Đề xuất của người thực hiện và người hưởng lợi đối với các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh thực hiện trên địa bàn huyện Quế Võ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Văn An
Trang 3
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn PGS TS Phạm Văn Hùng đã định hướng, chỉ bảo và dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cùng tất cả các thầy, cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã đóng góp ý kiến quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Nông nghiệp & PTNT, UBND huyện Quế Võ và các hộ nông dân đã nhiệt tình cung cấp thông tin trong quá trình tôi thực hiện nghiên cứu tại địa phương
Cuối cùng, xin dành sự biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những người đã đã giúp
đỡ, động viên tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành thời gian học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Văn An
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục các từ viết tắt viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp 8
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp 11
2.2 cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp 13
2.2.1 Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp ở một số nước trên thế giới 13
2.2.2 Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho nông dân Việt Nam 15
2.3 Những công trình nghiên cứu có liên quan 19
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 21
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 21
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 21
Trang 5iv
3.1.3 Cơ cấu sản xuất một số ngành sản xuất chính 26
3.1.4 Tiềm năng, lợi thế và những tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế nông hộ 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu 29
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 29
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 30
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
3.2.4 Phương pháp phân tích 31
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng 31
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 32
4.1 Các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ 32
4.1.1 Khái quát về các chính sách 32
4.1.2 Các chương trình hỗ trợ vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ 34
4.2 Tình hình triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp của nhà nước trên địa bàn huyện Quế Võ 39
4.2.1 Tình hình phân công, phối hợp thực hiện chính sách 39
4.2.2 Các hoạt động đã được triển khai 40
4.2.3 Kết quả thực hiện chính sách 45
4.3 Thực trạng việc tiếp nhận chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp của các cơ sở sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện 54
4.3.1 Thông tin chung về các cơ sở sản xuất được phỏng vấn 54
4.3.2 Thực trạng việc tiếp nhận hỗ trợ vật tư nông nghiệp của các hộ nông dân 56
4.4 Đánh giá chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp phát triển sản xuất nông nghiệp 63
4.4.1 Một số tác động tích cực của chính sách hỗ trợ 63
4.4.2 Một số hạn chế của chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp 69
4.4.3 Đề xuất của người thực hiện và người hưởng lợi đối với các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh thực hiện trên địa bàn huyện Quế Võ 72
4.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ 74
4.5.1 Căn cứ để đưa ra giải pháp 74
Trang 64.5.2 Giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ vật tư
nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ trong thời gian tới 75
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị 79
Tài liệu tham khảo 81
Phụ lục 86
Trang 7vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Quế Võ qua 3 năm 2013
– 2015 22
Bảng 3.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện qua 3 năm 2013 – 2015 24
Bảng 3.3 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện Quế Võ (2013 - 2015) 26
Bảng 3.4 Cơ cấu các ngành kinh tế 27
Bảng 3.5 Số lượng mẫu điều tra 30
Bảng 4.1 Nguồn vốn thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư cho nông nghiệp trên địa bàn tỉnh 42
Bảng 4.2 Nguồn vốn thực hiện chính sách hỗ trợ thuốc diệt chuột cho nông nghiệp trên địa bàn huyện 44
Bảng 4.3 Kết quả hỗ trợ một số hạng mục cho lĩnh vực trồng trọt huyện Quế Võ giai đoạn 2013 - 2015 46
Bảng 4.4 Biến động giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Quế Võ giai đoạn 2013 - 2015 (tính theo giá cố định năm 2013) 49
Bảng 4.5 Kết quả hỗ trợ một số hạng mục cho lĩnh vực chăn nuôi huyện Quế Võ giai đoạn 2013 - 2015 51
Bảng 4.6 Kết quả hỗ trợ cho lĩnh vực nuôi trồng thủy sản huyện Quế Võ giai đoạn 2013 - 2015 53
Bảng 4.7 Thông tin cơ bản của các cơ sở sản xuất 55
Bảng 4.8 Tình hình tiếp nhận hỗ trợ của các cơ sở sản xuất 58
Bảng 4.9 Kết quả tiếp nhận hỗ trợ trồng trọt của các hộ nông dân 61
Bảng 4.10 Kết quả tiếp nhận hỗ trợ chăn nuôi và thủy sản của các hộ nông dân 62
Bảng 4.11 Biến động diện tích trồng khoai tây của huyện Quế Võ giai đoạn 2013 - 2015 65
Bảng 4.12 Diễn biến số lượng và giá trị sản xuất chăn nuôi lợn của huyện Quế Võ giai đoạn 2013 - 2015 66
Bảng 4.13 Biến số hộ, sản lượng và giá trị sản xuất ngành thủy sản của huyện Quế Võ giai đoạn 2013 – 2015 67
Trang 8Bảng 4.14 Đánh giá của người dân về ưu điểm của các chính sách hỗ trợ vật tư
cho nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Bắc Ninh 68 Bảng 4.15 Hạn chế của chính sách hỗ trợ cho lĩnh vực trồng trọt 69 Bảng 4.16 Một số hạn chế của chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi 70 Bảng 4.17 Một số hạn chế của chính sách hỗ trợ vật tự nông nghiệp phát triển
thủy sản 71 Bảng 4.18 Thứ tự ưu tiên thực hiện các giải pháp hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho
sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ 72 Bảng 4.19 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ vật tư
trên địa bàn huyện Quế Võ 73
Trang 9viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Vũ Văn An
Tên Luận văn: Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Phương pháp nghiên cứu
- Để phục vụ nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, chúng tôi thu thập các số liệu, dẫn chứng về hoạt động hỗ trợ vật tư nông nghiệp ở Việt Nam và thế giới Các nghiên cứu gần đây có liên quan
- Để đánh giá hiện trang, các số liệu thu thập gồm tình hình chung của huyện và các hoạt động hỗ trợ vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Để thực hiện đề tài chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sáu nhóm đối tượng bao gồm: Cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh (01 người), cán bộ cấp huyện (06 người), cán bộ cấp xã (05), chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp (10 người), các chủ trang trại (10 người) và nông dân (90 người)
và hỗ trợ thủy sản
Trang 11x
Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp đã được triển khai thực hiện trên địa bàn huyện bao gồm: Chính sách hỗ trợ vật tư trồng trọt; chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi; chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản Các chính sách này đã mang lại nhiều tác động tích cực như: Làm tăng diện tích gieo trồng lúa lai, lúa chất lượng cao; tăng diện tích cây vụ đông có giá trị hàng hóa cao; góp phần khuyến khích hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tăng giá trị sản xuất ngành trồng trọt; tăng số lượng đàn lợn nái ngoại và lợn siêu nạc thương phẩm; thúc đẩy các mô hình chăn nuôi tập trung phát triển, hiệu quả sản xuất chăn nuôi tăng lên; cơ sở hạ tầng các vùng chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản tập trung được đầu tư xây dựng; số hộ và trang trại nuôi thủy sản tăng; tăng sản lượng, giá trị sản xuất ngành thủy sản
Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ vẫn còn tồn tại một số hạn chế đó là: (1) hiệu quả thực hiện các chính sách này chưa cao; (2) mức hỗ trợ còn thấp và chưa đồng bộ; (3) thủ tục triển khai các chính sách hỗ trợ phức tạp; (4) việc thực hiện hỗ trợ một số hạng mục còn chậm, không đảm bảo thời vụ sản xuất; (5) vấn đề thị trường đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp vẫn bị bỏ ngỏ
Đã có các nhóm giải pháp được đưa ra nhằm hạn chế một số bất cập và nâng cao hiệu quả thực hiện của các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ bao gồm: tiến hành đầu tư, hỗ trợ đồng bộ và tăng cường công tác giám sát việc tổ chức thực hiện để nâng cao hiệu quả của các chính sách; đơn giản hóa các thủ tục triển khai để người dân dễ dàng tiếp cận với các chính sách; quan tâm thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với thị trường đầu ra của các sản phẩm nông nghiệp Tuy nhiên, thời gian tới để nông nghiệp và nông thôn Quế Võ phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi huyện cần phải thực hiện đồng bộ rất nhiều chính sách hỗ trợ, trong đó cần quan tâm chú trọng tới việc hỗ trợ nâng cao trình độ cho lao động nông nghiệp, nhằm giúp họ nâng cao được hiệu quả, năng suất và chất lượng sản phẩm, hạn chế rủi ro trong sản xuất; giúp cho một bộ phận lao động nông thôn có thể chuyển sang làm công nghiệp - TTCN, công nghiệp chế biến nông sản là những thế mạnh của địa phương
Trang 12THESIS ABSTRACT
Author: Vu Van An
Thesis title: “Assessing the implementation of the policy of supporting agricultural materials for farmer households in Que Vo district, Bac Ninh province”
University: Vietnam National University of Agriculture
- In order to assess the current situation, the data collected included the general situation of the district and activities to support agricultural materials in the district
To carry out the topic, we interviewed six target groups, including: provincial leaders (01 person), district officials (06 people), commune officials (05) Agricultural cooperatives (10 people), farm owners (10 people) and farmers (90 people)
Main results and conclusions
Today, as agriculture grows, agricultural support policies for farm households are
an indispensable factor As a result, agricultural support mechanisms tend to increase However, some farmers still do not have access to agricultural materials support policies Requires the State to take measures to support the popular population
Agricultural materials support policies of the Bac Ninh People's Committee were implemented in Que Vo district: Supporting policies on cultivation; Livestock support and fisheries support
The policy on supporting agricultural materials has been implemented in the district include: policy support materials planting; Policy to support livestock
Trang 13xii
development; Support policy for fisheries development These policies have brought many positive impacts such as: Increasing the area of cultivation of hybrid rice and high quality rice; Increase the area of winter crops with high commodity value; Contributing to encouraging the formation of commodity agricultural production areas, increasing the production value of cultivation; Increased number of exotic and super lean pigs; Promote breeding models to focus on development, increase production efficiency of livestock; The infrastructure of transition areas to concentrated aquaculture is invested; Number of households and farms increased; Increase production and value of fishery production
However, policies supporting agriculture and agricultural materials in Que Vo district still have some limitations: (1) the effectiveness of implementing these policies
is not high; (2) low and inconsistent support; (3) procedures for the implementation of complex support policies; (4) the implementation of support for some items is slow, not guarantee production season; (5) output markets for agricultural products remain open There are groups of solutions proposed to limit some inadequacies and improve the effectiveness of the implementation of policies to support agricultural agricultural materials in Que Vo district include: investment, support To support the synchronization and intensification of the monitoring of the implementation in order to raise the efficiency of the policies; Simplify implementation procedures so that people have easy access to policies; Concerned implementation of support policies for the output market of agricultural products However, the coming time for Que Vo agriculture and rural development to develop quickly and sustainably requires that the district needs to synchronously implement a number of support policies, with emphasis
on supporting the improvement of the program Agility for agricultural workers, to help them improve efficiency, productivity and quality of products, reduce risks in production; Helping a part of rural workers to move to industry - handicraft and agricultural product processing are local strengths
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn chiếm vị trí quan tâm hàng đầu ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang tiến hành đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ở Việt Nam, với hơn 70% dân số sống ở nông thôn, gắn bó với nông nghiệp nên nhìn chung, nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn trở thành vấn đề hệ trọng của quốc gia Ở Nước ta, Nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng mang tính chiến lược của đất nước, giúp cân bằng và phát triển nền kinh tế, ổn định xã hội Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn nhằm tạo điều kiện cho nông dân và đối tượng hưởng lợi liên quan có cơ hội tăng năng lực, hiệu quả sản xuất
Vật tư nông nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp góp phần đảm bảo chất lượng sản phẩm nông nghiệp Vật tư chất lượng tốt sẽ giúp tạo ra năng suất , chất lượng sản phẩm nông nghiệp tốt, có lợi cho sức khỏe và ngược lại Vật tư nông nghiệp giá rẻ nhưng kém chất lượng hay các chất kích thích tăng trưởng nông sản độc hại hiện vẫn tồn tại trên thị trường, ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe người tiêu dùng Việc kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp đòi hỏi sự nỗ lực và trách nhiệm của nhiều cơ quan, ban ngành, trong đó hỗ trợ vật tư cho người nông dân là một trong những biện pháp giúp người nông dân giảm chi phí đầu vào nâng cao chất lượng nông sản, kết quả và hiệu quả sản xuất Bên cạnh đó, thời gian gần đây giá vật tư nông nghiệp không ổn định đã gây không ít khó khăn cho người nông dân, ảnh hưởng nhiều đến các quyết định sản xuất Khi các khoản chi phí đầu vào chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí sản xuất thì những ưu đãi, quan tâm, hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định tâm
lý sản xuất cho nông dân
Quế Võ là 1 trong những huyện của tỉnh Bắc Ninh, trong những năm gần đây, Quế Võ đã tạo được bước phát triển nhanh và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Đây là một trong những huyện có điều kiện thuận lợi về phát triển sản xuất nông Hiện nay, huyện đang thực hiện chủ trương của tỉnh trong việc tập trung xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững và công nghệ cao, tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao phục vụ trong huyện, tỉnh Nhiều chương trình phát
Trang 15Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” để từ đó đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho các
hộ nông dân trên địa bàn huyện Quế Võ, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho các hộ nông dân ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách
hỗ trợ vật tư nông nghiệp;
Trang 16- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp và tác động của chính sách này đối với các hộ nông dân trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích các các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ vật
tư nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho các
hộ nông dân trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ thể nghiên cứu và điều tra của đề tài là các cơ quan, đơn vị thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp trên địa bàn huyện và các hộ nông dân trên địa bàn huyện
Khách thể nghiên cứu của đề tài là chính sách hỗ trợ vật tư cho các hộ nông dân trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi
Đề tài thực hiện từ từ năm 2014 đến 2016
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN
Các chính sách này đã mang lại rất nhiều tác động tích cực đối với lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:
Trang 174
- Chính sách hỗ trợ sản xuất trồng trọt đã góp phần làm tăng diện tích gieo trồng lúa lai, lúa chất lượng cao cũng như diện tích các loại cây trồng vụ đông có giá trị hàng hóa cao (khoai tây) trên phạm vi toàn tỉnh Chính sách hỗ trợ sản xuất trồng trọt cũng góp phần khuyến khích các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển, tăng giá trị trên 1 ha canh tác
- Chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi đã làm cho đàn lợn nái ngoại và đàn lợn siêu nạc thương phẩm của tỉnh tăng lên rất nhanh trong thời gian vừa qua Chính sách này góp phần thúc đẩy các mô hình chăn nuôi tập trung phát triển, hiệu quả chăn nuôi bước đầu đã tăng lên
- Chính sách hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản đã chuyển đổi được các vùng đất lúa một vụ hiệu quả thấp sang các vùng vùng nuôi trồng thủy sản tập trung góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất đối với các chân ruộng trũng Bên canh đó, chính sách này cũng góp phần làm tăng số lượng các mô hình VAC trên địa bàn toàn tỉnh
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào
đó của nền kinh tế xã hội do chính phủ thực hiện Nó bao gồm mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để đạt được mục tiêu đó (Đỗ Kim Chung, 2009)
Chính sách nông nghiệp là tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm thay đổi môi trường cho nông nghiệp phát triển bằng cách: Tác động vào giá đầu vào hay đầu ra Thay đổi về tổ chức và khuyến khích công nghệ mới trong nông nghiệp (Đỗ Kim Chung, 2009)
2.1.1.2 Chính sách hỗ trợ trong nước khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO
Đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp là các hộ dân
và các trang trại sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ
Trợ cấp được hiểu là “những lợi ích mà chính phủ đem lại cho một đối tượng nhất định và có thể lượng hóa về mặt tài chính Trong nông nghiệp, WTO
Trang 196
phân chia trợ cấp thành hai nhóm chính là hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu
Hỗ trợ trong nước là những lợi ích được chính phủ dành cho một hoặc một số đối tượng mà không trực tiếp gắn với hoạt động hay kết quả xuất khẩu của đối tượng đó Trợ cấp xuất khẩu có thể hiểu một cách đơn giản là những lợi ích gắn với hoạt động hoặc kết quả xuất khẩu (Trung tâm WTO, 2010)
Hỗ trợ trong nước gồm những biện pháp, chính sách được chính phủ sử dụng để giúp duy trì giá nông sản mà người sản xuất trong nước nhận được ở mức cao hơn mức giá thông thường phổ biến trên thị trường thế giới; các khoản chi trả trực tiếp cho người sản xuất trong nước, kể cả các khoản chi trả để ngừng sản xuất nông nghiệp; và các biện pháp giảm chi phí tiếp thị, chi phí đầu vào trong sản xuất nông nghiệp (Trung tâm WTO, 2010)
Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, để phù hợp với những định chế của tổ chức này chúng ta phải cam kết thực hiện Hiệp định nông nghiệp (Agreement on Agriculture, viết tắt là AoA) Hiệp định này bao gồm 3 nội dung chính: giảm trợ cấp xuất khẩu trong nông nghiệp, tăng cường mở cửa thị trường nhập khẩu, và cắt giảm trợ cấp cho các nhà sản xuất trong nước mang tính bóp méo thương mại Trong đó AoA chia hỗ trợ trong nước ra thành ba dạng hộp khác nhau (xanh lá cây, xanh lam và hổ phách) trên cơ sở tác động của chúng đến sản xuất và thương mại nông nghiệp, bao gồm:
Hộp Xanh lá cây (Green Box): gồm các biện pháp hỗ trợ (được coi là) không hoặc hầu như không gây bóp méo thương mại Do đó các nước được phép duy trì không giới hạn Đây là những biện pháp hỗ trợ mang tính phổ biến, nằm trong nhóm 13 chương trình mà Hiệp định Nông nghiệp quy định tại Phụ lục 2 và đáp ứng các điều kiện mà Hiệp định đặt ra đối với từng chương trình Nhìn chung, đặc điểm của các biện pháp hỗ trợ thuộc Hộp Xanh lá cây là do ngân sách chính phủ chi trả và không mang tính chất hỗ trợ giá Ví dụ các khoản chi trả mà nông dân nhận được từ ngân sách nhà nước căn cứ trên tiêu chí về mức thu nhập hay mức độ sử dụng yếu tố sản xuất nhưng không trực tiếp liên quan tới hay căn
cứ vào kết quả sản xuất hay phương thức sản xuất của người nông dân đó (còn gọi là hỗ trợ thu nhập tách rời sản xuất) Việc xếp các biện pháp này vào hộp màu xanh (nghĩa bóng là được phép) dựa trên tinh thần là các nước không phải cam kết cắt giảm các biện pháp này, tức là các hỗ trợ trong nước thuộc dạng này không cần phải cắt giảm hay chấm dứt (Dự án Mutrap III, 2010)
Trang 20Hộp xanh lam (Blue box) Hộp Xanh lơ (Blue box): gồm các khoản chi trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước mà gắn với sản xuất và thuộc các chương trình thu hẹp sản xuất nông nghiệp Các nước không phải cam kết cắt giảm các biện pháp này, đồng nghĩa với việc các hỗ trợ trong nước thuộc nhóm này cũng không cần phải cắt giảm hay chấm dứt Mặc dù các biện pháp được xếp vào hộp xanh lơ
có gây bóp méo thương mại, nhưng do nằm trong khuôn khổ thu hẹp sản xuất nông nghiệp nên vẫn được phép duy trì (vẫn có màu xanh), tuy nhiên lại phải chịu sự điều chỉnh chặt chẽ hơn thông thường (nên có màu xanh lơ) (Dự án Mutrap III, 2010)
Hộp hổ phách (Amber box) gồm các biện pháp hỗ trợ bị coi là gây bóp méo sản xuất và thương mại và vì thế các nước phải cam kết cắt giảm theo một lộ trình nhất định Các biện pháp được xếp vào hộp hổ phách có thể là hỗ trợ giá, trợ cấp gắn với sản xuất, tức là tất cả các biện pháp hỗ trợ trong nước mà không nằm trong hộp xanh lá cây và xanh lơ Tại Vòng đàm phán Uruguay, các nước được yêu cầu lượng hóa cụ thể các biện pháp hỗ trợ trong hộp hổ phách thành một con số chung gọi là Tổng hỗ trợ gộp (Total Aggregate Measurement of Support - Total AMS, tức là tổng hỗ trợ (AMS) cho từng sản phẩm cụ thể gộp với tổng hỗ trợ (AMS) không theo sản phẩm cụ thể) và kê khai trong Biểu cam kết của từng nước để căn cứ vào đó đưa ra cam kết cắt giảm (Theo cơ chế của Hiệp định Nông nghiệp thì cam kết cắt giảm được đưa ra căn cứ trên mức Tổng
hỗ trợ gộp, nghĩa là cho phép chuyển đổi hỗ trợ AMS giữa các sản phẩm với nhau, miễn là mức Tổng hỗ trợ gộp cuối cùng tuân thủ mức cam kết đưa ra) Theo quy định của Hiệp định Nông nghiệp, tổng hỗ trợ AMS cho từng sản phẩm
cụ thể và tổng hỗ trợ AMS không theo sản phẩm cụ thể không bị tính vào mức Tổng hỗ trợ gộp (Total AMS) nếu dưới ngưỡng hỗ trợ cho phép (de minimis) Ngưỡng hỗ trợ cho phép đối với nước đang phát triển là 10% giá trị sản lượng của sản phẩm nếu là hỗ trợ cho sản phẩm cụ thể và là 10% giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước nếu là hỗ trợ không theo sản phẩm cụ thể; còn ngưỡng cho phép đối với nước phát triển là 5% (Dự án Mutrap III, 2010)
2.1.1.3 Phân loại chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp
Theo OECD (2015) chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp được chia thành:
Hỗ trợ vật tư trực tiếp cho sản xuất: trực tiếp cung cấp cho hộ nông dân các loại vật tư cụ thể mà hộ không phải thanh toán Trên thực tế, các loại vật tư
Trang 218
như nilon che phủ mạ, thuốc diệt chuột, vắc xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm
và công tiêm phòng… thường được hỗ trợ theo hình thức này (OECD, 2015)
Trợ giá vật tư: nhà nước hỗ trợ một phần giá vật tư, nông dân chi trả phần còn lại, không phải trả toàn bộ giá vật tư Nhận hỗ trợ này, các hộ nông dân có thể mua được các loại vật tư nông nghiệp, điển hình như giống cây trồng, với giá thấp hơn trên thị trường (OECD, 2015)
Hỗ trợ vay vốn mua vật tư: nhà nước hỗ trợ nông dân vay vốn với lãi suất
ưu đãi, hoặc không phải trả lãi suất để mua vật tư nông nghiệp Đối với loại hỗ trợ này, thường phải cần một cơ quan trung gian cho vay và quản lý vốn như các ngân hàng, tổ chức tín dụng… Các loại vật tư nông nghiệp thuộc diện được hỗ trợ thường có giá trị lớn, là các máy móc, trang thiết bị hiện đại dùng trong sản xuất như máy cày, máy gặt, máy tuốt lúa, bảo quản chế biến nông sản, ấp trứng gia cầm…(OECD, 2015)
Hỗ trợ theo hình thức trả chậm: hình thức hỗ trợ này còn tương đối mới, chưa được thực hiện một cách phổ biến, rộng rãi Nông dân được nhận vật tư từ các đơn vị cung ứng nhưng chưa phải thanh toán ngay mà ký hợp đồng thỏa thuận với bên cung ứng để thanh toán sau, thường là sau khi thu hoạch Nông dân nhận hỗ trợ có trách nhiệm trả một khoản lãi suất cho đơn vị cung ứng vật tư Là một nội dung thuộc chương trình hỗ trợ nông dân nên khoản lãi suất này thường rất thấp và được dự tính nằm trong khả năng chi trả của nông dân (OECD, 2015)
2.1.2 Nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp
Theo Vũ Cao Đàm (2011), nội dung thực hiện chính sách bao gồm 7 bước
cơ bản sau:
Chuẩn bị triển khai Đây là bước cần thiết và quan trọng vì tổ chức thực hiện chính sách là quá trình phức tạp và diễn ra trong thời gian dài, do đó phải được chuẩn bị trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các văn bản chính sách thường được xây dựng mang tính định hướng và khái quát cao Vì vậy, khi đưa vào thực hiện, các chính sách hay chương trình đó cần được chuẩn bị sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương Công tác chuẩn bị bao gồm: Xây dựng
cơ quan tổ chức thực hiện; Xây dựng chương trình hành động (lập các kế hoạch
về tổ chức, vật lực, nhân lực…); Ra văn bản hướng dẫn; Tổ chức tập huấn cán bộ thực hiện chính sách
Trang 22Các chính sách hỗ trợ cần được cụ thể hóa thành các kế hoạch của các cấp
và các ngành Kế hoạch càng cụ thể, tính khả thi càng cao Kế hoạch cần được xây dựng theo xu hướng có sự tham gia của các cấp, các ngành và cộng đồng Cần cân đối giữa khả năng về nguồn lực và nhu cầu hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo hài hòa giữa sự hỗ trợ của Nhà nước với phát huy sự đóng góp của người dân (Nguyễn Hải Hoàng, 2011)
Phổ biến, tuyên truyền chính sách: Đây là công đoạn tiếp theo sau khi chính sách đã được thông qua Công đoạn này cần thiết vì nó giúp đối tượng hưởng lợi và các cấp chính quyền hiểu được về chính sách, giúp chính sách được triển khai thuận lợi, có hiệu quả Để làm được việc tuyên truyền này, cần được đầu tư về trình độ chuyên môn cho người thực hiện, trang thiết bị kỹ thuật… Thông qua việc tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách, người thực hiện có thể hiểu rõ thêm về mục đích, yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn của chính sách để tự giác thực hiện theo đúng yêu cẩu về quản lý của Nhà nước Việc tuyên truyền cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục với mọi đối tượng ngay cả khi chính sách đang được thực hiện Có thể phổ biến, tuyên truyền chính sách bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với đối tượng tiếp nhận, gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng (Vũ Cao Đàm, 2011)
Phân công phối hợp thực hiện chính sách: Một chính sách thường được thực hiện trên một địa bàn rộng lớn và nhiều tổ chức tham gia, do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm vụ Mặt khác, các hoạt động thực hiện có mục tiêu rất đa dạng, phức tạp nên cần có sự phối hợp giữa các cấp ngành để triển khai chính sách Nếu hoạt động này diễn ra theo đúng tiến trình một cách chủ động, khoa học, sáng tạo thì công tác thực hiện chính sách sẽ đạt hiệu quả cao và được duy trì ổn định Chức năng của các cơ quan điều hành và thực hiện chính sách thường được quy định đầy đủ trong các chính sách của Chính phủ Tuy nhiên, ở cấp huyện, cơ quan điều hành phải được tổ chức đủ mạnh để đảm bảo phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị trên địa bàn huyện, nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của cơ quan quản lý chương trình, đảm bảo tiết kiệm, phân định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đơn vị tham gia vào từng hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp Tùy theo tính chất của các hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp ở các ngành và lĩnh vực
mà phương thức thực hiện có thể thông qua các hình thức đấu thầu, chỉ định thầu,
Trang 2310
huy động cộng đồng tham gia Đội ngũ nhân lực cho thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp bao gồm các cán bộ lãnh đạo và chuyên môn của các ngành cấp tỉnh và huyện, cấp xã và thôn thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp Đội ngũ cán bộ này cần có các kiến thức và kỹ năng thẩm định các dự án/báo cáo đồng thời phải cập nhật thường xuyên các quy trình hướng dẫn triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ (Vũ Cao Đàm, 2011)
Duy trì chính sách Đây là bước làm cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Để duy trì được chính sách, cần có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố, các cơ quan tổ chức thực hiện chính sách phải tạo điều kiện và môi trường để chính sách được thực hiện tốt Người chấp hành chính sách phải có trách nhiệm tham gia tích cực vào thực hiện chính sách Nếu các hoạt động này được tiến hành đồng bộ thì việc duy trì chính sách là việc làm không khó Để có nguồn lực tài chính phục vụ việc thực hiện chính sách, cần phải phát huy cao độ các nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước, sự tài trợ của các tổ chức phát triển và sự đóng góp của dân Phần lớn nguồn lực cho hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bắt nguồn từ tài chính công bao gồm ngân sách đầu tư và ngân sách chi thường xuyên Để triển khai được các hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất phải lập dự án, hồ sơ đầu tư theo các nguồn ngân sách khác nhau Trên cơ
sở đó, phải có cấp thẩm quyền thẩm định và phê duyệt các hạng mục đầu tư Trong điều kiện dân còn nghèo, sự đóng góp có thể không phải bằng tiền thì có thể bằng sức lực và hiện vật thông qua khai thác và sử dụng các nguyên liệu sẵn
có (Vũ Cao Đàm, 2011)
Điều chỉnh chính sách: Đây là việc làm cần thiết, diễn ra thường xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách Dược thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thông thường cơ quan nào lập chính sách thì có quyền điều chỉnh Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh bằng các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Hoạt động này phải hết sức cẩn thận và chính xác, không được làm biến dạng chính sách ban đầu (Vũ Cao Đàm, 2011)
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách: Mọi hoạt động triển khai đều cần kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo chính sách được thực hiện đúng
và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực Các cơ quan Nhà nước thực hiện việc
Trang 24kiểm tra này và nếu tiến hành thường xuyên sẽ giúp đối tượng thực hiện nắm vững được tình hình thực hiện chính sách, phát hiện được những thiếu sót để điều chỉnh chính xác nhất về chính sách, đồng thời tạo sự tập trung thống nhất Công tác kiểm tra này cũng giúp các đối tượng thực hiện nhận thức đúng vị trí để yên tâm thực hiện có trách nhiệm công việc được giao, nắm chắc quyền lợi, nghĩa vụ của mình để từ đó nhận ra những hạn chế để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách (Vũ Cao Đàm, 2011)
Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm, hoàn thiện chính sách Đánh giá tổng kết là việc xác nhận kết quả tác động của chính sách đến đời sống kinh tế - xã hội, bao gồm việc xác lập hệ thống theo dõi, giám sát và đánh giá những chi phí nguồn lực cho việc cho việc thực hiện chính sách Hoạt động này được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình này, có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ chính sách Việc đánh giá phải tiến hành với cả cơ quan quản lý và đối tượng thực hiện chính sách Đây cũng là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công của chính sách (Vũ Cao Đàm, 2011)
Tổ chức thực hiện chính sách là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế cần lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan Nhà nước triển khai thực hiện một cách hoàn toàn chủ động Trong các bước trên, có thể thấy bước chuẩn bị triển khai chính sách là bước quan trọng nhất vì đây là bước đầu tiên làm cơ sở cho các bước tiếp theo Bước này đã dự kiến cả kế hoạch phân công thực hiện, kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách Hơn nữa, tổ chức thực hiện là quá trình phức tạp, do đó lập kế hoạch là việc làm cần thiết (Vũ Cao Đàm, 2011)
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp
Bản chất vấn đề chính sách can thiệp: Vấn đề chính sách can thiệp là những nhu cầu, những bức xúc của đời sống xã hội mà mỗi chính sách đặt ra và giải quyết, tác động trực tiếp đến quá trình hoạch định và thực hiện chính sách
Để thấy được bản chất của vấn đề chính sách, câu hỏi trọng tâm là chính sách có giải quyết được các vấn đề cấp bách của xã hội không? Nếu vấn đề chính sách đơn giản, liên quan đến ít đối tượng thì quá trình thực hiện sẽ dễ dàng và đơn giản hơn Như vậy, tính chất của vấn đề ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn (Vũ Cao Đàm, 2011)
Trang 2512
Sự tuân thủ các bước trong quy trình thực hiện chính sách: Các bước trong quy trình thực hiện chính sách được coi là nguyên lý khoa học đúc kết từ thực tiễn cuộc sống Việc tuân thủ theo đúng và đầy đủ quy trình cũng là một nguyên tắc trong quản lý Việc cắt bớt, bỏ qua một vài bước trong quy trình thực hiện chính sách sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của chính sách (Vũ Cao Đàm, 2011)
Năng lực của cán bộ công chức trong bộ máy quản lý Nhà nước Năng lực của cán bộ công chức trong bộ máy quản lý Nhà nước là yếu tố chủ quan đóng vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách Năng lực của cán bộ công chức là thước đo được đánh giá dựa trên các tiêu chí về đạo đức công vụ, trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác, năng lực tổ chức, khả năng phân tích –
dự báo phát triển kinh tế xã hội, khả năng phát triển các vấn đề chính sách, lựa chọn các vấn đề phải giải quyết và đề ra mục tiêu cũng như các biện pháp cụ thể giải quyết mục tiêu đó… để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong tương lai Yếu tố năng lực càng cao thì chính sách càng được họach định khoa học và khả thi (Vũ Cao Đàm, 2011)
Tiềm lực tài chính của Nhà nước: Các hoạt động chính sách có quy mô về lượng, lan tỏa trên không gian rộng và cần được đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại Vì vậy, tiềm lực tài chính là yếu tố có vị trí quan trọng, là nguồn lực đảm bảo cho quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, phụ thuộc vào nguồn lực mà chủ thể thực hiện có thể sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách Vốn đầu tư của Nhà nước sẽ được sử dụng để tuyên truyền, phổ biến, hiện thực hóa và đưa chính sách vào đời sống Tiềm lực của Nhà nước – nhân tố quyết định khả năng đầu tư, được thể hiện qua sức mạnh về kinh tế, chính trị, thiết chế tổ chức bộ máy cơ quan Nhà nước, tài nguyên thiên nhiên, tài sản Nhà nước (Vũ Cao Đàm, 2011)
Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách: Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách được hiểu là thực lực và tiềm năng của các nhóm trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác, thể hiện trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội… về cả quy mô và trình độ Tiềm lực của các nhóm đối tượng trong hiện tại và tương lai quyết định mức độ tham gia của họ vào chính sách (Vũ Cao Đàm, 2011)
Đặc tính của đối tượng chính sách: Đặc tính của đối tượng chính sách là những tính chất đặc trưng mà các đối tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sử Những đặc
Trang 26tính này bao gồm bao gồm tính tự giác, kỷ luật, sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống… gắn liền với mỗi đối tượng thực hiện chính sách Do đó, cần biết khơi dậy hay kiềm chế nó để đạt được kết quả tốt nhất cho quá trình thực hiện chính sách (Vũ Cao Đàm, 2011)
- Sự đồng tình, ủng hộ của người dân
Chính sách là vấn đề vĩ mô, mang tầm quan trọng trên tất cả các phương diện kinh tế - chính trị - xã hội nên cần sự ủng hộ của người dân Người dân vừa
là đối tượng hưởng lợi của chính sách, đồng thời vừa tham gia hiện thực hóa mục tiêu và chịu tác động của việc thực hiện chính sách Vậy nên, sự đồng thuận của người dân quyết định sự thành công của chính sách Một chính sách đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu, biện pháp thừa hành thì sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ thực hiện
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VẬT
TƯ NÔNG NGHIỆP
2.2.1 Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp ở một số nước trên thế giới 2.2.1.1 Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Trung Quốc
Trong những năm gần đây sự phát triển mạnh mẽ ở khu vực công nghiệp
đã đem lại cho Trung Quốc một nguồn tài lực lớn, nhưng đồng thời cũng đưa đến
sự tụt hậu của khu vực nông thôn về tốc độ và chất lượng tăng trưởng so với khu vực đô thị Chính do một thời gian dài không kịp thời quan tâm đến những thay đổi trong sản xuất nông nghiệp, đời sống nông dân, nên khu vực này có những biến chuyển không tốt Đất đai canh tác ngày càng bị thu hẹp do các dự án sản xuất công nghiệp, đầu tư cho nông nghiệp không theo kịp yêu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế hiện đại Trong khi đó, người nông dân vẫn phải đóng thuế nông nghiệp Có tình trạng là nông dân Trung Quốc đổ xô ra thành phố tìm việc, tạo ra
áp lực với khu vực đô thị, sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng Điều này đòi hỏi cần có một cuộc thay đổi lớn về tốc độ và chất lượng phát triển khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn để hạn chế những mặt trái của quá trình phát triển (Yuneng Du et al., 2011)
Sau 20 năm cải cách và phát triển kinh tế nông thôn, Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định rằng, hiện nay và trong một thời gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc vẫn giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế và
họ chỉ rõ: không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn định của cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc của nhân dân
Trang 2714
cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện đại hóa của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân
2.2.1.2 Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của Đài Loan
Theo Đặng Kim Sơn và Nguyễn Minh Tiến (2000), sự phát triển kinh tế rực rỡ của đài Loan thời gian qua có sự đóng góp rất lớn của nông nghiệp Trong suốt 2 thập niên từ 50 đến 80, tăng trưởng nông nghiệp của đài Loan luôn ở mức trên 5%/năm tạo tiền đề vững chắc cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đài Loan có
4 tổ chức của nông dân là: Nông hội, Hợp tác xã cây ăn quả, Hội thủy lợi và Hội thủy sản đều đăng ký hoạt động và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ, trong
đó quan trọng nhất là Nông hội (Đặng Kim Sơn và Nguyễn Minh Tiến, 2000)
Nông hội đóng vai trò làm cầu nối giữa Chính phủ và nông dân, là tổ chức kinh tế - xã hội – chính trị đặc biệt để tổ chức và giúp đỡ các trang trại hộ nông dân quy mô nhỏ trong quá trình quá trình sản xuất hàng hóa lớn Do có tầm quan trọng đặc biệt, Nhà nước tập trung hỗ trợ nhiều mặt cho Nông hội 50% vốn của nông hội do Chính phủ cung cấp, chưa kể đầu tư trực tiếp khác cho nông thôn như chuyển giao giống mới, tiến bộ kỹ thuật qua các chương trình phát triển (Đặng Kim Sơn và Nguyễn Minh Tiến, 2000)
Ngân sách của Nông hội dành cho hoạt động tín dụng chiếm 70% chi tiêu của hội, trong đó “cung cấp tín dụng cho nông dân nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất
và đời sống” là một trong những mục tiêu hàng đầu Thời kỳ đầu phát triển nông nghiệp, Nhà nước lấy hệ thống tín dụng của nông hội làm công cụ chính đưa tiền vốn về cho nông dân, đồng thời cũng tạo điều kiện cho Nông hội tích lũy vốn Nhà nước cho Nông hội vay không thu lãi với các khoản đầu tư cho nông dân như mua máy móc mở rộng sản xuất, Nông hội cho nông dân vay lại với lãi suất thấp theo quy định của Nhà nước (Đặng Kim Sơn và Nguyễn Minh Tiến, 2000)
Nông hội cũng cung cấp nguyên liệu đầu vào cho sản xuất Từ thập kỷ 60, Nông hội là tổ chức cung ứng nguyên liệu duy nhất đối với mặt hàng nấm và măng tây Chính phủ cũng ủy quyền cho Nông hội dự trữ và phân phối phân bón cho nông dân để phục vụ cho công tác bảo quản nông sản, các Nông hội đầu tư phát triển hệ thống kho tàng một cách rộng rãi Mỗi Nông hội xã đều có hệ thống kho chứa nông sản để phục vụ cho xã viên của mình đối với hoạt động chế biến, chỉ cần sự đồng ý của ban chấp hành Nông hội thì Nông hội có thể tổ chức nhà máy chế biến, cung cấp các dịch vụ cho hội viên Các Nông hội xã và huyện của đài Loan đều có hệ thống nhà máy chế biến nông lâm sản, xay xát để tăng giá trị
Trang 28gia tăng và bảo quản sản phẩm trước khi bán đối với công tác khuyến nông, nhờ việc giúp nông dân áp dụng giống mới và phân bón, năng suất cây trồng tăng lên nhanh chóng Năng suất lúa năm 1948 là 3,8 tấn/ha đã tăng lên 4,8/ha năm 1950
và 5,2 tấn/ha năm 1952 Hoạt động này chủ yếu mang tính trợ giúp nông dân, không mang tính kinh doanh (Đặng Kim Sơn và Nguyễn Minh Tiến, 2000)
Như vậy, các chính sách hỗ trợ được thực hiện đã giúp nông dân đài Loan, thông qua hoạt động của Nông hội, được làm chủ toàn bộ dây chuyền cung ứng vật tư đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp Lấy sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn làm trung tâm, hoạt động kinh doanh cung ứng vật tư nông nghiệp của Nông hội luôn đảm bảo cho nông dân có số lượng, chất lượng, giá cả tốt nhất, cho phép nông dân yên tâm sản xuất đúng chủng loại, chất lượng, thời gian Nông dân vừa là khách hàng, vừa là chủ quản lý; hoạt động chuyển giao kỹ thuật gắn liền với các dịch vụ tín dụng, chế biến, sản xuất giống, tiếp thị Lãi từ dịch vụ tín dụng lại được Nông hội đầu tư trở lại khuyến nông, vừa tạo thị trường thu hút cán bộ kỹ thuật nông nghiệp về làm việc ở nông thôn vừa tạo thị trường cho tiến bộ kỹ thuật, thiết bị cơ giới từ các viện trường đưa vào nông thôn đài Loan đã cho thấy bài học kinh nghiệm về sự gắn bó chặt chẽ giữa Nhà nước và nhân dân, một mặt hỗ trợ, mặt khác vẫn giao cho nông dân tự quản lý, tự
tổ chức các hoạt động gắn bó sống còn với sản xuất nông nghiệp
2.2.2 Chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho nông dân Việt Nam
Từ những năm 2000 đến nay, Chính phủ đã ban hành rất nhiều chính sách
hỗ trợ phát triển nông nghiệp nói chung cũng như hỗ trợ vật tư cho sản xuất nông nghiệp nói riêng Đối với vật tư nông nghiệp, các chính sách hỗ trợ được thực hiện đồng bộ trên rất nhiều hạng mục như giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản; lãi suất vay vốn mua vật tư nông nghiệp; vắc xin thú y… Qua các Quyết định, Thông tư… đã được ban hành, có thể thấy giống cây trồng là hạng mục vật tư được hỗ trợ nhiều nhất, đặc biệt là khi hỗ trợ nhằm mục đích khắc phục hậu quả của thiên tai và dịch bệnh
2.2.2.1 Tổng quan về các chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp đã được ban hành và thực hiện
Quyết định số 62/1999/QĐ-BNN/KNKL ngày 07/09/1999 của Bộ trưởng
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn về định mức tạm thời hỗ trợ vật tư kỹ thuật trong chương trình khuyến nông về gia súc lớn
Trang 2916
Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi
và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000 – 2005
Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 1999 về chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp đến năm 2010
Các Quyết định do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành về định mức tạm thời hỗ trợ vật tư trong chương trình khuyến nông – khuyến lâm (Quyết định số 68/2000/QĐ-BNN-KNKL ngày 21/06/2000, Quyết định số 71/2001/QĐ-BNN ngày 29 tháng 06 năm 2001)
Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn
Các thông tư hướng dẫn thực hiện các dự án hỗ trợ sản xuất thuộc chương trình 135 qua các giai đoạn do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp ban hành (Thông tư số 79/2007/TT-BNN ngày 20/09/2007, Thông tư số 12/2009/TT-BNN ngày 06/03/2009)
Quyết định số 63/2010/QĐ-TTG ngày 15/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản
Quyết định số 580/QĐ-BNN0-CN ngày 28/03/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về giao số lượng và kinh phí trợ cấp giống gốc vật nuôi
Các Quyết định xuất hạt giống bông dự trữ quốc gia hỗ trợ địa phương của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 898/QĐ-TTg ngày 24/06/2009, Quyết định
số 1320/QĐ-TTg ngày 03/08/2011)
Quyết định số 1791/QĐ-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về cơ chế, chính sách hỗ trợ vắc xin tai xanh, dịch tả lợn nhằm đẩy mạnh sản xuất chăn nuôi, bảo đảm đủ nguồn cung ứng thực phẩm và bình ổn giá thị trường Các chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi để khắc phục hậu quả thiên tai:
Trang 30+ Quyết định số 1462/QĐ-TTg ngày 31/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc xuất hạt giống lúa dự trữ quốc gia cho các tỉnh để hỗ trợ nông dân khôi phục sản xuất, khắc phục hậu quả cơn bão số 5 và lũ lụt
+ Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 19/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ
về chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất lúa vụ đông xuân 2007 - 2008 và chăn nuôi trâu, bò bị thiệt hại do ảnh hưởng rét đậm, rét hại năm 2008
+ Quyết định số 1931/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc xuất hạt giống rau dự trữ quốc gia hỗ trợ các tỉnh để giúp nông dân khôi phục sản xuất, khắc phục hậu quả cơn bão số 11
+ Quyết định số 1932/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc hỗ trợ giống cây trồng dự trữ quốc gia cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên bị ảnh hưởng cơn bão số 9
+ Quyết định số 142/2009/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh
+ Quyết định số 1907/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/10/2010 hỗ trợ giống cây trồng dự trữ quốc gia cho địa phương bị thiệt hại do hạn hán, bão số 3, mưa lũ
+ Thông tư số 187/2010/TT-BTC ngày 22/11/2010 của Bộ Tài chính quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh
+ Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 20/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc hỗ trợ giống cây trồng dự trữ quốc gia cho địa phương bị thiệt hại do bão
số 4 và 5
+ Quyết định số 2100/QĐ-TTg ngày 25/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc hỗ trợ giống lúa, giống ngô cho các địa phương bị thiên tai, bão, lũ để sản xuất vụ đông xuân 2011 – 2012
2.2.2.2 Thực tiễn hoạt động hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam cho nông nghiệp và nông thôn trong thời gian qua
Mặc dù là một trong những ngành sản xuất chủ đạo của đất nước nhưng nông nghiệp Việt Nam chưa thực sự được quan tâm đầu tư đúng mức Theo Nguyễn Hồng Thu (2009), đầu tư vào nông nghiệp thấp dẫn đến thực tế tuy GDP
Trang 3118
nông – lâm – thủy sản hàng năm đều tăng song nhìn chung, sản xuất nông nghiệp chưa hiệu quả, chất lượng nông sản thấp Khối lượng hàng hoá xuất khẩu lớn nhưng chủ yếu là nông sản thô, hiệu quả sản xuất thấp nên nông dân không gắn
bó với nông nghiệp Năng suất lao động của nông dân Việt Nam trong nhiều thập
kỷ qua thấp hơn nhiều nước trong khu vực
Là nước đang phát triển, Việt Nam vẫn được quyền thực hiện các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất Theo Phạm Thị Thu Hằng (2009), phần lớn các hình thức hỗ trợ nông nghiệp của nước ta đều nằm trong nhóm “hộp xanh lá cây”, tập trung nhiều nhất là đầu tư cho nông nghiệp (thủy lợi, giao thông, hệ thống sản xuất giống…), công tác phòng chống dịch bệnh, thiên tai, nghiên cứu khoa học, khuyến nông, chương trình cải thiện giống cây trồng, vật nuôi… Theo Nguyễn Hải Hoàng (2011), hầu hết những biện pháp hỗ trợ trong nước thuộc dạng hộp xanh lá cây (chiếm khoảng 91,7% tổng giá trị các khoản hỗ trợ trong nước trong giai đoạn 1996 – 1998), hỗ trợ hộp xanh lơ chiếm khoảng 7,1% và hỗ trợ hộp hổ phách khoảng 1% tổng hỗ trợ trong nước Như vậy là với mức hỗ trợ trong nông nghiệp thuộc hộp hổ phách của Việt Nam là 1%, ở mức rất thấp so với 10%, mức cho phép thông thường của các nước đang phát triển Trong một
số năm khó khăn như giai đoạn 1999 – 2002, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính châu Á, giá nông sản xuống thấp, Chính phủ mới hỗ trợ một số chính sách thu mua nông sản can thiệp thị trường trong nhóm “hộp hổ phách” và trợ cấp xuất khẩu (bù lỗ, thưởng xuất khẩu) Tuy nhiên, những năm gần đây, nhờ giá nông sản thế giới phục hồi nên hầu hết các chính sách trong nhóm “hổ phách” và trợ cấp xuất khẩu đã không còn áp dụng nữa
Về vật tư phục vụ cho sản xuẩt nông nghiệp, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, hoạt động hỗ trợ ở Việt Nam khá đa dạng Loại hỗ trợ, hình thức, mức độ, thời gian áp dụng luôn là vấn đề được quan tâm để nâng cao khả năng sản xuất cũng như sức cạnh tranh cho nền nông nghiệp Hỗ trợ nâng cao chất lượng giống – điển hình như sind hóa đàn bò vàng, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và vật nuôi, cho vay vốn mua máy móc nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp, xây dựng các kho lạnh cho hàng thủy sản
và kho đệm để dự trữ lúa, cà phê, điều, hạt tiêu… là những chính sách thực sự giúp ích cho người nông dân Ngoài ra, tuy đầu tư cho hỗ trợ giống vật nuôi, cây trồng chiếm tỷ trọng không lớn so với đầu tư về cơ sở hạ tầng khắc phục ảnh
Trang 32hưởng của thiên tai nhưng cũng giúp nông dân ổn định tâm lý, có giống tốt để sản xuất
Hỗ trợ vật tư nông nghiệp cũng là một nội dung trong chương trình xóa đói giảm nghèo Theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm
2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, một số hoạt động hỗ trợ vật tư cho sản xuất nông nghiệp (thuộc mục chính sách hỗ trợ sản xuất) đáng chú ý có thể kể đến:
Hỗ trợ một lần toàn bộ tiền mua giống, phân bón cho việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, ưu tiên hỗ trợ trồng lúa lai, ngô lai;
Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền cay tại ngân hàng thương mại Nhà nước để phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản;
Đối với hộ nghèo còn được hỗ trợ phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản: + Được vay tối đa 05 triệu đồng/hộ với lãi suất 0% (một lần) trong thời gian 2 năm để mua giống gia súc (trâu, bò, dê) hoặc giống gia cầm chăn nuôi tập trung hoặc giống thủy sản; hỗ trợ một lần: 01 triệu đồng/hộ để làm chuồng trại chăn nuôi hoặc để tạo diện tích nuôi trồng thủy sản và 02 triệu đồng/ha mua giống để trồng cỏ nếu chăn nuôi gia súc;
+ Hỗ trợ 100% tiền vắc xin tiêm phòng dịch bệnh nguy hiểm đối với gia súc, gia cầm
2.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Sản xuất nông nghiệp luôn hàm chứa những rủi ro cao vì biến động giá cả
và thời tiết, đầu tư cho nông nghiệp mang lại lợi nhuận thấp nên ít hấp dẫn Nhưng sản xuất và sản phẩm nông nghiệp là bắt buộc không thể thiếu đối với xã hội Mặt khác, một yêu cầu bức thiết hiện nay đối với nước ta là nhanh chóng chuyển từ nước chậm phát triển lên nước công nghiệp hoá hiện đại theo định hướng thị trường (đồng nghĩa với bước chuyển từ nền nông nghiệp trình độ thấp sang trình độ cao) Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải có bước đột phá về chính sách
để giải quyết các mâu thuẫn và rào cản phát triển, đưa nền nông nghiệp truyền thống chuyển sang quỹ đạo hàng hoá và thị trường hiện đại; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, tạo ra nền nông nghiệp có giá trị cao dựa trên việc ứng dụng phổ biến các thành tựu khoa học công nghệ và phát triển bền vững Xuất phát từ các vấn đề trên, đã có rất nhiều đề tài, nhiều tác
Trang 33- Lương Tiến Khiêm (2009), Nghiên cứu nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công trong hoạt động khuyến nông ở Nghệ An Mục tiêu: hệ thống hóa cơ
sở lý luận và thực tiễn về khuyến nông, nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ khuyến nông cho người sản xuất; Đánh giá thực trạng và khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ khuyến nông cho người sản xuất của mạng lưới khuyến nông các cấp
ở Nghệ An; Xác định nhu cầu của người sản xuất cần cung cấp, theo nội dung hoạt động khuyến nông ở địa phương; Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ công của khuyến nông Nghệ An trong thời gian tới
- Đỗ Kim Chung (2010), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn hỗ trợ giảm nghèo và đầu tư công cho giảm nghèo, Tạp chí Khoa học và Phát triển Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp Hà Nội Tập 8, số 4
Phần lớn các đề tài trên tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực đầu tư công cho phát triển kinh tế chứ không đi sâu nghiên cứu tình hình, kết quả thực hiện một chính sách cụ thể của Nhà nước về hỗ trợ cho nông nghiệp và nông thôn Việc tiến hành nghiên cứu tình hình thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển sản xuất nông nghiệp là rất cần thiết Nghiên cứu này giúp cho các cấp các ngành ở Tỉnh và ở Huyện có những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả triển khai công tác hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ vật tư nông nghiệp nông nghiệp để cho nền kinh tế ở tỉnh và ở huyện phát triển đúng hướng, tăng được hiệu quả của đầu tư công, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của địa phương
Trang 34PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Quế Võ là một huyện thuộc đồng bằng trung du Bắc Bộ, nằm ở phía đông của tỉnh Bắc Ninh, dọc theo quốc lộ 18, cách thị xã Bắc Ninh khoảng 12 km về hướng tây, cách thủ đô Hà Nội 45km về phía Tây - Nam Với tổng diện tích đất
tự nhiên là 17.769 ha, Quế Võ tiếp giáp với 2 tỉnh và 2 huyện trong tỉnh Phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Bắc giáp huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang; phía tây giáp thành phố Bắc Ninh - tỉnh Bắc Ninh; phía Nam giáp huyện Gia Bình Quế Võ có 3 con sông bao bọc (sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình) với 68 km đê trung ương và địa phương, 22 km quốc lộ 18 Ở vị trí này, Quế Võ khá thuận lợi trong giao thông hàng hoá, dịch vụ và phát triển kinh tế, có điều kiện tiếp cận nhanh với tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho công cuộc công nghịêp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của huyện Quế Võ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa được chia làm hai mùa rõ rệt Mùa đông thì khô và lạnh, bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, khí hậu trong mùa lạnh và hanh, nhiệt độ thấp, thường ít mưa, lượng mưa chỉ chiếm gần 20% tổng lượng mưa cả năm Tuy nhiên , bên cạnh những thuận lợi thì sự thay đổi bất thường của khí hậu cũng gây khó khăn không ít cho phát triển sản xuất Trong đó phải kể đến rét, sương muối ở mùa đông và mưa bão ở mùa mưa (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quế Võ, 2016)
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 35Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Quế Võ qua 3 năm 2013 – 2015
Trang 36Nhìn bảng 3.1 chúng tôi thấy: Đất nông nghiệp năm 2013 của huyện là: 10.897,66 ha chiếm 63,82% tổng diện tích đất tự nhiên Năm 2013 diện tích này chỉ còn 10681,84 ha, chiếm 62,58% tổng diện tích đất tự nhiên Tốc độ phát triển bình quân là 99,00%, có nghĩa là đất nông nghiệp từ năm 2013 - 2015 đã giảm bình quân mỗi năm là 1,00% Nguyên nhân giảm là do: Một phần diện tích đất tự nhiên bị cắt trả lại cho thành phố Bắc Ninh, đây là nguyên nhân chủ yếu nhất Mặt khác, còn có những nguyên nhân và lý do khác nhau như: Xây dựng khu công nghiệp 2 Quế Võ, chuyển đất nông nghiệp sang đất xây dựng cho nên, đất nông nghiệp qua 3 năm đều giảm Từ thực tế, chúng tôi thấy đất đai của huyện ngày càng bị thu hẹp nên các nông hộ cần nhận thức đúng đặc điểm, vai trò và giá trị của đất Các ngành chức năng của huyện cần đẩy mạnh cộng tác quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất, ổn định phát triển dân số để đảm bảo phát triển kinh tế của huyện ổn định và bền vững
3.1.2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động
Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Quế Võ ở bảng 3.2 Năm
2013 dân số của Quế Võ là 151.692 người, so với năm 2013 dân số của huyện tăng
2014 người, với tốc độ tăng bình quân một năm là 1,31% Quế Võ là một huyện thuần nông, nên số khẩu nông nghiệp của Quế Võ chiếm tỷ lệ khá lớn Năm 2013
số khẩu nông nghiệp là 139.384 khẩu, chiếm 90,2% Cụ thể, năm 2014 tổng số lao động của huyện là 65.361 lao động đến năm 2014 con số này là 69.999 lao động
Như vậy tốc độ tăng bình quân mỗi năm về số lao động toàn huyện là 6,4% Số lao động nông nghiệp của Quế Võ năm 2014 là 61.064 lao động chiếm 93,43% tổng số lao động của huyện, nhưng đến năm 2015 là 65,086 lao động nông nghiệp nhưng chỉ chiếm 92, 98%
Số lao động ngành nghề và buôn bán dịch vụ tăng khá nhanh, bình quân mỗi năm tăng 13,84%, lao động chuyên ngành nghề dịch vụ chỉ tăng 1,12% Điều này chứng tỏ rằng các hộ thuần nông muốn tăng thu nhập cho gia đình mình thì phải phát triển thêm ngành nghề phụ, vì nếu chỉ hoạt động trong nông nghiệp thì năng suất lao động sẽ không cao và năng suất lao động cận biên có xu hướng giảm dần, ngoài ra vấn đề rủi ro cao là rất rõ
Qua một số chỉ tiêu tính toán bình quân chúng tôi thấy, bình quân khẩu/hộ năm 2014 là 4,45 khẩu và số lao động bình quân hộ 2,04 lao động Đây là một tỷ
lệ tương đối phù hợp đối với một huyện nông nghiệp Bình quân mỗi hộ có 4,45 người, nhưng số lao động lại là 2,04 như vậy số người ăn theo là không lớn lắm của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp để mỗi lao động có thể hoạt động ở vị trí đúng theo năng lực, sở trường của mình, có như vậy năng suất lao động mới cao, mới góp phần làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội
Trang 37Bảng 3.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện qua 3 năm 2013 – 2015
Trang 383.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng nông thôn là rất quan trọng trong phát triển các ngành kinh tế, kể cả công nghiệp cũng như nông nghiệp và dịch vụ, đây cũng là vấn đề mà Đảng bộ và nhân dân Quế Võ rất quan tâm
Qua điều tra chúng ta thấy: Hệ thống đường giao thông của Quế Võ đã tương đối khang trang Tất cả 23 xã và một thị trấn đều có hệ thống mạng lưới giao thông liên thôn - xã với độ dài 202km, trong đó có rất nhiều thôn xã đã có đường bê tông hoặc đường trải nhựa Đây là một hệ thống rất quan trọng, nó giúp
bà con nông dân có thể đi lại và chuyên chở các vật dụng nông nghiệp một cách hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất lao động Ngoài hệ thống đường liên thôn
- xã, Quế Võ còn có đầy đủ đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, đường thuỷ Điều này đã giúp cho Quế Võ dễ dàng giao lưu, buôn bán và trao đổi với tất cả các vùng trong tỉnh cũng như những vùng lân cận
Về hệ thống thủ lợi: Do huyện tiếp giáp với 3 con sông nên số cửa sông tương đối nhiều, đây là điều kiện rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và Quế
Võ cũng rất quan tâm chú ý đến vấn đề này Cụ thể, huyện đã xây dựng cho các
xã 35 trạm bơm tưới, 17 trạm bơm tiêu và 11 trạm bơm tưới, tiêu cộng với 443
km mương Đây là điều kiện thuận lợi cho bà con nông dân trong huyện tăng cường thâm canh, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi
- Mạng lưới điện và bưu điện cũng được Quế Võ trang bị tới từng thôn,
xã Cụ thể, cho đến nay hầu hết các xã đều có điểm bưu điện văn hoá xã; 100% các xã và số hộ đã có điện để dùng cho sinh hoạt cũng như sản xuất, chính điều này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong huyện
- Về các công trình phúc lợi: Toàn huyện có 4 trường trung học phổ thông với hệ thống phòng học đều được cao tầng hoá, hàng năm đã thu hút hơn 12.000 học sinh đến học và ở mỗi xã đều có các trương mầm non, trường tiểu học và trung học cơ sở
Với điều kiện cơ sở vật chất như vậy rất thuận lợi để Quế Võ có thể phát triển nông nghiệp, nông thôn, và đặc biệt là sản xuât nông nghiệp hàng hoá, so với các huyện khác trong tỉnh, Quế Võ vẫn là đơn vị còn nhiều khó khăn nhất (số liệu được thể hiện qua bảng 3.3)
Trang 40y tế, văn hóa… cải thiện đáng kể đời sống người dân trên địa bàn huyện cả về vật chất và tinh thần
Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 18,8% Trong đó: công nghiệp - xây dựng đạt 31,7%; dịch vụ đạt 15%; nông nghiệp đạt 6,6% Cơ cấu 3 nhóm ngành kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ năm
2010 là 39%-40%-21%
Cùng với xu hướng chung của cả nước, cơ cấu kinh tế của huyện cũng chuyển dịch theo chiều hướng tích cực đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn là giảm
tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp - thủy sản, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại, du lịch, dịch vụ
Bảng 3.4 Cơ cấu các ngành kinh tế
Nhóm ngành
GTSX (tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
GTSX (tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
Nguồn: UBND huyện Quế Võ (2016) 3.1.4 Tiềm năng, lợi thế và những tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế nông hộ
3.1.4.1 Tiềm năng và thuận lợi
Qua nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quế Võ chúng tôi thấy, huyện có những tiềm năng và thuận lợi sau đây:
Địa hình của Quế Võ tương đối bằng phẳng, diện tích đất mặt nước, đất trũng rất ít Mặt khác đất đai ở đây chủ yếu là đất cát pha có độ phèn: 5 - 6 Nếu loại đất này đặt ở đồng bằng sông Cửu Long thì sẽ gặp không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, nhưng nó lại ở miền Bắc, nơi mà hàng năm có một mùa đông tương đối dài (khoảng 3 tháng) cộng với nguồn nhân lực lao động dồi dào và có nguồn nước tưới lớn cung cấp bởi 3 hệ thống sông Đây là điều kiện lý tưởng cho