1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm

214 2,5K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Đo Đạc Lâm Nghiệp
Tác giả Nguyễn Thanh Tiến, Vũ Văn Thông, Lê Văn Thơ, Đặng Thị Thu Hà, Phạm Mạnh Hà
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Nông lâm kết hợp
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Chủ biên: NGUYỄN THANH TIẾN

VŨ VĂN THÔNG, LÊ VĂN THƠ, ĐẶNG THỊ THU HÀ, PHẠM MẠNH HÀ

(Dành cho sinh viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng và Nông lâm

kết hợp)

NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Thực hiện chương trình đào tạo kỹ sư lâm nghiệp của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, "Đo đạc lâm nghiệp" là một môn học cơ sở giúp cho người học giải quyết các vấn đề thực tiễn của chuyên ngành như: quản lý tài nguyên rừng, quy hoạch phát triển tài nguyên rừng, thiết kêu trồng rừng… Ngày nay với sự phát triển khoa học nói chung, đo đạc nói riêng, công nghệ GPS, GIS đã và đang được áp dụng vào trong đo đạc ở Việt Nam Nhằm cập nhật và định hướng nghề nghiệp của sinh viên khi ra trường, nhóm tác giả xin trân trọng giới thiệu cuốn giáo trình "Đo đạc Lâm nghiệp " Đây là cuốn sách được viết theo định hướng thực tiễn sản xuất, đối tượng là sinh viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng và Nông Lâm kết hợp Chủ yếu là ứng dụng những kiến thức trắc địa vào trong lĩnh vực của ngành, phục vụ quá trình quản lý, sản xuất kinh doanh Lâm nghiệp được hiệu quả

Nhóm tác giả được phân công viết các phần cụ thể như sau:

ThS Nguyễn Thanh Tiến - Khoa Lâm Nghiệp, Trường ĐHNL viết phần thứ nhất gồm chương 1; chương 2

ThS Đặng Thị Thu Hà - Khoa Lâm nghiệp, Trường ĐHNL viết chương 3 ở phần thứ hai

ThS Lê Văn Thơ - Khoa Tài nguyên & Môi trường, Trường ĐHNL viết chương 4 ở phần thứ hai

ThS Phạm Mạnh Hà - Viện Điều tra quy hoạch rừng Bắc Trung Bộ viết chương 5 ở phần thứ hai

ThS Vũ Văn Thông - Khoa Lâm nghiệp, Trường ĐHNL viết chương 6 ở phần thứ hai

Trong quá trình biên soạn giáo trình này, chúng tôi luôn nhận được những ý kiến đóng góp của Hội đồng khoa học Nhà trường, của các thầy cô giáo khác, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của độc giả để giáo trình được hoàn thiện hơn ở lần tái bản sau

Nhóm tác giả

Trang 3

MỘT SỐ TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM

Trang 4

Phần thứ nhất CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐO ĐẠC

Trang 5

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG

1.1 KHÁI QUÁT VỀ MÔN HỌC

1.1.1 Khái niệm vềđo đạc

Đo đạc là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về hình dạng kích thước quả đất và cách biểu thị một phần hay toàn bộ bề mặt quả đất lên mặt phẳng dưới dạng bản đồ và số liệu theo một quy luật toán học

Đo đạc có mối quan hệ mật thiết với một số môn khoa học khác như toán học, vật lý học, thiên văn học

1.1.2 Đối tượng của môn học

Đo đạc lâm nghiệp là một môn học nằm trong hệ thống các môn khoa học trắc địa Việc ứng dụng các kiến thức đo đạc vào sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp đòi hỏi môn học tập trung vào đối tượng sau:

-Kiến thức về bản đồ học: Đây là đối tượng quan trọng của môn đo đạc lâm nghiệp,

bởi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hay quản lý nguồn tài nguyên rừng đều phụ thuộc rất lớn vào kiến thức bản đồ Đặc biệt trong điều tra rừng, quy hoạch rừng, thiết kế trồng rừng và điều tra đa dạng sinh học…

-Một số dụng cụđo đạc cơ bản: Để tiến hành đo đạc chuyển tải lên bản đồ, trong

khuôn khổ môn học, chủ yếu quan tâm tới địa bàn ba chân, thước đo dài, máy định vị toàn cầu (GPS), máy đo diện tích và các công cụ đơn giản khác hiện đang dùng trong sản xuất lâm nghiệp

-Diện tích rừng và đất rừng: Môn học chủ yếu tập trung nghiên cứu phương pháp mô

tả diện tích rừng và đất rừng lên bản đồ, là cơ sở khoa học cho công tác quản lý và phát triển nguồn tài nguyên rừng bền vững

-Người học: Xác định môn học này dùng cho sinh viên chuyên ngành lâm nghiệp nên chủ yếu là ứng dụng các kiến thức cơ bản của trắc địa vào trong lĩnh vực của ngành, không đi chuyên sâu vào lĩnh vực trắc địa

1.1.3 Nhiệm vụ của môn học

Môn Đo đạc lâm nghiệp khá rộng bởi những kiến thức cơ bản của trắc địa, tuy nhiên môn học này chỉ tập trung vào nghiên cứu một số nhiệm vụ cơ bản sau:

-Cơ sở khoa học của đo đạc: Chuyên nghiên cứu về quả đất, bề mặt quả đất và các phương pháp biểu diễn chúng lên bản đồ Đặc biệt quan tâm tới những ảnh hưởng của độ cong quả đất đến các kết quảđo đạc

-Đo đạc ngoài thực địa: Đây là khâu vất vả nhất của quá trình đo đạc, việc ứng đụng

lý thuyết vào trong thực tiễn sản xuất đòi hỏi người học cần hiểu rõ lý thuyết, vận dụng

Trang 6

các thao tác trên máy móc, dụng cụđo đúng yêu cầu

-Thiết kế và biên tập bản đồ: Đây là đối tượng quan trọng của môn học, sau khi đo đạc ngoài thực địa xong, việc thiết kế và biên tập bản đồ là khâu quan trọng của đo đạc

-In bản đồ: Nghiên cứu cho ra các sản phẩm bản đồ chuyên môn phục vụ cho ngành,

đáp ứng mục đích sử dụng (Bản đồ hiện trạng rừng; Bản đồ lập địa; Bản đồ thiết kế trồng

rừng )

-Quản lý và khai thác bản đồ lâm nghiệp: Bản đồ lâm nghiệp sau khi đã hoàn thành

việc quản lý và khai thác hiệu quả bản đồ là việc làm cần thiết đáp ứng quá trình sản xuất lâm nghiệp Hiện nay, hầu hết bản đồ được chuyển hoá dưới dạng bản đồ số nên việc quản

lý và khai thác trở nên thuận lợi và tiện ích hơn rất nhiều

1.1.4 Lược sử phát triển của môn học

Cùng với sự phát triển chung của xã hội, môn học đo đạc nói chung đặc biệt là khoa học trắc địa đã ra đời từ rất lâu, tuy nhiên ngày nay việc ứng dụng chuyên sâu vào từng lĩnh vực cụ thể lại càng nhiều Lâm nghiệp là một ngành kỹ thuật có mối quan hệ mật thiết với chuyên môn đo đạc Nhìn lại lịch sử ra đời của môn Trắc địa nói chung, chúng ta có thể sơ lược như sau:

Bản thân Đo đạc nguyên gốc chữ Hy Lạp là "Geodaisia" nghĩa là "Sự phân chia đất

đai" Như vậy, có thể thấy môn học đo đạc đã có từ rất lâu, ra đời xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con người Môn đo đạc ra đời cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người Khi loài người mới xuất hiện cuộc sống chủ yếu dựa vào tự nhiên nên đo đạc còn thô sơ, nhưng sau đó sự phát triển của xã hội cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì việc ứng dụng đo đạc và bản đồ vào cuộc sống ngày càng sâu rộng

-Trước Công Nguyên, người Ai Cập cổ đại đã sử dụng đo đạc để phân chia đất đai canh tác

-Thế kỷ 1 1 - 12 nước Nga đã đo độ dài và phân chia đất đai

Thế kỷ 16, nhà toán học Mec-ca-tơ, người Pháp đã đưa ra một phương pháp biểu diễn quả đất sang mặt phẳng ít bị biến dạng gọi là phép chiếu hình trụ đứng

Thế kỷ 1 8, nhà bác học Đơ-lăm-bơ-rơđã tiến hành đo chiều dài kinh tuyến đi qua Paris và ông đã tính được 1 m = 1/ 40.000.000 kinh tuyến đi qua Paris

Đến thế kỷ 19, Gau-xơ người Đức đã đề ra lý thuyết số bình phương nhỏ nhất và phép chiếu hình trụ ngang

Đến thế kỷ 20, với sự phát triển mạnh của khoa học, người ta đã tính được chính xác nhất kích thước quả đất Đặc biệt, khoa học viễn thám ngày nay đã đưa khoa học đo đạc lên một tầm cao mới, ngày càng trở nên phổ biến và thông dụng

Trang 7

• Ở Việt Nam Ngay từ khi thành lập nhà nước âu Lạc, việc xây đựng thành Cổ Loa quanh co xoáy hình trôn ốc thể hiện nhân dân ta đã có kiến thức vềđo đạc

Năm 1467, Vua Lê Thánh Tông đã cho người đi khảo sát sống núi khắp nơi để lập bản đồ và đến năm 1469 đã vẽ được bản đồ thời "Hồng Đức"

Trong kháng chiến chống Pháp, công tác đo đạc của ta chủ yếu phục vụ quốc phòng

"Bản đồ -được coi là đôi mắt của quân đội" Bản đồ để nghiên cứu thực địa, phản ánh tình

hình chiến đấu và bố trí các chiến dịch

-Năm 1959, "Cục đo đạc bản đồ" được thành lập Đo đạc được ứng dụng rộng rãi

hầu hết ở các ngành trong đó có ngành lâm nghiệp Bởi rừng cho chúng ta giá trị về kinh

tế xã hội và đặc biệt là môi trường

-Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, toàn cầu hoá thông tin, trước sự hội nhập của đất nước với các nước trên thế giới Đo đạc nước ta đã bước tới một tầm cao mới bằng những công nghệ mới nhưảnh vệ tinh, ảnh hàng không, hệ thống định vị toàn cấu (GPS), hệ thông tin địa lý (GIS) và nhiều trung tâm, vụ, viện chuyên nghiên cứu về lĩnh vực đo đạc đã ra đời, đáp ứng đòi hỏi thực tiễn.phát triển xã hội của nước ta

1.2 QUẢĐẤT VÀ CÁCH BIỂU THỊ

1.2.1 Hình dạng, kích thước quả đất

1.2.1.1 Hình dạng quả đất

Từ trước đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác

nhau về hình dạng quả đất Khi con người mới xuất

hiện, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, bằng những

nhận thức cảm tính người ta cho rằng quả đất có dạng

phẳng (hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật ) Sau này

do sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì quan niệm

trên bị bác bỏ và người ta cho rằng quả đất là một dạng

khối gần giống với hình cầu, điều này được thể hiện ở

những suy luận và thực tiễn sau:

+ Khi quan sát hiện tượng nguyệt thực (nhìn thấy hình

ảnh trái đất trên mặt trăng) có dạng hình tròn

+ Khi quan sát con tàu.từ bờ biển người ta nhìn thấy

phía mũi tàu trước, sau đó mới nhìn thấy con tàu hoặc ngược lại khi quan sát vào bờ biển

từ con tàu người ta nhìn thấy rặng tre, mái nhà dần dần mới nhìn thấy bờ biển

+ Vào thế kỷ 15, Cô-lôm-bô phát hiện ra châu Mỹ

+ Vào thế kỷ 16, Magenlang là người làm sáng tỏ quan điểm quả đất có dạng hình cầu bằng việc đi vòng quanh thế giới

+ Ngày nay quan điểm về trái đất có dạng hình cầu càng được sáng tỏ nhờ vào những ảnh

Trang 8

chụp quả đất từ con tàu vũ trụ, cách trái đất từ 300 đến 500 km

Nhưng thực tế cho chúng ta thấy trái đất có bề mặt tự nhiên hết sức phức tạp về mặt hình học và không thể biểu thị nó bởi một quy luật xác định Hình dạng trái đất được hình thành và bị chi phối bởi hai lực chủ yếu: Lực hấp dẫn tạo nên dạng hình cầu và lực ly tâm tạo nên dạng elipxôit của trái đất Để biểu diễn hoàn chỉnh về hình dạng của trái đất trong

đo đạc, bề mặt thực của trái đất được thay bằng một mặt Geoit (mặt thuỷ chuẩn) Ngoài ra hình dạng quả đất còn ảnh hưởng bởi trọng lực, sự phân bố không đồng đều của vật chất

có tỷ trọng khác nhau trong lớp vỏ trái đất làm cho bề mặt Geoit biến đổi phức tạp về mặt hình học Mặt khác, do vật chất ở vỏ trái đất phân bố không đồng đều nên trọng lực có hướng về nơi vật chất nặng

Tóm lại, bề mặt quả đất không phải là bề mặt đúng toán học, nó chỉ là mặt san có của chính trái đất Trong thực tiễn của khoa học đo đạc và bản đồ, để tiện cho việc giải các bài toán đo đạc, người ta lấy mặt elipxôit tròn xoay có hình dạng và kích thước gần giống mặt Geoit, làm bề mặt toán học thay cho bề mặt Geoit gọi là elipxôit Trái Đất

1 2.1.2 Kích thước quả đất

Nhìn chung, bề mặt của đất rất phức tạp, tuy nhiên các nhà nghiên cứu về trái đất đã tìm ra những thông số quan trọng về trái đất Kích thước quả đất được tính như sau:

Bán kính trung bình của trái đất: 6.371,16 km

Sự chênh cao giữa nơi cao nhất và thấp nhất khoảng 20 tim Đỉnh núi cao nhất thế giới là đỉnh Everest (thuộc dãy Hymalaya) cao 8.848 mét, nơi thấp nhất là Marian (Thái Bình Dương) sâu 11.022 mét Tuy nhiên, sự chênh lệch này không đáng kể so với đường kính trái đất Đối với Việt Nam, đỉnh núi cao nhất là đỉnh Phanxipăng cao

Bán kính trung bình của trái đất: 6.371,16 km

Độ dài vòng kinh tuyến: 40.008,5 km

Chu vi xích đạo: 40.075,7 km

Diện tích bề mặt quả đấm: 510.106 km2

Thể tích trái đất: 1.083 x 109km3

Tỉ trọng trung bình: 5.515 kg/m3

Trọng lượng của trái đất: 5,977 x 1021 tấn

Diện tích đại dương chiếm: 71% bề mặt trái đất

Độ nghiêng trái đất: 23,4392810

Trang 9

3.143 mét (thuộc dãy Hoàng Liên Sơn - Sa Pa- Lào Cai)

Trong một số trường hợp, người ta coi quả đất có dạng hình cầu và có bán kính hình cầu R ≈ 6.371,16 km Từđây người ta tính được chu vi quả đất theo đường xích đạo xấp xỉ 40.000 km

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, đo đạc, tính toán nhiều lần vào năm 1964 Hội thiên văn quốc tếđã ghi nhận các số liệu trung bình sau dây:

a = 6378,16 km (bán kính trung bình ở xích đạo)

Độ dẹt:

Ở nước ta các từ số a, b, k của F.N Kraxovski được dùng làm trị số chính xác trong

đo đạc Vì trị số độ dẹt k của elipxôit trái đất rất nhỏ nên trong trường hợp đo đạc khu vực nhỏ, độ chính xác thấp và đối với một số tính toán trong bản đồ học, có thể coi trái đất như một khối cầu có bán kính gần trùng với trục quay của trái đất

1.2.2 Mặt thuỷ chuẩn và độ cao

Để xác định được độ chênh cao hay sự lồi lõm của bề mặt trái đất, người ta phải xác định chúng với một điểm làm cơ sởđó chính là mặt thuỷ chuẩn

1.2.2.1 Mặt thuỷ chuẩn

• Khái niệm

Mặt thuỷ chuẩn là mặt nước biển trung

bình yên tĩnh nhiều năm, kéo dài xuyên qua

các lục địa và hải đảo tạo thành một mặt

cong khép kín gọi là mặt nước gốc (mặt thuỷ

chuẩn)

Mặt thuỷ chuẩn gốc của Việt Nam được

lấy mặt nước biển trung bình, yên tĩnh ở Hòn

Dấu -Đồ Sơn - Hải Phòng

Trang 10

• Tính chất mặt thuỷ chuẩn

Tại mọi điểm trên mặt thuỷ chuẩn gốc phương của pháp tuyến trùng với phương của dây dọi

Tại mặt thủy chuẩn gốc có độ cao là 0 mét Điểm nằm phía trên mặt thuỷ chuẩn gốc

có độ cao là dương (+), điểm nằm phía dưới mặt thuỷchuẩn gốc có độcao là âm (-)

Mỗi Quốc gia chọn một mặt thuỷ chuẩn riêng

• Mặt thuỷ chuẩn giả định

Mặt thuỷ chuẩn giả định là những mặt song song với mặt thuỷ chuẩn gốc Như vậy,

có vô số mặt thuỷ chuẩn giả định như mặt ao hồ, mặt sân, mặt sàn nhà Điều quan trọng hơn cả là mặt thuỷ chuẩn giả định có tính chất tương tự mặt thuỷ chuẩn gốc

1.2.2.2 Độ cao

• Độ cao tuyệt đối

Độ cao tuyệt đối của một điểm A bất kỳ trên bề mặt quả đất là khoảng cách từ điểm

đó theo phương dây dọi tới mặt thuỷ chuẩn gốc Độ cao thường ký hiệu là H và được tính

bằng mét

• Độ cao tương đối

Độ cao tương đối của một điểm A bất kỳ trên bề mặt quả đất là khoảng cách từ điểm

đó theo phương dây dọi tới mặt thuỷ chuẩn giả định Độ cao thường ký hiệu là H ' và được

tính bằng mét

1.3 MỘT SỐ PHÉP CHIẾU TRONG ĐO ĐẠC

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm phép chiếu

Khi thành lập bản đồ phải biểu diễn mặt Elipxôit (hay mặt cầu) lên mặt phẳng Trong khi biểu diễn phải đặt điều kiện để các đường tọa độ trong mối quan hệ tọa độ mặt elipxoit hay mặt cầu (tọa độ địa lý, tọa độ cực) được dựng theo một quy luật toán học nhất định Muốn thế ta phải sử dụng phép chiếu bản đồ Phép chiếu bản đồ là phép chiếu hình kinh tuyến, vĩ tuyến từ mặt Elipxôit lên mặt phẳng bằng phương pháp toán học

Phép chiếu hình bản đồ xác định sự tương ứng điểm giữa bề mặt elipxôit quay (hoặc mặt cầu) và mặt phẳng Có nghĩa là mỗi điểm trên mặt elipxôit quay có tọa độ φ và λ chỉ tương ứng với một điểm trên mặt phẳng có tọa độ vuông góc X và Y hoặc có tọa độ phẳng khác Giữa toạ độ vuông (X và Y) và tọa độ địa lý (φ và λ) tương ứng có quan hệ hàm số, xác định bởi phương trình:

X = f1(φ, λ)

Y = f2(φ, λ)

Trang 11

Phương trình này gọi là phương trình chiếu Phương trình chiếu phải thỏa mãn điều kiện f1 và f2 là các hàm liên tục và đơn trị trong miền biến thiên của φ và λ Phương trình chiếu có nhiều dạng, nên có những phép chiếu khác nhau Mỗi phép chiếu cho ta một cách biểu thị các đường kinh tuyến và vĩ tuyến của mặt Elipxôit lên mặt phẳng khác nhau Mạng lưới kinh, vĩ tuyến được biểu thị trên mặt phẳng gọi là lưới chiếu bản đồ hay lưới bản đồ

1.3.2 Phân loại các phép chiếu

Toán bản đồ phân loại các phép chiếu bản đồ dựa vào các đặc tính sai số, chiếu hình, mặt hình học hỗ trợ khi chiếu và vị trí đặt bề mặt chiếu với trục quả địa cấu

-Căn cứ vào đặc tính sai số chiếu hình, phân biệt ra các phép chiếu bản đồ sau:

Phép chiếu đồng góc: là phép chiếu đảm bảo tính.đồng dạng trên quả địa cầu với hình trên bản đổi Hai điều kiện cơ bản của tính đồng góc là: góc trên quả địa cầu được giữ nguyên trên bản đồ và tỷ lệ độ dài tại một điểm trên bản đồ chỉ phụ thuộc vào vị trí của nó

Phép chiếu đồng diện tích: Đặc tính của phép chiếu này là tỷ lệ diện tích mọi nơi trên bản đồ không bị thay đổi Tức là diện tích của vòng tròn nhỏ vô hạn trên quả địa cầu bằng diện tích biểu hiện của nó trên bản đồ tính theo tỷ lệ nhưng có dạng dịp Do vậy tính đồng góc và đồng diện tích không thể tồn tại trong một phép chiếu

Phép chiếu đồng khoảng cách: Phép chiếu này cho phép tỷ lệ chiều dài không đổi, không có sai số theo một trong những hướng chính (theo hướng kinh tuyến hoặc hướng vĩ tuyến)

-Dựa theo mặt chiếu hình hỗ trợ

Phép chiếu hình phương vị: Đó là phép chiếu mà bề mặt hình học hỗ trợ là mặt phẳng tiếp xúc hoặc cắt quảđịa cầu (khối elipxôit Trái Đất)

Trang 12

Phép chiếu hình nón (hình 1-03b): là phép chiếu mà bề mặt hình học hỗ trợ là mặt nón, tiếp xúc hoặc cắt quả địa cầu

Phép chiếu hình trụ (hình 1-03a): Mặt hình học hỗ trợ là một hình trụ, tiếp xúc hoặc cắt quả địa cầu

-Căn cứ theo vị trí của mặt chiếu hình hỗ trợ với trục của quả địa cầu có các phép chiếu sau:

Phép chiếu thẳng (còn gọi là phép chiếu đứng): Trục của các mặt chiếu (mặt phẳng, mặt nón, mặt trụ) trùng với trục quay của quả địa cầu

Phép chiếu ngang (còn gọi là phép chiếu xích đạo): Đối với phép chiếu phương vị, mặt chiếu hình hỗ trợ tiếp xúc ở một điểm hay một đường bất kỳ trên xích đạo Ở phép chiếu hình nón và phép chiếu hình trụ, trục của mặt nón và mặt trụ nằm trong mặt phẳng xích đạo, vuông góc với trục quay của quả địa cầu

Phép chiếu nghiêng: ở phép chiếu phương vị, mặt phẳng (mặt chiếu) tiếp xúc với quả địa cầu tại một điểm nào đó giữa xích đạo và cực Đối với phép chiếu hình nón và phép

chiếu hình trụ, trục của mặt nón hoặc mặt trụ có vị trí nghiêng so với mặt phẳng xích đạo

1.3.3 Một số chép chiếu dùng ở Việt Nam

1.3.3.1 Phép chiếu bản đồ Bonne

Để thành lập các bản đồ chuyên đề, trong đó có các bản đồ tự nhiên, dân cư, kinh tế -

xã hội ở Việt Nam, chúng ta cần phải biết đặc điểm của các lưới chiếu dùng cho bản đồ Việt Nam, vì các loại bản đồ này thường được dùng làm bản đồ nền cho các bản đồ chuyên đề Từ đầu thế kỷ 20, người Pháp đã lựa chọn ứng dụng Elipxôit quy chiếu Clark, phép chiếu Bonne, điểm gốc tọa độ ở Cột cờ Hà Nội, xây dựng điểm lưới tọa độ phủ trùm toàn Đông Dương

Lưới chiếu Boune là lưới chiếu hình nón giả không có sai số về diện tích Lưới chiếu Bonne dùng số liệu Elipxoit như sau: a = 6.378.249 m, b = 6.356.515 m, số liệu này do Clark tìm ra năm 1880 Các tỷ lệ cơ bản của bản đồ 1:25.000 Ở đồng bằng, 1:000.000, 1:400.000 cho toàn bộĐông Dương Hệ kinh tuyến vĩ tuyến tính theo đơn vị Grat (viết tắt

là G, một vòng tròn bằng 400Grat) Kinh tuyến khởi đầu λo tính từ kinh tuyến qua Paris (Thủđô của nước Pháp) Kinh tuyến giữa (kinh tuyến chính) của bán đảo Đông Dương là 115G Gốc toạ độ cách giao điểm của kinh tuyến giữa và vĩ tuyến chuẩn 500 km về phía Đông và 1000 km về phía Nam Đối với bán đảo Đông Dương trước đây thường được sử dụng phép chiếu này, nhưng ở nhiều nước khác trên thế giới thì phép chiếu Bonne ít được

sử dụng

1.3.3.2 Phép chiếu Gauss

Phép chiếu Gauss là phép chiếu hình trụ ngang giữa góc Thế kỷ 19 nhà toán học Gauss đã đề ra phép chiếu hình bản đồ, được gọi là phép chiếu Gauss Theo phép chiếu

Trang 13

Gauss, quả đất được chia ra làm 60 múi, mỗi múi 60 và đánh số thứ tự từ Tây sang Đông tính từ kinh tuyến gốc đi qua đài thiên văn Greenwich (London) nước Anh

Ví dụ: Múi số 1 có kinh độ từ 00 - 60 Đ

Múi số 30 có kinh độ từ 1740 Đ - 1800 Đ Múi số 31 có kinh độ từ 1800 - 1740 T Múi số 60 có kinh độ từ 60T- 00

Mỗi múi được chia thành hai phần đều nhau đối xứng qua kinh tuyến giữa (kinh tuyến trục)

Đặt quả đất nội tiếp trong hình trụ ngang có bán kính bằng bán kính quả đấm Lấy tâm chiếu là tâm O của quả đất, lần lượt chiếu từng múi lên mặt trụ theo phép chiếu xuyên tâm Sau đó cắt mặt trụ theo hai đường sinh KK' rồi trải thành mặt phẳng ta được hình chiếu của 60 múi Mặt phẳng này được gọi là mặt chiếu hình Gauss

Như vậy phép chiếu Gauss đã biểu thị mặt cầu liên tục thành mặt phẳng bị biến dạng

và đứt gãy về hai phía Bắc và Nam cực Kinh tuyến giữa của múi chiếu tiếp xúc hoàn toàn với mặt trụ nên hình chiếu của nó trên mặt phẳng là đoạn thắng có chiều dài được giữ nguyên như trên mặt cầu và vuông góc với hình chiếu của xích đạo Hình chiếu của các kinh tuyến khác đều là những cung cong bị biến dạng chiều dài quay bề lõm về phía kinh tuyến giữa Hai kinh tuyến bên ngoài cùng của múi bị biến dạng chiều dài lớn nhất Hình chiếu của xích đạo cũng là đoạn thắng vuông góc với kinh tuyến giữa nhưng chiều dài của

nó bị biến dạng Hình chiếu của các vĩ tuyến là những cung cong được biến dạng chiều dài quay bề lõm về phía hai cực và đối xứng nhau qua xích đạo Hình chiếu của kinh tuyến giữa và xích đạo được chọn làm hệ trục tọa độ phẳng vuông góc Gauss được sử dụng trong trắc địa Khác với hệ tọa độ vuông góc Đềcác, trong hệ

này chọn trục tung là OX, trục hoành là OY

Trong phạm vi múi chiếu Gauss, các góc không bị

biến dạng nên còn gọi là phép chiếu đảng góc, hình

chiếu các kinh tuyến và vĩ tuyến giao nhau 900 Diện

tích của múi chiếu Gauss lớn hơn trên mặt cầu Độ biến

dạng về chiều dài và diện tích tăng từ kinh tuyến giữa

về phía hai kinh tuyến và giảm từ phía xích đạo về hai

cực Công thức gần đúng biểu thị độ biến dạng về chiều

dài giữa hai điểm a và b trên múi

chiếu hình là: Trong đó:

Trang 14

-d ab : Độ dài Cung ab trên

Từ công thức trên ta thấy, nếu các điểm nằm dọc trên kinh tuyến giữa (trên trục OX)

∆y = 0, ∆S = 0 còn càng xa kinh tuyến giữa ∆S càng tăng theo chiều dài S Tỷ số k gọi là

tỷ lệ chiếu, kinh tuyến giữa múi có k = 1

Lãnh thổ Việt Nam theo phép chiếu hình Gauss chủ yếu nằm trong phạm vi múi chiếu thứ 18, một phần miền Trung từĐà Nẵng đến Bình Thuận và Hoàng Sa thuộc múi thứ 19, một phần quần đảo Trường Sa thuộc múi chiếu thứ 20 Phép chiếu hình Gauss được Kruger phát triển và hoàn chỉnh nên còn được gọi là phép chiếu hình Gauss Kruger

1.3.3.3 Phép chiếu UTM

Phép chiếu bản đồ UTM (Universal Transverse Mercator) cũng được thực hiện với tâm chiếu là tâm quả đất và với từng múi 60, nhưng khác phép chiếu Gauss Để giảm sự biến dạng về chiều dài và diện tích, UTM sử dụng hình trụ ngang có bán kính nhỏ hơn bán kính trái đất, nó cất mặt cầu theo hai đường cong đối xứng và cách kinh tuyến giữa khoảng

± 180km Kinh tuyến giữa nằm phía ngoài mặt trụ còn hai kinh tuyến biên nằm phía trong mặt trụ

Trang 15

Như vậy hai dường cong cắt mặt trụ không bị biến dạng chiều dài (k = 1), tỷ lệ chiếu của kinh tuyến giữa múi nhỏ hơn 1 (k - 0,9996) còn trên lãnh tuyến biên tỷ lệ chiếu lớn hơn 1 Phép chiếu hình UTM cũng là phép

chiếu hình trụ ngang giữ góc, độ biến dạng

về chiều dài và diện tích lớn nhất ở ông giao

nhau giữa xích đạo với kinh tuyến giữa và

tại hai kinh tuyến biên Các điểm nằm phía

trong dường cắt mặt trụ thì độ biến dạng

mang dấu âm (-), phía ngoài là dấu dương

(+)

Như vậy, so với phép chiếu hình

Gauss, phép chiếu UTM có ưu điểm và độ

biến dạng được phân bố đều hơn và có trị số

nhỏ hơn nhưng khi xử lý số liệu lại rất phức

tạp (bởi trong một múi ở các vùng khác nhau

hoặc khi xét trong một vùng độ biến dạng

mang dấu âm, dương khác nhau)

1.3.4 Một số hệ tọa độ dùng rong đo đạc

1.3.4.1 Hệ tọa độ địa lý

Hệ toạ độ địa lý của quả đất được tạo

bởi mặt phẳng xích đạo và mặt phẳng chứa

kinh tuyến gốc Trước khi nghiên cứu cách

biểu diễn vị trí điểm trên mặt đất ta cần

phải biết một số yếu tố của quả đất bao

gồm Kinh tuyến, Vĩ tuyến, Xích đạo

• Kinh tuyến

Là giao tuyến của mặt phẳng chứa

trục quay quả đất với bề mặt quả đất

Nếu coi quả đất là hình cầu thì kinh tuyến nối từ cực Bắc đến cực Nam Nói chung các kinh tuyến là những cung có độ dài bằng nhau

Như vậy có rất nhiều kinh tuyến trong đó người ta chọn đường kinh tuyến đi qua đài

thiên văn Greenwich ở Thủđô Luân Đôn của Anh làm kinh tuyến gốc (Prime meridian)

Chọn độ kinh ởđó là 00, từđây người ta đánh số các kinh tuyến cách nhau 10 về hai phía trái và phải của kinh tuyến gốc Về phía Đông (phải) gọi là anh tuyến Đông, về phía Tây (trái) gọi là kinh tuyến Tây

• Vĩ tuyến

Trang 16

Vĩ tuyến quả đất là giao tuyến giữa các mặt phẳng vuông góc với trục quay quả đất với bề mặt quả đất Như vậy, sẽ có vô số vĩ tuyến khác nhau và nó là những đường tròn khác nhau giảm dần về hai cực Vĩ tuyến lớn nhất gọi là đường xích đạo Từ xích đạo vé mỗi cực có 90 vĩ tuyến Từ xích đạo về cực Bắc gọi là vĩ tuyến Bắc, từ xích đạo về cực Nam gọi là vĩ tuyến Nam

Như vậy hệ tọa độđịa lý bao gồm độ kinh và độ vĩ:

Kinh độ địa lý: Kinh độ địa lý của một điểm bất kỳ nằm trên mặt đất là góc nhị diện hơn bởi mặt phẳng chứa kinh tuyến gốc và mặt phẳng chứa kinh tuyến đi qua điểm đó

tuyến gốc)

Vĩ độ địa lý: Vĩ độ địa lý của một

Vĩ độ thường được ký hiệu là φ, chúng có giá trị biến thiên từ 00 đến 900 Bắc và từ 00 đến

900 Nam Vĩ độ địa lý được chia thành vĩ độ

Bắc (nằm trên đường xích đạo) và vĩ độ Nam

Lưu ý: Việt Nam nằm hoàn toàn trên bán

cầu Bắc và phía Đông kinh tuyến gốc nên tất

cả các điểm trên nước ta đều có vĩ độ Bắc và

kinh độ Đông Trên các tờ bản đồ địa hình,

mạng lưới kinh tuyến, vĩ tuyến và tọa độ địa

lý được ghi ở góc khung của tờ bản đồ

Trang 17

1.3.4.2 Hệ tọa độ vuông góc phẳng

Trong hệ loa độ vuông góc Gauss người ta lấy trục X trùng với kinh tuyến giữa và chiều dương hướng lên phía Bắc, trục Y trùng hướng xích đạo và có chiều dương hướng sang phía Đông Đại đa số các nước nằm ở Bắc bán cầu

Trong hệ tọa độ vuông góc

Gauss vì đại bộ phận các nước nằm ở Bắc bán cầu nên X > 0 còn Y lúc dương, lúc

âm Vì vậy để Y luôn luôn dương người ta dịch chuyển trục OX sang phía Tây 500 km, khi đó chúng la sẽ được hệ trục tọa độ X'O'Y Đây gọi là hệ trục Gauss thực

dụng

Theo phương pháp chiếu bản đồ Gauss, elipxôit quả đất tổng quát được phân thành 60 múi 60 hoặc 120 múi 30 với số hiệu các múi từ

1, 2, 3,… đến 60 hoặc 1, 2, 3, đến 120 từ kinh tuyến gốc qua đài thiên văn Greenwich sang Đông Kinh tuyến giữa của mỗi múi gọi là kinh tuyến trục hoặc kinh tuyến trung ương Hình ảnh các múi 60 và múi 30 với các độ kinh của kinh tuyến trục và hình ảnh xích đạo trên mặt phẳng chiếu Gauss như hình 1- 09

Mỗi múi chiếu là một hệ tọa độ vuông góc phẳng Gauss Mỗi hệ này là hệ tọa độ vuông gốc có trực X là kinh tuyến trục của múi đó, chiều dương hướng lên Bắc và trục Y là xích đạo, chiều

dương hướng sang Đông Trong múi 60 hai điểm mép múi trên đường xích đạo là hai điểm

xa kinh tuyến trục nhất, có tung độ lớn nhất về trị số tuyệt đối là 334 km Do đó, để tránh

tung độ âm ta dịch trục hoành X về phía Tây 500 km (Hình1-10)

Nghĩa là ta cộng thêm 500km vào tung độ và trước trị số tung độ mới ta ghi thêm số thử tự múi Cụ thể tung độ quy ước được tính theo công thức:

Yqui ước = n 1000.000 m + 500.000 m + ythực

Ví dụ: Một điểm ở phía Tây kinh tuyến trục, múi thứ 18 có Ythực = - 86.250 mét thì

Yquy ước sẽ là: 18.000.000 + 500.000 - 86.250 = 18.413.750 m

Trang 18

1 3.4.3 Một số Hệ tọa độ dùng ở Việt Nam

Trang 19

Bán trục lớn: a = 6.378:425,000 mét

Độ dẹp k = 1:298,3

Điểm gốc lại Đài Thiên văn Pun-kô-vơ (Liên Xô cũ)

Lưới chiếu tọa độ phẳng Gauss - Knuger

Hệ tọa độ được chuyền tới Việt Nam thông qua lưới tọa độ Quốc gia Trung Quốc Năm 1972 Chính phủ quyết định công bố hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia có tên là hệ

Hà nội-72 và viết tắt HN-72 để dùng thống nhất chung trong cả nước Sau khi giải phóng miền Nam được Cục Đo Đạc tiếp tục phát triển chúng vào miền Nam

• Hệ toạ độ VN - 2000

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, đo đạc phải hội nhập quốc tế, vì vậy hệtọa độ HN-72 không còn đáp ứng được nhu cầu kỹthuật mà thực tế yêu cầu vì:

Việt Nam có độ lệch giữa mô hình Toán học và mô hình Vật lý của trái đất quá lớn,

do đó biến động lớn, làm giảm độ chính xác lưới tọa độ và bản đồ

Không phù hợp cho áp dụng công nghệ GPS (Global Posltioning System) vào trong

đo đạc Gây khó khăn khi xử lý kết quảđo lên bản đồ

Khó liên kết với dữ liệu Quốc tế như phân định ranh giới quốc gia, ranh giới không phận hàng không

Về dấu của hoành độ nước ta và các nước khác ở Bắc bán cầu chúng luôn luôn dương Phương pháp chiếu bản đồ UTM cũng dùng hệ tọa độ vuông góc phẳng Gauss, chỉ khác là với cùng một điểm tọa độ UTM nhỏ hơn tọa độ Gauss do những điểm khác nhau giữa hai phương pháp chiếu nói ở trên • Hệ tọa độ HN-72 Chúng ta biết từ những năm 1959 đến năm 1966, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Trung Quốc, chúng ta đã xây dựng được hệ thống lưới tọa độ Nhà nước hạng 1 và II phủ kín lãnh thổ miền Bắc Việt Nam Hệ quy chiếu được lựa chọn là

hệ thống chung cho các.nước xã hội chủ nghĩa với Elipxôit Kraxopsky có các yếu tố chính sau:

Trang 20

Thiếu tính thống nhất trên ngay lãnh thổ Việt Nam

Xuất phát từ thực tếđó, đòi hỏi Việt Nam cần có một hệ quy chiếu phù hợp thống nhất trên toàn quốc Năm 2000, Thủ tướng Chính phủđã quyết định thay thế hệ quy chiếu HN-72 bằng Hệ quy chiếu mới có tên là VN - 2000 Hệ quy chiếu VN -2000 có các yếu tố chính sau: Elipxoit quy chiếu WGS toàn cầu có kích thước:

Bán trục lớn a = 6.378.137,000 mét

Độ dẹt k = 298,257223563

Tốc độ quay quanh trục ω = 7.292.115,0 x 10-11rad/s

Hằng số trọng trường trái đất GM = 3.986.000 x 108m3.s-2 Điểm gốc tọa độ quốc gia: Điểm N00 đặt tại khuôn viên Viện nghiên cứu Địa

chính, đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội Lưới tọa độ phẳng: Lưới chiếu UTM Quốc tế Chia múi và phân mảnh hệ thống bản đồ cơ bản Theo hệ thống UTM Quốc tế, danh pháp tờ bản đồ được lấy theo hệ thống hiện hành có chú thích danh pháp Quốc tế Tính chuyển Hệ tọa độ HN - 72 sang VN - 2000 Do hệ thống bản đồ của Việt Nam

cơ bản trước đây dùng theo hệ quy chiếu HN

72 để thuận lợi cho công tác đo đạc và vẽ bản đồ chúng ta đơn giản có thể chuyển từ hệ quy chiếu của HN-72 sang VN -2000, nhằm thống nhất hệ thống bản đồ của Việt Nam Vì vậy khi đo vẽ chúng ta cần chuyển, việc chuyển này được Tổng cục Địa chính đã có thông

tư số 9731200 1/TR-TCĐC, ngây 20 tháng 06 năm 2001 hướng dẫn áp dụng hệ quy chiếu

và hệ tọa độ Quốc gia VN- 2000, quyết định chuyển đổi các hệ tọa độ trước đây theo hệ tọa độ VN - 2000

Việc chuyển đổi được tính như sau: Trong cùng một hệ quy chiếu, tọa độ phẳng lưới chiếu UTM được tính thông qua tọa độ phẳng của lưới chiếu Gauss thông qua các công thức sau đây:

XUTM = XG x K0 YUTM =K0 x (YG - 5.00000) + 5.00000 γUTM = γG mUTM = K0

x mG

Trong đó: K0 = 0,9996 cho múi 60; K0 = 0,9999 cho múi 30 XUTM, YUTM: Tọa độ phẳng của lưới chiếu UTM XG; YG: Tọa độ phẳng của lưới chiếu Gauss γUTM, γG: Góc lệch kinh tuyến tương ứng với lưới chiếu UTM và lưới chiếu

Gauss

Trang 21

mUTM, mG: Tỷ lệ biến dạng chiều dài tương ứng của lưới chiếu UTM và lưới chiếu Gauss

Công thức tính các yếu tố XG; YG, γG mã của lưới chiếu Gauss theo tọa độ trắc địa đã được hướng dẫn chi tiết trong quy trình tính toán hiện hành, khi áp dụng cần thay thế Elipxôit Kraxopsky bằng kích thước Elipxôit WGS-84

Để nhận biết vị trí điểm tọa độ thuộc múi nào, trước giá trị tọa độ YUTM được ghi thêm số hiệu múi theo bảng sau

1.4 NHỮNG KIỀN THỨC CƠ BẢN VỀ BẢN ĐỒ

1.4.1 Khái niệm về bản đồ

Như chúng ta biết bề mặt trái đất gồm vô số các điểm, khi xem xét phân loại thì các điểm được chia ra làm hai loại đó là các điểm đặc trưng cho địa vật và các điểm đặc trưng cho địa hình Một vấn đề đặt ra làm sao biểu diễn chúng lên mặt phẳng tờ giấy gọi là bản

đồ Vậy, bản đồ là hình dáng thu nhỏ của bề mặt hoặc một phần của bề mặt trái đất lên mặt phẳng tờ giấy theo một phép chiếu toán học nào đó

Trang 22

1.4.2 Tính chất của bản đồ

• Tính trực quan

Bản đồ cho ta khả năng bao quát và tiếp thu nhanh chóng các yếu tố chủ yếu và quan trọng nhất của nội dung bản đồ Một trong những tính chất ưu việt của bản đồ là khả năng bao quát, biến cái không nhìn thấy thành cái nhìn thấy Bản đồ tạo ra mô hình trực quan của lãnh thổ, nó phản ánh các hình thức về các đối tượng hoặc các hiện tượng được biểu thị Qua bản đồ người sử dụng có thể tìm ra được những quy luật của sự phân bố các đối tượng và hiện tượng của bề mặt trái đất

• Tính đo được

Đây là một tính chất quan trọng của bản đồ, nó có liên quan chặt chẽ với cơ sở toán học của bản đồ Căn cứ vào tỷ lệ và phép chiếu của bản đồ, căn cứ vào các thang bậc của các ký hiệu quy ước… người sử dụng bản đồ có khả năng xác định được rất nhiều trị số khác nhau như: Tọa độ, biên độ, độ dài, khoảng cách, diện tích, thể tích, định hướng và các từ số khác

Chính nhờ tính chất này mà bản đồ được sử dụng làm cơ sở để xây đựng các mô hình toán học của các hiện tượng địa lý lvà để giải quyết các vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất

Tính chất đo được của bản đồ được sử đụng trong nhiều lĩnh vực như giao thông, xây dựng, quy hoạch, quản lý đất đai, quản lý nguồn tài nguyên rừng

• Tính thông tin của bản đồ

Đây là khả năng lưu trữ, truyền đạt cho người đọc những tin tức khác nhau về các đối tượng và các hiện tượng Từ những thông lin hiện trạng cho ta thấy những ý tưởng, phát hiện mới cho tương lai

Ví dụ Bản đồ hiện trạng rừng cho ta biết hiện trạng thảm thực vật rừng Việt Nam, làm cơ sở cho việc quản lý, quy hoạch phát triển tài nguyên rừng Việt Nam

1.4.3 Các yếu tố và phân loại bản đồ

• Các yếu tố của bản đồ

Bất kỳ một bản đồ nào cũng đảm bảo 3 yếu tố về: Nội dung, cơ sở toán học và các yếu tố hỗ trợ, bổ sung

-Các yếu tố nội dung: Sự thể hiện nội dung bản đồ là bộ phận chủ yếu của bản đồ,

bao gồm các thông tin và đối tượng về các hiện tượng được thể hiện trên bản đồ Sự phân

bố, các tính chất, những mối liên hệ, sự biến đổi của chúng theo thời gian Những thông tin đó chính là nội dung bản đồ

Ví dụ: Các yếu tố nội dung của bản đồ hiện trạng rừng là các thông tin về thực trạng thảm thực vật, địa hình và các yếu tố sống ngòi

Trang 23

Các yếu tố nội dung bản đồ chuyên đề thường phục vụ vào mục đích của bản đồ Khu tìm hiểu sự thể hiện của bản đồ phải phân biệt được nội dung chứa đựng trong

đó và các hình thức truyền đạt nội dung thông qua các ký hiệu của bản đồ

Các yếu tố toán học của bản đồ: Các yếu tố toán học của bản đồ bao gồm tỷ lệ,

phép chiếu và mạng lưới tọa độ được sử dụng trong mạng lưới đó, mạng lưới khống chế trắc địa của bố cục bản đồ:

Các yếu tố hỗ trợ, bổ sung Ngoài các yếu tố nội dung và các yếu tố cơ sở toán học trên bản đồ còn có các yếu tố bổ sung bao gồm: Bảng chú giải, thước tỷ lệ, các biểu đồ Tuỳ theo nội dung bản đồ mà các yếu tố hỗ trợ bổ sung được thiết kế tương ứng

Như vậy 3 yếu tố của bản đồ không thể tách rời nhau mà chúng tạo thành một thể thống nhất gọi là bản đồ

• Phân loại bản đồ

Bản đồ hết sức phong phú và đa dạng, để thuận lợi trong công tác quản lý và khai thác thông tin từ bản đồ Thực tế người ta phân loại bản đồ chủ yếu dựa vào các nội dung bản đồ, mục đích của bản đồ, theo tỷ lệ bản đồ Dưới đây là một số cơ sở phân loại của bản đồ:

Phân loại theo đối tượng: Bản đồ được phân chia thành hai nhóm Nhóm bản đồ địa lý và nhóm bản đồ thiên văn

Phân loại theo nội dung: Nội dung bản đồ rất quan trọng và được phân thành hai nhóm chính như sau:

Nhóm bản đồ địa lý chung: Thể hiện toàn bộ các yếu tố cơ bản của lãnh thổ như ranh giới, địa hình, địa vật Các yếu tố này phụ thuộc lớn vào tỷ lệ bản đồ và mục đích sử dụng bản đồ

Nhóm bản đồ chuyên đề bản đồ phản ánh về từng hiện tượng, đối tượng tự nhiên,

xã hội cũng như các tổ hợp và thể tổng hợp của chúng Bản đồ chuyên đề phân nhóm theo các chủ đề như: Địa chất, địa mạo, khí hậu, cảnh quan, dân cư, kinh tế Trong thực tiễn và trong các tài liệu khoa học, kỹ thuật còn dùng thuật ngữ bản đồ chuyên môn để chỉ bản đồ chuyên đề, mặc dù thuật ngữđó chỉ dùng cho các bản đồ có mục đích và tính chuyên dụng như bản đồ hàng hải, bản đồ hàng không

Nội dung của bản đồ chuyên đề có thể là các yếu tố nào đó trong số các yếu tố nội dung của bản đồ địa lý chung, cũng có thể là các đối tượng, hiện tượng không được thể hiện trên bản đồđịa lý chung như: Cấu trúc địa chất, lượng mưa, nhiệt độ

Ví dụ: Bản đồ lập địa phản ánh sự phân bố của các yếu tố lập địa như khí hậu, đất đai giúp cho công tác trồng rừng được hiệu quả

Bản đồ quy hoạch lâm nghiệp phản ánh các yếu tốảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp như địa hình, độ cao, mạng lưới giao thông, dân cư và các công trình lâm nghiệp

Trang 24

Trong Lâm nghiệp được phân thành các loại bản đổ như Hiện trạng rừng, bản đồ quy hoạch lâm nghiệp, Bản đồ thiết kế trồng rừng, bản đồ lập địa, bản đồ giao đất lâm nghiệp, Bản đồ phân bố động thực vật rừng…

- Phân loại theo tỷ lệ: Tỷ lệ bản đồ là cơ sở để người ta phân ra Tỷ lệ lớn, tỷ lệ trung bình và tỷ lệ nhỏ

Bản đồ tỷ lệ lớn ≥ 1: 25.000

Bản đồ tỷ lệ trung bình: 1:50.000 đến 1: 500.000

Bản đồ tỷ lệ nhỏ ≤ 1: 1.000.000

-Phân theo mục đích sử dụng: Thực chất mục đích sử dụng của chúng ta rất phong

phú, vì vậy việc phân chia chưa được chặt chẽ Trong Lâm nghiệp phân thành các loại bản

đồ như sau:

Nhóm bản đồ quản lý: Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ phân cấp phòng hộ, bản đồ

dự báo cháy rừng, bản đồ đa dạng sinh học, bản đồ phân bố động thực vật, bản đồ mạng lưới các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn…

Nhóm bản đồ quy hoạch: Bản đồ thiết kế trồng rừng, bản đồ lập địa, bản đồ hiện trạng đất rừng, bản đồ quy hoạch lâm nghiệp, bản đồ thiết kế khai thác rừng, bản đồ phân cấp đầu nguồn

Nhóm bản đồ du lịch: Bản đồ du lịch sinh thái của các Vườn Quốc gia, các khu bảo tồn…

ab: Chiều dài trên bản đồ

AB: Chiều dài tương ứng nằm trên mặt đất

Ví dụ: 1: 500; 1: 200; 1: 5.000; 1: 2.000; 1:10.000 v.v Độ chính xác của bản đồ

phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ, bản đồ có mẫu số tỷ lệ càng nhỏ, độ chính xác càng

cao Bản đồ có mẫu số tỷ lệ càng lớn thì độ chính xác càng thấp Trên giấy (bản

đồ) bằng mắt thường ta chỉ có thể nhìn thấy và phân biệt được hai

Trang 25

điểm cách nhau gần nhất là 0,1mm Bởi vậy, người ta gọi khoảng cách nằm ngang trên thực địa tương ứng với 0,1mm trên bản đồ là độ chính xác của tỷ lệ Nếu tỷ lệ bản đồ là 1/M thì khoảng cách nằm ngang bé nhất trên thực địa là dùng có thể biểu diễn được lên bản đồ này là:

dmin = 0,1mm x M Ngược lại, nếu biết trước khoảng cách nằm ngang bé nhất trên thực địa cần phải biểu diễn lên bản đồ thì ta có thể xác định được tỷ lệ bản đồ lim cần thiết là:

1/M = 0,1mm:dmin

Rõ ràng nếu tỷ lệ bản đồ càng lớn thì mức độ biểu diễn địa hình, địa vật càng đầy

đủ, chi tiết và chính xác

1.4.5 Địa vật, các phương pháp biểu diễn địa vật

• Khái niệm: Địa vật là những vật tồn tại trên mặt đất Địa vật tồn tại dưới hai dạng: Địa vật nhân tạo và địa.vật tự nhiên

Ví dụ: Địa vật nhân tạo: Xóm làng, đường xá, các công trình công cộng…; Địa vật tự nhiên: sống, suốt, ao, hồ…

• Các phương pháp biểu diễn:

Bản đồ cần phản ánh chính xác các hiện tượng xã hội và hiện tượng tự nhiên, tùy theo nội dung cần thiết của nó Bản đồ địa hình ngoài việc phản ánh các địa vật trên mặt đất như sống hồ, rừng, ruộng, làng, xóm… Cho đến nay, phương pháp tốt nhất là phản ánh được nhiều mục đích thể hiện của bản đồ theo ký hiệu bản đồ

Ký hiệu bản đồ là những quy ước, bằng nét vẽ, bằng ghi chú và bảng màu sắc, dùng

để biểu diễn các dáng đất, các địa vật (nhìn thấy được và không nhìn thấy được) trên mặt đất cũng như các hiện tượng xã hội, tự nhiên khác cả về số lượng và chất lượng

Ký hiệu bản đồ chính là ngôn ngữ bản đồ, nó làm nội dung của bản đồ phong phú hơn Tùy theo nội dung, tỷ lệ bản đồ và các đặc điểm của khu vực lập bản đồ, các đối tượng biểu thị đối tượng sử dụng, khả năng kỹ thuật vẽ, in và các quan hệ kinh tế - xã hội khác mà các ký hiệu bản đồ được quy ước khác nhau, tuy nhiên chúng đều tuân theo các nguyên tắc chung sau:

Ký hiệu có thể được chia thành 3 loại: Ký hiệu theo tỷ lệ, ký hiệu theo nửa tỷ lệ, ký hiệu không theo tỷ lệ

Trang 26

sau khi thu nhỏ theo tỷ

lệ bản đồ vẫn biểu thị trên bản đồ được Lưu ý:

-Hình tượng rõ ràng -Dễ nhớ, dễ vẽ

-Đẹp và chính xác

- Ít dùng ghi chú và màu sắc

• Ký hiệu theo nửa tỷ lệ

Ký hiệu theo nửa tỷ lệ

có một chiều tỷ lệ với kích thước thực, còn chiều kia theo

Trang 27

quy định Ký hiệu này dùng biểu thị những địa vật có chiều dài biểu thị theo tỷ lệ được còn chiều rộng không biểu thị được nên chúng còn được gọi là ký hiệu nét dài Ký hiệu này khác ký hiệu theo tỷ lệở chỗ chu vi của ký hiệu theo tỷ lệ phải đúng với hình chiếu thu nhỏ của địa vật còn ký hiệu theo nửa tỷ lệ không nhất thiết phải như thế

• Ký hiệu không theo tỷ lệ: Ký hiệu không theo tỷ lệ có hình dạng và kích thước được quy định trong hệ thống ký hiệu bản đồ Nó dùng biểu thị những địa vật nếu thu nhỏ theo tỷ lệ bản đồ thì không thể biểu thị trên bản đồ được vì khi đó hình ảnh địa vật sẽ như một điểm

vậy, ký hiệu không theo tỷ lệ còn gọi là ký hiệu điểm Tuy nhiên nó lại biểu thị chính xác

vị trí địa vật ở trên thực địa

Tóm lại, biểu diễn địa vật trên bản đồ là một nội dung không thể thiếu được, nếu bản

đồ càng thể hiện chính xác vị trí, hình dáng của địa vật thì bản đồ đó có độ chính xác càng cao Nhưng cũng tùy thuộc vào mục đích của mỗi loại tờ bản đồ mà người ta có các ký hiệu khác nhau và có những cách lựa chọn loại ký hiệu cho phù hợp với các nguyên tắc trên

1.4.6 Địa hình và các phương pháp biểu diễn địa hình

• Khái niệm: Địa hình là hình dâng cao thấp, lồi lõm của bề mặt quả đất

• Các phương pháp biểu diễn địa hình: Phương pháp biểu diễn địa hình là sự thể hiện cao thấp của mặt đất từ trước đến nay Để biểu diễn địa hình người ta sử dụng nhiều phương pháp khác nhau:

a Phương pháp tô màu (hình 1-13)

Trong phương pháp này người ta dùng màu

để thể hiện địa hình Thường người ta dùng màu

đỏ để biểu diễn đồi núi, núi càng cao màu nâu đỏ

càng đậm, màu xanh biểu diễn đồng bằng và

biển, biển càng sâu màu xanh càng đậm Ưu

điểm của phương pháp này là dễ nhìn, đẹp nhưng

nhược điểm của nó không cho chính xác được

các thông số về độ cao của các điểm Vì vậy,

phương pháp tô màu thường áp dụng trong các

bản đồ địa hình và bản đồ chuyên ngành có tỷ lệ

nhỏ

b Phương pháp ghi độ cao hình(1-14):

Trong phương pháp này người ta ghi trực tiếp

độ cao lên bản đồ như chân núi, đỉnh núi Phương pháp này chỉ cho chúng ta biết chung chung về địa hình của vùng đó Ở vùng đóng bằng độ chênh cao ít nên người ta thường thể

Trang 28

hiện dáng đất trực tiếp bằng các điểm độ cao đặt ở các nơi lồi lõm khác nhau theo mật độ cần thiết ứng với các tỷ lệ bản đồ khác nhau ở những địa hình thay đổi độ cao dột ngột, nhất thiết phải có điểm độ cao ở trên cao và dưới thấp sát ranh giới biến đổi đó Để thể hiện hướng biến đổi độ cao, ta thường vẽ thêm các vạch ngắn xuất phát từ ranh giới biến đổi về đất thấp ưu điểm của phương pháp này là cho chính xác thông số độ cao của một sốđiểm độ cao đặc trưng, nhưng nhược điểm không cho được một bức tranh tổng thể toàn cảnh địa hình của toàn khu vực cần biểu diễn Phương pháp này thường đùng kết hợp với các phương pháp biểu diễn khác

Trang 29

d Phương pháp đường đồng mức (đường bình

độ):

Xuất phát từ ba phương pháp trên, việc biểu

diễn địa hình chỉ cho ta biết khái niệm tương đối, vì

vậy không dược sử dụng trong kỹ thuật, thiết kế các

công trình Để khắc phục người ta sử dụng phương

pháp đường đồng mức biểu diễn hình dáng mặt đất

Bản chất của phương pháp dùng đường đồng mức

hay còn gọi là đường bình độ là cắt đặt đất tự nhiên

bởi những mặt phẳng song song với mặt thuỷ chuẩn

gốc, bằng những khoảng cách 5 m, 10 m, 15 m hay

20 m (đây dược gọi là khoảng cao đều của dường

đồng mức) Khi đó các mặt phẳng lạo với mật dết

một tiết diện, người ta chiếu tiết diện đó lên mặt

phẳng quy ước (mặt thuỷ chuẩn gốc) được các

đường bình độ có độ cao cách mặt 'thuỷ chuẩn gốc

là những khoảng cao đều Thực tế để biểu diễn

đường đồng mức người ta luôn chọn các mặt phẳng

cách nhau một khoảng chán và cứ 5 đường đồng

mức lại ghi chú độ cao một đường riêng các dính

đồi đều được ghi chú độ cao của đỉnh

* Khái niệm: Đường đồng mức (đường bình

độ) là đường nối liền các điểm cớ cùng độ cao trên

mặt đất tự nhiên với nhau Nói cách khác, đường

đồng mức là giao tuyến giữa mặt đất tự

nhiên và bề mặt song song với mặt thuỷ chuẩn

Trang 30

* Tính chất: Đường đồng mức có các tính chất sau:

-Tất cả các điểm nằm trên đường đồng mức đều có độ cao bằng nhau trên mặt đất Đường đồng mức phải liên tục khép kín Trường hợp đường đồng mức không khép kín trong phạm vi tờ bản đồ phải kéo dài tới tận biên bản đồ Đồi hoặc địa hình lòng chảo được phân biệt theo các vạch chỉ dốc hoặc theo các chữ số chỉ độ cao

Đường đồng mức cách xa nhau, chỗđó độ dốc thoải, các đường đồng mức sít nhau thể mặt đất càng dốc nhiều Hướng vuông góc với các đường đồng mức là hướng dốc nhất Chỗ nào đường đồng mức trùng nhau chỗđó là vách thẳng đứng

Đường đồng mức không bao giờ cắt nhau trên bản đồ Trường hợp ngoại lệ ít gặp là khi đường đồng mức biểu diễn cho một mỏm đá nhô ra

Đây là phương pháp có độ chính xác cao cho phép chúng ta sử dụng trong kỹ thuật

và xây dựng công trình Hiện nay, phương pháp này được sử dụng rộng rãi Đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh, phương pháp này giúp cho bộ đội xác định chính xác địa hình, hướng

đi hợp lý nhất

(Nguồn: Sử dụng bản đồ địa hình trong sản xuất Nông lâm nghiệp của Vũ Thành Mô)

• Các yếu tố của địa hình

Các yếu tố địa hình của mặt đất được chia ra các dạng cơ bản sau: Đồng bằng, núi, địa hình lòng chảo, mạch núi, vùng trũng sâu, vùng yên ngựa Ngoài yếu tố địa hình, yếu

tố địa vật cũng được thể hiện Địa vật bao gồm các vật thể tự nhiên Để biểu diễn các địa vật trên bản đồ người ta thống nhất các ký hiệu quy ước địa vật Đối với mỗi nước khác nhau, căn cứ vào điều kiện riêng của mình mã đề ra những ký hiệu địa vật thích hợp người

ta đã biết đường đồng mức là những đường cong khép kín Cũng dễ nhận ra một quả đồi hay một lòng chảo hay một dông đồi trên bàn đồ nhờ các

Trang 31

đường đồng mức

• Phân biệt các dạng địa hình

1 Núi đồi: là vùng cao lồi lên của bề mặt

trái đất Chỗ cao nhất của núi đồi là

"Đỉnh", từ đỉnh toả ra mọi phía là các

sườn dốc Đường chuyển tiếp từ sườn

dốc sang đất bằng là chân núi Ở trên bản

đồ thì đồi được thể hiện là các đường

đồng mức vòng cong khép kín, vòng này

lọt trong vòng kia, các vạch chỉ đốc tăng

dần từ vòng lớn đến vòng nhỏ

2 Lòng chảo: là vùng lõm xuống của bề

mặt trái đất Chỗ thấp nhất của lòng chảo

gọi là đáy Từđáy ngược lên mọi phía là

sườn dốc Vách trên của lòng chảo gọi là

mép Ở trên bản đồ lòng chảo được thể

hiện là các đường đồng mức vòng cong khép kín, vùng này lọt trong vòng kia, các vạch chỉđốc giảm dân từ vòng lớn đến vòng nhỏ

3 Đường phân thuỷ (mạch núi, dông): là vùng nổi cao và chạy dài theo một hướng

Đường sống chạy dọc theo mạch núi mà từđó sườn dốc đổ về hai phía được gọi là đường phân thuỷ Từ đường chứa nước xuống hai phía gọi là sườn dốc Ở trên bản đồ đường phân thuỷ được thể hiện bằng các đường đồng mức lồi hướng về phía thấp dần (chân đồi)

4 Đường tập trung nước (khe, trũng máng): là vùng trũng lõm xuống và chạy dài theo một hướng Đường đáy của trũng máng là đường tập trung nước Từ đường tập

trung nước ngược về hai phía là các sườn dốc Ở trên bản đồ đường tập trung nước được thể hiện bằng các đường đồng mức có bề rồi hướng về các đường đồng mức cam (ngược với đường phân thuỷ)

5 Đồi yên ngựa: là vùng mặt đất nằm trên hai mạch núi và hai trũng máng Nói cách khác, yên ngựa dừa là chỗ gặp nhau của hai mạch núi (dẫn đến từ hai đỉnh núi khác nhau) vừa là chỗ bắt đầu của hai trũng máng (phân bốở hai phía đối diện của mạch núi) Ở trên bản đồ đồi yên ngựa thể hiện bằng các đường đồng mức có bề lồi hướng về nó

Trang 33

Người ta còn phân ra sườn trên, sườn dưới và sườn giữa Sườn trên chiếm 1/3 sườn

từ đỉnh xuống chân, sườn giữa chiếm khoảng từ 1/3 đến 2/3 sườn kể từ đỉnh xuống chân

và còn lại là sườn dưới

1.5 PHÂN MẢNH VÀ ĐÁNH SỐ BẢN ĐỒ

1.5.1 Lý do của việc phố mảnh bản đồ

Trong thực tế để quản lý bản đồ được thuận lợi, người ta tiến hành phân chia bản đồ thành các mảnh Mỗi mảnh có kích thước và tên gọi nhất định Việc phân mảnh đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi:

-Diện tích ngoài thực địa lớn: Như chúng ta biết diện tích bề mặt trái đất rất lớn gần

510 x 100 km2, việc vẽ chúng lên bản đồ quả là khó khăn khi giấy có giới hạn nhất định Như vậy không có một tờ giấy nào có thể biểu diễn đầy đủ chính xác diện tích bề mặt quả đất lên được

-Bản đồ có độ chính xác nhất định: Mặc dù chúng ta có thể biểu diễn bản đồ dưới

nhiều dạng tỷ lệ khác nhau, như vậy không có nghĩa là ta cứ thu nhỏ mãi bản đồ lại, mà chúng đòi hỏi có độ chính xác của bản đồ Với mỗi tỷ lệ của bản đồ cho ta một độ chính xác nhất định

Ví dụ: Bản đồ tỷ lệ 1:5.000 trong hồ sơ giao đất giao rừng cho hộ sẽ có độ chính xác cao hơn bản đồ giao đất giao rừng cấp xã có tỷ lệ 1:10.000 Bởi chúng thể hiện chi tiết các yếu tố địa hình, địa vật hơn

-Quản lý và sử dụng bản đồ được thuận lợi: Khi phân mảnh bản đồ giúp ta dễ dàng

quản lý và sử dụng bản đồ, giảm bớt sự cồng kềnh và vẫn đáp ứng độ chính xác như mong muốn Như vậy, nếu ta chỉ sử dụng bản đồ chứa thành phố Thái Nguyên thì ta chỉ việc sử dụng mảnh bản đồ có thành phố Thái Nguyên mà không phải mở cả một mảnh bản đồ to toàn quốc nữa Đặc biệt việc quản lý chúng trở nên đơn giản có thể cho vào hộp nhỏ bảo quản tránh ướt, tránh mối mọt

-Đáp ứng ngôn ngữ chung của thế giới: Như vậy, việc sử dụng bản đồ đòi hỏi chúng

có một ngôn ngữ chung để khi người sử dụng bản đồ có thể hiểu được nội dung của bản

đồ Điều quan trọng là chúng đáp ứng được yêu cấu chung của thế giới giúp chúng ta có thể hội nhập với thế giới trong lĩnh vực đo đạc bản đồ

Trang 34

1.5.2 Nguyên tắc phân mảnh, đánh số bản đồ

Có rất nhiều tài liệu nói đến việc phân mảnh và đánh số bản đồ, tuy nhiên những cơ

sở khoa học của chúng đến ngày nay vẫn có giả trị tuy nhiên để phù hợp với những phiên hiệu quốc tế, khoa học trắc địa của Việt Nam đã và đang ứng bước hoàn thiện việc phân mảnh đánh số bản đồ cho thuận lợi nhất, tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế

1.5.2.1 Phân mảnh theo hệ Gauss và UTM trước đây

Toàn bộ trái đất được chia thành 60 múi, mỗi múi có 60 kinh Múi thứ nhất tính từ

1800 đến 1740 kinh Tây, lần lướt đánh số từ Tây sang Đông và ký hiệu 1,2,3… đến

60 Theo vĩ độ được chia thành 40 và lấy xích đạo làm gốc tính về hai cực Mỗi đai được ghi bằng chữ cái in hoa la tinh A.B.C… Mỗi tờ có kích thước 60 x 40 và được gọi là bản

đồ cơ sở cổ tỷ lệ 1/1.000.000 (xem thêm hình 1-11)

1.5.2.2 Phân mảnh theo hệ VN-2000 hiện nay

Trong giáo trình này, giới thiệu một trong những nguyên tắc mới nhất mà Tổng cục địa chính ban hành Đây là một trong những nguyên tắc mới nhất bởi có cả phiên hiệu quốc tế

1.5.2.2.1 Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình cơ bản

a Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:1.000.000

Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000, kích thước 40 x 60 là giao nhau của múi 60 chia theo đường kinh tuyến và đai 40 chia theo đường vĩ tuyến Ký hiệu múi được đánh số bằng sốẢ Rập 1, 2, 3…n bắt đầu từ múi số 1 nằm giữa kinh tuyến 1800Đ và 1740T, ký hiệu múi tăng dần từĐông sang Tây Ký hiệu đai được đánh bằng các chữ cái La Tinh A, B, C (người ta

Trang 35

bỏ qua chữ số O và I để tránh nhầm lẫn với chữ số 0 và số I) bắt đầu từđai A nằm giữa vĩ tuyến 00 và 40, ký hiệu đai tăng từ xích đạo về hai cực

Trang 36

Trong hệ thống lưới chiếu UTM quốc tế, người ta đặt trước ký hiệu đai thêm chữ cái

N (Nanh) đối với các đai ở Bắc bán cầu và chữ S (Southem) đối với các đai ở Nam bán

cầu Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 trong hệ VN-2000 cố dạng X-yy (NX-yy),

trong đó X là ký hiệu đai và yy ký hiệu múi, phần trong ngoặc là phiên hiệu mảnh theo

kiểu UTM quốc tế (hình 1-19a)

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 có phiên hiệu là F-48(NF-48)

b Bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 500.000 Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 (hình 1- 19b) chia

thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500.000, mỗi mảnh có kích thước 20 x 30, phiên hiệu mảnh đặt theo các chữ cái A,B,C,D theo thứ tự từ trái qua phải, từ trên xuống dưới Theo kiểu UTM quốc tế, các phiên hiệu A,B,C,D được đánh theo chiều kim đồng hồ bắt đầu từ góc Tây Bắc Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500.000 là phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ

1:1.000.000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500.000 đó, gạch nối sau đó là ký

hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500.000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 1.000.000, phần trong ngoặc

là phiên hiệu mảnh bản đồ đó theo kiểu UTM quốc tế

Ví dụ mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500.000 có phiên hiệu F-48-C (NF-48-D)

c Bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 250.000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500.000 chia thành 4 mảnh (hình 1-19c), mảnh bản đồ tỷ lệ

1:250.000, mỗi mảnh có kích thước 10 < 1030' ký hiệu bằng các sốẢ Rập 1,2,3,4 theo thứ tự

từ trái sang phải, từ trên xuống dưới Theo kiểu UTM quốc tế mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 chia thành 16 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250.000, mỗi mảnh cũng có kích thước 10 x

1030' ký hiệu bằng các chữ sốẢ Rập 1,2,3… đến 16 theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250.000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ 1: 500.000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 250.000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 250.000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 500.000, phần trong ngoặc là phiên hiệu mảnh

bản đồ theo kiểu UTM quốc tế Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:250.000 có phiên hiệu

F-48-D-1(NF-48-11)

d Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:100.000 Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 (hình 1-20a)

chia thành 96 mảnh bản đồ tỷ lệ

1: 100 000 mỗi mảnh có kích thước 30' x 30', ký hiệu bằng sốẢ Rập từ 1 đến 96 theo thứ

tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới

Theo kiểu UTM quốc tế hệ thống tỷ lệ bản đồ tỷ lệ lệ 100.000 được phân chia độc lập so với hệ thống bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 100.000 gồm

4 số, 2 số đầu bắt đầu bằng 00 là số thứ tự của các múi có độ rộng 30' theo kinh tuyến xuất

Trang 37

phát từ kinh tuyến 750Đ tăng dần về phía Đông (múi nằm giữa kinh độ 1020Đ và 102030'Đ

là cột 54), 2 số sau bắt đầu bằng 01 là số thứ tự của các đai có độ rộng 30' theo vĩ tuyến xuất phát từ vĩ tuyến 40 Nam bán cầu (vĩ tuyến -40) tăng dần về phía cực (đai nằm giữa độ

vĩ 80 và 8030' là 25) Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 gồm phiên hiệu mảnh bản

đồ tỷ lệ 1:

1.000.000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản

đồ tỷ lệ 1:100.000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000, phần trong ngoặc là phiên hiệu mảnh bản đồ đó theo kiểu UTM quốc tế

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ lệ 100.000 có phiên hiệu F-48-68 (6151)

đ Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ lệ 100.000 (hình 1-20b) được chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ

1: 50.000, mỗi mảnh có kích thước 15' x 15', ký hiệu bằng A,B,C, D theo thứ tự từ trái qua phải, từ trên xuống dưới

Theo kiểu UTM quốc tế, việc chia mảnh thực hiện tương tự, phiên hiệu mảnh bằng chữ số La Mã I, II, III, IV theo thứ tự bắt đầu từ mảnh góc Đông Bắc theo chiều kim đồng

hồ

Phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ

chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 đó, gạch nối và sau đó là ký bệu mảnh bản đồ tỷ

lệ 1:50.000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100.000, phần trong ngoặc là phiên hiệu mảnh bản

đồ đó theo kiểu UTM quốc tế (phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ lệ 50.000 theo kiểu UTM quốc tế cũng đặt theo nguyên tắc trên nhưng không có gạch ngang) Ví dụ Mảnh bản đồ tỷ

lệ 1: 50.000 có phiên hiệu F -48-68- D (6151II)

Bản đồ địa hình tỷ lệ: 1: 25.000 Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 (hình 1-20c) được

chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ lệ 25.000, mỗi mảnh có kích thước 7'30" x 7'30", ký hiệu bằng a, b, c, d theo thứ tự từ trái qua phải, từ trên xuống dưới Hệ thống UTM quốc tế không phân chia các mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000 và lớn hơn Phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 25.000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 25.000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh

bản đồ tỷ lệ 1: 25.000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 Ví dụ: Mảnh

bản đồ tỷ lệ 1:25.000 có phiên hiệu F-48-68-D-d

g Bản đồ địa hình tỷ lệ: 1:10.000

Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000 (hình 1-20d) được chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:

10.000 mỗi mảnh có kích thước 3'45" x 3'45", ký hiệu bằng 1, 2, 3, 4 theo thứ tự từ trái qua phải, từ trên xuống dưới

Trang 38

Phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10.000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 25.000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10.000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ

lệ 1: 10.000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 25.000

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 25.000 có phiên hiệu F-48 -68 -d -3

h Bản đồ địa hình tỷ lệ: 1:5.000 Mỗi mảnh bản đồ tỳ lệ l: 100.000 (hình 1-20e) dược chia

thành 256 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000, mỗi mảnh có kích thước 1'52,5" x 1 '52,5", ký hiệu

từ 1 đến 256 theo thứ

tự từ trái qua phải, từ trên xuống dưới Phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 5.000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ

1:100.000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 5.000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ

tỷ lệ 1:5.000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 100.000 đặt trong ngoặc đơn

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000 có phiên hiệu F -48 - 68 -(256 - g)

i Bản đồ địa hình tỷ lệ:1: 2.000 Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 5.000 (hình 1-20f) được chia

thành 9 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2.000, mỗi mảnh có kích thước 37,5" x 37.5" ký hiệu bằng chữ La tinh a, b, c, d, e, f,

g, h, k (lưu ý bỏ qua chữ i và j đề tranh nhầm lẫn với số 1) theo thứ tự từ trái qua phải, từ trên xuống dưới

Phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 2.000 gồm phiên hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 5.000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 2.000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu mảnh bản đồ tỷ

lệ lệ 2.000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000, dặt trong ngoặc đơn cả ký hiệu của mảnh bản

đồ tỷ lệ 1:5.000 và mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 2.000

Ví dụ: Mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 2.000 có phiên hiệu F -48 -68 -(256 -g)

k Sơđồ phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình cơ bản

Trang 39

Hình 1 - 19 Sơ đồ phân mảnh và đặt phiên hiệu

Trang 40

* Phân mảnh và đặt phiên hiệu các mảnh bản đồ tỷ lệ lớn khác:

1.5.2.2.2 Phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ lớn

Bản đồ tỷ lệ lớn 1:1000 và 1:500 chỉ được thành lập cho các khu vực nhỏ, có thể thiết kế hệ thống phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh phù hợp cho từng trường hợp cụ thể Ngoài ra cũng có thể sử dụng cách phân mảnh và đặt phiên hiệu mảnh theo hệ thống

Ngày đăng: 18/12/2013, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hồng Ánh (1996), Trắc địa - Phần bài tập, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2. Chu Thị Bình (2007), Ứng dụng hệ thống tin địa lý trong Lâm nghiệp, Bài giảng Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc địa - Phần bài tập", NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2. Chu Thị Bình (2007), "Ứng dụng hệ thống tin địa lý trong Lâm nghiệp
Tác giả: Lê Hồng Ánh (1996), Trắc địa - Phần bài tập, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2. Chu Thị Bình
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
3. Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) (2006), Tập huấn nâng cao vềứng dụng GPS/GIS và sử dụng phần mềm MAPINFO, Bài giảng tập huấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập huấn nâng cao về ứng dụng GPS/GIS và sử dụng phần mềm MAPINFO
Tác giả: Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
Năm: 2006
4. Phạm Văn Chuyên (2000), Đo đạc, NXB xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo đạc
Tác giả: Phạm Văn Chuyên
Nhà XB: NXB xây dựng
Năm: 2000
5. Lâm Quang Dốc &amp; CS (1995), Giáo trình bản đồ học, NXB Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bản đồ học
Tác giả: Lâm Quang Dốc &amp; CS
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 1995
6. Nguyễn Thạc Dũng (1998), Cơ sở Trắc địa và ứng dụng trong xây dựng, ĐH Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Trắc địa và ứng dụng trong xây dựng
Tác giả: Nguyễn Thạc Dũng
Năm: 1998
7. Vũ Định (2007), Hướng dẫn sử dụng phẩm mền VDMAP, Bài giảng Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng phẩm mền VDMAP
Tác giả: Vũ Định
Năm: 2007
8. Hoàng Ngọc Hà (1999), Cơ sở xử lý số liệu trắc địa. Đại học Mỏ -Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở xử lý số liệu trắc địa
Tác giả: Hoàng Ngọc Hà
Năm: 1999
9. Triệu Văn Hiến (1992), Bài giảng bản đồ học. Đại học Mỏ -Địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng bản đồ học
Tác giả: Triệu Văn Hiến
Năm: 1992
10. Vũ Tiến Hình &amp; CS (1992), Điều tra quy hoạch điều chế rừng - Học phần I, Giáo trình Đại học Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra quy hoạch điều chế rừng - Học phần I
Tác giả: Vũ Tiến Hình &amp; CS
Năm: 1992
11. Trần Trung Hồng (1997), Giáo trình in bản đồ, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình in bản đồ
Tác giả: Trần Trung Hồng
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 1997
12. Lê Huỳnh (1999), Bản đồ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ học
Tác giả: Lê Huỳnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
13. Võ Chí Mỹ (2001). Bài giảng trắc địa đại cương, Đại học Mỏ -Địa chất, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng trắc địa đại cương
Tác giả: Võ Chí Mỹ
Năm: 2001
16. Nguyễn Trọng San (1999), Bài giảng đo đạc địa chính, ĐH Mỏ-Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng đo đạc địa chính
Tác giả: Nguyễn Trọng San
Năm: 1999
17. Nguyễn Trọng San, Đào Quang Hiến, Đinh Công Hòa (2002), Giáo trình Trắc địa cơ sở, NXB xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Trắc địa cơ sở
Tác giả: Nguyễn Trọng San, Đào Quang Hiến, Đinh Công Hòa
Nhà XB: NXB xây dựng
Năm: 2002
18. Trần Đức Thanh (2001). Giáo trình Đo vẽ địa hình. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đo vẽ địa hình
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Nguyễn Thế Thận (1999), Cơ sở hệ thông thông tin địa lý GIS, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở hệ thông thông tin địa lý GIS
Tác giả: Nguyễn Thế Thận
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
20. Nguyễn Thế Thận, Nguyễn Thạc Dũng (1999), Trắc địa và bản đồ kỹ thuật số trong xây dựng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc địa và bản đồ kỹ thuật số trong xây dựng
Tác giả: Nguyễn Thế Thận, Nguyễn Thạc Dũng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
21. Vũ Thặng (1999), Trắc địa đại cương, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc địa đại cương
Tác giả: Vũ Thặng
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1999
22. Lê Văn Thơ (2007), Bài giảng Trắc địa I, Bài giảng Khoa Tài nguyên &amp; Môi trường - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Trắc địa I
Tác giả: Lê Văn Thơ
Năm: 2007
23. Nguyễn Thanh Tiến (2007), Bài giảng đo đạc lâm nghiệp, Bài giảng Khoa Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng đo đạc lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thanh Tiến
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình cần đo (hình 3-14). - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Hình c ần đo (hình 3-14) (Trang 71)
Hình 3 -16. Cách đọc số trên máy   + Sử dụng máy đo diện tích - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Hình 3 16. Cách đọc số trên máy + Sử dụng máy đo diện tích (Trang 73)
Bảng 4-01. Sổđo góc bằng theo phương pháp đo toàn vòng - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Bảng 4 01. Sổđo góc bằng theo phương pháp đo toàn vòng (Trang 91)
Hình 4 - 20. Máy thủy bình HB-1 - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Hình 4 20. Máy thủy bình HB-1 (Trang 106)
Hình vành khăn có tâm  trùng  với  tâm  trụ - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Hình v ành khăn có tâm trùng với tâm trụ (Trang 122)
Hình 4-32. Hướng ngắm của địa bàn - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Hình 4 32. Hướng ngắm của địa bàn (Trang 123)
Hình lưu điểm tọa độ (waypoint). - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Hình l ưu điểm tọa độ (waypoint) (Trang 141)
Hình 5 - 03. Cơ sở dữ liệu - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Hình 5 03. Cơ sở dữ liệu (Trang 177)
Bảng 6-01. Loại đất thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Bảng 6 01. Loại đất thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất (Trang 188)
Bảng tra  đổi từ Grad ra độ - GIÁO TRÌNH ĐO ĐẠC LÂM NGHIỆP - Đại học nông lâm
Bảng tra đổi từ Grad ra độ (Trang 203)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w