1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam

92 532 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế ngân hàng và tài chính
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, hoạt động này đã thu hút sự chú ý đặc biệt của giới hàn lâm, và do vậy, có rất nhiều bài nghiên cứu về nguyên nhân cũng như hiệu quả của hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên

Trang 1

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2

CHƯƠNG 2: MỘT VÀI NÉT CHÍNH CỦA HOẠT ĐỘNG M&A XUYÊN QUỐC GIA TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 4

2.1 Hoạt động M&A trên thế giới trước khủng hoảng tài chính 2008 4

2.2 Hoạt động M&A trên thế giới sau khủng hoảng tài chính 2008 10

2.3 Một vài nét về tình hình M&A ngân hàng ở Việt Nam từ 2005 - 2010 12

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 16

3.1 Các động lực chủ yếu thúc đẩy các ngân hàng thực hiện M&A 16

3.1.1 M&A do ban quản lí tìm kiếm giá trị gia tăng trong tương lai 17

3.1.1.1 M&A do có giá trị cộng hưởng 17

3.1.1.2 M&A nhằm gia tăng vị thế thị trường 18

3.1.2 M&A do phải giải quyết các vấn đề trong quá khứ (M&A do kiệt quệ tài chính) 19

3.2 Ảnh hưởng của toàn cầu hóa ngân hàng đến ngân hàng thâu tóm, ngân hàng mục tiêu và nước chủ nhà 19

3.2.1 Đối với ngân hàng thâu tóm 20

3.2.2 Đối với ngân hàng mục tiêu 20

3.2.3 Đối với nước được đầu tư thông qua M&A xuyên quốc gia 22

3.3 Đặc điểm của những ngân hàng tham gia vào hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia 25

3.4 Các đặc điểm của những quốc gia là nước được đầu tư trong hoạt động M&A xuyên biên giới 26

CHƯƠNG 4: NỘI DUNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (TÁC GIẢ DARIO FORCAREELLI TRONG BÀI NGHIÊN CỨU “WHY DO BANKS MERGE?” 29 4.1 Nguồn dữ liệu 29

4.2 Tập mẫu 31

4.3 Thiết lập mô hình nghiên cứu 37

4.4 Các biến trong mô hình 39

Trang 2

4.5 Kết quả 41

4.5.1 Các ngân hàng chủ động và bị động 41

4.5.2 Sáp nhập 45

4.5.3 Mua lại 46

4.5.4 Tính phù hợp của các ước lượng 48

CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ MÔ HÌNH DỮ LIỆU TẠI VIỆT NAM 49

5.1 Thống kê mô tả dữ liệu 49

5.2 Kết quả và kiểm định mô hình 51

5.3 Giải thích kết quả và dự báo cho các ngân hàng ở Việt Nam 57

5.3.1 Giải thích kết quả đạt được về tình hình M&A ngân hàng tại Việt Nam 57 5.3.2 Dự báo cho một số ngân hàng Việt Nam trong năm 2012 68

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN CHUNG 71

PHỤ LỤC 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

EMU: Liên minh kinh tế và tiền tệ

FDI: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

G10: Bao gồm các quốc gia Bỉ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Hà

Lan, Thụy Điển, Mỹ

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

M&A: Mua lại và sáp nhập

Trang 4

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: M&A xuyên quốc gia trong lĩnh vực ngân hàng và sản xuất 5

Hình 2.2: Tỷ trọng M&A xuyên quốc gia trong lĩnh vực ngân hàng theo khu vực địa lý (giá trị phần trăm) 7

Hình 2.3: M&A xuyên quốc gia theo nước xuất xứ (số lượng) 8

Hình 2.4: Tỷ trọng M&A xuyên quốc gia theo nước xuất xứ (giá trị phần trăm) 9

Hình 2.5: Giá trị bình quân của M&A theo khu vực (triệu USD) 10

Hình 2.6: Tổng giá trị của các thương vụ M&A theo các khu vực địa lí năm 2009 và 2010 11

Hình 2.7: Tổng số lượng các thương vụ M&A theo khu vực 12

Hình 2.8: số lượng và giá trị các giao dịch M&A ngành tài chính - ngân hàng ở Việt Nam qua các năm 2008-2010 14

Hình 5.1: Biểu đồ mô tả khả năng dự đoán của mô hình 56

Hình 5.2: Các chỉ số tài chính của Eximbank từ năm 2007-2010 57

Hình 5.3:Các chỉ số tài chính của Sacombank từ năm 2005-2010 58

Hình 5.4: Các chỉ số tài chính của Techcombank từ năm 2005-2010 59

Hình 5.5: Các tỉ số tài chính của Habubank từ năm 2004-2010 60

Hình 5.6: Các chỉ số tài chính của OCB từ 2007-2010 61

Hình 5.7: Các chỉ số tài chính của ngân hàng Phương Nam từ 2006-2010 61

Hình 5.8: Các chỉ số tài chính của ngân hàng An Bình từ 2007-2010 62

Hình 5.9: Các chỉ số tài chính của ngân hàng Đông Á từ 2006-2010 63

Hình 5.10: Các chỉ số tài chính của SeA Bank từ 2007-2010 64

Hình 5.11: Các chỉ số tài chính của ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng từ 2005-2010 65

Hình 5.12: Các chỉ số tài chính của ngân hàng ACB từ năm 2004-2010 66

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1: Phân phối theo quy mô của các trường hợp sáp nhập và mua lại giữa các

ngân hàng Italy 32

Bảng 4.2: Thống kê tổng hợp 36

Bảng 4.3: Những nhân tố quyết định sáp nhập và mua lại trong ngành ngân hàng Italy 43

Bảng 5.1: Những ngân hàng có cổ đông chiến lược nước ngoài từ 2005 - 2010 50

Bảng 5.2: Bảng kết quả từ mô hình với tập mẫu Việt Nam 52

Bảng 5.3: Kết quả kiểm định từ mô hình với tập mẫu Việt Nam 54

Bảng 5.4: Bảng phân loại 55

Bảng 5.5: Dự báo xác suất tham gia M&A xuyên quốc gia cho một số ngân hàng Việt Nam 70

Trang 6

TÓM TẮT

Hệ thống ngân hàng trên thế giới trong giai đoạn gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc, đặc biệt nhất chính là hiện tượng toàn cầu hóa ngành ngân hàng Hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên ngân hàng (M&A cross-border) là một trong những phương tiện hữu hiệu giúp cho quá trình toàn cầu hóa diễn ra với mức độ ngày một cao hơn Chính vì thế, hoạt động này đã thu hút sự chú ý đặc biệt của giới hàn lâm, và do vậy, có rất nhiều bài nghiên cứu về nguyên nhân cũng như hiệu quả của hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia đối với ngân hàng thâu tóm, ngân hàng mục tiêu và toàn bộ ngành ngân hàng của quốc gia mục tiêu Ở Việt Nam, trong giai đoạn hội nhập để phát triển của mình, tất nhiên sẽ không nằm ngoài quá trình toàn cầu hóa thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia này Khi thực hiện xem xét hoạt động M&A xuyên quốc gia của ngành ngân hàng ở Việt Nam thì những kết quả tìm được khá khác biệt so với các nghiên cứu trước đó trên thế giới Nếu như trên thế giới, nguyên nhân chủ yếu khiến các ngân hàng thực hiện M&A là do chúng đang gặp phải các vấn đề về tài chính hoặc hiệu quả hoạt động thì ở Việt Nam, các ngân hàng tham gia chủ yếu là những ngân hàng hoạt động hiệu quả với lợi nhuận cao, là những ngân hàng có lợi thế cạnh tranh tương đối tốt so với các đối thủ cùng ngành Có thể nói, các ngân hàng Việt Nam bán cổ phần cho các định chế tài chính nước ngoài nhằm mục đích học hỏi, trao đổi kĩ năng quản lí, phát triển lĩnh vực ngân hàng dịch vụ Hơn thế nữa, trong các kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới, hiệu quả hoạt động sau khi tham gia vào M&A xuyên quốc gia của cả ngân hàng mua lại và ngân hàng mục tiêu thường không cao thì ở Việt Nam, các chỉ số tài chính lại cho thấy các ngân hàng có cổ đông chiến lược nước ngoài hoạt động hiệu quả hơn so với các đối thủ cùng ngành

Trang 7

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Hoạt động trung chuyển nguồn vốn trong nền kinh tế là một hoạt động hết sức quan trọng, có vai trò và tầm ảnh hưởng lớn đến khả năng mở rộng đầu tư nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Ở Việt Nam, các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn hợp pháp từ hai nguồn: hoặc là trên thị trường chứng khoán hoặc là

đi vay ở các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, do những bất cập còn chưa giải quyết được, thị trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam chưa thể là một kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp

có qui mô vừa và nhỏ nhưng chiếm phần lớn trong tổng số các doanh nghiệp Việt Nam Trong giai đoạn hiện tại, để có thể tiếp cận được nguồn vốn, hầu hết các doanh nghiệp đều tìm đến hệ thống ngân hàng Vì thế, một hệ thống ngân hàng ổn định, vững mạnh là một điều kiện tiên quyết cần phải được đáp ứng Tuy vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, một số ngân hàng có nguy cơ không đảm bảo được tính thanh khoản cũng như tạo niềm tin cho người gửi tiền Do

đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có một số biện pháp nhằm cải thiện hệ thống ngân hàng, trong đó có biện pháp khuyến khích các ngân hàng thực hiện sáp nhập

và mua lại (M&A), bao gồm M&A các ngân hàng trong nước (M&A domestic) cũng như M&A xuyên quốc gia (M&A cross-border)

Trong hoàn cảnh chung đó, nổi bật lên chính là sự gia tăng của hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia Là một hệ quả của quá trình cố gắng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia là một cánh cửa mở ra cho các ngân hàng nước ngoài xâm nhập vào các thị trường ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên, khác với các nguồn vốn đầu tư mới vào hình thành nhà xưởng, máy móc làm gia tăng năng lực sản xuất của quốc gia đó, hoạt động M&A xuyên quốc gia trong giai đoạn ban đầu chỉ là chuyển giao quyền sở hữu trong nước cho nước ngoài Vì vậy, có những câu hỏi được đặt ra như là: Liệu M&A xuyên quốc gia ngành ngân hàng có thể đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế của nước được đầu tư như là đầu tư mới hay không? Và cụ thể hơn nữa là ảnh hưởng của hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia đối với ngành ngân hàng như thế nào?

Trang 8

Nhưng dù cho ảnh hưởng của hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia như thế nào chăng nữa, thì đây vẫn là một hoạt động được diễn ra với mật độ ngày càng cao và có giá trị giao dịch ngày càng lớn Nguyên nhân nào khiến cho các nhà quản lí và chủ sở hữu quyết định thực hiện M&A xuyên quốc gia? Điều này dẫn đến những câu hỏi khác là vậy ngân hàng nào sẽ có xu hướng tham gia thực hiện hoạt động M&A xuyên quốc gia? Trả lời được những câu hỏi trên sẽ giúp ích cho các ngân hàng chủ động hơn trong việc tham gia vào các hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên biên giới Ta có thể biết được ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi tham gia vào hoạt động ngày càng phổ biến này Bên cạnh đó, nó cũng giúp cho ngân hàng biết được bản thân ngân hàng cần phải đáp ứng những đặc tính gì khi muốn là bên được đầu tư, cũng như chủ động hơn trong việc chọn đối tác thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia này

Bài viết này được thực hiện nhằm mục tiêu trả lời cho các câu hỏi đã nêu dựa trên một số kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới và bằng kết quả từ mô hình nghiên cứu với dữ liệu Việt Nam Kết cấu của bài viết gồm các phần như sau: Phần

2 sẽ đề cập một vài nét về tình hình của hoạt động M&A xuyên quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam trước và sau khủng hoảng kinh tế - tài chính 2008 Phần

3 trình bày một số kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới về các nhân tố và động

cơ thúc đẩy các ngân hàng thực hiện M&A, cũng như là các kết luận của một số tác giả về ảnh hưởng của hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia đối với ngân hàng thâu tóm, ngân hàng mục tiêu, và đối với quốc gia được đầu tư Đây cũng là những nền tảng lí thuyết để giúp cho người viết thực hiện bài nghiên cứu này Phần

4 trình bày về các giả thuyết cũng như mô hình nghiên cứu các đặc tính của ngân hàng tham gia thực hiện M&A Từ đó, phần 5 sẽ là phần giải thích các kết quả tìm được cũng như đưa ra những dự báo cho các ngân hàng Việt Nam Cuối cùng là một

số kết luận chung về những phát hiện trong bài viết này

Trang 9

CHƯƠNG 2 MỘT VÀI NÉT CHÍNH CỦA HOẠT ĐỘNG M&A XUYÊN QUỐC GIA TRONG LĨNH VỰC NGÂN

HÀNG

2.1 Hoạt động M&A trên thế giới trước khủng hoảng tài chính 2008

Trong giai đoạn những năm trước khủng hoảng kinh tế 2008, ngành ngân hàng quốc tế đã mở rộng nhanh chóng, cả tại những nước phát triển và đang phát triển Như được trình bày trong hình 2.1 dưới đây, đã có một sự tăng lên ổn định trong số lượng M&A xuyên quốc gia trong ngành ngân hàng từ 1990 đến 2006 Hơn thế nữa, mặc dù giữa 2001-2003, nhiều nhân tố đã làm xuất hiện một sự suy giảm trong số lượng M&A xuyên biên giới, trong ba năm tiếp theo, sự mở rộng xuyên quốc gia đã quay trở lại với xu hướng tăng trưởng trước đó

Sự tăng lên trong số lượng M&A xuyên quốc gia không chỉ do mật độ thực hiện hoạt động M&A dày đặc hơn, mà cũng là do mức độ toàn cầu hóa mạnh mẽ hơn Tỷ trọng M&A xuyên quốc gia trong tổng số sáp nhập và mua lại gần như tăng gấp đôi từ 1990 đến 2006 Trong giai đoạn 2001-2003, tuy có một sự giảm sút trong tổng số giao dịch M&A nhưng tỉ trọng của hoạt động M&A xuyên biên giới vẫn không có sự biến đổi mạnh

Mặc dù toàn cầu hóa ngân hàng đã tăng lên trong những năm gần đây, nhưng

nó vẫn còn rất chậm nếu so sánh với lĩnh vực sản xuất Theo như số liệu được trình bày trong bài nghiên cứu của Forcarelli và Pozzolo (2001), vào những năm 1990, trong khi tỷ trọng các vụ sáp nhập và mua lại có đối tác nước ngoài bình quân là 12,9% trong ngành ngân hàng thì trong lĩnh vực sản xuất, tỉ lệ này là 35,3%, ngành được xem là toàn cầu hóa nhất nếu xét theo những chỉ tiêu này Tuy nhiên, hình 2.1 cho thấy mức độ toàn cầu hóa thấp hơn trong lĩnh vực ngân hàng so với phi ngân hàng ngày càng giảm đi qua thời gian, trong khi đó tỷ trọng M&A xuyên quốc gia trong lĩnh vực sản xuất vẫn giữ nguyên cố định trong suốt giai đoạn, mặc dù vẫn còn ở một mức khá cao Bằng chứng này đề xuất rằng những trở ngại đối với M&A xuyên quốc gia suy giảm đáng chú ý trong lĩnh vực ngân hàng, mặc dù những trở ngại này vẫn luôn cao hơn so với ngành sản xuất

Trang 10

Hình 2.1: Hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia trong lĩnh vực ngân hàng và sản xuất

(ĐVT: số lượng và giá trị phần trăm)

Nguồn: Bank cross-border merge and acquisitions (Causes, consequences and recent trends) – Alberto Franco Pozzolo (2008)

Nhiều nguyên nhân có thể được tìm thấy để giải thích hiện tượng này Bài viết của Forcarelli và Pozzolo (2001) chỉ ra hai nhân tố chủ yếu: mức độ bất cân xứng thông tin của ngành ngân hàng cao hơn các ngành khác và sự hiện diện của những hạn chế về luật định trong ngành ngân hàng nhiều hơn những ngành khác của nền kinh tế Liên quan đến vấn đề đầu tiên là bất cân xứng thông tin, để định giá một ngân hàng rõ ràng khó khăn hơn một doanh nghiệp sản xuất, bởi vì tài sản ngân hàng thường bao gồm các khoản cho vay đối với những doanh nghiệp nhỏ có thể rất

1

Thật vậy, khó khăn này được khẳng định lại bởi cuộc khủng hoảng tài chính được bắt nguồn từ vỡ nợ thế chấp dưới chuẩn tại Hoa Kỷ vào mùa hè 2007 và tiến triển khi các nhà đầu tư nhận ra rằng có thể sẽ rất khó để đánh giá độ nhạy cảm của ngân hàng bằng những tài sản rủi ro

Trang 11

hàng là ngành luôn có các luật định hà khắc hơn so với lĩnh vực sản xuất, có thể dễ dàng nhận thấy rằng chính quyền đôi khi sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, từ thuyết phục miệng đến những quyền chuyên biệt mạnh hơn khác, nhằm tạo ra rào cản đối với sự xâm nhập của nước ngoài Những hành vi như thế dường như phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, thường được bào chữa rằng ngân hàng là lĩnh vực chiến lược và rằng sự tiếp cận của những nhà đầu tư nước ngoài có thể gây hại đến nước chủ nhà

Mức độ hợp nhất trong lĩnh vực ngân hàng cho thấy những kiểu mẫu khác còn tùy theo khu vực địa lý Tỷ trọng M&A xuyên biên giới trong các nước G10 thì thấp hơn giá trị bình quân trên khắp thế giới, khẳng định một lần nữa những quốc gia này thiết lập rào cản chính thức và cả rào cản ngầm đối với sự xâm nhập của nước ngoài, như tranh luận trong bài viết của Forcarelli và Pozzolo (2007) Tỷ trọng tương tự thì cao hơn và tăng nhanh hơn khi xem xét hoạt động này trong những quốc gia OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) Trong khối EMU (Economic and Monetary Union of the European Union), mặc dù biến động cao hơn, nhưng tỷ trọng bình quân vẫn cao hơn các nước G10, dù vậy trên bình quân vẫn thấp hơn tỷ trọng được tính trên khắp thế giới

Trang 12

Hình 2.2: Tỷ trọng M&A xuyên quốc gia trong lĩnh vực ngân hàng theo khu vực địa lý (giá trị phần trăm)

Nguồn: Bank cross-border merge and acquisitions (Causes, consequences and recent trends) – Alberto Franco Pozzolo (2008)

Những ngân hàng từ các nước G10, OECD và đặc biệt từ khối EMU có nhiều khả năng thực hiện M&A xuyên quốc gia với những ngân hàng tại các nước kém phát triển hơn là trong nội bộ những nước này Hơn thế nữa, tỷ trọng này cao hơn

và tăng nhanh hơn đối với các nước OECD so với các nước G10 Hình 2.3 cho thấy

số lượng M&A xuyên quốc gia có cùng kiểu mẫu trong các khu vực địa lý khác nhau, mặc dù nó tăng nhanh hơn đối với những nước kém phát triển so với các thành viên G10 hay OECD

Trang 13

Hình 2.3: M&A xuyên quốc gia theo nước xuất xứ (số lượng)

Nguồn: Bank cross-border merge and acquisitions (Causes, consequences and recent trends) – Alberto Franco Pozzolo (2008)

Cùng lúc đó, hình 2.4 cho thấy tỷ trọng M&A xuyên quốc gia đến từ các thành viên G10 và OECD đã đạt đỉnh vào năm 2000, sau đó sụt giảm đều vào những năm tiếp theo Sự suy giảm mạnh hơn khi xem xét tại những quốc gia phát triển hơn, để lại nhiều chỗ trống cho các quốc gia kém phát triển hơn trong thị trường giành quyền kiểm soát ngân hàng toàn cầu

Trang 14

Hình 2.4: Tỷ trọng M&A xuyên quốc gia theo nước xuất xứ (giá trị phần trăm)

Nguồn: Bank cross-border merge and acquisitions (Causes, consequences and recent trends) – Alberto Franco Pozzolo (2008)

Cuối cùng, và thú vị nhất, giá trị danh nghĩa bình quân của các thỏa thuận sáp nhập và mua lại ngân hàng vẫn giữ nguyên ổn định trong vòng 16 năm qua, do đó giảm đều trong giá trị thực Bằng chứng này thống nhất với giả thiết rằng chi phí cố định trong M&A xuyên biên giới giảm, khiến cho M&A quy mô nhỏ hơn thu được lợi hơn

Giá trị bình quân của các vụ M&A xuyên quốc gia thì nhỏ hơn đáng ngạc nhiên so với M&A trong nước, cho thấy rằng có hạn chế trong hoạt động M&A xuyên quốc gia, thống nhất với cách giải thích có những rào cản ngầm đối với xâm nhập từ nước ngoài Như được kỳ vọng, giá trị của M&A trong nội bộ G10 và OECD thì lớn hơn mức bình quân của thế giới, bởi vì các ngân hàng tại những nước này thông thường lớn hơn so với các ngân hàng tại những quốc gia kém phát triển hơn

Trang 15

Hình 2.5: Giá trị bình quân của M&A theo khu vực (triệu USD)

Nguồn: Bank cross-border merge and acquisitions (Causes, consequences and recent trends) – Alberto Franco Pozzolo (2008)

2.2 Hoạt động M&A trên thế giới sau khủng hoảng tài chính 2008

Vào lúc bắt đầu cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn năm 2007, thị trường M&A toàn cầu đạt gần 4 ngàn tỷ USD với 31.303 vụ Trong năm 2008, trong khi số lượng giao dịch tăng 0,7% lên 31.512 vụ thì giá trị các vụ giao dịch lại giảm 40,5% xuống còn 2,854 ngàn tỷ USD Trong năm 2009, số lượng giao dịch và giá trị giảm tương ứng 11,4% và 57,6% trên toàn cầu Ngạc nhiên là mặc dù tổng số lượng và giá trị các vụ M&A trên toàn cầu giảm nhưng ở khu vực châu Á, hoạt động này vẫn tăng nhẹ trong năm 2008 sau cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn, nhưng cũng bắt đầu giảm từ năm 2009

Trong đó, xét về các vụ M&A xuyên quốc gia, 6.244 vụ được thực hiện trên thế giới và tổng giá trị đạt gần 673 ngàn tỷ USD trong năm 2008 Những giao dịch được thực hiện tại châu Á chiếm 25% trong tổng giá trị Thống kê M&A theo ngành năm 2009 cho thấy ngành dịch vụ tài chính chiếm 20%, năng lượng và các ngành

Trang 16

hàng hóa công nghiệp khác lần lượt chiếm 17% và 20% Điều này cho thấy tỉ trọng của các vụ M&A trong ngành tài chính đã tăng nhiệt đáng kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu

Một cái nhìn cụ thể hơn về các giao dịch M&A lĩnh vực ngân hàng tại châu Á Thái Bình Dương năm 2008 cho thấy trong tổng số 100,4 ngàn tỷ USD giá trị, Trung Quốc chiếm tỷ lệ lớn nhất với 34,4% hay 34,6 ngàn tỷ USD Úc và Nhật Bản theo sau lần lượt với 27,2 ngàn tỷ và 12,1 ngàn tỷ USD, hay 27,1% và 12,1% Theo ngành, các vụ giao dịch M&A ngân hàng đạt 74 ngàn tỷ USD với 73,8%, và chứng khoán, quản lý quỹ, và bảo hiểm lần lượt chiếm 8,8%; 10,9% và 6,5% Ngành đầu

tư tài chính kết hợp giữa chứng khoán và quản lý quỹ chiếm gần 20% tổng số giao

Hình 2.6: Tổng giá trị của các thương vụ M&A theo các khu vực địa lí năm 2009

Global M&A Activity Value

2009 2010

Trang 17

Hình 2.7: Tổng số lượng các thương vụ M&A theo khu vực

Nguồn: Roberd W.Baird (2010)

Trong năm 2010, tổng số lượng và giá trị hoạt động M&A đều có sự gia tăng ở khắp các khu vực trên thế giới Rõ ràng là khi các ngân hàng chuẩn bị cho việc kinh doanh sau thời kỳ khủng hoảng, một lần nữa họ đã chuyển sự chú ý vào sáp nhập và thâu tóm như một cách để tái lập tăng trưởng Nhiều ngân hàng hy vọng rằng M&A

sẽ cho phép họ xâm nhập vào những thị trường mới, cũng như đạt được những khách hàng mới cho việc bành trướng sản phẩm và dịch vụ Và đối với nhiều định chế, những giao dịch như thế sẽ bao gồm gia tăng đầu tư vào những đối tác mới tại các quốc gia khác Điều này, rõ ràng sẽ tạo cơ hội cho những ngân hàng ở các nước phát triển như Việt Nam trong việc tìm kiếm các đối tác đầu tư nhằm cải thiện hoạt động cũng như gia tăng tiềm lực tài chính

2.3 Một vài nét về tình hình M&A ngân hàng ở Việt Nam từ 2005-2010

Trong giai đoạn 2005 – 2008:

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, vào giữa những năm 2000, các ngân hàng thương mại Việt Nam bắt đầu có hiện tượng đua nhau lên kế hoạch tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và coi đây như là một yếu tố góp phần vào thành công trong hoạt động kinh doanh và quảng bá thương hiệu của mình Trong giai đoạn từ

Trang 18

2004-2008, có khá nhiều giao dịch M&A xuyên quốc gia giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và các định chế tài chính nước ngoài Cụ thể như vào năm

2005 có ba thương vụ M&A biến ngân hàng Standard Charterd thành cổ đông chiến lược của Ngân hàng thương mại Á châu (ACB), ANZ là cổ đông chiến lược của Sacombank, và HSBC là cổ đông chiến lược của Techcombank Sở dĩ các ngân hàng thương mại Việt Nam liên kết với các định chế tài chính nước ngoài (thông qua việc phát hành thêm cổ phần để chào bán riêng lẻ cho tổ chức đó với tư cách là

cổ đông chiến lược nước ngoài) là nhằm mục đích cải thiện những hạn chế như: năng lực quản trị của ngân hàng còn hạn chế, không đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng vẫn còn thô sơ, chưa có tính đột phá, mở rộng để khai thác tiềm năng sẵn có của thị trường trong nước Các ngân hàng thương mại Việt Nam đều kì vọng rằng dựa trên nền tảng tiềm lực tài chính mạnh, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản trị, điều hành ngân hàng tiên tiến và các sản phẩm dịch

vụ phong phú, các cổ đông chiến lược này sẽ hỗ trợ, giúp đỡ các ngân hàng Việt Nam, hợp tác hai bên cùng có lợi Khi xu thế tìm kiếm cổ đông chiến lược là các định chế tài chính nước ngoài đang diễn ra mạnh mẽ thì vào năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã có những ảnh hưởng to lớn đến các định chế tài chính trên thế giới Các hoạt động mở rộng đầu tư của các định chế nước ngoài đã phải tạm ngừng để ưu tiên cho các giải pháp khắc phục khó khăn và ổn định ở nước sở tại Do đó, hoạt động tìm kiếm các cổ đông chiến lược của các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này đều phải dừng lại

Trong giai đoạn 2008 – 2010

Trong năm 2008-2009, có khá ít các giao dịch được hoàn thành, là hậu quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự ảm đạm kéo theo sau đó của thị trường tài chính thế giới Khi phần tệ nhất của cuộc khủng hoảng tài chính kết thúc, năm 2010 chứng kiến mức tăng đáng chú ý của hoạt động M&A với tổng cộng 9 giao dịch được hoàn thành, bao gồm xấp xỉ 20% số lượng các ngân hàng nhà nước/ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 19

Hình 2.8: số lượng và giá trị các giao dịch M&A ngành tài chính - ngân hàng ở Việt Nam qua các năm 2008-2010

Nguồn: Báo cáo về hoạt động M&A khu vực Châu Á của công ty kiểm toán PwC

Vậy điều gì là bản chất của các giao dịch M&A trong giai đoạn này? Phần lớn giao dịch được dẫn dắt bởi hai yếu tố chính, đầu tiên là khát khao của các ngân hàng Việt Nam mong tìm kiếm và hợp tác với những đối tác ngân hàng chiến lược, nói cách khác, là những giao dịch trong đó cổ phần thiểu số của các ngân hàng Việt Nam được các ngân hàng nước ngoài mua lại Thứ hai, và quan trọng hơn, hoạt động M&A được dẫn dắt do quy định tăng vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lên 3.000 tỷ đồng Đáng chú ý là khi mua lại cổ phần, quy mô của giao dịch bị hạn chế tối đa là 15% quyền sở hữu cổ phần cho phép của một ngân hàng nước ngoài tại một ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (có thể được tăng lên 20% trong những trường hợp được Ngân hàng Nhà Nước cho phép)

Đồng thời, một điểm đáng chú ý nữa là trong giai đoạn từ 2008 – 2010 chứng kiến không hề có giao dịch M&A hướng về bên ngoài, tức là việc các ngân hàng Việt Nam mua lại cổ phần trong các ngân hàng nước ngoài Điều này cho thấy, rõ ràng chiến lược của các ngân hàng Việt Nam vẫn tiếp tục tập trung vào sự phát triển nhanh chóng của thị trường vẫn còn nhiều tiềm năng trong nước, với tăng trưởng tín dụng năm 2010 là 28%

Sau khi xem xét về hoạt động M&A xuyên quốc gia trên thế giới nói chung,

và Việt Nam nói riêng, ta có thể thấy, đây là một hoạt động diễn ra từ rất lâu trên

Trang 20

thế giới, xuất hiện ở nhiều lĩnh vực, bao gồm cả tài chính và phi tài chính Vậy liệu M&A xuyên quốc gia có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến ngân hàng mục tiêu, ngân hàng thu mua, hay đến tổng thể của ngành ngân hàng ở quốc gia được đầu tư?

Trang 21

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

ĐÂY

M&A ngân hàng là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn, thu hút nhiều sự chú ý

kể cả từ giới hàn lâm và những chuyên gia trong ngành Từ lâu, nghiên cứu về M&A đã có nhiều công trình đồ sộ và phong phú về các hướng tìm hiểu Trong phần này của bài viết sẽ tổng kết một số vấn đề cơ bản liên quan đến mục đích của bài nghiên cứu này và các kết quả mà các nhà nghiên cứu đã phát hiện được Cụ thể

là trong phần này sẽ xem xét các kết luận về ảnh hưởng của hoạt động M&A xuyên quốc gia đến cho ngân hàng thâu tóm (ngân hàng đầu tư), ngân hàng mục tiêu (ngân hàng được đầu tư) và cả ảnh hưởng đối với quốc gia được đầu tư Bên cạnh đó, phần này sẽ trình bày những nguyên nhân phổ biến được xem là động lực thúc đẩy các nhà quản lý quyết định tham gia vào hoạt động M&A Cuối cùng sẽ là những kết luận về đặc điểm của các ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng đầu tư, cũng như các đặc điểm của những nước là quốc gia được đầu tư trong hoạt động M&A xuyên quốc gia

3.1 Các động lực chủ yếu thúc đẩy các ngân hàng thực hiện M&A

Các vụ sáp nhập và mua lại (M&A) không chỉ là những giao dịch có giá trị cực kì lớn mà nó còn thay đổi giá trị thị trường của các bên tham gia theo hướng tốt hơn hoặc xấu đi Liệu giao dịch M&A này có khả thi về mặt kinh tế? Công ty mới kết hợp sẽ đem lại lợi nhuận? Đâu là nguyên nhân thật sự thúc đẩy các nhà quản lí thực hiện M&A? Nhìn chung, trong các bài nghiên cứu trước đây, có rất nhiều các nguyên nhân được đưa ra, vì dĩ nhiên, mỗi trường hợp M&A xuất phát từ những điều kiện hoàn cảnh kinh tế khác nhau, nhưng tựu chung, có thể chia động cơ M&A thành hai loại chính Thứ nhất là do có các vấn đề khó khăn phát sinh từ trong quá khứ, M&A được xem là hành động nhằm cố gắng giải quyết vấn đề thông qua tạo ra giá trị từ tái cấu trúc (M&A do kiệt quệ tài chính) Loại nguyên nhân thứ hai là do các nhà quản lí hướng đến tìm kiếm giá trị gia tăng trong tương lai thông qua M&A (M&A do tin vào giá trị cộng hưởng hoặc nhằm mục đích kiếm lợi nhuận từ việc

gia tăng tính độc quyền trên thị trường)

Trang 22

3.1.1 M&A do ban quản lí tìm kiếm giá trị gia tăng trong tương lai

3.1.1.1 M&A do có giá trị cộng hưởng

Không cần phải nói, khi nhìn vào hầu hết các cuộc họp báo thông cáo về các hoạt động M&A gần đây nhất, hầu hết đều cho rằng lí do của M&A là tạo ra giá trị cộng hưởng (synergy) nhằm cải thiện hoạt động kinh doanh (cộng hưởng về mặt hoạt động) và dòng tiền (cộng hưởng về tài chính), dẫn đến làm tăng giá trị của doanh nghiệp Giả thuyết các giá trị cộng hưởng giải thích động cơ M&A theo hướng sáp nhập sức mạnh của hai công ty sẽ đẩy mạnh dòng tiền trong tương lai và gia tăng giá trị doanh nghiệp Cộng hưởng cả trong hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính (do M&A làm gia tăng quy mô của doanh nghiệp hoặc kết hợp các lợi điểm của từng doanh nghiệp) Cho nên, lí thuyết này dự đoán sự gia tăng trong doanh thu (do bán hàng tốt hơn hoặc do đó là doanh thu tổng của cả hai ngân hàng trước sáp nhập), chi phí giảm do việc gia tăng tính hiệu quả sau sáp nhập và lợi ích

từ những cơ hội mới trong hoạt động tài chính, và từ những khoản tiết kiệm thuế

Ít nhất là trên lí thuyết, việc tạo ra “giá trị cộng hưởng” dường như là động cơ M&A đáng mong đợi và được kì vọng là thị trường tài chính sẽ có những phản ứng tích cực trong ngắn hạn sau khi có thông báo về thỏa thuận M&A Tuy nhiên, những bằng chứng thực nghiệm không hoàn toàn ủng hộ lý thuyết này Những nghiên cứu trước đây phân tích các mẫu dữ liệu khác nhau trên nhiều khu vực địa lí

và qua nhiều thời kì của hoạt động M&A ngân hàng đã cho thấy sự không nhất quán hoàn toàn về sự hiện hữu của những phản ứng tích cực của giá cổ phiếu theo sau thông báo M&A Chỉ có một vài trường hợp nhỏ cho thấy phản ứng của thị trường

là tích cực (Cybo-Ottone và Murgia, 2000) Có hai giải thích khả dĩ cho hiện tượng này: Hoặc là thị trường tài chính không hoàn toàn tin tưởng vào lợi ích của “giá trị cộng hưởng” (chỉ cho rằng nó là một tiền đề nhất định), hoặc là trong nhận thức của nhà đầu tư không tồn tại cái gì gọi là “giá trị cộng hưởng”

Trang 23

3.1.1.2 M&A nhằm gia tăng vị thế thị trường

Giả thuyết M&A nhằm gia tăng vị thế thị trường được đặt ra dựa trên tác động giảm cạnh tranh do hoạt động M&A Có thể bên cạnh có những yếu tố khác, nhưng M&A sẽ dẫn đến hành vi cho vay khắt khe hơn (xem nghiên cứu của Berger và cộng sự, 2001) Chính vì các hệ quả đó mà các vụ tiếp quản luôn được giám sát kĩ càng bởi cục chống độc quyền Bởi vì ngành ngân hàng với đặc tính là thị trường cạnh tranh độc quyền với hàng hóa đồng nhất, các vụ tiếp quản sẽ dẫn đến các nhà cung cấp trên thị trường ít hơn, mức độ cạnh tranh giảm và làm tăng giá sản phẩm trên thị trường (xem nghiên cứu của Werden 2006) Do mức độ tập trung của thị trường cao hơn làm gia tăng sức mạnh thị trường của các định chế tài chính riêng lẻ, các ngân hàng mục tiêu, thu mua và đối tác của hai bên cũng như đối thủ cạnh tranh của họ có khả năng đòi hỏi những mức giá cao hơn, làm tối đa hóa lợi nhuận của họ bằng cách khai thác thặng dư của người tiêu dùng Một vụ sáp nhập của hai ngân hàng hoạt động trong thị trường cạnh tranh độc quyền sẽ dẫn đến một mức giá cân bằng cao hơn so với khi chúng hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn toàn

Dựa trên logic này, mục đích đạt được sức mạnh thị trường có thể là một động

cơ M&A mạnh mẽ, bởi vì M&A làm giảm số lượng các ngân hàng tham gia vào thị trường và thu hẹp cạnh tranh Giá trị gia tăng được lấy từ thặng dư của người tiêu dùng trong khi các hiệu quả cộng hưởng từ hoạt động kinh doanh đóng một vai trò không đáng kể Một số tác giả như Eckbo (1983) và Stillman (1983) dựa vào nghiên cứu thực nghiệm của mình đã phản đối sự tồn tại của lí thuyết này Tuy vậy, sự tồn tại của “hành động đơn phương quyết định giá” hay nói cách khác là làm gia tăng sức mạnh thị trường được ủng hộ bởi các nghiên cứu của Berger (1995), Hannan và Berger (1991) cũng như Degryse và Ongena (2008), những nhà nghiên cứu này đã chỉ ra rằng mức độ tập trung của thị trường cao hơn sẽ kích thích việc tăng giá Tất

cả các tác giả đều kết luận nhất quán rằng M&A ngân hàng cuối cùng sẽ dẫn tới

“hành động đơn phương quyết định giá cả” và vì vậy, làm giảm cạnh tranh trên thị trường Nhìn chung, M&A nhằm mục đích làm giảm cạnh tranh trong ngành, gia tăng sức mạnh trong việc quyết định giá cả, chiếm lấy thặng dư của người tiêu dùng

để làm gia tăng giá trị ngân hàng là một động cơ khá phổ biến

Trang 24

3.1.2 M&A do giải quyết các vấn đề trong quá khứ (M&A do kiệt quệ tài chính)

Nguyên nhân kiệt quệ tài chính là động cơ khả dĩ cho M&A trong nội bộ ngành ngân hàng, xuất phát từ vị thế tài chính yếu kém của ngân hàng mục tiêu M&A do kiệt quệ tài chính không chỉ dựa trên lý thuyết thuần túy mà còn có thể quan sát được trong bất kì lĩnh vực nào Các cổ đông lí trí của công ty mục tiêu chỉ chấp nhận giá thu mua thấp hơn giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu chỉ khi nào nó

là quyết định “có tất cả hoặc không có gì”, hoặc là chấp nhận mức giá được đề nghị sáp nhập hoặc là phá sản

Một cách khác để xác định nguyên nhân của M&A do kiệt quệ tài chính, ta có thể nhìn thấy dựa trên các con số kế toán Các ngân hàng mục tiêu trong các giao dịch có nguyên nhân là kiệt quệ tài chính sẽ có những chỉ số vốn chủ sở hữu thấp khi đem so sánh với các ngân hàng mục tiêu khác (dựa trên thông tin có sẵn trên báo cáo tài chính cuối cùng trước khi có thông cáo sáp nhập) Ngân hàng thâu tóm có thể tin vào việc mua hời và hi vọng vào việc tái cấu trúc vấn đề tài chính của ngân hàng mục tiêu sẽ đem lại kết quả tốt Tuy nhiên, có thể sức mạnh tài chính của ngân hàng thâu tóm không đủ lớn và khả năng tái cấu trúc của ngân hàng mục tiêu có thể không thực hiện được Một đặc tính của các giao dịch M&A xuất phát từ kiệt quệ tài chính là do các ngân hàng thâu tóm muốn giảm rủi ro tiếp quản, các giao dịch như vậy chủ yếu liên quan đến các ngân hàng mục tiêu nhỏ được mua lại trong các

giao dịch nội bộ ngành nội địa và được tài trợ chủ yếu bằng vốn chủ sở hữu

3.2 Ảnh hưởng của toàn cầu hóa ngân hàng đến ngân hàng thâu tóm, ngân hàng mục tiêu và nước chủ nhà

Luôn có rất nhiều các nguyên nhân đằng sau hoạt động mua lại và sáp nhập không ngừng tăng lên trên thế giới Nhưng nhìn chung, hoạt động M&A xuyên quốc gia đã làm cho mức độ toàn cầu hóa ngành ngân hàng ngày càng cao Vậy ảnh hưởng của toàn cầu hóa ngân hàng đối với các ngân hàng thâu tóm và ngân hàng mục tiêu, cũng như quốc gia được đầu tư (quốc gia của ngân hàng mục tiêu) sẽ như thế nào? Ngạc nhiên là các bài nghiên cứu trước đây khá đồng nhất với ý kiến cho rằng, nhìn chung thì hoạt động M&A xuyên quốc gia không mang lại nhiều lợi ích

Trang 25

cho cả ngân hàng thâu tóm và ngân hàng mục tiêu Tuy vậy, ngành ngân hàng của quốc gia mục tiêu lại thu được nhiều lợi ích từ hoạt động này

3.2.1 Đối với ngân hàng thâu tóm

Trong các bài nghiên cứu thực nghiệm trước đây, các nhà nghiên cứu tập trung chủ yếu vào tỷ suất sinh lợi từ giá chứng khoán của ngân hàng thâu tóm trong M&A xuyên quốc gia để xác định ảnh hưởng của toàn cầu hóa ngân hàng đối với các ngân hàng thâu tóm Các bài viết của Amihud và đồng sự (2002) và Cybo-Ottone và Murgia (2000) đã tìm ra những chứng cứ yếu ớt về tác động tích cực của M&A xuyên quốc gia lên giá trị và cả rủi ro của ngân hàng thâu tóm Ngược lại, bài nghiên cứu của Campa và Hernando (2006) đã phát hiện ra rằng những vụ mua lại

và sáp nhập xuyên quốc gia trong phạm vi các nước châu Âu gần như không ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi vượt trội của ngân hàng thâu tóm Kết quả này được khẳng định lại một phần bởi bài nghiên cứu của Forcarelli và đồng sự (2008), trong

đó cho thấy vì thực hiện M&A trong nước mà rủi ro hệ thống của ngân hàng thâu tóm tăng, trong trường hợp M&A xuyên quốc gia thì rủi ro hệ thống vẫn tăng nhưng

ít hơn so với M&A trong nước Với cách nhìn tương tự, Choi và đồng sự (2007) phát hiện ra rằng các nhà đầu tư trái phiếu xem toàn cầu hóa ngân hàng như một hoạt động làm tăng rủi ro, được chỉ ra bằng sự tăng lên đáng kể của lãi suất trái phiếu sau thông cáo M&A xuyên quốc gia

3.2.2 Đối với ngân hàng mục tiêu

Ảnh hưởng của hoạt động M&A xuyên quốc gia đối với ngân hàng mục tiêu

từ lâu đã được nghiên cứu rất chi tiết Bài viết của Campa và Hernando (2006) phát hiện ra rằng tỷ suất sinh lợi bất thường âm nhỏ trong ngắn hạn đối với ngân hàng mục tiêu trong trường hợp M&A xuyên quốc gia, và tỷ suất sinh lợi âm đáng kể về dài hạn Bằng chứng này càng được đồng tình hơn nữa khi xem xét những thước đo trên bảng cân đối kế toán về hiệu suất ngân hàng Nghiên cứu về châu Mỹ Latinh của Crystal và đồng sự (2001) cho thấy những ngân hàng nước ngoài thì tốt hơn và

có tỷ lệ tăng trưởng cho vay cao hơn những đối tác nội địa của họ Bài nghiên cứu của Claessens và đồng sự (2000 và 2001) và Claessens và Lee (2002) cho thấy những ngân hàng nước ngoài hoạt động tại những nước đang phát triển sinh lời

Trang 26

nhiều hơn và có chi phí thấp hơn những ngân hàng trong nước Berger và đồng sự (2004) nghiên cứu mẫu các ngân hàng Argentina, tìm ra những bằng chứng yết ớt

về cải thiện hiệu suất của ngân hàng mục tiêu trong các giao dịch M&A xuyên quốc gia, và bài viết của Micco và đồng sự (2007), nghiên cứu mẫu lớn hơn, phát hiện ra rằng tại những nước đang phát triển, các ngân hàng mục tiêu trong M&A xuyên quốc gia có lợi nhuận bình quân trên tài sản thấp hơn, nhưng sau khi được đầu tư (hay được mua lại) thì có xu hướng giảm chi phí so với các đối thủ trong nước, tuy nhiên lại không có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng sinh lời Cuối cùng, Altunbas

và Ibanez (2004) nghiên cứu sự thay đổi trong khả năng sinh lời của những giao dịch M&A ngân hàng xuyên quốc gia trong các nước châu Âu, phát hiện ra rằng sự thay đổi trong tỉ suất sinh lợi này cao hơn trong trường hợp sáp nhập xuyên biên giới giữa các ngân hàng ít tương đồng về chính sách dự phòng thua lỗ và tỷ trọng của vốn cho vay trong bảng cân đối kế toán của họ, và giữa các ngân hàng khá giống nhau về mức vốn hóa và thái độ của họ về cải tiến tài chính và công nghệ

Mặt khác, trong bài nghiên cứu “Tại sao các ngân hàng lại sáp nhập?”(Why

do banks merge?) của Fabio Panetta, Dario Focarelli và Carmelo Salleo (1998) sử

dụng phương pháp hồi quy xác suất đa biến với mẫu nghiên cứu là các ngân hàng Ý

từ năm 1985 đến 1996, phân biệt rõ ràng giữa sáp nhập và thâu tóm, tác giả đã phát hiện ra rằng các ngân hàng sáp nhập nhằm tăng thu nhập từ các dịch vụ, tuy nhiên thu nhập tăng thêm bị bù trừ bởi chi phí nhân viên cao hơn Điều này khá đồng nhất với các kết luận trên Tuy nhiên, trong trường hợp các ngân hàng thực hiện mua lại nhằm tái cấu trúc danh mục cho vay của ngân hàng mục tiêu, chính sách cho vay được cải thiện sẽ làm tăng lợi nhuận của cả ngân hàng thâu tóm và ngân hàng mục tiêu

Nhìn chung, mặc dù cần có nhiều bài nghiên cứu hơn nữa về vấn đề này, nhưng không có bằng chứng rõ ràng nào là M&A xuyên quốc gia trong lĩnh vực tài chính mang lại lợi ích cho cả ngân hàng đi mua và bị mua, một kết quả không đáng ngạc nhiên vì đến nay cũng chưa có bằng chứng nào rõ ràng trong trường hợp hợp nhất trong nước (bài viết của Amel và đồng sự, 2004)

Trang 27

3.2.3 Đối với nước được đầu tư thông qua M&A xuyên quốc gia

Tổng kết lại những phát hiện thực nghiệm được thảo luận trên đây, rõ ràng rằng các ngân hàng mở rộng ra nước ngoài thường hiệu quả hơn, đến từ những nước

có hệ thống ngân hàng phát triển hơn và thường mở rộng đến những nước có hệ thống ngân hàng nhìn chung kém hiệu quả hơn Mặt khác, những ngân hàng tốt hơn

có xu hướng mở rộng đến những quốc gia có hệ thống ngân hàng kém hơn Do đó, đối với ảnh hưởng của ngân hàng nước ngoài lên quốc gia được đầu tư, có thể kỳ vọng là tính hiệu quả của hệ thống tài chính nước này và hiệu suất tổng thể của nó

sẽ cải thiện do sự xâm nhập của các ngân hàng nước ngoài Thật vậy, việc các ngân hàng nước ngoài đem lại lợi ích cho nền kinh tế chủ nhà, như được đưa ra gần đây bởi Forcarelli và Pozzolo (2005) và Goldberg (2007), trái ngược với quan điểm truyền thống, luôn luôn chống lại sự tiếp cận của ngân hàng nước ngoài Trước đây, các nhà làm luật rõ ràng có cái nhìn không thiện cảm đối với các ngân hàng nước ngoài, lo sợ rằng họ có thể làm cho việc cấp tín dụng tồi tệ hơn đối với sự cân bằng quyền lực tuyệt đối và làm gia tăng rủi ro khủng hoảng tài chính và độ nhạy cảm chu kỳ kinh doanh của hoạt động cho vay

Những chứng cứ thực nghiệm hiện có lại không dứt khoát rõ ràng Những nghiên cứu trước đây cho thấy sự xâm nhập của các ngân hàng nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đối với các nước đang phát triển Nghiên cứu của Claessens và đồng

sự (2000 và 2001), Claessens và Lee (2002) và Bayratar và Wang (2005) cho thấy

sự xâm nhập từ nước ngoài giúp cải thiện tính hiệu quả của những ngân hàng địa

Biết mối quan hệ nhân quả giữa sự phát triển lĩnh vực tài chính của một nước với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thực của nước đó, được tìm thấy phần lớn trong nghiên cứu thực nghiệm, dòng đầu tư trực tiếp của ngân hàng nước ngoài có khả năng cải thiện tốt

dụ như bài nghiên cứu của Barajas và đồng sự (2000), Clarke và đồng sự (1999) và Unite và Sullivan (2001) Yeyati và Micco (2007) thay vào đó lại phát hiện ra chứng cứ là những ngân hàng nước ngoài tại các nước châu Mỹ Latinh có xu hướng rủi ro hơn và có nhiều quyền lực trên thị trường hơn ngân hàng địa phương

Trang 28

đối với nền kinh tế nước chủ nhà Bayratar và Wang (2006) cung cấp một số bằng chứng là sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài làm tăng tỉ lệ tăng trưởng GDP trên đầu người

Một trong những chỉ trích lớn nhắm vào các ngân hàng nước ngoài là họ thường chỉ tập trung vào những khách hàng lớn, làm giảm tín dụng cho phép đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bằng chứng của vấn đề này thì không rõ ràng Các phân tích thực nghiệm gần đây tìm ra cả bằng chứng ủng hộ lẫn chống lại quan điểm này Bài viết của Crystal và đồng sự (2001) cho thấy những ngân hàng nước ngoài tại châu Mỹ Latinh vào nửa sau những năm 1990 có tỷ lệ cho vay cao hơn và khả năng chấp nhận thua lỗ cao hơn so với những đối thủ trong nước Nghiên cứu của Clarke và đồng sự (2002) thực hiện trên một mẫu lớn với hơn 2.000 ngân hàng tại 38 nước đang phát triển, phát hiện ra rằng sự hiện diện của những ngân hàng nước ngoài cải thiện lượng tín dụng cho phép và giảm giá đối với doanh nghiệp mọi kích cỡ, mặc dù ảnh hưởng thật sự mạnh hơn đối với những doanh nghiệp lớn Tương tự, Martinez-Peria và Mody (2004) phát hiện ra rằng những ngân hàng nước ngoài thường có chênh lệch lãi suất thấp hơn ngân hàng trong nước Calyes và Hainz (2007) phân biệt giữa toàn cầu hóa thông qua mua lại và thông qua thiết lập ngân hàng con, phát hiện ra rằng sự hiện hữu của ngân hàng nước ngoài thường gắn liền với lãi suất cho vay bình quân thấp hơn Cũng tìm hiểu vấn đề này, Bonin và Abel (2000) phát hiện ra những bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ về ảnh hưởng tích cực của ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Hungary, cho thấy sự hiện hữu của những ngân hàng này cũng buộc ngân hàng lớn duy nhất không có cổ đông nước ngoài phải phát triển sản phẩm mới và cung cấp dịch vụ tốt hơn

Một trong những chỉ trích nhắm đến sự hiện hữu của ngân hàng nước ngoài đến từ khuynh hướng sẽ rời bỏ nước chủ nhà trong trường hợp kiệt quệ tài chính, do

đó làm gia tăng rủi ro khủng hoảng tài chính Tuy nhiên, Demirguc-Kunt và đồng sự (1998) và Levine (1999) phát hiện ra rằng cho dù thế nào thì sự hiện hữu của các ngân hàng nước ngoài làm giảm khả năng khủng hoảng ngân hàng, một kết quả thống nhất với những phát hiện trong bài của Goldberg (2002), trong đó cho thấy các ngân hàng nước ngoài từ Mỹ không giảm cho vay trong suốt giai đoạn khủng hoảng, và những kết quả của Goldberg và đồng sự (2002) cũng phát hiện ra rằng sự

Trang 29

hiện hữu ngân hàng nước ngoài không làm gia tăng độ nhạy cảm chu kỳ kinh doanh của cho vay Hơn nữa, Cull và Martinez-Peria (2007) cho thấy tỷ trọng tín dụng nội địa được cấp bởi các ngân hàng nước ngoài gia tăng sau khủng hoảng ngân hàng Cuối cùng, Arena và đồng sự (2007) phân tích một mẫu lớn các ngân hàng đến từ các nước châu Á và châu Mỹ Latinh cho thấy chính sách cho vay của những ngân hàng nước ngoài tại quốc gia được đầu tư thì ít nhạy cảm hơn đối với điều kiện kinh

tế của nước chủ nhà, và trong suốt khủng hoảng tài chính, tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động và cho vay của những ngân hàng này không khác biệt so với ngân hàng trong nước

Một tranh luận khác là khả năng xâm nhập quá nhanh của các ngân hàng nước ngoài có thể làm mất đi những cơ hội lợi nhuận tiềm năng đối với những ngân hàng địa phương Đây là một tranh luận bảo vệ cho nền kinh tế còn non trẻ Sự đánh đổi

mà các nhà làm luật phải đối mặt trong trường hợp này là giữa sự chậm phát triển trong lĩnh vực tài chính với hệ quả của nó là sự tăng trưởng của nền kinh tế thực, hay đánh mất những cơ hội lợi nhuận trong tương lai

Mặc dù đây vẫn là khu vực mở để nghiên cứu, bằng chứng hiện có đến lúc này

do đó không ủng hộ quan điểm truyền thống là sự hiện hữu của ngân hàng nước ngoài gây hại đến sự ổn định tài chính và nước chủ nhà và đến hiệu suất kinh tế tổng thể của nước này

Thật vậy, dù cho có một kết quả đáng ngạc nhiên là toàn cầu hóa ngành ngân hàng không có ảnh hưởng tích cực đến cả ngân hàng mục tiêu và ngân hàng thâu tóm, nhưng đối với quốc gia được đầu tư, thì hệ thống ngân hàng vẫn có những thay đổi tích cực Vì vậy, hoạt động M&A xuyên quốc gia vẫn có ý nghĩa tích cực và cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa Cụ thể là cần phải xem xét các đặc điểm của các ngân hàng tham gia vào hoạt động M&A xuyên quốc gia cũng như đặc điểm của quốc gia được đầu tư thông qua M&A xuyên biên giới Những kết quả từ các nghiên cứu trước đây sẽ cho ta cái nhìn tổng quan, giúp ích cho các ngân hàng trong việc chủ động tham gia vào hoạt động M&A xuyên quốc gia này

Trang 30

3.3 Đặc điểm của những ngân hàng tham gia vào hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia

Kết quả được chấp nhận rộng rãi nhất trong các bài nghiên cứu thực nghiệm là những ngân hàng tham gia vào M&A xuyên quốc gia thì thường lớn và hoạt động tốt hơn, đặt tại những quốc gia mở cửa thương mại quốc tế hơn và có hệ thống ngân hàng phát triển hơn Ví dụ như, các bài viết của Tschoegel (1983), Ursacky và Vertinsky (1999) và của Forcarelli và Pozzolo (2001) đã phát hiện thấy mối tương quan giữa quy mô của một ngân hàng và khả năng có sự tham gia của ngân hàng nước ngoài Điều này có thể liên quan đến sự hiện hữu của chi phí cố định trong toàn cầu hóa ngân hàng, liên quan đến động lực to lớn nhằm đa dạng hóa tài sản,và

có thể là do những ngân hàng lớn thì thường có những khách hàng lớn, khi những khách hàng này đầu tư ra nước ngoài thì họ cũng mong muốn ngân hàng phục vụ

ngân hàng có khả năng sinh lời cao hơn và có phần thu nhập từ dịch vụ lớn hơn trong tổng thu nhập có nhiều khả năng có nước ngoài tham gia Gần đây hơn, Tschoegel (2002) đã chỉ ra rằng những ngân hàng đa quốc gia thường là những ngân hàng lớn ở chính nước sở tại của nó, có thể thấy rằng quyết định mở rộng ra nước ngoài của những ngân hàng này liên quan đến việc những cơ hội đầu tư trong quốc gia đó ngày càng ít hơn, cũng có thể việc mở rộng là do những vấn đề liên quan đến chống độc quyền Nhìn chung, những ngân hàng với xu hướng toàn cầu hóa, chủ động tham gia vào các giao dịch M&A xuyên quốc gia là các ngân hàng có lợi nhuận trên tài sản cao hơn mức bình quân, tỷ trọng lợi nhuận từ dịch vụ cao hơn và tổng chi phí thấp hơn

Hơn nữa, các đặc điểm của nước sở tại cũng ảnh hưởng đến khả năng ngân hàng mở rộng ra nước ngoài Các bài nghiên cứu của Grosse và Goldberg (1991), Magri và Rossi (2005) và của Forcarelli và Pozzolo (2001 và 2007) phát hiện ra rằng những ngân hàng từ những quốc gia có ngành ngân hàng phát triển hơn có

(1996), Williams (1998), De Felice và Revoltella (2003), Forcarelli và Pozzolo (2005), Piscitello và Pozzolo (2006)

Trang 31

nhiều khả năng hiện diện ở thị trường nước ngoài Hơn nữa, Forcarelli và Pozzolo (2001) tìm ra mối quan hệ thuận chiều giữa khả năng sinh lời bình quân tính trên cả nước trong lĩnh vực ngân hàng và tác động từ các hoạt động ngân hàng phi truyền thống Trong bài nghiên cứu của Magri và đồng sự (2005) cho thấy những ngân hàng nước ngoài tại Italy có nhiều khả năng đến từ những quốc gia có chi phí dự phòng thấp hơn Ngược lại, những quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển thì các ngân hàng lớn ở các quốc gia đó có xác suất mở rộng ra nước ngoài ít hơn Bởi

vì thị trường chứng khoán phát triển hơn thường gắn liền với các định chế tài chính hiệu quả hơn, nó cũng đồng thời cung cấp những cơ hội lợi nhuận lớn hơn đối với những ngân hàng địa phương, do đó có ít động lực để mở rộng ra nước ngoài hơn Cuối cùng, bài nghiên cứu Ter Wengel (1995), Buch và DeLong (2004) và Berger cùng các đồng sự (2004) phát hiện ra rằng các ngân hàng đến từ những quốc gia có tổng GDP cao hơn thường có nhiều khả năng hiện diện tại thị trường nước ngoài hơn, nhưng trong mô hình được thực hiện trong bài nghiên cứu Forcarelli và Pozzolo (2007), kết quả này không đúng

Nói tóm lại, những chứng cứ hiện có dường như đề xuất rằng những ngân hàng nước ngoài có nhiều khả năng là những ngân hàng hiệu quả nhất tại quốc gia

sở tại và đến từ những thị trường phát triển nhất Tuy nhiên, như được chỉ ra trong bài viết của Chang và đồng sự (1998) và được khẳng định một lần nữa trong bài của Berger và đồng sự (2000) nghiên cứu những ngân hàng con nước ngoài tại các quốc gia như Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, điều này không đủ

để khiến những ngân hàng này hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh địa phương khi

họ hoạt động ở nước ngoài

3.4 Các đặc điểm của những quốc gia là nước được đầu tư trong hoạt động M&A xuyên biên giới

Các bài nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã tập trung vào vai trò của sự gần gũi về văn hóa và tổ chức (ví dụ như, chia sẻ cùng ngôn ngữ hay cùng hệ thống pháp luật), và của những điểm tương đồng về mức độ phát triển kinh tế Bài viết của Berger và đồng sự (2004), Buch và DeLong (2004) và Forcarelli và Pozzolo (2007) cho thấy những quốc gia có cùng hệ thống pháp luật và cùng ngôn ngữ có khả năng

Trang 32

có nhiều giao dịch M&A ngân hàng xuyên quốc gia Berger và đồng sự (2004) cũng cho thấy những cặp quốc gia có cùng mức độ GDP và GDP bình quân đầu người có nhiều khả năng có sự hợp nhất ngân hàng xuyên biên giới, nhưng kết quả này không phù hợp để thực hiện mô hình của Forcarelli và Pozzolo (2007) Hơn thế nữa, Forcarelli và Pozzolo (2007) phát hiện ra rằng hai quốc gia có những điểm tương đồng trong phát triển hệ thống ngân hàng thì ít có khả năng thực hiện nhiều giao dịch M&A xuyên quốc gia Tham gia vào một khu vực tiền tệ cũng làm tăng khả năng có sự tham gia ngân hàng xuyên quốc gia (bài viết của Allen và Song, 2005; Forcarelli và Pozzolo, 2005)

Một tập hợp các bài nghiên cứu đề xuất rằng các ngân hàng thích mở rộng đến những quốc gia mà ở đó, mức độ cạnh tranh với ngân hàng địa phương thấp hơn (chẳng hạn như do các ngân hàng địa phương kém hiệu quả hơn) (bài viết của Forcarelli và Pozzolo, 2005) Cũng có các ngân hàng mong muốn mở rộng đến quốc gia có nền tảng định chế ưu đãi hơn đối với hoạt động ngân hàng, do quốc gia đó có

cơ cấu pháp luật và định chế chất lượng tốt hơn, hạn chế về luật định ít hơn và đòi hỏi công bố cao hơn đối với hoạt động ngân hàng (Berger và đồng sự, 2004), và chính quyền giám sát đáng tin cậy hơn Thực vậy, bài viết của Forcarelli và Pozzolo (2007) cung cấp chứng cứ thống nhất với giả thiết rằng không chỉ các rào cản luật lệ

và cạnh tranh rõ ràng mà cả những rào cản ngầm từ chính phủ ảnh hưởng đến quyết định về quốc gia để mở rộng hoạt động, thực hiện M&A xuyên quốc gia Hơn thế nữa, nghiên cứu của Berger (2007) tranh luận rằng sự hiện hữu của những rào cản ngầm từ chính phủ đối với sự xâm nhập, cùng với những bất lợi tương đối được phát hiện ra trong bài viết của Berger và đồng sự (2000), có khả năng là những lý do quan trọng nhất đối với mức độ hiện hữu thấp của các ngân hàng nước ngoài tại những quốc gia phát triển

Bằng chứng này khẳng định một lần nữa lựa chọn mở rộng ra nước ngoài có thể được thúc đẩy bởi một số lượng lớn những lý do có thể có mối liên hệ với nhau Trong một số trường hợp, dường như rõ ràng là các ngân hàng đơn giản chỉ đi theo khách hàng của họ hoạt động ở nước ngoài và thiết lập chi nhánh nhằm cung cấp các dịch vụ cho khách hàng và hỗ trợ hoạt động của họ tại nước ngoài, phù hợp với

sự gia tăng trong thương mại song phương giữa hai quốc gia Mặt khác, có những

Trang 33

bằng chứng khác cho thấy việc các ngân hàng quyết định địa điểm mở rộng còn tùy thuộc chủ yếu vào khả năng những ngân hàng này tận dụng được lợi thế tương đối

so với những đối thủ cạnh tranh địa phương, và có khả năng là trường hợp của sự xâm nhập của các ngân hàng nước ngoài vào những nền kinh tế đang chuyển đổi

Bức tranh bao quát về hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia ngành ngân hàng được cung cấp ở trên đây đã chỉ ra một số lượng lớn các cách giải thích

về một số vấn đề đạt được sự đồng thuận của giới nghiên cứu Tuy vậy, những đặc tính của các ngân hàng tham gia vào M&A xuyên quốc gia không có khả năng giữ nguyên, mà nó có thể thay đổi qua thời gian Chính vì vậy, bài nghiên cứu này sử dụng mô hình nghiên cứu nhằm kiểm định lại các kết quả trên với dữ liệu là các vụ mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia ở Việt Nam trong giai đoạn 2005-2010

Trang 34

CHƯƠNG 4 NỘI DUNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (TÁC GIẢ DARIO FORCAREELLI TRONG BÀI NGHIÊN CỨU

“WHY DO BANKS MERGE?”

Trong phần thực nghiệm của bài viết, đầu tiên tác giả phân tích những biến ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào một thoả thuận sáp nhập hay mua lại bằng cách sử dụng hồi quy xác suất đa biến Sau đó tác giả sử dụng hồi quy biến phi ngẫu nhiên để khẳng định một lần nữa ảnh hưởng lên các biến kinh tế và tài chính chủ yếu (xem bài nghiên cứu của Pagano, Panetta và Zingales, 1998 về cách thực hiện kinh tế lượng tương tự)

4.1 Nguồn dữ liệu

Tác giả thu thập dữ liệu từ ba nguồn Dữ liệu trên bảng cân đối kế toán được lấy từ Sổ giám sát ngân hàng tại Ngân hàng Italy (Segnalazioni di Vigilanza) và được đối chiếu với dữ liệu được phát hành trên Hiệp hội ngân hàng Italy (ABI) và những dữ liệu có trên cơ sở dữ liệu của Fitch – IBCA BankScope Tất cả dữ liệu đều tham chiếu đến cuối năm, trừ tổng tài sản, được tính bình quân hàng năm của số liệu quý Những con số về sự đa dạng hoá tài sản được tính sử dụng số liệu từ Sổ tín dụng trung ương (Centrale dei Rischi), trong đó ghi lại tất cả tín dụng trên 30.000$

từ 1984 đến 1995 và trên 100.000$ từ 1996 Nguồn dữ liệu về số lượng các ngân hàng và về các thoả thuận sáp nhập và mua lại là từ Cục điều tra ngân hàng (SIOTEC)

Tập trung vào các ngân hàng thương mại bán lẻ, tác giả loại trừ trung tâm xử lí thanh toán của các hiệp hội ngân hàng, những ngân hàng chuyên về cho vay trung

và dài hạn, chi nhánh của những ngân hàng nước ngoài và ngân hàng hỗ tương Ba loại đầu bị loại ra vì tính chất đặc trưng của chúng khiến ta rất khó để có thể so sánh với những ngân hàng thương mại đơn thuần: trung tâm xử lí thanh toán hoạt động chủ yếu trên thị trường liên ngân hàng (cũng giống như chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài) và không có mạng lưới chi nhánh, giống với các ngân hàng cho vay trung và dài hạn, đã tách ra từ ngân hàng cho vay ngắn hạn cho đến 1993 Ngân

Trang 35

hàng hỗ tương bị loại ra vì những quy định đặc biệt đã hạn chế khả năng hoạt động của chúng và bởi vì quy định thuế khác biệt đối với loại ngân hàng này

Trong phân tích kinh tế lượng tác giả xem xét hai trường hợp: sáp nhập và mua lại Sáp nhập xảy ra khi một ngân hàng trước đây độc lập mất đi vốn điều lệ và trở thành một phần của một ngân hàng khác đang tồn tại, với một hội sở và mạng lưới chi nhánh duy nhất; nghiên cứu trường hợp này đặc biệt quan trọng nhằm hiểu được tác động từ những thay đổi trong cấu trúc tổ chức lên hiệu suất của các ngân

các trường hợp mua lại, diễn ra khi một ngân hàng mua lại phần lớn quyền biểu quyết của một ngân hàng khác mà không kết hợp tài sản của cả hai lại với nhau: sau khi mua lại, hai ngân hàng hoạt động tách biệt, mặc dù chúng có thể có chung chiến lược Đối với sáp nhập, tác giả chỉ phân biệt giữa ngân hàng chủ động (thầu) và bị động (mục tiêu) khi phân tích xác suất các nhân tố quyết định (xem ở dưới), bởi vì sau thỏa thuận sẽ chỉ có một ngân hàng; trong trường hợp mua lại, tác giả phân tích ngân hàng chủ động (ngân hàng mua) và ngân hàng bị động (ngân hàng bị mua) riêng biệt kể cả phân tích xác suất trước thỏa thuận và hồi quy sau thỏa thuận

Tám trường hợp, trong đó ngân hàng thầu/ngân hàng mua tham gia vào những loại giao dịch khác nhau trong cùng một năm, tác giả phân loại nó như ngân hàng mua; ba trường hợp một ngân hàng vừa chủ động và bị động, tác giả xem nó như là

chọn mẫu có thể làm thiên lệch các kết quả trước những tác động đặc biệt (ví dụ như những ngân hàng tham gia vào nhiều thỏa thuận có thể chứa những thông tin phù hợp và do đó không nên bị bỏ đi, như thường thấy trong các bài nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu đối ứng)

gọi là hợp nhất: xem bài nghiên cứu của Henn và Alexander (1983)), tác giả xem những ngân hàng lớn là những ngân hàng thâu tóm và những ngân hàng nhỏ hơn là ngân hàng mục tiêu

cảm với cách phân loại này

Trang 36

4.2 Tập mẫu

Trong năm 1985, có 359 ngân hàng thương mại tại Italy, vào cuối năm 1996,

135 ngân hàng sáp nhập và 66 ngân hàng mua lại sau đó, chỉ còn lại 257 ngân hàng (bao gồm cả những ngân hàng vào mới thất bại, được tính đến toàn bộ trong thống

kê tổng hợp và phân tích kinh tế lượng)

Các ngân hàng nằm trong nhóm cao nhất về tổng tài sản là các ngân hàng chủ động (thầu/mua) trong 60% các trường hợp sáp nhập và 90,0% trong tất cả các trường hợp mua lại (xem bảng 4.1) Ngược lại, ngân hàng mục tiêu nằm trong nhóm thấp nhất trong 38,5% các trường hợp sáp nhập, trong khi đó các ngân hàng bị mua được phân phối đều hơn Trong khi ở Mỹ tỉ lệ mua lại (nói cách khác, tỷ lệ các ngân hàng bị mua lại trong tổng số ngân hàng trong một nhóm) tăng gần bằng với quy mô của ngân hàng bị động (xem bài nghiên cứu của Boyd và Graham, 1998), thì tại Italy điều ngược lại lại đúng, đặc biệt trong sáp nhập, phù hợp với quy luật thông thường “cá lớn nuốt cá bé”

Tất cả các trường hợp đều nằm trong khoảng thời gian từ 1985 đến 1996 Mỗi ngân hàng được chia nằm một trong năm nhóm trong phân phối tổng tài sản vào năm trước thỏa thuận ngân hàng đó tham gia vào Trong 18 trường hợp sáp nhập dẫn đến việc thành lập một ngân hàng mới (hay còn gọi là hợp nhất: xem bài nghiên cứu của Henn và Alexander, 1983), tác giả xem những ngân hàng lớn là ngân hàng thầu và những ngân hàng nhỏ hơn là ngân hàng mục tiêu Phần năm thứ nhất bao gồm những ngân hàng lớn nhất Trong 8 trường hợp , một ngân hàng có quyền sở hữu được chuyển giao và sau đó sáp nhập và do đó được tính hai lần

Trang 37

Bảng 4.1: Phân phối theo quy mô của các trường hợp sáp nhập và mua lại giữa

các ngân hàng Italy

Nguồn: Why do bank merge? (Dario Focarelli)

Thống kê tổng hợp cho mẫu của tác giả được trình bày trong bảng 4.2, phân biệt các ngân hàng trên cơ sở các ngân hàng này tham gia vào mỗi loại thỏa thuận Trong giai đoạn 1985-1996, ngân hàng trung vị của tập mẫu không tham gia vào bất

kì hoạt động M&A nào có tổng tài sản vào khoảng 930 tỉ lire (xấp xỉ 600 triệu USD) và lợi nhuận trên tài sản vào khoảng 1,07% (xem mục A); nợ xấu bằng 5,65% trong tổng cho vay và chi phí lao động chiếm 38% trong thu nhập thuần Cho vay bằng 55,09% vốn huy động và bằng 64,53% tổng tài sản tài chính; trong đó gần 2/3

là cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ Tín dụng liên ngân hàng ròng bằng 5,95% tổng tài sản; doanh thu từ dịch vụ chiếm 11,76% thu nhập thuần

Đối với sáp nhập, các ngân hàng chủ động có tổng tài sản bằng 4.310 tỉ lire (khoảng 3 tỉ USD) nhưng có cùng tỉ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản như các ngân hàng trung lập bằng 1,09%, tỉ lệ nợ xấu bằng 5,09% và chi phí lao động bằng 37.80% thu nhập thuần (xem mục B); 53% trong tổng số cho vay (bằng 67,03% tổng số tài sản

Trang 38

tài chính và bằng 64,59% vốn huy động) là cho ,các doanh nghiệp nhỏ vay Tín dụng ròng liên ngân hàng bằng 1,53% tổng tài sản; thu nhập từ dịch vụ chiếm 15,79% thu nhập thuần Các ngân hàng bị động có những đặc trưng khác hơn: những ngân hàng này nhỏ (tổng tài sản khoảng 400 tỉ lire), với tỉ lệ lợi nhuận trên tài sản bằng 0,55%, có nhiều nợ xấu (8,18% trong tổng cho vay), chi phí lao động cao và có tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ thấp (41,55% và 9,68% tương ứng trong thu nhập thuần – xem mục C); cho vay chỉ chiếm hơn một nửa một chút trong tổng vốn huy động và chủ yếu là cho doanh nghiệp nhỏ vay (67,43%); tín dụng ròng liên ngân hàng bằng 7,61% tổng tài sản

Thống kê tổng hợp trong mục A là các ngân hàng không tham gia vào bất kì hoạt động nào Mục B là các ngân hàng chủ động trong sáp nhập (ngân hàng thầu) Mục C là các ngân hàng bị động trong sáp nhập (ngân hàng mục tiêu), mục D là các ngân hàng mua lại phần lớn quyền biểu quyết của ngân hàng khác, mục E là các ngân hàng bán phần lớn quyền biểu quyết của họ Trong 18 trường hợp sáp nhập dẫn đến việc thành lập một ngân hàng mới (còn được gọi là hợp nhất: xem Henn và Alexander, 1983), tác giả xem những ngân hàng lớn là các ngân hàng thấu và những ngân hàng nhỏ hơn là ngân hàng mục tiêu ROA được tính bằng thu nhập trước thuế chia cho tổng tài sản Tổng tài sản được tính bằng ngàn triệu lire Nợ xấu được tính bằng phần trăm trong tổng vốn cho vay Chi phí lao động được tính bằng phần trăm trong thu nhập thuần Chi phí huy động vốn được tính bằng tỷ lệ chi trả lãi chia cho tổng vốn vay Dịch vụ là giá trị của các khoản phí và hoa hồng nhận được, tính bằng phần trăm trong thu nhập thuần Cho vay được tính bằng phần trăm trong tổng tài sản tài chính (cho vay + chứng khoán) Số dư liên ngân hàng ròng bằng vị thế cho vay (+) hay vay (-) thuần trên thị trường liên ngân hàng, tính bằng phần trăm trong tổng tài sản Vốn cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ - những doanh nghiệp có dư nợ ngân hàng dưới 5 tỉ lire (xấp xỉ 3 triệu USD) – tính bằng phần trăm trong tổng vốn cho vay

Các ngân hàng đi mua tương tự với các ngân hàng thầu, chỉ trừ việc những ngân hàng này lớn hơn (16.860 tỉ lire), cho các doanh nghiệp nhỏ vay ít hơn (46,71%), tổng vốn cho vay lớn hơn so với vốn huy động (87,08%), và có số dư ròng liên ngân hàng âm (xem mục D) Các ngân hàng bị mua lại cũng tương tự với

Trang 39

những ngân hàng mục tiêu, trừ việc các ngân hàng này lợi nhuận trên tài sản thấp hơn vào năm bị mua lại, chi phí lao động cao hơn (43,61% trong thu nhập thuần), và thu nhập cao hơn từ dịch vụ (14,29% thu nhập thuần – xem mục E)

Thống kê tổng hợp trong mục A là các ngân hàng không tham gia vào bất kì hoạt động nào Mục B là các ngân hàng chủ động trong sáp nhập (ngân hàng thầu) Mục C là các ngân hàng bị động trong sáp nhập (ngân hàng mục tiêu), mục D là các ngân hàng mua lại phần lớn quyền biểu quyết của ngân hàng khác, mục E là các ngân hàng bán phần lớn quyền biểu quyết của họ Trong 18 trường hợp sáp nhập dẫn đến việc thành lập một ngân hàng mới (còn được gọi là hợp nhất: xem Henn và Alexander, 1983), chúng tôi xem những ngân hàng lớn là các ngân hàng thấu và những ngân hàng nhỏ hơn là ngân hàng mục tiêu ROA được tính bằng thu nhập trước thuế chia cho tổng tài sản Tổng tài sản được tính bằng ngàn triệu lire Nợ xấu được tính bằng phần trăm trong tổng vốn cho vay Chi phí lao động được tính bằng phần trăm trong thu nhập thuần Chi phí huy động vốn được tính bằng tỷ lệ chi trả lãi chia cho tổng vốn vay Dịch vụ là giá trị của các khoản phí và hoa hồng nhận được, tính bằng phần trăm trong thu nhập thuần Cho vay được tính bằng phần trăm trong tổng tài sản tài chính (cho vay + chứng khoán) Số dư liên ngân hàng ròng bằng vị thế cho vay (+) hay vay (-) thuần trên thị trường liên ngân hàng, tính bằng phần trăm trong tổng tài sản Vốn cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ - những doanh nghiệp có dư nợ ngân hàng dưới 5 tỉ lire (xấp xỉ 3 triệu USD) – tính bằng phần trăm trong tổng vốn cho vay

Ngày đăng: 18/12/2013, 11:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia trong lĩnh vực ngân  hàng và sản xuất - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 2.1 Hoạt động mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia trong lĩnh vực ngân hàng và sản xuất (Trang 10)
Hình 2.3: M&A xuyên quốc gia theo nước xuất xứ (số lượng) - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 2.3 M&A xuyên quốc gia theo nước xuất xứ (số lượng) (Trang 13)
Hình 2.5: Giá trị bình quân của M&A theo khu vực (triệu USD). - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 2.5 Giá trị bình quân của M&A theo khu vực (triệu USD) (Trang 15)
Hình 2.6: Tổng giá trị của các thương vụ M&A theo các khu vực địa lí năm 2009 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 2.6 Tổng giá trị của các thương vụ M&A theo các khu vực địa lí năm 2009 (Trang 16)
Hình 2.7: Tổng số lượng các thương vụ M&A theo khu vực. - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 2.7 Tổng số lượng các thương vụ M&A theo khu vực (Trang 17)
Hình 2.8: số lượng và giá trị các giao dịch M&A ngành tài chính - ngân hàng ở  Việt Nam qua các năm 2008-2010 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 2.8 số lượng và giá trị các giao dịch M&A ngành tài chính - ngân hàng ở Việt Nam qua các năm 2008-2010 (Trang 19)
Bảng 4.1: Phân phối theo quy mô của các trường hợp sáp nhập và mua lại giữa - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Bảng 4.1 Phân phối theo quy mô của các trường hợp sáp nhập và mua lại giữa (Trang 37)
Hình 5.3 :Các chỉ số tài chính của Sacombank từ năm 2005-2010 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 5.3 Các chỉ số tài chính của Sacombank từ năm 2005-2010 (Trang 63)
Hình 5.4 : Các chỉ số tài chính của Techcombank từ năm 2005-2010 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 5.4 Các chỉ số tài chính của Techcombank từ năm 2005-2010 (Trang 64)
Hình 5.5: Các tỉ số tài chính của Habubank từ năm 2004-2010 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 5.5 Các tỉ số tài chính của Habubank từ năm 2004-2010 (Trang 65)
Hình 5.6: Các chỉ số tài chính của OCB từ 2007-2010 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 5.6 Các chỉ số tài chính của OCB từ 2007-2010 (Trang 66)
Hình 5.8: Các chỉ số tài chính của ngân hàng An Bình từ 2007-2010 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 5.8 Các chỉ số tài chính của ngân hàng An Bình từ 2007-2010 (Trang 67)
Hình 5.10: Các chỉ số tài chính của SeA Bank từ 2007-2010 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 5.10 Các chỉ số tài chính của SeA Bank từ 2007-2010 (Trang 69)
Hình 5.11: Các chỉ số tài chính của ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng từ 2005- - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 5.11 Các chỉ số tài chính của ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng từ 2005- (Trang 70)
Hình 5.12: Các chỉ số tài chính của ngân hàng ACB từ năm 2004-2010 - Các nhân tố thúc đẩy ngân hàng thực hiện mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia bằng chứng thực nghiệm trên thế giới và việt nam
Hình 5.12 Các chỉ số tài chính của ngân hàng ACB từ năm 2004-2010 (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w