 Khi chưa có Luật BHXH, khái niệm về BHXH được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau:
Trang 20- Ở góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết
các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và bảo vệ
sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia
- Ở góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh
mối quan hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong
xã hội
- Ở góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình
thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước
- Ở góc độ thu nhập: BHXH là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập khi
người lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập
Khi Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 thì khái niệm về BHXH được khái quát đầy đủ nhất như sau:
“Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
nguời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo biểm xã hội”
2.1.1.2 Khái niệm về quản lý
Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý:
– Theo Haror Koontz, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định
– Theo Mariparker Follit (1868 – 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”
Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của
tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”
Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức” Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó một con người riêng lẻ không thể đạt đến Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và
Trang 21quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao
2.1.1.3 Khái niệm, đối tượng, mục tiêu của bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Khái niệm BHXH bắt buộc
- Hiện nay BHXH được phân loại ở hai hình thức phổ biến: BHXH bắt buộc, và BHXH tự nguyện
Hai hình thức đều đảm bảo bù đắp, thay thế một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro, giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, thất nghiệp, tử tuất
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và
người sử dụng lao động phải tham gia (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2006)
* Đối tượng của BHXH bắt buộc
- Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
+ Cán bộ, công chức, viên chức;
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
Trang 22+ Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;
+ Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm
xã hội bắt buộc
- Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các công ty nhà nước thành lập theo luật doanh nghiệp nhà nước đang trong thời gian chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp
+ Cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp;
+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;
+ Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật;
+ Cơ sở ngoài công lập hoạt động trong lĩnh vực như: Giáo dục – đào tạo,
y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, xã hội, dân
số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em và các ngành sự nghiệp khác;
+ Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo luật hợp tác xã; + Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn
sử dụng trả tiền lương, tiền công cho người lao động;
+ Cơ quan tổ chức cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoạc tham gia
có quy định khác;
+ Tổ chức bảo hiểm xã hội, bao gồm: BHXH tỉnh, BHXH huyện, thị xã,
thành phố (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2006)
* Mục tiêu của chính sách BHXH bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động
và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải tham gia Mức đóng được xác định bằng mức tiền lương, tiền công thực tế nhân với tỷ lệ phần trăm theo quy định từng thời kỳ Khi tham gia BHXH bắt buộc, người lao động được hưởng đầy đủ năm chế độ BHXH hiện hành (Hưu trí, tử tuất, TNLĐ-BNN, ốm đau, thai sản) Mặc dù
là loại hình bắt buộc nhưng xét về bản chất nội hàm năm mục tiêu sau:
Trang 23Một là, BHXH bắt buộc với mục tiêu mang tính xã hội, tính nhân đạo và
nhân văn sâu sắc
Tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn trong các chế độ BHXH quy định bản chất của BHXH, đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc và trợ cấp cho các gia đình đông con Đối với các rủi ro như trên, nhiều khi từng cá nhân không đủ khả năng tài chính để khắc phục, do vậy Nhà nước ban hành các quy định để huy động mọi người trong xã hội đóng góp một khoản nhất định cùng với Nhà nước hình thành quỹ BHXH để chi trả cho một số người gặp rủi ro cần khắc phục hay do điều kiện sinh học như tuổi tác, môi trường sống, điều kiện làm việc mà NLĐ phải nghỉ làm việc, khi đó cần có một khoản kinh phí để đảm bảo cuộc sống cho chính bản thân và gia đình họ
Mục tiêu của BHXH là tạo ra màng lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả các thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do những biến cố hoặc những "rủi ro xã hội" Vì vậy, để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, BHXH phải dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau Có thể thấy rõ bản chất của BHXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi biến cố xã hội bất lợi BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân văn cao đẹp, mọi người trong xã hội với tư cách là một công dân, họ phải được đảm bảo mọi mặt để phát huy đầy đủ những khả năng của mình,
không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo đều bình đẳng về BHXH
Hai là, BHXH bắt buộc là một công cụ để quản lý xã hội, là sự bảo đảm của
Nhà nước để ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và an toàn xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển Đồng thời đây là quá trình phân phối lại thu nhập xã hội
Bảo hiểm xã hội được coi là một chính sách xã hội quan trọng, song hành cùng với chính sách kinh tế, nhằm bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho mọi NLĐ, chống các tệ nạn xã hội, góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy sản xuất phát triển Với tư cách là công cụ để quản lý xã hội, Nhà nước quy định quyền và trách nhiệm giữa các bên tham gia BHXH, đặc biệt mối quan hệ giữa NLĐ và
Trang 24NSDLĐ; yêu cầu NSDLĐ phải thực hiện những cam kết, đảm bảo điều kiện làm việc, nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ, trong đó có nhu cầu cơ bản về tiền lương, tiền công, chăm sóc sức khoẻ khi bị ốm đau, tai nạn Đây là những ràng buộc mang tính nguyên tắc và thông qua đó Nhà nước thực hiện quản
lý nhà nước về BHXH BHXH dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia, gồm NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước trong một số trường hợp, thực chất quỹ BHXH là quỹ của NLĐ tiết kiệm được, bất luận trong hoàn cảnh nào Nhà nước phải đứng sau hỗ trợ, duy trì, bảo toàn để thực hiện các chế độ trợ cấp cho NLĐ, nếu không thì xã hội sẽ mất ổn định, kinh tế sẽ trì trệ Ngược lại, nếu quỹ BHXH được hình thành và phát triển lớn mạnh sẽ có khoản nhàn rỗi để đầu tư trở lại giúp cho sản xuất phát triển
Ba là, BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập xã hội Đây là quá trình
phân phối lại theo hướng có lợi cho người tham gia BHXH khi gặp phải rủi ro trong lao động sản xuất và đời sống xã hội, vì chính việc tổ chức thu, chi BHXH
là quá trình thực hiện phân phối lại thu nhập: Thu BHXH dựa trên cơ sở mức tiền lương, tiền công do Nhà nước quy định và mỗi người tham gia có một mức đóng BHXH khác nhau tương ứng với mức tiền lương, tiền công đó; hằng năm Nhà nước còn trích một khoản nhất định từ Ngân sách để hỗ trợ quỹ BHXH (Quốc hội, 2006) Chi BHXH là việc trả tiền cho người có nhu cầu phát sinh về BHXH dựa trên mức đóng và thời gian đóng BHXH trong chế độ dài hạn, nhưng trong chế độ ngắn hạn thì không dựa trên nguyên tắc này mà có sự chia sẻ giữa người khoẻ cho người ốm, người trẻ cho người già
Bốn là, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước cho người già, người bị thất
nghiệp, góp phần bảo đảm an sinh xã hội bền vững;
Năm là, đảm bảo sự bình đẳng về vị trí xã hội của người lao động trong
các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển Xóa bỏ nhận thức trước đây cho rằng chỉ có làm việc trong khu vực nhà nước, là công nhân viên chức nhà nước mới được gọi là có việc làm và được hưởng các chính sách BHXH, BHTN, BHYT
2.1.1.4 Khái niệm về quỹ, quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Khái niệm quỹ BHXH bắt buộc
Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành từ nguồn tiền nộp của người sử dụng lao động, người lao động tham gia BHXH bắt buộc, tiền sinh lời của hoạt
Trang 25động đầu tư từ quỹ, hỗ trợ của nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung là quỹ dự trữ tài chính để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm vì những "rủi ro xã hội" như
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất (Quốc hội
nước CHXHCN Việt Nam, 2006)
* Khái niệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc:
Trong hoa ̣t động sự nghiệp BHXH, thu BHXH bắt buộc có vai trò vô cùng quan tro ̣ng, vì thu hình thành nên quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ này là quỹ tập trung, thống nhất và độc lập với Ngân sách Nhà nước Việc thu BHXH căn cứ vào các quy định của pháp luật liên quan chặt chẽ tới việc giải quyết chính sách, chế
độ Nếu thu BHXH và quản lý việc đóng góp không đa ̣t yêu cầu thì sẽ xảy ra nhiều hậu quả như: không đảm bảo việc cân đối quỹ, không đảm bảo quyền lợi của người tham gia,… (trang 78, Giáo trình Quản trị bảo hiểm)
“Quản lý thu BHXH chính là quản lý hoạt động thu, nộp BHXH, xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ của người tham gia BHXH và đồng thời việc xác nhận đó là căn cứ để thực hiện chính sách, chế độ BHXH, đảm bảo quyền lợi đối với đối tượng tham gia BHXH đúng, đủ, kịp thời, đáp ứng mọi yêu cầu, quy định của pháp luật” (trang 79, Giáo trình Quản trị bảo hiểm)
Quản lý thu BHXH là quy trình thu của cơ quan BHXH, xác nhận chính xác số lao động, số tiền phải thu, số tiền đã thu, số tiền lãi chậm nộp, tiền lãi truy thu, số tiền nợ, số tiền nộp thừa của người sử dụng lao động; thời gian nộp, mức tiền lương, tiền công nộp BHXH của người lao động, đồng thời xác nhận việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH của cơ quan BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người tham gia BHXH từng thời điểm và theo yêu cầu quản lý Tình hình chấp hành các nguyên tắc, quy định của Nhà nước về thu BHXH và một số nội dung khác
Hoa ̣t động thu BHXH có tính chất đặc thù khác với các hoạt động khác đó là: đối tượng thu BHXH rất đa da ̣ng và phức ta ̣p do đối tượng tham gia bao gồm
ở tất cả các ngành nghề khác nhau với nhiều độ tuổi khác nhau, mức thu nhập khác nhau… ho ̣ còn rất khác nhau về địa lý, vùng miền, cho nên nếu không có sự chỉ đa ̣o thống nhất thì hoa ̣t động thu BHXH sẽ không thể đa ̣t kết quả cao
* Quan niệm về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc:
Trang 26Thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng tham gia phải đóng BHXH theo mức phí quy định Trên cơ
sở đó hình thành, tạo lập một quỹ tiền tệ nhằm mục đích bảo đảm cho việc chi trả các chế độ BHXH và hoạt động của tổ chức sự nghiệp BHXH (Trần Văn Định, 2016)
2.1.2 Đặc điểm, ý nghĩa của quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.2.1 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội bắc buộc
Bảo hiểm xã hội bắt buộc được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chế
độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản
lý hoạt động BHXH Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có điều kiện theo chế độ BHXH quy định Đó chính
là mối quan hệ của bên tham gia BHXH (Mạc Tiến Anh, 2005)
Từ mối quan hệ về BHXH, nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH hàm chứa và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Bảo hiểm xã hội là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH
- Bảo hiểm xã hội là một hàng hoá tư nhân mang tính bắt buộc do nhà nước cung cấp, nên việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi người lao động do nhà nước quản lý và cung cấp dịch vụ Hiện nay ở Việt Nam, việc tham gia BHXH là bắt buộc, do nhà nước quản lý và cung cấp (Mạc Tiến Anh, 2005)
- Cơ chế hoạt động của BHXH theo cơ chế 3 bên: Cơ quan BHXH – người sử dụng lao động – người lao động, cộng thêm cơ chế quản lý nhà nước BHXH do nhà nước đứng ra làm, do vậy thực sự chưa có thị trường BHXH ở Việt Nam Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam thể hiện độc quyền: cung BHXH do nhà nước độc quyền, cầu thì bắt buộc và mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ kém
- Thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, thực hiện nhiệm vụ thu, quản lý chi trả các chế độ BHXH chặt chẽ, đúng đối tượng và đúng thời hạn Nguồn đóng góp của các bên tham gia được đưa vào quỹ riêng,
Trang 27độc lập, với ngân sách nhà nước và quỹ BHXH được quản lý tập trung thống nhất và sử dụng theo nguyên tắc hạch toán cân đối thu chi – theo quy định của pháp luật, bảo toàn và phát triển (Mạc Tiến Anh, 2005)
- Người lao động được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHXH, có chia sẻ rủi ro và thừa kế Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đén thu nhập (tiền lương, tiền công) của người lao động Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của người lao động
2.1.2.2 Ý nghĩa của bảo hiểm xã hội bắc buộc
Ra đời và phát triên cùng với nền kinh tế thị trường, BHXH đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của BHXH ngày càng cao và với những đặc trưng riêng có của mình BHXH đã có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế xã hội như sau:
- Đối với người lao động: BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho những người lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh, nhanh chóng khắc phục những khó khăn bằng cách tạo cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện sinh hoạt thuận lợi… giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm trong công tác, tạo cho họ niềm tin vào tương lai, từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như tinh thần nỗ lực vì sự phát triển của doanh nghiệp, cơ quan họ đang làm nói riêng
và cho toàn xã hội nói chung (Mạc Tiến Anh, 2005)
- Đối với xã hội:
+ Cần phải khẳng định rằng, BHXH là một loại dịch vụ công Hoạt động BHXH giống như một doanh nghiệp sản xuất ra những dịch vụ Bảo hiểm cho người lao động, một loại dịch vụ cần cho mọi người chứ không phải chỉ là cán
bộ, công nhân viên chức Khi các tổ chức này sản xuất và cung ứng ngày càng nhièu loại dịch vụ bảo hiểm, đáp ứng đa dạng các nhu cầu của người dân thì giá trị của những lại dịch vụ này ngày càng tăng và là một bộ phận trực tiếp làm gia tăng tổng sản phẩm xã hội (Mạc Tiến Anh, 2005)
+ Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế -xã hội của nhà nước, BHXH sẽ giải quyết những vấn đề rủi ro xảy ra đối với người lao đông, góp phần tích cực của minh vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của họ
và tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động xã hội
Trang 28+ Bảo hiểm xã hội cũng là một chính sách nhằm thực hiện công bằng xã hội, là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Sự phân phối lại thu nhập này được tiến hành qua 2 cách: phân phối lại giữa người khoẻ và người già, giữa nam và nữ, người làm việc và người đã nghỉ hưu, người trẻ tuổi và người cao tuổi và người chưa được hưởng trợ cấp Đây được coi là phân phối lại chiều ngang Còn phân phối lại theo chiều dọc là thực hiện điều tiết giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa người giàu và người nghèo Đây là mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô (Mạc Tiến Anh, 2005)
2.1.3 Vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Vai trò quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tạo sự thống nhất trong hoạt động thu Bảo hiểm xã hội Hoa ̣t động thu BHXH có tính chất đặc thù khác với các hoa ̣t động khác đó là: đối tượng thu BHXH rất đa da ̣ng và phức ta ̣p do đối tượng tham gia bao gồm ở tất cả các ngành nghề khác nhau với nhiều độ tuổi khác nhau, mức thu nhập khác nhau… ho ̣ còn rất khác nhau về địa lý, vùng miền, cho nên nếu không có sự chỉ đa ̣o thống nhất thì hoa ̣t động thu BHXH sẽ không thể đa ̣t kết quả cao (Dương Xuân Triệu, 2000)
Chính nhờ có yếu tố quản lý đã ta ̣o sự thống nhất ý chí trong hệ thống bảo hiểm xã hội bao gồm các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH Sự thống nhất giữa những người bị quản lý với nhau và giữa người bị quản lý với người quản lý Chỉ có ta ̣o nên sự thống nhất trong đa da ̣ng thì quản lý mới có kết quả và giảm chi phí tiền của và công sức
Quản lý thu BHXH thông qua công tác lập kế hoa ̣ch cũng đã quy định rõ
sự phân công trách nhiệm thu BHXH cho các cấp trong hệ thống BHXH, tuy nhiên để hoa ̣t động thu được thống nhất, rất cần có sự hợp tác giữa các bộ phận tài chính, bộ phận tuyên truyền, hệ thống ngân hàng… như vậy, chính thông qua hoa ̣t động quản lý đã thống nhất được những nội dung quan trọng của hoa ̣t động thu BHXH đó là: thống nhất về đối tượng thu, thống nhất về biểu mẫu, hồ sơ thu, quy trình thu, nộp BHXH Đảm bảo hoạt động thu Bảo hiểm xã hội ổn định, bền vững, hiệu quả (Dương Xuân Triệu, 2000)
Tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoa ̣t động thu BHXH là những mục tiêu mà bất kỳ một hệ thống BHXH của quốc gia nào cũng mong muốn đa ̣t được Bởi vì khi mục tiêu này đa ̣t được cũng có nghĩa là hệ thống an sinh xã hội được
Trang 29đảm bảo, đây là điều kiện tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội Song những mục tiêu này chỉ đa ̣t được khi:
- Hoa ̣t động thu BHXH được định hướng một cách đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ
Thông qua quá trình quản lý đã định hướng công tác thu BHXH trên cơ sở xác định mục tiêu chung của quản lý hoa ̣t động thu BHXH đó là: thu đúng, thu
đủ, không để thất thu từ đó hướng mo ̣i nỗ lực của cỏc nhõn, tổ chức vào mục tiêu chung đó (Dương Xuân Triệu, 2000)
- Hoa ̣t động thu BHXH được điều hoà, phối hợp nhịp nhàng
Nhờ thực hiện nhiệm vụ chỉ huy của người quản lý mà quy trình thu BHXH được tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn nhịp nhàng giữa các cá nhân trong hệ thống BHXH từ đó giúp tăng cường tính ổn định trong
hệ thống nhằm đa ̣t được mục tiêu quản lý thu BHXH
- Ta ̣o động lực cho mo ̣i cá nhân trong tổ chức
Thông qua công tác đánh giá, khen thưởng những người, những tổ chức thu BHXH tốt, đa ̣t hiệu quả cao; uốn nắn những lệch la ̣c, sai sót của cá nhân trong tổ chức có biểu hiện làm thất thoát số thu hoặc số thu đa ̣t hiệu quả thấp so với tiềm năng hiện có cũng góp phần đảm bảo hoa ̣t động thu BHXH ổn định, bền vững, hiệu quả
Kiểm tra, đánh giá hoạt động thu Bảo hiểm xã hội Thu bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung của tài chính BHXH, mà thông thường bất kỳ một hoa ̣t động nào liên quan đến hoa ̣t động tài chính đều rất rễ mắc phải tình tra ̣ng gây thất thoát, vô ý, hoặc cố ý làm sai Vì vậy, nhiệm vụ mà người quản lý phải đảm nhiệm
đó là: kiểm tra hoa ̣t động thu BHXH để đánh giá một cách kịp thời và toàn diện những việc đã làm được và những việc chưa làm được, phát hiện và xử lý kịp thời những sai pha ̣m về Luật BHXH Nếu hoa ̣t động quản lý được thực hiện thường xuyên, sát sao thì công tác kiểm tra, đánh giá sẽ thuận tiện hơn, kết quả đánh giá sẽ sát với thực tiễn diễn ra ta ̣i các đơn vị (Dương Xuân Triệu, 2000)
2.1.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.4.1 Quản lý đối tượng thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội tỉnh, huyện có trách nhiệm:
Lập danh sách các đơn vị trên địa bàn; thông báo, hướng dẫn đơn vị kịp
Trang 30thời đăng ký tham gia, đóng đủ BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động theo quy định của pháp luật
Định kỳ 3 tháng hoặc đột xuất, báo cáo UBND cùng cấp, cơ quan quản lý lao động địa phương tinh hình chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN của các đơn vị trên địa bàn Các trường hợp đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHXH, BHYT, BHTN: không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHXH, BHYT, BHTN không đủ số lao động, không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, cơ quan BHXH lập biên bản, kiến nghị xử lý theo quy định (Luật BHXH, 2014)
- Người lao động đồng thời có từ 02 HĐLĐ trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH, BHTN theo HĐLĐ giao két đầu tiên, đóng BHYT theo HĐLĐ có mức tiền lương cao nhất
- Người lao động làm việc theo HĐLĐ trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước thi đóng BHXH, BHYT, BHTN căn cứ tiền lương ghi trong HĐLĐ Tiền lương ghi trong HĐLĐ phụ thuộc vào chế độ tiền lương mà đơn vị thực hiện đói với người lao động:
- Đối với người lao động nghỉ việc, di chuyển, phải thu hồi thẻ BHYT còn hạn sử dụng của người lao động (trừ trường hợp chết; chờ giải quyết chế độ hưu trí, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp hằng tháng)
- Đơn vị chuyển địa bàn, chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản phải đóng
đủ BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động đến thời điểm di chuyển chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản để làm căn cứ chót sổ BHXH giải quyết chế độ cho người lao động (Luật BHXH, 2014)
- Đơn vị được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất vẫn phải đóng vào quỹ ốm đau và thai sản, quỹ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, quỹ BHYT, quỹ BHTN Hết thời hạn được tạm dừng đóng, đơn vị tiếp tục đóng BHXH, BHYT, BHTN theo phương thức đã đăng ký và đóng bù cho thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất Tiền đóng bù không bị tính lãi chậm đóng Trong thời gian được tạm dừng đóng, nếu có người lao động nghỉ việc, di chuyển hoặc giải quyết chế độ BHXH thì đơn vị đóng đủ tiền BHXH, BHYT, BHTN và tiền lãi chậm đóng (nếu có) đối với người lao động đó để chốt sổ BHXH
- Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó Thời gian này không được tính để hưởng BHXH, trừ trường hcrp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản
Trang 31Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHYT
- Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì đơn vị và người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, thời gian này vẫn được tính là thời gian tham gia BHXH, không được tính là thời gian đóng BHTN; phải đóng BHYT do
cơ quan BHXH đóng (Luật BHXH, 2014)
2.1.4.2 Quản lý mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quỹ BHXH đều được hình thành từ nguồn đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước hỗ trợ, đóng thêm và các nguồn thu khác từ các cá nhân, tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi từ các hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi Tuy nhiên, phương thức đóng góp và tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, thu nhập, tiền lương, các yếu tố sinh học, tuổi thọ, … mà mỗi thời kỳ quy định mức đóng góp cho phù hợp (BHXH Việt Nam, 2011)
Với Luật BHXH được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thực hiện chı́nh sách BHXH, phù hợp với thông lệ quốc tế khi Việt Nam tham gia WTO Tỷ lệ thu BHXH là 20% đến hết năm 2009, sau đó năm 2010 mức đống là 22%, 2012 mức đóng là 24% và ổn định từ năm 2014 với mức đóng là 26%
Cơ quan BHXH căn cứ hồ sơ của đơn vị và người tham gia để xác định đối tượng, tiền lương, mức đóng, số tiền phải đóng BHXH đối với người tham gia và đơn vị theo phương thức đóng của đơn vị, người tham gia
* Hình thức đóng tiền:
Trên cơ sở số tiền phải đóng BHXH, đơn vị tham gia BHXH đóng BHXH bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH huyện mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước (BHXH Việt Nam, 2011)
Hàng ngày, Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước huyện tự động chuyển tiền thu BHXH của Bảo hiểm xã hội huyện về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh theo quy chế phối hợp giữa ngành BHXH với Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước
Tại BHXH tỉnh, hàng ngày Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước tỉnh tự động chuyển tiền thu BHXH của Bảo hiểm xã hội tỉnh về tài khoản chuyên thu của
Trang 32BHXH Việt Namtheo quy chế phối hợp giữa ngành BHXH với Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước
Không sử dụng tiền thu BHXH để chi cho bất cứ việc gì; Không áp dụng
hình thức gán thu, bù chi tiền BHXH đối với các đơn vị
* Hoàn trả:
- Các trường hợp hoàn trả:
Đơn vị giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật hoặc di chuyển nơi đăng ký tham gia đã đóng thừa tiền BHXH, BHYT, BHTN Đơn vị chuyển tiền vào tài khoản chuyên thu không thuộc trách nhiệm quản lý thu của cơ quan BHXH tỉnh, huyện theo phân cấp
Số tiền đơn vị, cá nhân đã chuyển vào tài khoản chuyên thu không phải là tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN (BHXH Việt Nam, 2011)
Kho bạc hoặc ngân hàng hạch toán nhầm vào tài khoản chuyên thu
2.1.4.3 Quản lý công tác lập kế hoạch thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Bảo hiểm xã hội huyện
- Xây dựng, điều chỉnh kế hoạch thu:
Căn cứ tình hình thực hiện năm trước, 6 tháng đầu năm và khả năng phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn, rà soát và lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu K01-TS) gửi 01 bản đến BHXH tỉnh theo quy định
Lập 02 bản kế hoạch ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, 01 bản gửi cơ quan tài chính cùng cấp theo phân cấp ngân sách địa phương để tổng hợp trình UBND huyện quyết định, 01 bản gửi BHXH tỉnh để
Trang 33tổng hợp toàn tỉnh
- Xây dựng, điều chỉnh kinh phí hỗ trợ thu, hoa hồng đại lý: trên cơ sở dự kiến kế hoạch, kế hoạch điều chỉnh để xây dựng điều chỉnh kinh phí hỗ trợ thu, hoa hồng đại lý gửi BHXH tỉnh theo quy định (BHXH Việt Nam, 2011)
- Thời gian: theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam
* Bảo hiểm xã hội tỉnh
- Xây dựng, điều chỉnh kế hoạch thu:
+ Lập 02 bản kế hoạch, 02 bản lcế hoạch điều chỉnh thu BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu K01-TS) và kinh phí hỗ trợ công tác thu đối với đơn vị do tỉnh trực tiếp thu
+ Tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu KO -TS), gửi BHXH Việt Nam
+ Lập 02: bản kế hoạch ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, gửi Sở Tài chính để tổng hợp trình UBND tỉnh quyết định
- Giao kế hoạch thu: Trên cơ sở kế hoạch thu, phân bổ kinh phí hỗ trợ công tác thu, hoa hồng đại lý được BHXH Việt Nam giao, tiến hành phân bổ kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN; kế hoạch kinh phí hỗ trợ công tác thu, hoa hồng đại lý cho BHXH tỉnh và BHXH huyện (BHXH Việt Nam, 2011)
- Thời gian: theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam
* Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tổng hợp, xây dựng và điều chỉnh kể hoạch, giao kế hoạch đảm bảo sát tình hình thực tế và khả năng thực hiện (BHXH Việt Nam, 2011)
2.1.4.4 Quản lý thanh tra, kiểm tra về quản lý thu bảo hiểm xã hội
* Mục đích: Trong thực tiễn, công tác kiểm tra, thanh tra là một chức năng thiết yếu không thể thiếu được trong công tác quản lý nói chung, trong quản lý BHXH và quản lý thu nói riêng Để kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế tiêu cực trong quá trình thực hiện BHXH của đơn vị sử dụng lao động, từ chấn chỉnh, uốn nắn, khắc phục những tồn tại, hạn hạn chế đồng thời đôn đốc thực hiện hoàn thành số thu BHXH bắt buộc (Luật BHXH, 2014)
* Cơ sở pháp lý của việc kiểm tra, thanh tra công tác thu BHXH bắt buộc:
- Luật BHXH và các văn bản quy định hướng dẫn thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra;
Trang 34- Nghị định số 112/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính phủ quy định
* Các phương thức kiểm tra hoạt động thu BHXH gồm:
- Kiểm tra công tác BHXH ở các đơn vị sử dụng lao động: Các đơn vị khi đăng ký tham gia BHXH, cơ quan BHXH căn cứ theo các quy định phân loại theo khối (HCSN, Đảng, đoàn thể; doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; khối ngoài công lập; khối
xã, phường; hợp tác xã; tổ chức và cá nhân,v.v) nhằm theo dõi, quản lý, kiểm tra việc chấp hành thực hiện công tác BHXH được thuận lợi, chính xác, kịp thời;
- Kiểm tra của các cơ quan quyền lực Nhà nước, kiểm tra chuyên ngành
và kiểm tra nhân dân (gồm thanh tra nhân dân, kiểm tra của tổ chức đảng, đoàn thể) Tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu, nội dung và thời gian kiểm tra để
có loại hình kiểm tra cho phù hợp: theo thời gian thì có loại hình thường xuyên hay định kỳ; kiểm tra trước, kiểm tra sau, kiểm tra đột xuất; nếu theo phạm vi trách nhiệm thì có kiểm tra nội bộ, kiểm tra của các cơ quan ngoài hệ thống theo quy định của pháp luật (Tổ chức thanh tra Nhà nước, thanh tra nhân dân, thanh tra lao động, v.v); (Luật BHXH, 2014)
- Kiểm tra theo phạm vi thẩm quyền, trách nhiệm thì có kiểm tra nội bộ, kiểm tra của cơ quan ngoài hệ thống theo quy định của Pháp luật
* Nội dung kiểm tra quản lý thu BHXH bắt buộc bao gồm:
- Kiểm tra thực hiện công tác BHXH tại các đơn vị sử dụng lao động gồm: + Hồ sơ gốc của người lao động đang lưu tại đơn vị, việc quản lý sổ BHXH của người lao động (Luật BHXH, 2014)
+ Danh sách lao động tham gia BHXH, quỹ tiền lương tham gia BHXH, mức tiền lương - tiền công tham gia BHXH cho người lao động so với thực tế bảng thanh toán tiền lương, tiền công hằng tháng của người lao động;
+ Việc trích, nộp (chuyển trả) tiền BHXH hằng tháng cho cơ quan BHXH hay thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho người lao động
Trang 35+ Kiểm tra và đối chiếu phần để lại 2% tiền đóng BHXH của đơn vị để thanh toán các chế độ ngắn hạn cho người lao động
- Kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc của cơ quan BHXH các cấp (Luật BHXH, 2014)
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.1.5.1 Hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Hệ thống chính sách là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý thu BHXH Do vậy, cần phải xem xét trong khâu ban hành chính sách về quản lý thu BHXH có vấn đề gì hay không (chính sách ban hành có dễ hiểu, dễ tiếp cận hay không? Mức độ tiếp cận của các pháp nhân và thể nhân đối với cơ chế thu BHXH) Trong khâu tổ chức thực hiện chính sách thu BHXH có gặp phải vấn đề
gì hay không (người hướng dẫn thu nộp, cơ quan chịu trách nhiệm thu nộp có gặp khó khăn gì trong việc phối hợp với các cơ quan chuyên trách cấp trên hay không? Vấn đề về quản lý hành chính có quá cồng kềnh ) Cơ chế quản lý thu BHXH là phương thức phối hợp, liên kết các yếu tố tạo thành các cách thức, các hình thức phối hợp giữa chính sách thu BHXH và quá trình tổ chức thực hiện chính sách thu BHXH đảm bảo chính sách thu BHXH đến đúng mục tiêu, đối tượng và có hiệu quả Như vậy, trong khái niệm cơ chế thu BHXH đã bao hàm không chỉ các quy định quản lý mà còn bao hàm yếu tố con người chịu trách nhiệm thực hiện những phương thức, đường lối, quan điểm, định hướng đã được
định ra trước (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2011)
2.1.5.2 Năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác quản lý thu
Hiện nay công tác thu và quản lý thu BHXH rất phức tạp, khối lượng công việc nhiều, đa phần là quá tải đối với mỗi cán bộ, các văn bản luật, nghị định, hướng dẫn từ các cấp ban ngành được cập nhật thường xuyên, liên tục đòi hỏi người cán bộ phải chuyên tâm nghiên cứu, cần cù, có trách nhiệm với công việc đồng thời phải có một trình độ nhất định về toán học, kế toán cũng như sự hiểu biết về hệ thống máy tính và công nghệ thông tin, đảm bảo được công tác quyết toán thu hàng tháng với đơn vị phải chính xác, đúng với hướng dẫn của luật BHXH, kịp thời xử lí các phát sinh làm trái với luật BHXH ban hành, bên cạnh đó còn phát sinh một số đơn vị trốn đóng, hay lách luật với những thủ đoạn tinh vi, bài bản, đòi hỏi người cán bộ vừa phải có năng lực tốt, vừa phải có tư cách đạo đức và ý chí bền bỉ thì công tác thu và quản lý thu BHXH mới thực sự thành công
và không bị ảnh hưởng của tiêu cực Hiệu quả công tác quản lý thu phụ thuộc rất
Trang 36nhiều vào năng lực, trình độ chuyên môn và khả năng tổ chức thực hiện của cán bộ quản lý trung ương đến cơ sở Do vậy, vấn đề đặt ra là phải thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác thu BHXHBB (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2011)
2.1.5.3 Nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp bảo hiểm xã hội bắc buộc
Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền BHXH là một cơ chế phức tạp với nhiều mối quan hệ đa dạng, trong đó nổi bật là quan hệ lợi ích, tức là quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH Dù là người lao động hay là người sử dụng lao động thì tâm lý chung là làm sao lợi ích càng nhiều càng tốt, lợi ích không giới hạn và trách nhiệm càng ít càng tốt, trách nhiệm có hạn Quyền và nghĩa vụ trong BHXH rõ nhất là vấn đề đóng và hưởng BHXH Người lao động và người sử dụng lao động luôn mong muốn chỉ phải đóng góp BHXH ở mức thấp nhất (giảm chi phí cho gia đình và doanh nghiệp), nhưng lại muốn được hưởng BHXH tốt nhất Vì thế, người tham gia BHXH mới tìm cách trì hoãn việc đóng BHXH hoặc giảm mức đóng góp BHXH (khai lương thấp, giảm số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH, chậm đóng, nợ BHXH) Vấn đề đặt ra là Nhà nước phải làm thế nào để giảm thiểu những sự lạm dụng và vi phạm pháp luật về BHXH Nhiều khi, từ chỗ nhận thức giản đơn về việc tham gia BHXH, tức là không tham gia, hoặc chưa tham gia hay tham gia ở mức độ nhất định vẫn không ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp, nên người sử dụng lao động không có kế hoạch tài chính chủ động thực hiện việc đăng ký tham gia BHXH; ngay chính bản thân người lao động cũng chưa có thói quen sống vì bảo hiểm Chủ doanh nghiệp chỉ thấy lợi trước mắt, lợi cục bộ cho doanh nghiệp, thiếu quan tâm đến đời sống và quyền lợi BHXH của người lao động nên tìm mọi cách trốn tránh đăng ký tham gia BHXH cho người lao động hoặc đăng ký tham gia theo kiểu đối phó khi có thanh tra, kiểm tra Tình trạng chủ doanh nghiệp ký hợp đồng lao động
có thời hạn dưới 3 tháng với người lao động và hợp đồng thời vụ, nhằm lách luật
về BHXH Đây là nhận thức lạc hậu, thói quen thời bao cấp không còn phù hợp trong điều kiện mới (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2011)
2.1.5.4 Công tác tuyên truyền về hệ thống pháp luật và quy định về luật Bảo hiểm xã hội
Đóng vai trò quan trọng trong việc thu BHXH, hiện nay còn nhiều doanh nghiệp và người lao động còn chưa hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham
Trang 37gia BHXH dẫn đến các doanh nghiệp và người lao động chưa có ý thức tự giác tham gia BHXH mà chỉ coi đó là một điều kiện bắt buộc để có thể sản xuất kinh doanh theo các quy định của Nhà nước Người lao động chưa ý thức được những quyền lợi mà mình được hưởng khi tham gia BHXH, trong khi đó người sử dụng lao động lại muốn tiết kiệm một phần chi phí sản xuất kinh doanh đáng lẽ ra phải đóng góp BHXH cho người lao động của mình Có lúc, có nơi người lao động và người sử dụng lao động đã đồng tình với nhau để không tham gia BHXH, họ mong có được thêm một khoản thu nhập từ nguồn tiền đóng vào BHXH, họ sử dụng tiền đóng BHXH để chia nhau Cũng có tình trạng một số doanh nghiệp (trong đó có cả những doanh nghiệp Nhà nước) đã cố tình chiếm dụng số tiền đóng BHXH cho người lao động để sử dụng làm vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây ra tình trạng né tránh, nợ đọng tiền đóng BHXH Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho công tác thu BHXH không đạt được hiệu quả cao (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2011)
2.1.5.5 Các phương pháp thu BHXHBB
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thực hiện chính sách an sinh xã hội Nên ngành cũng đã chú trọng tới việc trang bị các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động quản lý thu Như tất cả các cán bộ làm công tác thu đều được trang bị máy vi tính có kết nối với hệ thống máy chủ ở BHXH tỉnh thông qua đường truyền cáp quang riêng, nơi làm việc được bố trí ở nơi rông rãi thuận tiện để tiếp đối tượng tham gia BHXH (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2011)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
2.2.1 Kinh nghiệm của một số huyện trong nước
2.2.1.1 Kinh nghiệm của bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ, Bắc Ninh
Năm 2013, số thu BHXH, BHYT, BHTN của Quế Võ, Bắc Ninh là 2.065,58 tỷ đồng, tăng 519,26 tỷ đồng so với năm 2012 Trong đó, thu BHXH bắt buộc là 1.362,72 tỷ đồng Tổng số số đơn vị tham gia BHXH, BHYT là 3.417 doanh nghiệp, đơn vị với 722.622 người, tăng 10,8% so với năm 2012 Trong đó,
số người tham gia BHXH bắt buộc là 188,558 người BHXH huyện Quế Võ, Bắc Ninh luôn nằm trong số 10 huyện, thành phố đạt tỷ lệ thu cao nhất cả nước
Mặc dù vậy, số tiền nợ BHXH, BHYT năm 2013 là 159,8 tỷ đồng, chiếm 6,5% so với tổng số phải thu; có 515 đơn vị, doanh nghiệp nợ BHXH từ 03 tháng
Trang 38trở lên với số tiền 84,78 tỷ đồng Do sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, các ngành chức năng, các sở chủ quản chưa tìm được biện pháp hữu hiệu để quản lý, thúc đẩy sản xuất, do đó sản xuất ở một số ngành bị thu hẹp, khiến người lao động phải đối mặt với tình hình việc làm không ổn định, thu nhập thấp; người sử dụng lao động ở một số doanh nghiệp nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về trách nhiệm của mình và chưa tuyên truyền sâu, rộng về chế độ chính sách đối với người lao động; bản thân người lao động cũng thiếu hiểu biết về chính sách BHXH; cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức trong chỉ đạo, lãnh đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT, coi đó là nhiệm vụ của người sử dụng lao động và cơ quan BHXH; tổ chức công đoàn ở nhiều doanh nghiệp chưa phát huy vai trò bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng tham gia BHXH, BHYT của người lao động; việc thanh tra, kiểm tra và xử lý các doanh nghiệp cố tình vi phạm chính sách BHXH, BHYT còn nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao (Minh Đức, 2013)
Để giải quyết những khó khăn nêu trên, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Quế Võ, Bắc Ninh đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ chính trị, ngay sau đó tiếp tục được các huyện, thị, thành ủy
và UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai sâu rộng Trong quá trình triển khai, BHXH huyện Quế Võ, Bắc Ninh với vai trò là cơ quan đầu mối tiếp tục tham mưu kịp thời, thường xuyên báo cáo Huyện ủy, HĐND, UBND huyện về việc thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN để tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác BHXH, BHYT, chấn chỉnh kịp thời các sai sót, vướng mắc Tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan trong việc thanh, kiểm tra doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động nợ tiền BHXH, BHYT, BHTN kéo dài, kiên quyết xử phạt đơn vị, doanh nghiệp vi phạm Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác BHXH, BHYT Thường xuyên rà soát, tổng hợp số phải thu BHXH, BHYT, BHTN, tổng hợp báo cáo BHXH Việt Nam, giao bổ sung kế hoạch thu Tổ chức
nợ BHXH, tích cực tăng cường kiểm tra hơn nữa, đôn đốc thu nộp BHXH, BHYT, BHTN thường xuyên báo cáo Giám đốc BHXH huyện để có biện pháp xử
lý kịp thời (Minh Đức, 2013)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của bảo hiểm xã hội huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Bảo hiểm xã hội huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình là đơn vị trực thuộc
Trang 39BHXH tỉnh đóng trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Năm 2013 BHXH huyện Thái Thụy đã đạt được kết quả cao trong thực hiện nhiệm vụ được giao, được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tặng "Bằng khen" đạt thành tích xuất sắc trong công tác thu BHXH, BHYT Qua nghiên cứu Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 của BHXH huyện Thái Thụy cho thấy kết quả như sau: phát triển tăng mới 16 đơn vị với 1.008 lao động tham gia BHXH bắt buộc, nâng tổng
số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc là 411 đơn vị với số lao động tham gia BHXH bắt buộc là 9.975 người chiếm 87,5% số lao động trong các đơn vị sử dụng lao động đóng trên địa bàn huyện; số thu BHXH đạt 185,4 tỷ đồng đạt 106,2% kế hoạch giao, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước; Số nợ đọng BHXH chỉ còn 390 triệu đồng, tương đương 0,2% kế hoạch thu, giảm 4,18% so với cùng
kỳ năm trước Có được kết quả trên là do: BHXH huyện Thái Thụy ngay từ đầu năm tổ chức cho cán bộ viên chức ký giao ước thi đua, phấn đấu 30% cán bộ, viên chức có sáng kiến kinh nghiệp áp dụng cải tiến trong công tác quản lý thu BHXH; Thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của BHXH tỉnh Thái Bình, UBND huyện, huyện uỷ Thái Thuỵ trong việc thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn huyện; BHXH huyện định kỳ báo cáo Ban Thường vụ Huyện uỷ nghe chuyên đề về thực hiện chính sách BHXH và triển khai tới các cơ sở Đảng; Tham mưu Thường trực HĐND huyện tổ chức cùng với các ngành Công đoàn, Lao động TBXH, BHXH đi giám sát một số đơn vị trong việc thực hiện chính sách BHXH cho người lao động, tập trung vào các doanh nghiệp có số nợ đọng lớn để đôn đốc trong việc thu nộp BHXH bắt buộc; Tăng cường công tác tuyên truyền
để chủ sử dụng và người lao động hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi khi tham gia BHXH từ đó tự giác chấp hành theo quy định (Trần Quốc Tuý, 2006)
2.2.1.3 Kinh nghiệm của bảo hiểm xã hội thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
Theo nguồn thống kê của Chi cục thống kê Thành Phố tỉnh Nam Định năm 2013, trên địa bàn Thành Phố có 415 đơn vị, tổ chức SXKD đang hoạt động
sử dụng 12.112 lao động, nhưng thực tế mới có 365 đơn vị với 8.477 lao động tham gia BHXH, một số đơn vị doanh nghiệp nợ đọng BHXH kéo dài với số tiền trên 8 tỷ đồng chiếm 4% Năm 2014 BHXH Thành Phố đã đưa ra nhiều phương hướng, biện pháp để giải quyết, khắc phục có hiệu quả như tuyên truyền trên Báo địa phương, Đài Phát thanh & Truyền hình tỉnh đều có chuyên trang, chuyên mục giải đáp chế độ, chính sách BHXH, kể cả các Đài Truyền thanh địa phương Trên một số trục đường lớn, khu công nghiệp đều có pa nô, áp phích; in các tài liệu
Trang 40phát tay, các văn bản hướng dẫn gửi các doanh nghiệp Thực hiện ký kết công tác phối hợp với Ban quản lý khu công nghiệp An Xá, Hoà Xá về việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động Trên cơ sở đó, cơ quan BHXH Thành Phố nắm bắt được chính xác số doanh nghiệp và lao động để có biện pháp tích cực vận động; đồng thời phối hợp với Phòng LĐTB&XH, Liên đoàn Lao động, tổ chức các đoàn thanh tra liên ngành để chấn chỉnh kịp thời các vi phạm; những đơn vị cố tình vi phạm thì lập Biên bản xử lý hành chính hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền, các tổ chức tín dụng, Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước can thiệp Đối với những doanh nghiệp nợ đọng BHXH kéo dài; tăng cường cán bộ xuống đơn vị để đôn đốc chủ sử dụng lao động, lập bản cam kết kế hoạch trả nợ, củng cố hồ sơ khởi kiện ra Tòa án đối với các đơn vị cố tình vi phạm luật BHXH Đến hết năm
2014 BHXH thành phố Nam Định tỉnh Nam Định đã phát triển mở rộng hầu hết các đơn vị và số lao động đang lao động trong doanh nghiệp tham gia BHXH bắt buộc, các đơn vị đã thực hiện tốt công tác BHXH, Tỷ lệ nợ đọng tiền BHXH giảm xuống còn 2,2% so với cùng kỳ năm trước (Phạm Trường Giang, 2006)
2.2.2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
Những địa phương đạt được hiệu quả cao trong quản lý thu BHXH bắt buộc đều có chung một điểm là biết tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao một cách sáng tạo, không rập khuôn máy móc, phát huy được sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị ở cơ sở tham gia vào công tác BHXH, bài học kinh nghiệm cần được rút ra, đó là:
- Tranh thủ sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương trong công tác BHXH Thực hiện phương châm cấp uỷ Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, cơ quan BHXH làm tham mưu, có sự phối hợp đồng bộ của các
cơ quan hữu trách, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong công tác BHXH mà trọng tâm là khắc phục nợ tồn đọng BHXH và phát triển đối tượng tham gia BHXH
- Công tác dự báo phải đi trước một bước để có những căn cứ khoa học,
số liệu sát thực, nhằm xây dựng kế hoạch phát triển nguồn thu một cách vững chắc, đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài Đồng thời thường xuyên có
sự điều chỉnh để có dự báo sát với tình hình thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhằm đảm bảo thu đúng, đủ, kịp thời, không bỏ sót nguồn thu
- Cơ quan BHXH phải chủ động các biện pháp công tác, đặc biệt coi trọng năng lực xây dựng các phương án tổ chức thực hiện, năng lực chuyên môn,