1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương của hệ thống cây trồng và tiềm năng áp dụng nông nghiệp thông minh tại xã kỳ trung, kỳ anh, hà tĩnh

92 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

viii TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Đào Thị Thắm Tên Luận văn: Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương của hệ thống cây trồng và tiềm năng áp dụng nông nghiệp thông minh tại xã Kỳ Trung,

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đào Thị Thắm

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Thế Ân đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin ghi nhận sự gúp đỡ của TS Elisabeth Simelton, Chuyên gia Quốc tế tại ICRAF Việt Nam đã không chỉ hướng dẫn chu đáo về chuyên môn mà còn tạo điều kiện cho tôi được nhận học bổng nghiên cứu từ tổ chức ICRAF thông qua dự án “CCAFS Climate-smart village project”

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh thái, Khoa Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, các anh, chị cán bộ Trung tâm Nông Lâm Thế giới (ICRAF) đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức thuộc Ủy ban nhân dân

xã Kỳ Trung và người dân xã Kỳ Trung đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đào Thị Thắm

Trang 4

iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình, đồ thị, sơ đồ vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Giả thiết khoa học 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Những đóng góp mới 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Biến đổi khí hậu 4

2.1.1 Khái niệm và nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 4

2.1.2 Biến đổi khí hậu ở châu á và việt nam 4

2.1.3 Kịch bản biến đổi khí hậu 5

2.2 Nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu 8

2.2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp 8

2.2.2 Ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới biến đổi khí hậu 10

2.2.3 Phát triển nông nghiệp bền vững 11

2.2.4 Nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu 13

2.3 Hệ thống cây trồng 15

2.4 Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương 16

2.4.1 Khái niệm, các nghiên cứu đánh giá khả năng dễ bị tổn thương 16

2.4.2 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA) 19

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 22

3.1 Địa điểm nghiên cứu 22

3.2 Thời gian nghiên cứu 22

3.3 Đối tượng nghiên cứu 22

3.4 Nội dung nghiên cứu 22

Trang 5

iv

3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã kỳ trung, huyện kỳ anh, tỉnh

Hà Tĩnh 22

3.4.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp của xã 22

3.4.3 Lập bản đồ phân bố hệ thống cây trồng 22

3.4.4 Đánh giá khả năng dễ tổn thương với bđkh của hệ thống cây trồng 22

3.4.5 Các giải pháp nông nghiệp thông minh cho địa bàn nghiên cứu 23

3.5 Phương pháp nghiên cứu 23

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 23

3.5.2 Phương pháp lập bản đồ có sự tham gia của người dân 23

3.5.3 Điều tra lát cắt sinh thái 23

3.5.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất và khả năng dễ bị tổn thương của hệ thống cây trồng 24

Phần 4 Kết quả và thảo luận 25

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã kỳ trung 25

4.1.1 Điều kiện tự nhiên xã kỳ trung 25

4.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 27

4.1.3 Biến đổi khí hậu tại huyện kỳ anh 29

4.2 Hiện trạng hệ thống cây trồng tại xã kỳ trung 34

4.2.1 Hiện trạng sản xuất của các hệ thống cây trồng 34

4.2.2 Các hệ thống cây trồng tại xã kỳ trung 36

4.2.3 Sự phân bố các hệ thống cây trồng 38

4.3 Khả năng dễ bị tổn thương của hệ thống cây trồng tại xã kỳ trung 44

4.3.1 Hiệu quả kinh tế của các hệ thống cây trồng ở xã kỳ trung 45

4.3.2 Hiệu quả xã hội và môi trường của hệ thống cây trồng ở xã kỳ trung 48

4.3.3 Khả năng dễ bị tổn thương của hệ thống cây trồng xã kỳ trung 54

4.4 Các giải pháp nông nghiệp thông minh cho địa bàn nghiên cứu 60

4.4.1 Cây lúa 60

4.4.2 Cây chè 61

4.4.3 Cây keo 61

4.4.4 Cây ăn quả 61

4.4.5 Đánh giá của người dân về các giải pháp nông nghiệp thông minh 65

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Kiến nghị 69

Tài liệu tham khảo 70

Phụ lục 75

Trang 6

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt

AR5-WG1 Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của ủy ban liên chính phủ về biến đổi

khí hậu AusAID Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc

BĐKH Biến đổi khí hậu

CCAFS Biến đổi khí hậu, Nông nghiệp và An ninh lương thực

CGIAR Nhóm tư vấn nghiên cứu Nông nghiệp Thế giới

CSA Nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

HSTNN Hệ sinh thái nông nghiệp

IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

ICRAF Trung tâm Nông Lâm Thế giới

IMHEN Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế PTNNNBV Phát triển nông nghiệp bền vững

PRA Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia

RCPs Các con đường dẫn đến nồng độ đại diện

SKTTCĐ Sự kiện thời tiết cực đoan

SREX Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện

tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH UBND Ủy ban nhân dân

UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc

WCED Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới

Trang 7

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Mức độ biến đổi các chỉ số cực đoan nhiệt độ ở huyện Kỳ Anh trong

giai đoạn 1961 - 1990 30

Bảng 4.2 Mức độ biến đổi các chỉ số cực đoan lượng mưa ở trạm Kỳ Anh trong giai đoạn 1961 – 1990 31

Bảng 4.3 Diện tích và năng suất của một số loại cây trồng nông nghiệp qua các năm của xã Kỳ Trung 35

Bảng 4.4 Đặc điểm của hệ thống cây trồng hiện tại ở xã Kỳ Trung 36

Bảng 4.5 Bảng phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung 45

Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng 45

Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung 46

Bảng 4.8 Chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội của hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung 48

Bảng 4.9 Giá trị ngày công lao động của hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung 49

Bảng 4.10 Hiệu quả xã hội của hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung 50

Bảng 4.11 Chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường các loại cây trồng 51

Bảng 4.12 Hiệu quả môi trường của hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung 53

Bảng 4.13 Hiệu quả sản xuất của hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung 53

Bảng 4.14 Lịch sử sử dụng đất của xã Kỳ Trung 54

Bảng 4.15 Các sự kiện thời tiết cực đoan thường xuyên xảy ra tại xã Kỳ Trung 55

Bảng 4.16 Lịch sử các sự kiện thời tiết cực đoan tại xã Kỳ Trung trong giai đoạn 2004 – 2015 56

Bảng 4.17 Lịch canh tác hệ thống cây trồng và lịch xảy ra các sự kiện thời tiết cực đoan tại xã Kỳ Trung 57

Bảng 4.18 Các hệ thống cây trồng bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan 58

Bảng 4.19 Mức độ ảnh hưởng của các hệ thống cây trồng tương lai bởi các sự kiện thời tiết cực đoan 60

Bảng 4.20 Hiệu quả dự kiến của các giải pháp nông nghiệp thông minh 62

Bảng 4.21 Đánh giá của người dân về các giải pháp nông nghiệp thông minh 66

Trang 8

vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Dự tính biến đổi khí hậu ở các vùng theo kịch bản nồng độ khí nhà

kính cao (RCP8.5) 7 Hình 4.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu 25 Hình 4.2 Sơ đồ sự phân bố các loại đất tại xã Kỳ Trung 26 Hình 4.3 Sự biến đổi lượng mưa và nhiệt độ trung bình của các tháng trong

vòng 3 thập kỷ gần đây từ năm 1982 đến năm 2011 29 Hình 4.4 Sự biến đổi nhiệt độ từ năm 1982 đến năm 2011 30 Hình 4.5 Sự biến đổi lượng mưa theo tháng trong ba thập kỷ 1982-1991,

1992-2001, 2002-2011 31 Hình 4.6 Biến đổi số đợt nắng nóng vào giữa và cuối thế kỷ 21 theo kịch bản

RCP8.5 Kết quả tính toán theo mô hình CCAM 33 Hình 4.7 Dự tính biến đổi lượng mưa 1 ngày cực đại (a), 5 ngày cực đại (b)

vào cuối thế kỷ 21 theo kịch bản cao RCP8.5 (%) 34 Hình 4.8 Bản đồ các loại đất có sự tham gia của người dân tại xã Kỳ Trung 38 Hình 4.9 Bản đồ sự phân bố của các loại cây trồng 39 Hình 4.10 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất và sự phân bố các sự kiện thời tiết cực

đoan tại thôn Đất Đỏ năm 2015 40 Hình 4.11 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất và sự phân bố các sự kiện thời tiết cực

đoan tại thôn Đông Sơn năm 2015 41 Hình 4.12 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất và Sự phân bố các sự kiện thời tiết

cực đoan tại thôn Trường Sơn năm 2015 42 Hình 4.13 Sự phân bố các loại cây trồng 43

Trang 9

viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đào Thị Thắm

Tên Luận văn: Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương của hệ thống cây trồng và

tiềm năng áp dụng nông nghiệp thông minh tại xã Kỳ Trung, Kỳ Anh, Hà Tĩnh

Ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 60.44.03.01

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu:

Việc phân tích hiện trạng hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung được thực hiện dựa trên việc thu thập các số liệu thứ cấp về hiện trạng sản xuất nông nghiệp của xã Kỳ Trung kết hợp với điều tra lát cắt sinh thái và xây dựng bản đồ phân bố hệ thống cây trồng có sự tham gia của người dân Mỗi nhóm thảo luận bao gồm 7 người dân địa phương trong đó có một người là lãnh đạo thôn Để đánh giá khả năng dễ tổn thương với biến đối khí hậu của các hệ thống cây trồng, đề tài thực hiện đánh giá hiệu quả sử dụng đất của từng loại cây trồng dựa trên các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường kết hợp với đánh giá sự tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan như hạn hán, bão, nắng nóng, mưa rét đến hệ thống cây trồng thông qua lịch canh tác, lịch sử các sự kiện thời tiết cực đoan, lịch xảy ra các sự kiện thời tiết cực đoan

Đề tài sử dụng các số liệu thứ cấp như bản đồ ranh giới hành chính xã Kỳ Trung, bản đồ đất tỉnh Hà Tĩnh, tình hình sử dụng đất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp của xã

Kỳ Trung, số liệu khí tượng của trạm Kỳ Anh kết hợp với số liệu điều tra thực địa, thảo luận nhóm về đặc điểm cũng như sự phân bố của hệ thống cây trồng và các sự kiện thời tiết cực đoan tại xã Kỳ Trung để tiến hành đánh giá khả năng dễ bị tổn thương dưới tác động của biến đổi khí hậu thông qua kịch bản biến đổi khí hậu RCP8.5

Kết quả chính và kết luận:

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung dễ bị tổn thương bởi các sự kiện thời tiết cực đoan Thông qua đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường ta nhận thấy lúa hai vụ, chè và keo là những loại cây trồng có hiệu quả sử dụng đất trung bình, còn sắn và lạc có hiệu quả sử dụng đất thấp Dưới sự tác động của các sự kiện thời tiết cực

Trang 10

ix

đoan như bão, nắng nóng, mưa rét đặc biệt là hạn hán thì lúa, lạc, chè là ba loại cây trồng dễ

bị tổn thương nhất trong khi đó khả năng bị tổn thương của keo chỉ ở mức trung bình và của sắn chỉ ở mức thấp Khi sử dụng kịch bản biến đổi khí hậu RCP8.5 để đánh giá hệ thống cây trồng trong tương lai 5 đến 10 năm tới dựa trên sự tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan hiện tại với sự tham gia của người dân ta nhận thấy lúa, chè, cây ăn quả dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, còn cây keo ít bị ảnh hưởng Từ kết quả đánh giá và hướng sử dụng đất trong tương lai của người dân đề tài đã đưa ra những giải pháp nông nghiệp thông minh như trồng xen chè với cây đậu xanh; trồng xen keo với các loại cây lấy gỗ có giá trị kinh tế cao khác; sử dụng giống lúa ngắn ngày; trồng xen canh cây ăn quả với hướng dương, cỏ chăn nuôi hoặc rau màu nhằm giúp hệ thống cây trồng có khả năng thích ứng và giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu đồng thời vẫn đảm bảo phát triển kinh tế và vấn đề

an ninh lương thực

Trang 11

x

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Dao Thi Tham

Thesis title: Assessing vulnerability to climate change in cropping systems and

potential for climate-smart agriculture: A case study at Ky Trung commune, Ky Anh district, Ha Tinh province

Major: Environmental Sciences Code: 60.44.03.01

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:

The objective of thesis is to analyze the current cropping systems of Ky Trung commune and assess vulnerability of cropping systems to climate change based on scenarios RCP8.5 The assessment results were used to propose climate-smart solutions

to improve cropping systems, adapting to climate change at the study area

Materials and Methods:

Field survey and focus group discussion that includes transect walks and participatory mapping was the main methods applied for analyzing the distribution of cropping systems There are seven local people were invited to take part in each group discussion The focus group discussion was also applied for assessing the vulnerability

to climate change of cropping systems based on land uses under the impacts of extreme weather events such as drought, storm, hot spell and cold spell The efficient land use of each crop was assessed through economic, social and environmental indicators The participaints discussed about farming calendar, history of extreme weather events, extreme weather events calendar, characteristic of cropping system They also assessed efficient land uses, climate-smart technologies and drawn distribution of cropping system maps, distribution of extreme weather events maps, soil maps of each village In this study the RCP8.5 scenarios was used to assess the vulnerability of cropping system

Main findings and conclusions:

Research results indicates that the cropping system of Ky Trung is easy vulnerability by extreme weather events Through assessing economic, social and environment indicators we realized that efficient land uses of main crops was not high Rice (double rice), Tea and Acacia had average efficient land use while Cassava and Peanut had low efficient land use Under the impact of extreme weather events such as storm, hot spell, cold spell, drought, Rice, Peanut and Tea are the most vulnerable crops, whereas vulnerability of Acacia and Cassava are low When using climate change

Trang 12

xi

scenarios RCP8.5 to assess cropping systems in the future (5 to 10 years later) based on impact of current extreme weather events, participations (farmers) reported that Rice, Tea, Fruit tree are easy to be affected by climate change while Acacia is less affected Based on the results of the assessment, the climate-smart technologies were suggested such as tea intercrops green bean; acacia intercrops high value timber tree; planting short-day rice, fruit tree intercrops sunflower, grass or vegetables… to improve cropping systems for mitigating and adapting to climate change while still ensuring economic development and food security for local people

Trang 13

1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng trên thế giới do sự tác động của các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người Hệ quả của biến đổi khí hậu đã và đang gây ra nhiều thiệt hại về mặt kinh tế đặc biệt ngành nông nghiệp Theo Ngân hàng Thế giới (2013) thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra cho toàn thế giới ước tỉnh khoảng 7.000 tỉ USD Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Theo thống kê rủi ro lâu dài do biến đổi khí hậu, nước ta đứng thứ 7 trên toàn cầu về thiệt hại do biến đổi khí hậu, từ năm 1994 đến 2013 cứ trung bình mỗi năm có 392 người chết và thiệt hại hơn 1% GDP do các thảm họa liên quan đến biến đổi khí hậu Năm 2015 ước tính thiên tai đã làm 154 người chết, hơn 445.000 ha diện tích lúa, hoa màu bị thiệt hại, tổng thiệt hại ước tính khoảng 8.114 tỷ đồng Chỉ riêng đợt nóng gay gắt trong năm 2015 với nền nhiệt cao kỷ lục ở Bắc Bộ đến Nam Trung Bộ đã khiến hơn 190.000 ha bị hạn hán và hơn 44.000 gia súc, gia cầm bị chết Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của tổ chức DARA (2012) thì biến đổi khí hậu có thể làm Việt Nam thiệt hại khoảng 15 tỉ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP Nếu Việt Nam không có giải pháp ứng phó kịp thời, thiệt hại do biến đổi khí hậu ước tính có thể lên đến 11% GDP vào năm 2030 Kết quả phân tích mô hình cây trồng của Viện Môi trường Nông nghiệp (Viện Môi trường Nông nghiệp, 2010) cho thấy biến đổi khí hậu có khả năng làm giảm sản lượng lúa xuân khoảng 1,2 triệu tấn vào năm 2030 và 2,16 triệu tấn vào năm 2050; đối với lúa hè thu là 734,8 tấn vào năm 2030 và 1475 tấn vào năm 2050 Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Những phương thức canh tác, thâm canh đã và đang được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp nói chung nhằm tăng năng suất đang làm giảm tính bền vững của môi trường, đồng thời làm gia tăng khả năng dễ bị tổn thương của hệ thống nông nghiệp trước vấn đề biến đổi khí hậu Để phát triển nông nghiệp một cách bền vững trước sự biến đổi của khí hậu đòi hỏi mỗi địa phương cần có những biện pháp sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện của mình, có khả năng thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu

Trang 14

2

Xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là một xã thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc, có hai mùa rõ rệt trong năm là mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng thường chịu ảnh hưởng của gió Tây khô – nóng (hay còn gọi là gió Lào), lượng mưa ít nên thường

bị khô hạn, mùa lạnh tuy có nhiệt độ không thấp và ngắn hơn so với các tỉnh miển Bắc nhưng lại có lượng mưa lớn, trung bình hàng năm đều trên 2000mm nên thường xuất hiện lũ lụt, lũ quét, lốc xoáy, sạt lở đất…Đặc biệt là hiện nay dưới tác động của biến đổi khí hậu mà các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng nhiều và có diễn biến thất thường gây ảnh hưởng lớn đến các hệ thống cây trồng trong khu vực, dẫn đến thu nhập của người dân bị giảm sút, đời sống khó khăn, cần được cải thiện

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng

dễ bị tổn thương của hệ thống cây trồng và tiềm năng áp dụng nông nghiệp thông minh tại xã Kỳ Trung, Kỳ Anh, Hà Tĩnh”

1.2 GIẢ THIẾT KHOA HỌC

- Hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung dễ bị tổn thương bởi các sự kiện thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra

- Có khả năng thực hiện nông nghiệp thông minh tại xã Kỳ Trung

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Phân tích được hiện trạng của hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung

- Đánh giá được khả năng dễ bị tổn thương của các hệ cây trồng chính tại

xã Kỳ Trung hiện tại và trong tương lai dựa trên kịch bản biến đổi khí hậu

- Đề xuất được một số giải pháp cải thiện thống sử dụng đất nông nghiệp có khả năng thích ứng biến đổi khí hậu trên địa bàn nghiên cứu

và tiếp tục tăng sau kỳ dự đoán

Trang 15

3

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI

- Xây dựng được bản đồ thể hiện sự phân bố của hệ thống cây trồng tại xã

Kỳ Trung

- Đánh giá được khả năng dễ bị tổn thương của các hệ thống cây trồng tại

xã Kỳ Trung hiện tại và trong tương lai dưới tác động của biến đổi khí hậu với sự tham gia của người dân

- Đưa ra được các giải pháp nông nghiệp thông minh phù hợp với điều kiện

của địa phương

Trang 16

2.1.1.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu

Theo Công ước khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi khí hậu nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính (CO2, CH4, NOx…), các hoạt động khai thác quá mức các

bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái ven biển, ven bờ và đất liền khác Sự gia tăng hàm lượng các khí nhà kính đã làm trái đất nóng lên thông qua hiện tượng hiệu ứng nhà kính từ đó dẫn đến sự biến đổi về mặt khí hậu

2.1.2 Biến đổi khí hậu ở Châu Á và Việt Nam

Hiện tượng biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường đang nổi lên như là một trong những vấn đề phát triển nhức nhối nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm tỷ lên 91% tổng số ca

tử vong và 49% tổng thiệt hại của thế giới do thiên tai gây ra trong thế kỷ qua Người nghèo sống ở các vùng đồng bằng thấp, trũng ở Bangladesh, Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc cũng như các quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương sẽ phải gánh chịu nguy cơ cao nhất Trong năm 2011, các thảm họa thiên nhiên khiến khu vực châu Á – Thái Bình Dương thiệt hại 1 tỷ USD

Một báo cáo gần đây của Standard & Poor cho biết, biến đổi khí hậu cũng

sẽ ảnh hưởng đến chỉ số tín nhiệm của các quốc gia như Cambodia, Việt Nam

và Bangladesh Hoạt động sản xuất ngô, lúa, mì đã giảm ở nhiều nơi ở châu Á trong vài thập niên qua do căng thẳng về nguồn nước – phát sinh chủ yếu vì nhiệt độ tăng cao và hiện tượng El Nino thường xuyên xảy ra khiến lượng mưa ngày càng giảm

Trang 17

5

Theo nghiên cứu của Murdiyarso (2000) dự báo dựa trên kịch bản biển đổi khí hậu của IPCC đưa ra thì sản lượng gạo của châu Á có thể giảm tới 3,8% tới năm 2100 dưới tác động tổng hợp của việc gia tăng sử dụng phân bón CO2, nắng nóng và thiếu nước Gần 50% đa dạng sinh học của châu Á có thể bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, theo nghiên cứu của Malcolm và nhóm nghiên cứu (2006)

dự báo nếu lượng CO2 tăng gấp đôi sẽ dẫn tới sự tuyệt chủng của 133 đến 2835 loài thực vật trong vùng Indonexia-Mianma

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế Giới, Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình trên phạm vi cả nước ta đã tăng 0,5°C/năm Riêng năm 2015, do tác động của hiện tương El-Nino, nền nhiệt độ tăng khoảng 0,5-1°C so với trung bình nhiều năm và có số ngày nắng nóng kéo dài hơn Lượng mưa có xu hướng giảm

ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ Trên Biển Đông, bão và áp thấp nhiệt đới có xu hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta Đặc biệt, tần suất hoạt động của bão mạnh, siêu bão ngày càng gia tăng với mức độ ảnh hưởng lớn, mùa mưa bão kết thúc muộn hơn so với trước đây Hạn hán, nắng nóng có xu thế tăng lên và không đồng đều giữa các khu vực, nhất là ở Trung Bộ và Nam Bộ Trong

10 năm 2001-2010, thiên tai đã làm 9500 người chết và mất tích, thiệt hại về kinh

tế là 1,5% GDP/năm

Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho thấy, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình của nước ta sẽ tăng 2-3°C, kéo theo đó mực nước biển có thể dâng lên khoảng 1m Khi đó hậu quả là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập 39% diện tích, riêng TP Hồ Chí Minh ngập 20% diện tích; các tỉnh ven biển ở Đồng bằng sông Hồng ngập 10%; các tỉnh miền Trung là 3% Đồng thời, sẽ có 10-12% dân số nước ta chịu tác động trực tiếp của BĐKH, tổn thất về kinh tế sẽ là 10% GDP/năm

2.1.3 Kịch bản biến đổi khí hậu

Ngày 27/9/2013, Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), đã công

bố Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5-WG1) về hiện trạng BĐKH toàn cầu theo góc nhìn vật lý cơ bản Trong báo cáo AR5-WG1, để diễn tả các kịch bản phát triển kinh tế xã hội toàn cầu các tác giả sử dụng thuật ngữ RCPs (Representative Concentration Pathways) tạm dịch là “Các đường dẫn đến nồng độ đại diện”, tức

Trang 18

6

là các con đường phát triển kinh tế xã hội đưa đến việc trái đất tích tụ các nồng

độ khí nhà kính khác nhau và nhận được lượng bức xạ nhiệt tương ứng Có 4 RCPs được mô tả để dự đoán khí hậu trái đất trong tương lai đến năm 2100: RCP2.6 là nhóm kịch bản phát triển thuộc loại thấp, nhiệt lượng bức xạ mặt đất nhận ít hơn 3 watt cho một 1m2(3w/ m2); RCP8.5 nhóm kịch bản thuộc loại cao

mà bức xạ mặt đất nhận được sẽ lớn hơn 8,5 W/ m2 và tiếp tục tăng sau thời kỳ

dự đoán; RCP6.0 và RCP4.5, hai nhóm kịch bản ổn định trung gian trong đó cưỡng bức bức xạ được ổn định ở mức khoảng 6 W m2 và 4,5 W/ m2 Nồng độ khí nhà kính quy đổi thành khí CO2 cho từng RCP là: 475 ppm cho RCP2.6; 630 ppm cho RCP4.5; 800 ppm cho RCP6.0 và 1313 ppm cho RCP8.5

Theo kết quả nghiên cứu của dự án “Dự tính khí hậu tương lai với độ phân giải cao cho Việt nam” được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (AusAID) thực hiện năm 2013 theo hai kịch bản phát thải khí chủ yếu là RCP4.5 và RCP8.5 thì nhiệt độ các vùng khí hậu của Việt Nam sẽ tăng từ 0,8°C đến 3,4°C vào năm

2050 và tiếp tục tăng đến cuối thế kỷ 21 Hệ quả của sự nóng lên là gia tăng số ngày nắng nóng (trên 35°C) và các đợt nắng nóng (trên 5 ngày liên tục có nhiệt

độ cực trị trên 35°C) Về lượng mưa thì lượng mưa trung bình năm dự tính trên 7 vùng khí hậu có sự biến đổi, dao động từ -16% đến +36% vào giữa thế kỷ (2050)

và biến đổi mạnh hơn chút ít vào cuối thế kỷ 21 Hoạt động của bão trên Biển Đông có xu thế giảm nhưng cường độ có xu thế mạnh hơn Mực nước biển sẽ tăng từ 100mm đến 400mm và năm 2050 trên toàn dải bờ biển Việt Nam, với mức tăng ít hơn ở vùng biển phía Bắc Xu thế tăng của mực nước biển tiếp tục duy trì đến cuối thế kỷ 21 và sau đó nữa Dự tính biến đổi khí hậu ở các vùng của Việt Nam theo kịch bản nồng độ không khí cao RCP8.5 được thể hiện rõ trong hình 2.1 sau:

Trang 19

7

Hình 2.1 Dự tính biến đổi khí hậu ở các vùng theo kịch bản

nồng độ khí nhà kính cao (RCP8.5) (Nguồn: Dự tính khí hậu tương lai với độ phân giải cao cho Việt nam, 2013)

Trong báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX) năm 2015 cũng đưa ra sự thay đổi về tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan theo kịch bản phát thải RCP8.5 Theo kịch bản cao RCP8.5, số ngày nắng nóng dự tính đến giữa thế kỷ 21 tăng phổ biển từ 20-30 ngày so với thời kỳ 1980-

1999 ở khu vực Nam Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các khu vực khác có mức tăng thấp hơn Đến cuối thế kỷ 21, số đợt nắng nóng (3 ngày liên tiếp xuất hiện nắng nóng) được dự tính gia tăng ở hầu hết khu vực của Việt

Trang 20

8

nam, đặc biệt khu vực Nam Bộ và Nam Tây Nguyên với mức tăng có thể lên tới

6 đến 10 đợt; các khu vực còn lại có mức tăng từ 2 đến 6 đợt Tần suất mưa lớn

dự tính sẽ tăng trong thế kỷ 21 ở nhiều vùng của Việt Nam Số ngày mưa lớn có

xu thế giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng nhẹ ở vùng Nam Bộ; tăng khá mạnh ở Trung Nam Bộ và Tây Nguyên Dự tính trong thế kỷ 21, số ngày với lượng mưa lớn hơn 50mm sẽ tăng ở miền Bắc và miền Nam, đặc biệt là vùng núi Tây Bắc Khu vực miền Trung có xu thế giảm nhẹ Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ dự kiến dẫn đến những thay đổi về lũ lụt, hạn hán Hạn hán có khả năng gia tăng và kéo dài trong thế kỷ 21 trong một số mùa và ở hầu hết các vùng khí hậu của Việt Nam, do lượng mưa giảm và/hoặc tăng quá trình bốc hơi nước Các đợt hạn nặng đã và đang xuất hiện nhiều hơn ở nhiều nơi, đặc biệt là hạn cực khắc nghiệt, trong đó, tần suất hạn cao chủ yếu xảy ra tập trung vào các tháng vụ đông xuân (từ tháng 1 đến tháng 4) và vụ hè thu (từ tháng 5 đến tháng 8) Tần suất hoạt động của El Nino với nhiệt độ mặt nước biển dị thường trên khu vực trung tâm xích đạo Thái Bình Dương sẽ có xu thế tăng

2.2 NÔNG NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

2.2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp

Biến đổi khí hậu và nông nghiệp là hai quá trình liên quan với nhau, cả hai đều diễn ra trên quy mô toàn cầu Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp theo một số cách khác nhau, bao gồm cả việc thông qua sự thay đổi về nhiệt độ trung bình, lượng mưa và khí hậu cực đoan ( ví dụ: sóng nhiệt); thay đổi sâu và dịch bệnh; những thay đổi nồng độ CO2 trong khí quyển và ozone mặt đất; những thay đổi về chất lượng dinh dưỡng của một số loại thực phẩm và những thay đổi trong mực nước biển Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, với các tác động phân bố không đồng đều trên toàn thế giới Biển đổi khí hậu trong tương lai sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất cây trồng ở các nước nằm trong vùng vĩ độ thấp, trong khi đó lại có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với các nước ở vĩ độ phía bắc Biến đổi khí hậu sẽ làm gia tăng nguy cơ mất

an toàn thực phẩm đối với một số nhóm dễ bị tổn thương như người nghèo Nhìn chung, sự thay đổi khí hậu có thể dẫn đến một loạt các tác động vào nông nghiệp

về mặt sinh lý, sinh thái và kinh tế như:

1 An ninh lương thực không được đảm bảo do suy giảm năng suất cây trồng

2 Thay đổi nguồn nước do nhiều vùng bị cạn kiệt nguồn nước ngọt nhưng nhiều vùng lại bị ngập lụt, nước biển dâng

Trang 21

9

3 Ảnh hưởng đến hệ sinh thái như mất cân bằng, suy giảm đa dạng sinh học

4 Hiện tượng thời tiết cực đoan khó dự báo

5 Rủi ro và các thay đổi khác như thiệt hại đến cơ sở hạ tầng,…

Mặc dù đã có những tiến bộ về mặt công nghệ trong nông nghiệp như cải tiến các giống cây trồng, sinh vật biến đổi gen và cải tạo hệ thống thủy lợi nhưng thời tiết vẫn là một yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cũng như các thuộc tính của đất và các quần thể tự nhiên Ảnh hưởng của khí hậu đối với nông nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm khí hậu của từng vùng hơn là trong các mô hình khí hậu toàn cầu Một nghiên cứu năm 2008 được công bố trên tạp chí khoa học cho rằng, do biến đổi khí hậu miền nam châu Phi có thể mất nhiều hơn 30% sản lượng ngô vào năm 2030 Trong đó tại Nam Á các mặt hàng chủ lực trong khu vực như gạo, kê, ngô có thể giảm trên 10%

Việt Nam đặc thù là nước nông nghiệp, với hai vựa lúa lớn là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông cửu Long BĐKH đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp Tác động của BĐKH đến trồng trọt qua các biểu hiện như mất diện tích canh tác, giảm năng suất, chất lượng nông sản, cùng với đó là tăng nguy cơ xuất hiện các loại dịch bệnh Từ đó làm sụt giảm mạnh thu nhập từ trồng trọt BĐKH cũng làm thay đổi quy luật của các con sông gây nên hạn hán, cũng như làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, làm mất đi hoặc thay đổi các mắt xích trong chuỗi thức ăn dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài sinh vật và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại dịch bệnh Nhiệt độ tăng trong mùa đông sẽ tạo điều kiện cho sâu bọ có khả năng sinh sôi nhanh hơn và gây hại mạnh hơn BĐKH cũng có thể làm phát sinh một số chủng, nòi sâu mới, gây hại không những trong sản xuất mà còn trong bảo quản nông sản, thực phẩm

Những thay đổi của khí hậu sẽ dẫn đến sự biến đổi đặc tính của đất và ảnh hưởng đến sự thích hợp sinh trưởng của các loại cây trồng Nhiều loại cây trồng không thể thích ứng kịp với sự thay đổi của thời tiết Hiện tượng khô cằn, sa mạc hóa, cùng với việc mặn hóa, giảm lượng nước ngầm và sự dâng lên của nước biển làm cho diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp Rủi ro tăng lên do lũ lụt bất thường Những thay đổi trong phân bổ nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp như trồng trọt và chăn nuôi Các mối đe dọa từ việc tăng sâu bệnh và dịch bệnh

do thay đổi trong phân bổ sinh vật truyền bệnh Diện tích gieo trồng bị thu hẹp,

Trang 22

10

đất đồng bằng bị nhiễm mặn do BĐKH, nước biến dâng cao sẽ khiến cho nhiều vùng đất ven biển, khu vực đồng bằng bị nhiễm mặn, diện tích gieo trồng sẽ bị thu hẹp gây ra hiện tượng thiếu đất canh tác Theo dự báo BĐKH của Bộ tài nguyên và Môi trường (2012), nếu nước biển dâng lên 1 mét sẽ có khả năng ảnh hưởng tới 6,3% diện tích Việt Nam, khoảng 39% diện tích ở Đồng bằng sông Hồng, và trên 10% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và trên 2,5% diện tích

ven biển miền Trung

2.2.2 Ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sản xuất nông nghiệp, nhưng bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp là một trong những yếu tố chính gây lên biến đổi khí hậu Theo các nghiên cứu, nông nghiệp chịu 1/3 trách nhiệm của sự biến đổi khí hậu, 25% lượng khí thải CO2 thải ra từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là phá rừng, việc sử dụng các loại phân bón hóa học, việc đốt các phế phụ phẩm nông nghiệp Hầu hết các khí CH4 trong khí quyển xuất phát từ quá trình tiêu hóa của động vật nhai lại, cháy rừng, canh tác lúa nước

và các phế phụ phẩm nông nghiệp Trong khi đó việc làm đất thông thường và sử dụng phân bón chiếm khoảng 70% lượng nitơ oxit phát thải ra môi trường không khí Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu, ba nguyên nhân chính của

sự gia tăng lượng khí nhà kính quan sát thấy trong vòng 250 năm qua là sử dụng nhiên liệu hóa thạch, sử dụng đất đai và nông nghiệp Qua nhiều thế kỷ, con người đã có nhiều tiến bộ về mặt công nghệ trong nông nghiệp cho phép gia tăng đáng kể năng suất cây trồng, đáp ứng tốc độ tăng trưởng của dân số Phương pháp thâm canh trong nông nghiệp hiện nay là một trong những yếu tố gây tác động có hại đến môi trường Ngành nông nghiệp đã trở thành một trong những yếu tố chính trong việc phát sinh khí thải và hiệu ứng sử dụng đất Nông nghiệp góp phần làm gia tăng khí nhà kính thông qua việc sử dụng đất bằng những cách khác nhau như:

1 Lượng khí CO2 phát thải liên quan đến nạn chặt phá rừng, nơi những cánh rừng bị chặt phá để nhường chỗ cho những cánh đồng canh tác và đồng cỏ

2 Phát thải khí metan từ hoạt động trồng lúa và lên men trong đường ruột của gia súc

3 Phát thải khí nito oxit từ hoạt động sử dụng phân bón

Cùng với điều đó, những quá trình sản xuất nông nghiệp chiếm 54% lượng khí thải metan, khoảng 80% lượng khí thải nito oxit và hầu như tất cả lượng khí

Trang 23

11

thải CO2 gắn liền với việc sử dụng đất Nạn phá rừng đã ảnh hưởng đến khả năng tái hấp thu CO2 trong khu vực từ đó dẫn đến tăng nồng độ CO2, loại khí nhà kính chủ đạo Trên thế giới, sản xuất chăn nuôi chiếm 70% diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp, 30% diện tích bề mặt của trái đất

2.2.3 Phát triển nông nghiệp bền vững

2.2.3.1 Khái niệm phát triển bền vững

Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên và năm 1980 trong

ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (Công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên

và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trong những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (Còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED (nay là Ủy bản Bruntland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn Sau đó, năm 1992, tại Rio de janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng bảo vệ môi trường

2.2.3.2 Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững

Nông nhiệp đã thay đổi đáng kể, đặc biệt là kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II Năng suất lương thực, thực phẩm tăng vọt do các công nghệ mới,

cơ giới hóa, tăng cường sử dụng hóa chất, các chính sách ủng hộ việc tối đa hóa sản xuất Những thay đổi này có nhiều tác động tích cực và giảm thiểu rủi ro trong nông nghiệp Nhưng bên cạnh đó nó cũng đem lại nhiều mặt tiêu cực như suy giảm tầng đất mặt, ô nhiễm nước ngầm, gia tăng phát thải khí nhà kính, góp phần thúc đẩy sự gia tăng của biến đổi khí hậu Chính những tác động tiêu cực này đã tác động ngược trở lại lên nền nông nghiệp cộng với sự gia tăng dân số ngày càng nhanh đã dẫn đến nguy cơ mất an toàn lương thực trong tương lai Chính vì vậy, phát triển nông nghiệp một cách bền vững là điều cần thiết trong hiện tại và trong tương lai nhằm đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ môi trường

và lợi ích kinh tế

Trang 24

12

Phát triển được hiểu là một quá trình lớn lên, tăng tiến mọi lĩnh vực, phát triển nông nghiệp cũng vậy Hiện nay, có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững (PTNNBV) ở những góc độ khác nhau Theo FAO (1992), phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau Theo Đỗ Kim Chung và cộng sự (2009), PTNNBV

là quá trình đảm bảo hài hòa ba nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thỏa mãn nhu cầu về nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai Tác giả Phạm Doãn (2005) cho rằng PTNNBV là quá trình đa chiều, bao gồm: (1) tính bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ, liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (2) tính bền vững trong sử dụng tài nguyên đất và nước về không gian

và thời gian; (3) khả năng tương tác thương mại trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn để đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng

Hiện nay, theo xu hướng chung trên thế giới, các chủ trương và các biện pháp nhằm PTNNBV cần phải đồng thời hướng đến ba mục tiêu chính: (1) phát triển bền vững kinh tế; (2) Phát triển bền vững về xã hội và (3) Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường Những công nghệ, kỹ thuật canh tác có tiềm năng lớn cho PTNNBV là trồng xen, luân canh cây trồng, nông lâm kết hợp, sử dụng phân hữu cơ, kiểm soát dịch bệnh bằng công nghệ sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp (Conway and Barier, 1990)

Theo Serey Mardy et al., (2012) nội dung của phát triển nông nghiệp bền

Trang 25

13

tâm tới số lượng lao động được huy động và hiệu quả sử dụng lao động (thu nhập bình quân đầu người, tình trạng di cư, nhập cư), hệ thống thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như khả năng cung ứng vật tư nông nghiệp Về môi trường, tính bền vững của đất và sinh vật cần được lưu tâm Một hệ thống nông nghiệp không thể được coi là bền vững nếu đất đai bị suy thoái, sinh vật bị suy giảm trong quá trình sản xuất

2.2.4 Nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu

Sự nóng lên toàn cầu dẫn tới hiện tượng biến đổi khí hậu gây ra các tác động trực tiếp tới tài nguyên khí hậu, tới tài nguyên đất và tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật…(các yếu tố đầu vào của ngành sản xuất nông nghiệp) gây ra những ảnh hưởng to lớn tới tình hình sản xuất nông nghiệp, thủy sản và chăn nuôi Phát triển nông nghiệp thông minh với khí hậu là một trong những giải pháp thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu hướng đến sự tăng trưởng

bền vững

2.2.4.1 Khái niệm nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu

Nông nghiệp thích ứng thông minh với khí hậu hay nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu (Climate Smart Agriculture - CSA) được FAO khởi xướng năm

2010 tại hội nghị toàn cầu về “Nông nghiệp an ninh lương thực và biến đổi khí hậu”

tổ chức tại Hà Lan CSA là nền nông nghiệp có khả năng cho sản lượng và lợi nhuận tăng một cách bền vững để đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ biến đổi khí hậu bằng cách tăng hấp thu khí nhà kính

từ bầu khí quyển và giảm lượng khí nhà kính phát thải vào khí quyển

2.2.4.2 Nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu trên thế giới

và tại Việt Nam

Dự án CSA trị giá 5,3 triệu Euro do Ủy ban châu Âu và FAO tài trợ triển khai từ năm 2012 đến năm 2015 tại 3 nước là Ma-la-wi, Việt Nam và Dăm-bi-a Tại Việt Nam dự án được thực hiện tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc là Điện Biên, Sơn La và Yên Bái Sau 3 năm triển khai dự án CSA: Kết hợp hài hòa giữa giảm thiểu, thích ứng và an ninh lương thực tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả

Dự án đã tạo được mối quan tâm về quan hệ giữa BĐKH và Nông nghiệp, tăng cường nhận thức, khắc phục các rào cản và thúc đẩy mở rộng ứng dụng các thực hành nông nghiệp thân thiện môi trường và thích ứng BĐKH Nhiều kỹ thuật canh tác mới thích ứng với BĐKH đã được chuyển giao cho nông dân như phân

Trang 26

Đứng trước thách thức của BĐKH đối với an ninh lương thực, chương trình “Biến đổi khí hậu, Nông nghiệp và An ning lương thực” (CCAFS) một sáng kiến của CGIAR để nghiên cứu các nguy cơ, mối đe dọa đối với nông nghiệp và an ninh lương thực trên thế giới do sự thay đổi bất thường của thời tiết và biến đổi khí hậu toàn cầu, đồng thời tìm ra các giải pháp giúp các cộng đồng dân cư nông thôn dễ tổn thương thích ứng tốt với BĐKH Từ các kết quả nghiên cứu, CCAFS đã hợp tác với các đối tác (quốc tế, quốc gia, địa phương)

và cộng đồng dân cư bản địa để xây dựng và phát triển dự án “ Làng/thôn/ấp thích ứng thông minh với BĐKH” thành một mô hình mẫu trong thực hiện các giải pháp ngay tại địa phương nhằm đảm bảo an ninh lượng thực, tăng cường khả năng thích ứng của người dân với biến đổi khí hậu, xây dựng khả năng phục hồi đối với ảnh hưởng tiêu cự của thời tiết, đồng thời cải thiện đời sống và thu nhập cho nông dân Dự án được bắt đầu triển khai từ năm 2011 với 15 thôn thông minh với khí hậu ở Tây Phi (Yatenga ở Burkina Faso, Lawea-jirapa ở Ghana, Segou ở Mali, Kollo ở Niger và Kaffrine ở Senegal), Đông Phi (Borana

ở Ethiophia, wote ở Nyando ở Kenya, Usambara ở Tanzania, Albertine Rift ở Uganda và lưu vực Kagera ở Uganda) và Nam Á (Kuhlna, Bangladesh, Rupandehi ở Nepal, Vaishali bang Bihar và Sangrur trong Punjab của Ấn Độ) Các làng khác hiện đang được tiếp tục chọn thực hiện ở Mỹ Latinh (Cauca ở Colombia, Olopa ở Guatemala, Santa Rita ở Honduras và Tuma-la Dalia ở Nicaragua) và Đông Nam Á (tại Việt Nam có làng Mạ ở Yên Bái, Mỹ Lợi ở Hà Tĩnh, Trà Hất ở Bạc Liêu; Tại Lào có: làng Ekxang ở Vientiane, làng Pailom Banh ở Savannakhet; Tại Campuchia có: Rohar Sourng ở Battam bang) Những

Trang 27

15

địa điểm được chọn lựa thực hiện dự án đều là những khu vực có rủi ro cao, dễ

bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu nhất Sau khi địa điểm được lựa chọn, các nhà khoa học sẽ kết hợp với thông tin của người dân để đưa ra các biện pháp kỹ thuật trong canh tác như giống cây trồng, biện pháp canh tác…cùng các thông tin về khí hậu, ngoài ra còn các kế hoạch để thích ứng và các biện pháp hỗ trợ, các chính sách phù hợp với nhu cầu của cộng đồng Ví dụ như ở thung lũng Lower Nyando thuộc Kenya, nông dân đã nhận ra được những giá trị của nông lâm kết hợp với việc trồng xen kẽ, kết hợp theo hàng giữa ngô, lúa miến với các cây trồng khác nhằm mục đích ổn định và làm giàu cho đất Ngoài ra còn có các vườn ươm được mở ra để cung cấp cây giống cho người dân…

Tại Việt Nam dự án “Làng ứng phó thông minh với BĐKH” được thực hiện

ở 3 địa điểm là thôn Mạ, xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; thôn Mỹ Lợi, xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và ấp Trà Hất, xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu Sau khi trao đổi, lắng nghe những chia sẻ từ phía các đối tác và các bên liên quan về cách thức ứng phó hiệu quả với sự thay đổi thời tiết tại địa phương, các chuyên gia của dự án sẽ xác định các biện pháp kỹ thuật mà người dân có thể áp dụng để cải thiện khả năng thích ứng của họ Thông thường năm biện pháp canh tác được xác định là có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương sẽ được tiến hành thực hiện bởi người nông dân và tiếp tục được hoàn thiện dựa trên các hỗ trợ về khoa học và công nghệ từ các đối tác của dự án Một số các biện pháp kỹ thuật đã được thực hiện tại các địa điểm được chọn như trồng băng cỏ xen sắn trên đồi dốc (thôn Mạ, Yên Bái), cải tạo vườn tạp, trồng xen canh, tạo vườn ươm giống cây trồng (thôn Mỹ Lợi, Hà Tĩnh) Một số biện pháp kỹ thuật đã thành công nâng cao thu nhập của người dân điển hình như biện pháp trồng băng cỏ xen sắn trên đồi dốc tại thôn Mạ, Yên Bái vừa giúp ngăn ngừa tình trạng xói mòn đất, cỏ giúp cải thiện chất lượng và cấu trúc của đất, tăng khả năng thấm nước của đất và hàm lượng dinh dưỡng cho cây, cỏ còn có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc và cá

2.3 Hệ thống cây trồng

Hệ thống cây trồng là tổ hợp cây trồng bố trí theo không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật được thực hiện (Phạm Văn Hiền, 2009) Hệ thống cây trồng cũng có thể được định nghĩa là tổ hợp của các loại cây trồng và

kỹ thuật chăm sóc được sử dụng trên một cánh đồng cụ thể trong một khoảng thời gian, thường được tính theo năm (Nafziger, 2009)

Trang 28

16

Những thuật ngữ này không phải là thuật ngữ mới nhưng thời gian gần đây được sử dụng thường xuyên trong các cuộc thảo luận về tính bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp Ngoài những thuật ngữ trên còn có một số thuật ngữ liên quan đến hệ thống cây trồng cũng thường xuyên được sử dụng:

- Canh tác liên tục: là hình thức trồng vụ thứ hai ngay sau khi thu hoạch vụ thứ nhất trên cùng một mảnh đất và trong cùng một năm Hình thức này dựa trên việc lựa chọn loại cây trồng có thời gian trồng phù hợp, trưởng thành nhanh chóng để có thể trồng hai vụ trong một năm

- Trồng kết hợp: là trồng hai hay nhiều loại cậy trồng trên cùng một mảnh đất trong cùng một thời gian theo một sự sắp xếp nhất định

- Độc canh: là trồng một loại cây duy nhất trên một mảnh đất từ vụ này đến

vụ khác hay còn gọi là độc canh liên tục

- Xen canh kết hợp: là một kỹ thuật mà trong đó các cây trồng khác nhau được trồng vào các thời điểm khác nhau trên cùng một mảnh đất, mỗi loại cây trồng sẽ có một khoảng thời gian phát triển cùng nhau trên cánh đồng Ví dụ trồng xen canh kết hợp giữa ngô và đậu, đậu sẽ được gieo giữa các hàng ngô sau khi ngô đã trồng được bốn tuần

- Trồng theo dải đất: là kỹ thuật trồng hai hay nhiều loại cây trên cùng một mảnh đất Mảnh đất được chia thành các dải đất khác nhau với độ rộng nhất định khoảng từ 3 – 9 m, trên mỗi dải đất sẽ trồng một loại cây khác nhau, Thực chất biện pháp này là sự kết hợp của cả xen canh và độc canh

- Luân canh cây trồng: Luân canh cây trồng có nghĩa là chuyển đổi loại cây trồng trên đồng ruộng sau mỗi mùa hoặc mỗi năm hoặc chuyển từ trồng cây sang

để trống Đây là một trong những hướng chính của hệ thống cây trồng và nhận được nhiều sự chú ý trong thời gian gần đây vì nó có khả năng cải thiện cấu trúc

và độ màu mỡ của đất, kiểm soát cỏ dại, sâu bệnh

2.4 Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương

2.4.1 Khái niệm, các nghiên cứu đánh giá khả năng dễ bị tổn thương

Theo báo cáo SREX của IPCC (IPCC, 2012a trang 31) tình trạng dễ bị tổn thương là xu hướng hay khuynh hướng bị ảnh hưởng xấu Khuynh hướng này cấu thành một đặc tính nội bộ của các yếu tố ảnh hưởng Trong lĩnh vực rủi ro thiên tai, điều này bao gồm các đặc tính của một người hoặc một nhóm mà tình

Trang 29

17

hình của họ có ảnh hưởng đến khả năng dự đoán, đối phó, chống lại, và phục hồi

từ các tác động có hại của các hiện tượng vật lý Tính dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường và các quy trình

Ý nghĩa xã hội cơ bản và giá trị “dự đoán” của tính dễ bị tổn thương được nhấn mạnh trong các định nghĩa sử dụng trong báo cáo này Tuy nhiên, định nghĩa trước đây của IPCC đề cập đến “mức độ mà một hệ thống nhạy cảm hoặc không thể đối phó với những tác động bất lợi của BĐKH, bao gồm các dao động theo quy luật và các cực đoan khí hậu Tính dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động khí hậu, mà một hệ thống bị phơi bày, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống

đó (IPCC, 2007) Định nghĩa này coi các nguyên nhân vật lý và những ảnh hưởng của chúng là một khía cạnh rõ ràng của tính dễ bị tổn thương, trong khi bối cảnh xã hội được đặt trong khái niệm của sự mẫn cảm và năng lực thích ứng Đánh giá tính dễ bị tổn thương được hiểu là một quá trình xác định, định lượng và ưu tiên (hoặc xếp hạng) các khả năng dễ bị tổn thương của một hệ thống thuộc các lĩnh vực và quy mô khác nhau Đánh giá tính dễ bị tổn thương

có nhiều nét tương đồng với đánh giá rủi ro và thường được thực hiện theo các bước sau:

1 Liệt kê các thành phần (tài nguyên) trong hệ thống

2 Gán giá trị định lượng (hoặc thứ tự xếp hạng) và tầm quan trọng tới những tài nguyên

3 Xác định những khả năng dễ bị tổn thương hoặc tiềm năng bị đe dọa của mỗi loại tài nguyên

4 Giảm thiểu hoặc loại bỏ những khả năng dễ bị tổn thương nghiêm trọng nhất đối với những tài nguyên có giá trị nhất

Trong khoảng 30 năm trở lại đây, tính dễ bị tổn thương được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như kinh tế-xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai… Dưới đây là một số nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá tính dễ bị tổn thương gần đây:

Đánh giá tính dễ bị tổn thương của cá và động vật không xương sống dưới tác động của biến đổi khí hậu tại Continental Shelf, Bắc Mỹ của Jonathan A Hare và cs (2016) Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để kiểm tra tác

Trang 30

Guishan et al (2016) cũng tiến hành đánh giá tính dễ bị tổn thương của

rừng bởi biến đổi khí hậu ở Nam Hàn Quốc Nghiên cứu này đã chứng minh một khuôn khổ để đánh giá tính dễ tổn thương của rừng đối với biến đổi khí hậu Họ tập trung vào việc đánh giá sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa ảnh hưởng như thế nào đến sự phân bố các loại rừng và các chức năng của rừng liên quan đến carbon Nghiên cứu này tập trung vào sự phân bố các loại rừng, mạng lưới sản xuất sơ cấp và khả năng lưu trữ carbon trong đất Tác giả sử dụng kịch bản biến đổi khí hậu A1B và các mô hình khác nhau để đánh giá khả năng dễ bị tổn thương như mô hình thủy văn và nhiệt để mô phỏng sự phân loại rừng, mô hình MAPSS và CENTURY1 để ước tính lượng carbon Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu của rừng cao ở khu vực phía tây trung tâm và phía đông nam quần đảo

Tại Việt Nam có các nghiên cứu điển hình như nghiên cứu Các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương – Lý luận và thực tiễn Phần 1 Khả năng ứng dụng trong đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt ở Miền Trung Việt Nam của tác giả Nguyễn Thanh Sơn và Cấn thu Văn (2012) đã đưa ra những kiến thức, lý thuyết về các phương pháp có thể sử dụng để đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ như phương pháp sử dụng mô hình FVI (Flood vulnerabilty Index), phương pháp điều tra xã hội học

Trong dự án “ Cải thiện sức chống chịu với tác động của Biến đổi khí hậu vùng ven biển Đông Nam Á” của tổ chức IUCN (2012) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với tác động biến đổi khí hậu tại ấp Mỏ Ó và ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, ấp Vàm Hồ và ấp Võ Thành Văn, xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng Nghiên cứu

Trang 31

19

đã sử dụng phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA) thông qua việc sử dụng các công cụ được thiết kế phù hợp với quá trình thu thập thông tin ở cộng đồng như lịch thời vụ, đánh giá swot, sơ đồ venn…để đánh giá đầy đủ mọi khía cạnh của tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của địa phương từ nhiều phía Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các ngành nghề như trồng trọt, đánh bắt thủy sản và đan vá lưới dễ bị tác động bởi các yếu tố tự nhiên và phi tự nhiên Các nguồn tài nguyên nước, đất đai cũng đang bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là xâm nhập mặn

Ngoài các nghiên cứu trên còn một số nghiên cứu khác ở Việt Nam về tính

dễ bị tổn thương như: Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với sinh kế người dân các xã vùng đệm Vường quốc gia Cát Bà của tác giả Nguyễn Văn Công (2012); Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái lúa nước do biến đổi khí hậu ở Cần Thơ của tác giả Lê Thị Hường (2014) Hay nghiên cứu Đánh giá tác động và tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình của tác giả Lê Hà Phương (2014)

2.4.2 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA)

PRA (participatory Rapid Appraisal) có nguồn gốc từ RRA (Rapid Rural Appraisal), là một trong các cách tiếp cận để thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào việc lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát, đánh giá và sử dụng kết quả nghiên cứu PRA đặc biệt thích hợp trong sự phát triển cộng đồng vì nó có sự tham gia của nhóm công tác và các thành viên cộng đồng trong mọi khía cạnh của nghiên cứu, sử dụng các công cụ nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích kết quả Số liệu được thu thập trong các nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng thường bảo đảm chính xác và hữu ích Phân tích tại chỗ cho thấy rõ ngay các thông tin cần bổ sung trước khi rời khỏi hiện trường Ưu điểm chính của PRA so với nghiên cứu bằng các điều tra thông thường là có sự tham gia ở mức

độ cao của cộng đồng, thời gian ngắn và chi phí thấp

Một số nguyên tắc khi sử dụng công cụ PRA đó là:

- Để cho dân tự làm, nghĩa là tạo điều kiện cho người dân tự điều tra, tự đánh giá, tự phân tích, trình bày và học hỏi từ đó họ tự đưa ra kết quả và là chủ

sở hữu của các kết quả đó Vai trò của cán bộ PRA chỉ là hướng dẫn người dân cách làm, thúc đẩy và tạo điều kiện cho họ tự làm, tự phân tích

Trang 32

20

- Học hỏi trực tiếp từ người dân địa phương về kiến thức, kinh nghiệm, điều kiện sống và lao động của họ

- Loại bỏ thành kiến bằng sự lắng nghe chứ không giảng dạy, bằng sự thăm

do thay cho sự bất cần, quan tâm người nghèo, người bị thiệt thòi, phụ nữ

- Sử dụng mềm dẻo, tối ưu các kỹ thuật và công cụ, tức là phải cân nhắc giữa số lượng, sự hợp lý, sự chính xác và thời gian

- Sử dụng phép kiểm tra chéo các thông tin (phỏng vấn, quan sát, số liệu thứ cấp)

Một số công cụ kỹ thuật sử dụng trong PRA:

- Xem xét số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Quan sát trực tiếp hiện trạng của đối tượng nghiên cứu

- Vẽ bản đồ, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, xã hội để thấy rõ đặc điểm của khu vực nghiên cứu

- Xây dựng sơ đồ mặt cắt (transect) để hiểu rõ hơn đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ngoài thực tiễn

- Sơ lược lịch sử thôn bản (Các sự kiện quan trọng như làm đường, bắt đầu

sử dụng điện, thay đổi loại, giống cây trồng, tách hoặc gộp thôn bản, thiên tai…)

- Biểu đồ xu hướng (biến động theo thời gian), biểu đồ mối quan hệ nhân quả, biểu đồ lịch thời vụ

- Phỏng vấn bán cấu trúc, phân loại giàu nghèo, biểu đồ venn (quan hệ các

Nghiên cứu: “Đánh giá khả năng dễ bị tổn thương và khả năng thích nghi ở

hộ gia đình trước thiên tai và biến đổi khí hậu trong khu vực thuộc quận Bình Thủy và huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ” của tác giả Lê Anh Tuấn và Trần Thị Kim Hồng đã sử dụng phương pháp PRA với công cụ bảng hỏi, phỏng

Trang 33

21

vấn trực tiếp với tổng số mẫu là 200 để khảo sát tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu lên hộ gia đình và khả thích nghi của họ với biến đổi khí hậu và thiên tai Kết quà nghiên cứu chỉ ra rằng người dân ở khu vực nông thôn bị tổn thương do các tác động của biền đổi khí hậu nhiều hơn so với người dân sống ở vùng đô thị hoặc ven đô Việc phòng ngừa thiên tai của người dân chưa được tốt

Hay trong nghiên cứu “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đồi với sinh kế người dân các xã vùng đệm Vườn quốc gia Cát Bà” của tác giả Nguyễn Văn Công (2012) đã sử dụng phương pháp PRA với các công cụ là hồ sơ hiểm họa, bảng phân tích tai biến/hiểm họa, lịch mùa vụ, điều tra hộ gia đình nhằm tìm hiểu các thông tin liên quan đến hộ như kinh tế hộ, nguồn thu nhập và ngành nghề chính…Phỏng vấn sâu cá nhân để khai thác thông tin từ các chuyên gia địa phương, người có kinh nghiệm trong nghề lâu năm Từ đó đánh giá khả năng thích ứng và tính dễ bị tổn thương biến đổi khí hậu của các nhóm cộng đồng ven biển tham gia hoạt động sinh kế tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà Kết quả nghiên cứu cho thấy các xã vùng đệm Vườn quốc gia Cát Bà đang nằm trong vùng dễ bị tác động của BĐKH trong khi nhận thức, thông tin của người dân về BĐKH và các biện pháp ứng phó còn hạn chế Trong đó phụ nữ và người nghèo là đối tượng dễ bị tổn thương nhất; đối với các sinh kế thì trồng trọt và nuôi trồng thủy sản dễ bị tổn thương nhất do BĐKH

Trang 34

22

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;

- Đề tài lựa chọn 3 thôn điển hình (trong tổng số 5 thôn) thuộc xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để nghiên cứu chi tiết về hệ thống cây trồng

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Thời gian: 5/2015 – 6/2016

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Hệ thống cây trồng tại xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Bao gồm các loại cây trồng chính có diện tích lớn và có ý nghĩa đối với đời sống của người dân tại khu vực nghiên cứu

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Kỳ Trung, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

1 Điều kiện tự nhiên (khí hậu, địa hình, thủy văn, thổ nhưỡng)

2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

3 Sự biến đổi khí hậu của huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

3.4.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp của xã

1 Hệ thống cây trồng: diện tích, năng suất, giá trị kinh tế, biện pháp canh tác…

2 Đặc điểm của các hệ thống cây trồng: vị trí phân bố, diện tích, năng suất, sâu bệnh, sử dụng đất

3.4.3 Lập bản đồ phân bố hệ thống cây trồng

1 Phân bố không gian của hệ thống cây trồng trên địa bàn nghiên cứu (mô

tả vị trí của các loại cây trồng)

2 Mô tả đặc điểm của hệ thống cây trồng, đánh giá thuận lợi, khó khăn trong mối tương quan về vị trí, địa hình, đặc điểm cộng đồng dân cư

3.4.4 Đánh giá khả năng dễ tổn thương với BĐKH của hệ thống cây trồng

1 Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của hệ thống cây trồng

Trang 35

23

2 Lịch sử sử dụng đất và lịch sử các sự kiện thời tiết cực đoan (SKTTCĐ)

3 Lịch canh tác và lịch xảy ra các sự kiện thời tiết cực đoan, sự tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan đến hệ thống cây trồng

3.4.5 Các giải pháp nông nghiệp thông minh cho địa bàn nghiên cứu

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Cơ sở dữ liệu sử dụng cho đề tài này bao gồm:

- Điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội tại xã Kỳ Trung

- Tình hình sử dụng đất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp của xã Kỳ Trung

- Dữ liệu khí tượng của tỉnh Hà Tĩnh, trạm Kỳ Anh từ năm 1982 đến năm 2011

- Cơ sở dữ liệu không gian: bản đồ đất của tỉnh Hà Tĩnh, bản đồ ranh giới hành chính xã Kỳ Trung ở tỷ lệ 1:50 000

Nguồn tài liệu được thu thập tại các cơ quan chức năng bao gồm: UBND xã

Kỳ Trung…Ngoài ra số liệu thứ cấp còn được thu thập từ kết quả nghiên cứu của

Tổ chức Nông Lâm kết hợp Thế giới tại Việt Nam (ICRAF) và một số trang thông tin mạng đáng tin cậy

3.5.2 Phương pháp lập bản đồ có sự tham gia của người dân

Phương pháp lập bản đồ có sự tham gia của người dân được áp dụng để xây dựng các bản đồ sau:

3.5.3 Điều tra lát cắt sinh thái

Việc điều tra lát cắt sinh thái có tính đại diện được xác định nhờ sự trợ giúp của người dân địa phương Chúng tôi tiến hành khảo sát và điều tra phỏng vấn

Trang 36

- Các chỉ tiêu kinh tế (giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng)

- Các chỉ tiêu xã hội (Giá trị ngày công lao động; mức độ phù hợp năng lực nông hộ và mức độ chấp nhận của người dân trong việc đưa các loại cây trồng vào sản xuất; khả năng tiêu thụ sản phẩm)

- Hiệu quả môi trường (Năng suất sinh học, độ che phủ, duy trì bảo vệ và cải thiện độ phì đất)

Mức độ dễ tổn thương của hệ thống cây trồng được đánh giá thông qua phân tích những tác động tiềm năng của các sự kiện thời tiết cực đoan đến hệ thống cây trồng Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ lựa chọn đánh giá khả năng

dễ bị tổn thương bởi một số sự kiện thời tiết cực đoan chính của hệ thống cây trồng như hạn hán, bão, mưa rét, nắng nóng

Công cụ PRA được áp dụng để xác định mức độ dễ bị tổn thương của các

hệ thống sử dụng đất theo chỉ dẫn của Simelton và cs (2014) Đại diện lãnh đạo và người dân thuộc địa bàn nghiên cứu sẽ được mời tham gia họp nhóm

để liệt kê các nguyên nhân và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các sự kiện thời tiết cực đoan

Tiêu chí lựa chọn người tham gia thảo luận: người tham gia thảo luận là đại diện cho những hộ dân làm nông nghiệp điển hình theo các hệ thống cây trồng ở các độ tuổi và giới tính khác nhau

Trang 37

Từ năm 2004-2011 xã Kỳ Trung có 7 xóm là Trường Sơn, Đông Sơn, Nam Sơn, Tây Sơn, Bắc Sơn, Đất Đỏ, Hậu Cần Đến năm 2012-2013 xã đã sát nhập thôn Hậu Cần vào thôn Đất Đỏ và còn lại 6 thôn Năm 2014 xã tiếp tục sát nhập và đến nay còn 5 thôn là Đất Đỏ, Nam Sơn, Bắc Sơn, Đông Sơn, Trường Sơn

Hình 4.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu

Trang 38

10 thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớn Mùa đông từ tháng 11 đến tháng

3 năm sau, mùa này chủ yếu có gió mùa Đông Bắc kéo theo gió lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 6°C

b Địa hình, thủy văn

Kỳ Trung có địa hình khá cao, chủ yếu là đồi núi với độ cao từ 12 đến 387

m Phía bắc của xã giáp với hồ Sông Rác có trữ lượng nước tương đối lớn Ngoài

ra trên địa bàn xã còn có một số hồ nước có diện tích trung bình là hồ Cơ quan,

hồ Xe Máy và một số hệ thống kênh mương, khe suối tự nhiên

c Thổ nhưỡng

Xã Kỳ Trung có ba loại đất chính theo phân loại trên bản đồ các loại đất của

Bộ Nông nghiệp đó là đất đỏ vàng trên đá sét, đất đỏ vàng trên đá macma axit, đất xói mòn trơ sỏi đá Sự phân bố các loại đất được thể hiện trong hình 4.2 dưới đây:

Hình 4.2 Sơ đồ sự phân bố các loại đất tại xã Kỳ Trung

Nguồn: Viện quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2013)

Do diện tích đất xói mòn trơ sỏi đá là rất nhỏ và không đáng kể nên ta chỉ xét đến hai loại đất chính là đất đỏ vàng trên đá sét và đất đỏ vàng trên đá macma axit Tính chất của từng loại đất đó như sau:

Trang 39

27

- Đất đỏ vàng trên đá sét: Có tầng đất dày trên 1,5m, thành phần cơ giới trung bình và nặng, thường có kết cấu cụ, hạt, lớp mặt đất khá tơi xốp Hàm lượng mùn khá, đạm tổng số trung bình, những các chất dinh dưỡng khác như lân

và kali tổng số cũng như dễ tiêu đều nghèo Phản ứng của đất từ chua đến rất chua, độ no bazo thường dưới 50%

- Đất đỏ vàng trên đá macma axit: Đá mẹ hình thành đất chủ yếu là granit, riolit, pecmatit, là những loại đá giàu SiO2 nên đã hình thành nên loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, thường có kết cấu kém, tầng đất mỏng (thường nhỏ hơn 1,2m) Đất chua, độ no bazo nhỏ hơn 50%, nghèo mùn, đạm, lân; hàm lượng kali khá hơn so với đất đỏ vàng trên đá sét, đất có hàm lượng cấp hạt sét thấp vì thế dung tích hấp thu thấp, khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng kém, dễ bị xói mòn

Cả hai loại đất này chủ yếu thích hợp trồng rừng, cây công nghiệp lâu năm đặc biệt là cây chè, cây ăn quả và đồng cỏ cho chăn nuôi, không thích hợp để trồng lúa và các cây ngắn ngày

Còn theo phân loại, nhận biết của người dân thì xã Kỳ Trung có ba loại đất chính là đất pha cát, đất đỏ vàng, đất đồi đá các loại đất này có chất lượng theo đánh giá của người dân lần lượt là tốt, trung bình và kém Vì diện tích đất pha cát

là rất nhỏ, có chất lượng tương đối tốt thích hợp trồng nhiều loại cây nên được sử dụng để trồng lúa, rau màu

4.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế

Năm 2015 tổng giá trị thu nhập của xã là 48 tỷ đồng với thu nhập bình quần đầu người 35 triệu đồng/người/năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 đạt 17%; cơ cấu kinh tế của xã có 40,8% là Nông, lâm nghiệp; 31,9% là Thương mại dịch vụ và 27,3% là Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản

Về Nông – Lâm nghiệp – Chăn nuôi: Năm 2015 tổng sản lượng búp chè đạt

1316 tấn tăng 96 tấn so với năm 2014; tổng sản lượng lương thực đạt 744,8 tấn, thu từ lâm nghiệp 11,3 tỷ đồng Tổng đàn trâu bò có 989 con, giảm 130 con so với năm 2014, đàn lợn 1.500 con, đàn gia cầm 17.000 con, tăng 400 con so với năm 2014

Trang 40

28

Về thương mại – Dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ trên địa bàn

đạt 7,9 tỷ đồng Các công tác quản lý, vệ sinh an toàn thực phẩm, dịch vụ y tế đều thực hiện tốt

Về Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp: Năm 2015 chế biến được 300 tấn

chè thành phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, giá trị công nghiệp đạt: 13 tỷ đồng

Về quản lý Tài nguyên – Môi trường: Đến năm 2015 đã cấp được 106 bìa

đất Lâm nghiệp đợt 1 cho các hộ, hiện nay đang tiếp tục xây dựng và thẩm định

hồ sơ đợt 2 để tiến hành cấp bìa cho nhân dân

Từ năm 2010 đến năm 2015 tỷ trọng cơ cấu kinh tế có sự thay đổi: Nông nghiệp từ 62% giảm xuống còn 55%, Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng từ 18% tăng lên 20%, Thương mại dịch vụ từ 20% tăng lên 25%

4.1.2.2 Tình hình xã hội

Xã Kỳ Trung đang tiếp tục thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới, năm 2015 việc giải ngân nguồn vốn Nông thôn mới đã đạt 75% kế hoạch (2767/3690 tỷ đồng) Việc mở rộng, làm mới và cải tạo các tuyến đường giao thông trong xã vẫn được tiếp tục thực hiện Năm 2014 xã đã giải phóng mở rộng được 17 tuyến đường giao thông trên 5 thôn theo tiêu chuẩn nông thôn mới, làm được 2398/3915 m đường bê tông ngõ xóm Năm 2015 số hộ nghèo của xã là 40/551 hộ, hộ cận nghèo là 30/551 hộ

Giáo dục: trên địa bàn xã có một trường mầm non 6 lớp với 165 học sinh, một trường tiểu học 9 lớp với 218 học sinh, một trường trung học cơ sở 4 lớp với

87 học sinh

Công tác khám chưa bệnh tại xã luôn được đảm bảo, đáp ứng kịp thời việc chăm sóc sức khỏe của người dân, công tác vệ sinh môi trường phòng chống dịch bệnh

Về công tác xóa đói giảm nghèo, chính sách xã hội giải quyết việc làm thì đến năm 2014 toàn xã đã có 990 lao động/1583 nhân khẩu, 100% lao động có việc làm, có thu nhập ổn định, có 95 người đi xuất khẩu lao động có thu nhập bình quân 10 triệu đồng/ người/tháng Tình hình nông nghiệp nông thôn được thay đổi rõ rệt, đời sống nhân dân được nâng cao, nhân dân được thụ hưởng và tiếp cận với các chính sách của Đảng, tiếp nhận và cấp phát 8,5 tấn gạo cho các

hộ nghèo, cận nghèo, 89 suất quà trị gái 29 triệu đồng cho các gia đình chính sách, hộ nghèo, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Ngày đăng: 14/07/2021, 14:54

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w