Triển vọng tăng trưởng Cơ hội đầu tư trong tương lai: Cân nhắc tới cơ hội đầu tư trong dài hạn khi quyết định tỷ lệ trả cổ tức sẽ giúp công ty có được sự chủ động về tài chính và giảm c
Trang 1MỤC LỤC
Lời Mở đầu 3
3 1 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 3
3.1.1 Khái niệm 3
3.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức 3
3.1.3 Các hình thức phân phối cổ tức 5
3 2 QUẢN TRỊ TĂNG TRƯỞNG 11
3.2.1 Tăng trưởng và tác động của tăng trưởng 11
3.2.1.1 Tăng trưởng công ty 11
3.2.1.2 Các tác động tăng trưởng: 15
3.2.2 Các cấp độ của tăng trưởng 17
3.2.2.1 Tăng trưởng quá nhanh 17
3.2.2.2 Tăng trưởng quá chậm 19
3.2.2.3 Tăng Trưởng Bền Vững 19
3.2.3 Kiểm soát tăng trưởng: 19
3.2.3.1 Quy luật hoạt động của công ty 19
3.2.3.2 Tăng trưởng bền vững 21
3.3 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT TA TỪ THỰC TẾ CÁC CÔNG TY 27
3.3.1 Công ty Enron 27
Trang 2Trước khi lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ 27
Khủng hoảng và sụp đổ: 28
Nguyên nhân phá sản: 30
Bài học từ Enron: 30
3.3.2 Công ty Worldcom 31
Trước khi lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ: 31
Khủng hoảng và sụp đổ: 32
Nguyên nhân: 32
Bài học từ Worldcom: 33
3.3.3 Công ty Dược Viễn Đông 34
3.3.4 Công ty cổ phần sữa Việt Nam 37
Kết luận (để trang khác nha E) 41
Trang 3Lời Mở đầu
Trong tài chính doanh nghiệp có 3 quyết định cơ bản: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, và quyết định chi trả cổ tức Cả ba quyết định trên đều phải nhất quán với mục tiêu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Mà chúng ta đều đã biết cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được dùng để chia cho các cổ đông của một công ty cổ phần Nhưng việc chia bao nhiêu % lợi nhuận, và chia như thế nào đều do “Chính sách cổ tức” của mỗi công ty quy định Đứng trên góc độ doanh nghiệp thì cổ tức là một nguồn tiền đáng kể phải trả ra bên ngoài và câu hỏi đặt ra là liệu chính sách cổ tức có quan trọng hay không, các công ty nên
có chính sách cổ tức như thế nào? Đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc công ty có trả cổ tức hay không không có ý nghĩa quan trọng vì
nó không có ảnh hưởng gì đến giá trị của công ty Một số khác lại tin rằng công ty nên dùng toàn bộ thu nhập để trả cổ tức Cũng có quan điểm lại cho rằng không nên trả cổ tức
mà dành toàn bộ thu nhập để tái đầu tư Tuy nhiên, đó là về lý thuyết còn thực tế thì như thế nào? Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế luôn là niềm mơ ước của mọi chủ thể quản lý và suy thoái cũng là vấn đề rất đáng phải quan tâm Vậy tăng trưởng là gì? Các yêu cầu của tăng trưởng? Làm sao để quản trị tăng trưởng công ty một cách tốt nhất (đảm bảo tăng trưởng bền vững)?
Để trả lời các câu hỏi trên cũng như làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm sẽ trình bày chuyên đề với kết cấu gồm 3 phần như sau:
Phần 1: Những vấn đề liên quan đến chính sách cổ tức của một công ty nói chung.
Phần 2: Quản trị tăng trưởng và các yêu cầu để đảm bảo tăng trưởng bền vững Phần 3: Một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tế của một số công ty.
3 1 CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
3.1.1 Khái niệm
Chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư
và chi trả cổ tức cho cổ đông Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng tương lai thông qua tái đầu tư, trong khi cổ tức cung cấp cho họ một phân phối hiện tại Nó ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu phần trăm được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông Vì thế, chính sách cổ tức sẽ có ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp (thông qua lợi nhuận giữ lại) và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Do đó, chính sách phân chia lợi tức cổ phần tối ưu
là chính sách phân phối giữa cổ tức thanh toán hiện thời cho các cổ đông và phần tăng trưởng tương lai sao cho thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp phải đạt lớn nhất
3.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức
a Hạn chế pháp lý
Hạn chế suy yếu vốn: Doanh nghiệp không thể dùng vốn cổ phần (mệnh giá cổ phần thường và thặng dư vốn) để chi trả cổ tức
Trang 4Hạn chế lợi nhuận ròng: cổ tức được trả bằng lợi nhuận ròng trong thời gian hiện nay và thời gian qua, nhằm ngăn cản chủ sở hữu rút vốn đầu tư ban đầu.
Hạn chế mất khả năng thanh toán: không thể chi trả khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, nhằm đảm bảo quyền ưu tiên của chủ nợ đối với tài sản doanh nghiệp
b Ảnh hưởng của thuế
Doanh nghiệp phải cân nhắc đến chênh lệch thuế đánh trên thu nhập cổ tức và thu nhập lãi vốn, khi chia cổ tức sẽ bị đánh thuế ngay trong năm hiện hành, còn thu nhập lãi vốn có thể hoãn đến các năm sau
Nếu thuế lợi vốn cao hơn thuế thu nhập đóng trên cổ tức thì cổ đông sẽ thích chính sách cổ tức cao hơn là chính sách cổ tức thấp, và ngược lại Khi đó, chính sách cổ tức mà công ty đeo đuổi sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của các nhà đầu tư là liệu có nên nắm giữ cổ phiếu của công ty hay không Và rồi quyết định có nên nắm giữ cổ phiếu hay không khiến nhà đầu tư phản ứng bằng cách giữ hoặc bán cổ phiếuừ đó Từ đó, tác động đến giá trị cổ phiếu của công ty
c Lạm phát
Trong thời kỳ lạm phát, vốn phát sinh từ khấu hao không đủ để thay thế tài sản, máy móc, thiết bị cũ kỹ, đồng thời nhu cầu về vốn luân chuyển cũng nhiều hơn; do đó, đòi hỏi
Doanh nghiệp phải giữ lại nhiều lợi nhuận hơn
d Các cơ hội tăng trưởng vốn
Thông thường các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường có nhu cầu tài trợ cho các cơ hội đầu tư hấp dẫn mới; vì vậy, họ thường giữ lại lợi nhuận nhiều hơn
e Tính ổn định của lợi nhuận
Một DN có lịch sử lợi nhuận ổn định có thể sẵn sàng trả cổ tức cao hơn cho cổ đông
so với các DN có lợi nhuận không ổn định
f Khả năng vay và tiếp cận thị trường vốn
DN lớn, uy tín, dễ dàng tiếp cận với thị trường tín dụng bên ngoài có thể trả mức cổ tức cao hơn do khả năng thanh khoản linh hoạt và ngược lại
g Chi phí giao dịch, chi phí phát hành và rủi ro loãng giá khi phát hành cổ phiếu mới
Trước khi quyết định phát hành cổ phiếu mới, DN phải cân nhắc đến chi phí phát hành, chi phí giao dịch và rủi ro loãng giá (quyền lợi của chủ sở hữu theo phần trăm bị loãng); và do vậy DN có thể lựa chọn phương án chi trả cổ tức thấp, giữ lại lợi nhuận để đầu tư thay vì phát hành cổ phiếu mới để huy động thêm vốn
h Các ảnh hưởng của khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản của doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức Ngay cả một doanh nghiệp có thành tích quá khứ tái đầu tư lợi nhuận cao, đưa đến một số dư lợi nhuận giữ lại lớn nhưng nếu thiếu những tài sản có tính thanh khoản cao, nhất là tiền mặt thì doanh nghiệp vẫn có thẻ không có khả năng chi trả cổ tức.
Trang 5Một chính sách cổ tức an toàn không đồng nghĩa với một chính sách cổ tức thấp, vì điều này có thể gây ra những hệ quả như: Chính sách cổ tức thấp trong khi công ty làm ăn hiệu quả sẽ gia tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại; nếu quỹ tiền mặt tích lũy quá lớn sẽ tạo ra suy nghĩ rằng công ty bế tắc trong việc đầu tư để tiếp tục tăng trưởng.
Chưa kể, công ty còn có thể trở thành mục tiêu của động thái thâu tóm do sở hữu quỹ tiền mặt lớn Doanh nghiệp giữ tiền mặt nhưng lại không đầu tư hiệu quả có thể gây nên sự lãng phí vốn
i Triển vọng tăng trưởng
Cơ hội đầu tư trong tương lai: Cân nhắc tới cơ hội đầu tư trong dài hạn khi quyết
định tỷ lệ trả cổ tức sẽ giúp công ty có được sự chủ động về tài chính và giảm các chi phí
do việc phải huy động nguồn vốn bên ngoài Một công ty đang có tốc độ tăng trưởng cao với nhiều dự án hấp dẫn nên trả mức cổ tức thấp hơn một công ty không có nhiều cơ hội đầu tư
j Các ưu tiên của cổ đông
Yêu cầu của cổ đông của công ty: Chính sách cổ tức cần phù hợp với yêu cầu của cổ
đông Nếu cổ đông công ty là các cá nhân có mức thuế thu nhập cao và mong muốn được nhận lãi vốn thì việc trả cổ tức cao sẽ không có ý nghĩa đối với họ
k Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn
Tính thanh khoản và khả năng huy động vốn của công ty: Khối lượng tài sản có tính thanh khoản cao và khả năng huy động vốn trên thị trường tài chính cũng là các yếu tố quyết định mức chi trả cổ tức của công ty Một công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh với thu nhập cao có thể không muốn trả mức cổ tức cao nếu phần lớn vốn của công ty được đầu tư vào các tài sản cố định và các tài sản lưu động có tính thanh khoản thấp như hàng tồn kho và tài khoản phải thu Khả năng huy động vốn trên thị trường càng thấp thì càng khiến công ty muốn giữ lại thu nhập để tái đầu tư thay vì trả cổ tức cho cổ đông
l Các điều khoản hạn chế khác (thường là trong các hợp đồng trái phiếu của công ty và các thỏa thuận tài trợ khác)
Các điều khoản này có thể là: giới hạn về tổng mức chi trả cổ tức; yêu cầu quỹ dự trữ để thanh toán nợ; vốn luân chuyển (tài sản lưu động trừ nợ ngắn hạn) hay tỉ lệ nợ không đáp ứng được một mức định sẵn của công ty thì không được chi trả cổ tức
Ngoài ra, các yêu cầu về quỹ dự trữ để thanh toán nợ, quy định rằng một phần nào
đó của doanh nghiệp được dùng để trả nợ đôi khi cũng hạn chế việc chi trả cổ tức Việc chi trả cổ tức cũng bị ngăn cấm nếu vốn luân chuyển hay tỷ lệ nợ hiện hành của doanh nghiệp không cao hơn một mức định sẵn nào đó
3.1.3 Các hình thức phân phối cổ tức
Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các cổ đông của một công ty
cổ phần Cổ tức có thể được trả bằng tiền hoặc bằng cổ phiếu Cổ tức sẽ được tính theo mệnh giá của cổ phiếu chứ không được tính theo giá thị trường của cổ phiếu đó vào ngày chốt danh sách cổ đông Và các thị trường chứng khoán đều quy định như vậy
Trang 6Ví dụ: Cổ phiếu SJE (CTCP Sông Đà 11) ngày 16/6 sẽ trả cổ tức năm 2007, tỷ lệ thực hiện 16%/cổ phần, tức là mỗi cổ phần được nhận 16% x 10.000 = 1.600 đồng Nếu bạn sở hữu 1.000 cổ phiếu SJE nằm trong danh sách trả cổ tức, bạn được nhận 1.000 x 1.600 = 1.600.000 đồng tiền cổ tức.
Như vậy, có rất nhiều chính sách cổ tức để doanh nghiệp lựa chọn sao cho phù hợp với dòng tiền, lưu lượng tiền tệ và nhu cầu đầu tư của đơn vị Mặc dù được xếp ưu tiên thấp hơn chính sách tài trợ và chính sách đầu tư, nhưng việc chọn chính sách cổ tức cũng đòi hỏi được xem xét cẩn thận bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cổ đông và tới
sự phát triển của công ty Sau khi đã thống nhất chọn được chính sách chi trả cổ tức, việc tiếp theo mà Đại hội đồng cổ đông cũng như các nhà quản lý doanh nghiệp phải cân nhắc
đó là: lựa chọn phương thức chi trả cổ tức
a. Trả bằng tiền mặt
Cổ tức được trả bằng tiền mặt theo phần trăm mệnh giá mỗi cổ phiếu Với những NĐT đang nắm giữ cổ phiếu và những người đang có dự định mua cổ phiếu, có thể căn cứ vào số cổ tức (tiền mặt) được trả để tính lợi suất hiện thời bằng cách lấy khoản này chia cho thị giá cổ phiếu Chỉ tiêu này cùng chỉ tiêu EPS được coi là một trong những tiêu chí chọn cổ phiếu Nó là một tham số tương đối (tính bằng %) giúp nhà đầu tư thực hiện các so sánh tương đối, dự liệu được mức thu nhập (bọc lót) dự phòng để ra quyết định đầu tư
Ví dụ: Năm 2011, SSI (công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn) công bố trả cổ tức bằng tiền mặt 10% trên mệnh giá (mệnh giá: 10.000VND/cổ phiếu), giá thị trường ngày 26/10/2012 của cổ phiếu này là: 16.000 VND/cổ phiếu.Vậy, cổ tức trên mỗi cổ phiếu mà cổ đông nhận được sẽ là: 10%x10.000 = 1.000VND/cổ phiếu Tuy nhiên, nếu giữ mức cổ tức này thị lợi suất hiện thời mà cổ đông sẽ nhận được là: 1.000/16.000 = 6,25%/năm
Vậy, việc trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài sản và giảm vốn lợi nhuận tức vốn cổ phần của cổ đông
b. Trả bằng cổ phiếu
Khi công ty có nhu cầu giữ lại lợi nhuận để đầu tư phát triển, họ có thể sử dụng cổ phiếu được phép phát hành hay cổ phiếu quỹ (nếu có) để trả cổ tức Khoản cổ tức cho mỗi
cổ phiếu theo cách trả này là phần cổ phần theo tỉ lệ đã được hội đồng cổ đông thông qua
Ví dụ: Năm 2011, HAG (công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai) quyết định chi trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỉ lệ là 2:1 tức là cứ 2 cổ phiếu mà cổ đông sở hữu sẽ được trả cổ tức bằng 1 cổ phiếu mới.
c Một số phương thức khác:
Một số DN còn trả cổ tức bằng một công cụ nợ, được gọi là cổ tức nghĩa vụ (cổ tức nợ); bằng tài sản, giấy khất nợ với cam kết khoản tiền sẽ được trả vào một ngày nào đó trong tương lai
Dù trả bằng hình thức nào thì cổ tức cũng chỉ được trả trong phạm vi lợi nhuận, mà
cụ thể là nguồn lợi nhuận giữ lại Mặc dù, công ty đều có "kế hoạch lợi nhuận hàng năm", nhưng nếu trong năm đó, DN gặp khó khăn, công ty sẽ không trả cổ tức
Trang 7Đối với những DN đã hoạt động ổn định, trả bằng cổ tức tiền mặt thường được NĐT ưa thích hơn, đơn giản vì đó là tiền thật, thu nhập thật, là minh chứng cho tình hình tài chính DN được điều hòa tốt Hơn nữa, nếu DN đã bị "khó" tiền mặt mà lại thêm "nghĩa vụ" (thêm cổ phần lưu hành) thì có thể là gánh nặng Vậy nên, việc trả cổ tức bằng cổ phần thường chỉ được các công ty mới, đang tăng trưởng mạnh, hoặc có kế hoạch phát triển và lạc quan về hiệu quả hoạt động, áp dụng Cũng cần biết, ở Việt Nam, việc trả cổ tức thuộc quyền của Đại hội đồng cổ đông và được trả mỗi năm một hoặc hai lần.
• Các chính sách cổ tức trong thực tiễn
Mục đích cơ bản của bất kỳ công việc kinh doanh nào là tạo ra lợi nhuận cho những chủ sở hữu của nó, và cổ tức là cách thức quan trọng nhất để việc kinh doanh thực hiện được nhiệm vụ này Khi công việc kinh doanh của công ty tạo ra lợi nhuận, một phần lợi nhuận được tái đầu tư vào việc kinh doanh và lập các quỹ dự phòng, gọi là lợi nhuận giữ lại, phần lợi nhuận còn lại được chi trả cho các cổ đông, gọi là cổ tức Việc thanh toán cổ tức làm giảm lượng tiền lưu thông đối với công việc kinh doanh, nhưng việc chia lời cho các chủ sở hữu, sau tất cả mọi điều, là mục đích chính của kinh doanh
Một số công ty trả cổ tức cho cổ đông bằng cổ phiếu thay vì tiền mặt, trong trường hợp này các cổ đông nhận được các cổ phiếu phát hành bổ sung thay vì nhận tiền mặt
Chính sách lợi nhuận giữ lại
Các công ty có thể không chi trả cổ tức trong một số trường hợp vì một số lý do sau:Hội đồng Quản trị công ty cũng như đại hội cổ đông tin rằng công ty sẽ có ưu thế trong việc nắm bắt cơ hội nhờ có nhiều vốn hơn và việc tái đầu tư cuối cùng sẽ đem lại lợi nhuận cho các cổ đông hơn là việc thanh toán cổ tức tại thời điểm hiện tại Lý do này đôi khi là quyết định đúng đắn nhưng đôi khi cũng là sai lầm, và những người chống lại điều này (chẳng hạn như Benjamin Graham và David Dodd, những người phản đối thông lệ này trong tham chiếu tới Phân tích chứng khoán cổ điển năm 1934) thông thường lưu ý rằng trong nhiều trường hợp thì Hội đồng Quản trị hiện hành của công ty đã ép buộc các chủ sở hữu trong việc đầu tư tiền của họ (lợi nhuận từ kinh doanh)
Khi cổ tức được chi trả, các cổ đông tại nhiều quốc gia (trong đó có Hoa Kỳ) phải thanh toán thuế kép từ các cổ tức này: công ty đã phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà nước khi công ty có lợi nhuận, và sau khi cổ tức được thanh toán thì các cổ đông lại phải chi trả thuế thu nhập cá nhân cho nhà nước một lần nữa trên số tiền cổ tức mà họ nhận được Điều này thường được tránh bằng cách điều chỉnh phần lợi nhuận giữ lại hay bằng việc mua lại cổ phiếu của công ty, bằng cách này các cổ đông không phải nộp thuế do Nhà nước không đánh thuế những giao dịch như vậy
Microsoft là một ví dụ của các công ty trong lịch sử đóng vai trò của người đề xuất
ra thu nhập giữ lại; công ty này đã làm điều đó bằng việc đem bán cổ phần của mình ra phạm vi công cộng từ năm 1986 cho đến tận năm 2003, khi công ty thông báo là có thể chi trả cổ tức Trong những năm đó Microsoft đã tích lũy được trên 43 tỷ đô la Mỹ bằng tiền mặt, và vì thế đã làm dấy lên sự bực dọc của các cổ đông khi họ cho rằng lượng tiền lớn như vậy lẽ ra phải nằm trong tay họ chứ không phải thuộc về công ty Tuy nhiên, công
Trang 8bằng mà nói thì các cổ đông của Microsoft trong những năm qua đã kiếm lời cực lớn từ lãi vốn (tức là giá cổ phiếu của họ tăng rất cao trên thị trường chứng khoán).
Chính sách cổ tức và giá trị công ty:
Trở lại vấn đề ban đầu đặt ra là liệu chính sách cổ tức có ảnh hưởng đến giá trị công ty hay không
Quan điểm 1: Chính sách cổ tức có lợi nhuận giữ lại càng nhiều càng làm tăng giá trị công ty (do tăng nguồn vốn chủ sở hữu và tăng tài sản).
Quan điểm này chủ yếu dựa trên lý thuyết về giá trị cổ phiếu được tính bằng hiện giá của dòng tiền (cổ tức) mang lại trong tương lai, nếu công ty giữ lại lợi nhuận hôm nay để đầu tư vào những dự án triển vọng, nó có thể mang lại lợi tức nhiều hơn trong tương lai
Quan điểm 2: Theo M&M (Modigliani và Miller), chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị của công ty (Anh/chị có thể tìm hiểu thêm về lý thuyết này để hiểu rõ hơn, nội dung bài thảo luận chỉ giới hạn nghiên cứu một số ý chính trong lý thuyết M&M này)
Để phân tích 2 quan điểm này, ta lần lượt xét giá trị công ty trong 2 trường hợp:
Không tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài
Tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài
Trường hợp 1: Không tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài:
Tình huống 1: công ty dùng toàn bộ lợi nhuận để trả cổ tức.
VD: Công ty A, có các đặc điểm sau:
1 Ngân lưu ròng CF không đổi, vĩnh viễn = 1.000
2 Toàn bộ CF được dùng để trả cổ tức D = 1.000
3 Lợi nhuận giữ lại = 0
4 Suất sinh lợi đòi hỏi VCSH: Ke = 10%
Giá trị công ty sẽ là:
VA = D / Ke = 1 0 00 / 0,1 = 10 0 00
Tình huống 2: công ty giữ lại 50% lợi nhuận, dùng 50% còn lại trả cổ tức.
Đặc điểm của A sẽ là
1 Ngân lưu ròng CF không đổi, vĩnh viễn = 1.000
2 Lợi nhuận giữ lại = b * CF = 0,5 * 1.000 = 500
3 Cổ tức được chia = (1 – b) * CF = 500
4 Suất sinh lợi VCSH: Ke = 10%
5 Suất sinh lợi của dự án mới là ROI (Biến khảo sát)
6 Tốc độ tăng trưởng g = b * ROI
Giá trị của A sẽ là (E chỉnh lại số thập phân chấm phẩy)
VA = (1 – b) * CF / (Ke – b * ROI)
= 0,5 * 1.000 / (0,1 – 0,5 * ROI)
Trang 9 Như vậy, cái làm thay đổi giá trị của VCSH là quyết định đầu tư chứ không phải chính sách cổ tức.
Chính sách cổ tức không có ý nghĩa, cái quan trọng làm tăng hay giảm giá trị của công ty là lợi nhuận giữ lại được đầu tư ra sao?
Trường hợp 2: Tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài:
Giả dụ rằng cơ hội đầu tư mới đòi hỏi công ty A phải chi đầu tư 1.000$ vào năm nay, và nhận được một nguồn ngân lưu ròng là 200$/năm từ năm tới cho đến vĩnh viễn, biết suất sinh lợi đòi hỏi của cổ đông là 10%, khi ấy NPV của dự án sẽ là:
NPV = -1.000 + (200 / 0,1) = +1.000$
Tình huống 1: công ty giữ lại toàn bộ lợi nhuận để đầu tư.
Khi đó, giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu sẽ là:
VA = Cổ tức năm nay + (PV của cổ tức từ hoạt động hiện hành) + (PV của cổ tức từ đầu
Ngoài ra, ta đã biết để định giá giá trị của một công ty ta dùng công thức:
P0 = P/E * EPS
Trong đó, P 0 : giá trị công ty cần định giá
P/E : giá trị trên mỗi cổ phiếu
EPS : lãi của một cổ phiếu
Trang 10Từ đó, ta thấy giá trị của một công ty tỷ phụ thuộc hay nói cách khác có tỷ lệ thuận với P/E và EPS Do vậy, chính sách cổ tức có liên quan đến giá trị công ty.
Kết luận:
Rõ ràng, nếu có sự tốn tại của nguồn vốn bên ngoài, thì dù ban quản trị của công ty
A có xử dụng chính sách cổ tức kiểu nào đi nữa: không trả cổ tức (tình huống 1) hay vẫn trả cổ tức (tình huống 2) thì giá trị của vốn chủ sở hữu cũng không đổi
Lời khuyên về chính sách cổ tức
Như vậy, chính sách cổ tức trên thực tế có tác động đến giá trị công ty và giá cổ phiếu Do đó, theo đuổi chính sách cổ tức như thế nào là một trong những quyết định quan trọng của ban quản lý Việc đưa ra chính sách cổ tức như thế nào tùy thuộc vào hoàn cảnh
cụ thể của từng công ty Nhìn chung lời khuyên cho chính sách cổ tức như sau:
• Nên theo đuổi một chính sách cổ tức ổn định, nhất quán, tránh gây ra những thay đổi đột ngột trong chính sách cổ tức nếu chưa cân nhắc một cách kỹ lưỡng tác hại của sự thay đổi này trong dài hạn đối với giá trị của công ty
• Nên theo đuổi một chính sách cổ tức an toàn, đảm bảo sự ổn định, nhất quán của chính sách cổ tức ngay cả trong trường hợp lợi nhuận hoạt động giảm Một chính sách cổ tức an toàn không đồng nghĩa với một chính sách cổ tức thấp Chính sách cổ tức thấp đồng nghĩa với việc tăng tỉ lệ lợi nhuận giữ lại, nếu quỹ tiền mặt tích lũy từ lợi nhuận giữ lại quá lớn sẽ :
Một là, khiến cho nhà đầu tư suy diễn là công ty bế tắc trong sự tăng trưởng
Hai là, công ty vô tình sẽ trở thành mục tiêu của một sự thao túng mua (take over)
Ba là, lãng phí do giữ tiền mặt quá nhiều
Tất cả những điều này đều có ảnh hưởng không tốt lên giá trị cổ phiếu của công ty
• Một chính sách cổ tức an toàn là một chính sách cổ tức có tỉ lệ chia cổ tức hợp lý sao cho vừa thoả mãn được nhu cầu có một nguồn thu nhập ổn định, nhất quán của cổ đông (hiệu ứng nhóm khách hàng) vừa đảm bảo một tỉ lệ lợi nhuận giữ lại đủ để tài trợ cho những nhu cầu đầu tư bình thường nhằm duy trì sự tăng trưởng bền vững của công ty
• Tránh tối đa việc cắt giảm cổ tức, cho dù công ty đang có một cơ hội đầu tư tuyệt vời Trong trường hợp như thế, để không bỏ lỡ cơ hội đầu tư này, công ty nên chọn giải pháp đi vay hay phát hành cổ phiếu mới Nếu vì một lý do nào đó công ty không thể huy động đủ vốn từ nguồn tài trợ bên ngoài mà buộc phải cắt giảm cổ tức, thì công ty cần phải cung cấp thông tin đầy đủ và giải thích một cách rõ ràng cho các nhà đầu tư biết về chương trình đầu tư sắp tới cũng như nhu cầu tài chính cần thiết để tài trợ cho dự án đó, để tối thiểu hoá những hậu quả gây ra từ một sự cắt giảm cổ tức đột ngột
Ở những nước thị trường chứng khoán mới phát triển như Việt Nam, do thông tin bất cân xứng nên nhà đầu tư thường dựa vào mức chi trả cổ tức như là “tín hiệu” cho thấy triển vọng của công ty trong tương lai Công ty trả cổ tức cao thường được nhà đầu tư suy diễn đồng nghĩa với triển vọng tốt và ngược lại Do vậy, ở những nước này chính sách cổ tức càng có tác động đến giá trị cổ phiếu
EM CANH SAO CHO 3.2 Ở TRANG MỚI CHO ĐẸP
Trang 113 2 QUẢN TRỊ TĂNG TRƯỞNG
3.2.1 Tăng trưởng và tác động của tăng trưởng
3.2.1.1 Tăng trưởng công ty
a Thế nào là tăng trưởng
Mục đích cơ bản của doanh nghiệp là gia tăng lợi nhuận nên về cơ bản “tăng trưởng doanh nghiệp” được hiểu là sự gia tăng hàng năm về doanh thu và thu nhập của doanh nghiệp
Hay một doanh nghiệp được xem là tăng trưởng thành công là doanh nghiệp có khả năng tăng doanh số, tăng lợi nhuận, mở rộng thị trường, giữ chân được nhân sự tài năng và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội
Tăng trưởng và quản lý tăng trưởng công ty là những vấn đề đặc biệt quan trọng trong hoạch định kinh doanh và tài chính
b Tại sao phải tăng trưởng:
Như câu châm ngôn: “Nếu bạn đứng yên, bạn sẽ bị dính đạn.” Đúng như vậy, trong cuộc sống chúng ta, ai ai cũng phải “vận động” để tồn tại và phát triển, cũng như: Nhà đầu
tư muốn thấy sự tăng trưởng về quy mô, nhân viên muốn có thêm những cơ hội thăng tiến, nhà phân phối muốn được phục vụ cho những công ty lớn mạnh
Và các Doanh nghiệp cũng như vậy: Doanh nghiệp kinh doanh không phải có lợi nhuận là đủ mà còn phải tăng trưởng nữa Trong thực tế nếu Doanh nghiệp không tăng trưởng thì Doanh nghiệp không thể kiếm được lợi nhuân lâu dài được Cứ bám mãi những khách hàng cũ, sản phẩm cũ, và thị trường cũ là công thức dẫn đến tai họa, dẫn đến phá sản đối với doanh nghiệp
Vì thế tăng trưởng chính là nguồn sinh lực để doanh nghiệp tồn tại và có vị thế trên thị trường
Một số công ty đã thử một số cách tạo ra tăng trưởng như: giảm chi phí và giảm giá,, chủ động tăng giá,, mở rộng ra thị trường quốc tế,, sáp nhập thêm công ty mới,, và tạo
ra sản phẩm mới Mỗi cách này đều có vấn đề Giảm giá luôn luôn bị đối thủ đuổi kip và làm mất tác dụng Tăng giá thì khó vượt qua được những thời điểm kinh tế trì trệ Phần lớn thị trường quốc tế đều cạnh tranh gay gắt hoặc được bảo hộ chặt chẽ Sáp nhập thêm công
ty thì tốn kém mà không chứng minh được hiệu quả bao nhiêu Và chỉ có một số ít sản phẩm mới đạt được thành công
Các nhà quản lý có thể tìm kiếm những cơ hội tăng trưởng bằng cách sử dụng mô hình sau:
- Bán nhiều hơn các sản phẩm hiện có cho khách hàng hiện tại: Khuyến khích khách hàng mua mỗi lần nhiều hơn hoặc mua nhiều lần hơn
- Bán các sản phẩm đi kèm cho khách hàng hiện tại: Xác định những sản phẩm khác
mà khách hàng hiện tại có thể cần thêm, bán chéo sản phẩm
- Bán nhiều hơn các sản phẩm hiện có cho khách hàng mới: Giới thiệu sản phẩm hiện có đến các địa bàn mới hoặc cho các phân khúc thị trường mới
- Bán các sản phẩm mới cho các khách hàng mới: Mua hoặc lập ra các doanh nghiệp mới để phục vụ cho những thị trường mới
Trang 12Để đạt được tăng trưởng đòi hỏi phải có được tinh thần muốn tăng trưởng trong đội ngũ nhân sự của công ty và của các đối tác Luôn quan sát để tìm ra những nhu cầu mà hiện tại chưa được thỏa mãn.Thay vì bắt đầu từ những sản phẩm hiện tại và năng lực của công ty (tư duy từ trong ra ngoài), hãy theo đuổi sự tăng trưởng bằng cách cảm nhận những nhu cầu chưa khai thác của khách hàng hiện tại và khách hàng mới (tư duy từ ngoài vào trong) Hãy nhìn vào nhu cầu của người tiêu dùng,cuối cùng (bỏ) sau đó đến nhu cầu của khách hàng trung gian và cuối cùng quyết định bạn có thể đáp ứng được nhu cầu nào có nhiều lợi nhuận hơn.
c Các kỹ năng tăng trưởng:
Tăng trưởng là mục tiêu của nhiều công ty trong thị trường ngày một mở rộng cả về quy mô và tính cạnh tranh Có doanh nghiệp tăng trưởng thành công, ấn tượng nhưng cũng
có những doanh nghiệp tăng trưởng chậm, thậm chí tăng trưởng âm Trên thực tế, các công
ty có thể theo đuổi những chiến lược khác nhau để hướng đến mục tiêu tăng trưởng của mình, những chiến lược theo hướng dựa trên những “kỹ năng” của chính công ty hay dựa trên “năng lực cốt lõi” của công ty (“Những năng lực kinh doanh đặc thù”)
Sau khi đã có mô hình kinh doanh tiềm năng và tính khả thi cao, các công ty tăng trưởng thành công còn chú ý đến những chiến lược phát huy những “năng lực khác” nữa,
đó là những “kỹ năng” tạo ra tăng trưởng (ví dụ như trong các thương vụ mua lại và thiết lập cấu trúc thương vụ), những tài sản đặc quyền (như cơ sở hạ tầng, bằng sáng chế, nhãn hiệu), và các mối quan hệ đặc biệt
Năng lực kinh doanh đặc thù
Các công ty tăng trưởng thành công thường bắt đầu bằng việc cung cấp những sản phẩm và dịch vụ “tuyệt hảo” sở hữu những năng lực làm họ trở nên khác biệt trong ngành
Ví dụ như Disney sở hữu năng lực mà ít công ty nào có được trong lĩnh vực thiết kế nhân vật và sản xuất phim hoạt hình; kể từ năm1928 với bộ phim chuột Mickey đầu tiên, Steamboat Willie, Disney đã thống lĩnh ngành công nghiệp này Đây là cơ sở tiền đề cho
sự phát triển của ngành sản xuất phim và từ ngành này, công ty đã mở rộng sang lĩnh vực thương mại, phát hành âm nhạc và kinh doanh công viên giải trí
Các công ty có tăng trưởng vượt bậc không chỉ sử dụng những năng lực kinh doanh đặc thù của mình để tạo ra doanh số và lợi nhuận; họ còn có thể nhận ra nhiều cơ hội để tăng thêm giá trị từ chính những năng lực này của mình Canada’s Barrick Gold, công ty nhanh chóng trở thành nhà sản xuất vàng lớn thứ 3 và có lợi nhuận lớn nhất thế giới, có năng lực nổi trội trong sự phát triển và hoạt động trong lĩnh vực khai thác vàng Cụ thể, công ty sử dụng những thiết bị sản xuất tối tân nhất thế giới cho ngành này: máy khử trùng lớn nhất, hệ thống tách nước lớn nhất; bên cạnh đó, có tổng chi phí thấp, phương pháp vượt trội trong khai thác và thăm d mỏ dự trữ mới gần những mỏ hiện có Đây là điều cơ bản trong công thức tăng trưởng của công ty: nghĩa là Barrick có thể khai thác những mỏ
mà công ty khác cho rằng chúng không mang lại nhiều lợi nhuận và biến chúng thành những mỏ có trữ lượng khai thác hàng đầu
Năng lực khác: M&A, thiết lập cấu trúc thương vụ; Tài sản đặc quyền; Mối quan hệ đặc biệt
Trang 13Việc chỉ tập trung vào năng lực cốt lõi sẽ tạo một cái nhìn hạn hẹp đối với những nhân tố cần thiết để tạo ra tăng trưởng các công ty tăng trưởng thành công được định hình
rõ trên thị trường bởi các “kỹ năng” tạo ra tăng trưởng của họ, những “kỹ năng” này bao gồm thực hiện các hoạt động M&A, huy động vốn, quản trị rủi ro và xử lý cơ cấu thương
vụ, kiểm soát các quy chế, và nâng cao năng suất vốn
Tuy nhiên, không phải các mục tiêu mua lại của tất cả các công ty đều là những doanh nghiệp đã có những vị trí vững chắc mà còn có thể tập trung nuôi dưỡng “tập hợp những cơ hội” bằng việc mua lại bằng sáng chế và những dự án phát triển kinh doanh nhỏ
có triển vọng Các công ty tăng trưởng tốt cũng thường thể hiện khả năng huy động vốn, quản trị rủi ro và thiết lập cấu trúc thương vụ Trong khi khả năng cốt lõi của Barrick Gold thuộc về lĩnh vực khai thác mỏ vàng, Robert Wickham, khi đó là trưởng phòng tài chính, từ năm 1992 đã nhận ra rằng những công ty kinh doanh khai thác vàng lớn hơn cũng cần thiết hiểu biết về huy động vốn như hiểu biết về nghề luyện kim Barrick đã sử dụng trái khoán vàng (Gold bonds) – một trái phiếu quy đổi lợi nhuận theo giá vàng – để tăng vốn cho những mỏ mới và giảm bớt rủi ro khi phát triển mỏ mới Cuối cùng, khả năng tăng năng suất vốn, đặc biệt giúp các công ty tăng trưởng tốt kiếm lời từ những dự án mà các công ty khác có thể sẽ từ chối Việc tăng lợi nhuận tăng thêm của vốn đầu tư không chỉ tăng khoản thu trên mỗi dự án mà còn mở rộng năng lực và nguồn lực cho phát triển hơn nữa Sự thành công hiếm thấy của Hindustan Lever tại thị trường tiêu dùng ấn Độ - nhà sản xuất thức ăn đóng gói lớn nhất đất nước – một phần là do khả năng đạt doanh số bán hàng trên mỗi đô la tài sản cố định lớn gấp đôi doanh thu bán hàng trên mỗi đô la tài sản cố định của Unilever trên toàn thế giới
♦ Tài sản đặc quyền
Các tài sản của một công ty, nếu khác biệt, có thể mang lại cho công ty lợi thế so sánh trong lĩnh vực kinh doanh hiện tại, và những tài sản này cũng rất quan trọng với sự phát triển trong tương lai của công ty Tài sản đặc quyền bao gồm: nhãn hiệu, mạng lưới,
cơ sở hạ tầng, thông tin, và tài sản trí tuệ; chúng có vai trò quan trọng trong việc khai thác
ra những cơ hội phát triển cũng tương đương như vai trò của năng lực nhân sự và tiến trình phát triển công ty
Disney sử dụng quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản đặc quyền Tập hợp những nhân vật như chuột Mickey hay Vua sư tử là nền tảng phát triển cho đĩa phim xem tại nhà, thu âm âm nhạc, bán lẻ hàng hóa và công viên giải trí Disney không phải là trường hợp
Trang 14duy nhất, rất nhiều công ty có tài sản trí tuệ dưới hình thức sở hữu công nghệ và bằng sáng chế Để định giá được, các tài sản trí tuệ phải được công nhận và đưa vào sử dụng.
Tuy nhiên, khi nhấn mạnh tầm quan trọng của những tài sản dựa trên tri thức, ta rất
dễ bỏ qua những đóng góp của cơ sở hạ tầng Trong ngành công nghiệp dầu khí, đưa vùng khí gas vào hệ thống đường ống dẫn có sẵn là một cách khác biệt để tăng trưởng với mức chi phí tăng them tối thiểu Tương tự một vài công ty khai mỏ cũng có thể khai thác những
cơ sở hạ tầng được xây dựng như một tài sản tạo ra tăng trưởng Bằng cách nắm quyền kiểm soát tuyến đường sắt vận chuyển những hàng hóa siêu trọng và cơ sở hạ tầng cảng cần thiết cho những mỏ ở xa, họ có thể phát triển những mỏ ở gần - mà không phải xây dựng thêm cơ sở hạ tầng mới – với cùng một mức chi phí tăng thêm Trong ngành bán lẻ xăng dầu, công ty xăng dầu phải coi những chi nhánh bán hàng như những bất động sản chính để xây dựng tại đó các cửa hàng tiện lợi và các điểm bán thức ăn nhanh Mạng lưới
và thông tin cũng giống như một tiền đề cho tăng trưởng các mạng lưới phân phối có sẵn giúp các công ty sở hữu chúng đưa sản phẩm mới vào thị trường với chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh
♦ Các mối quan hệ đặc biệt
Mối quan hệ là một trong những “nguồn vốn” quan trọng nhất – nhưng ít được nhắc tới nhất của những công ty đạt tăng trưởng cao, các mối quan hệ đặc biệt giúp tiếp cận với các hợp đồng và các nguồn huy động vốn hay mang lại những kĩ năng bổ sung cần thiết để tạo ra những cơ hội
Quyền tiếp cận có được do các mối quan hệ được chăm chút kĩ lưỡng không chỉ quan trọng tại các thị trường mới nổi Bombardier, một nhà sản xuất dụng cụ trượt tuyết của canada, đã trở thành nhà sản xuất máy bay lớn thứ tư trên thế giới, nhờ rất nhiều vào những mối quan hệ quan trọng chiến lược xây dựng nên từ nền tảng hoạt động kinh doanh thành công ở thị trường sản xuất phương tiện vận chuyển, những nấc thang phát triển của Bombardier trong ngành hàng không đều dựa vào quan hệ đối tác chiến lược gắn bó với những nhà l.nh đạo công nghệ hàng không khác Mạng lưới quan hệ này giúp Bombardier giảm bớt rủi ro dự án và tập trung vào thế mạnh của riêng m.nh là nhà thiết kế, lắp ráp và phân phối tiêu thụ
Những mối quan hệ giúp các công ty tập trung năng lực khai thác những cơ hội mà nếu đơn độc một công ty sẽ không theo đuổi Village Roadshow đ kết hợp chuyên môn của mình trong hoạt động điện ảnh với những cơ sở điện ảnh của Warner Brothers tại châu
âu để thúc đẩy cả hai công ty tăng trưởng ở thị trường này Đồng thời, hiểu biết về Australia của Village kết hợp với chuyên môn về công viên giải trí của Warner đ tiếp sức cho sự lớn mạnh của công viên và khu nghỉ dưỡng tại Australia
Một mạng lưới các mối quan hệ bổ sung là trọng tâm của công thức tăng trưởng mà SAP, một nhà sản xuất của Đức theo đuổi Sự phức tạp của các sản phẩm của SAP đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật trong mọi giai đoạn thực hiện Thay vì tự cung cấp, SAP sử dụng quan hệ đối tác với các nhà sản xuất phần cứng sử dụng phần mềm của mình (IBM,
compaq, Bull, hoặc NEc …), với các nhà cung cấp bán sản phẩm và cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, với các chuyên gia tư vấn hệ thống cung cấp các sản phẩm (Price Waterhouse, Andersen consulting, hoặc Ernst & young…), và với các nhà phát triển phần mềm cung
Trang 15cấp các chức năng kinh doanh hoặc chức năng ngành bổ sung Lợi ích của từng đối tác cũng chính là để tăng doanh thu của SAP: việc sử dụng rộng r.i đ làm nên SAP R3, sản phẩm hàng đầu của SAP, đạt tiêu chuẩn thế giới trong các phần mềm kinh doanh tích hợp.Một công ty không nhất thiết phải sở hữu thế mạnh trên mọi mặt kinh doanh – chỉ cần những mặt quan trọng để tạo lợi nhuận Những công ty tăng trưởng mạnh nhận thấy khác biệt giữa những thuộc tính thu được giá trị và những thuộc tính chỉ đơn giản cần để tham gia kinh doanh.
3.2.1.2 Các tác động tăng trưởng:
Nhìn từ góc độ tài chính, tăng trưởng không phải luôn luôn là điều tốt đẹp Vì:
- Tăng trưởng có thể đặt các nguồn lực của một công ty trong một trạng thái căng thẳng dễ dàng nhìn thấy
- Nếu các nhà quản trị không nhận thức được sự ảnh hưởng này và tạo các bước đi cần thiết để kiểm soát chúng, tăng trưởng có thể dẫn đến phá sản
Trên thực tế, nhiều công ty đã đi đến phá sản do họ đã vội vã mở rộng quy mô kinh doanh quá nhanh Trong khi nguồn tài chính chưa đủ, số lượng khách hàng chưa nhiều, mà việc tăng trưởng (mở rộng quy mô kinh doanh) sẽ đưa công ty bạn nằm trong tình trạng không đủ khả năng để đáp ứng kịp thời những nhu cầu của khách hàng hay các nhân công cũng có gặp khó khăn để có thể theo kịp với yêu cầu sản xuất và nguồn lực tài chính không
đủ để chi trả những chi phí phát sinh cần thiết
Tăng trưởng như thế nào và để thực hiện tăng trưởng, doanh nghiệp phải cần có những điều kiện gì? Đó là những vấn đề mà các nhà doanh nghiệp cần biết và tìm hiểu Dưới đây là 10 nguyên tắc cần thiết mà doanh nghiệp phải lưu ý mỗi khi ra một quyết định liên quan đến vấn đề tăng trưởng
1 Phải có một cơ sở lành mạnh.
Một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện tăng trưởng, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh khi có đủ các điều kiện, nền tảng cơ sở cho tăng trưởng Trước hết cần xem xét tiềm năng thị trường, tiềm năng khách hàng của doanh nghiệp Không thể mở rộng sản xuất kinh doanh khi trên một địa bàn hoặc thị trường mà cung đã vượt cầu Đội ngũ cán bộ quản
lí và nhân viên đã làm tốt công việc của mình hiện nay chưa? Liệu họ có đủ khả năng đảm nhiệm thêm công việc khi cần có mức tăng trưởng đáng kể?
2 Có chiến lược tăng trưởng và phát triển.
Một chiến lược tăng trưởng lành mạnh luôn xuất phát từ một mục tiêu kinh doanh rõ ràng và một hệ thống các biện pháp và phương thức triển khai phù hợp cho từng giai đoạn Chiến lược tăng trưởng cũng được xây dựng trên các nghiên cứu phân tích thị trường kỹ lưỡng, trong đó phải chú ý tới khả năng của các nhà cung cấp có đáp ứng được khi tăng trưởng của doanh nghiệp hay không
3 Luôn luôn nắm rõ các số liệu.
Phải biết rõ các số liệu và tiêu chí của doanh nghiệp, trong đó đặc biệt quan trọng là các số liệu, chỉ tiêu tài chính Các bảng biểu cân đối, tập hợp tài chính, đồng tiền thu chi phải được điều chỉnh phù hợp với mức độ tăng trưởng
Trang 164 Bảo đảm các nguồn vốn hoạt động.
Tuỳ theo tính chất và nguồn gốc có được của vốn hoạt động mà có những đánh giá khác nhau về tình hình hoạt động, tính hiệu quả của doanh nghiệp Đặc biệt phải xem xét các mục tiêu cụ thể đạt được có tương xứng với nguồn vốn bỏ ra hay không Một chiến lược tăng trưởng, mở rộng qui mô chỉ có thể khả thi khi có được nguồn vốn thích hợp Ngược lại không thể bỏ thêm vốn để mở rộng kinh doanh khi chưa có chiến lược tăng trưởng rõ ràng, rủi ro không lường hết được
5 Xem xét các cơ hội liên doanh, hợp tác.
Nhà doanh nghiệp cần phải xem xét đến cả khả năng liệu có thể từ nguồn lực của chính mình để thực hiện tăng trưởng không hay có thể hợp tác, liên doanh, liên kết với các đối tác khác? Như vậy doanh nghiệp vẫn có thể đạt mục tiêu tăng trưởng nhưng có thể giảm bớt rủi ro hoặc nhanh chóng đạt được mục tiêu hơn
6 Đảm bảo tính tự chủ trong hoạt động.
Khi xây dựng chiến lược tăng trưởng cho doanh nghiệp, cũng như lên kế hoạch tài chính cho chiến lược đó, nhà doanh nghiệp luôn phải chú ý đến việc bảo vệ tính tự chủ của doanh nghiệp Cần cân nhắc xem doanh nghiệp có bị phụ thuộc vào một doanh nghiệp khác hoặc một cá nhân khác hay không? Nếu chấp nhận phụ thuộc trong chừng mực nào
đó thì nhà doanh nghiệp cũng phải suy tính cẩn trọng, nếu không thì việc đạt mục tiêu tăng trưởng chỉ có ý nghĩa hình thức, không bền vững
7 Có chính sách nhân sự đúng đắn.
Một doanh nghiệp chỉ có thể tăng trưởng lành mạnh trên cơ sở một đội ngũ nhân sự vững mạnh, doanh nghiệp có khả năng sử dụng hiệu quả đội ngũ nhân sự đó trong các hoạt động để thực hiện tăng trưởng Ví như marketing, bán hàng, quản lí nhân sự, kế toán Không phải chỉ đơn giản mở rộng qui mô sản xuất, gia tăng sản phẩm xuất xưởng là có ngay một tỉ lệ tăng trưởng Nhiều ý tưởng, kế hoạch tăng trưởng đã thất bại, không thành công như mong muốn, không phải vì do thiếu vốn, thiếu năng lực sản xuất mà là các yếu tố
về tổ chức, quản lí, marketing
8 Theo dõi việc triển khai kế hoạch tăng trưởng.
Hàng tuần, hàng tháng, doanh nghiệp phải theo dõi, kiểm tra các hoạt động triển khai
kế hoạch tăng trưởng Các chỉ tiêu chính như doanh số, số lượng hợp đồng, số khách hàng, lợi nhuận, tình hình sẵn sàng chi trả phải được so sánh giữa số đạt được và kế hoach đề
ra để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời
9 Kiên trì theo đuổi mục tiêu tăng trưởng.
Một kế hoạch tăng trưởng tốt đến đâu cũng cần kiên trì triển khai thực hiện thì mới đảm bảo thành công Đã là một chiến lược tăng trưởng thì khó có thể đòi hỏi có ngay những kết quả thành công Những thay đổi liên tục một cách vội vã sẽ làm hỏng kế hoạch tăng trưởng của doanh nghiệp
10 Đòi hỏi lãnh đạo phải nhạy bén.
Tăng trưởng đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, quản lí điều hành với một quyết tâm cao, nhanh nhạy và quyết đoán trong xử lí công việc Một kế hoạch tăng trưởng dù được chuẩn
Trang 17bị tốt đến mấy cũng chẳng giải quyết được gì, nếu không triển khai thực hiện ngay và bị các đối thủ khác cạnh tranh.
3.2.2 Các cấp độ của tăng trưởng
Mỗi doanh nghiệp đều chọn cho mình những chiến lược tăng trưởng đặc thù, phù hợp với hoàn cảnh và năng lực của doanh nghiệp Có doanh nghiệp chọn chiến lược tăng trưởng với tốc độ nhanh chóng, chiếm lĩnh các thị trường mới, phát triển sản phẩm để nhanh chóng định vị thương hiệu và vị thế trên thị trường mới, trong khi đó có doanh nghiệp lại chọn con đường tăng trưởng chậm và chắc, đi dần từng bước một để chiếm lĩnh thị trường Mỗi một chiến lược đều có những điểm mạnh và điểm yếu, điều đó tuỳ thuộc vào năng lực của tự thân doanh nghiệp
3.2.2.1 Tăng trưởng quá nhanh
Một doanh nghiệp có thể được xem là tăng trưởng nhanh nếu như có mức tăng trưởng doanh thu phải đạt tối thiểu 30%/năm trong mỗi chu kỳ 4 năm hoạt động
Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh qua một thời kỳ đủ dài (từ 4-5 năm trở lên) luôn là một thành tích đáng ghi nhận và tôn vinh, đặc biệt trong bối cảnh 4-5 năm vừa qua, khi nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn
Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh mang lại nhiều rủi ro, nhất là khi năng suất và năng lực quản lý không kịp gia tăng tương ứng với tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
Đối với những doanh nghiệp quyết định chọn con đường tăng trưởng và phát triển nhanh nhất có thể để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, vấn đề đặt ra là làm thế nào để họ
có thể tận dụng ưu thế “tốc độ nhanh” và làm thế nào để cân bằng giữa rủi ro và lợi ích do
“tốc độ nhanh” mang lại?
♦ Ưu điểm:
Về mặt lý thuyết, phải thừa nhận rằng, chiến lược “ưu tiên tốc độ” có thể mang lại những lợi ích quan trọng cho doanh nghiệp Một doanh nghiệp phát triển nhanh có thể là người tiên phong trong thị trường, có thể định hình các chuẩn ngành trong thị trường và dựng các rào cản đối với các đối thủ cạnh tranh
Ví dụ, eBay sẽ không thể nào thống trị được thị trường đấu giá trực tuyến nếu không phát triển với tốc độ siêu nhanh như vậy
♦ Những rủi ro của phát triển quá nhanh
Như chúng ta đã biết, trên thực tế có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và phát triển của một doanh nghiệp, do vậy rất khó để xác định tác động của tốc độ phát triển đến tăng trưởng của doanh nghiệp về mặt định lượng Tuy nhiên, có thể thấy một thực tế rõ ràng rằng những doanh nghiệp phát triển nhanh bỏ qua việc xây dựng một kế hoạch kinh doanh chi tiết và tập hợp các nguồn lực hợp lý rất hiếm khi thành công
Một nghiên cứu gần đây về hơn 1.000 doanh nghiệp trên toàn cầu của tạp chí Mc kinsey cho thấy chỉ có 10% các doanh nghiệp có được lợi thế từ tốc độ tăng trưởng nhanh,
tất nhiên trong điều kiện các yếu tố hỗ trợ phải được đáp ứng
Trong trường hợp ngược lại phát triển nhanh không đưa lại lợi ích gì thậm chí còn gây khó khăn cho doanh nghiệp Nhìn chung, khi phát triển quá nhanh, doanh nghiệp sẽ có ít
Trang 18thời gian hơn để nghiên cứu thị trường, kiểm định các giả thuyết, hiểu được đối thủ cạnh tranh và tối ưu hoá nguồn lực mặc dù vẫn có nhiều doanh nghiệp phát triển ở tốc độ nhanh nhất có thể ngay cả trong điều kiện chưa phát triển kế hoạch chiến lược đầy đủ và trong điều kiện thiếu thông tin đầy đủ hoặc thiếu các nguồn lực đi kèm
Nhưng bản thân việc phát triển nhanh cũng chứa đựng rủi ro về việc “đốt cháy” nhanh chóng các nguồn lực, cả tài chính và nhân sự, trước khi doanh nghiệp tự ổn định, cũng như các rủi ro khác như chưa nghiên cứu đầy đủ về tính kinh tế của mô hình kinh doanh cũng như thực tiễn thị trường Như vậy, thách thức quan trọng nhất ở đây là phải biết phát triển nhanh đến mức nào là đủ
Khi nào thì nên gia tăng tôc độ tăng trưởng
Một vài doanh nghiệp chọn tốc độ làm yếu tố tiên quyết và thực tế đây là sự lựa chọn chiến lược của doanh nghiệp với sự chấp nhận đánh đổi giữa rủi ro và lợi ích Tỷ lệ này khác biệt theo từng ngành và theo từng đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, các doanh nghiệp coi phát triển với tốc độ nhanh là yếu tố quyết định đều nhận thấy lợi ích từ quyết định này có một số điểm chung là: họ đều là những người đặt nền móng đầu tiên trong các thị trường rộng lớn, họ cố gắng để dựng lên các rào cản gia nhập thị trường đối với các đối thủ cạnh tranh, và họ kiểm soát trực tiếp các nhân tố kinh doanh quan trọng cần thiết để quản lý rủi
ro của quá trình khởi sự doanh nghiệp Khi những điều kiện này được phát huy, phát triển nhanh rất có thể có giá trị hơn nhiều so với rủi ro mang lại
♦ Dựng các rào cản gia nhập thị trường
Gánh chịu các chi phí gia nhập thị trường sẽ trở nên vô nghĩa nếu đối thủ cạnh tranh
có thể nhanh chóng “đánh cắp” khách hàng của doanh nghiệp bằng cách sao chép những gì doanh nghiệp đang làm Phát triển với tốc độ “cực đại” chỉ có nghĩa nếu doanh nghiệp biết giữ và tạo mối quan hệ tốt với khách hàng cũng như cô lập đối thủ cạnh tranh Một thương hiệu mạnh, những tập hợp khách hàng tin cận và đội ngũ nhân sự tài năng bản thân chưa
đủ để tạo nên rào cản gia nhập thị trường hoặc chuyển thị trường đơn giản vì lao động có thể thay đổi, thương hiệu phải mất thời gian mới gây dựng được và ngay cả khách hàng tin cậy vẫn có thể dao động trước các chiêu bài tiếp thị của đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp có thể dựng rào cản gia nhập thị trường bằng cách “đóng đinh” các nguồn lực chính hoặc tạo mối quan hệ cực kỳ than thiết với những nhà cung cấp nguồn lực chính
♦ Một thị trường tiềm năng rộng lớn
Ngay cả khi có thể dựng lên các rào cản gia nhập, rủi ro của việc phát triển nhanh vẫn có thể rất lớn trừ phi doanh nghiệp có một thị trường tiềm năng rộng lớn – đủ dung lượng cho sự phát triển của doanh nghiệp trong 5-10 năm nữa Thị trường rộng lớn như vậy sẽ mang lại doanh thu nhiều hơn so với chi phí gia nhập Doanh thu lớn như vậy sẽ giúp hoàn vốn đầu tư lớn đã bỏ ra do việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và bù đắp những rủi
ro có thể có Ví dụ, eBay có thể có khả năng tạo ra các thương vụ lớn trong suốt thời kỳ gia nhập nhanh chóng vào thị trường kinh doanh đấu giá trực tuyến từ người tiêu dùng đến người tiêu dùng bởi vì thị trường đấu giá B2B mang lại doanh thu đủ lớn để bù đắp những rủi ro khác
Trang 19♦ Các rủi ro có thể kiểm soát được
Cuối cùng, việc phát triển với tốc độ nhanh là không nên theo đuổi nếu như sự tồn tại của bản than doanh nghiệp lại phụ thuộc quá nhiều vào các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của chính doanh nghiệp Những nhân tố này có thể là các bất ổn về công nghệ, môi trường pháp lý thay đổi nhanh chóng, một đối thủ cạnh tranh hiện tại rất lớn đang chờ sẵn, hoặc các nguồn lực chủ yếu đã bị các doanh nghiệp khác kiểm soát
Như vậy, doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng chiến lược “ưu tiên tốc độ” khi đáp ứng được cả 3 điều kiện trên Trong nền kinh tế Việt Nam hiện này, có thể thấy rất khó để cùng lúc đáp ứng được cả 3 điều kiện này và như vậy, các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, một mặt nên tự hào với những thành tích đã đạt được, nhưng cũng rất cần cẩn trọng khi lập kế hoạch cho tương lai
3.2.2.2 Tăng trưởng quá chậm
Tăng trưởng quá chậm là một vấn đề, tuy nhiên mặt trái của nó là không phải chịu áp lực về tài chính
Nếu đánh giá đúng về năng lực tài chính và duy trì tốc độ tăng trưởng chậm thì ngược lại, công ty sẽ trở thành đối thủ tiềm năng trong cuộc cạnh tranh giành giật thị phần trong tương lai
3.2.2.3 Tăng Trưởng Bền Vững
Tăng trưởng bền vững là việc doanh nghiệp công ty bỏ đạt được một tốc độ tăng trưởng bền vững là tốc độ tối đa trong sự phù hợp với tốc độ gia tăng doanh số mà không làm cạn kiệt các nguồn lực tài chính của công ty Công ty cần một tốc độ tăng trưởng bền vững vì mỗi doanh nghiệp điều mong muốn một mức tăng nhanh và lâu dài, và để bảo đảm
sự lâu dài này ta cần bảo đảm tăng trưởng mà không là cạn kiệt các nguồn lực phát triển
3.2.3 Kiểm soát tăng trưởng:
3.2.3.1 Quy luật hoạt động của công ty
Bất cứ một công ty hay một sản phẩm hay dịch vụ nào cũng sẽ thay dổi theo thời gian
và trải qua bốn giai đoạn của vòng đời: Khởi sự, tăng trưởng, bão hòa, và suy thoái Mỗi giai đoạn là một thử thách đối với người làm công tác quản trị doanh nghiệp và nhà quản trị phải đưa ra được chiến lược phát triển phù hợp đối với mỗi giai đoạn của công ty:
Trang 20a) Giai đoạn khởi sự
Đây là giai đoạn mà công ty tốn rất nhiều chi phí cho hoạt động nghiên cứu thị trường và nghiên cứu phát triển sản phẩm và đưa sản phẩm đến tay khách hàng, trong giai đoạn này rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp rất cao; chính vì vậy, mà doanh nghiệp phải tìm được các nguồn vốn giá rẻ để rủi ro tài chính là thấp nhất.Do đó, nguồn vốn sử dụng trong giai đoạn này chủ yếu này là vốn tự có của doanh nghiệp, và các nguồn vốn kều gọi được từ các công ty đầu tư vốn mạo hiểm với điều kiện công ty phải tạo ra được giá trị tăng trưởng trong tương lai và tìm kiếm và giữ được chỗ đứng vững chắc trên thị trường, thường trong giai đoạn này tổn thất tài chính là chuyện thông thường vì doanh thu nhanh chóng bị ngốn sạch bởi các chi phí phát triển sản phẩm liên tục, marketing và sản xuất
b) Giai đoạn tăng trưởng
Ở giai đoạn này công ty đã hoàn tất đầu tư và triển khai sản phẩm mới, hoạt động kinh doanh của công ty tăng trưởng nhanh chóng đòi hỏi công ty phải đầu tư thêm nhiều cho các hoạt động phát triển thị trường và mở rộng thị phần; từ đó, công ty phải tìm nguồn vốn lớn hơn để đáp ứng cho nhu cầu vốn trong giai đoạn này, và nguồn vốn từ việc phát hành chứng khoán ra công chúng được xem là hợp lý, và tiền mặt do kinh doanh phát sinh
sẽ cần cho tái đầu tư vào hoạt động kinh doanh, kết quả là tỷ lệ chi trả cổ tức vẫn sẽ rất thấp
c) Giai đoạn bảo hòa
Kết thúc giai đoạn tăng trưởng được đánh dấu bằng sự cạnh tranh giá cả mạnh mẽ giữa các công ty cạnh tranh vẫn còn năng lực thặng dư đáng kể, chiến lược chủ yếu trong giai đoạn này là duy trì thị phần và cải tiến hiệu quả hoạt động, trong giai đoạn này các cổ
động thường đòi hỏi cổ tức cao do cổ tức bù đắp cho sự sụt giảm của thu nhập từ lãi vốn