2.1.2.Hệ thống chính sách tỷ giá: Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủ yếu sau: - Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi s
Trang 1DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 4
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHÓM 4
1 Soạn đề cương, phân công Thuận
2 Tổng hợp file word, in ấn Thuận
5 Trả lời câu hỏi Thuận, Chinh, Hiếu, Thúy, Dũng
6 Nội dung đề tài:
+Phần mở đầu +Phần 1: Tổng quan về chính
sách tỷ giá hối đoái và chính sách
Trân, Loan, Thúy, Hiếu
Chinh, Dũng, Phương
Thuận
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 31/.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các giao dịch kinh tế và phi kinh tế giữa các quốc gia và lãnh thổ ngày càng phát triển Theo đó, các giao dịch tiền tệ quốc tế cũng sôi động và không ngừng phát triển
Tỷ giá hối đoái là một trong những vấn đề phức tạp và nhạy cảm, không ít nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn do tỷ giá hối đoái gây ra Tỷ giá hối đoái đang thu hút một sự chú ý đặc biệt của các học giả, các nhà kinh tế, các nhà chính trị và nó trở thành một chủ đề thảo luận sôi nổi không chỉ ở Việt nam mà cả trên thế giới Đã có nhiều nghiên cứu, tìm tòi nhằm đưa ra một cơ chế chính sách điều hành tỷ giá hối đoái cũng như chính sách quản lý ngoại hối hiệu quả Tuy nhiên, cho đến nay, lời giải đáp hoàn chỉnh vẫn còn đang ở phía trước
Trong thời gian qua, chính sách tỷ giá hối đoái và chính sách ngoại hối của Việt Nam đã có nhiều thay đổi rõ rệt và cũng đem lại nhiều kết quả khả quan, góp phần không nhỏ vào việc ổn định và phát triển kinh tế Chính vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài “ Chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối“ có ý nghĩa thực
tiễn to lớn, góp phần đưa ra những giải pháp tích cực phù hợp với thực tiễn tình hình kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2/.Mục đích & nhiệm vụ nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích và thực hiện các nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu cơ sở lý luận về chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối, xác định rõ mục tiêu và các công cụ của hệ thống chính sách tỷ giá nói riêng và chính sách quản lý ngoại hối nói chung, phân tích các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái để làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương trong việc can thiệp và điều tiết tỷ giá hối đoái
Học tập kinh nghiệm điều hành chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối ở một số nước như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc ,từ đó
có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 4 Tìm hiểu thực trạng chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam, đánh giá những mặt làm được và những tồn tại cần hạn chế khắc phục
Trên cơ sở đó, nêu lên những định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam cho phù hợp xu thế thương mại hoá và hội nhập hiện nay
3/.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp chủ yếu là tổng hợp và phân tích trên cơ sở so sánh đối chiếu các số liệu từ các nguồn tài liệu chính thống như các văn bản pháp định của ngành ngân hàng, sách, báo, tạo chí, internet…Để từ đó có cái nhìn tổng quát hơn về chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam
4/.Ý nghĩa của đề tài:
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên nội dung nghiên cứu của đề tài còn hạn chế và không thể tránh khỏi sai sót Tuy nhiên, với những vấn đề được trình bày trong đề tài có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập môn Tài chính quốc tế, làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới
PHẦN 1:
Trang 5TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ CHÍNH
SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
I Chính sách tỷ giá hối đoái:
1 Khái niệm, cơ sở xác định và nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái (TGHĐ):
1.1 Khái niệm:
Về hình thức: TGHĐ là giá đơn vị tiền tệ của một nước, được biểu hiện
bằng các đơn vị tiền tệ nước ngoài, là hệ số quy đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác, được xác định bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường
Ví dụ: TGHĐ giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ là 19.100VND/USD
Về nội dung: TGHĐ là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi
hàng hóa, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ…giữa các quốc gia
1.2 Cơ sở xác định tỷ giá:
Căn cứ xác định tỷ giá trong lịch sử
- Căn cứ giá ngang giá vàng - chế độ bản vị vàng: tỷ giá được tính trên cơ sở
so sánh hàm lượng vàng của các đồng tiền
- Căn cứ vào giá trị đồng Bảng Anh - Chế độ bản vị đồng Bảng Anh
- Căn cứ vào giá trị đồng Đô-la Mỹ - Chế độ tỷ giá đồng Đô-la Mỹ (Bretons Woods):USD được định giá so với vàng là 35$/ounce vàng
- Căn cứ vào quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường
- Kết hợp giữa cung cầu ngoại tệ trên thị trường và sự điều tiết của chính phủ
1.2.1 Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP):
- Học thuyết ngang giá sức mua – P.P.P được hình thành trên cơ sở kinh doanh chênh lệch giá cả trên thị trường hàng hoá, dựa trên quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường
- Ngang giá sức mua: Với một tỷ lệ chuyển đổi nhất định thì sức mua (lượng hàng hoá mua được) của nội tệ và ngoại tệ là như nhau
Trang 6- Quy luật ngang giá sức mua: Tỷ giá trên thị trường phải được xác định dựa trên cơ sở ngang giá sức mua.
- Theo hình thức tuyệt đối hay quy luật một giá: Hàng hoá giống nhau sẽ có giá như nhau khi quy về một đồng tiền chung Lý thuyết ngang giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luật giá cả, và giả định rằng trong một thị trường hoàn hảo, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ có một mức giá Công thức tính ngang giá sức mua như sau:
Trong đó
• S là tỉ lệ trao đổi giữa đồng tiền 1 với đồng tiền 2
• P1 là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 1
• P2 là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 2
Một tỷ giá hối đoái ngang giá sức mua sẽ cân bằng sức mua của hai loại tiền
tệ khác nhau tại mỗi quốc gia với một giỏ hàng hoá nhất định Tuy nhiên việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái cũng gây nhiều tranh cãi vì việc tạo một giỏ hàng hoá để so sánh sức mua tiền tệ giữa các quốc gia là vô cùng khó khăn Nếu sử dụng tỷ giá thị trường, không có sự điều chỉnh thì kết quả có thể sẽ có sự sai lệch bởi vì giá cả của các hàng hoá và dịch vụ phi thương mại ở các nước nghèo thì thường thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Ví dụ, với 1 đôla ở Việt Nam ta có thể mua được nhiều thứ hơn 1 đôla tiêu ở Mỹ Sự khác biệt giữa tỷ giá hối đoái ngang giá sức mua và tỷ giá hối đoái thị trường là rất lớn
Việc tính toán ngang giá sức mua là rất phức tạp vì trên thực tế có sự khác biệt lớn về mức giá giữa các quốc gia Người dân ở các quốc gia khác nhau có thói quen tiêu dùng khác nhau tức là sẽ có các giỏ hàng hoá khác nhau Do đó, khi tiến hành so sánh ngang giá sức mua giữa các thời kỳ cần tính đến những tác động của nhân tố lạm phát
Công thức phản ánh mối liên hệ giữa lạm phát tương đối và tỷ giá hối đoái theo ngang giá sức mua:
e f = (1+I h )/(1+I f )-1
Trang 7Trong đó:
ef : phần trăm thay đổi giá trị của đồng ngoại tệ
Ih: mức lạm phát trong nước
If : mức lạm phát của nước ngoài
1.2.2 Hiệu ứng Fisher quốc tế:
Lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế (IFE – International Fisher Effect) sử dụng lãi suất để giải thích tại sao tỷ giá hối đoái thay đổi theo thời gian, nhưng nó
có liên quan mật thiết với lý thuyết ngang giá sức mua vì lãi suất thường có sự quan hệ mật thiết với tỷ lệ lạm phát Do đó, chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia
có thể là kết quả chênh lệch trong lạm phát
Ta biết rằng nếu có ngang giá lãi suất (IRP) thì tỷ suất sinh lợi của nhà đầu
tư từ kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa không cao hơn tỷ suất sinh lợi trong nước Theo điều kiện này, 1 công ty có tiền mặt ngắn hạn thặng dư có thể vẫn xem xét đầu tư nước ngoài, nhưng phải sẵn sàng để vị thế ngoại hối mở (không bảo hiểm) Với chiến lược này có đem đến 1 tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi trong nước hay không tùy thuộc vào điều gì xảy ra cho giá trị của đồng tiền đó
Minh họa hiệu ứng Fisher Quốc tế từ các góc độ khác nhau của nhà đầu tư
Trang 8% thay đổi tỷ giá
dự kiến (ef)
Lãi suất danh nghĩa
TSSL cho nhà đầu tư sau khi điều chỉnh TGHĐ
Lạm phát dự kiến trong nước
Tỷ suất sinh lợi thực
kỳ chứng khoán thị trường tiền tệ nào) là : r = (1 + i f )(1 + e f ) – 1
Theo lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế, tỷ suất sinh lợi từ đầu tư trong nước
tính trung bình sẽ bằng tỷ suất sinh lợi có hiệu lực từ đầu tư nước ngoài Tức là: r
= i h
Trong đó:
r : là tỷ suất sinh lợi có hiệu lực từ ký thác nước ngoài
if : là lãi suất ký thác trong nước.
ef : phần trăm thay đổi trong giá trị của ngoại tệ
i h : là lãi suất ký thác nước ngoài
r = (1 + ih)(1 + ef) – 1 = ih
Bây giờ ta đi tìm ef : (1 + if)(1 + ef) = (1 + ih)
(1 + ef) = (1 + ih) / (1 + if) => ef = (1 + if)/(1 + if) - 1
Ba lý thuyết ngang giá lãi suất (IRP), ngang giá sức mua (PPP) và hiệu ứng fisher quốc tế (IFE) liên quan đến việc xác định tỷ giá hối đoái
So sánh lý thuyết IRP, PPP và IFE
Trang 9Chênh lệch lãi suất
Tỷ giá kỳ hạn của 1 đồng tiền so với 1 đồng tiền khác sẽ chứa 1 phần bù (hay chiết khấu) được xác định bởi chênh lệch trong lãi suất giữa 2 quốc gia Kết quả, kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa sẽ thu được 1 tỷ suất sinh lợi không cao hơn
tỷ suất sinh lợi trong nước
Ngang giá
sức mua
(PPP)
Phần trăm thay đổi trong tỷ giá giao ngay
Chênh lệch tỷ lệ lạm phát
Tỷ giá giao ngay của 1 đồng tiền so với 1 đồng tiền khác sẽ thay đổi để đáp ứng chênh lệch trong tỷ lệ lạm phát giữa 2 nước Kết quả, sức mua của người tiêu dùng khi mua hàng hóa ở nước họ sẽ tương tự với sức mua khi nhập hàng hóa từ nước ngoài
Hiệu ứng
Fisher quốc
tế (IFE)
Phần trăm thay đổi trong tỷ giá giao ngay
Chênh lệch lãi suất
Tỷ giá giao ngay của 1 đồng tiền so với 1 đồng tiền khác sẽ thay đổi theo sai biệt trong lãi suất giữa 2 nước Kết quả, tỷ suất sinh lợi từ kinh doanh chênh lệch không phòng ngừa trên thị trường tiền tệ nước ngoài tính bình quân sẽ không cao hơn tỷ suất sinh lợi trên thị trường tiền tệ nội địa từ góc nhìn của các nhà đầu tư trong nước
1.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái của các nước hiện nay biến động hàng ngày, hàng giờ và nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: tốc độ lạm phát, tình hình cán cân thanh toán, lãi suất ngân hàng, chính sách kinh tế, các sự kiện chính trị xã hội, thiên tai…Có thể đề cập đến một số nhân tố chủ yếu sau:
1.3.1.Tình hình dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thương mại:
Cán cân thương mại của một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu
và kim ngạch nhập khẩu Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại
tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm Ngược lại, khi nhập khẩu
Trang 10hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng Tác động của hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân tố, đó chính là cán cân thương mại Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá Khi thâm hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
1.3.2.Liên quan giữa lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái:
Trong số các yếu tố quyết định của tỷ giá hối đoái, lạm phát được coi là yếu
tố quan trọng nhất lý thuyết ngang giá sức mua quy định mối quan liên hệ chính xác giữa các tỷ lệ lạm phát tương đối và tỷ giá hối đối của hai nước Khi một nước
có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn lúc này các doanh nghiệp trong nước chịu cảnh ế ẩm, doanh thu sụt giảm, nhập khẩu tăng, cầu ngoại
tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn Hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại
tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn Trên thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy
tỷ giá hối đoái tăng Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng
Chênh lệch lãi suất giữa hai nước là một yếu tố quyết định quan trọng khác của tỷ giá hối đoái Hiệu ứng fisher quốc tế quy định mối liên hệ chính xác giữa lãi suất tương đối và tỷ giá hối đoái của hai quốc gia
Trang 11Tóm tắt mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và tỷ giá:
1.3.3.Tác động của đầu tư quốc tế đến tỷ giá hối đoái:
Đầu tư ra nước ngoài, có ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái cư dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp ) hay đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu ) Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài,
tỷ giá hối đoái sẽ tăng Ngược lại một nước nhận đầu tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái giảm
Nhìn vào đồ thị cung cầu dưới đây, bạn có thể thấy rằng khi cung tăng, đường cung di chuyển ra góc xa về phía bên phải của đồ thị Vì nó di chuyển về bên phải, giả định là đường cầu không di chuyển sẽ làm cho điểm cân bằng di chuyển xuống mức giá thấp hơn Tóm lại điều này cho biết khi cung một đồng tiền tăng thì giá của đồng tiền đó sẽ giảm
Nhìn vào đồ thị cung cầu dưới đây, bạn có thể thấy rằng khi cung giảm, đường cung di chuyển ra góc xa về phía bên trái của đồ thị Vì nó di chuyển về bên trái, giả định là đường cầu không di chuyển sẽ làm cho điểm cân bằng di chuyển lên mức giá cao hơn Điều này cho biết khi cung một đồng tiền giảm thì giá của đồng tiền đó sẽ tăng
Chênh lệch lãi suất Chênh lệch lạm phát
Tỷ giá kỳ hạnPhần bù hoặc chiết khấu
Tỷ giá hối đoái kỳ vọng
Ngang giá lãi suất (IRP)
Hiệu ứng Fisher IFE
Trang 12Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một nước Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái tăng Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi
nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá
rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và
sự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ
2 Chính sách tỷ giá hối đoái và vai trò của NHTW trong việc điều hành chế
độ tỷ giá:
2.1 Khái niệm, mục tiêu và hệ thống chính sách tỷ giá
2.1.1.Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ (mà đại diện là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia
Mục tiêu của chính sách tiền tệ có thể khác nhau ở mỗi quốc gia, nhưng nhìn
Trang 13chung nó bao gồm các mục tiêu:
-Ổn định giá cả, với các yếu tố khác không đổi:
+ Khi phá giá đồng bản tệ (tức tỷ giá tăng) giá hàng nhập khẩu tính bằng
đồng bản tệ tăng mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng lạm phát
+ Khi nâng giá đồng bản tệ (tức tỷ giá giảm) giá cả hàng nhập tính bằng
đồng bản tệ giảm áp lực giảm lạm phát
Như vậy, chính sách tỷ giá có thể được sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm dạt được mục tiêu ổn định giá cả Với các yếu tố khác không đổi, muốn kiềm chế lạm phát gia tăng, NHTW có thể nâng giá đồng bản tệ; muốn kích thích lạm phát gia tăng, NHTW có thể sử dụng chính sách phá giá đồng bản tệ; muốn duy trì
ổn định giá cả, NHTW phải sử dụng chính sách tỷ giá ổn định và cân bằng
-Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ, với các yếu tố
khác không đổi:
+ Phá giá đồng bản tệ sẽ làm cho tăng thu nhập và tạo công ăn việc làm
Phá giá đồng bản tệ Kích thích tăng trưởng và hạn chế nhập khẩu, trực tiếp làm tăng thu nhập quốc dân và tăng công ăn việc làm
Y↑ = C + I + G +X↑ - M↓
Phá giá đồng bản tệ làm cho ngành sản xuất không sử dụng đầu vào là hàng nhập khẩu sẽ tăng lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hoá nhập khẩu, từ đó mở rộng sản xuất, tăng thu nhập và tạo công ăn việc làm mới
+ Ngược lại, nâng giá đồng bản tệ sẽ cho kết quả làm giảm tăng trưởng kinh
tế và gia tăng thu nhập
Như vậy, chính sách tỷ giá có thể được sử dụng như một công cụ nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng và tạo công ăn việc làm Với các yếu tố khác không đổi, muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần áp dụng chính sách phá giá bản tệ; ngược lại muốn kiềm chế và giảm tốc độ tăng trưởng thì áp dụng chính sách nâng giá nội tệ
-Cân bằng cán cân vãng lai: Từ các tác động về tỷ giá ở trên, chính sách tỷ
giá tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, là hai bộ phận cấu thành nên cán cân vãng lai Do đó, chính sách tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp
Trang 14đến cán cân vãng lai.
Với chính sách tỷ giá định giá thấp bản tệ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu cải thiện cán cân vãng lai (từ thâm hụt sang cân bằng hay thặng dư)
Với chính sách tỷ giá định giá cao bản tệ kìm hãm xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu điều chỉnh cán cân vãng lai (từ trạng thái thặng dư về trạng thái cân bằng hay thâm hụt)
Với chính sách tỷ giá cân bằng sẽ có tác dụng làm cân bằng xuất khẩu và nhập khẩu, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng
Tỷ giá là một biến số kinh tế tác động hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, nhưng hiệu quả ảnh hưởng của tỷ giá lên các hoạt động khác nhau là rất khác nhau Trong đó, hiệu quả tác động của tỷ giá lên hoạt động xuất nhập khẩu là
rõ ràng và nhanh chóng, chính vì vậy trong điều kiện mở cửa và hội nhập, hợp tác
và tự do hoá thương mại, các quốc gia luôn sử dụng tỷ giá trước hết như một công
cụ hữu hiệu để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của mình
2.1.2.Hệ thống chính sách tỷ giá:
Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủ yếu sau:
- Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi
suất trên thị trường tăng, làm các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường quốc tế chạy vào nước mình để thu lợi tức cao làm dịu sự căng thẳng của cầu vượt cung ngoại hối, do đó làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại
- Chính sách hối đoái: khi tỷ giá lên cao NHTW bán ngoại hối ra thị trường
kéo tỷ giá tụt xuống và ngược lại Tuy nhiên NHTW phải có dự trữ ngoại hối đủ lớn, nếu cán cân thanh toán thiếu hụt thường xuyên thì khó có đủ ngoại hối thực hiện phương pháp này
- Phá giá tiền tệ: là sự nâng cao một cách chính thức TGHĐ hay là việc nhà
nước hạ thấp sức mua đồng tiền nước mình so với ngoại tệ làm đẩy mạnh xuất khẩu hạn chế nhập khẩu cải thiện cán cân thương mại làm tỷ giá bớt căng thẳng
Trang 15- Nâng giá tiền tệ: là việc Nhà nước chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ nước
mình so với ngoại tệ làm cho tỷ giá giảm xuống
2.2 Các công cụ của chính sách tỷ giá
2.2.1 Nhóm công cụ trực tiếp:
NHTW thông qua việc mua bán đồng ngoại tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra Hoạt động can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung ương tạo ra hiệu ứng thay đổi cung tiền có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho nền kinh tế vì vậy đi kèm hoạt động can thiệp này của NHTW thì phải
sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ ở lưu thông
Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ được thực hiện thông qua việc NHTW tham gia mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ Một nghiệp vụ mua ngoại tệ trên thị trường của NHTW làm giảm cung ngoại tệ do đó làm tăng tỷ giá hối đoái
và ngược lại Do đó đây là công cụ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái
Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ là việc NHTW mua bán có chứng từ có giá Tuy nó chỉ tác động gián tiếp đến tỷ giá nhưng lại có tác động trực tiếp đến các biến số kinh tế vĩ mô khác như lãi suất, giá cả Nó được dùng phối hợp với nghiệp
vụ thị trường mở ngoại tệ để khử đi sự tăng, giảm cung nội tệ do nghiệp vụ thị trường mở gây ra
Ngoài ra Chính phủ có thể sử dụng biện pháp can thiệp hành chính như biện pháp kết hối, quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời gian mua ngoại tệ, nhằm giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và giữ cho tỷ giá ổn định
2.2.2 Nhóm công cụ gián tiếp:
Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất Cơ chế tác động đến tỷ giá hối đoái của nó như sau: Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường Từ đó tác động đến xu hướng dịch chuyển của dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn hoặc ít nhất làm cho người sở hữu
Trang 16vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn
để thu lợi và làm thay đổi vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái Cụ thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngược lại muốn tăng tỷ giá sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu
Muốn giảm tỷ giá hối đoái thì Chính Phủ có thể quy định mức thuế quan cao, quy định hạn ngạch và thực hiện trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu chiến lược Và ngược lại sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái
Ngoài ra Chính Phủ có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều chỉnh tỷ
lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ với NHTW, quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ Mục đích là phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối
2.3 Chế độ tỷ giá và vai trò của NHTW:
2.3.1 Khái niệm và phân loại chế độ tỷ giá:
-Khái niệm chế độ tỷ giá: Tỷ giá là một phạm trù kinh tế vừa là công cụ của
chính sách kinh tế của Chính phủ Vì là công cụ của chính sách kinh tế nên tỷ giá chứa đựng những yếu tố chủ quan, chính vì vậy các quốc gia luôn xây dựng những quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của riêng mình Tập hợp các quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của một quốc gia tạo nên chế độ tỷ giá của quốc gia này
Vì chứa đựng yếu tố chủ quan, nên chế độ tỷ giá của mỗi quốc gia thay đổi
từ thời gian này sang thời gian khác và chế độ tỷ giá của các quốc gia thường là khác nhau
Tùy theo mức độ can thiệp của Chính phủ có thể nêu ra 3 chế độ đặc trưng:
-Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là chế độ, trong đó tỷ gía được xác định
hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoai hối mà không có bất
kỳ sự can thiệp nào của ngân hàng trung ương Mặc dù vậy trên thực tế, nói là áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi độc lập, nhưng chính phủ không thờ ơ đến sự biến động
Trang 17nhất thời của tỷ giá, nên đã ít nhiều có can thiệp để giảm sự biến động của tỷ giá Tuy nhiên, can thiệp của chính phủ là tùy ý và không đặt bất cứ mục tiêu bắt buộc
cụ thể nào phải đạt được
-Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết: tồn tại khi Ngân hàng Trung ương tiến
hành can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất định, nhưng Ngân hàng trung ương không cam kết duy trì một
tỷ giá cố định hay một biên độ dao động hẹp xung quanh tỷ giá trung tâm Chẳng hạn, NHTW không công bố và không cam kết duy trì một tỷ giá cố định nào, nhưng cam kết can thiệp để tỷ giá ngày hôm nay chỉ biến động trong một giới hạn
tỷ lệ phần trăm nhất định so với ngày hôm trước Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết được xem như chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn và tỷ giá
cố định
-Chế độ tỷ giá cố định: là chế độ tỷ giá, NHTW công bố và cam kết can
thiệp để duy trì một tỷ giá cố định, gọi là tỷ giá trung tâm Như vậy, trong chế độ
tỷ giá cố định, NHTW buộc phải mua vào hoặc bán ra nội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì chế độ tỷ giá trung tâm và duy trì sự biến động của nó trong một biên độ hẹp đã định trước Để can thiệp trên thị trường ngoại hối đòi hỏi NHTW phải có sẵn dự trữ ngoại hối nhất định Do mỗi đồng tiền quốc gia đều có tỷ giá với đồng tiền khác, do đó tỷ giá của một đồng tiền có thể được thả nổi với đồng tiền này nhưng lại được cố định với một đồng tiền khác
2.3.2.Vai trò của NHTW trong các chế độ tỷ giá:
Điểm giao nhau của đường cầu D và đường cung S xác định tỷ giá trên thị trường ngoại hối Điểm khác nhau căn bản giữa tỷ giá thả nổi và tỷ giá cố định được phản ánh thông qua vai trò của NHTW trong các chế độ tỷ giá này và được phân tích trên cơ sở quan hệ cung cầu dưới đây:
-Chế độ tỷ giá thả nổi: NHTW không can thiệp nhằm ảnh hưởng lên tỷ giá
thông qua hoạt động mua vào hay bán ra đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối NHTW để cho tỷ giá được xác định hoàn tòan tự do bởi quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối
0
Trang 18Biểu đồ 1: Chế độ tỷ giá thả nổi – Cầu tăng.
Như vậy, trong chế độ tỷ giá thả nổi, cầu tăng làm cho:
- Tỷ giá tăng, tức ngoại tệ lên giá còn nội tệ giảm giá
- Khối lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường tăng
Biểu đồ 2: Chế độ tỷ giá thả nổi – Cung tăng
Như vậy, trong chế độ tỷ giá thả nổi, cung tăng làm cho:
- Tỷ giá giảm, tức ngoại tệ giảm giá còn nội tệ lên giá
- Khối lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường tăng
E(VND/USD)
Trang 19Tóm lại, bản chất của chế độ tỷ giá thả nổi là việc tỷ giá tự điều chỉnh để phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối Do đó, vai trò của NHTW trên thị trường ngoại hối là hoàn toàn trung lập.
-Chế độ tỷ giá cố định:Giả sử tại thời điểm xuất phát, NHTW ấn định tỷ giá
cố định (gọi là tỷ giá trung tâm) ở mức cân bằng của thị trường là ECR Để đơn giản, chúng ta giả định NHTW không quy định tỷ giá trung tâm
Biểu đồ 3: Chế độ tỷ giá cố định – Cầu tăng
Cầu USD tăng làm dịch chuyển đường cầu sang phải từ D0 đến D1; cầu USD tăng tạo áp lực nâng giá USD từ ECR lên E* (tức tạo áp lực phá giá VND)
Để duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải can thiệp lên thị trường ngoại hối bằng cách bán ra một lượng USD bằng khỏang cách Q0Q1 để mua VND Hành động can thiệp của NHTW làm dịch chuyển đường cung USD từ S0 lên SIN
Như vậy, thông qua can thiệp, NHTW đã thỏa mãn toàn bộ lượng cầu USD phụ trội so với cung, do đó tỷ giá vẫn được duy trì không đổi ở mức ECR Hành động can thiệp của NHTW làm giảm dự trữ ngoại hối quốc tế bằng VND, đồng thời làm cho lượng tiền VND trong lưu thông co lại Do vậy, để tránh hậu quả lạm phát, NHTW phải tiến hành một giao dịch trên thị trường mở bằng cách mua chứng khoán vào để bơm thêm tiền vào lưu thông tương đương với lượng VND thu được từ bán USD
Trang 20Biểu đồ 4: Chế độ tỷ giá cố định - Cung tăng.
Cung USD tăng tạo áp lực phá giá từ ECR đến E* (tức tạo áp lực nâng giá VND) Để duy trì tỷ giá cố định, NHTW mua vào lượng USD bằng khỏang cách Q0Q1 để bán VND ra Hành động can thiệp của NHTW đã làm dịch chuyển đường cầu USD từ D0 đến DIN Qua can thiệp, NHTW đã hấp thụ tòan bộ lượng cung USD phụ trội, do đó tỷ giá vẫn được duy trì không đổi ở mức ECR Hành động can thiệp của NHTW làm tăng dự trữ ngoại hối quốc tế bằng USD của Việt Nam, đồng thời làm cho lượng VND trong lưu thông tăng
Lượng tiền trong lưu thông tăng Để tránh hậu quả lạm phát, NHTW phải tiến hành một giao dịch trên thị trường mở bằng cách bán chứng khoán để hút bớt tiền vào lưu thông tương đương với lượng VND bơm vào thị trường từ bán USD
Như vậy, trong chế độ tỷ giá cố định, khi các lực lượng thị trường làm cho đường cung và đường cầu dịch chuyển, làm cho dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi Điều này là khác với chế độ tỷ giá thả nổi hoàn tòan khi đường cung và đường cầu dịch chuyển làm cho tỷ giá thay đổi chứ không phải dự trữ ngoại hối của NHTW
-Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết: trong chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, tỷ
giá không cố định mà cũng không tự do biến động hòan toàn Một mặt, tỷ giá được hình thành và biến động theo các lực lượng thị trường Mặt khác, NHTW tích cực can thiệp để giảm sự biến động quá mức của tỷ giá, hoặc để tỷ giá biến động trong một biên độ nhất định
Trang 21Biểu đồ 5: Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết – Cầu tăng qua mức
Trong chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, khi cầu tăng:
• Tỷ giá tăng, nhưng do có can thiệp nên tỷ giá chỉ tăng ở mức vừa phải
từ E0 đến EIN; trong đó nếu là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn tòan thì tỷ giá tăng đến mức EM để điều tiết cung cầu
• Do có can thiệp chỉ một phần nên tỷ giá không giảm từ EM xuống E0 ,
mà chỉ giảm xuống EIN, dự trữ ngoại hối giảm
• Như vậy vai trò của thị trường được thể hiện bởi tỷ gía tăng từ E0 đến EIN, còn vai trò can thiệp của ngân hàng trung ương được thể hiện bởi tỷ giá giảm từ EM xuống EIN
Trang 22Biểu đồ 6: Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết – Cung tăng quá mức
Trong chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết khi cung tăng:
• Tỷ giá giảm nhưng do có can thiệp nên tỷ giá chỉ giảm ở mức vừa phải từ E0 xuống EIN; trong khi đó, nếu là chế độ tỷ giá thả nổi hòan tòan thì tỷ giá giảm xuống đến mức EM để điều tiết cung cầu
• Do có can thiệp chỉ một phần nên tỷ giá không tăng từ EM lên E0 mà chỉ tăng đến EIN, dữ trữ ngọai hối tăng
• Như vậy, vai trò thị trường thể hiện bởi tỷ giá giảm từ E0 xuống EIN, còn vai trò của ngân hàng trung ương thể hiện bởi tỷ giá tăng từ EM đến EIN
3 Kinh nghiệm một số quốc gia về chính sách tỷ giá:
Hiện nay trên thế giới, các quốc gia nhìn chung đều sử dụng chính sách thả nổi có quản lý nhưng mức độ quản lý hay thả nổi là khác nhau ở các quốc gia khác nhau Những nước này gần như tự do ngoại hối và thống nhất một tỷ giá duy nhất cho tất cả các hoạt động có liên quan Các nước này có khả năng dự trữ ngoại tệ của NHTW dồi dào, có thị trường ngoại hối phát triển ở mức độ cao, các công cụ gián tiếp mà NHTW sử dụng rất phong phú, đa dạng và có tính chất hỗ trợ nhau Điển hình ở nhóm này là Mỹ
Thị trường tiền tệ, ngoại hối của Mỹ là thị trường phát triển và hoàn chỉnh vào loại nhất thế giới, nghệ thuật điều chỉnh tỷ giá của họ cũng đạt đến độ hoàn hảo và có ảnh hưởng toàn cầu Chính sách đồng đô-la yếu, rơi tự do chính là yếu tố kích thích xuất khẩu của Mỹ, thúc đẩy tăng trưởng tạo ra nhiều nhu cầu việc làm, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp vốn vẫn lơ lửng như một mối đe doạ với siêu cường quốc kinh tế thế giới Về dài hạn, chính sách này ít nguy cơ gây tăng mạnh lạm phát và sẽ làm tăng lãi suất và kích thích các nhà đầu tư nước ngoài tạo ra hàng tỷ đô-la cho Mỹ trang trải các thâm hụt trong ngân sách và tài khoản vãng lai
Các nước trong nhóm này đều gắn đồng tiền với một số ngoại tệ nhất định,
tỷ giá được công bố hàng ngày với mức dao động cho phép NHTW sẽ can thiệp
Trang 23khi tỷ giá vượt ra ngoài biên độ dao động Trong giai đoạn chuyển sang nền kinh
tế thị trường, dự trữ ngoại tệ thấp, thị trường hối đoái chưa phát triển thì cơ chế trên tỏ ra là một điểm tựa tương đối chắc chắn cho NHTW trong việc kiểm soát chính sách tỷ giá Chúng ta sẽ xem xét trường hợp của nước Nga
Trước khủng hoảng T8/1998, Nga chủ trương thực hiện liệu pháp ‘sốc’ để cải tổ nền kinh tế, Chính phủ Nga đã áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn cùng với khá nhiều chính sách tự do hoá trong giai đoạn 1991-1995 Những đợt phá giá
vô căn cứ đã góp phần tạo ra sự tụt dốc tới 3000 lần của đồng Rúp so với USD, làm tăng lạm phát trong nước Ước tính đến năm 1995, tổng giá trị USD bằng tiền mặt lưu hành quy đổi giá trị so với đồng Rúp đã vượt quá 3 lần, Nga là quốc gia tầm cỡ duy nhất trong lịch sử phụ thuộc quá nhiều vào đồng tiền của một quốc gia khác Ngày 6-7-1995, Chính phủ Nga đưa ra hệ thống “hành lang hối đoái” nhằm tạo tiền đề cho quá trình cố định tỷ giá đồng tiền này
Năm 1998, sau khi thay đổi mệnh giá đồng Rúp theo tỷ lệ mới 1/1000 tỷ giá đồng Rúp giảm xuống còn một con số, Chính Phủ Nga đã quyết định thực hiện chính sách cố định tỷ giá ở mức 6.2 R/USD Song với những biến động quá lớn về giá cả một số mặt hàng chủ chốt trên thị trường quốc tế đã gây nên khủng hoảng tiền tệ T8/1998, hệ thống Ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khoảng 1/3 ngân hàng bị phá sản, gần 160 tỷ USD nợ nước ngoài không có khả năng trả Ngày 9/9/1998, Nga đã buộc phải từ bỏ mục tiêu biên độ tỷ giá và chuyển sang hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi, do thị trường quyết định, NHTW chỉ
có nhiệm vụ ngăn chặn sự dao động quá nhiều của tỷ gía T7/2004, NHTW Nga đã quyết định chuyển sang hệ thống mới, tỷ gía được xác định trên cơ sở tỷ giá bình quân của đồng Rúp so với USD và Euro
Các nước ASEAN đa số đều thả nổi tỷ giá hối đoái, không quy định giới hạn với các NHTM Đa số các nước này có thị trường hối đoái phát triển, thị trường chứng khoán có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới, mức dự trữ ngoại tệ lớn
đủ điều kiện để tiến tới tự do hoàn toàn, NHTW có đủ sức cũng như các công cụ
để can thiệp trong trường hợp cần thiết
Trang 24Trung Quốc là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng mạnh và hàng đầu ở Châu
Á, T4/1994 Chính Phủ nước này đã chính thức công bố thực hiện chính sách TGHĐ “thả nổi có quản lý”: tỷ giá đồng CNY được dao động trong một biên độ hẹp và NHTW có thể điều chỉnh tỷ giá mục tiêu trên cơ sở các biện pháp kiểm soát chặt chẽ vốn vào ra của Chính phủ Điều này không những làm ổn định tiền tệ mà còn tạo được lòng tin của nhân dân thông qua việc đưa đồng tiền đến gần giá trị thực của nó T12/1996, CNY được chính thức chuyển đổi trong các giao dịch trên tài khoản vãng lai sau khi đựơc ấn định ở mức 8.27 CNY/USD (biên độ dao động 0.125% ) Chế độ tỷ giá mới này đã biến Trung Quốc thành khu vực an toàn, thu hút đầu tư rất mạnh kể cả trong thời kỳ khủng hoảng khu vực, thay thế Mỹ trở thành nước thu hút FDI lớn nhất thế giới, dự trữ ngoại tệ chỉ xếp sau Nhật Bản Vai trò của đồng CNY ngày càng được củng cố và nâng cao trên khu vực và thế giới
Ngày 31/7/2005, Trung Quốc tuyên bố TGHĐ đồng CNY căn cứ vào “giỏ” ngoại tệ gồm USD, EUR, và đồng won Hàn Quốc NHTW Trung Quốc mới đây đã tăng giá CNY 2% nhằm làm dịu tình trạng mất cân bằng trong mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc, mở rộng kích cầu trong nước cũng như nâng cao mức cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường quốc tế, nâng cao hiệu quả tận dụng vốn nước ngoài…Hiện nay, quản lý ngoại tệ của Trung Quốc đã được nới lỏng dần dần, việc xây dựng thị trường ngoại tệ không ngừng tăng cường, các cuộc cải cách tiền tệ đã
có những bước tiến đáng kể, kinh tế quốc dân tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định.Vì vậy, Trung Quốc chọn thời điểm này để thực hiện cải cách tỷ giá
3.4 Bài học kinh nghiệm:
Sau khi nghiên cứu về cơ chế điều hành chính sách tỷ giá ở một số nước tiêu biểu, ta rút ra được những bài học kinh nghiệm sau:
-Cơ chế điều hành TGHĐ cần được đặt trong mối quan hệ với lãi suất và lạm phát, phù hợp với từng thời kỳ nhất định, phối hợp song song với chính sách kinh tế trên tất cả ngành lĩnh vực khác
-Sự phá giá vô căn cứ đồng tiền quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi và chính sách thả nổi là nguyên nhân chính khiến đồng tiền nội tệ bị mất giá nghiêm trọng,
Trang 25lạm phát gia tăng khó kiểm soát làm tháo chạy dòng vốn đầu tư nước ngoài, giảm tốc độ tăng trưởng.
-Cơ chế TGHĐ thả nổi nếu được đặt trong biên độ dao động nhất định có thể thành công và thích hợp với công cuộc cải cách kinh tế- xã hội
-Khi thị trường hối đoái và nội tệ phát triển ở mức cao sẽ có đầy đủ công cụ gián tiếp giúp NHTW linh hoạt trong can thiệp và trung hoà giữa các chỉ tiêu của chính sách tiền tệ Bản thân nền kinh tế cũng phải phát triển mạnh, có dự trữ đồng tiền có sức mạnh và có khả năng chuyển đổi, ổn định tương đối
II.Chính sách quản lý ngoại hối:
1.Khái niệm:
-Chính sách QLNH: là bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, là một trong
những công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế Nó bao gồm những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động ngoại hối như mua bán, đầu tư, vay, cho vay và các GD khác về ngoại hối của các bên liên quan nhằm thực hiện được các mục tiêu QLNH trong từng thời kỳ
Thông thường, Chính phủ các nước uỷ nhiệm chức năng QLNH và hoạt động ngoại hối cho một cơ quan Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ đảm trách nhiệm vụ này Phần lớn trên thế giới, NHTW giữ trọng trách QLNH và hoạt động ngoại hối Tại Việt Nam, Chính phủ giao cho NHNN là cơ quan chủ quản và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để thực hiện việc QLNH
-Ngoại hối: là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng để
thanh toán giữa các quốc gia Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi nước mà khái niệm ngoại hối có thể là không giống nhau
Theo pháp lệnh ngoại hối Việt Nam, ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị thanh toán Ngoại hối bao gồm:
a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ);
b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
Trang 26c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;
đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế
2.Mục tiêu của chính sách quản lý ngoại hối:
2.1 Điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Như đã nói ở trên, NHNN trực tiếp điều hành và quản lý dự trữ ngoại hối nhằm mục đích ngăn ngừa biến động ngắn hạn quá lớn về tỷ giá, do hậu quả của một số biến động trên thị trường Vì vậy mục đích của việc quản lý dự trữ ngoại hối là để đảm bảo cho một quốc gia luôn luôn trong trạng thái có thể thanh toán các khoản nợ đúng hạn và có thể giải quyết những dao động về tỷ giá ngoại hối trong ngắn hạn Đồng thời sử dụng chính sách ngoại hối như một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ, thông qua mua bán ngoại hối trên thị trường để can thiệp vào tỷ giá khi cần thiết, nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền
2.2.Bảo tồn dự trữ ngoại hối Nhà nước
Dự trữ ngoại hối có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nên được nhà nước tiến hành quản lý và NHNN là cơ quan được nhà nước giao cho thực hiện nhiệm vụ này Điều đó thể hiện trong pháp lệnh NHNN năm 1990 (điều 30), luật NHNN năm 1997 (điều 38)
Với tư cách là cơ quan duy nhất có nhiệm vụ phát hành tiền, xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ, lập và theo dõi cán cân thanh toán quốc tế, NHNN đã tiến hành quản lý dự trữ ngoại hối, cụ thể là áp dụng các chính sách, biện pháp tác động vào quá trình thu nhập, xuất ngoại hối (đặc biệt là ngoại tệ) và việc sử dụng ngoại hối theo những mục tiêu nhất định
Là cơ quan quản lý tài sản quốc gia, NHNN phải quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước nhưng không chỉ bảo quản và cất giữ mà còn biết sử dụng để phục vụ
Trang 27cho đầu tư phát triển kinh tế, luôn bảo đảm an toàn không bị ảnh hưởng rủi ro về tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế Vì thế NHNN cần phải mua, bán, chuyển đổi
để phát triển, chống thất thoát quỹ dự trữ ngoại hối của nhà nước, bảo vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ
2.3.Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện thu - chi ngoại tệ của một nước với nước ngoài Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, lượng ngoại tệ chảy vào trong nước lớn dẫn đến khả năng cung ứng về ngoại tệ cao hơn nhu cầu Ngựơc lại, khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi, tăng lượng ngoại tệ chạy ra nước ngoài dẫn đến nhu cầu ngoại tệ cao hơn khả năng cung ứng Vì thế, mục đích của quản lý dự trữ ngoại hối để đảm bảo cho một quốc gia luôn luôn trong trạng thái có thể thanh toán các khoản nợ đúng hạn và có thể giải quyết những giao động về tỷ giá ngoại hối trong ngắn hạn
Dự trữ ngoại hối được sử dụng nhằm tài trợ cho sự mất cân bằng cán cân thanh toán hoặc gián tiếp tác động thông qua việc can thiệp trên thị trường ngoại hối giữ vai trò ngăn ngừa những biến động trong nguồn thu xuất khẩu, thanh toán nhập khẩu, cũng như chu chuyển quá lớn luồng vốn đối với một quốc gia
Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN trong xu thế hội nhập mở cửa, ngoài các mục tiêu trên, chính sách QLNH cần đảm bảo các yêu cầu sau:
-Đưa nền kinh tế đạt được mức cân bằng đối ngoại góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
-Đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế cho quốc gia
-Hạn chế luồng vốn đi ra, thu hút nguồn vốn từ bên ngoài tập trung phát triển kinh tế
-Bảo vệ chủ quyền về tiền tệ
-Tránh những tác động tiêu cực từ bên ngoài ảnh hưởng tới nền kinh tế
3.Nội dung của chính sách ngoại hối:
Trang 28- Quy định đối với các giao dịch vãng lai, bao gồm: hoạt động chuyển đổi ngoại tệ giữa các nước, quyền mua bán ngoại tệ của các đối tượng cư trú và không cư trú.
- Quy định đối với các giao dịch vốn, bao gồm: di chuyển ngoại tệ hình thành từ các giao dịch vốn giữa các nước, quản lý vay và trả nợ nước ngoài, FDI, ODA, chứng từ có giá…
- Quy định về hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng bao gồm: cấp giấy phép hoạt động ngoại hối, quy định phạm vi và điều kiện hoạt động, cho vay, thu nợ bằng ngoại tệ trong nước, phát hành giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, quy định về trạng thái của ngoại tệ
- Quy định quản lý vàng tiêu chuẩn quốc tế gồm các quy định về quyền hạn, nhiệm vụ về quản lý và việc sử dụng của NHTW đối với vàng tiêu chuẩn quốc tế
4.Chính sách quản lý ngoại hối ở 1 số nước:
4.1.Chính sách quản lý ngoại hối ở Nhật:
Nền kinh tế cuả Nhật bị tàn phá sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhưng sau 5 thập kỷ khôi phục và phát triển kinh tế, Nhật Bản đã có những bước tiến dài,
từ một nước nghèo tài nguyên nay đã trở thành nước có kim ngạch xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới
Hiện nay, chính sách quản lý ngoại hối của Nhật đã nâng thành Luật kiểm soát ngoại hối, ngoaị thương Mục đích của Luật này là tăng cường quản lý, tạo sự cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tiền tệ và sử dụng hiệu quả quỹ tiền tệ vì mục đích phục hồi và phát triển kinh tế Nhìn chung, mọi hoạt động giao dịch thanh toán với nước ngoài đều phải thực hiện thông qua ngân hàng kinh doanh ngoại hối theo luật định Nguyên tắc “Trên đất nước Nhật chi tiêu bằng đồng Yên Nhật” được tuân thủ một cách nghiêm ngặt Việc chuyển đổi ngoaị tệ ra JPY thông qua tỷ giá cơ sở của đồng bản tệ do Bộ trưởng bộ Tài Chính xác định
4.2.Chính sách quản lý ngoại hối của Hàn Quốc:
Từ thập kỷ 80-90, nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng mạnh, hạng mục vãng lai trong cán cân thanh toán quốc tế liên tục thặng dư, giá cả ổn định Tuy nhiên từ
Trang 29đầu những năm 1990, tốc độ phát triển của quốc gia này có phần giảm, sút, diễn biến kinh tế kém thuận lợi, nhưng chính phủ vẫn xúc tiến quá trình tự do hoá giao dịch ngoại hối và quốc tế hoá thị trường vốn Để thúc đẩy quá trình này, từ tháng 9-1992, hệ thống nới lỏng quản lý ngoại hối đã ra đời thay thế chế độ thắt chặt quản lý ngoại thương, ngoại hối trước đây Hệ thống quản lý ngoại hối ở Hàn quốc được thực hiện dựa trên cơ sở của ba luật có liên quan đến ngoại hối, đó là: Luật quản lý ngoại hối, luật thương mại quốc tế, luật thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Từ năm 1989, Chính phủ Hàn Quốc đã cho phép thực hiện một số giao dịch như thanh toán dịch vụ vô hình, không quản lý khắc khe việc đầu tư ra nước ngoài,
áp dụng nhiều biện pháp hỗ trợ để thị trường hối đoái đi vào hoạt động, thiết lập hệ thống kinh doanh ngoại hối chuyên nghiệp giữa các ngân hàng
Đến năm 1990, Hàn Quốc nới lỏng dần việc tập trung ngoại hối cho phép các công ty thương maị được gửi ngoại tệ ở nước ngoài phục vụ nhu cầu kinh doanh, được phép mua các phương tiện thanh toán ngoại tệ theo nhu cầu kinh doanh bằng nội tệ trong điều kiện doanh số giao dịch với nước ngoài phục vụ nhu cầu kinh doanh, được phép mua các phương tiện thanh toán ngoại tệ theo nhu cầu kinh doanh bằng nội tệ trong điều kiện doanh số giao dịch với nước ngoài của công
ty lớn hơn 100 triệu USD
Ngoài ra, chính phủ còn bãi bỏ một số hạn chế trong quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa, tỷ lệ hàng hoá được tự do nhập khẩu chiếm 96,3% Bên cạnh đó, chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng hàng loạt biện pháp xúc tiến đưa thị trường ngoại hối đi vào hoạt động, các công ty trong nước được quyền phát hành chứng khoán có giá ghi bằng đồng ngoại tệ ở thị trường vốn nước ngoài vào năm 1992 và người không
cư trú được phép được phép đầu tư trên thị trường chứng khoán trong nước dù có quy định hạn mức đầu tư
4.3.Nội dung chính sách quản lý ngoại hối của Trung Quốc
Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về điều kiện kinh tế xã hội, về cơ bản chính sách quản lý ngoại hối của Trung Quốc không khác nhiều so với Việt Nam Tuy nhiên, khi đi vào nội dung cụ thể, ta thấy có sự khác nhau khá
Trang 30lớn Cách làm của Trung Quốc thể hiện sự nhất quán của chính sách ở tầm vĩ mô, một sự kiên trì thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đã định ra.
4.3.1.Về quản lý ngoại hối đối với các giao dịch vãng lai
Tháng 12/1996, Trung Quốc tuyên bố thực hiện chuyển đổi hoàn toàn đồng CNY đối với cán cân vãng lai (theo điều 8 điều lệ IMF) cho phép người cư trú được phép mua ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán cho nước ngoài liên quan đến các giao dịch vãng lai, các doanh nghiệp có ngoại tệ từ nguồn vãng lai phải kết hối ngoại tệ theo tỷ lệ quy định Để khuyến khích kiều hối chuyển về, Trung Quốc cho phép cá nhân có kiều hối chuyển về được tự do bằng CNY hoặc ngoại tệ theo nhu cầu Người thụ hưởng có thể bán ngoại tệ hoặc giữ ngoại tệ trên tài khoản và được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài khi có nhu cầu Khi có nhu cầu ngoại tệ để chuyển, mang ra nước ngoài, các cá nhân là người cư trú đựợc phép mua tại Ngân hàng không hạn chế số lượng khi xuất trình chứng từ chứng minh có nhu cầu ngoaị
tệ Trước đây, chí có ngân hàng ngoại thương bán ngoại tệ cho cá nhân nhưng hiện nay đã mở rộng cho các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối Các Doanh nghiệp của Trung Quốc chỉ được mở tài khoản ở nước ngoài khi được Tổng cục quản lý ngoại hối cấp giấy phép
4.3.2.Về quản lý ngoại hối đối với các giao dịch vốn
Trung Quốc cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một số chứng khoán ghi giá bằng ngoại tệ và trái phiếu của doanh nghiệp phát hành ở nước ngoài Tuy nhiên, Trung Quốc không cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được phép yết giá vào thị trường chứng khoán trong nước và không được phép mua cổ phiếu ghi mệnh giá bằng nội tệ Việc chuyển lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài
về nước từ kinh doanh chứng khoán không bị hạn chế khi chứng minh tính hợp pháp của các nguồn thu đó
Khi đầu tư ra nước ngoài, doanh nghiệp phải xin phép ủy ban kế hoạch nhà nước Hiện nay, Trung Quốc vẫn còn hạn chế việc đầu tư ra nước ngoài, chỉ cho đầu tư vào một số khu vực nhất định như hoạt động thương mại phục vụ hoạt động
Trang 31xuất khẩu, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở nước ngoài Đối với các loại hình đầu
tư này các doanh nghiệp dễ dàng mua ngoại tệ
Do vay nợ nước ngoài là loại hình tạo nợ cho quốc gia, có ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội và sự ổn định về tài chính, tiền tệ nên hoạt động vay trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp được quản lý chặt chẽ hơn so với hoạt động đầu tư nước ngoài Chỉ các NHTM được phép kinh doanh ngoại tệ và một số doanh nghiệp nhà nước lớn đủ năng lực tài chính mới được trực tiếp vay nước ngoài Các doanh nghiệp khác khi có nhu cầu vốn ngoại tệ phải vay qua các TCTD
4.3.3.Về chính sách kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ trong nước
Để chuyển đổi đồng CNY thành đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi, Trung Quốc hạn chế tối đa các giao dịch trong nước sử dụng bằng ngoại tệ Từ năm 1995, trên lãnh thổ Trung Quốc chỉ lưu hành duy nhất đồng CNY, nghiêm cấm người cư trú thanh toán, mua bán, chuyển nhượng cho nhau bằng ngoại tệ Cấm sử dụng ngoại tệ để niêm yết, thanh toán giữa người cư trú với nhau Việc thanh toán bằng ngoại tệ chỉ được phép thực hiện tại các cửa hàng miễn thuế Ngoài ra, do việc điều hành lãi suất và tỷ giá hợp lý của NHTW, Trung Quốc duy trì lãi suất CNY luôn cao hơn lãi suất ngoại tệ và tỷ giá giữa CNY và USD được duy trì ổn định nên các doanh nghiệp có xu hướng chuyển đổi ngoại tệ sang nội tệ, góp phần giảm tình trạng đô la hóa
4.3.4.Về chính sách tỷ giá hối đoái và hoạt động ngoại hối
Từ 1994 đến nay, Trung Quốc vẫn áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý
Tỷ giá giữa CNY và USD ổn định do Trung Quốc can thiệp vào thị trường ngoại hối thông qua việc phát hành đồng nội tệ để mua lại số ngoại tệ dư thừa hay bán số ngoại tệ còn thiếu để cân bằng cung cầu trên thị trường
4.3.5.Về quản lý dự trữ ngoại hối
Sau năm 2001, do Trung Quốc gia nhập WTO, cả cán cân vốn và vãng lai thặng dư lớn đã góp phần làm gia tăng dự trữ ngoại hối của Trung Quốc Cán cân vãng lai và cán cân vốn của Trung Quốc luôn thặng dư do Trung Quốc có lợi thế
về nhân công, nguyên liệu rẻ
Trang 324.4 Bài học kinh nghiệm
Qua việc nghiên cứu chính sách quản lý ngoại hối của một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc thể hiện một số nội dung cơ bản về quản lý ngoại hối như:
-Chính sách QLNH của từng quốc gia rất khác nhau và luôn thay đổi phù hợp với từng giai đoạn và mức độ phát triển của nền kinh tế; đồng thời có sự quan
hệ chặt chẽ giữa chính sách QLNH và các chính sách kinh tế khác như chính sách
về thương mại, đầu tư, lãi suất, thuế
-Đối tượng và mục đích quản lý ngoại hối phải rất rõ ràng, đặc biệt luôn chú trọng đến các biện pháp quản lý và kiểm soát sự biến động của luồng vốn ngắn hạn
mà không ảnh hưởng đến luồng vốn dài hạn
-Tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế đòi hỏi một sự thận trọng trong việc đưa ra các chính sách quản lý ngoại hối tùy theo những thay đổi của môi trường kinh tế Chính sách đó phải thích ứng với những thay đổi nhưng vẫn phải giữ nguyên mục tiêu dài hạn Kinh nghiệm cho thấy sử dụng chính sách quản lý ngoại hối một cách có lựa chọn và thận trọng hỗ trợ các chính sách kinh tế vĩ mô truyền thống sẽ góp phần ổn định nền kinh tế
Trang 33PHẦN 2:
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ
CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA VIỆT NAM
I Thực trạng chính sách tỷ giá của Việt Nam:
1 Giai đoạn trước 1989: Cố định và đa tỷ giá
1.1 Bối cảnh kinh tế
Giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đóng cửa và hướng nội
Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Hình thức trao đổi thương mại chủ yếu là hàng đổi hàng giữa các nước theo một tỷ giá đã được thoả thuận trong hiệp định ký kết song phương hay đa phương
1.2 Chính sách tỷ giá:
-Tỷ giá trong giai đoạn này được xác định dựa trên việc so sánh sức mua giữa hai đồng tiền, và được qui định trong các hiệp định thanh toán được ký kết giữa các nước XHCN
-Tỷ giá của Việt Nam lần đầu tiên được công bố vào ngày 25/11/1955 là tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ (CNY) và VND là 1CNY=1470VND Khi đó, tỷ giá giữa VND và đồng Rúp (RUR) được tính chéo nhờ tỷ giá giữa CNY và RUR đã có từ trước, 1 RUR = 0.5 CNY ⇒ 1 RUR = 735 VND
-Tỷ giá hối đoái trong giai đoạn này được giữ cố định trong một thời gian dài
-Một đặc trưng nữa của tỷ giá trong giai đoạn này là “đa tỷ giá”, tồn tại song song nhiều loại tỷ giá: tỷ giá chính thức, phi mậu dịch, kết toán nội bộ
ngân hàng nhà nước công bố và dùng để thanh toán mậu dịch với Liên
Xô và các nước XHCN khác Đây là tỷ giá dùng trong thanh toán có liên quan đến mua, bán hàng hóa, dịch vụ vật chất giữa các nước trong phe XHCN
Trang 34o Tỷ giá phi mậu dịch: là tỷ giá dùng trong thanh toán chi trả
hàng hóa hoặc dịch vụ vật chất không mang tính thương mại Như: chi về ngoại giao, đào tạo, hội thảo, hội nghị
cộng thêm hệ số phần trăm nhằm bù lỗ cho các đơn vị xuất khẩu Tỷ giá này không công bố ra ngoài mà chỉ áp dụng trong thanh toán nội bộ Nó thoát ly tỷ giá mậu dịch nhằm bù đắp những khoản thua lỗ trong kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nhà nước Đây thực chất là một hình thức bù lỗ có tính chất bao cấp thông qua tỷ giá
1.3 Tác động đến nền kinh tế
Quan hệ về cung cầu ngoại hối trên thị trường đã không được phản ánh đúng đắn trong tỷ giá
-Cán cân thương mại bị thâm hụt nặng
-Nhà nước phải áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ để bù lỗ cho các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩt
-Cán cân thanh toán bị bội chi, dự trữ ngoại tệ bị giảm sút, phản ứng của chính phủ lúc này là tăng cường quản lý ngoại hối, bảo hộ mậu dịch và kiểm soát hàng nhập khẩu
2 Thời kỳ 1989-1991 : “Thả nổi” tỷ giá hối đoái
2.1 Bối cảnh kinh tế.
-Đông Âu, Liên Xô sụp đổ
-Quan hệ ngoại thương với các thị trường truyền thống bị gián đoạn, chúng
ta phải chuyển sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng đồng Đô-la Mỹ
-Đổi mới kinh tế thực sự diễn ra mạnh mẽ bắt đầu từ năm 1989, chính phủ cam kết và thực thi chiến lược ổn định hóa nền kinh tế tài chính – tiền tệ, trong đó vấn đề tỷ giá được coi là khâu đột phá, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình cải cách
2.2 Chính sách tỷ giá.
-Nghị định 53/HĐBT ra đời, qui định về việc tách hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp thành hai cấp