Phân lập giám định thành phần, tính mẫn cảm của các vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục của lợn nái Móng Cái mắc Bệnh viêm tử cung .... Kết quả nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VI PHI KHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN VÀ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN ĐÀN LỢN MÓNG CÁI NUÔI TẠI TRẠI LỢN ĐỨC CHÍNH - THÀNH PHỐ CAO BẰNG
Chuyên ngành : Thú y
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Văn Thanh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Cao Bằng, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vi Phi Khương
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Thanh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Ngoại – Sản, khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên Trại lợn Đức Chính, thành phố Cao Bằng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Cao Bằng, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vi Phi Khương
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ và cụm từ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ vii
Danh mục hình ảnh viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Một số thông tin về giống lợn móng cái 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Đặc điểm sinh học 3
2.1.3 Khả năng sản xuất 4
2.1.4 Hướng sử dụng 5
2.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn 5
2.2.1 Sự thành thục về tính 5
2.2.2 Chu kì tính (chu kì sinh dục) 6
2.2.3 Cơ chế động dục 11
2.2.4 Thời điểm phối giống thích hợp 11
2.2.5 Sinh lý đẻ 12
2.2.6 Sự điều tiết thần kinh thể dịch tới hoạt động sinh dục 13
2.2.7 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của gia súc cái 14
2.3 một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 16
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 19
3.1 Đối tượng nghiên cứu 19
Trang 53.2 Nội dung nghiên cứu 19
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh sản 20
3.3.2 Phương pháp theo dõi các bệnh thường xảy ra trên đàn lợn Móng Cái và thử nghiệm một số phác đồ điều trị 21
3.3.3 Phân lập giám định thành phần, tính mẫn cảm của các vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục của lợn nái Móng Cái mắc Bệnh viêm tử cung 21
3.3.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 21
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 21
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 23
4.1 Kết quả nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn móng cái nuôi tại trại lợn đức chính - thành phố cao bằng 23
4.1.1 Tuổi thành thục về tính 23
4.1.2 Tuổi phối giống lần đầu 24
4.1.3 Tuổi đẻ lứa đầu 25
4.1.4 Thời gian mang thai 27
4.1.5 Thời gian động dục lại sau khi cai sữa 28
4.1.6 Số lượng con/lứa, trọng lượng sơ sinh, trọng lượng lợn con sau cai sữa 30
4.1.7 Tỷ lệ nuôi sống lợn con 31
4.2 Kết quả theo dõi một số bệnh thường gặp trên đàn lợn móng cái ở các lứa tuổi 33
4.2.1 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con (từ sơ sinh đến cai sữa) 33
4.2.2 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn choai (từ cai sữa đến xuất bán giống) 36
4.2.3 Kết quả theo dõi một số bệnh sinh sản thường gặp trên đàn nái sinh sản 38
4.2.4 Kết quả phân lập và giám định thành phần, tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được từ dịch đường sinh dục lợn nái bình thường và bệnh lý 39
4.3 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 45
Phần 5 Kết luận và đề nghị 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 50
Tài liệu tham khảo 51
Trang 6FRH Follculin Releasing Hormone FSH Folliculo Stimulin Hormone
KHCN
KL
Khoa học công nghệ Khối lƣợng
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tuổi thành thục về tính của lợn Móng Cái 23
Bảng 4.2 Tuổi phối giống lần đầu 24
Bảng 4.3 Tuổi đẻ lứa đầu 26
Bảng 4.4 Thời gian mang thai 27
Bảng 4.5 Thời gian động dục trở lại sau khi cai sữa 29
Bảng 4.6 Số lượng con/lứa, khối lượng sơ sinh, khối lượng lợn con sau cai sữa 30
Bảng 4.7 Tỷ lệ nuôi sống lợn con 32
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con (từ sơ sinh đến cai sữa) 33
Bảng 4.9 Một số bệnh xảy ra trên đàn lợn choai 37
Bảng 4.10 Kết quả khảo sát bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản 38
Bảng 4.11 Thành phần vi khuẩn có trong dịch âm đạo, tử cung lợn nái bình thường và bệnh lý 40
Bảng 4.12 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm tử cung, âm đạo lợn nái với một số thuốc kháng sinh 43
Bảng 4.13 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục của lợn nái với một số thuốc kháng sinh thông dụng 44
Bảng 4.14 Kết quả điều trị viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi khỏi bệnh 46
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tuổi thành thục về tính của lợn Móng Cái 23
Biểu đồ 4.2 Tuổi phối giống lần đầu 25
Biểu đồ 4.3 Tuổi đẻ lứa đầu 26
Biểu đồ 4.4 Thời gian mang thai 28
Biểu đồ 4.5 Thời gian động dục lại sau cai sữa 29
Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ nuôi sống lợn sơ sinh theo mùa 32
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn con (từ sơ sinh đến cai sữa) 34
Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ nhiễm bệnh trên đàn lợn choai 37
Biểu đồ 4.9 Tỷ lệ các bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái 38
Biểu đồ 4.10 Tỷ lệ thành phần vi khuẩn có trong dịch âm đạo, tử cung lợn nái bình thường và bệnh lý 40
Biểu đồ 4.11 Hiệu quả các phác đồ điều trị 47
Biểu đồ 4.12 Hiệu quả về thời gian của các phác đồ điều trị 47
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Lợn Móng Cái 3
Hình 2.2 Sơ đồ lai 5
Hình 4.1 Lợn Móng Cái thành thục về tính 24
Hình 4.2 Lợn Móng Cái đẻ lứa đầu 27
Hình 4.3 Lợn Móng Cái mang thai 28
Hình 4.4 Lợn Móng Cái con sơ sinh 31
Hình 4.5 Lợn Móng Cái con cai sữa 31
Hình 4.6 Lợn Móng Cái bị ỉa chảy 36
Hình 4.7 Phân lợn Móng Cái bị ỉa chảy 36
Hình 4.8 Thuốc Lutalyse 45
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Vi Phi Khương
Tên luận văn: “Đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp trên đàn lợn
Móng Cái nuôi tại trại lợn Đức Chính - Thành phố Cao Bằng”
Ngành: Thú y Mã số: 60 64 01 01
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá khả năng sản xuất và thích nghi của lợn Móng Cái nuôi tại Cao Bằng,
là cơ sở cho nhân đàn và phát triển nuôi lợn Móng Cái tại địa phương
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi thu thập số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp
- Phương pháp chẩn đoán lâm sàng thường quy
- Phương pháp bố trí thí nghiệm một nhân tố đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị
- Các quy trình phân lập và giám định vi khuẩn
- Phương pháp phân tích số liệu
Kết quả chính và kết luận
- Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn Móng Cái:
+ Tuổi thành thục từ 171 đến 180 ngày với tỷ lệ 58,41% Tuổi phối giống lần đầu
từ 191 ngày tuổi đến 200 ngày tuổi chiếm tỷ lệ 58,03% Tuổi đẻ lứa đầu tập trung ở giai đoạn 300 - 310 ngày, chiếm tỷ lệ 61,66% Hầu hết lợn Móng Cái có thời gian mang thai
Trang 11xuất hiện ở đàn lợn Móng Cái trong các độ tuổi từ sơ sinh đến giai đoạn trưởng thành Trong đó, hội chứng tiêu chảy xuất hiện nhiều với tỷ lệ cao trong tất cả các độ tuổi của lợn
+ Hiện tượng chậm lên giống, sảy thai, viêm tử cung, viêm vú, mất sữa và đẻ khó
là những bệnh xuất hiện trên đàn lợn nái sinh sản, trong đó bệnh viêm tử cung chiếm tỷ
lệ cao nhất 28,80%
+ Trong dịch tử cung, âm đạo lợn nái khoẻ mạnh sau đẻ 12 - 24 giờ 80,00% số
mẫu phát hiện có E.coli; 66,67% có Salmonella; 93,33% có Staphylococcus aureus và 73,33% có Streptococcus Khi tử cung, âm đạo bị viêm, 100% các mẫu bệnh phẩm đều xuất hiện các vi khuẩn kể trên và xuất hiện thêm loại vi khuẩn Pseudomonas với tỷ lệ
13,33%
+ Những vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm của tử cung, âm đạo lợn nái có tỷ lệ mẫn cảm với thuốc kháng sinh không cao Trong đó những thuốc có độ mẫn cảm cao nhất là Cephachlor tiếp tới là Amoxycillin, Lincomycin và Neomycin Chúng hầu như không mẫn cảm với Streptomycin và Penicillin
+ Để chọn thuốc thích hợp điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái có thể dùng mẫu bệnh phẩm là dịch viêm tử cung để kiểm tra kháng sinh đồ trực tiếp Bệnh viêm tử cung
ở lợn nái điều trị có kết quả cao bằng biện pháp: Dùng Lutalyze tiêm dưới da 2ml (25mg), tiêm 1 lần; thụt vào tử cung 500ml dung dịch Lugol 0,1%; dùng Cephachlor 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung ngày một lần; kết hợp điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex
Trang 12THESIS ABSTRACT Master candidate: Vi Phi Khuong
Thesis title: Assessment of reproductive indicators and common diseases in the Mong
Cai pig breeding pig farm Duc Chinh - City of Cao Bang
Major: Veterinary Code: 60 64 01 01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
Evaluate manufacturing capabilities and suitability of Mong Cai pig, fed in Cao
Bang, is the basis for the breeding and developing Mong Cai pigs locally
Materials and Methods
- Survey method using a questionnaire to collect primary data and secondary data
- Methods for routine clinical diagnosis
- Method arranged a factor experiments to assess the effectiveness of treatment
regimens
- The procedures of isolation and identification of bacteria
- Data analysis
Main findings and conclusions
- Some indicators of Mong Cai pigs:
+ Sexual maturity age is from the ages 171 days to 180 days, at a rate of 58,41% First mating age is from 191 days to 200 days old age accounted for 58,03% Age at first calving is concentrated in the period 300-310 days, accounting for 61.66% Almost Mong Cai pigs have gestation are 113 – 115 days (accounting for 81.21%)
+ Oestrus period after weaning piglets in Mong Cai pigs is highest concentration
in the period of 5-7 days proportion 67.46%
+ The number of pigs born average reached 10.5 pigs/groups; fluctuation is range from 9-12 pigs/ groups
+ The average birth weight is 0.595 kg/pig and average weaning weight is 6.23 kg/pig
+ The rate of feeding piglets from birth to weaning is relatively high average of 96.09% This rate is the highest in the autumn, then in the spring, in the summer and lowest in the winter
- Some common diseases in Mong Cai pigs:
Trang 13+ Pneumonia, roundworms, diarrhea syndrome and surgical disease usually appear in Mong Cai pigs in age from birth to adult stage In particular, diarrhea syndrome appears much higher share of all
+ Slow to the same phenomenon, abortion, metritis, mastitis, loss milk and obstructed labor are the diseases appearing on breeding sow herd in which uterine inflammation highest percentage of 28.80%
+ Uterine fluid, vaginal postpartum healthy sows 12 - 24 hours 80.00% of the samples contained E coli; 66.67% of Salmonella; 93.33% and 80.00% of Staphylococcus aureus with Streptococcus When uterine, vaginal infection, 100% of the samples are bacteria that appear above and appear more Pseudomonas bacteria at a rate of 13.33%
+ The bacteria isolated from the translation of inflammation of the uterus, vagina sows rate sensitivity to antibiotics is not high In which the drug has the highest sensitivity is next to the Amoxycillin Cephachlor, Lincomycin and Neomycin We hardly susceptible to streptomycin and penicillin
+ To select the appropriate drug treatment of metritis in sows can be translated samples to test intrauterine direct antimicrobial susceptibility Uterine infections in sows treated with high results in measures: Use Lutalyze 2ml subcutaneously (25 mg), injected 1 time; indented 500ml uterus Lugol solution 0.1%; Cephachlor using 5mg / kg body weight mixed with 100ml of distilled water injected into the uterus once daily; systemic therapy combined with ADE, B.Complex
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn đã và đang trở thành một ngành quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong ngành chăn nuôi nước ta Nó không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng cho con người mà còn cung cấp một lượng phân hữu cơ cho trồng trọt đồng thời tạo công ăn việc làm nâng cao đời sống cho người dân Trong những năm qua chăn nuôi lợn đã có bước phát triển đáng kể, thịt lợn chiếm 80% tổng số các loại thịt gia súc, cung cấp phần lớn cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng
Để đáp ứng nhu cầu cung cấp con giống phục vụ việc phát triển chăn nuôi lợn thịt cho các trang trại, gia trại cũng như các nông hộ bên cạnh việc nhập một giống lợn ngoại có năng xuất cao phục vụ nhu cầu phát triển chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, thì việc duy trì phát triển các giống lợn bản địa tại nhiều vùng trong cả nước đặc biệt là những các tỉnh miền núi, trong đó có tỉnh Cao Bằng đang được quan tâm
Trong các giống lợn bản địa thì giống lợn Móng Cái là một trong giống lợn
có những đặc tính ưu việt dễ nuôi, chịu kham khổ, sức kháng bệnh cao, thích ứng được với hầu hết các môi trường sinh thái ở Việt Nam, đặc biệt là khả năng sinh sản tốt, giống lợn Móng Cái cần tiếp tục được nhân thuần duy trì vốn gen và làm nái nền để lai với các giống lợn nhập nội, đồng thời rất cần có chương trình cải tiến giống
Mặc dù có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nước ta, song lợn Móng Cái vẫn có thể mắc các bệnh về tiêu hóa, truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh sản khoa Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn Móng Cái, ngoài thực hiện đúng kỹ thuật chăn nuôi thì việc đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường
gặp trên đàn lợn Móng Cái và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả là cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh
giá một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp trên đàn lợn Móng Cái nuôi
tại trại lợn Đức Chính - Thành phố Cao Bằng”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đánh giá khả năng sản xuất và thích nghi của lợn Móng Cái nuôi tại Cao Bằng, là cơ sở cho nhân đàn và phát triển nuôi lợn Móng Cái tại địa phương
Trang 151.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Kết quả nghiên cứu của đề tài về một số chỉ tiêu sinh sản của lợn Móng
Cái nuôi tại tỉnh Cao Bằng là tư liệu cơ sở cho người chăn nuôi, nhà chuyên môn
đề ra phương pháp quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng nâng cao khả năng sinh sản của lợn Móng Cái
- Kết quả nghiên cứu về một số bệnh thường gặp của giống lợn Móng Cái
ở các độ tuổi khác nhau giúp cho việc đề ra biện pháp phòng và trị bệnh kịp thời, giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đề ra những chính sách cụ thể nhằm quản lý và phát triển đàn lợn Móng Cái cả về số lượng và chất lượng
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ GIỐNG LỢN MÓNG CÁI
2.1.1 Nguồn gốc
Giống lợn Móng Cái là một giống lợn quý ở nước ta, thuộc lớp động vật
có vú Maminalia, nằm trong bộ guốc chẵn Articodactyla, thuộc họ Sllidae, chủng Sus và thuộc loài Sus domesticus; là giống lợn phổ biến nhất ở Việt Nam, có nguồn gốc từ huyện Hà Cối nay thuộc huyện Đầm Hà và Móng Cái Quảng Ninh
2.1.2 Đặc điểm sinh học
Hình dạng của giống lợn Móng Cái khá đặc trưng của giống lợn địa phương: mình ngắn, cổ ngắn, tai nhỏ, chân nhỏ và ngắn, lưng võng, bụng xệ Do hai đặc tính lưng võng và chân lùn nên gần như toàn bộ bụng đặc biệt là lợn nái luôn sa xuống mặt đất
Màu sắc da lông của lợn Móng Cái đen toàn bộ cơ thể Trên nền đen ấy có một đốm trắng hình tam giác hoặc hình thoi nằm giữa trán, mõm trắng, cuối đuôi
có chòm lông trắng, bụng và 4 chân trắng Đặc biệt có một khoang trắng nối giữa hai bên hông với nhau vắt qua lưng trông giống như cái “yên ngựa” là nét đặc trưng nhất về màu sắc của lợn Móng Cái
Lợn Cái Móng Cái
Hình 2.1: Lợn Móng Cái
Giống lợn Móng Cái thường có từ 10 - 16 vú xếp thành hai dãy đều nhau, song song với nhau trên hai bên bẹ bụng Hầu như không có cá thể nào của giống lợn Móng Cái có số vú lẻ Giống lợn Móng Cái có khả năng sinh sản tốt, đẻ nhiều con nhất trong các giống lợn nội Việt Nam Sức đề kháng của giống lợn
Trang 17Móng Cái rất cao, trong quá trình chăn nuôi hầu như ít bị mắc bệnh
Lợn Móng Cái có ba dòng: xương nhỏ, xương nhỡ và xương to Lợn Móng Cái dòng xương nhỏ có tầm vóc tương tự như lợn Ỉ Vùng trắng ở bụng và vai của dòng xương nhỏ có tỷ lệ cao hơn so với hai dòng kia
Giống lợn Móng Cái sinh trưởng chậm, hai tháng tuổi đạt 6 kg và 10 tháng tuổi đạt 80-85kg Khả năng phát dục sớm, lợn cái động dục lúc 5 tháng tuổi và lợn đực có biểu hiện nhảy lên lưng con cái lúc 2 tháng tuổi nhưng có khả năng phối giống có chửa lúc 4 tháng tuổi Lợn Móng Cái có từ 8 - 16 vú thường
là 12 vú, khả năng sinh sản tốt và khéo nuôi con Số con sơ sinh còn sống từ 11 -
13 con/lứa, biến động từ 8 – 16 con/lứa, đặc biệt có những con đẻ tới 21 con/lứa Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 165 – 175 ngày, với số lứa đẻ bình quân là 2,1 đến 2,2 lứa/năm Khối lượng sơ sinh từ 0,5 – 0,6kg/con, cai sữa ở 7 - 8 tuần tuổi đạt 5,5 - 6,5kg/con
Khả năng tăng trọng chậm, trung bình đạt 330gram/ngày, tỉ lệ móc hàm 73-75%, tỉ lệ nạc/thịt xẻ trung bình 33-35%, tỉ lệ mỡ/thịt xẻ trung bình 35-38% Tiêu tốn thức ăn từ 4-5,4kg thức ăn/kg tăng trọng (Nguyễn Thiện và cs., 2006)
Hiện nay, Viện Chăn nuôi quốc gia có chương trình chọn lọc hai dòng lợn Móng Cái; dòng có khả năng sinh sản cao (MC3000) và dòng có tốc độ tăng khối lượng và tỷ lệ nạc cao (MC15) Dòng có khả năng sinh sản cao đã đạt bình quân 12,77 con/lứa, còn dòng có tốc độ tăng khối lượng và tỷ lệ nạc cao đạt 403g/ngày
và 39,19% tương ứng (Nguyễn Văn Đức và cs., 2007)
Lợn Móng Cái dễ nuôi thích ứng được với hầu hết các môi trường sinh thái ở Việt Nam, kể cả nơi điều kiện chăn nuôi chưa phát triển Hiện nay trong cả nước có khoảng 13 cơ sở nuôi giống Móng Cái thuần để cung cấp giống Móng Cái cho các cơ sở sản xuất Hầu hết những có sở này nằm ở vùng Đồng bằng Sông Hồng và vùng duyên hải miền Trung
2.1.3 Khả năng sản xuất
Khả năng sinh trưởng: Do quá trình chọn lọc trong sản xuất, ngày nay đa
số nòi lợn xương nhỏ đã được cải tạo với đực nòi xương to và trong nhân dân hiện nuôi đa số là nòi xương nhỡ hoặc xương nhỏ đã được cải tạo, vì vậy tầm vóc đàn lợn hiện nay gần với nòi xương nhỡ
Khả năng sinh sản: Lợn đực 2 tháng tuổi biết nhảy cái và trong tinh dịch
đã có tinh trùng, lượng tinh dịch 80 - 100 ml Lợn cái 3 tháng tuổi đã bắt đầu động hớn nhưng chưa có khả năng thụ thai Thường thì lợn cái đến khoảng 7 - 8
Trang 18tháng tuổi trở đi mới có đủ điều kiện tốt nhất cho phối giống và có chửa, thời điểm đó lợn đã đạt khối lượng khoảng 40 - 50 kg hoặc lớn hơn
2.1.4 Hướng sử dụng
Đây là một giống lợn rất quý đối với nước ta không chỉ thể hiện thông qua khả năng thích nghi rộng rãi trong những điều kiện chăn nuôi cũng như khí hậu rất khác nhau mà đặc biệt là khả năng sinh sản, bởi vậy cần tiếp tục được nhân thuần duy trì vốn gen và làm nái nền để lai với các giống lợn nhập nội, đồng thời rất cần có chương trình cải tiến giống thông qua các chương trình chọn lọc Bên cạnh đó thì việc tạo ra đàn lợn nái lai có giống Móng Cái để từ đó tạo ra đàn lợn thịt có năng suất chất lượng thịt cao cũng là một trong những hướng rất quan trọng vì đàn nái nền này (F1 (Yorkshire x MC) hay (F1 (Landrace x MC)) được lai với những giống lợn ngoại khác như Landrace, Duroc, Pietrain hay lợn đực lai Pidu để có con lai 3 giống hay 4 giống đáp ứng được yêu cầu thực tiễn cả về điều kiện chăn nuôi cũng như năng suất và phẩm chất thịt
x
Hình 2.2: Sơ đồ lai 2.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN CỦA LỢN
2.2.1 Sự thành thục về tính
Theo Cù Xuân Dần và cs (1996), một cá thể được coi là thành thục về tính nếu như bộ máy sinh dục đã căn bản hoàn thiện dưới tác dụng của thần kinh thể dịch con vật đã có phản xạ sinh dục Đối với con cái thì buồng trứng đã có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ tinh, tử cung con cái cũng có biến đổi phù hợp cho việc mang thai và sinh đẻ Những dấu hiệu đầu tiên ấy xuất hiện ở tuổi như vậy gọi là tuổi thành thục tính
Những yếu tố ảnh hưởng tới tính thành thục:
- Yếu tố về giống: các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau, giống nhỏ thì thành thục sớm hơn các giống có khối lượng lớn, lợn ỉ
Trang 19thì thành thục sớm hơn các giống lợn khác nhập ngoại Giống thuần thì thành thục sớm hơn giống lai Các thú nuôi thì thành thục sớm hơn thú hoang dã, như vậy thì lợn Móng Cái nuôi trong điều kiện bán hoang dã sẽ thành thục muộn hơn các giống lợn khác và thành thục sớm hơn lợn Móng Cái hoang dã
- Yếu tố về chăm sóc nuôi dưỡng: nếu hợp lý thì thành thục sớm hơn
- Yếu tố ngoại cảnh: đó là một tập hợp các yếu tố bên ngoài tác động vào như khí hậu, nhiệt độ, v.v
Ví dụ khí hậu nóng ẩm thì con vật sẽ thành thục sớm hơn là khí hậu lạnh khô Chăn thả đực cái chung thì nó sẽ thành thục sớm hơn Nhưng nếu để con vật phối giống khi mới thành thục về tính vì nó sẽ ảnh hưởng tới sinh sản và sinh trưởng sau này, nên cho con vật phối khi con vật đã phát triển đầy đủ
Sự thành thục về tính của gia súc được đặc trưng bởi hàng loạt những thay đổi bên trong lẫn bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự thay đổi bên trong cơ quan sinh dục Cùng với sự biến đổi bên trong cơ quan sinh dục là sự biến đổi bên ngoài mang tính chất qui luật, nó đặc trưng cho từng loài gia súc Sự thành thục về tính
có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình sinh sản, gia súc chỉ có thể bước vào giai đoạn sinh sản khi đã có sự thành thục về tính, tuỳ theo các gia súc khác nhau mà
có sự thành thục về tính khác nhau Theo Bidanel J.P., J Gruand and C Legault (1996), tuổi thành thục về tính của lợn vào khoảng 6 tháng, dao động trong khoảng 5 đến 8 tháng
Theo Lưu Kỷ và Phạm Hữu Doanh (1994) thì tuổi phối giống tốt nhất của lợn nái là bỏ qua 1 đến 2 chu kỳ động dục đầu, gia súc khoảng 8 tháng tuổi và đạt trọng lượng 130 kg
2.2.2 Chu kì tính (chu kì sinh dục)
Chu kì tính là một quá trình sinh lý phức tạp của cơ thể cái sau khi đã phát triển hoàn toàn và cơ quan sinh dục không có quá trình bệnh lý, thì trong buồng trứng có quá trình noãn bao thành thục, trứng chín và rụng trứng Song song với quá trình rụng trứng thì cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi và có sự lặp đi lặp lại có tính chất chu kì được gọi là chu kì tính Chu kì này xuất hiện khi cơ thể cái thành thục về tính kết thúc khi già yếu Thời gian của một chu kì được tính từ lần rụng trứng trước tới lần sau
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo,… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào
Trang 20hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng, các phản xạ
+ Giống
Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn
+ Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
+ Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo Paul Hughes and Jame Tilton (1996) nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng
Trang 21+ Các phản xạ: sự hoạt động thần kinh trung ương, các tuyến nội tiết
Hormon tuyến yên: FSH và LH
Hormon buồng trứng: folliculin có tác dụng kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển và tăng sinh niêm mạc tử cung làm tổ cho hợp tử
Progesteron có thể vàng
Relactin: hình thành từ thể vàng có tác dụng giảm trương lực dây chằng xương chậu khi đẻ
Các giai đoạn của chu kì tính
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) , chu kì tính của lợn thông thường là 21 ngày, chu kì có thể dao động từ 18 đến 22 ngày
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 – 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn định Một chu kỳ tính của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 – 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi
* Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, tính từ khi thể vàng tiêu biến tới lần động dục tiếp theo kéo dài 1 – 2 ngày, là thời gian chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn cái đón nhận tinh trùng, cũng như đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai
Trong giai đoạn này có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng thái thần kinh: các noãn bao phát triển mạnh, thành thục và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh; đầu giai đoạn, noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn, noãn bao có đường kính 10 – 12mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyết nhanh, hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ tử cung hé mở Các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở có màu hồng tươi, cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình
+ Noãn bao phát triển về khối lượng và chất lượng, nổi rõ trên bề mặt buồng
Trang 22trứng và tăng tiết Oestrogen
+ Hàm lượng Oestrogen tăng cao trong máu sẽ kích thích cơ quan sinh dục biến đổi: tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh có nhiều lông nhung để đón trứng rụng, vách đường sinh dục xung huyết nhẹ, màng nhầy tử cung, âm đạo tăng sinh, mạch quản tăng cường cung cấp máu nhiều hơn Các tuyến sinh dục phụ tăng tiết chất nhầy để bôi trơn đường sinh dục: tuyến nhờn ở âm đạo, các tuyến
cổ tử cung tiết niêm dịch kích thích cổ tử cung hé mở; sau đó noãn bao dần chín,
tế bào trứng bắt đầu thoát ra khỏi noãn bao, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục; giai đoạn này nồng độ LH đạt thấp nhất trong máu, PGF2α dần tăng cao và đạt đỉnh trước 5 ngày động đực kéo dài 3 – 4 ngày rồi giảm
* Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 – 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 – 0,70C; pH hạ hơn trước Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này, lợn thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, 2 chân sau dạng ra và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực
Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính
Giai đoạn động đực gồm có 3 thời kì kiên tiếp nhau là: hưng phấn, chịu đực
và hết chịu đực Động dục là thời kì quan trọng nhất nhưng thời gian lại ngắn + Theo Cù Xuân Dần và cs (1996), Trần Tiến Dũng và cs (2002), khi lượng Oestrogen tiết ra đạt đỉnh cao nhất gây hưng phấn mạnh mẽ toàn thân Bình thường hàm lượng Oestrogen trong máu đạt 64mg%, khi động dục là 112mg% + Các biểu hiện của cơ quan sinh dục: âm hộ sung huyết, tấy sưng và chuyển từ màu hồng nhạt sang màu đỏ, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ
Trang 23càng sẫm màu Cổ tử cung lúc này mở rộng, niêm dịch tiết ra nhiều chuyển từ loãng trong suốt sang đặc dần và keo dính có tác dụng làm trơn đường sinh dục
và ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập Niêm dịch có thể kéo dài thành sợi sau mép
âm môn
+ Các biểu hiện về thần kinh: con vật hưng phấn, ít ăn ít uống, thích khà khịa con khác, nhảy lên lưng con khác, kì đầu còn chưa cho con đực nhảy nhưng
kì sau thì mê ì chịu đực, mắt đờ đẫn nhìn xa xăm
+ Thời điểm rụng trứng ở lợn là sau động dục 24 – 30 giờ, thời gian trứng rụng kéo dài 10 – 15 giờ nên khi phối giống ta nên phối 2 lần thì hiệu quả phối sẽ cao hơn Khi trứng rụng thì thân nhiệt sẽ tăng 0,8 – 1,2ºC; nhịp tim cũng tăng Theo Lê Xuân Cương và cs (1978), sau 48 giờ buồng trứng của con cái nhỏ lại, nhăn nheo, buồng trứng lúc này chỉ còn đường kính 5 – 6 mm và chuyển từ màu đỏ tươi sang màu đỏ tím
Nếu trứng rụng mà được thụ tinh thì con vật bước vào thời kì chửa Nếu không được thụ tinh sẽ bước sang giai đoạn sau động dục
* Giai đoạn sau động dục:
Giai đoạn này tính từ lúc kết thúc động dục và kéo dài khoảng 2 ngày, toàn
bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 – 8 mm và bắt đầu tiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung khép lại Con vật trở về trạng thái bình thường không muốn gần con đực không cho con đực nhảy
* Giai đoạn yên tĩnh:
Giai đoạn này là giai đoạn dài nhất thường kéo dài từ 10 – 12 ngày, bắt đầu
từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn
Trang 24của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
và kết thúc một chu kỳ động dục
2.2.4 Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng lợn sống trong tử cung lợn nái khoảng 45 – 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất
là vào giữa giai đoạn chịu đực
Đối với lợn nái thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 – 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể từ lúc bắt đầu động dục
Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có triệu chứng chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau cho phối, thường phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khoá đuôi” của thời kỳ rụng trứng
Trang 252.2.5 Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh, thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ
Khi gần đẻ con cái sẽ có các triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 – 2 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 – 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng
to, sữa bắt đầu tiết
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:
+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 2 – 3h, hàng vú sau vắt được sữa đầu
Cơ chế đẻ: Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ
chế thần kinh – thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục
- Về mặt cơ giới: Thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển một cách tối đa Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông – khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ Mặt khác, thai chèn ép, co đạp vào tử cung làm kích thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở
và thai thoát ra ngoài
- Nội tiết: Trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra Progesterone, hàm lượng Progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến kỳ chửa cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng Progesterone giảm (chỉ còn 0,22%) Đồng thời tuyến yên tiết Oxytocin, nhau thai tăng tiết Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocin trước khi đẻ
Trang 26- Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: Khi thai đã thành thục thì quan
hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai giống như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ
Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 – 6h, nó được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài
2.2.6 Sự điều tiết thần kinh thể dịch tới hoạt động sinh dục
Hoạt động sinh dục chịu sự điều tiết chặt chẽ của hệ thần kinh và thể dịch
Hệ thần kinh thông qua các cơ quan nhạy cảm là nơi tiếp nhận các xung động ngoại cảnh tác động vào cơ thể, trước tiên là đại não và vỏ não mà trực tiếp là vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra các chất kích thích (yếu tố giải phóng) kích thích thùy trước tuyến yên tiết ra FSH và LH Chúng sẽ tác động vào buồng trứng làm nang trứng phát triển, chín và tiết Oestrogen Trong quá trình sinh lý bình thường, khi gia súc tới tuổi trưởng thành, buồng trứng có nang phát triển ở các giai đoạn khác nhau trong cơ thể đã có sẵn một lượng Oestrogen Hormon này sẽ tác động lên trung khu ở vỏ đại não tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan truyền các xung động thần kinh gây tiết GnRH chu kì (Gonadotropin Releasing Hormone hay là hormon giải phóng FRH và LRH)
FRH (Follculin Releasing Hormone)
LRH (Lutein Releasing Hormone)
FRH và LRH được gọi cùng là GnRH
FRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH (Folliculin Stimulating Hormone) kích tố này kích thích sự phát triển của noãn nang buồng trứng, noãn nang phát triển và trứng chín, lượng Progestrogen tiết ra nhiều hơn Oestrogen tác động lên các bộ phận sinh dục thứ cấp đồng thời tác động lên Hypothalamus,
vỏ đại não gây động dục LRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết LH (Lutein Hormone) tác động vào buồng trứng làm trứng chín LH kết hợp với FSH làm noãn bao vỡ gây ra hiện tượng rụng trứng, hình thành thể vàng và PRH (Prolactin Releasing Hormone) kích thích thùy trước tuyến yên tiết LTH (Lutein Tropin Hormone) tác động vào buồng trứng duy trì sự tồn tại của thể vàng, kích thích thể vàng tiết Progesteron Progesteron lại tác động lên tuyến yên phân tiết FSH và
LH làm chấm dứt quá trình động dục Progesteron tác động vào tử cung làm tử cung dày lên tạo cơ sở tốt cho hợp tử làm tổ, nên khi con vật chửa, thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai và lượng Progesteron được duy trì với nồng độ cao trong máu Nếu không có chửa thì thể vàng tồn tại tới ngày thứ 15 – 17 của chu
Trang 27kì sau đó teo dần, lượng Progesteron giảm dần Giảm tới mức độ nào đó rồi nó lại cùng với một số nhân tố kích thích vỏ đại não, Hypothalamus, tuyến yên, lúc này tuyến yên ngừng phân tiết LTH, tăng cường tiết FSH và LH, chu kì sinh dục mới lại hình thành
Sự liên hệ giữa Hypothalamus, tuyến yên và tuyến sinh dục để điều hòa hoạt động sinh dục của gia súc cái không chỉ theo chiều thuận mà còn theo cơ chế điều hòa ngược Cơ chế điều hòa ngược giữ vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng nội tiết Lợi dụng cơ chế điều hòa ngược này người ta sử dụng một lượng Progesteron hoặc một lượng hormon khác đưa vào cơ thể để điều khiển chu kì sinh dục của con cái Khi đưa một lượng hormon Progesteron vào thì nồng
độ hormon này trong máu sẽ tăng lên Theo cơ chế điều hòa ngược trung khu điều khiển sinh dục ở Hypothalamus bị ức chế, kìm hãm tiết các kích tố của tuyến yên, làm cho noãn bao tạm ngừng phát triển, do đó làm chu kì động dục tạm thời ngừng lại Sau khi ngừng sử dụng Progesteron nồng độ hormon này giảm trong máu, sự kìm hãm được giải toả, trung khu điều khiển sinh dục được kích thích, kích tố FSH lại được bài tiết kích thích sự phát triển của noãn bao làm chu kì tính của gia súc lại được hoạt động trở lại Hiệu quả tác động sẽ cao hơn nếu có sự kết hợp của một số loại hormon khác: Huyết thanh ngựa chửa, LH, Oestrogen, v.v
2.2.7 Một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của gia súc cái
2.2.7.1 Yếu tố di truyền
Di truyền là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới năng xuất sinh sản của gia súc cái, cùng một giống nhưng những cá thể khác nhau thì có khả năng sinh sản khác nhau Khoa học đã chứng minh rằng yếu tố quyết định tính trạng là gen trong tế bào và được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác Ảnh hưởng của gen đến khả năng sinh sản của gia súc thông qua 3 con đường sau:
- Có thể các gen gây chết, nửa gây chết làm trứng không thụ tinh rồi chết
- Do rối loạn nội tiết di truyền làm ảnh hưởng tới các hormon hướng sinh dục, từ đó gây ảnh hưởng tới sinh sản
- Các gen hoạt động chi phối đến sinh sản có những chênh lệch khác nhau (do tác động của môi trường) Sự chênh lệch cộng gộp đó có thể làm kém sinh sản hoặc gây chết
Do đó bằng phương pháp khoa học phải tìm ra được giống mang tính trạng tốt nhất để phục vụ sản xuất
Trang 282.2.7.2 Đực giống
Đực giống có vai trò sản xuất tinh tùng để thụ tinh cho tế bào trứng, vì vậy chất lượng tinh dịch có vai trò quyết định tỷ lệ thụ thai và chất lượng đàn con Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến năng xuất sinh sản nên chúng ta phải tuyển chọn đực giống thật tốt và thường xuyên kiểm tra chất lượng tinh dịch
2.2.7.3 Yếu tố dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng thứ 2 sau giống, là tiền đề để phát huy hết khả năng vốn có của giống
Brumm M.C and P S Miller (1996) chỉ rõ những lợn nái được nuôi dưỡng trong những điều kiện dinh dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính trung bình 188,5 ngày, nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện vào 234,8 ngày Campell R.G and D.M Curic (1985) nhận thấy nuôi dưỡng hạn chế đối với lợn cái giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải
so với nuôi dưỡng đầy đủ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống
2.2.7.4 Năng lượng
Năng lượng rất cần thiết cho sự sống, với lợn cái hậu bị thì năng lượng cần cho duy trì sự sống đảm bảo cho lợn sinh trưởng, phát triển bình thường, với lợn nái chửa ngoài duy trì sự sống thì cần thêm năng lượng để nuôi bào thai, tiết sữa nuôi con Nếu khẩu phần thiếu Ca, P thì bào thai phát triển kém, con đẻ ra dễ bị còi xương, chậm lớn, mẹ dễ bị bại liệt, ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản
2.2.7.5 Kali Natri, Clorua
Nó là các cation và anion, ngoài tế bào trong cơ thể Na, K, Cl là các ion chính ảnh hưởng tới quá trình cân bằng điện giải và trạng thái Axit – Bazơ Nếu thiếu Na, K, Cl sẽ làm giảm tốc độ sinh trưởng của lợn, giảm tính ngon miệng, giảm lượng sữa; nếu nặng có thể gây tử vong nhưng nếu thừa có thể gây ngộ độc, rối loạn trao đổi nước và điện giải
Trang 292.2.7.7 Đồng, Kẽm, mangan và Iod
Đây là nhóm khoáng vi lượng cơ thể cần với một lượng rất nhỏ nhưng lại rất quan trọng không thể thiếu được Các chất này đều là thành phần của một số enzym tham gia vào quá trình trao đổi chất và chuyển hóa trong cơ thể Nếu khẩu phần mà thiếu Mangan thì xương lợn con phát triển không bình thường, tăng tích
mỡ và chu kì động dục không rõ ràng, tiêu thai, lợn con sinh ra yếu, lượng sữa lợn mẹ sẽ giảm
2.2.7.8 Vitamin
Vitamin là một nhóm hợp chất hữu cơ cần cho cơ thể với lượng rất nhỏ cho sinh vật duy trì và phát triển một cách bình thường, nếu thiếu hoặc thừa thì đều gây nên bệnh cho con vật
Vitamin có các vai trò quan trọng sau:
-Vitamin A: tác dụng dinh dưỡng tế bào biểu mô, lượng bì ở da và niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp, sinh dục ảnh hưởng tới sản xuất sinh sản như tỷ lệ thụ thai thấp, tiêu thai, sảy thai, mù mắt ở lợn con
- Vitamin D: tham gia vào sự chuyển hóa Ca, P dẫn xuất của vitamin D còn tham gia vào điều tiết hàm lượng Ca, P trong máu Thiếu vitamin D gia súc non
dễ bị còi xương; gia súc lớn dễ bị loãng xương, bại liệt, lượng sữa giảm
- Vitamin nhóm B: có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi Protein, Lipit, Hydratcacbon, thúc đẩy sự hấp thu các chất dinh dưỡng ở thành ruột, thiếu vitamin nhóm B sẽ làm giảm tính ngon miệng, giảm chức năng thần kinh, giảm sinh trưởng và phát triển, khả năng miễn dịch giảm con vật dễ mắc bệnh
2.2.7.9 Yếu tố bệnh tật
Theo Aberth Youssef (1997), A.Bane (1986) et al (1989), Đặng Đình
Tín (1986), trong chăn nuôi thì yếu tố bệnh tật cũng có ảnh hưởng rất lớn tới sức sinh sản của vật nuôi Đặc biệt là các bệnh ở đường sinh dục Các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinh dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng suất của gia súc cái
2.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
Hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm và tổng khối lượng lợn con cai sữa, hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra, số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi
Trang 30sống con theo mẹ Sản lượng sữa của lợn mẹ, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc
Do đó để tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thì phải tiến hành nâng cao số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa Chung C S and Nam A S (1998) cho rằng: trong các trại chăn nuôi hiện đại, số con cai sữa
do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái
Trần Đình Miên và cs (1997) cho biết việc tính toán khả năng sinh sản của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kỳ động dục, tuổi thành thục về tính, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra/lứa
Colin T Whittemore (1998) cho rằng: các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ
ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm, các chỉ tiêu này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái
Để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái tùy vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu mà có thể lựa chọn các chỉ tiêu khác nhau Hiện nay trong nghiên cứu thường dùng hai nhóm chỉ tiêu đó là: nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh
lý sinh dục và nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái
* Tuổi phối giống lần đầu: Sau khi đã thành thục về tính và thể vóc thì có thể đưa lợn vào phối giống Tuổi phối giống lần đầu được tính từ khi sinh đến lần phối giống đầu tiên, thông thường để cho bộ phận sinh dục được phát triển hoàn thiện thì người ta thường bỏ qua 2 - 3 chu kỳ động dục đầu tiên rồi mới tiến hành phối giống
* Thời gian mang thai: Sau khi phối giống đến ngày đẻ được gọi là thời gian mang thai Thông thường thời gian mang thai của lợn dao động trong khoảng 112 - 117 ngày, trung bình là 115 ngày
* Tỷ lệ đậu thai: Sau khi phối giống, tùy theo các phương pháp phối khác nhau, nếu tinh trùng gặp trứng ở thời điểm thích hợp thì sẽ có hiện tượng mang thai, nếu không thì sau 1 chu kỳ tính, lợn nái sẽ có hiện tượng lên giống trở lại, tỷ
lệ đậu thai đánh giá kỹ thuật phối giống, chất lượng tinh con đực và thời điểm phát hiện động dục
* Tuổi đẻ lứa đầu: Là số ngày tuổi từ khi nái sinh ra cho đến khi nái đẻ lứa đầu tiên, tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau Đối với lợn nái nội tuổi
Trang 31đẻ lứa đầu thường sớm hơn lợn nái ngoại do tuổi thành thục về tính sớm hơn
* Số con đẻ ra trên lứa: Bao gồm số con sống, số con chết, số con dị tật,
và số thai khô Chỉ tiêu này đánh giá được khả năng đẻ sai và khả năng nuôi thai của lợn nái
* Số lợn sinh ra còn sống: Là số con sinh ra còn sống và để lại nuôi, tùy theo các chỉ tiêu để lại nuôi khác nhau của từng trại sản xuất, chỉ tiêu này không bao gồm những con dị tật, những con có khối lượng nhỏ không có khả năng nuôi sống Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai của lợn, trình độ kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng của người chăn nuôi
* Khối lượng lợn con lúc sơ sinh/ổ: Là tổng khối lượng của toàn ổ sau khi con cuối cùng được sinh ra, không bao gồm những con dị tật và những con có khối lượng nhỏ
* Khối lượng lợn con lúc cai sữa/ổ: Là khối lượng cân toàn ổ lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng tiết sữa, nuôi con của lợn nái, đánh giá kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn con theo mẹ của người chăn nuôi Khối lượng lợn con cai sữa quyết định thời gian, khối lượng lợn thương phẩm sau này
* Tỷ lệ chết trong thời gian theo mẹ: Trong thời gian theo mẹ lợn con có thể chết bởi rất nhiều nguyên nhân: do bệnh tật, do quản lý, do chăm sóc sản phẩm của quá trình mang thai và đẻ là số lượng lợn con sau cai sữa, chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý tốt có thể làm giảm tỷ lệ này, và đây là yếu tố để làm tăng số con cai sữa/nái/năm
* Thời gian nuôi con: Thời gian nuôi con càng ngắn thì càng tăng được số con cai sữa/nái/năm và số lứa đẻ/nái/năm Nhưng nếu cai sữa sớm quá thì ảnh hưởng đến chất lượng đàn con, vì thế thông thường cai sữa từ 18 - 25 ngày là thích hợp nhất, trung bình là 21 ngày
* Thời gian lên giống sau khi cai sữa: Thời gian lên giống sau được tính từ khi lợn nái tách con đến khi lợn được phối giống lại Sau khi tách con, lợn mẹ được nhốt riêng và sẽ lên giống trong khoảng 4 - 7 ngày
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ: Được tính từ lứa đẻ này đến lứa đẻ tiếp theo, thời gian này bao gồm có: Thời gian mang thai + thời gian nuôi con + thời gian chờ phối Rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ là mục tiêu của người chăn nuôi nhằm tăng số con/nái/năm
Trang 32PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện trên đàn lợn giống Móng Cái nuôi tại trại lợn Đức
Chính - thành phố Cao Bằng
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu: Tại trại lợn Đức Chính - thành phố Cao Bằng
3.2.2 Thời gian nghiên cứu: Tháng 9/2015 đến tháng 6/2016
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện với 2 nội dung chính:
3.3.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn giống Móng Cái nuôi tại
trại lợn Đức Chính - thành phố Cao Bằng bao gồm:
+ Tuổi thành thục về tính
+ Tuổi phối giống lần đầu
+ Tuổi đẻ lứa đầu
+ Thời gian mang thai
+ Thời gian động dục lại sau cai sữa lợn con
+ Số lượng con/lứa, khối lượng sơ sinh, khối lượng lợn con sau cai sữa
+ Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa
3.3.2 Theo dõi một số bệnh thường gặp trên đàn lợn giống Móng Cái và
phương pháp điều trị:
+ Bệnh ở đàn lợn con theo mẹ
+ Bệnh ở đàn lợn nái sinh sản
+ Phân lập xác định thành phần vi khuẩn có trong dịch đường sinh dục của
lợn nái bình thường và lợn nái mắc viêm tử cung
+ Xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch đường
sinh dục lợn nái mắc viêm tử cung với một số kháng sinh thông dụng
+ Điều trị thử nghiệm bệnh viêm tử cung ở lợn nái
Trang 333.4 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Nguyên liệu nghiên cứu
- Mẫu dịch đường sinh dục sau đẻ 12 – 24 giờ Móng Cái bình thường và lợn mắc bệnh viêm tử cung
- Các môi trường thạch chuyên dụng
- Một số thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu như Cephachlor, Rivanol 0,1%, ADE, B.complex, Oxytocin, Lutalyze
- Đông vât thí nghiêm: Lơn Móng Cái mắc bênh viêm tử cung
- Giấy tẩm kháng sinh do hãng Oxoid sản xuất
- Kính hiển vi, ống nghiệm các loai, đĩa petri, que cấy, găng tay, thùng đưng mẫu, dung cu lấy mẫu, xi lanh
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu
3.4.2.1 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn giống Móng Cái nuôi tại trại lợn Đức Chính - thành phố Cao Bằng
- Thu thập, kế thừa số liệu các chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn giống Móng cái tại trại lợn Đức Chính - thành phố Cao Bằng
- Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu sinh sản trong thời gian thực tập
- Với các chỉ tiêu số lượng: Tiến hành đếm số con sơ sinh/ổ và số con cai sữa/ổ
- Với các chỉ tiêu khối lượng: Tiến hành cân xác định khối lượng lợn con ở các thời điểm sơ sinh và cai sữa bằng một loại cân thống nhất ở tất cả các lần cân
+ Lợn con sinh ra được cân ngay bằng cân đồng hồ loại 5 kg
+ Cân khối lượng lợn cai sữa bằng cân đồng hồ loại 15 kg, vào buổi sáng, lúc đói
Tỷ lệ nuôi sống đến CS (%) = Số con còn sống đến cai sữa 100
Số con để nuôi
- Tuổi thành thục tính: là tuổi tính từ lúc con vật sinh ra cho tới khi con vật
đó có biểu hiện động dục lần đầu tiên (thời gian tính bằng ngày)
- Chu kì động dục: là thời gian tính từ ngày động dục lần trước đến ngày