Kết quả nghiên cứu chính Thực trạng các HTX DVNN của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tuy đã được chuyển đổi cơ bản về tổ chức bộ máy, quy mô và phương thức hoạt động theo luật HTX năm 2012,
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN DUY CHINH
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP SAU CHUYỂN ĐỔI THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ TỪ SƠN - TỈNH BẮC NINH
Ngành: Phát triển nông thôn
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Thanh Cúc
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Chinh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Thanh Cúc đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Phát triển Nông thôn, Khoa Kinh tế phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Thị ủy Từ Sơn, Phòng kinh tế thị xã Từ Sơn, Chi cục thống kê thị xã Từ Sơn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Chinh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstact xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Đóng góp của luận văn 3
1.5.1 Về lý luận 3
1.5.2 Về thực tiễn 4
Phân 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm 5
2.1.2 Đặc điểm và vai trò của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 8
2.1.3 Nội dung nghiên cứu phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 11
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 14
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ở Việt Nam 19
Trang 52.2.3 Bài học rút ra cho phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn
thị xã Từ Sơn 28
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 44
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 45
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 46
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 47
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 49
4.1 Thực trạng phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã Từ Sơn 49
4.1.1 Phát triển về số lượng hợp tác xã 49
4.1.2 Phát triển chất lượng hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 54
4.1.3 Thực trạng các giải pháp phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã Từ Sơn 78
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã Từ Sơn 83
4.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước 83
4.2.2 Trình độ cán bộ quản lý 85
4.2.3 Lao động 86
4.2.4 Vốn 87
4.2.5 Cơ sở hạ tầng 87
4.2.6 Ý thức thành viên 88
4.3 Giải pháp phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã Từ Sơn 89
4.3.1 Quan điểm 89
4.3.2 Định hướng phát triển 89
4.3.3 Một số giải pháp phát triển HTX DVNN sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã Từ Sơn 91
Trang 6Phần 5 Kết luận và kiến nghị 103
5.1 Kết luận 103
5.2 Kiến nghị 104
Tài liệu tham khảo 106
Phụ lục 109
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn qua các năm 2014 -
2016 33
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động thị xã Từ Sơn qua 3 năm (2014 – 2016) 35
Bảng 3.3 Đối tượng và mẫu điều tra 45
Bảng 4.1 Biến động số lượng HTX DVNN sau chuyển đổi tại thị xã Từ Sơn qua các năm 50
Bảng 4.2 Biến động số lượng HTX DVNN đã chuyển đổi phân theo loại hình hoạt động trên địa bàn thị xã Từ Sơn qua các năm 51
Bảng 4.3 Đánh giá HTX DVNN trên địa bàn thị xã Từ Sơn năm 2016 53
Bảng 4.4 Xếp loại HTX DVNN đã chuyển đổi phân trên địa bàn thị xã Từ Sơn qua các năm 54
Bảng 4.5 Tình hình tài sản, nguồn vốn của HTX DVNN từ năm 2014 – 2016 56
Bảng 4.6 Trình độ học vấn, chuyên môn của cán bộ quản lý HTX DVNN 59
Bảng 4.7 Đánh giá của thành viên về năng lực cán bộ quản lý HTX DVNN 60
Bảng 4.8 Kinh nghiệm quản lý của cán bộ quản lý HTX DVNN 61
Bảng 4.9 Biến động số lượng thành viên HTX DVNN trên địa bàn thị xã Từ Sơn qua các năm 63
Bảng 4.10 Lợi ích của thành viên tham gia vào HTX DVNN 64
Bảng 4.11 Danh mục công trình trạm bơm điện HTX DVNN thị xã Từ Sơn đang quản lý 66
Bảng 4.12 Danh mục các kênh mương HTX đang quản lý 67
Bảng 4.13 Diện tích nạo vét kênh mương, chi phí qua các năm 2014-2016 68
Bảng 4.14 Đánh giá của thành viên về dịch vụ thủy nông của các HTX DVNN 68
Bảng 4.15 Thực trạng hoạt động dịch vụ làm đất của HTX DVNN thị xã Từ Sơn 70
Bảng 4.16 Đánh giá của thành viên về mức độ đáp ứng của dịch vụ làm đất do các HTX cung cấp 70
Bảng 4.17 Kết quả hoạt động dịch vụ làm đất của HTX DVNN trên địa bàn thị xã Từ Sơn 71
Bảng 4.18 Đánh giá của thành viên về chất lượng dịch vụ làm đất của các HTX DVNN 72
Trang 9Bảng 4.19 Đánh giá của thành viên về chất lượng dịch vụ bảo vệ thực vật của các
HTX DVNN 73 Bảng 4.20 Đánh giá của thành viên về chất lượng các buổi tập huấn kỹ thuật của
các HTX DVNN 75 Bảng 4.21 Số lượng thóc giống cung ứng của HTX DVNN trên địa bàn thị xã Từ
Sơn 76 Bảng 4.22 Kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của các HTX DVNN giai đoạn
2014 -2016 77 Bảng 4.23 Mức độ tiếp cận vốn tín dụng của các HTX DVNN sau chuyển đổi
trên địa bàn thị xã Từ Sơn 78 Bảng 4.24 Đánh giá của HTX DVNN về lãi suất của các chương trình tín dụng
hỗ trợ phát triển hợp tác xã 79 Bảng 4.25 Đánh giá của thành viên về mức độ ảnh hưởng của chủ trương, chính
sách tới phát triển HTX DVNN 84 Bảng 4.26 Đánh giá của thành viên về mức độ ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng tới
phát triển HTX DVNN 88
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế thị xã Từ Sơn 2016 37
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ loại hình HTX DVNN trên địa bàn thị xã Từ Sơn trong năm 2016 52
Biểu đồ 4.2 Đánh giá của thành viên về năng lực cán bộ quản lý HTX DVNN 60
Biểu đồ 4.3 Lợi ích của thành viên tham gia vào HTX DVNN 65
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Hộp 4.1 Công tác tập huấn cán bộ HTX 86
Hộp 4.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng thành viên 87
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Nguyễn Duy Chinh
2 Tên luận văn: “Giải pháp phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật hợp tác xã năm 2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
3 Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Mã số: 60.62.01.16
4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
5 Kết quả nghiên cứu chính
Thực trạng các HTX DVNN của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tuy đã được chuyển đổi cơ bản về tổ chức bộ máy, quy mô và phương thức hoạt động theo luật HTX năm 2012, đáp ứng được phần lớn các dịch vụ cơ bản trong sản xuất nông nghiệp cho kinh tế hộ nhưng phần lớn các HTX DVNN hiện nay chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao như mong đợi cho thành viên, các HTX hoạt động còn mang tính phong trào và hình thức, trình độ và năng lực của cán bộ quản lý HTX yếu kém, không huy động được nguồn vốn từ thành viên và đang dần đánh mất vai trò của mình Xuất phát từ lý luận và thực tiễn ở trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phát triển hợp tác
xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật hợp tác xã năm 2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng phát triển các hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã
Từ Sơn từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012 trong thời gian tới Để thực hiện được mục tiêu chung, đề tài có một số mục tiêu cụ thể như: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển hợp tác xã DVNN sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012; Đánh giá thực trạng phát triển các hợp tác xã DVNN sau chuyển đổi theo luật HTX năm
2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác
xã DVNN sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn; Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích như: Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp phân tổ thống kê
Đề tài đã đạt được một số kết quả: Các HTX trên địa bàn thị xã Từ Sơn chuyển đổi theo Luật HTX 2012 từ năm 2014 cùng với sự chỉ đạo chung của tỉnh Bắc Ninh
Trang 12Quá trình đổi mới kinh tế HTX năm 2012 được gắn với việc triển khai thực hiện Luật HTX năm 2012, Kết luận số 56-KL/TW ngày 21/2/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập Đến nay 100% các HTX DVNN trên địa bàn thị xã đã chuyển đổi theo Luật HTX 2012 Quá trình chuyển đổi và đăng ký lại đó tạo điều kiện củng cố tổ chức quản lý, đổi mới quan hệ sản xuất và tăng cường lực lượng sản xuất trong các HTX; vai trò tự chủ của các HTX được đề cao, thành viên tham gia HTX một cách tự nguyện, nhiều HTX đã xây dựng được phương án hoạt động hợp lý, huy động được sự tham gia đóng góp của đông đảo thành viên Với việc chuyển đổi mô hình HTX hoạt động theo luật năm 2012, vai trò của HTX sẽ được nâng lên thông qua việc thực hiện tốt các khâu tổ chức sản xuất, mở rộng các dịch vụ, mở rộng các liên kết từ cung ứng sản phẩm đầu vào tới tiêu thụ sản phẩm
Qua nghiên cứu thực trạng, đề tài có phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã Từ Sơn: Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Trình độ cán bộ quản lý; Lao động; Vốn; Cơ
sở hạ tầng; Ý thức thành viên Từ kết quả nghiên cứu trên, tôi đã đề xuất phương hướng
và những nhóm giải pháp phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trong thời gian tới Giải pháp về chủ trương, chính sách; Giải pháp về tổ chức, thực hiện; Giải pháp về nâng cao trình độ cán bộ quản lý; Giải pháp bồi dưỡng, đào tạo lao động; Giải pháp về vốn; Giải pháp về cơ sở hạ tầng; Giải pháp về ý thức thành viên; Tăng cường liên kết giữa HTX với các tổ chức, thành phần kinh tế khác
Trang 13THESIS ABSTACT
1 Master candidate: Nguyen Duy Chinh
2 Thesis title: Solutions to develop agricultural services cooperatives following the cooperative law in 2012 in Tu son district, Bac Ninh
4 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
in 2012 in Tu son district in the coming years To implement the general objective, the research had some specific objectives: (1) Contribute to systemize the theoretical and practical issues about developing agricultural services cooperatives following the cooperative law in 2012 in Tu son district; (2) Evaluate the situation of developing agricultural services cooperatives following the cooperative law in 2012 in Tu son district; (3) Analyze the influencing factors to develop agricultural services cooperatives following the cooperative law in 2012 in Tu son district; (4) Propose the solutions to develop agricultural services cooperatives following the cooperative law
in 2012 in Tu son district The research employed the analysis method such as Descriptive, comparative, methods
The research achieved the following outcomes: The cooperatives in Tu Son district reformed followed by cooperative law in 2012 from 2014 with the orientation of the local government of Bac Ninh province The process of reformation of the cooperatives was attached with the implementation of cooperative law in 2012, the conclusion No.56-KL/TW date 21/2/2013 of Ministry of Politics about promoting the Central Resolution 5 (IX) to keep reforming, developing and improving the efficiency
of collective economy Until then 100% agricultural services cooperatives in the district transformed following the cooperative law in 2012 The reformation process and register also created opportunities to stabilize management, reform the production relationship and promote labor force in the cooperatives; independent role of cooperative was high, volunteering participations of members, many cooperatives operated efficiently, mobilized a large number of participants Along with transformation of cooperatives following the law in 2012, the role of cooperatives
Trang 14would rise by implementing well the stage of organizational management, services and linkage expansion from production to marketing the products
After studying on the situation, the research analyzed some influencing factors
to develop agricultural services cooperatives following the cooperative law in 2012 in
Tu son district: Orientation, Policies of the Party and Government; Manager capacity; Labor; Capital; Infrastructure; Member's awareness Therefore, the author proposed the following solutions to develop agricultural services cooperatives following the cooperative law in 2012 in Tu son district in the coming years Solution about orientation, policies; solutions about organizing and implementing; solutions about enhancing manager's capacity; solutions about training labors; solutions about capital; solutions about improving infrastructure; solutions about raising member's awareness; improving the linkage between the cooperatives and other organizations
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế được Đảng và Nhà nước ta xác định cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức đa dạng,
từ thấp đến cao, trong đó hợp tác xã (HTX) là nòng cốt
Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTX DVNN) là tổ chức kinh tế tập thể các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật hợp tác xã (HTX) để phát huy sức mạnh tập thể của từng thành viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn đây là một loại hình HTX kiểu mới Hoạt động của HTX DVNN bao gồm: dịch vụ các yếu tố đầu vào, đầu ra, dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp các HTX DVNN được tổ chức với mục đích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân mà không vì mục đích lợi nhuận
Từ khi luật HTX ra đời, với hệ thống hành lang pháp lý rõ ràng hơn trước,
đã làm cho bản chất HTX thay đổi theo hướng tích cực, nhờ đó đã tạo điều kiện cho các loại hình HTX ngày càng phát triển Cũng như cả nước, thời gian qua các HTX nói chung, HTX dịch vụ nông nghiệp (DVNN) nói riêng đã có những chuyển biến tích cực, đổi mới cơ bản về tổ chức bộ máy, quy mô và phương thức hoạt động theo luật HTX năm 2003, đáp ứng được phần lớn các dịch vụ cơ bản trong sản xuất nông nghiệp cho kinh tế hộ, giúp đỡ hộ xã viên tăng năng lực sản xuất, sản phẩm đạt chất lượng cao, mở rộng thị trường…
Tuy nhiên, sau 10 năm đi vào hoạt động, Luật HTX năm 2003 đã bộc lộ nhiều điểm yếu, không những làm suy giảm động lực tham gia vào Hợp tác xã của người dân mà còn góp phần tạo nên tình trạng yếu kém kéo dài của các HTX
Để khắc phục những điểm yếu của luật HTX năm 2003, Luật HTX năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 đã làm rõ hơn về bản chất và cách thức tổ chức của HTX, thể hiện sự khác biệt so với doanh nghiệp ở mục tiêu thành lập, quan hệ sở hữu, quan hệ kinh tế, quan hệ quản lý, và quan hệ phân phối phù hợp với lý luận
Trang 16chung và kinh nghiệm quốc tế về HTX Đặc biệt, mục tiêu của HTX không phải
là tối đa hoá lợi nhuận, mà là tối đa hóa lợi ích trước mắt và lâu dài của thành viên bằng cách đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về sản phẩm, dịch vụ, hoặc tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho thành viên một cách hiệu quả hơn
Thực trạng các HTX DVNN của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã được chuyển đổi cơ bản về tổ chức bộ máy, quy mô và phương thức hoạt động theo luật HTX năm 2012, đáp ứng được phần lớn các dịch vụ cơ bản trong sản xuất nông nghiệp cho kinh tế hộ Hiện nay đã có 29 HTX trên địa bàn thị xã từ sơn chuyển đổi xong theo luật HTX 2012 (UBND thị xã Từ Sơn, 2017) Nhưng phần lớn các HTX DVNN hiện nay chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao như mong đợi cho thành viên, các HTX hoạt động còn mang tính phong trào và hình thức, trình độ và năng lực của cán bộ quản lý HTX yếu kém, không huy động được nguồn vốn từ thành viên và đang dần đánh mất vai trò của mình Vì vậy, yêu cầu phát triển các HTX DVNN trên địa bàn thị xã Từ Sơn là yêu cầu cấp bách không chỉ đối với sự tồn tại của bản thân các HTX DVNN mà còn đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế,
xã hội địa phương Vấn đề cơ bản và cấp bách đặt ra đối với thị xã Từ Sơn là phải đánh giá đúng tình hình và kết quả hoạt động của các HTX DVNN, rút ra những kinh nghiệm trong phát triển các HTX DVNN trong thời gian tới
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn ở trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật hợp tác xã năm 2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã Từ Sơn từ
đó đề xuất một số giải pháp phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật hợp tác xã năm 2012 trong thời gian tới
Trang 17- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã DVNN sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012 trên địa bàn thị xã Từ Sơn 1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng chuyển đổi HTX theo luật HTX 2012 hiện nay tại thị xã Từ Sơn diễn ra như thế nào?
- Có những yếu tố nào ảnh hưởng tới phát triển HTX sau chuyển đổi theo luật HTX 2012 tại thị xã Từ Sơn?
- Giải pháp nào giúp cho các HTX sau chuyển đổi hoạt động được bền vững và phát triển?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về phát triển hợp tác xã
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi thời gian:
+ Thời gian thu thập số liệu thứ cấp, từ năm 2014 - 2016
+ Thời gian thu thập số liệu sơ cấp, từ 3/2016 – 8/2017
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu các vấn đề về phát triển hợp tác
xã sau chuyển đổi theo luật HTX năm 2012
1.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
1.5.1 Về lý luận
Luận văn đã tập hợp, hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phát triển, hợp tác xã, phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, đặc điểm phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, vai trò của phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, nội dung nghiên cứu phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hơp tác xã dịch vụ nông nghiệp sau chuyển đổi trên địa bàn thị xã Từ Sơn
Trang 181.5.2 Về thực tiễn
Luận văn đã trình bày với nhiều dẫn liệu và minh chứng về các nội dung
về phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ở Việt Nam, cũng như thực tiễn về phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ở một số địa phương của Việt Nam và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn về phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn thị xã Từ Sơn Từ những nội dung đó Luận văn phân tích thực trạng về phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn thị xã
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo các mặt còn tồn tại hạn chế và nguyên nhân về phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu; và phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn thị xã
Từ Sơn
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung” (Bộ kế hoạch đầu tư, 2007)
Luật Hợp tác xã Cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: “Hợp tác xã đăng ký
là những tập thể với số lượng xã viên không hạn chế nhằm khuyến khích việc sản xuất, kinh doanh của các xã viên, thông qua cơ sở sản xuất kinh doanh chung” (Đào Xuân Cần, 2012)
Luật hợp tác xã Philippin định nghĩa: “Hợp tác xã là sự hiểu biết của những người có cam kết chung và tập hợp nhau lại một cách tự nguyện để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội chung; có sự đóng góp công bằng về vốn; chấp nhận phần đóng góp hợp lý vào các công việc và phần lợi ích của việc kinh doanh theo nguyên tắc hợp tác đã được chấp nhận chung (Đào Xuân Cần, 2012)
Luật hợp tác xã năm 2003, định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ich chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh của tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn
Trang 20điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vón khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2003)
Luật HTX năm 2012, định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập
và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” (Quốc hội, 2012)
2.1.1.2 Dịch vụ nông nghiệp, HTX dịch vụ nông nghiệp
a Dịch vụ nông nghiệp
Dịch vụ nông nghiệp được hiểu là những điều kiện, những yếu tố và động tác cần thiết cho một quá trình sản xuất, kinh doanh loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp (ví dụ: cung ứng giống cây trồng, con gia súc, làm đất, tưới tiêu, bảo
vệ đồng điền và phòng trừ sâu bệnh) mà người sản xuất không có sẵn, không thể làm hoặc tạo ra được, hoặc nếu tự làm thì không có hiệu quả, cho nên họ phải tiếp nhận các điều kiện, các yếu tố đó từ bên ngoài bằng các hình thức khác nhau như mua, bán, trao đổi, thuê (Nguyễn Ngọc Bích, 2012)
DVNN được phân loại theo 2 cách:
- Phân loại theo quá trình sản xuất
xã bậc cao Hợp tác xã là sản phẩm của lịch sử, nó ngày càng phát triển phục vụ đắc lực cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp
Trang 21Như vậy, hợp tác xã nông nghiệp được hiểu: Hợp tác xã nông nghiệp là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu
về đời sống của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân (Cao Đức Phát, 2014)
Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ do nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể và của từng thành viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế
hộ gia đình các thành viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các ngành nghề khác; cải thiện đời sống thành viên; góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
c Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
HTX DVNN là tổ chức kinh tế tập thể các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật hợp tác xã (HTX) để phát huy sức mạnh tập thể của từng thành viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn đây là một loại hình HTX kiểu mới (Nguyễn Ngọc Bích, 2012)
2.1.1.3 Quan điểm phát triển
Theo Raaman Weitz (1995): “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”
Phát triển là quá trình chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm, sự hoàn thiện về cơ cấu nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng mọi mặt của cuộc sống Đồng thời, phát triển còn là sự thay đổi theo chiều hướng tích cực trên tất cả các khía cạnh của nền kinh tế, xã hội Đó là sự thay đổi về cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng Môi trường kinh tế và xã hội, các khía cạnh tổ chức và kỹ thuật ngày càng thuận lợi cho các tác nhân tham gia Không những vậy, phát triển còn đảm bảo tăng khả năng thích ứng với hoàn cảnh mới của quốc gia,
Trang 22các ngành, các doanh nghiệp và của mọi người dân Sự phát triển sẽ đảm bảo nâng cao phúc lợi của người dân về kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội và sự tự do bình đẳng, sự phát triển đồng đều giữa các vùng, giữa các dân tộc, các tầng lớp cư dân
và sự bình đẳng trong phát triển giữa nam và nữ (Mai Thanh Cúc, 2006)
Phát triển kinh tế là phát triển bên cạnh sự tăng lên về thu nhập bình quân đầu người nó còn đề cập tới nhiều khía cạnh nữa như: Sự tăng trưởng cộng các thay đổi cơ bản trong cơ cấu nền kinh tế, sự đô thị hóa, vấn đề công bằng, phân phối lợi ích trong xã hội, sự tham gia các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra sự thay đổi (Đỗ Kim Chung, 2009)
Các nhà kinh tế thế giới đã đưa ra nhiều lý thuyết về sự phát triển Mặc dù
có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nói chung đều cho rằng phát triển kinh tế là khái niệm toàn diện hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế Đối với mỗi xã hội, thông thường nói đến phát triển là nói đến sự đi lên, sự tiến bộ của toàn xã hội một cách toàn diện
2.1.1.4 Phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Phát triển HTX DVNN là mở rộng phạm vi dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các hộ thành viên, giúp lao động HTX
có nhiều việc làm, doanh thu, lợi nhuận của HTX và thu nhập của thành viên nâng cao và ổn định hơn, tạo sự gắn kết giữa thành viên và HTX
Phát triển HTX DVNN có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp xã hội sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, nâng cao thu nhập cho cộng đồng, từ đó thúc đẩy
sự phát triển của kinh tế nông hộ, cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống dân cư nông thôn, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (Nguyễn Mạnh Hùng, 2014) 2.1.2 Đặc điểm và vai trò của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
2.1.2.1 Đặc điểm của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Hiện nay, kinh doanh các hoạt động dịch vụ được coi là nhiệm vụ chủ yếu
và quan trọng nhất của các HTX DVNN, các hoạt động này có các đặc điểm sau:
- Dịch vụ nông nghiệp được hiểu là điều kiện, yếu tố cần thiết, cần có cho quá trình sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp mà người sản xuất không sẵn có, không làm được hoặc làm không có hiệu quả và họ phải tiếp nhận các điều kiện, yếu tố đó từ bên ngoài bằng các cách thức khác nhau như: mua, bán, trao đổi, thuê, nhờ
Trang 23- Hoạt động dịch vụ nông nghiệp là hoạt động nhằm cung cấp, trao đổi, tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ giữa người sản xuất nông nghiệp và người cung cấp dịch vụ theo một phương thức nhất định nào đó
- Dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp là loại hoạt động có tính chất bao cấp đối với người sản xuất nông nghiệp ở một chừng mực nhất định
Hoạt động dịch vụ nông nghiệp có những đặc điểm sau:
+ Tính thời vụ: do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ nên các hoạt động dịch vụ nông nghiệp cũng sẽ mang tính thời vụ;
+ Được cung ứng từ nhiều nguồn khác nhau và mang tính cạnh tranh cao; + Tính có thể tự dịch vụ: Bản thân ngành nông nghiệp đã mang đặc điểm của tính tự phục vụ, tức là sử dụng những gì mà ngành sẵn có để phục vụ cho các quá trình sản xuất tiếp theo;
+ Hoạt động nông nghiệp chỉ có hiệu quả cao khi được thực hiện đồng thời và trên phạm vi rộng lớn;
+ Nhiều loại hình dịch vụ khó định lượng chính xác (Nguyễn Anh Sơn, 2010)
Từ các đặc điểm từ hoạt động dịch vụ của các HTX DVNN, Có thể khái quát các đặc điểm cơ bản của HTX DVNN như sau:
Một là, HTX DVNN là tổ chức liên kết kinh tế tự nguyện của những nông
hộ, nông trại có chung yêu cầu về những dịch vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống của mình mà bản thân từng nông hộ không làm được hoặc làm nhưng kém hiệu quả
Hai là, cơ sở thành lập của HTX DVNN là dựa vào việc cùng góp vốn của các thành viên và quyền chủ hoàn toàn bình đẳng giữa các thành viên theo nguyên tắc mỗi thành viên một phiếu biểu quyết không phân biệt lượng vốn góp
ít hay nhiều
Ba là, mục đích kinh doanh của HTX DVNN là nhằm trước hết dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp cho thành viên, đáp ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời cũng phải tuân theo nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực hiện mức giá và lãi suất nội bộ thấp hơn giá thị trường
Bốn là, HTX DVNN thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi
Trang 24Năm là, HTX DVNN là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những thành viên thực sự có nhu cầu, có mong muốn không lệ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở những dịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lý kinh doanh Như vậy trong mỗi thôn, mỗi xã có thể cùng tồn tại nhiều loại hình HTX có nội dung kinh doanh khác nhau, có số lượng thành viên không như nhau, trong đó một số nông hộ, trang trại đồng thời là thành viên của một số HTX
Sáu là, nông hộ thành viên, nông trại vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong HTX DVNN vừa là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động kinh doanh và hạch toán độc lập Do vậy, quan hệ giữa HTX và thành viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội
bộ vừa là quan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập Cơ chế liên kết của HTX cần phản ánh được mối quan hệ phức tạp đó
Từ những đặc trưng trên có thể rút ra bản chất của HTX là: HTX là tổ chức kinh tế liên kết cơ sở của các nông hộ và nông trại, mang tính chất vừa tương trợ giúp đỡ, vừa kinh doanh các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp Vì vậy, phát triển HTX DVNN là tăng cường mối liên kết giữa nông hộ
và nông trại, phát triển kinh tế nông thôn từ chính các hoạt động dịch vụ của các HTX DVNN (Nguyễn Mạnh Hùng, 2014)
2.1.2.2 Vai trò của phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và ưu tiên công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển HTX DVNN vừa là nội dung quan trọng, vừa là tiền đề của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vai trò của phát triển HTX DVNN được thể hiện trên những nét sau đây:
Thứ nhất: Phát triển HTX DVNN sẽ tạo nên sự phân công lao động và tổ chức lao động mới, vừa tạo ra năng suất lao động và năng suất nông nghiệp cao, vừa tạo điều kiện để chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ trong nông thôn Đó cũng là một nội dung quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay
Thứ hai: Nhờ phát triển HTX DVNN với sự góp vốn của hộ xã viên thỏa đáng mà HTX DVNN đủ sức hoạt động kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng và có điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất Đây cũng là một nội dung quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trang 25Thứ ba: Nhờ phát triển HTX DVNN mới tạo ra quy mô sản xuất hàng hóa lớn thích ứng với nhu cầu của thị trường, hạn chế và khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, manh mún, mang nặng tính tự cung, tự cấp của kinh tế hộ còn đang phổ biến ở nước ta hiện nay
Thứ tư: HTX DVNN là một tổ chức kinh tế của nông dân đồng thời là một trường học thực tế để nâng cao trình độ của người lao động và đào tạo, rèn luyện những cán bộ quản trị kinh doanh đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thứ năm: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa đặt ra yêu cầu của hợp tác hóa nói chung và phát triển HTX DVNN nói riêng, vừa tạo điều kiện để thúc đẩy và hỗ trợ HTX DVNN, nhất là cung cấp phương tiện kỹ thuật và công nghệ cho HTX DVNN để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Tăng cường phát triển hoạt động dịch vụ của HTX góp phần phát triển lực lượng sản xuất, tạo vốn và sử dụng vốn, cung cấp vật tư, tiêu thụ sản phẩm, dịch
vụ kỹ thuật, sử dụng có hiệu quả lao động, các nguồn lực có sẵn trong dân Từ đó nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân, từng bước xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Cùng với việc đảm bảo thực hiện tốt một số khâu dịch vụ nhằm hỗ trợ sản xuất của nông dân, các hoạt động dịch vụ của HTX còn góp phần ngăn chặn những tiêu cực do tác động của
cơ chế thị trường mang lại, bằng cách cung cấp thông tin kịp thời tới người dân dịch vụ đầu vào và đầu ra Bên cạnh đó tạo điều kiện cho nông dân thực hiện những chính sách xã hội, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng chung, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Thông qua hoạt động dịch vụ của HTX sẽ đảm bảo cho hộ xã viên phát triển sản xuất đồng thời thúc đẩy các hoạt động kinh tế khác Hoạt động dịch vụ của HTX sẽ góp phần tạo nên sự phát triển cân đối của kinh tế nông nghiệp, nông thôn, góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có của địa phương, tiếp sức cho nông dân từng bước chuyển từ nền sản xuất nhỏ lẻ, sang nền sản xuất lớn, sản xuất hàng hóa (Nguyễn Mạnh Hùng, 2014)
2.1.3 Nội dung nghiên cứu phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
2.1.3.1 Phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp theo số lượng
Phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp theo số lượng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: Số HTX DVNN biến động qua các năm; Số HTX theo các hình
Trang 26thức tổ chức biến động qua các năm; Nguyên nhân biến động các HTX theo từng loại hình tổ chức (Liên minh HTX Việt Nam, 2010)
2.1.3.2 Phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp theo chất lượng
Phản ánh phát triển về chất lượng của HTX dịch vụ nông nghiệp được thể hiện bằng các chỉ tiêu sau:
Mức độ đáp ứng của bộ máy quản lý HTX DVNN: Đánh giá về mô hình tổ chức HTX và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý HTX DVNN Qua đó đề xuất biện pháp củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý HTX DVNN (Liên minh HTX Việt Nam, 2010)
Quy mô thành viên và sự biến động về quy mô thành viên: Đánh giá về số lượng thành viên và số thành viên bình quân trên một HTX DVNN, thể hiện vai trò của HTX DVNN ở khu vực nông thôn (Liên minh HTX Việt Nam, 2010)
Quy mô nguồn vốn và sự biến động nguồn vốn theo từng loại hình HTX DVNN: đánh giá nguồn vốn sở hữu của HTX và nguồn vốn vay Đồng thời phân
ra theo từng loại hình HTX dịch vụ nông nghiệp, số vốn bình quân/HTX Qua đó
đề xuất giải pháp tạo nguồn vốn cho HTX hoạt động và mở rộng dịch vụ sản xuất kinh doanh (Liên minh HTX Việt Nam, 2012)
Số lượng dịch vụ trực tiếp mà mỗi HTX thực hiện được: Chỉ tiêu này thể hiện mỗi một HTX đã thực hiện được bao nhiêu dịch vụ nông nghiệp cho kinh tế hộ
Mức độ đáp ứng nhu cầu của thành viên: thể hiện bằng số % giữa mức dịch
vụ thực hiện được của HTX với tổng nhu cầu thành viên tương ứng theo từng loại dịch vụ Chỉ tiêu này thể hiện trình độ phục vụ đối với nhu cầu thành viên
Doanh thu và lãi hàng năm của HTX: phản ánh kết quả dịch vụ, kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm của HTX Trong đó phân ra theo từng loại hình HTX dịch vụ nông nghiệp Qua đó rút ra hiệu quả của từng loại hình HTX, từ đó
đề xuất giải pháp củng cố, phát triển cho từng loại hình HTX (Liên minh HTX Việt Nam, 2012)
Mức độ tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước: Đánh giá mức độ hưởng lợi của HTX từ các chính sách như: chính sách tín dụng, đất đai, thuế, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng (Liên minh HTX Việt Nam, 2012)
Trang 27Mức độ hài lòng của thành viên HTX: Tỷ lệ thành viên hài lòng với HTX,
tỷ lệ thành viên gắn bó với HTX, tỷ lệ thành viên có ý định giới thiệu người thân, bạn bè gia nhập HTX Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ HTX đáp ứng được các mong đợi của thành viên, mặt khác cũng khác cũng phản ánh yêu cầu khách quan
về phát triển HTX NN trong thời gian tới (Liên minh HTX Việt Nam, 2012)
Mỗi một chỉ tiêu nói trên có tính độc lập tương đối và phản ánh hiệu quả hoạt động của HTX trên những khía cạnh khác nhau
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp
2.1.4.1 Chủ chương, chính sách phát triển HTX DVNN
Đây là nhóm nhân tố thuộc về sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước
và các tổ chức xã hội Sự tác động của nhóm nhân tố này được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống chính sách vĩ mô và quá trình chỉ đạo thực hiện của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, từ đó tác động đến quá trình hình thành và phát triển của HTX nói chung và HTX DVNN nói riêng (Nguyễn Anh Sơn, 2010)
2.1.4.2 Trình độ quản lý của cán bộ HTX DVNN
Cán bộ quản lý có vai trò quan trọng trong việc phát triển của HTX DVNN, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường như hiện nay đòi hỏi các HTX DVNN phải có đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực quản
lý, có bản lĩnh chính trị Khi trình độ cán bộ quản lý HTX DVNN yếu kém, lúng túng trong điều hành công việc sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp và ngược lại Thực tế cho thấy, những HTX DVNN làm ăn hiệu quả đều có đội ngũ quản lý, đặc biệt là chủ nhiệm HTX là người có năng lực Những người chủ nhiệm giỏi thường xác định được hướng sản xuất, kinh doanh hợp lý, biết khắc phục khó khăn về vốn, thị trường, biết cách liên doanh, liên kết (Nguyễn Anh Sơn, 2010) 2.1.4.3 Đội ngũ lao động trong HTX DVNN
Xét trên cả hai mặt số lượng và chất lượng Số lượng lao động và chất lượng lao động phải cân đối với nhau, như vậy công việc mới hoàn thành đúng thời hạn và có chất lượng Việc bố trí sử dụng lao động hợp lý sẽ phát huy được tối đa năng suất lao động và từ đó gián tiếp tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các HTX DVNN (Dương Anh Tiến, 2006)
2.1.4.4 Cơ sở vật chất của HTX DVNN
Cơ sở vật chất được thể hiện bằng tài sản của HTX DVNN Tài sản của HTX được phân chia làm hai loại: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn; tài sản lưu
Trang 28động và đầu tư ngắn hạn Đây là yếu tố quan trọng bảm đảm duy trì phát triển và khả năng cạnh tranh của HTX DVNN với các thành phần kinh tế khác Trước hết phải đảm bảo cơ sở vật chất cho HTX làm việc và duy trì hoạt động như: trụ sở làm việc, phương tiện làm việc, tài sản phục vụ cho hoạt động dịch vụ của HTX cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của thành viên Do vậy sự tăng giảm của quy
mô cơ sở vật chất kĩ thuật sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển hợp tác xã (Nguyễn Minh Tú, 2011)
2.1.4.5 Nguồn vốn của HTX
Vốn là nhân tố không thể thiếu và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của các HTX DVNN Vốn lớn thể hiện tiềm lực kinh tế, khả năng hoạt động dịch vụ của HTX Nếu HTX DVNN nào có lượng vốn đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động dịch vụ, đầu tư trang thiết bị hiện đại, mở rộng các loại hình dịch vụ sẽ nâng cao được hiệu quả HTX và ngược lại Bên cạnh số lượng vốn, vấn đề sử dụng vốn cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của HTX, bởi lẽ nếu có lượng vốn lớn mà sử dụng không hợp lý sẽ gây ra lãng phí, làm cạn kiệt nguồn vốn (Đào Xuân Cần, 2012)
2.1.4.6 Ý thức thành viên trong HTX
Kết quả hoạt động của HTX DVNN bị ảnh hưởng rất lớn của thành viên trong HTX Vì HTX tồn tại được là do sự góp vốn, góp sức của mỗi thành viên trong HTX Nếu các thành viên đều có ý thức tốt trong việc thực hiện công việc của HTX thì HTX sẽ đạt được những mục tiêu và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, sản xuất kinh doanh Ngược lại nếu thành viên đều trông chờ ỷ lại vào người khác thì hoạt động của HTX không những không đạt được kết quả mà còn có thể dẫn đến giải thể HTX Đây phải là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
mà các HTX phải hết sức quan tâm Thành viên phải thực sự hiểu biết và nhận thức được HTX là của họ, ra đời vì nguyện vọng của họ và phục vụ lợi ích cho chính họ, họ phải có lý tưởng HTX, hiểu biết đầy đủ các nguyên tắc, giá trị HTX
Có như vậy thì HTX mới phát triển nhanh và bền vững (Nguyễn Anh Sơn, 2010) 2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
2.2.1.1 Ở Nhật Bản
Ở Nhật Bản, các HTX DVNN được tổ chức theo ba cấp: Liên đoàn toàn
Trang 29quốc HTX DVNN; Liên đoàn HTX DVNN tỉnh; HTX DVNN cơ sở Các HTX DVNN cơ sở gồm hai loại: đơn chức năng và đa chức năng Các HTX DVNN đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ như cung cấp nông cụ, tín dụng, mặt hàng, giúp nông dân chế biến, tiêu thụ sản phẩm
và bảo hiểm cho hoạt động của nông dân Có thể thấy ưu nhược điểm của HTX DVNN Nhật Bản qua phân tích cơ chế quản lý và chức năng hoạt động của chúng Các HTX DVNN đa chức năng của Nhật bản thường đảm đương các nhiệm vụ sau: Cung cấp dịch vụ hướng dẫn nhằm giáo dục, hướng dẫn nông dân trồng trọt, chăn nuôi có năng suất, hiệu quả cao cũng như giúp họ hoàn thiện kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất Thông qua các cố vấn của mình, các HTX DVNN đã giúp nông dân trong việc lựa chọn chương trình phát triển nông nghiệp theo khu vực; lập chương trình sản xuất cho nông dân; thống nhất trong nông dân sử dụng nông cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến,… Các tổ chức Liên hiệp tỉnh và Trung ương thường quan tâm đào tạo bồi dưỡng cố vấn cho HTX DVNN
cơ sở HTX cung ứng hàng hoá cho xã viên theo đơn đặt hàng và theo giá thống nhất và hợp lý Các HTX đã đạt đến trình độ cung cấp cho mọi xã viên trên toàn quốc hàng hoá theo giá cả như nhau, nhờ đó giúp cho những người ở các vùng xa xôi có thể có được hàng hoá mà không chịu cước phí quá đắt Hàng tiêu dùng không cần đặt hàng theo kế hoạch trước Thông thường các HTX nhận đơn đặt hàng của xã viên, tổng hợp và đặt cho liên đoàn HTX tỉnh, sau đó tỉnh đặt cho liên đoàn HTX toàn quốc Đôi khi liên đoàn HTX DVNN tỉnh hoặc HTX DVNN
cơ sở đặt hàng trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất Nhìn chung các liên đoàn HTX DVNN tỉnh và Trung ương không phải là cấp quản lý thuần tuý mà là các
tổ chức kinh tế, các trung tâm phân phối và tiêu thụ hàng hoá
HTX DVNN còn sở hữu các phương tiện sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản để tạo điều kiện giúp nông dân sử dụng các phương tiện này hiệu quả nhất, hạn chế sự chi phối của tư nhân Đồng thời còn là diễn đàn để nông dân kiến nghị Chính phủ các chính sách hợp lý cũng như tương trợ lẫn nhau giữa các HTX và địa phương Ngoài ra, các HTX DVNN Nhật Bản còn tiến hành các nhiệm vụ giáo dục xã viên về tinh thần HTX thông qua các tờ báo, phát thanh, hội nghị, đào tạo, tham quan ở cả ba cấp HTX DVNN cơ sở, tỉnh và Trung ương
Như vậy, có thể thấy rằng HTX DVNN Nhật Bản đã phát triển từ các đơn
vị đơn năng đến ngày nay trở thành các đơn vị đa năng dịch vụ mọi mặt cho cho nhu cầu của nông dân và tổ chức liên kết qui mô lớn toàn quốc Một nước công
Trang 30nghiệp hoá như Nhật Bản, hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hiệu quả vẫn
là hộ gia đình, do đó hợp tác xã nông nghiệp, một mặt được thành lập để hỗ trợ nông dân, giúp cho họ vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa cải thiện cuộc sống ở nông thôn, mặt khác vẫn tôn trọng mô hình kinh tế nông hộ và chỉ thay thế hộ nông dân và tư thương ở khâu nào hợp tác xã tỏ ra có ưu thế hơn hẳn trong tương quan với mục tiêu hỗ trợ nông dân (Nguyễn Minh Tú, 2011)
2.2.1.2 Ở CHLB Đức
Nước Đức được coi là một trong những chiếc nôi trưởng thành của mô hình kinh tế HTX ở châu Âu Từ những năm 40 của thế kỷ 19, Friedrich Wilhem
và Schlulze-Delitz, đã có ý tưởng mô hình kinh tế HTX và thành lập, phổ biến
mô hình này Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cơ cấu kinh tế của CHLB Đức đã
có những thay đổi mạnh Các ngành công nghiệp và dịch vụ đã thay thế và áp đảo kinh tế nông nghiệp và nông thôn Tuy vậy, cho đến ngày nay CHLB vẫn còn có một hệ thống kinh tế HTX vững mạnh, đặc biệt là ở khu vực nông nghiệp
và nông thôn, HTX đóng góp một phần đặc biệt quan trọng vào kinh tế nông nghiệp nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung của CHLB Đức
Ngành nông nghiệp Đức hiện có 17 triệu ha đất canh tác Toàn quốc có 260.000 doanh nghiệp (DN) có diện tích canh tác lớn hơn 5ha Bình quân 59ha/trang trại; khoảng 50% nông dân (135,400 người) làm việc toàn thời gian
Tổng doanh thu các HTX nông nghiệp của Đức năm 2010 đạt 38 tỷ euro (khoảng 50 tỷ USD) Sở dĩ, ngành nông nghiệp Đức có những bước phát triển nhảy vọt bởi trong cơ cấu ngành có sự đóng góp quan trọng của Liên đoàn HTX Raiffeisen CHLB Đức (DGRV) Hiện nay, DGRV tại Đức gồm 5 liên đoàn cấp khu vực; 17 HTX đầu mối về Cung ứng và Phân phối; 2.299 HTX Raiffeisen (gồm 981 HTX hàng hóa và dịch vụ; 553 HTX Raiffeisen khác và 765 HTX nông nghiệp)
Là thành phần quan trọng của nền kinh tế, các HTX tại Đức (khoảng 18 triệu thành viên) đang quản lý 400 xưởng máy nông nghiệp; 715 đại lý cung ứng vật liệu xây dựng; 1,600 chợ Raiffeisen; 250.000ha đất canh tác cây trồng cho
DN sản xuất năng lượng; 5 triệu tấn phân bón tại Đức; 1.600 siêu thị kinh doanh vật liệu, nông cụ; 670 siêu thị xây dựng, điện máy; 850 cửa hàng xăng dầu…
Về nguyên tắc các HTX DVNN được đối xử hoàn toàn bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác trong lĩnh vực nông nghiệp Bình đẳng về mọi quyền lợi cũng như mọi nghĩa vụ theo luật định Các chính sách hỗ trợ, khuyến
Trang 31khích cho nông nghiệp đều được áp dụng chung cho tất cả đối tượng tham gia lĩnh vực này, trong đó có HTX và xã viên HTX Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được Nhà nước chú trọng đầu tư Trước kia tất cả các chủ thể kinh doanh nông nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nông thôn hay HTX DVNN đều được Nhà nước Đức hỗ trợ khi họ bị ảnh hưởng thiệt thòi vì các điều kiện hạ tầng khó khăn, không đảm bảo cạnh tranh Hiện nay các hỗ trợ trực tiếp đó đối với kinh tế nông nghiệp không còn phù hợp với chính sách chung của ủy ban châu Âu nên bị bãi bỏ Thay vào đó Nhà nước Đức sử dụng các chính sách hỗ trợ gián tiếp như thông qua các chương trình bảo vệ môi trường nông nghiệp, ưu đãi về thuế khi đầu
tư vào thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời, sức gió Nhà nước đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo cho người nông dân, giúp họ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
và hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu tới hệ sinh thái Do đa số người nông dân tham gia là thành viên của một HTX DVNN nên rất nhiều chương trình đào tạo hay hỗ trợ gián tiếp cho người nông dân được các HTX chủ động thực hiện hoặc kết hợp, hợp tác với các cơ quan, tổ chức khác (Liên minh hợp tác xã Việt Nam, 2014) 2.2.1.3 Ở Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc, phong trào HTX phát triển rất mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp, tín dụng và nghề cá Trên toàn lãnh thổ có khoảng 1.239 HTX nông nghiệp (bao gồm các HTX dịch vụ nông nghiệp, sản xuất cây lương thực, chăn nuôi gia súc), và hơn 88 HTX chuyên trồng cây ăn quả, hoa, rau, nhân sâm, thu hút 100% nông dân tham gia làm xã viên (2,4 triệu người) Tất cả các HTX này đều là thành viên của Liên đoàn HTX nông nghiệp Hàn Quốc, tạo thành một hệ thống thống nhất triển khai các dịch vụ hỗ trợ nông dân từ khâu lập kế hoạch và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, chế biến và tiêu thụ nông sản cho đến cung cấp các dịch vụ ngân hàng và bảo hiểm Hệ thống HTX nông nghiệp hiện có 4600 các chợ và cửa hàng bán nông sản trên cả nước giúp tiêu thụ sản phẩm cho nông dân với tổng doanh số đạt 37 ngày tỷ won/năm; 5.041 văn phòng, các điểm giao dịch phục vụ các hoạt động ngân hàng trên toàn quốc với 36 triệu khách hàng, chiếm 67% dân số Hàn quốc Dưới sự hỗ trợ của Liên đoàn quốc gia, các HTX nông nghiệp được xây dựng thành những trung tâm tài chính, văn hoá và phúc lợi của địa phương, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nông dân và người dân nông thôn (Đào Xuân Cần, 2012)
2.2.1.4 Ở Thái Lan
Là một quốc gia nông nghiệp, HTX nông nghiệp đóng vai trò quan trọng
Trang 32trong nền kinh tế Thái Lan và trong việc nâng cao vị thế xã hội của người nông dân Hiện nay, ở Thái Lan có khoảng 4.137 HTX nông nghiệp với 5.950.809 xã viên nông dân Các HTX nông nghiệp triển khai các hoạt động kinh doanh khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên, trong đó tập trung chính vào 5 lĩnh vực, cho vay tín dụng với lãi suất ưu đãi, gửi tiền tiết kiệm và ký quỹ, bán hàng tiêu dùng và cung cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp với mức giá hợp lý, hỗ trợ nâng cao giá trị gia tăng và tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ phát triển nông nghiệp thông qua các hoạt động khuyến nông và dịch vụ Hiện nay, Thái Lan có một số mô hình HTX tiêu biểu: HTX DVNN và HTX tín dụng HTX DVNN được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên trong các lĩnh vực: Vay vốn, gửi tiền tiết kiệm và tiền ký quỹ, tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và các dịch vụ khác Thông qua sự trợ giúp của Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp và HTX DVNN, xã viên được vay vốn với lãi suất thấp với thời hạn ưu đãi thích hợp cho việc kinh doanh hoặc sản xuất của họ Hiện nay, số HTX tham gia hoạt động kinh doanh này chiếm khoảng 39% Hoạt động của HTX tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên về các lĩnh vực: Khuyến khích gửi tiền tiết kiệm của các xã viên; Góp cổ phần; Cung cấp các dịch vụ vốn vay cho xã viên
Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách thiết thực như chính sách giá, tín dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất Mục tiêu của chính sách giá cả là: Đảm bảo chi phí đầu vào hợp lý để có giá bán ổn định cho người tiêu dùng, đồng thời góp phần làm ổn định giá nông sản tại thị trường trong nước, giữ giá trong nước thấp hơn giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất khẩu Với chính sách tín dụng, các xã viên có thể vay tín dụng từ các HTX DVNN, các cơ quan chính phủ, các ngân hàng thương mại để đầu tư vào sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho nông nghiệp Trong giai đoạn 2010-
2014, Chính phủ đã dành 134 tỷ Bạt để cải thiện và phát triển HTX, bao gồm phát triển sản phẩm mới, giống công nghệ sinh học, mở rộng tưới tiêu Ngân hàng các HTX DVNN và nông thôn Thái Lan đã dành 2 tỷ Bạt để khuyến khích
xã viên các HTX sản xuất-kinh doanh Ngoài ra, Chính phủ đã thành lập Bộ Nông nghiệp và HTX, trong đó có 2 vụ chuyên trách về HTX là Vụ phát triển HTX và Vụ kiểm toán HTX Vụ phát triển HTX đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các HTX thực hiện các hoạt động kinh doanh, nhằm đạt được các
Trang 33mục tiêu do các HTX đề ra; Vụ kiểm toán HTX thực hiện chức năng kiểm toán HTX và hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trong công tác quản lý tài chính, kế toán HTX Hàng năm, Liên đoàn HTX Thái Lan tổ chức hội nghị toàn thể với sự tham gia của các đại diện từ các loại hình HTX trong cả nước và đại diện các cơ quan của Chính phủ liên quan đến tổ chức HTX Sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ Thái Lan thực sự có hiệu quả trong việc hoạch định các chính sách đối với phát triển khu vực HTX (Liên minh hợp tác xã Việt Nam, 2014)
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ở Việt Nam 2.2.2.1 Quá trình phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp ở Việt Nam
a Tình hình phát triển HTX nông nghiệp giai đoạn 1955 - 1986
Giai đoạn 1955 - 1986, HTX được xác định là một trong hai hình thức tổ chức kinh tế chính thức ở Việt Nam Giai đoạn này được coi là giai đoạn bùng nổ của HTX với số lượng HTX nông nghiệp tăng từ 45 HTX năm 1955 lên 17.022 HTX năm 1986 HTX trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến thay dần hình thức kinh tế cá thể và tổ đội sản xuất Nhiều HTX đã phát triển thành HTX bậc cao
có quy mô toàn thôn, toàn xã, thậm chí liên xã, nhất là trong nông nghiệp Sự phát triển nhanh chóng về mặt số lượng của HTX trong giai đoạn 1955 - 1986 được giải thích bởi sự đề cao tuyệt đối của Nhà nước đối với kinh tế tập thể, trong khi đó vai trò của kinh tế hộ, kinh tế tư nhân lại bị phủ định Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa II) tháng 8 năm 1955 đã đề ra chủ trương xây dựng thí điểm một số HTX nông nghiệp Trong 3 năm thực hiện thí điểm, nước ta xây dựng được 45 HTX và trên 100.000 tổ đổi công Cho đến đại hội Đảng VI năm 1986, cùng với việc thực hiện cải tạo nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản
tư doanh, HTX ở nước ta đã được hình thành ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành kinh tế và ở tất cả địa phương (Lưu Hoài Chuẩn, 2002)
Sự phát triển nhanh chóng của HTX đã có nhiều đóng góp cho công cuộc giải phóng dân tộc và sự phát triển đất nước Khu vực HTX đã huy động được các nguồn lực của Nhà nước và nhân dân phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ; cải thiện một bước đời sống, bộ mặt của nông thôn, kết cấu hạ tầng khu vực Tuy vậy, sự phát triển của HTX trong giai đoạn 1955 - 1986 đã bộc lộ một số hạn chế, đặc biệt sau năm 1972, tình hình kinh tế của các HTX nhìn chung còn rất nhiều khó khăn về con người và vật chất Ngoài ra, các nguyên tắc cơ bản của HTX như tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công bằng, minh bạch cũng không được thực hiện đầy đủ Thứ nhất, nguyên tắc tự nguyện gia nhập HTX không được coi
Trang 34trọng Thứ hai, tính tự chủ của HTX không được đảm bảo Dưới tác động của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất cũng như phân phối về thu nhập Ngoài ra, các HTX hoạt động theo điều lệ mẫu thống nhất do Chính phủ quy định Những can thiệp này đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguyên tắc tự chủ của HTX Thứ ba, hoạt động của HTX thiếu sự công bằng minh bạch cần thiết Quan hệ lợi ích giữa Nhà nước - HTX - xã viên không được phân định rạch ròi, đặc biệt lợi ích của xã viên và người lao động trong HTX ít được chú trọng Nhìn một cách tổng quát, phát triển HTX ở Việt Nam trong thời kỳ 1955 - 1986 mang tính áp đặt cao, các nguyên tắc cơ bản của HTX như tự nguyện, tự chủ, công bằng và minh bạch trong tổ chức và quản lý chưa được thực hiện đầy đủ Điều này đã tạo ra một hệ thống HTX lớn về mặt số lượng và quy mô, nhưng không phản ánh được bản chất của HTX (Lưu Hoài Chuẩn, 2002)
b Tình hình phát triển HTXNN giai đoạn 1987 - 1996
Giai đoạn 1987 - 1996, kinh tế tập thể cùng kinh tế nhà nước được coi là hình thức kinh tế chủ đạo của nền kinh tế, tuy nhiên đây cũng là thời kỳ khó khăn nhất trong quá trình phát triển HTX ở nước ta, số lượng HTX bị giảm mạnh, Sự suy giảm về mặt số lượng của HTX trong giai đoạn 1987 - 1996 một mặt phản ánh những thay đổi về chính sách mặt khác phản ánh sự yếu kém của bộ phận lớn các HTX, cũng như sự phát triển vượt quá yêu cầu về mặt số lượng HTX trong giai đoạn trước 1986 Từ năm 1986, Việt Nam chuyển dần từng bước từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, coi trọng khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ, kinh
tế cá thể, kinh tế tư nhân, coi kinh tế hộ là chủ thể kinh tế tự chủ Sự chuyển đổi
cơ chế kinh tế đã làm giảm dần vai trò và lợi thế của HTX cũng như làm bộc lộ
sự yếu kém của HTX Sự suy thoái của các HTX trong giai đoạn 1987 - 1996 phản ánh sự lỗi thời của hệ thống HTX hoạt động không phù hợp với nguyên tắc
cơ bản của HTX (nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, dân chủ) được thành lập trong giai đoạn trước 1986 trong điều kiện kinh tế thị trường Ngoài ra, sự suy thoái của hệ thống HTX trong thời kỳ này cũng phản ánh rằng, để tồn tại và phát triển bền vững, các HTX cần được thành lập trên cơ sở các nhu cầu chung của thành viên hơn là sự áp đặt của các cơ quan chính quyền (Lưu Hoài Chuẩn, 2002)
c Tình hình phát triển HTX nông nghiệp giai đoạn 1997 - 2003
Giai đoạn 1997 - 2003, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể mà nòng
Trang 35cốt là HTX được coi là nền tảng của kinh tế quốc dân trong nền kinh tế nhiều thành phần Giai đoạn này cũng là giai đoạn thực hiện chuyển đổi hợp tác xã từ
mô hình HTX kiểu cũ (mang nặng tính hành chính, bao cấp) sang mô hình HTX kiểu mới (mang nặng tính tự chủ, thị trường) theo Nghị quyết số 13 - NQ/TW ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Tình hình phát triển HTX trong giai đoạn 1997 - 2003 có một số điểm đáng chú ý sau: thứ nhất, việc giải thể một số lượng lớn HTX khẳng định nếu HTX không hoạt động đúng các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, dân chủ, công bằng và minh bạch sẽ gặp khó khăn trong điều kiện kinh tế thị trường Thứ hai, sự ra đời của các HTX mới phản ánh đây là một hình thức tổ chức kinh tế có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện thị trường Thứ ba, các HTX chuyển đổi và thành lập mới theo luật chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn có điều kiện kinh tế khó khăn (Nguyễn Văn Giàu, 2012)
Đặc điểm phát triển của HTX trong giai đoạn 1997 - 2003 khẳng định các HTX không được thành lập trên cơ sở tinh thần tự nguyện của thành viên, không
có khả năng tự chủ (không kịp đổi mới) sẽ gặp nhiều khó khăn trong điều kiện kinh tế thị trường Ngoài ra sự ra đời của một loạt HTX mới và sự phát triển rộng rãi của HTX ở khu vực nông thôn và khu vực khó khăn trong thời kỳ này phản ánh HTX là hình thức tổ chức kinh tế chuyển đổi cần được ưu tiên phát triển đặc biệt là ở khu vực nông thôn và khu vực mà người dân gặp nhiều khó khăn hay bất lợi (Nguyễn Văn Giàu, 2012)
d Tình hình phát triển HTX nông nghiệp giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Giai đoạn 2004 đến nay đánh dấu sự phục hồi của kinh tế HTX cả về số lượng và chất lượng Sự phục hồi này phần nào phản ánh những tác động tích cực của Luật HTX sửa đổi năm 2003 đến khu vực kinh tế hợp tác và HTX.Các HTX đã tham gia ngày càng sâu rộng vào nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau, đến cuối năm 2013 cả nước có 370.921 tổ hợp tác, 19.886 hợp tác xã Trong
đó, có 10.086 hợp tác xã nông nghiệp, 3.075 hợp tác xã công nghiệp - thủ công nghiệp, 1.457 hợp tác xã thương mại dịch vụ, 1.090 hợp tác xã giao thông vận tải, 1.146 quỹ tín dụng nhân dân, 761 hợp tác xã xây dựng, 1.529 hợp tác xã dịch vụ điện nước và 857 hợp tác xã khác Tổng số có 53 liên hiệp hợp tác xã, chủ yếu trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, vận tải và nông nghiệp (Liên minh HTX Việt Nam, 2012)
Trang 36Trong lĩnh vực nông nghiệp, hầu hết các HTXNN đã tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh gắn với kinh tế hộ theo hình thức dịch vụ hỗ trợ với các khâu dịch vụ như: thủy lợi, làm đất, bảo vệ thực vật, cung ứng vật tư kỹ thuật, phân bón, cây con giống Một số HTX đã tổ chức được việc tiêu thụ nông sản hàng hóa cho thành viên Nhiều HTX cùng với việc tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ nông nghiệp đã chú trọng phát triển thêm các ngành nghề sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp và các hoạt động thương mại dịch vụ khác, hình thành hợp tác dịch vụ kinh doanh tổng hợp, tăng cường liên kết kinh tế giữa các HTX với nhau và giữa các hộ thành viên trong HTX với nhau Thông qua hoạt động hỗ trợ của HTX nhiều hộ thành viên phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thu nhập và đời sống được cải thiện, số hộ đã giầu lên góp phần không nhỏ trong xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới (Liên minh HTX Việt Nam, 2012) 2.2.2.2 Chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp
Phát triển kinh tế hợp tác, HTX là đường lối chiến lược nhất quán trong mọi giai đoạn cách mạng của Đảng và Nhà nước ta, HTX được từng bước đổi mới theo hướng phù hợp với điều kiện khách quan và đã trải qua thăng trầm trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá chỉ huy sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đường lối đổi mới do Đại hội VI đề xướng đã khẳng định phát triển kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế HTX được khẳng định cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Đại hội thừa nhận sự tồn tại của kinh tế hợp tác phải đi đôi với sự phát triển đa dạng của các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao, HTX là bộ phận nòng cốt của kinh tế hợp tác Đến Đại hội VIII, quan điểm phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
Nghị quyết số 21-NQ/TƯ Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X “Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới, phát triển HTX và tổ hợp tác theo cơ chế thị trường, phù hợp với các nguyên tắc: tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng
có lợi và phát triển cộng đồng Khuyến khích tăng vốn góp, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chia trong HTX; phát triển các tổ hợp tác
HTX đa dạng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả Nhà nước có chính sách
Trang 37hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế tập thể tiếp cận các nguồn vốn; đào tạo cán bộ quản lý, lao động; trợ giúp kỹ thuật và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, các dự án đầu tư của Nhà nước.” (Ban chấp hành trung ương Đảng, 2008)
Đại hội XI là Đại hội có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Định hướng lớn về phát triển kinh tế là: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức
tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”, trong đó quan điểm của Đảng về kinh tế tập thể là: “Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”
Trong văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định đối với kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã: Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; đẩy mạnh liên kết và hợp tác dựa trên quan hệ lợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ
về tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ,
hỗ trợ phát triển thị trường, tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở phát triển và phát huy vai trò của kinh tế hộ Đồng thời với quá trình hoàn thiện thể chế, cần có sự chỉ đạo quyết liệt hơn trong tổ chức thực hiện
Thể chế hoá quan điểm, đường lối phát triển kinh tế tập thể của Đảng, Luật HTX (1996, 2003 và 2012) đã được ra đời Luật HTX 2012 hiện hành quy định rõ về nguyên tắc, tổ chức hoạt động của HTX; các điều kiện thành lập, đăng
ký HTX; tài sản, tài chính HTX; việc chia, tách, hợp nhất, sát nhập, giải thể của HTX và công tác quản lý nhà nước đối với HTX
Theo điều 6 luật HTX năm 2012 quy định về chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước thì Nhà nước có chính sách hỗ trợ đối với HTX như sau: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển HTX, tạo điều kiện tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế xã hội, thành lập mới HTX, liên hiệp HTX (Quốc Hội, 2012)
Trang 38Về các chính sách hỗ trợ, Luật Hợp tác xã 2012 mở rộng hơn phạm vi ưu đãi, hỗ trợ gắn với bản chất Hợp tác xã , mang lại lợi ích cho cộng đồng, chú trọng đối tượng thành viên là nông dân, người dân tộc Theo đó, Chính phủ quy định chi tiết các ưu đãi, hỗ trợ đối với Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã theo quy định của pháp luật về đất đai; ưu đãi về tín dụng; vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; chế biến sản phẩm
Về các văn bản dưới luật quy định về các chính sách phát triển hợp tác xã HTX Nghị định 88/2005/NĐ-CP về một số chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển hợp tác xã, bao gồm 10 chính sách, đó là: chính sách đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; ứng dụng khoa học, công nghệ; chính sách tiếp cận vốn Quỹ phát triển HTX; chính sách tạo điều kiện tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển
KT - XH ; ngoài ra, các HTX hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiêp, diêm nghiệp còn được hưởng những chính sách: chính sách phát triển hợp tác xã kết cấu hạ tầng; chính sách ưu đãi tín dụng Sau khi Nghị định 88/2005/NĐ-CP hết hiệu lực, ngày 21/11/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 193/2013/NĐ- CP quy định một số điều chi tiết của Luật HTX, trong đó có đề cập tới mười chính sách phát triển hợp tác xã HTX Nội dung các chính sách cơ bản giống với Nghị định 88/2005/NĐ-CP đồng thời bổ sung thêm chính sách giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của HTX, liên hiệp HTX; chính sách
hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai dịch bệnh; chính sách hỗ trợ chế biến sản phẩm
Ngoài ra, còn có những chính sách khác như Nghị quyết số 26-NQ/TW nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;; Quyết định số 782/QĐ-TTg ngày 8/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê về việc phân bổ kinh phí thực hiện Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX năm 2004 gọi là “đề án đào tạo ba chức danh” tất cả các chính sách này đều tạo điều kiện thuận lợi và động lực cho sự phát triển của HTX Nghị định số 77/2005/NĐ-CP ngày 9/6/2005 về việc ban hành mẫu hướng dẫn xây dựng Điều lệ hợp tác xã (Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì soạn thảo), Một
số quyết định sau: Quyết định số 246/2006/QĐ-TTg, ngày 27/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã (Bộ Tài
Trang 39chính chủ trì soạn thảo), Quyết định số 94/2002/QĐ-TTg ngày 17/7/2002 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX Cùng với việc ban hành các nghị định, quyết định là các thông tư của cơ quan có liên quan
Ngày 11/7/2007 của Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định BTC phê duyệt điều lệ tổ chức của quỹ phát triển HTX Thông tư số 60/2007/QĐ-BTC ngày 11/7/2007 về lãi suất cho vay vốn của quỹ phát triển HTX quy định về mức lãi suất cho vay vốn bằng 60% lãi suất cho vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước bằng đồng Việt Nam Thông tư số 81/2007/TT-BTT ngày 11/7/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với quỹ phát triển HTX Ngày 15/12/2014 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2261/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020
số59/2007/QĐ-Nhìn chung, HTX ở nước ta có vai trò rất quan trọng quá trình phát triển kinh tế xã hội của cả nước Mặc dù gặp phải những khó khăn nhưng HTX vẫn đang trên đà phát triển và có sự hỗ trợ rất tích cực từ phía Nhà nước và cơ quan chính quyền
2.2.2.3 Phát triển HTX là yêu cầu cần thiết khách quan
Xét cả khía cạnh lý luận lẫn khía cạnh thực tiễn, kinh tế tập thể nói chung
và hợp tác xã nói riêng là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường càng gay gắt buộc những người lao động riêng lẻ, hộ cá thể, càng phải hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển Xã hội càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng cấp thiết hơn, hình thức hợp tác càng đa dạng hơn, nội dung hợp tác trở nên phong phú hơn
Trong tình hình Việt Nam hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển mạnh mẽ, sôi động và hoàn thiện hơn Vì vậy mà các thành phần kinh tế trong đó có hợp tác xã đều cần phải phát triển để thích ứng với xu mới Hiện nay hầu hết các HTX được chuyển đổi từ mô hình HTX kiểu cũ theo Luật HTX năm
2003 sang mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật HTX năm 2012
Luật HTX 2012 với bản chất đích thực có tính ưu việt, nhằm khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình HTX kiểu mới Đây là khuôn khổ pháp lý thuận lợi góp phần phát triển HTX lành mạnh, bền vững góp phần nâng cao năng
Trang 40lực cạnh tranh của kinh tế hộ thành viên trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công bằng xã hội, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Luật Hợp tác xã 2012, bao gồm 9 chương 64 điều, đã thể chế hóa rõ ràng bản chất hợp tác xã dưới nhiều khía cạnh, đặt biệt là mục đích thành lập, quan hệ sở hữu và quyền lực, quan hệ kinh tế và quan hệ phân phối trong hợp tác xã:
Tối đa hóa lợi ích của thành viên: Sứ mệnh quan trọng nhất của hợp tác xã không phải là tối đa hoá lợi nhuận, mà là tối đa hóa lợi ích trước mắt và lâu dài của thành viên bằng cách đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về sản phẩm, dịch vụ, hoặc tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho thành viên một cách hiệu quả hơn - điều mà từng thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường Đó là sự khác biệt cơ bản giữa bản chất HTX so với công ty cổ phần
Đồng sở hữu HTX trên nguyên tắc bình đẳng: Thành viên của HTX góp vốn và trở thành người đồng sở hữu với mục đích chính là sử dụng dịch vụ của HTX (thành viên vừa là người quản lý HTX, vừa là người sử dụng dịch vụ của HTX); mức vốn góp tối đa của thành viên không quá 20% vốn điều lệ; thành viên thực hiện vai trò làm chủ của mình bằng cách tham gia vào quá trình ra quyết định; thông qua Đại hội thành viên, có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp Tài sản không chia của HTX mang tính chất bất khả chuyển nhượng nhằm bảo đảm sự tồn tại liên tục của HTX và chống lại bất cứ sự mua bán cơ hội nào Điều này có nghĩa là khi nào HTX còn đủ điều kiện để hoạt động thì không ai có thể bán hay chuyển nhượng HTX được Tài sản không chia còn là di sản của hợp tác xã dành cho thế hệ tương lai Đây là đặc điểm mang tính nhân văn, đề cao giá trị cộng đồng và tính sở hữu chung của HTX Tài sản không chia được hình thành và phát triển không có mục đích tự thân, mà hướng đến việc phục vụ có hiệu quả nhu cầu chung, lâu dài của thành viên
Xét dưới góc độ thành viên, thành viên tham gia HTX để sử dụng dịch vụ
và sản phẩm của HTX Khi thành viên không còn nhu cầu sử dụng sản phẩm và dịch vụ của HTX trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 3 năm thì không còn duy trì tư cách thành viên; dưới góc độ HTX, HTX được hình thành để đáp ứng nhu cầu của thành viên Điều này đi đôi với việc
“thành viên có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ đối với HTX nông nghiệp tỷ lệ dich vụ cho thành viên là 70%” Đây là bản chất kinh tế rất quan trọng làm cho hợp tác xã phát triển bền vững