Ổn định thị trường tài chính Tạo một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống ngân hàng thương mại và các tổchức tín dụng có thể hoạt động hiệu quả và hỗ trợ tốt honư cho tăng trưởng kin
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC -*** -
BÀI TẬP NHÓM
Đề bài :
Câu 1: Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
Câu 2: Đánh giá tác động của chính sách tiền tệ đối với sự phát triển của nền kinh tế giai đoạn hiện nay
NHÓM 9 – CH21D
1 Lê Thị Thanh
2 Nguyễn Phương Thanh
3 Chu Diệp Thu
4 Đỗ Thị Thu Thủy
5 Đặng Thùy Trang
6 Hồ Quỳnh Trang
Hà Nội, 06/2013
Trang 2Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
Câu I: Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
I Mục tiêu của Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh
tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt được cácmục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường Theonghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền trongnền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đóđạt được mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá
cả hàng hoá Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cungứng tăng thêm trong thời kỳ tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh
tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá
cả hàng hoá
Là một chính sách kinh tế, chính sách tiền tệ theo đuổi những mục tiêu chung là:
Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế xảy ra khi tỉ lệ gia tăng tổng sản phẩm quốc dân GDP lớn hơnnhịp độ gia tăng dân số Khi khối lượng tiền tệ tăng lên, lãi suất tín dụng thường giảmxuống, đồng tiền “rẻ” đi sẽ kích thích đầu tư, phát triển tổng sản phẩm quốc dân, tăngtổng cầu, phát triển sức mua thị trường, giảm hàng hóa tồn đọng, kích thích gia tăng sảnxuất Ngược lại khi khối lượng tiền tệ giảm, lãi suất sẽ tăng, làm giảm đầu tư, dẫn đếnlàm giảm tổng sản phẩm quốc dân
Chính sách có thể đặc biệt nhằm vào việc khuyến khích tăng trưởng kinh tế bằngcách mở rộng hoặc thắt chặt khối lượng tiền tệ cung ứng; trực tiếp khuyến khích các nhàđầu tư hoặc khuyến khích nhân dân tiết kiệm tạo thêm nguồn vốn giúp cho các doanhnghiệp tiếp tục đầu tư và mở rộng sản xuất
Kiềm chế lạm phát
Kiềm chế lạm phát, ổn định giá ở thị trường đối nội và đối ngoại của đồng tiền làmục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ Kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hànghóa là tiền đề để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống
Tạo công ăn việc làm
Thất nghiệp là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường Chính sách tiền tệhướng vào việc tạo công ăn việc làm nhiều hơn thông qua mở rộng đầu tư, mở rộng sản
Trang 3Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
xuất – kinh doanh Muốn thực hiện mục tiêu này phải chống suy thoái kinh tế, kéo dàichu kì của các cuộc khủng hoảng thông qua việc điều tiết khối lượng tiền tệ cung ứng chonền kinh tế quốc dân
Ổn định thị trường tài chính
Tạo một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống ngân hàng thương mại và các tổchức tín dụng có thể hoạt động hiệu quả và hỗ trợ tốt honư cho tăng trưởng kinh tế cao,lạm phát thấp cũng như hạn chế những khuyết tật của hệ thống tài chính là mục tiêu chủđạo của chính sách tiền tệ ngoài những mục tiêu nói trên Nền tảng của hệ thống tài chính
ổn định thông qua chính sách tiền tệ là Ngân hàng Trung ương phải ổn định hoạt động tàichính của hệ thống tài chính trong nước một cách gián tiếp kể cả thu thập thông tin,hướng dẫn, ngăn ngừa rủi ro của nó phù hợp với các mục tiêu của nền kinh tế
Điều tiết sản xuất kinh doanh mở rộng sản lượng tiềm năng nền kinh tế
Trong mỗi quốc gia sản lượng tiềm năng phụ thuộc vào các biến số như đất đai, tàinguyên thiên nhiên, nguồn lực con người, tiềm năng khoa học - kỹ thuật và vốn Nềnkinh tế có giới hạn tối đa và khả năng sản xuất nên mục tiêu cuối cùng của chính sáchtiền tệ là phải góp phần khai thác và phát triển các nguồn lực nói trên một cách có hiệuquả nhất Để làm được điều đó chính sách cung ứng tiền ngày càng phải linh động, chínhxác, hiệu quả trong quản lý và điều tiết lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế
II Nội dung của chính sách tiền tệ
II.1 Những thành phần cơ bản của chính sách tiền tệ
II.1.1 Chính sách điều tiết khối lượng tiền cung ứng
Ngân hàng Nhà nước duy trì mối tương quan hợp lý giữa tổng cung và tổng cầu vềtiền tệ, giữa hàng và tiền bằng cách giữ nguyên hoặc tăng, giảm khối lượng tiền tệ cungứng Nếu nền kinh tế hàng năm vẫn tăng trưởng thì khối lượng tiền tệ cung ứng phải bằngmức tăng trưởng kinh tế Nếu có lạm phát mà chưa kiềm chế được thì khối lượng tiền tệcung ứng phải tăng thêm bằng tỉ lệ lạm phát đã được kiểm chế Trong điều kiện có sốlướng tương đối lớn ngoại tệ nằm trong tay những người cư trú cần được tính vào khốilượng tiền tệ có sẵn và sẽ tăng thêm Khi kiểm soát khối lượng tiền tệ cung ứng còn phảixem xét đến tốc độ luân chuyển của tiền tệ
Thành phần khối lượng tiền tệ cung ứng gồm có: tiền lưu thông ngoài ngân hàng
và tiền gửi có kì hạn tại ngân hàng, các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác Khốilượng tiền tệ cung ứng thêm hàng năm, về một phía gồm tiền mặt và các loại tiền gửi ở
Trang 4Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
ngân hàng, và phía khác nhằm dành cho các nhu cầu đầu tư tín dụng nền kinh tế, tăng dựtrữ ngọai hối và tạm ứng cho ngân sách nhà nước nếu cần
Khối lượng tiền cung ứng thêm chỉ là một chỉ tiêu định hướng Điều quan trọng làcần theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, biến động giá cả và tỉ giá hối đoái để điềuchỉnh kịp thời việc cung ứng tiền tệ, tăng thêm hoặc giảm đi không dẫn đến tình trạnglàm tăng giá cả và gây ách tắc lưu thông Việc điều chỉnh khối lượng tiền tệ cung ứng cầnđược thực hiện từ gốc, từ các kênh tạo ra tiền thông qua các chính sách tín dụng và ngoạihối
II.1.2 Chính sách tín dụng cho nền kinh tế
Khối lượng tín dụng ngân hàng cung ứng cho các doanh nghiệp là từ 2 nguồn: huyđộng tiền đã có sẵn trong lưu thông để cho vay và sử dụng tiền trung ương trong quátrình tái cấp vốn
Ở các nước có hệ thống ngân hàng phát triển, thị trường nhạy cảm, người ta nặng
về sử dụng lãi suất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở để điều tiết tín dụng và mức tănggiảm khối lượng tiền tệ cung ứng Còn ở nước ta hiện nay bên cạnh những biện pháp kểtrên vẫn còn sử dụng công cụ để khống chế hạn mức tín dụng Từ khối lượng tiền tệ cóthể cung ứng thêm Ngân hàng Nhà nước sẽ dành chủ yếu cho hoạt động tín dụng phù hợpvới mức tăng trưởng kinh tế, có tính đến tỉ lệ lạm phát được kiềm chế trong một thời kìnhất định
Khối lượng tiền tệ tăng thêm qua tín dụng ngân hàng trước hết được hình thành từnhu cầu thực sự của thị trường tiền tệ, quan hệ vay vốn giữa các doanh nghiệp và cácngân hàng thương mại Ở đây Ngân hàng Nhà nước luôn là người cho vay cuối cùngđóng vai trò chủ nợ nhằm kiểm soát được tín dụng các nguồn tiền gửi của ngân hàngthương mại và các tổ chức tín dụng theo các định hướng cụ thể sau: Thực hiện chính sách
đa dạng hóa các thành phần của khối lượng tiền tệ cung ứng nhằm tăng thêm tần kiểmsoát của Ngân hàng Nhà nước, tích cực kiềm chế lạm phát và tăng nguồn vốn tín dụngcho nền kinh tế; Thay lãi suất thực âm bằng lãi suất thực dương, để thay chính sách tiền
tệ làm xói mòn nguồn vốn bằng chính sách tiền tệ mở rộng nguồn vốn; Thay chính sáchtiền tệ ngân hàng thụ động phục vụ khách hàng bằng chính sách tiền tệ ngân hàng chủđộng điều khiển khách hàng
II.1.3 Chính sách ngoại hối
Trang 5Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
Để ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia, Ngân hàng Nhà nước thựchiện các nhiệm vụ giao dịch về tài chính và tiền tệ đối ngoại nhằm kiểm soát những yếu
tố tác động mạnh tới khối lượng tiền tệ cung ứng và giá trị đồng tiền trong nước Cụ thểgồm chính sách hối đoái, dự trữ ngoại hối, tỉ giá hối đoái, thị trường hối đoái
II.1.4 Chính sách tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước
Chính sách tiền tệ muốn có tác dụng mong muốn phải giải quyết tốt mối quan hệvới chính sách tài chính Tình hình ngân sách cân bằng hoặc không cân bằng sẽ ảnhhưởng tích cực hoặc tiêu cực đến lưu thông tiền tệ, do vậy mà cách xử lý của chính sáchtiền tệ cũng khác nhau Trường hợp ngân sách cân bằng, chính phủ có thể sử dụng thuế
để thay đổi cơ cấu tiêu dùng và tiết kiệm Nếu chính phủ dùng số thuế thu được để trợcấp cho những người có thu nhập thấp, thì số tiêu dùng tăng lên, số đầu tư giảm, có thểlàm tăng vật giá Nếu chính phủ dùng số chi ngân sách để đầu tư thì đầu tư tư nhân giảm,đầu tư nhà nước tăng, đầu tư chung không đổi Trường hợp ngân sách thâm hụt, chínhphủ có thể đi vay Vay của Ngân hàng Trung ương và vay của nước ngoài sẽ làm tăngmạnh khối lượng tiền tệ, gây sức ép lạm phát tiềm tàng về sau Vay dân cư và vay ngânhàng thương mại trong nước làm tăng khối lượng tiền tệ nhưng nguy cơ dẫn đến lạm phátnhẹ hơn
II.2 Các công cụ cơ bản của chính sách tiền tệ
II.2.1 Tái cấp vốn để cung ứng tiền tệ trung ương thông qua tái chiết khấu
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN nhằm cung ứng vốnngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng Như vậy, tái cấp vốn là biệnpháp để NHNN đưa tiền tệ ra lưu thông, đồng thời khống chế số lượng và chất lượng tíndụng của các ngân hàng trung gian Thông qua việc cung cấp tín dụng NHNN tạo cơ sởđầu tiên thúc đẩy toàn bộ hệ thống cho các ngân hàng trung gian tạo ra tiền và khai thôngkhả năng thanh toán của họ
Tái chiết khấu có nghĩa là một phần các khoản vay của các NHTM có thể được đổitrực tiếp lấy dự trữ trong ngân hàng trung ương Tái tài trợ và tái chiết khấu tạo ra nhữngkhuyến khích cho NHTM đưa tín dụng vào trong lĩnh vực được lựa chọn theo hai cách:một là những khoản tiền cho vay với lãi suất thấp hơn mức lãi suất tiền gửi mà Ngânhàng phải trả, hai là khả năng tiếp cận được với nguồn dự trữ cho phép ngân hàng tăngthêm các khoản cho vay của mình.Cái khó của các hình thức này là chúng không có điểmkết và cũng có nghĩa là sự kiểm soát đối với lượng tiền dự trữ đã bị nới lỏng Nếu không
Trang 6Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
có một cơ cấu thị trường mở trung hòa hiệu ứng của tái tài trợ thì có thể mất đi sự kiểmsoát đối với khối lượng tiền tệ
Các Ngân hàng trung gian tìm đến NHNN xin tái cấp vốn(vay) bằng cách xin táichiết khấu, thương phiếu và các giấy tờ có giá khác nhau mà mình đã chiết khấu(cho vay)trước đó Tùy theo yêu cầu mở rộng hay thắt chặt tín dụng, tái cấp vốn bình thường hoặcmang tính chất hình phạt mà lãi suất chiết khấu có thể bằng, thấp hoặc cao hơn mức lãisuất khoản tín dụng mà NHTM đã cho khách hàng của mình vay
Lãi suất cho vay chiết khấu có cả hai tác dụng: gián tiếp và trực tiếp Tác dụnggián tiếp là nó làm tăng, giảm lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian và do đó tácđộng đến cung ứng tiền và tín dụng Tác động trực tiếp là nó làm tăng hoặc giảm dự trữcủa ngân hàng trung gian và do vậy tác động đến lượng cho vay tiêu dùng và đầu tư trongnền kinh tế
Bằng công cụ tái cấp vốn, NHNN là người cho vay sau cùng, kiểm tra chất lượnghoạt động tín dụng của các NHTM, bơm tiền ra lưu thông theo mức độ đã được khốngchế để kiềm chế lạm phát hoặc kích thích tăng trưởng kinh tế Tái cấp vốn là hình thứcphát hành tiền tệ lành mạnh vì nó dựa trên những thương phiếu dặc trưng cho những món
nợ về thương mại mà đằng sau đó có vật tư, hàng hóa bảo đảm NHNN với tư cách ngườicho vay sau cùng, là chỗ dựa, là cứu tinh cho của các NHTM vì có tiền tệ vừa đượcNHNN cung ứng họ có thể điều tiết được vốn khả dụng và phục hồi khả năng thanh toán
II.2.2 Tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Tỉ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số giữa lượng phương tiện thanh toán cần vô hiệu hóatrên tổng số tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán(cho vay) của các NHTM Nếu khả năng thanh toán quá lớn thì tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộcnhằm giảm quy mô tín dụng của họ Ngược lại, nếu khả năng thanh toán thấp thì giảm tỉ
lệ dự trữ bắt buộc nhằm tăng quy mô tín dụng của họ
Tiền dự trữ bắt buộc = Tỉ lệ dự trữ bắt buộc x Tổng số tiền gửi nhận được
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại NHNN để thực hiệnchính sách tiền tệ quốc gia
Khi một tỉ lệ dự trữ bắt buộc đang có hiệu lực các NHTM có thể giữ khối lượngtiền mặt cao hơn mức dự trữ tiền mặt bắt buộc nhưng không được giữ ít hơn Nếu khốilượng tiền mặt của họ giảm xuống thấp hơn mức bắt buộc họ phải vay tiền mặt ngay,thường là vay của NH trung ương để khôi phục lại tỉ lệ dự trữ bắt buộc của họ
Trang 7Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
Với công cụ dự trữ tối thiểu bắt buộc NHNN có thể kiểm soát được khối lượngtiền tệ cung ứng thêm và khối lượng tiền tệ đã có từ tước trong lưu thông, tác động đếnkhối lượng và giá cả tín dụng của NHTM
Nhược điểm của yêu cầu dự trữ bắt buộc để tác động vào cung ứng tiền tệ là nhucầu dự trữ bắt buộc làm giảm tiềm năng cho vay của các NHTM và một khi hệ thốngNgân hàng vẫn có những quyết định phân bổ thì biện pháp này còn để chết một phần tàisản của ngân hàng dưới dạng dự trữ bắt buộc Hơn nữa, trong một hệ thống ngân hàng tưnhân, nếu NH trung ương không làm cho phần dự trữ bắt buộc mà mình lưu giữ sinh lờithì những thay đổi về yêu cầu dự trữ bắt buộc có thể làm ảnh hưởng đến khả năng lợinhuận của các NHTM
II.2.3 Lãi suất tín dụng
Hạn mức tín dụng và dữ trữ tối thiểu bắt buộc là các công cụ điều chỉnh nặng về sốlượng và trực tiếp, chúng không phải bao giờ cũng kiểm soát được các biến động liên tục
về giá cả, hiệu quả sản xuất và hiệu lực kinh doanh trên thị trường vốn Trong trường hợpcác hoạt động kinh tế đã tinh vi và nhạy cảm người ta thường tăng cường sử dụng lãi suấttín dụng làm công cụ chủ yếu để điều chỉnh gián tiếp cung cầu tín dụng
Nói chung lãi suất tiền gửi và tiền vay biến động cùng chiều Chính sách lãi suấtvận hành theo nguyên tắc: lãi suất thực phải bằng lợi nhuận bình quân hoặc xấp xỉ bằngmức tăng tổng sản phẩm quốc nội; lãi suất danh nghĩa phải bằng lãi suất thực cộng với tỉ
lệ lạm phát; lãi suất huy động vốn danh nghĩa phải cao hơn tỉ lệ lạm phát; lãi suất cho vaytrung bình phải cao hơn lãi suất huy động trung bình; lãi suất ngắn hạn phải thấp hơn lãisuất dài hạn
Chính sách lãi suất được vận hành theo cách ấn định lãi suất hoặc thả nổi lãi suất
Để tránh rủi ro của các NHTM, NHNN thường ấn định mức lãi suất “sàn” tối đa cho tiềngửi và lãi suất “trần” tối thiểu cho tiền vay Khi đứng về phía bảo vệ lợi ích của NHTM,NHNN thường quy định ngược lại Để tăng tính linh hoạt của tiền tệ, nhiều nước từ bỏbiện pháp ấn định khung lãi suất cứng nhắc, chuyển sang thả nổi lãi suất trên thị trườngtiền tệ
Như vậy bằng việc theo dõi các hạng mục tài sản khác nhau của hệ thống NHtrung gian, NH trung ương gián tiếp thay đổi lưu thông lượng cấp phát tín dụng tiêudùng, đầu tư từ ngắn hạn sang trung hạn hoặc ngược lại Từ đó gián tiếp điều tiết cungứng tiền và nền kinh tế
Trang 8Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
II.2.4 Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá ngắn hạn doNHNN thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất bởi vì
những nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng đối với những thay đổi trong cơ sốtiền tệ và là nguồn chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ Thông quanghiệp vụ thị trường mở, NHNN mua hoặc bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tínphiếu ngân hàng nhà nước và các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệnhằm tác động vào mức dự trữ trong hệ thống ngân hàng Điều đó làm thay đổi lượngtiền gửi vào ngân hàng và vì thế ảnh hưởng đến lượng tiền tệ
II.2.5 Cung ứng cơ số tiền hoặc tiền mặt pháp định
NHNN có thể trực tiếp làm tăng, giảm cơ số tiền tệ, tức là làm tăng giảm dự trữ vàcung ứng tiền bằng các nghiệp vụ trên thị trường ngoại tệ và nghiệp vụ cho vay với chínhphủ
Toàn bộ lượng tiền mặt mà NHNN đã phát hành vào thời điểm nhất định nào đótrong nền kinh tế được gọi là tiền ngoài lưu thông hay cơ số tiền tệ
Cơ số tiền tệ là hạt nhân của hệ thống tiền tệ Thông qua việc điều tiết cơ số tiền tệ
và vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, NHNN trong khuôn khổ chính sách tiền tệ củamình sẽ thực hiện chức năng quản lý khối lượng tiền tác động đến sản lượng và tăngtrưởng kinh tế, mức giá, môi trường kinh doanh và các quá trình kinh tế khác
Khả năng tín dụng (tạo tiền) của các tổ chức tín dụng phụ thuộc nhiều vào hành vicủa NHNN thông qua việc mua bán chứng khoán Chính phủ và ngoại hối, tạm ứng chongân hàng nhà nước, thay đổi mức lãi suất tái cấp vốn và dự trữ bắt buộc mà NHNN cóthể mở rộng hoặc thu hẹp cơ số tiền
III Các giải pháp để hoàn thiện nội dung của Chính sách tiền tệ
Trong quá trình vận hành và ứng dụng CSTT để đáp ứng mục tiêu của từng giaiđoạn kinh tế cụ thể, CSTT đã có nhiều đóng góp tích cực, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứngđược với nhịp độ đổi mới chung của nền kinh tế và còn tồn tại nhiều hạn chế Vì vậy, đểhoàn thiện nội dung của CSTT, nhóm 9 đưa ra một số các giải pháp như sau:
III.1 Giải pháp chung
III.1.1 Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để thực thi chính sách tiền tệ
Trang 9Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
- Thị trường liên ngân hàng và thị trường tiền tệ cần phải được củng cố và phát triểntheo hướng cơ cấu lại hệ thống NH, minh bạch hóa các thông tin, tạo ra sự cạnhtranh lành mạnh sôi động để có thể phát huy có hiệu quả ở mức tối đa của CSTT
- Hoàn thiện hành lang pháp lý về hệ thống ngân hàng, tài chính để có cơ chế thựcthi CSTT nói chung và các công cụ CSTT được minh bạch và có hiệu quả Theo
đó cần khẩn trương hoàn thiện cơ chế chính sách và hệ thống các văn bản phápquy để có đủ khuôn khổ pháp lý cần thiết cho việc thực hiện tốt luật NHNN vàluật các TCTD, bảo đảm cho hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu lực, hiệu quả,năng động, an toàn
III.1.2 Nâng cao vai trò và trách nhiệm của NHNN
- NHNN là đơn vị chủ quản cũng như điều hành vận hành CSTT vì vậy bản thânNHNN cũng phải không ngừng nâng cao năng lực, chuyên môn để có thể cónhững quyết định và vận hành CSTT một cách hiệu quả
- Ngoài ra cần phải nâng cao tính độc lập, trách nhiệm cho NHNN sao cho phù hợpvới mức độ hội nhập tài chính thế giới và phù hợp với thể chế chính trị tại ViệtNam Hiện nay CSTT do NHNN thực hiện tuy nhiên để có thể vận hành CS có sựtham gia của rất nhiều bộ ban ngành vì vậy CSTT còn gặp nhiều khó khăn trongquá trình đi vào thực tiễn Theo đó cần sửa đổi, bổ sung luật NHNN theo hướngtrao thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho NHNN trong việc xây dựng CSTT,chủ động trong việc xắp xếp cơ cấu tổ chức nhân sự; hiện đại hóa công nghệ trongviệc quản lý tổng hợp, thống kê, phân tích, dự báo… trong việc phục vụ điều hànhCSTT Và NHNN phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện trước Quốc Hội hoặcChính Phủ
III.1.3 Việc hoạch định CSTT và các công cụ của chính sách cần đặt trong một
chỉnh thể thống nhất có sự linh hoạt của thị trường
Để CSTT thực sự có hiệu quả cần phải đặt nó trong tổng thể với các chính sáchkinh tế khác, đặc biệt là chính sách tài khoá Đây là 2 chính sách cơ bản trong CSTC, bổsung và hỗ trợ cho nhau
Một ví dụ điển hình là từ năm 2006 – 2008 khi mà dòng vốn nước ngoài ồ ạt chảyvào Việt Nam (năm 2006 VN thực hiện gia nhập WTO) Nếu không kiểm soát tốt dòngvốn chảy vào này sẽ gây ra lạm phát cao Do đó CSTT thời kỳ này là CSTT với mục tiêu
cụ thể là chống lạm phát CP đã đưa ra các quy định trong việc kiểm soát lượng vốn chảy
Trang 10Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hoàn thiện
vào Việt Nam: đánh thuế hoặc kỹ quỹ đối vơi dòng vốn ngắn hạn Tất nhiên chính sáchnày sẽ chỉ có hiệu lực trong một thời gian ngắn, phù hợp với tình hình nguồn vốn Hiệnnay, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam và thế giới sụt giảm thì việc điều hành CSTTtrong quan hệ với chính sách tài chính… nhằm mục tiêu góp phần ngăn chặn nguy cơ sụtgiảm nền kinh tế trong nước nhưng đồng thời kiểm soát được lạm phát
III.2 Giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ
Để CSTT thực sự phát huy tác dụng trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô, mộttrong những giải pháp quan trọng đó chính là hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của các công
cụ CSTT làm sao cho các công cụ này có thể hỗ trợ, phối hợp thúc đẩy lẫn nhau, tránhtình trạng triệt tiêu hiệu quả cụ thể của nhau Cụ thể:
Đối với công cụ hạn mức tín dụng:
Đây không phải là công cụ thường xuyên được sử dụng trong CSTT tuy nhiênNHNN cũng luôn phải theo dõi tổng số dư nợ của các NHTM ở từng giai đoạn cụ thể.Tránh để trường hợp mức dư nợ quá lớn so với quy mô hoạt động của ngân hàng, giảmthiểu tỷ lệ nợ xấu
Đối với công cụ lãi suất:
Việc điều chỉnh lãi suất (tiền vay, tiền gửi) cần phải linh hoạt, theo sát thị trườngtrên nguyên tắc đảm bảo lợi ích người gửi tiền, tổ chức tín dụng và người vay tiền; tạođiều kiện tập trung tối đa các nguồn vốn để tài trợ cho phát triển kinh tế
Việc căn cứ điều chỉnh lãi suất một cách phù hợp phải căn cứ vào các nhân tố cơbản như: sự biến động của quan hệ cung cầu; vốn đầu tư; mức độ lạm phát; diễn biến lãisuất trên thị trường; kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp…
Đối với công cụ dự trữ bắt buộc:
Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc cần phải chủ động, linh hoạt theo diễn biến củathị trường nhằm kiểm soát tiền tệ Mặt khác tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng sử dụngvốn khả dụng linh hoạt và hiệu quả
Trong điều kiện kiềm chế lạm phát (sử dụng CSTT thắt chặt) như trong năm 2007– 2008 NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng từ 5% lên 10% vàlên 11% là phù hợp Tuy nhiên nếu tỷ lệ dữ trự trên tiếp tục tăng cao sẽ tạo hiệu ứngngược, các tổ chức tín dụng sẽ gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh do chủ yếu tíchtrữ vốn để đáp ứng theo yêu cầu tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHNH Thêm vào đó, khi thựchiện tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc => nên tăng từ từ để các tổ chức tín dụng có tư tưởng, kế
Trang 11Câu I – Chính sách tiền tệ: Mục tiêu, nội dung, giải pháp hồn thiện
hoạch cho việc chuẩn bị nguồn vốn đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định Khơngnên thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc quá nhanh => Gây ảnh hưởng đến tình hình kinh doanhcủa các TCTD
Đối với nghiệp vụ trên thị trường mở:
Để các cơng cụ trên thị trường mở sự cĩ hiệu quả thì cần phải xây dựng một thịtrường giao dịch đồng bộ về cách thức hoạt động, thống nhất về các văn bản quy phạmpháp luật điều chỉnh Đặc biệt, cùng với xu thế phát triển kinh tế như hiện nay cần mởrộng quy mơ hoạt động của thị trường mở bằng cách: kết nạp thêm thành viên tham giatrên thị trường mở; đa dạng hĩa hàng hĩa giao dịch trên thị trường mở nhằm đáp ứngthanh khoản cho các tổ chức tín dụng; nâng cao vai trị điều tiết hướng dẫn của NHNNtrên thị trường Tạo các điều kiện và thúc đẩy sự phát triển của thị trường liên ngân hàng;thị trường đầu tháa tín phiếu kho bạc và thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bánlại giấy tờ cĩ giá giữa các tổ chức tín dụng với nhau và giữa các tổ chức tín dụng vớikhách hàng Sự phát triển của thị trường sẽ là kênh dẫn cĩ hiệu quả trong cơ chế truyềntải các tác động của chính sách tiền tệ trong nền kinh tế
Đối với chính sách tỷ giá hối đối:
Điều hành chính sách tỷ giá hối đối linh hoạt trên thị trường; phù hợp với lãi suất
cĩ sự kiểm sốt của Nhà nước nhằm đảm bảo các cân đối vĩ mơ Một số các biện phápnhư: kiểm sốt xuất nhập khẩu (tăng hoặc giảm thuế xuất nhập khẩu); khuyến khích đầu
tư nước ngồi vào VN (cĩ các chính sách ưu đãi với nhà đầu tư nước ngồi; nới lỏng luậtđầu tư….); tạo điều kiện quản lý và thu hút nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng; Nângcao quỹ trữ ngoại tệ của Nhà nước Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến cho các doanhnghiệp áp dụng các cơng cụ phịng ngừa, bảo hiểm rủi ro tỷ giá
Trang 12Câu II – Đánh giá tác động của CSTT đối với sự phát triển của nền kinh tế giai đoạn hiện nay
Câu II: Đánh giá tác động của chính sách tiền tệ đối với sự phát triển của nền kinh tế giai đoạn hiện nay
Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2013 trong bối cảnh nền kinh tế trong nướcđối mặt với nhiều thách thức to lớn Lạm phát của thế giới có xu hướng tăng lên, trong đógiá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản (đầu vào của sản xuất), giá lương thực, và thựcphẩm trên thế giới tăng cao Trong khi đó, vào năm 2011, giá cả trong nước tăng cao, áplực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từtrước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởngtrong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta
Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giai đoạn
2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh
tế
Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quanđiểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốchội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảođảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyết của Chính phủ 2011-2012
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai thựchiện CSTT, điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng,Quốc hội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ
mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD)
Thời kỳ 1997-2010, theo quy định của Luật NHNN 1997, quy định rõ quan điểmCSTT đa mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy kinh
tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống xã hội
Thời kỳ 2011-2012, Luật NHNN 2010, có hiệu lực từ 1/1/2011, chỉ quy định mộtmục tiêu của CSTT, đó là: ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát
Theo luật NHNN 2010, thì mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của CSTT của Việt Nam hiện nay là: Ổn định giá trị đồng tiền Đây là sự đổi mới, hoàn thiện đúng hướng của CSTT ở Việt Nam, theo hướng CSTT đơn mục tiêu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Trang 13Câu II – Đánh giá tác động của CSTT đối với sự phát triển của nền kinh tế giai đoạn hiện nay
Công cụ của CSTT là hệ thống các biện pháp mà NHNN có thể sử dụng để điềuchỉnh, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới mức cung cầu tiền tệ, nhằm đạt được mụctiêu cao nhất của CSTT đã đề ra Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ đã đượcNHNN sử dụng chủ yếu trong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tái cấp vốn, tỷ giá hốiđoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, kiểm soát hạn mức tín dụng, …
Tác động của CSTT đối với nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay được thể hiện cụthể qua các công cụ của CSTT như sau:
I Chính sách tiền tệ năm 2011 – 2012
I.1 Công cụ lãi suất
Lãi suất là một trong những công cụ gián tiếp để điều hành CSTT, NHNN thôngqua công cụ này để điều khiển mức cung tiền cho nền kinh tế, nhằm đạt được mục tiêukiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia
Chính sách, cơ chế điều hành lãi suất của NHNN được định hướng theo nguyêntắc đảm bảo các mục tiêu của CSTT: kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổnđịnh kinh tế vĩ mô
Theo cơ chế điều hành lãi suất hiện nay, NHNN trực tiếp quyết định các mức lãisuất như: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất OMO, trầnlãi suất huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạn thuộc 4 đối tượng ưu tiênđối với nền kinh tế của các TCTD Các TCTD được quy định lãi suất thỏa thuận đối vớitiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên; lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các đối tượngkhác ngoài 4 đối tượng ưu tiên; lãi suất cho vay trung dài hạn cho tất cả các đối tượngkhách hàng
I.1.1 Một số chuyển biến tích cực của cơ chế điều hành lãi suất 2011-2012:
Cơ chế điều hành các loại lãi suất năm 2012 được điều chỉnh linh hoạt, hợp lý
và đồng bộ hơn so với 2011, phát huy được vai trò Ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng.
Từ tháng 6/2011 đến nay, các lãi suất chủ chốt của NHNN được điều hành theo cơ
chế: “trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất chiết khấu, biên độ giao động +/- 2%
để điều tiết thị trường, lãi suất cơ bản và lãi suất thị trường mở được ấn định biến độngtrong biên độ giữa lãi suất tái cấp vốn (trần) và lãi suất chiết khấu (sàn)
Các lãi suất điều hành của NHNN và lãi suất huy động vốn của NHTM được điềuchỉnh giảm xuống theo xu hướng giảm thấp của CPI (3/2012-10/2012), đảm bảo nguyên
Trang 14Câu II – Đánh giá tác động của CSTT đối với sự phát triển của nền kinh tế giai đoạn hiện nay
tắc thực dương, nguồn vốn huy động 10 tháng tăng +14.2%, thanh khoản của hệ thốngNgân hàng được cải thiện bằng nguồn vốn hút vào từ nền kinh tế chứ không phải từnguồn tái cấp vốn như năm 2011
Từ tháng 6/2011-10/2012: Mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điều chỉnh hợp
lý hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc: Lãi suất tái chiết khấu< lãi suất huy động vốndưới 12 tháng < lãi suất tái cấp vốn; “sàn” là lãi suất tái chiết khấu; “Trần” là lãi suất táicấp vốn; Biên độ 1-2%, lãi suất huy động vốn của TCTD biến động trong biên độ nóitrên
Sự đổi mới cơ chế lãi suất lãi suất nói trên đã khuyến khích các TCTD huy độngvốn từ nền kinh tế, hạn chế vay vốn từ NHNN, không còn cơ hội cho các TCTD lợi dụngvay tái cấp vốn của NHNN để cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao
để hưởng chênh lệch lãi suất lớn
Lãi suất huy động và cho vay của TCTD 2012 giảm hơn nhiều so với 2011, đặc biệt là chính sách cho vay lãi suất thấp hơn các đối tượng khác đối với 4 đối tượng sản xuất kinh doanh được ưu tiên, là quyết định đúng đắn, kịp thời; tác động tích cực đến giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng.
So với cuối năm 2011, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng giảm được6%/năm (14%/năm xuống 8%/năm), lãi suất cho vay 4 đối tương ưu đãi giảm được 4%-5%/năm (16-17%/năm xuống 12%/năm) Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến đối với 4lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, côngnghiệp hỗ trợ ở mức 11-12%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức14-17%/năm Đặc biệt, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh 8-9%/năm so với đầu năm
2012, thị trường tiền tệ đã có sự cải thiện tích cực hơn nhiều so với năm 2011
Cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với lãi suất huy động vốn trên 12 tháng và lãi suất cho vay trung dài hạn là bước đi phù hợp, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc thương mại và thị trường.
Cơ chế lãi suất huy động lãi suất thỏa thuận được thực hiện theo Thông tư
19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012: “Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên do
TCTD ấn định trên cơ sở cung cầu vốn thị trường”.
Trang 15Câu II – Đánh giá tác động của CSTT đối với sự phát triển của nền kinh tế giai đoạn hiện nay
Lãi suất cho vay thỏa thuận được thực hiện từ 14/4/2010 theo Thông tư số12/2010/TT-NHNN vàthông tư 14/2012/TT-NHNN từ ngày 4/5/2012 Đối với các khoảncho vay ngoài 4 lĩnh vực ưu tiên TCTD cho vay theo lãi suất thỏa thuận
Đồ thị 1: CPI và các loại lãi suất
I.1.2 Một số vấn đề cần nghiên cứu hoàn thiện trong cơ chế điều hành lãi suất
2011-2012 :
Duy trì quá lâu cơ chế điều hành trực tiếp lãi suất lãi suất huy động vốn và cho vay của các TCTD, làm cho các mức lãi suất kinh doanh của TCTD không phù hợp với cung cầu vốn tín dụng trên thị trường và giảm tác dụng của các công
cụ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất OMO, công cụ dự trữ bắt buộc.
NHNN có nhiều giải pháp và công cụ gián tiếp để tác động điều chỉnh lãi suất kinhdoanh của các TCTD Cụ thể, khi muốn điều chỉnh lãi suất kinh doanh của các TCTDđối với nền kinh tế, NHNN sẽ thực hiện thông qua việc điều chỉnh các mức lãi suất táicấp vốn, tái chiết khấu đối với TCTD Từ đó tác động đến lãi suất thị trường liên ngânhàng Cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất kinh doanh của các TCTD đối với khách hàng.Nếu NHNN trực tiếp quyết định cả mức lãi suất cho vay và huy động vốn của các TCTDthì công cụ lãi suất điều hành của NHNN sẽ không phát huy hết tác dụng
Trên thực tế, trong suốt thời kỳ 2011-2012, NHNN quyết định trực tiếp các mứclãi lãi suất huy động cho vay của TCTD đối với khách hang đối với từng kỳ hạn và đối
Trang 16Câu II – Đánh giá tác động của CSTT đối với sự phát triển của nền kinh tế giai đoạn hiện nay
tượng khách hàng (trừ lãi suất huy động trên 12 tháng theo Thông tư 19/2012/TT-NHNNngày 8/6/2012 và lãi suất cho vay thỏa thuận theo Thông tư số 12/2010/TT-NHNN vàThông tư 14/2012/TT-NHNN ngày 4/5/2012); Cơ chế điều hành trực tiếp quyết các mứclãi suất kinh doanh của các TCTD đã làm vô hiệu hóa các mức lãi suất điều hành chủchốt của NHNN (lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu)
Lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành là lãi suất thực hiện vai trò định hướng thị trường tiền tệ, nhưng hiện nay chỉ mang tính hình thức, chưa trở thành lãi suất cơ sở, chuẩn mực để định hướng cho các loại lãi suất khác trên thị trường Vì thế làm tăng rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh tiền tệ tín dụng và các quan hệ dân sự khi có phát sinh tố tụng.
Luật dân sự 2005 quy định các TCTD không được phép huy động và cho vay vớilãi suất cao hơn 150% mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố Luật NHNN số46/2010/QH12 “Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và cácloại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi”
Trên thực tế, lãi suất cơ bản hiện nay là lãi suất mang tính hình thức, không có cơ
sở kinh tế và không liên quan đến bất kỳ quan hệ cung cầu vốn trên các thị trường
Vai trò định hướng và tác động của các loại lãi suất điều hành của NHNN (lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, OMO) đến lãi suất thị trường rất hạn chế Một trong những nguyên nhân chủ yều là phương pháp xác định các loại lãi suất trên còn bất cập, không dựa trên cơ sở lãi suất cơ bản là lãi suất chuẩn; cơ chế điều hành cụ thể các loại lãi suất chưa được ban hành rõ ràng.
Thực tế trong thời gian qua, NHNN chưa ban hành được cơ chế điều hành vàphương pháp xác định cụ thể từng loại lãi suất trên Khi quyết định các loạilãi suất chủyếu dựa vào diễn biến số liệu báo cáo thực hiện chỉ số CPI, các chỉ số kinh tế vĩ môtháng trước và quan điểm chỉ đạo điều hành mục tiêu CSTTcủa Chính phủ, thiếu cácthông tin, phân tích dự báo thị trường về cung cầu, số lượng giao dịch, lãi suất, ; Do đócác lãi suất được điều hành không sát với cung cầu tiền tệ và lãi suất thực trên thị trường,hạn chế tác dụng điều tiết của các công cụ lãi suất
Sự điều chỉnh các mức lãi suất chưa theo sát kịp với diễn biến hàng tháng của chỉ số CPI cả về biên độ và xu hướng, làm giảm hiệu quả và tác dụng của công
cụ lãi suất.