1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các thành phần kinh tế với sự phát triển lực lượng sản xuất ở việt nam hiện nay

103 957 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các thành phần kinh tế với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Miến
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hòa
Trường học Trường Đại học Khoa học Huế
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh nhữngthành tựu đó thì các thành phần kinh tế còn tồn tại những hạn chế như là: năng suất,hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các thành phần kinh tế phá

Trang 1

bản thân, trong đó có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả

đi trước với những trích dẫn và sử dụng trong giới hạn cho phép.Luận văn này chưa được công bố trên các phương tiện thôngtin cũng không trùng với bất cứ luận văn nào tại thời điểm hiện tại

Tác giả

Nguyễn Thị Miển

Trang 2

PGS.TS.Nguyễn Văn Hòa là người định hướng, trực tiếp hướng dẫn và đóng góp ý kiến cụ thể cho kết quả cuối cùng để tôi hoàn thành luận văn này Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong Hội đồng Khoa học – Khoa Lý luận Chính trị, phòng Quản lý khoa học đối ngoại Sau Đại học của trường Đại học Khoa học Huế Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và toàn thể đồng nghiệp, bạn

bè đã động viên, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn rằng, những hạn chế và thiếu sót trong luận văn là không tránh khỏi Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các anh (chị) để luận văn này được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Thị Miển

Trang 3

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 8

1.1 Lực lượng sản xuất, vai trò của lực lượng sản xuất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 8

1.1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất 8

1.1.2 Vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 15

1.1.3 Đặc điểm của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 21

1.2 Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 28

1.2.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 27

1.2.2 Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 33

1.2.3 Vai trò của các thành phần kinh tế với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 49

Trang 4

2.1 Vai trò của các thành phần kinh tế với việc phát huy sử dụng và phát triển các yếu

tố của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 55

2.1.1 Các thành phần kinh tế với việc phát huy sử dụng và phát triển yếu tố của con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 55

2.1.2 Các thành phần kinh tế với việc phát huy sử dụng và phát triển các yếu tố của tư liệu sản xuất ở Việt Nam hiện nay 64

2.1.3 Các thành phần kinh tế với việc phát huy hiệu quả ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay 69

2.2 Tác động của các thành phần kinh tế đối với việc xác lập quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 74

2.2.1 Tác động của các thành phần kinh tế với việc xác lập quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất 74

2.2.2 Tác động của các thành phần kinh tế với việc xác lập quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất 76

2.2.3 Tác động của các thành phần kinh tế với việc xác lập quan hệ phân phối sản phẩm lao động 77

2.3 Phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của các thành phần kinh tế góp phần thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 79

2.3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 79

2.3.2 Phương hướng 81

2.3.3 Giải pháp 84

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào cũng đều tồn tại nhiều hìnhthức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế đó là một nhu cầu tất yếu khách quan của

xã hội Tính tất yếu đó bắt nguồn từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây chính là một trong những quyluật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội loài người Trong đó lực lượngsản xuất là yếu tố đóng vai trò quan trọng và quyết định đến quan hệ sản xuất Lựclượng sản xuất không chỉ là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sảnxuất của con người mà nó còn là nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi chế độ xãhội Đồng thời, lực lượng sản xuất cũng là một trong những nhân tố quan trọngquyết định đến năng suất lao động của xã hội Suy cho cùng, sự vận động của xã hội

từ chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác đều bắt nguồn từ sự vận động và pháttriển của lực lượng sản xuất Vì thế, phát triển lực lượng sản xuất là một vấn đề màmọi quốc gia luôn chú trọng Đối với Việt Nam, khi lực lượng sản xuất của chúng tađang ở trình độ thấp gây cản trở đối với sự phát triển của đất nước, cho nên việcphát triển lực lượng sản xuất là một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay

Có thể thấy, với chủ trương đa dạng hóa các hình thức sở hữu và các thànhphần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta,điều đó có nghĩa chúng ta đã thiết lập được quan hệ sản xuất phù hợp với trình độđang còn thấp của lực lượng sản xuất ở nước ta Nhìn lại chặng đường hơn 25 nămđổi mới, sự phát triển của các thành phần kinh tế đã đạt được những thành tựu tolớn góp phần quan trọng hàng đầu trong việc huy động các nguồn lực xã hội vàosản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy sựphân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa Điều quan trọng hơn cả, sự phát triển của các thành phần kinh tế đãgóp phần thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta Trên cơ sở đó đưa

Trang 6

nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm các nước đang pháttriển, thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước đượccủng cố và phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện,chính trị - xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế được nâng lên Đây chính là những tiền đề, động lực quan trọngcho chúng ta vững bước đi lên trên con đường đã chọn Tuy nhiên, bên cạnh nhữngthành tựu đó thì các thành phần kinh tế còn tồn tại những hạn chế như là: năng suất,hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các thành phần kinh tế phát triểnchậm, thiếu hài hòa, thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu

hạ tầng, khoa học và công nghệ vẫn còn nhiều yếu kém, đây chính là những rào cảnđối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay Vấn đề đặt ra hiệnnay chúng ta cần phải xác định rõ vị trí, vai trò và mối quan hệ của các thành phầnkinh tế đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, để từ đó đưa ra những phươnghướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của các thành phần kinh tế đối với sựphát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định nước ta tồn tại 4thành phần kinh tế đó là: Thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tập thể,thành phần kinh tế tư nhân, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Mỗi thànhphần kinh tế có vị trí, vai trò quan trọng khác nhau trong nền kinh tế quốc dân,trong đó Đảng ta đã xác định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Thành phầnkinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước, cùng vớikinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.Kinh tế tư nhân là một trong những động lực để phát triển kinh tế, kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển” [16, tr.73-74]

Các thành phần kinh tế đều có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự phát triểnnền kinh tế nước ta, giữa các thành phần kinh tế có mối quan hệ tác động qua lại,vừa hợp tác vừa mang tính chất cạnh tranh trong cùng một nền kinh tế quốc dânthống nhất Tất cả các thành phần kinh tế trên đều là bộ phận cấu thành quan trọngcủa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Cho nên, việc

Trang 7

phát triển đồng bộ và hài hòa các thành phần kinh tế sẽ là một trong những động lựcthúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Trong xu thế toàn cầu hóa đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ vừa tạo ra những

cơ hội vừa tạo ra những thách thức cho chúng ta, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phảibám sát những chỉ dẫn khoa học lý luận của C.Mác - Ph.Ăngghen - V.I.Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh để vận dụng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhằm tạo rađộng lực mới để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, phấn đấu đến năm 2020 đưanước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, hướng đếnmục tiêu xây dựng nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh” Phát triển kinh tế nhiều thành phần có tác động về nhiều mặt: giải phóng sứcsản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tạo ra cạnh tranh trên thịtrường, thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế, đại đoàn kết dân tộc, huy động sứcmạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội; là con đường để xây dựng và hoànthiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Với những lý do trên tôi chọn đề tài “Các thành phần kinh tế với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Các công trình, các tác phẩm nghiên cứu có liên quan đến đề tài được các nhà

khoa học, trung tâm nghiên cứu cụ thể là: “Phát triển các thành phần kinh tế và các

tổ chức kinh doanh ở nước ta hiện nay” của GS.TS Vũ Đình Bách và GS.TS Ngô Đình Giao (Đồng chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 1997); “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS.TS Vũ Đình Bách (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2006); “Sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Cúc và PGS.TS Kim Văn Chính (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2006); “Kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của PGS TSKH Nguyễn Bích Đạt (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2006); “Phát triển kinh tế thị trường ở Việt

Trang 8

Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của PGS.TS Nguyễn Văn Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2006); “Thể chế và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Hà Huy Thành (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2006); “Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Nguyễn Thanh Tuyền

(Chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2006)

“Phát triển kinh tế tư nhân - xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay của Thạc sĩ Đặng Minh Tiến (Tạp chí Triết học, số 3 (109), tháng 3 - 2007); "Luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của C.Mác và vấn đề phát triển kinh tế tri thức hiện nay" của PGS.TS Phạm Thị Ngọc Trầm (Tạp chí Triết học số 8, 2008); “Về vấn đề phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Đức Luận (Tạp chí Triết học, số 7, tháng 7 - 2008).

“Phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ ở nước ta” của GS.TS Nguyễn Hùng Hậu (Tạp chí Lý luận chính trị, tháng 7 - 2011); “Vai trò của sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Thạc

sĩ Nguyễn Thị Huyền (Tạp chí Triết học, số 242, tháng 7 - 2011); “Quan hệ biện chứng giữa các thành phần kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” (Luận văn Thạc sĩ của Võ Văn Hoài, bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Huế, năm 2011); “Quan điểm của đại hội XI về xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS.TS Đỗ Thế Tùng (Kỷ yếu hội thảo, tháng 8 - 2011); “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời tích cực và chủ động hội nhập kinh tế Quốc tế theo tinh thần Đại hội XI” của PGS.TS Trần Thị Minh Châu (Kỷ yếu hội thảo, tháng 8 - 2011); “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI” của Đảng Cộng sản (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2011); “Những vấn đề kinh tế - xã hội trong cương lĩnh” (Bổ sung, phát triển năm 2011), của GS.TS Trương Giang Long và PGS.TS Trần Hoàng Ngân (Đồng chủ

biên) (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2011)

Trang 9

“Một số đề xuất nhằm đẩy nhanh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Cao Thu Hằng (Tạp chí Triết học, số 3 (250), tháng 3 - 2012); “Đổi mới

mô hình tăng trưởng cơ cấu lại nền kinh tế” của PGS.TS Vũ Văn Phúc (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2012); “Đổi mới nhận thức về doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” của Vũ Văn Phúc (Tạp chí Cộng sản, số 838, tháng 8 - 2012); “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển bền vững Việt Nam” của Chu Văn Cấp (Tạp chí Cộng sản, số 839, tháng 9 - năm 2012); “Để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt

để phát triển kinh tế - xã hội” của TS Trần Đắc Hiến (Tạp chí Triết học, số 6 (253), tháng 6 - 2012); “Đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và một số thách thức đặt ra”

của TS Hồ Sỹ Hùng (Tạp chí Cộng sản, số 840, tháng 10 - 2012)

Những công trình nghiên cứu trên đây đã phần nào lý giải một số vấn đề quantrọng của các thành phần kinh tế và lực lượng sản xuất: Kinh tế thị trường và kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; tính tất yếu về sự phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần; vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế trong nền kinh tếthị trường ở nước ta; thực trạng và giải pháp phát triển của các thành phần kinh tế;mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần kinh tế trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa hiện nay ở nước ta; đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước;mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất; vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay; tác động của khoahọc và công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất; phát triển nguồnnhân lực trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, việc nghiên cứu và làm rõ vai trò của các thành phần kinh tế đốivới sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay chưa có tác giả nào đềcập một cách hoàn chỉnh Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những tác phẩm,

những công trình nghiên cứu của các tác giả trên, đề tài “Các thành phần kinh tế với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” đã góp phần làm sáng tỏ hơn, hoàn

chỉnh hơn trong quá trình thực hiện

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài này nhằm mục đích góp phần làm rõ vai trò của các thành phần kinh tếvới sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra nhữngphương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vai trò của các thành phần kinh

tế góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển ở Việt Nam hiện nay Để đạtđược mục đích này, luận văn phải làm rõ các nhiệm vụ:

- Làm rõ cơ sở lý luận của các thành phần kinh tế và lực lượng sản xuất ởViệt Nam hiện nay

- Làm rõ vai trò của các thành phần kinh tế với sự phát triển của lực lượngsản xuất ở Việt Nam hiện nay

- Đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của các thànhphần kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định đối tượng và phạm vinghiên cứu:

- Đối tượng là nghiên cứu các thành phần kinh tế và lực lượng sản xuất ở ViệtNam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu là tập trung làm rõ vai trò của các thành phần kinh tếvới sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Cơ sở lý luận: Luận văn này được thực hiện dựa trên cơ sở các nguyên lý, quyluật của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các văn kiện,nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam Ngoài ra, đề tài này có sử dụng các tácphẩm, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến vấn đề

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp duyvật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó luận văn còn dựa trên các phươngpháp phân tích - tổng hợp, lôgích - lịch sử, so sánh và hệ thống hóa nhằm làm sáng

tỏ “Các thành phần kinh tế với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”.

Trang 11

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của sự tồn tại cácthành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam Đồng thời, làm rõ vai trò của các thành phần kinh tế đối với sự phát triển củalực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng

và giải pháp để phát huy vai trò của các thành phần kinh tế nhằm thúc đẩy sự pháttriển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục các tài liệu tham khảo luậnvăn gồm 2 chương 6 tiết:

Chương 1 Lý luận về lực lượng sản xuất và các thành phần kinh tế trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 Phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế nhằm phát triển lựclượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ

HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Lực lượng sản xuất, vai trò của lực lượng sản xuất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay 1.1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với giới tựnhiên trong quá trình sản xuất Thông qua sản xuất vật chất con người không chỉ tạo

ra những tư liệu sinh hoạt, tiêu dùng hàng ngày mà điều quan trọng hơn cả là sảnxuất ra tư liệu sản xuất, chính trong hoạt động này đã nảy sinh các mối quan hệ.Trước hết là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, quan hệ này được biểuhiện thành lực lượng sản xuất Thứ hai là mối quan hệ giữa con người với conngười, quan hệ này biểu hiện thành quan hệ sản xuất, đây là mối quan hệ “songtrùng” mang tính khách quan và phổ biến trong sự vận động và phát triển của xã hộiloài người Trong đó, con người đóng vai trò là chủ thể, giới tự nhiên là khách thểhay nói cách khác là đối tượng mà con người trong quá trình lao động của mình tácđộng vào Để tiến hành hoạt động lao động thì người lao động phải có tri thức, kinhnghiệm, thói quen, kỹ năng lao động cần thiết sử dụng tư liệu lao động để sản xuất

ra của cải vật chất, những yếu tố này tạo thành tư liệu sản xuất của con người Lực lượng sản xuất bao gồm hai bộ phận chủ yếu: người lao động và tư liệusản xuất Các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất tác động qua lại biện chứng vớinhau làm cho lực lượng sản xuất trở thành yếu tố động nhất, trong đó người laođộng là nhân tố đóng vai trò quyết định

Trước hết, người lao động, đây là nhân tố chủ yếu, hàng đầu của lực lượng sản

xuất Con người với tư cách là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất đã sử dụngcác năng lực vốn có của mình bao gồm thể lực và kinh nghiệm Theo cách nói củaC.Mác đó là “cái đầu” và “đôi bàn tay” để tác động vào đối tượng lao động, nhằm

Trang 13

làm thay đổi trạng thái của giới tự nhiên tùy theo mục đích của mình Nhờ có nănglực vốn có bên trong của mình mà con người mới có khả năng can thiệp ngày càngsâu vào giới tự nhiên Đây là cái năng lực vốn có bên trong bản chất của con ngườikhông bao giờ tách khỏi con người Cái năng lực vốn có đó cùng với những kinhnghiệm và kỹ năng, kỹ xảo, được con người đem ra vận dụng vào trong trong hoạtđộng lao động nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ đời sống của mình Có thể nói,trước thế giới tự nhiên bao la rộng lớn, con người chỉ là một “thực thể” vô cùng nhỏ

bé Thế nhưng, cái thực thể nhỏ bé này có thể thêu dệt nên biết bao kỳ tích, giới tựnhiên đó đã bị đôi bàn tay và trí óc của con người chinh phục Thông qua hoạt độnglao động của mình, con người đã biến sức mạnh vốn có của giới tự nhiên thành sứcmạnh bên trong của bản thân mình

Như vậy, con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra lịch sử thông qua hoạtđộng sản xuất vật chất, là nhân tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu của lực lượng sảnxuất Thông qua hoạt động có ý thức của mình, một mặt con người làm thay đổigiới tự nhiên theo mục đích của mình Mặt khác, cũng thông qua hoạt động laođộng mà con người không ngừng hoàn thiện chính bản thân mình Trong đó, lựclượng sản xuất quan trọng hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là ngườilao động, đây là những chủ thể đích thực của quá trình lao động

Ngày nay, chúng ta đã và đang bước vào thời đại mới, thời đại nền kinh tế trithức hay thời đại kinh tế hậu công nghiệp, mọi sự phát triển phải lấy tri thức làmyếu tố then chốt để phát triển kinh tế - xã hội, lúc này đây tri thức trở thành yếu tốtham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất Vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao, phát triển nền kinh tế tri thức trở thành yêu cầu cấp bách đối vớinước ta, nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay,các thành phần kinh tế thực sự đã đóng vai trò quan trọng đối với việc huy động vàphát huy sức mạnh tổng hợp của người lao động Đồng thời, các thành phần kinh tế

đã góp phần giải quyết việc làm, chăm lo bồi dưỡng, đào tạo người lao động về mọimặt, giúp cho người lao động có trình độ, kỹ năng, sức khỏe tốt bảo đảm cho quá

Trang 14

trình sản xuất đạt hiệu quả cao, bền vững Trên cơ sở sự phát triển của các thànhphần kinh tế đã dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở nước ta theo chiều hướngtích cực, giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao độngtrong các ngành công nghiệp và dịch vụ, hình thành bước tiến mới trong phát triểnnền kinh tế quốc dân theo hướng bền vững, tạo động lực cho sự phát triển trí tuệ củangười lao động Việt Nam vào việc phát triển lực lượng sản xuất hiện nay.

Thứ hai, tư liệu sản xuất là tổng thể các yếu tố vật chất của quá trình lao động,

là sự thống nhất giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động

Đối tượng lao động là một vật hay sự tổng hợp những yếu tố vật chất mà lao

động của con người luôn luôn hướng đến, đây chính là cội nguồn sản phẩm laođộng của con người Đối tượng sản xuất luôn vận động và mở rộng cùng với sự pháttriển sản xuất của con người Đối tượng lao động với tư cách là cái mà con ngườihướng đến, bao gồm những bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào trong hoạt độngsản xuất vật chất hay còn gọi là đối tượng “thuần tự nhiên” và đối tượng đã qua chếbiến tức là đã có sự tác động của con người trước đó, thông qua hoạt động lao độngcủa con người, thường phổ biến trong các nghành công nghiệp chế biến gọi là nguyênliệu Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đối tượng lao động của con ngườingày càng được mở rộng, đa dạng và phong phú hơn Đặc biệt phải kể đến những đốitượng lao động do con người sáng tạo ra, trước sự hạn chế về đối tượng có sẵn trong

tự nhiên thì việc phát huy khả năng sáng tạo của con người về đối tượng lao độngmới có vai trò hết sức to lớn trong nền sản xuất vật chất của xã hội

Như vậy, đối tượng sản xuất là một thành tố vật chất không thể thiếu trong tưliệu sản xuất, hoạt động sản xuất của con người không thể diễn ra nếu không có đốitượng lao động Nó là nền tảng vật chất để trên cơ sở đó con người tạo nên cuộcsống của mình Cái nền tảng vật chất đó càng được phát huy tác dụng nhờ vào nănglực nội tại bên trong của con người Do vậy, đối với mỗi quốc gia, đối tượng laođộng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xãhội của đất nước Những đối tượng này sẽ càng phát huy vai trò của mình nhờ vào

sự phát triển của tư liệu lao động và sự phát triển của khoa học và công nghệ Trong

Trang 15

tương lai những đối tượng lao động do con người sáng tạo ra trên cơ sở những đốitượng sẵn có trong tự nhiên ngày một mở rộng và phát triển Sự mở rộng và pháttriển của nó đến đâu phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của con người

Nước ta có đối tượng sản xuất rất phong phú và đa dạng, đây là một trongnhững lợi thế rất lớn giúp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay củachúng ta diễn ra thuận lợi hơn Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để chúng ta pháthuy được lợi thế đó, biến nó thành nội lực bên trong để phát triển đất nước?

Có thể nói, phát triển các thành phần kinh tế trong điều kiện đất nước có nguồntài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng, có vai trò trong việc khai thác và sử dụnghợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, mở rộng đối tượng lao động, qua đó thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển

Tư liệu lao động, C.Mác quan niệm: “Tư liệu lao động là một vật hay toàn bộ

những vật mà con người đặt ở giữa họ và đối tượng lao động, và được họ dùng làmvật truyền dẫn hoạt động của họ vào đối tượng ấy” [43, tr.268] Tư liệu lao động docon người tạo ra trong quá trình lao động, được xem là khâu trung gian gắn kết conngười với đối tượng lao động Theo C.Mác đó là vật truyền dẫn hoạt động của ngườilao động vào đối tượng lao động Tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động và cácphương tiện lao động khác nhằm hỗ trợ cho con người trong quá trình lao động

Công cụ lao động là bộ phận tác động trực tiếp đến đối tượng lao động, là hệ

thống xương cốt, bắp thịt của sản xuất và là nơi tập trung nhất sức mạnh của tư liệulao động, làm cầu nối truyền tải sức lao động của con người đến đối tượng lao động

Vì vậy, công cụ lao động giữ vai trò xương cốt, bắp thịt, của quá trình sản xuất,quyết định đến năng suất, chất lượng lao động Ph.Ăngghen gọi nó là khí quan của

bộ óc con người nhằm “nối dài” và “nhân lên” sức mạnh bên trong của con ngườitrong hoạt động sản xuất vật chất Nếu không có công cụ lao động thì hoạt động sảnxuất của con người sẽ không được diễn ra Công cụ lao động do con người sáng tạo

ra và không ngừng hoàn thiện trong quá trình sản xuất Cùng với quá trình tích lũykinh nghiệm, những phát minh sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừngđược hoàn thiện, từ những công lao động bằng đá, bằng đồng thô sơ đến những máy

Trang 16

móc hiện đại là sự phản ánh trình độ chinh phục, cải biến tự nhiên của con người.Suy cho cùng, sự phát triển của công cụ lao động là nguyên nhân sâu xa của mọibiến đổi trong xã hội, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử Công

cụ lao động vì vậy trở thành nhân tố quan trọng của tư liệu sản xuất và là yếu tốđộng nhất của lực lượng sản xuất Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học, kỹthuật hiện đại, công cụ lao động như là tổ hợp máy móc tự động thông qua hệ thốngđiều khiển từ xa ngày càng đóng vai trò quan trọng

Như vậy, trình độ phát triển của công cụ lao động trở thành thước đo trình độchinh phục tự nhiên của con người, đồng thời là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đạikinh tế trong lịch sử C.Mác đã viết: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải

ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, vớinhững tư liệu lao động nào" [43, tr.269]

Công cụ lao động với tư cách là nhân tố quan trọng hàng đầu trong hoạt độngsản xuất Vì vậy, mọi quốc gia luôn phải chú trọng cải tiến, đổi mới công cụ laođộng Ở nước ta hiện nay, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là cơ

sở để chúng ta cải biến lao động thủ công đơn giản thành lao động sử dụng máymóc hiện đại, quá trình trên phải gắn liền với phát triển các thành phần kinh tế Bởi

vì, sự phát triển của các thành phần kinh tế có vai trò quan trọng đối với sự pháttriển công cụ lao động, thông qua việc ứng dụng ngày càng rộng rãi khoa học vàcông nghệ tiên tiến, hiện đại vào trong các lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội, cácthành phần kinh tế đã từng bước hiện đại hóa công cụ sản xuất, tạo ra năng suất,chất lượng lao động cao, qua đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Cùng với công cụ lao động, phương tiện lao động là bộ phận không thể thiếu

trong trong tư liệu lao động bao gồm nhà máy, kho, xưởng, bến cảng, sân bay, hệthống giao thông vận tải, hệ thống điện, đường sá, viễn thông, vv Những yếu tốnày có vai trò quan trọng đối với nền sản xuất xã hội, sự phát triển đồng bộ củaphương tiện lao động tạo địa bàn thuận lợi cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội.Nếu phương tiện lao động lạc hậu sẽ là nhân tố kìm hãm sự phát triển kinh tế - xãhội của mỗi quốc gia Vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta

Trang 17

hiện nay, cần phải đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,nhằm từng bước mở rộng và phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng, thông tin viễnthông tạo động lực cho sự phát triển của lượng sản xuất ở nước ta hiện nay Trongquá trình đó, chúng ta cần phải chú trọng phát triển các phần kinh tế, bởi sự pháttriển của các thành phần kinh tế cũng là cơ sở cho sự phát triển của lực lượng sảnxuất nói chung và phương tiện lao động nói riêng Các thành phần kinh tế không chỉ

hỗ trợ gián tiếp về nguồn nhân lực, về vốn, khoa học và công nghệ mà còn trực tiếpchung tay xây dựng kết cấu hạ tầng cho đất nước

Như vậy, tư liệu sản xuất là là sự thống nhất giữa hai yếu tố đối tượng lao động và

tư liệu sản xuất Các yếu tố trong tư liệu sản xuất có vị trí và vai trò quan trọng khácnhau, nhưng chúng không tách rời nhau mà có quan hệ biện chứng với nhau tạo thànhmột thể thống nhất trong tư liệu sản xuất Trong mối quan hệ biện chứng đó công cụlao động là yếu tố đóng vai trò quan trọng, bởi đây là nơi tập trung nhất của sức mạnhlao động và truyền tải trực tiếp nhất đến đối tượng lao động

Trong lực lượng sản xuất, ngoài hai yếu tố cơ bản là người lao động và tư liệusản xuất, còn có khoa học và công nghệ, đây là một bộ phận hợp thành ngày càngquan trọng của lực lượng sản xuất Ngày nay, khoa học và công nghệ đã trở thànhlực lượng đầu tàu của sức sản xuất xã hội Trong các tác phẩm của mình, C.Mác đãnhiều lần khẳng định vai trò, cũng như sức mạnh cải tạo thế giới của tri thức khoahọc khi nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trên cơ sở đó C.Mác chỉ ra rằngtrong nền sản xuất hiện đại hóa, toàn bộ quá trình sản xuất không phải tuân theonhững kỹ xảo trực tiếp của người lao động mà là sự ứng dụng của khoa học vào kỹthuật Khoa học và công nghệ hiện đại, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nềnsản xuất xã hội và trong đời sống nhân loại, đồng thời là một đặc điểm nổi bật củathời đại ngày nay và là yếu tố đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại Bởi vậy,bất kỳ một quốc gia nào muốn đưa đất nước tiến lên phải không ngừng đầu tư vàphát triển khoa học, công nghệ vào trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

Ở Việt Nam hiện nay, khoa học và công nghệ ở nước ta còn ở trình độ thấp, để tạo

ra động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phải phát triển

Trang 18

khoa học và công nghệ hơn nữa, phải làm cho khoa học và công nghệ ngày càng trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo động lực cho sự phát triển của lực lượng sảnxuất Bên cạnh việc không ngừng phát triển nguồn lao động và tư liệu sản xuất, cácthành phần kinh tế đã từng bước ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệhiện đại vào trong sản xuất kinh doanh Điều này, nó không chỉ mang lại năng suất,chất lượng cao mà nó còn thúc đẩy quá trình chuyển giao khoa học, công nghệ hiệnđại thay thế cho lao động thủ công ở nước ta Với sự xuất hiện của nhiều nghànhnghề mới mà trước đây chúng ta không có như công nghệ thông tin, công nghệ sinhhọc, vật liệu mới, vv…Mặc dù nó chưa phát triển nhưng đó là dấu hiệu cho sự pháttriển khoa học và công nghệ, tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủnghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất ở nước ta

Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa đang trở thành một xu thế tất yếu, đây

là cơ hội quý hiếm giúp cho các nước tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thếgiới, để vận dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đối với ViệtNam, chúng ta có nhiều cơ hội hơn nữa để tiếp cận một cách nhanh chóng và đầy đủkhách quan những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới, tiếp nhận

sự chuyển giao công nghệ thích hợp góp phần nâng cao trình độ khoa học và côngnghệ trong nước, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn, đưa nước ta sớm trởthành một nước công nghiệp trong tương lai Sự phát triển của các thành phần kinh

tế sẽ là những chiếc cầu nối quan trọng để đưa những tiến bộ của khoa học, côngnghệ cũng như trình độ tổ chức quản lý hiện đại vào để phát triển khoa học, cộngnghệ ở nước ta hiện nay, tạo động lực để khoa học, công nghệ ngày càng trở thànhlực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, phát triển lực lượng sản xuất

Như vậy, lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với

tư liệu sản xuất tạo thành nội dung vật chất của quá trình sản xuất xã hội.

Tất cả các yếu tố trong lực lượng sản xuất đều có mối liên hệ tác động qua lạimột cách khách quan, trong đó con người đóng vai trò quan trọng là nguồn lực của

Trang 19

mọi nguồn lực Bởi người lao động với lao động trí óc của mình mới có đủ khảnăng để kết hợp tất cả các nguồn lực một cách có hiệu quả Tùy thuộc vào năng lực,trình độ của mỗi con người mà những yếu tố lực lượng sản xuất được phát huy cáchnày hay cách khác Con người lao động là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất,tạo ra công cụ, cải tiến công cụ, tạo ra sản phẩm Nếu không có người lao động thìnhững yếu tố khác ngoài con người không phát huy tác dụng Cho dù ngày nay,công nghệ máy móc đã và đang trở thành xu thế phổ biến trong đời sống xã hội,nhưng đó chỉ là sự phản ánh một phần nhỏ trong thế giới nội tại của bản thân con

người, trí tuệ của con người vẫn luôn là sức mạnh hàng đầu Bởi vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản chất con người, nói lên năng lực thực tiễn cải biến tự nhiên của chính bản thân con người.

Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa đang ngày càng mạnh mẽ cả về chiềurộng, lẫn chiều sâu và dần trở thành một xu thế khách quan, nó cuốn hút tất cả cácquốc gia trên thế giới tham gia Động lực chính của xu hướng toàn cầu hóa là sựphát triển của lực lượng sản xuất, mà lực lượng sản xuất thì không ngừng lớn mạnh,đây là quy luật chung của mọi quốc gia, mọi thời đại và mọi chế độ xã hội Ở nước

ta, với trình độ lực lượng sản xuất còn thấp Do vậy, việc xây dựng nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một mặt đó là sự phù hợpvới trình độ lực lượng sản xuất của nước ta, mặt khác nó cũng là động lực thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển

1.1.2 Vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Thứ nhất, lực lượng sản xuất là cơ sở, nền tảng của hoạt động sản xuất vật chất xã hội

Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh rằng sự sản xuất của xã hội loàingười bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra chính bản thâncon người, ba quá trình sản xuất đó không tách biệt nhau mà có mối quan hệ tácđộng qua lại với nhau làm phong phú thêm đời sống sản xuất của con người, trongmối quan hệ đó, sản xuất vật chất là yếu tố giữ vai trò quyết định là cơ sở cho sự tồn

Trang 20

tại và phát triển xã hội, xét đến cùng quyết định đến toàn bộ sự vận động của đờisống xã hội con người

Sản xuất vật chất là một hoạt động mang tính đặc trưng riêng có của con người

và của xã hội loài người, dùng để chỉ quá trình con người sử dụng công cụ lao độngtác động vào giới tự nhiên cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên tạo ra của cải

xã hội, nhằm thỏa mãn những nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài người.Như vậy, hoạt động sản xuất vật chất là điều kiện tự nhiên vĩnh cữu cho cuộcsống của con người, là nhân tố quyết định đến sự sinh tồn, phát triển của con người

và xã hội loài người Đồng thời, làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hộicủa con người Như thế, sản xuất vật chất với tư cách là hành vi lịch sử đầu tiên củacon người, nó không chỉ là cơ sở cho sự hình thành, biến đổi và phát triển của xãhội loài người mà thông qua hành vi sản xuất vật chất đó con người vượt lên trênthế giới loài vật - chỉ hái lượm để khẳng định vị trí, vai trò của mình trong sự vậnđộng và phát triển của giới tự nhiên

Sự vận động và phát triển của xã hội loài người đã cho chúng ta thấy, mọiquan hệ xã hội phức tạp của đời sống xã hội dù thể hiện trong bất kỳ lĩnh vực chínhtrị hay pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức, khoa học…đều được hình thànhtrên cơ sở sự biến đổi và vận động của đời sống sản xuất vật chất Do đó, sản xuất

ra của cải vật chất là một yêu cầu khách quan, là điều kiện cơ bản của mọi xã hội,đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của xã hội Ngoài ra, sản xuất vật chất còn là

cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội loài người Bởi chúng ta biết rằng, sản xuất vật chấtcủa con người ngày một phát triển từ trình độ thấp cho đến trình độ cao Nhờ vào sựcải tiến công cụ lao động cũng như sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật mà năng suấtlao động nâng cao, điều đó kéo theo sự vận động và phát triển của xã hội

Để cho quá trình sản xuất vật chất của con người được diễn ra cần phải cónhững điều kiện đó là môi trường, dân số và phương thức sản xuất Trong ba điềukiện trên thì phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đến quá trình sản xuấtvật chất của con người Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá

Trang 21

trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.Trong hoạt động sản xuất vật chất hai mặt này không tách rời nhau mà tác động qualại với nhau tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Trong mối quan hệ tác động qua lại đó lực lượng sảnxuất là yếu tố đóng vai trò quan trọng và quyết định bước chuyển khách quan và tựnhiên từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác Lựclượng sản xuất là mặt nội dung và quyết định đến quá trình sản xuất vật chất củacon người Xét cho cùng chính sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định bướcchuyển khách quan và tự nhiên từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh

tế - xã hội khác Mặt hình thức của sản xuất vật chất là quan hệ sản xuất, chính sựvận động và phát triển của quy luật này làm cho quá trình sản xuất của con ngườikhông ngừng vận động và phát triển Từ đó kéo theo sự vận động và phát triển của

xã hội loài người Sự vận động đó bao giờ cũng theo chiều hướng ngày một pháttriển và hoàn thiện hơn

Như vậy, sản xuất vật chất là nền tảng, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của

xã hội, trong đó lực lượng sản xuất là cơ sở, nền tảng của sản xuất vật chất Thựctiễn của sự vận động và phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử đãminh chứng cho vai trò quan trọng và không thể thiếu của lực lượng sản xuất đốivới nền sản xuất vật chất của xã hội

Thứ hai, lực lượng sản xuất là nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế - xã hội

Như chúng ta đã biết, mỗi nấc thang phát triển của xã hội loài người bao giờcũng gắn liền với những hình thái kinh tế - xã hội nhất định Trong mỗi hình tháikinh tế - xã hội lực lượng sản xuất đóng một vai trò hết sức quan trọng Nó khôngchỉ là yếu tố thúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội loài người mà nó cònđóng vai trò là nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế - xã hội

Trang 22

Sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế - xã hội xét đến cùng là do lựclượng sản xuất quyết định

Cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi chế độ xã hội là tổng thể các yếu tố vật chấtcủa sản xuất (các công cụ và các tư liệu lao động) cần thiết để làm xuất hiện và pháttriển một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật là mặt chủ đạo và cách mạng nhất của sảnxuất, phản ánh trình độ chinh phục cải biến tự nhiên của con người trong mỗi thờiđại lịch sử, điều này thể hiện trong lực lượng sản xuất Bởi khi nói đến lực lượng sảnxuất là nói đến người lao động và tư liệu sản xuất, cùng với sự phát triển của khoahọc và công nghệ thì nó trở thành một bộ phận không thể thiếu của lực lượng sảnxuất Tất cả những yếu tố này đều là nền tảng vật chất, kỹ thuật không thể thiếutrong mỗi chế độ xã hội Vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất chính là cơ sở để xâydựng nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi chế độ xã hội Ở nước ta hiện nay, đểxây dựng nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội thì cần phải phát

triển lực lượng sản xuất Đó là phát triển khoa học và công nghệ, cải tiến công cụ lao động, mở rộng đối tượng lao động, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đây là một vấn đề cấp thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu phát

triển của nước ta hiện nay

Như vậy, khi chúng ta xem xét đánh giá sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuậtcủa mỗi hình thái kinh tế - xã hội thì phải căn cứ vào sự biến đổi cũng như sự pháttriển của lực lượng sản xuất và căn cứ vào sự phát triển khoa học, kỹ thuật của hìnhthái kinh tế - xã hội Ngoài ra, phải xem xét đến tính chất và trình độ của các quan hệ

xã hội đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị Mỗi hình thái kinh tế - xã hội khácnhau, có lực lượng sản xuất khác nhau Do vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi hìnhthái kinh tế - xã hội cũng khác nhau Sự khác nhau đó bắt nguồn từ sự vận động vàphát triển của lực lượng sản xuất Chúng ta biết rằng, trong xã hội công xã nguyênthủy, chiếm hữu nô lệ và phong kiến, cơ sở vật chất kỹ thuật của những phươngthức sản xuất này dựa vào công cụ lao động thủ công, nhỏ bé, lạc hậu là chính

Trang 23

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa là nền đại công nghiệp cơ khí hóa, còn trong phươngthức sản xuất cộng sản chủ nghĩa trong tương lai đó là phương thức sản xuất dựatrên nền công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có tính chất xã hội hóasản xuất cao dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại

Như thế, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho cơ sở vật chất

kỹ thuật của xã hội ngày một phát triển hơn cả về số lượng và chất lượng Đối với

sự phát triển của các thành phần kinh tế nói riêng, lực lượng sản xuất chính là cơ sởvật chất kỹ thuật, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các thànhphần kinh tế, theo đó để thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, điềuquan trọng là phải phát triển các yếu tố trong lực lượng sản xuất, nhằm tạo nền tảng

cơ sở vật chất kỹ thuật vững chắc cho sự phát triển của các thành phần kinh tế Quátrình này trở thành nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất ở nước ta ngày một phát triể

Thứ ba, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định đến năng suất lao động xã hội

Năng suất lao động chính là năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động

cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (haylượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gianlao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm Trình độ phát triển của mỗichế độ xã hội được biểu hiện thông qua năng suất lao động trong quá trình sản xuấtvật chất của xã hội V.I.Lênin cho rằng năng suất lao động là yếu tố đảm bảo chắcchắn nhất cho chế độ xã hội này chiến thắng chế độ xã hội khác Đối với mỗi quốcgia, năng lực cạnh tranh trên thị trường yếu hay mạnh phụ thuộc vào năng suất laođộng Như vậy, năng suất lao động xã hội chính là nhân tố bảo đảm cho sự pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Lực lượng sản xuất là một yếu tố quan trọngtrong phương thức sản xuất của mỗi chế độ xã hội, quyết định đến năng suất laođộng của xã hội Năng suất lao động nhiều hay ít phụ thuộc vào trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất Chính vì vậy, để sản xuất ra nhiều sản phẩm trong xã hội thìphải chú trọng phát triển lực lượng sản xuất

Trang 24

Vai trò của lực lượng sản xuất đối với năng suất lao động xã hội ở chỗ Lựclượng sản xuất quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm của xã hội Nếu nhưlực lượng sản xuất yếu kém và lạc hậu thì năng suất lao động thấp, sản phẩm làm rakhông chỉ bị hạn chế về số lượng mà chất lượng sản phẩm thấp Vì vậy, không đápứng được nhu cầu thiết yếu trong xã hội, trở thành nhân tố kìm hãm mọi sự pháttriển và tiến bộ xã hội Ngược lại, lực lượng sản xuất đạt ở trình độ cao thì sản phẩmlàm ra nhiều hơn không chỉ đáp ứng về số lượng và chất lượng sản phẩm Khi tưduy của con người ngày một phát triển, công cụ lao động được cải tiến, những phátminh khoa học và công nghệ được đưa vào trong hoạt động sản xuất, nhờ vậy hoạtđộng sản xuất ngày càng phát triển về chiều rộng và chiều sâu, làm cho năng suấtlao động xã hội ngày một tăng lên Như vậy, năng suất lao động xã hội sẽ tăng lêncùng với sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất

Thực tiễn sự vận động và phát triển của xã hội loài người đã cho thấy, trong xãhội cộng sản nguyên thủy cũng như xã hội chiếm hữu nô lệ, lực lượng lao động ởtrình độ thấp, công cụ lao động thô sơ, trình độ của con người còn thấp kém chưathể sáng tạo ra những công cụ lao động mới, cũng như việc khám phá ra những đốitượng lao động mới Do lực lượng sản xuất ở trình độ thấp nên sự phân công laođộng trong xã hội diễn ra chậm chạp, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, lao độngthủ công là chính Vì vậy, năng suất lao động rất thấp, không đáp ứng nhu cầu của

xã hội Bước sang thế kỷ XVIII - XIX loài người đã chứng kiến những đổi thay củalịch sử nhân loại, cách mạng khoa học công nghệ đã diễn ra Cuộc cách mạng kỹthuật này đã thúc đẩy sự phát triển to lớn của lực lượng sản xuất xã hội, khoa học kỹthuật được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực sản xuất, nhiều nghành nghềmới ra đời như công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…,khoa học và công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, mở đầu chothời kỳ đẩy mạnh quá trình tự động hóa sản xuất trong hoạt động sản xuất của conngười cũng như những sự thay đổi lớn trong lĩnh vực chính trị, phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa được xác lập, dần dần thống trị trên trên phạm vi thế giới Sựphát triển của khoa học kỹ thuật cho phép con người tạo ra nhiều sản phẩm hơn,

Trang 25

mới hơn, tiện nghi hơn, do đó làm thay đổi toàn bộ phương thức sinh hoạt và tiêudùng của con người Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất mà đặc biệt khoahọc và công nghệ đã thực sự mang lại những biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnhvực đời sống xã hội, góp phần tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy xã hội loàingười ngày một văn minh và tiến bộ hơn.

Ở nước ta, tuy rằng chúng ta đã vượt qua được những khó khăn về kinh tế, đờisống nhân dân về cơ bản được cải thiện Thế nhưng, so với các nước trong khu vực vàtrên thế giới, năng suất lao động của chúng ta còn thấp, điều này xuất phát từ chỗ, trình

độ lực lượng sản xuất của nước ta còn ở mức thấp, đã trở thành nhân tố cản trở đếnnăng suất lao động xã hội Do vậy phát triển lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiệnnay là một việc làm hết sức cần thiết đối với nước ta

1.1.3 Đặc điểm của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, đặc điểm về nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

- Nước ta là một nước có nguồn nhân lực dồi dào, đa số là lao động trẻ

Nước ta là một nước có quy mô dân số tương đối lớn, trong đó số người trong

độ tuổi lao động chiếm 51% dân số của cả nước và đang có xu hướng ngày mộttăng, bình quân mỗi năm chúng ta có thêm khoảng 1 triệu người bước vào độ tuổilao động Như vậy, nước ta là một nước đa số là lao động trẻ, đây là một trongnhững đặc điểm nổi bật của lực lượng lao động ở nước ta hiện nay Lao động trẻ cókhả năng tiếp thu và thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường, thuận lợitrong việc đào tạo phát triển, nâng cao trình độ và tiếp thu những tinh hoa về khoahọc và công nghệ hiện đại của thế giới, bộ phận này có khả năng đáp ứng nhu cầuphát triển đất nước trong bối cảnh hiện nay

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải thấy rằng với lực lượng lao động trẻ vàđang có xu hướng tăng nhanh, trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta cònthấp Cho nên, một vấn đề đặt ra chính là việc làm cho người lao động, đây cũng làmột trong những vấn đề cấp bách ở nước ta hiện nay Trong điều đó, việc phát triển

Trang 26

các thành phần kinh tế sẽ góp phần khai thác thế mạnh về nguồn nhân lực và giảiquyết việc làm cho người lao động.

- Chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta còn thấp

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, nước ta có nguồn lao động rấtdồi dào, đây là một trong những thế mạnh của chúng ta Tuy nhiên, trong lực lượngsản xuất, số lượng lao động không phải là nhân tố để tạo nên sức mạnh của conngười, điều quan trọng chính là chất lượng của nguồn lao động Hiện nay, chấtlượng nguồn nhân lực ở nước ta còn rất thấp bao gồm trong đó cả trí lực và thể lực,điều này đã trở thành nhân tố cản trở đến sự phát triển của nền kinh tế cũng như sựphát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay

Mặc dù chất lượng nguồn lao động trong những năm qua có xu hướng tăng,nhưng nhìn chung chất lượng lao động còn thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở nước

ta hiện nay chỉ đạt khoảng 30%, còn lại là lao động phổ thông chưa qua đào tạo,phần lớn lao động Việt Nam thiếu kỹ năng và trình độ cao trong chuyên môn, thiếutrầm trọng về đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, chuyên gia kinh tế, nhà quản lýgiỏi, đội ngũ công nhân lành nghề

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng chung đó là do chất lượng giáo dụcđào tạo chưa cao, đào tạo chưa gắn với nhu cầu của sản xuất, của thị trường laođộng Thực tiễn cho thấy, chất lượng lao động đã qua đào tạo cũng chưa đáp ứngđược nhu cầu của đất nước Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cầnphải đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo trong các trường học

Bên cạnh tình trạng chất lượng lao động thấp đó, thì lao động ở nước ta phân

bố không đồng đều giữa các vùng, lĩnh vực sản xuất Cho đến nay số lao động ởnông thôn vẫn chiếm tỷ lệ cao khoảng 73% trong tổng số lao động của cả nước, cònlại là lao động ở thành thị Trong khi đó lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuậtcao tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, ở nông thôn lao động thủ công là chính

Vì vậy, lao động nông thôn rất cần phải được đào tạo, dạy nghề nhằm nâng caotrình độ chuyên môn, nhằm đáp ứng nhu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

Trang 27

hóa đất nước Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta phải sắp xếp, bố trí lại lao động ởvùng, các lĩnh vực sản xuất, nhằm tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền

và trong các lĩnh vực kinh tế

Ngoài ra lao động ở nước ta vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của chế độphong kiến để lại Những tập quán, thói quen hình thành và tồn tại quá lâu tronglịch sử đã ăn bám vào mỗi con người lao động ở Việt Nam, tạo nên một sức ỳ ghêgớm Với lối làm ăn manh mún, tản mạn, gặp chăng hay chớ, tư duy chậm, kémnăng động, lối sống khép kín, rụt rè…Điều này trở thành nhân tố kìm hãm sự pháttriển một cách toàn diện con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế, quốc

tế Một đặc điểm thường thấy ở lao động Việt Nam đó sự hạn chế về sức khỏe Domôi trường làm việc bị ô nhiễm, chế độ ăn uống không hợp lý…sức khỏe khôngđảm bảo cho công việc, điều này cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn laođộng cũng như giảm hiệu quả trong lao động sản xuất

Nhìn chung chất lượng nguồn lao động của nước ta còn thấp, phát triển lạikhông đồng đều Với đặc điểm lực lượng sản xuất như vậy thì chưa thể đáp ứngđược nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như sự phát triểncủa lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay Vì vậy, phát triển người lao động mộtcách toàn diện là một trong những nhân tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững củanước ta Trong giai đoạn hiện nay, do chúng ta đang thiếu trầm trọng về đội ngũ cán

bộ khoa học, kỹ thuật, công nhân lành nghề, do đó phát triển nguồn nhân lực đặcbiệt là nguồn nhân lực chất lượng cao là một yêu cầu cấp thiết, nhằm đáp ứng nhucầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như quá trình hội nhập kinh

tế, quốc tế ở nước ta

Thứ hai, đặc điểm của tư liệu sản xuất ở nước ta hiện nay

- Đối tượng lao động, có thể nói rằng thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta

một nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng với “rừng vàng, biển bạc”, tàinguyên đất, các loại tài nguyên khoáng sản, vv…đây là loại đối tượng sẵn có trongthiên nhiên của chúng ta Hiện nay, loại đối tượng lao động này vẫn còn số lượng

Trang 28

nhiều, đây thật sự là một lợi thế lớn đối với nước ta trong quá trình xây dựng đấtnước Tuy nhiên, tình trạng khai thác bất hợp lý sẽ là một trong những nguy cơ dẫnđến sự cạn kiệt về nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai Vì vậy, Đảng vàNhà nước ta cần phải có những chính sách đúng đắn và hợp lý, có sự quản lý chặtchẽ đối với nguồn tài nguyên thiên của quốc gia, đảm bảo cho sự phát triển bềnvững lâu dài của đất nước

Đối với loại đối tượng đã qua chế biến, loại đối tượng này đòi hỏi phải có trình

độ khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại mới có thể tạo ra những nguồn nguyênliệu mới Ở nước ta, bên cạnh những nghành công nghiệp truyền thống như chế biếnsợi, công nghiệp than…Còn có sự xuất hiện của một số nghành mới có hàm lượngchất xám cao như công nghệ sinh học, chế tạo máy móc, công nghệ thông tin…Đâythật sự là những dấu hiệu đáng mừng đối với chúng ta, trong tương lai loại đốitượng này sẽ phát triển nhờ vào sự phát triển của khoa học và công nghệ

Nhìn chung, đối tượng sản xuất của chúng ta rất phong phú và đa dạng, đây sẽ

là một lợi thế rất lớn đối với sự phát triển của các thành phần kinh tế nói riêng và sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở nước ta nói chung Để sử dụnghiệu quả hơn nữa về nguồn tài nguyên thiên nhiên, đòi hỏi Đảng và Nhà nước tacũng như chính bản thân các thành phần kinh tế cần chú trọng phát triển khoa học

và công nghệ, cải tiến công cụ lao động, để khai thác hiệu quả hơn về loại đối tượngsẵn có, đồng thời là mở rộng và sáng tạo thêm nhiều đối tượng sản xuất mới

- Tư liệu lao động, nước ta xuất phát điểm là một nền sản xuất nhỏ với lao

động thủ công là chính, trên cơ sở nhận thức rõ về vai trò của công cụ lao động đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước tiến hành côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm chuyển đổi căn bản lao động sử dụng sứclao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng vớicông nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển củacông nghiệp và tiến bộ khoa học và công nghệ, góp phần tăng năng suất lao độngtrong xã hội Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nay đã mang lại hiệu quả

Trang 29

to lớn đối với sự phát triển của đất nước, đưa nước ta từ một nước kém phát triểnbước vào nhóm các nước đang phát triển Mặc dù, trình độ phát triển của công cụlao động ở nước ta hiện nay có bước phát triển, máy móc được ứng dụng rộng rãitrong các lĩnh vực sản xuất, trình độ công nghệ của một số nghành sản xuất, dịch vụ

đã được nâng lên đáng kể, sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước.Tuy nhiên, trình độ của công cụ lao động ở nước ta còn ở mức trung bình, chưa đápứng nhu cầu phát triển của đất nước Bên cạnh những nghành sử dụng máy móccông nghệ hiện đại, thì còn có một số nghành vẫn còn sử dụng công nghệ, thiết bịmáy móc cũ, lạc hậu, tiêu hao nguyên liệu, ô nhiễm môi trường đó là những nghànhcông nghiệp truyền thống như sản xuất hàng hóa tiêu dùng, sắt, thép, xi măng, vv…Điều này ảnh hưởng rất lớn năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm tính cạnh tranhtrên thị trường Một trong những nguyên nhân dẫn đến trình trạng kinh doanh thua

lỗ, kém hiệu quả, phá sản của các doanh nghiệp đó sự yếu kém về máy móc, khoahọc và công nghệ hiện đại Vì vậy, đổi mới các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanhnghiệp nhà nước là một việc làm hết sức quan trọng, đó là sự đổi mới về khoa học

và công nghệ lạc hậu thay vào đó là các loại phương tiện máy móc hiện đại, trình độ

tổ chức quản lý tiên tiến, góp phần thúc đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa ở nước ta diễn ra nhanh và có hiệu quả, thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển

Về phương tiện lao động, với vai trò là toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo nềntảng cho sự phát triển toàn diện của đất nước Hiện nay, về cơ bản hệ thống kết cấu

hạ tầng của nước ta cũng tương đối hoàn thiện, bao gồm kết cấu hạ tầng kinh tế vàkết cấu hạ tầng xã hội Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế bao gồm: hệ thống giaothông vận tải, thủy lợi, cấp thoát nước, điện, viễn thông…Hệ thống kết cấu hạ tầng

xã hội bao gồm: trường học, bệnh viện, cơ sở văn hóa, nghiên cứu khoa học, côngtrình công cộng, nhà ở, công trình bảo vệ môi trường, vv…Sự phát triển và hoànthiện của hai hệ thống này tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế pháttriển nói riêng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Hiện nay, hệthống kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở nước ta đang từng bước được nâng cấp

Trang 30

và hiện đại hóa Bên cạnh đó, các nhà máy, hệ thống điện, viễn thông, vv… cũngđang dần hoàn thiện nhằm đảm bảo cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóadiễn ra thuận lợi Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể hệ thống kết cấu hạ tầng ở nước tavẫn trong tình trạng lạc hậu, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, thiếu đồng bộ, chưa có sự liênkết giữa các bộ phận, nguồn vốn đầu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng còn thiếutrầm trọng, điều này làm cản trở đến sự phát triển kinh tế - xã hội, cản trở đến sựphát triển của lực lượng sản xuất Cho nên, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng

xã hội là một vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta

Về khoa học và công nghệ, hiện nay khoa học và công nghệ ở nước ta đangtừng bước hình thành và phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ sinh học,năng lượng, công nghệ chế tạo vật liệu mới, điện tử, tin học Nhờ quá trình chuyểngiao công nghệ từ bên ngoài mà trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực sản xuất,dịch vụ đã được nâng lên đáng kể, sản phẩm mang tính cạnh tranh Hệ thống quản

lý của nhà nước về khoa học và công nghệ được xây dựng và phát triển mạnh mẽ từtrung ương đến địa phương Những tiến bộ trong lĩnh vực khoa học và công nghệthực sự đã tạo ra động lực mới cho sự phát triển của lực lượng sản xuất Đối với cácthành phần kinh tế, đây là cơ hội cho quá trình chuyển giao công nghệ mới, hiện đạivào trong quá trình sản xuất Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể khoa học và công nghệ ởnước ta vẫn đang ở trình độ thấp, thiếu đồng bộ và mất cân đối nghiêm trọng Nhìn chung so với các nước trong khu vực và trên thế giới, trình độ phát triểnlực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay còn thấp, chúng ta vẫn là một nước nôngnghiệp, trình độ phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn lao động có trình độ caovẫn thấp, tư liệu sản xuất phát triển chưa đồng bộ, khoa học và công nghệ có sựphát triển nhưng về cơ bản đang ở trình độ thấp, đầu tư cho sự phát triển khoa học

và công nghệ còn thấp, thiếu đồng bộ và mất cân đối nghiêm trọng, vì vậy chưa đápứng được nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay

Sự hạn chế về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã làm cho các thànhphần kinh tế chưa khai thác hết tiềm năng của mình Do vậy, để tạo động lực cho sự

Trang 31

phát triển, bản thân các thành phần kinh tế phải không ngừng đổi mới, hoàn thiệncác yếu tố trong lực lượng sản xuất, quá trình này không chỉ mang lại hiệu quả caođối với các thành phần kinh tế mà còn là động lực để thúc đẩy lực lượng sản xuất ởnước ta ngày một phát triển.

Như thế, việc phát triển các thành phần kinh tế trong giai đoạn hiện nay, nhằm phát huy tốt hơn nữa mọi nguồn lực của đất nước, là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

1.2 Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ở Việt Nam hiện nay

Sự ra đời và phát triển của kinh thị trường không phải xuất phát từ ý muốnchủ quan của con người, mà bắt nguồn từ thực tiễn của nền sản xuất xã hội Chính

sự phân công lao động ngày một diễn ra mạnh mẽ, mà trước hết là ở lĩnh vực sảnxuất của xã hội Hễ ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hội và sản xuấthàng hóa thì ở đó và khi ấy có kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là trình độ pháttriển cao của kinh tế hàng hóa, sự phát triển kinh tế hàng hóa là sự phát triển của lựclượng sản xuất xã hội, tạo năng suất lao động cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng đadạng và phong phú của con người

Suy cho cùng, chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã đưa đến sự rađời và phát triển của kinh tế thị trường Theo đó kinh tế thị trường là con đường cơbản nhất tạo điều kiện để giải phóng lực lượng sản xuất, làm tăng năng suất laođộng xã hội, là sự phản ánh trong đó quy luật phát triển khách quan của sự vận động

và phát triển của xã hội loài người, đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Kinh tế thị trường là thành tựu chung của nhân loại, do vậy dù theo con đường

tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa cũng đều có thể sử dụng kinh tế thị trườnglàm động lực cho sự phát triển của kinh tế - xã hội Sự ra đời và phát triển của kinh

Trang 32

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là kết quả của sự tổng kết thựctiễn, sự kế thừa và phát triển các lý thuyết về kinh tế thị trường, là sự phù hợp vớithực tiễn của đất nước Chúng ta đi lên từ một nước thuần nông, trình độ lực lượngsản xuất còn thấp, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội, đây làcon đường phát triển “rút ngắn” nhưng vẫn phù hợp với xu thế khách quan của thờiđại Đó là sự vận dụng đúng đắn quy luật về sự phù hợp khách quan giữa quan hệsản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Cái có ý nghĩa quyết địnhtrong quy luật này là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự tồn tại của cácthành phần kinh tế và các hình thức sở hữu đa dạng ở một nền kinh tế theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Do vậy, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa nhằm tháo gỡ những hạn chế, sai lầm trong nền kinh tế tập trung, quanliêu bao cấp, nhằm tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất ngày một phát triểntheo hướng hiện đại

Với tên gọi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là sự phù hợpvới đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Đó không phải là nềnkinh tế thị trường giống chủ nghĩa tư bản, mà cũng chưa phải là nền kinh tế thịtrường thực sự của chủ nghĩa xã hội, mà đơn thuần là nền kinh tế mang tính địnhhướng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tính chất định hướng xãhội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta được biểu hiện thông qua việcthành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và chi phối hoat động của nền kinh

tế, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tếquốc dân Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý, điều tiết của Nhà nước mang tính chất

xã hội chủ nghĩa đối với toàn bộ nền kinh tế, nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu,nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh

Có thể thấy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta làmột hình thức đặc thù của nền kinh tế thị trường Bởi thế, một mặt vừa chịu sự tácđộng của các quy luật của kinh tế thị trường nói chung, mặt khác lại chịu sự tác

Trang 33

động của các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội, đảm bảo sự phát triển đúng mụctiêu, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam làmột sự phát triển mang tính phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị trường tưbản chủ nghĩa, nhưng nói như vậy không phải là sự phủ định sạch trơn chủ nghĩa tưbản mà ngược lại chúng ta đã kế thừa có chọn lọc những điểm tích cực trong nềnkinh tế thị trường chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, về trình

độ tổ chức quản lý để vận dụng vào đất nước ta Vì thế, bên cạnh những nét chungthì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có những đặc trưngriêng để phân biệt với nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản

Về mục tiêu, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng đến

mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làmchủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệsản xuất tiến bộ phù hợp, đây là mục tiêu xuyên suốt trên con đường đi lên chủnghĩa xã hội của chúng ta, đó là nền kinh tế hướng đến nhân dân Đúng như Bác Hồ

đã từng nói rằng mọi sự phát triển đều phải xuất phát từ nhân dân, vì lợi ích củanhân dân, tư tưởng kinh tế gắn với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội

Trên cơ sở đó Đảng ta cũng đã xác định mục đích mà nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa hướng đến là nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xâydựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, nâng cao năng suất lao động xã hội, từngbước xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiện mụctiêu đã đề ra

Như vậy, việc phát triển kinh tế thị trường và mục tiêu của chế độ xã hội sẽkhông mâu thuẫn với nhau, nếu như Đảng và Nhà nước ta có những chiến lược,phương sách để giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình xâydựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xem kinh tế thịtrường như là một phương tiện để đạt được mục đích khi phát triển nó theo mộtđịnh hướng và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, nhằm phát huy tất cả nhữngmặt tích cực và hạn chế những khuyết tật của nó Để thực hiện được mục đích, cũng

Trang 34

như đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, thì Nhànước phải làm tốt chức năng quản lý vĩ mô của mình, tạo môi trường thuận lợi chocác thành phần kinh tế cùng phát triển, đồng thời kinh tế nhà nước phải được pháttriển vững mạnh để làm tốt vai trò chủ đạo, dẫn dắt các thành phần kinh tế kháccùng phát triển, hướng đến mục đích đó là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng

cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Theo đó Đại hội XI của Đảng ta xác định:

“Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm tạolập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính” [16, tr.106], là mộttrong những đột phá chiến lược trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Về vấn đề sở hữu, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là

nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần dựa trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu

về tư liệu sản xuất, với ba loại hình sở hữu cơ bản đó là: sở hữu nhà nước, sở hữu tậpthể, sở hữu tư nhân Trên cơ sở ba loại hình sở hữu cơ bản đó, hình thành nhiều thànhphần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau, trong đó chế độcông hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, với vaitrò chủ đạo của kinh tế nhà nước và sự quản lý của Nhà nước đối với các thành phầnkinh tế, nhằm bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường.Một điều đặc biệt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

đó là sự tồn tại, đan xen các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế tư bản, điều nàykhông có nghĩa là mâu thuẫn với bản chất chế độ xã hội, mà đó là sự phù hợp với trình

độ lực lượng sản xuất ở nước ta, phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lêninrằng chúng ta không thể xóa bỏ ngay lập tức chế độ tư hữu trong khi trình độ phát triểnlực lượng sản xuất còn thấp Trên cơ sở đó văn kiện Đại hội XI của Đảng ta tiếp tụcnhấn mạnh: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiềuhình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thứcphân phối” [16, tr.73]

Như vậy, quan điểm về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần củaĐảng ta là sự vận dụng một cách đúng đắn và linh hoạt những quan điểm của chủ

nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn của đất nước Đây là sự nối tiếp cuộc cách mạng

Trang 35

xây dựng quan hệ sản xuất trong điều kiện mới của đất nước nhằm thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay.

Về chế độ phân phối, phân phối là một mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, đồng

thời là một khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội Bởi vậy, trong quátrình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaĐảng ta rất coi trọng vấn đề này Trên cơ sở đa dạng hóa về các hình thức sở hữu vàthành phần kinh tế, nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức phânphối, phù hợp nền kinh tế thị trường và yếu tố định hướng xã hội chủ nghĩa, phânphối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng gópvốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúclợi xã hội Trong đó phân phối theo kết quả lao động đóng vai trò nòng cốt, đi đôivới chính sách điều tiết thu nhập một cách hợp lý Sự phân phối này vừa đảm bảolợi ích công bằng trong xã hội vừa thể hiện tính nhân văn sâu sắc Vì vậy, xây dựngquan hệ phân phối hợp lý góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra động lực mới cho sự phát triển củalực lượng sản xuất

Về cơ chế vận hành, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền

kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Cơ chế đó bảo đảm tính hướng dẫn, điều khiển nềnkinh tế nhiều thành phần phát triển theo mục tiêu và bản chất của chế độ xã hội Vớiphương châm: Nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp Cơ

chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: Thứ nhất, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhân tố đóng vai trò “nhân vật trung tâm” và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Thứ hai, cơ chế thị

trường là nhân tố trung tâm của nền kinh tế, đóng vai trò “trung gian” giữa Nhànước và doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo củaĐảng và sự quản lý của Nhà nước bao giờ cũng phải tuân theo những khuôn phép

và những quy luật chung của nền kinh tế thị trường Nhà nước thông qua các kếhoạch phát triển kinh tế, đồng thời để cho hoạt động trên thị trường diễn ra theo

Trang 36

chiều hướng tích cực Nhà nước phải sử dụng các công cụ pháp luật, hành chính,kinh tế vĩ mô, nhằm ngăn chặn những hạn chế và khuyết tật trên thị trường, tạo điềukiện giải phóng sức sản xuất, phát triển nền kinh tế thị trường theo mục tiêu và bảnchất của chế độ xã hội.

Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn luôn coitrọng đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội Trong xã hội tư bản, nền kinh tế thịtrường, sự tiến bộ công bằng trong xã hội bị giới hạn hay nó chỉ là hình thức cheđậy bản chất bóc lột của mình C.Mác đã từng nói rằng tư bản ra đời thấm đầy máu

và nước mắt đến tận lỗ chân lông của nó Ngược lại, sự phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là quá trình giải quyết mối quan hệ tăngtrưởng kinh tế gắn liền với sự tiến bộ và công bằng xã hội, mọi sự phát triển vì conngười, lấy con người làm trọng

Có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chứckinh tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế còn ở trình

độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn, hướng tới chế độ xã hội mới - xã hội xãhội chủ nghĩa Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao vềmặt xã hội, hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục

vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là con đường duy nhất để cởi trói quan hệ sản xuất hạn hẹp, lạc hậu, để mở đường cho sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta

Hiện nay, đất nước chúng ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sảnxuất Trong điều kiện đó, kinh tế thị trường được Đảng và Nhà nước ta sử dụng như

là một công cụ, một phương thức, một hành trang có ý nghĩa nhằm sớm đưa nước tatrở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiện mục tiêu dân giàu,nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh

Trang 37

1.2.2 Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

- Kinh tế nhà nước

Kinh tế nhà nước, là một thành phần kinh tế tồn tại phổ biến trong mọi quốc gia,đối với các nước xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong cơcấu kinh tế - xã hội của quốc gia đó Ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội, thành phần kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời trở thành một trong những đặc trưng, yếu tốbảo đảm cho tính định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế nhà nước được hiểu là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữutoàn dân về tư liệu sản xuất, bao gồm: Các doanh nghiệp nhà nước, các tài nguyênquốc gia và tài sản thuộc sở hữu nhà nước như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, ngânsách nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, hệ thống bảo hiểm, kết cấu kinh tế hạ tầng

xã hội, phần vốn các doanh nghiệp nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác

Xét ở góc độ quan hệ sản xuất, kinh tế nhà nước dựa trên chế độ công hữu về tưliệu sản xuất, điều này phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thờiphản ánh sức mạnh của kinh tế nhà nước như là một lực lượng tác động vào nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó kinh

tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo Sự phát triển của kinh tế nhà nước là động lực thúcđẩy sự phát triển lực lượng sản xuất nói riêng và nền kinh tế - xã hội nói chung Bởi vì,kinh tế nhà nước là lực lượng nắm trong tay cơ sở hạ tầng của đất nước Trên conđường đi lên chủ nghĩa xã hội, để xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất, phù hợp với bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, việc thiếtlập quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là nhằm hướng tớimục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Với tư cách là lực lượng nắm trong tay cơ sở hạ tầng của đất nước, kinh tế nhànước giữ vai trò làm “chủ đạo” chi phối đến toàn bộ nền kinh tế của đất nước, là lực

Trang 38

lượng vật chất chi phối và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vai trò chủ đạo củakinh tế nhà nước được thể hiện:

Thứ nhất, kinh tế nhà nước đóng vai trò là lực lượng vật chất và công cụ sắcbén và quản lý vĩ mô nền kinh tế Điều này được Đảng ta nhấn mạnh trong các kỳđại hội VIII, IX, X, Đến Đại hội XI Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng

và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô” [16, tr.101] Bởi vì, trongtất cả các thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế nắm giữ nhữngnghành, những lĩnh vực then chốt như năng lượng, tài chính, ngân hàng… trên nềntảng cơ sở hạ tầng đó hình thành nên kiến trúc thượng tầng của đất nước, trong đónhà nước đóng vai trò quyết định Đây được xem là một trong những vai trò hết sứcquan trọng của kinh tế nhà nước, là cơ sở nền tảng vững chắc đảm bảo sự can thiệpcủa nhà nước có hiệu quả hơn

Thực tế cho thấy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sựquản lý nhà nước là điều cần thiết, nhưng để thực hiện tốt vai trò quản lý của mìnhthì bắt buộc phải có nền kinh tế vững mạnh làm “bà đỡ” cho nhà nước, nếu không

có cơ sở kinh tế thì vai trò quản lý của nhà nước không phát huy tác dụng Đồng thời

sự có mặt của kinh tế nhà nước là cơ sở bảo đảm bảo sự điều tiết vĩ mô, hướng cácchủ thể sản xuất đi theo con đường kinh doanh đúng đắn phù hợp với mục tiêu và bảnchất của chế độ xã hội, điều này các thành phần kinh tế khác không thể làm được

Như vậy, kinh tế nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của đất nước, điều này trở thành một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Bởi vì kinh tế

nhà nước tập trung nguồn lao động lớn, nắm trong tay trình độ tổ chức quản lý, nắmgiữ những tư liệu sản xuất thiết yếu của xã hội

Trang 39

Thứ hai, kinh tế nhà nước với tư cách là một thành phần kinh tế giữ vai trò chủđạo trong nền kinh tế quốc dân, không ngừng xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng,cung cấp mọi nguồn lực, khoa học và công nghệ, tạo ra môi trường thuận lợi để chocác thành phần kinh tế cùng phát triển Như vậy, kinh tế nhà nước đã tạo ra nhữngtiền đề vật chất quan trọng để khai thông và tận dụng mọi nguồn lực ở trong tất cảcác thành phần kinh tế, vì sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, đảm bảo cho nềnkinh tế thực hiện đúng mục tiêu đã lựa chọn.

Thứ ba, kinh tế nhà nước là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta diễn ra trong điều kiệnphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đây không chỉ là sự nghiệp củatoàn dân, mà còn là sự nghiệp của mọi thành phần kinh tế Kinh tế nhà nước với tưcách là thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần,

là nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước Do vậy, kinh tế nhà nước luôn làlực lượng tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằmxây dựng và phát triển kinh tế nhà nước vững mạnh, giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắtcác thành phần kinh tế khác cùng tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Đồng thời, sự dẫndắt của kinh tế nhà nước là cơ sở đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa, hướngđến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Để thựchiện tốt vai trò này, kinh tế nhà nước phải có chiến lược đầu tư đúng đắn, khôngngừng đổi mới nâng cao trình độ tổ chức quản lý, chuyển giao khoa học và công

nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi đây là một trong những yếu tố quan trọng trong lực lượng sản xuất, là nhân tố quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trên cơ sở đó lôi kéo các thành phần

kinh tế, toàn dân tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Có thể nói sự ra đời và phát triển của kinh tế nhà nước đã góp phần vào sựthúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội Kinh tế nhà nước chiếm hơn ¾ dự trữ quốcgia, đóng góp trên 40% GDP hàng năm và nắm giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế

Trang 40

quốc dân, đây chính là nền tảng cơ sở và sức mạnh để định hướng xã hội chủ nghĩatoàn bộ nền kinh tế quốc dân Với vị trí, vai trò chủ đạo, dẫn dắt, thành phần kinh tếnhà nước đã tạo ra động lực cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển Trongthời gian qua, với việc thực hiện chủ trương sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhànước nên số lượng doanh nghiệp nhà nước có chiều hướng giảm, số vốn trongdoanh nghiệp nhà nước tăng tạo điều kiện ứng dụng khoa học và công nghệ mới vàosản sản xuất

Đối với lực lượng sản xuất, trên nền tảng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,kinh tế nhà nước nắm trong tay cơ sở hạ tầng của đất nước bao gồm đối tượng laođộng, công cụ lao động và toàn bộ phương tiện lao động của quốc gia, những yếu tốnày chính là tổng thể tư liệu sản xuất của đất nước Đồng thời, kinh tế nhà nướcthông qua hệ thống giáo dục của mình đã đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực, pháttriển khoa học và công nghệ cho đất nước Vì thế, sự phát triển của kinh tế nhà nước

có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Kinh tế nhà nước phát triển sẽ là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển về mọi mặt.

Thực tiễn cho thấy, sự phát triển của kinh tế nhà nước trong những năm qua đãgóp phần rất lớn vào sự phát triển chung của nền kinh tế Điều này được minhchứng bởi sự hình thành và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các nghành kinh

tế mũi nhọn (trong đó có những lĩnh vực có trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại),phát triển và xây dựng nông thôn mới, vv…Đối với lực lượng sản xuất, kinh tế nhànước góp phần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, phát triển kết cấu hạ tầng,chuyển giao khoa học và công nghệ tiên tiến, nhằm từng bước hiện đại hóa công cụlao động Như vậy, sự phát triển của kinh tế nhà nước góp phần thúc đẩy lực lượngsản xuất ở nước ta ngày một phát triển theo hướng hiện đại

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trên, kinh tế nhà nước vẫncòn tồn tại nhiều yếu kém như tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp, chất lượngnguồn nhân lực còn ở trình độ thấp, khoa học và công nghệ đang còn nhiều yếukém, trình độ tổ chức và quản lý thấp, kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến phá sản, dư

nợ nhiều, quá trình chuyển đổi và tái cơ cấu kinh tế diễn ra chậm đã làm ảnh hưởng

Ngày đăng: 18/12/2013, 11:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w