Sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ Technology Acceptance Model và tham khảo một số nghiên cứu khác, Tôi đưa ra mô hình các yếu tố tác động tới việc kê khai thuế qua mạng gồm có: 1 Mức đ
Trang 1Tóm tắt đề tài
Hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng đã được đưa vào áp dụng tại 41 tỉnh thành trên
cả nước Vì những lợi ích to lớn mà hệ thống đem lại, Chính Phủ đã đầu tư ngân sách rất lớn để triển khai hệ thống Bước đầu đã đạt được những thành công tuy nhiên vẫn còn một số lượng rất lớn người nộp thuế chưa sử dụng hệ thống tiện ích này Do đó, việc tìm hiểu đâu yếu tố tác động tới quyết định sử dụng hệ thống của NNT là rất quan trọng để gia tăng chất lượng hệ thống kê khai thuế qua mạng Cần
có những nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề này, đó là lý do đề tài được thực hiện Nội dung chính của đề tài là xác định nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống
kê khai thuế qua mạng tại cục thuế TP.HCM
Nghiên cứu sử dụng bảng khảo sát từ 95 doanh nghiệp trong khoảng thời gian 24/02/2012 tới 24/03/2012 Sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ Technology Acceptance Model và tham khảo một số nghiên cứu khác, Tôi đưa ra mô hình các yếu tố tác động tới việc kê khai thuế qua mạng gồm có: (1) Mức độ dễ sử dụng, (2) Mức độ hữu dụng, (3) Mức độ tin tưởng, (4) Thông tin về công nghệ mới, (5) Khả năng ứng dụng công nghệ của người sử dụng, (6) Yếu tố xã hội Sử dụng kết quả khảo sát và phân tích bằng phần mềm SPSS, thu được kết quả sau Tại Cục Thuế TP.HCM việc người nộp thuế sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng chịu ảnh hưởng đáng kể của 3 nhân tố: (1) Mức độ dễ sử dụng, (2) Mức độ hữu dụng, (3) Yếu tố xã hội và 3 nhân tố này giải thích được 45,1% sự thay đổi của Quyết định sử dụng hệ thống Các nhân tố còn lại có ảnh hưởng không đáng kể Từ đó, đề tài đưa
ra các giải pháp tương ứng nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống
Trang 2Mục Lục
Tóm tắt đề tài i
Danh mục bảng iv
Danh mục hình vẽ và biểu đồ v
Danh mục từ viết tắt vi
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa công trình nghiên cứu 2
1.5 Kết cấu đề tài nghiên cứu 2
Kết luận chương 1 3
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4
2.1 Khái niệm Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kê khai thuế 4
2.2 Ảnh hưởng tích cực của công nghệ thông tin trong quản lý kê khai thuế 4
2.3 Một số lưu ý khi ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kê khai thuế 5
2.4 Các phương thức kê khai thuế 7
2.5 Đánh giá các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng 9
2.6 Khái niệm các yếu tố ảnh hưởng việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng 12
2.7 Mô hình khảo sát và các giả thuyết 15
Kết luận chương 2 16
Chương 3 THỰC TRẠNG KÊ KHAI THUẾ QUA MẠNG TẠI CỤC THUẾ TP.HCM 18 3.1 Vị trí của VN về ứng dụng công nghệ thông tin 18
3.2 Tình hình thực hiện quản lý và Kê Khai Thuế Qua Mạng 20
3.2.1 Kết quả thực hiện chung 20
3.2.2 Kết quả thực hiện theo phương thức kê khai thuế 23
Trang 33.3 Thuận lợi và khó khăn khi triển khai Kê Khai Thuế Qua Mạng 26
Kết luận chương 3 30
Chương 4 31
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG PHẦN MỀM KÊ KHAI THUẾ QUA MẠNG 31
4.1 Qui trình khảo sát 31
4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 33
4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 36
4.3.1 Phân tích nhân tố biến độc lập 36
4.3.2 Phân tích nhân tố biến phụ thuộc 39
4.4 Phân tích hồi qui tuyến tính 40
4.5 Kết quả kiểm định 44
Kết luận chương 4 44
Chương 5 45
KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ THUẾ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Giải pháp nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ trong quản lý thuế 46
5.3 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài 47
Kết luận chương 5 48
Tài liệu tham khảo i
Phụ lục iv
Trang 4Danh mục bảng
Bảng 2.1: So sánh sự khác biệt giữa Kê Khai Thuế Qua Mạng và kê khai thuế bằng
hồ sơ giấy 8
Bảng 2.2: Tóm tắt nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng 14
Bảng 3.1: Xếp hạng ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á 18
Bảng 3.2: Số lượng DN sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng năm 2011 21
Bảng 3.3: Số liệu báo cáo tình hình Kê Khai Thuế Qua Mạng tháng 2 năm 2012 22
Bảng 3.4: Số NNT qua mạng luỹ kế tại một số tỉnh thành tiêu biểu cho tới 27/02/2012 22
Bảng 3.5: Số lượng NNT thông qua IHTKK và DN T-VAN cho tới ngày 27/02/2012 25
Bảng 3.6: Thống kê ý kiến của NNT về các phương pháp nộp hồ sơ khai thuế tháng 2 năm 2012 27
Bảng 4.1: Mã hoá các thang đo 32
Bảng 4.2: Phân tích Cronbach’s Alpha của biến “Mức độ tin tưởng” 34
Bảng 4.3: Phân tích Cronbach’s Alpha của biến “Khả năng ứng dụng công nghệ mới của người sử dụng” 34
Bảng 4.4: Phân tích Cronbach’s Alpha của tất cả các biến sau khi đã loại bỏ các biến không phù hợp 35
Bảng 4.5: Kết quả phân tích nhân tố các biến độc lập 38
Bảng 4.6: Kết quả phân tích nhân tố các biến phụ thuộc 40
Bảng 4.8: Kết quả phân tích hồi qui bội 41
Model Summary 41
Bảng 4.9: Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình 42
ANOVAb 42
Bảng 4.10: Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa các hệ số hồi qui 43
Coefficientsa 43
Trang 5Danh mục hình vẽ và biểu đồ
Hình vẽ 2.1: Mô hình các nhân tố tác động tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai 16
Biểu đồ 3.1: Xếp hạng vị trí ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á 19
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu số NNT qua mạng luỹ kế tại một số tỉnh thành tiêu biểu cho tới 27/02/2012 23
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu số NNT được cung cấp dịch vụ nộp tờ khai qua mạng thông qua IHTKK và T-VAN 25
Biểu đồ 3.4: Cơ cấu số lượng tờ khai nộp qua IHTKK và T-VAN 26
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu ý kiến của NNT về các phương pháp nộp hồ sơ khai thuế 27
Biểu đồ 4.1: Tổng hợp mức độ tác động của các nhóm yếu tố 39
Trang 6T-VAN DN cung cấp dịch vụ kê khai thuế qua mạng
CNTT Công nghệ thông tin
DD Mức độ dễ dàng cho người sử dụng
HD Mức độ hữu dụng cho người sử dụng
MDTT Mức độ tin tưởng của người sử dụng
TT Thông tin người sử dụng có được về hệ thống
XH Yếu tố xã hội
KN Khả năng sử dụng công nghệ của người sử dụng
EFA Exploratory Factor Analysis (phân tích nhân tố khám phá)
IHTKK Hệ thống phần mềm hỗ trợ kê khai thuế trực tuyến qua mạng của Tổng Cục Thuế
Trang 7Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng đã được đưa vào áp dụng thí điểm từ tháng 8 đến hết tháng 12-2009 Bốn địa phương được chọn làm thí điểm là TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng và Bà Rịa - Vũng Tàu Dự án thí điểm đã thành công và hiện đang đưa vào thực hiện trên phạm vi 41 tỉnh thành và dự kiến sẽ triển khai toàn quốc trong thời gian tới Cần những nghiên cứu xác định đâu là nhân tố tác động tới việc NNT sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng để có thể triển khai hệ thống này thành công khi triển khai trên phạm vi toàn quốc Do đó, đề tài: “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG KÊ KHAI THUẾ QUA MẠNG” nhằm nghiên cứu định lượng xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng
Sự ra đời của hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng là một thành công lớn trong việc cải cách thuế của VN theo hướng ngày một hiện đại hoá Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý thuế mang lại rất nhiều lợi ích cho cả phía NNT và phía cơ quan thuế Chính vì vậy, việc tìm hiểu đâu là yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đề khi đưa hệ thống này vào triển khai rộng rãi thành công có ý nghĩa quan trọng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trong mô hình nghiên cứu, việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng được giả thiết là chịu ảnh hưởng của 6 nhân tố: Mức độ dễ dàng, mức độ hữu dụng, mức
độ tin tưởng, thông tin, khả năng ứng dụng công nghệ và yếu tố xã hội Mục đích
của đề tài là xác định đâu là nhân tố tác động tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng Trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính:
Yếu tố nào ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng?
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó như thế nào?
Giải pháp nào để gia tăng chất lượng của hệ thống?
Trang 81.3 Phương pháp nghiên cứu
Tôi xây dựng mô hình dựa trên mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động tới việc sử dụng hệ thống nộp thuế qua mạng Ebayaran của tác giả Suhani Anuar (2010) Mô hình được đề xuất gồm 6 biến: Mức độ dễ dàng, Mức độ hữu dụng, Mức độ tin tưởng, Thông tin, Khả năng ứng dụng công nghệ và Yếu tố xã hội
Tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, tiến hành khảo sát trên 95 doanh nghiệp thuộc địa bàn TP.HCM Thông qua phần mềm SPSS 16.0, tôi thực hiện qua các bước sau:
Làm sạch giữ liệu
Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha: Kiểm định sự tương quan giữa các biến và loại bỏ các biến có độ tin cậy không phù hợp
Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Thông qua SPSS tìm ra các nhóm nhân
tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng
Phân tích hồi qui tuyến tính: Xác định mức độ tác động của các nhân tố tới việc sử dụng hệ thống
1.4 Ý nghĩa công trình nghiên cứu
Hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng còn mới ở nước ta Do đó, cần có những công trình nghiên cứu nhằm xác định đâu là nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống
Đề tài hướng đến mục tiêu sử dụng phân tích định lượng nhằm xác định đâu là yếu
tố tác động và mức độ tác động tới việc sử dụng hệ thống Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới việc cơ quan thuế sẽ cải cách hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng theo hướng nào để gia tăng chất lượng của hệ thống Tôi kỳ vọng rằng kết quả nghiên cứu đạt được có thể được ứng dụng vào thực tiễn cải cách hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng
1.5 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Đề tài gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng kê khai thuế qua mạng tại Cục Thuế TP.HCM
Trang 9Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống phần mềm kê khai thuế qua mạng
Chương 5: Kết luận và giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế
Kết luận chương 1
Kết thúc chương 1 tác giả đã giới thiệu về mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa của đề tài Đây là bước định hướng để thực hiện nghiên cứu trong các Chương tiếp theo
Trang 10Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kê khai thuế
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước: Là việc
sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và giữa các
cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch
“Nghị định 64/2007/NĐ-CP”
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan thuế: Là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan thuế nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan thuế, giữa cơ quan thuế với các
cơ quan nhà nước khác, trong giao dịch của cơ quan thuế với tổ chức, các nhân có liên quan; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch
Hệ thống phần mềm Kê Khai Thuế Qua Mạng, đăng ký mã số thuế TNCN qua mạng và nộp thuế qua ngân hàng là những ví dụ điển hình cho ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan thuế
2.2 Ảnh hưởng tích cực của công nghệ thông tin trong quản lý kê khai thuế
Nói chung việc sử dụng công nghệ thông tin vào quản lý nhà nước đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như nghiên cứu của Colesca and Liliana (2008) đã đưa ra kết luận rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giúp chính phủ cung cấp các hàng hoá, dịch vụ công hiệu quả hơn, giảm tình trạng tham nhũng, tăng cường công khai minh bạch và thúc đẩy phát triển kinh tế Gilbert và Balestrini (2004) đã đưa ra các lợi ích từ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước đó là: Tiết kiệm chi phí, thời gian, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, chất lượng thông tin, an toàn tài chính, giảm áp lực, đáng tin cậy, cách nhìn nhận từ bên ngoài Sau đây tác giả tổng
Trang 11kết và đưa ra một số lợi ích của việc Kê Khai Thuế Qua Mạng đối với NNT và cơ quan thuế
(iii) Nâng cao tính chủ động từ phía NNT
(iv) Thể hiện sự chuyên nghiệp của doanh nghiệp vì có khả năng ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh
(2) Cơ quan thuế sẽ quản lý NNT thông qua hệ thống mã vạch, Việc Kê Khai Thuế Qua Mạng giúp cơ quan thuế:
(i) Thông tin được cập nhật, xử lý và lưu trữ chính xác, kịp thời và giảm thiểu tình trạng quá tải tại cơ quan thuế khi đến kỳ hạn nộp hồ sơ khai thuế
(ii) Với tinh thần lấy NNT làm trọng tâm, việc ứng dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng thể hiện sự dân chủ, chuyên nghiệp, đồng bộ, công khai, minh bạch của
bộ máy nhà nước nói chung và hệ thống quản lý thuế nói riêng
(iii) Việc lưu trữ, truy suất, chia sẻ, tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng, linh hoạt,
cơ quan quản lý nâng cao khả năng thanh tra
(iv) Giảm chi phí tối đa trong quản lý, không gian lưu trữ
(v) Tất cả các yếu tố này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc thu thuế nói riêng và thu ngân sách nhà nước nói chung
Tóm lại, việc đưa ứng dụng Kê Khai Thuế Qua Mạng đem lại lợi ích cho cả NNT,
cơ quan quản lý thuế và quốc gia
2.3 Một số lưu ý khi ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kê khai thuế
Với lợi ích thực tế đem lại từ ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý kê khai thuế, các ứng dụng công nghệ ngày càng được mở rộng Tuy nhiên, chúng ta cần phải chú ý tới một số vấn đề có thể gặp phải khi đưa các ứng dụng này vào thực
Trang 12tiễn Cụ thể, sau đây tác giả sẽ phân tích một số lưu ý quan trọng khi áp dụng hệ thống kê khai qua mạng vào thực tế:
(1) Bảo mật thông tin:
Thông tin của NNT nộp cho cơ quan thuế bao gồm những thông tin bí mật mà nếu trong tình huống các thông tin này bị các đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp… nắm bắt được có thể gây thiệt hại lớn cho NNT Khi thiết lập hệ thống kê thuế qua mạng
về mặt lý thuyết hệ thống sẽ được bảo mật tuyệt đối Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng việc rò rỉ thông tin, tin tặc tấn công là hoàn toàn có thể sảy ra Những cuộc tấn công của các tổ chức tội phạm công nghệ cao như Anonymous đã tấn công vào hệ thống quản lý thông tin mật của Mỹ là điển hình Cần phải nhận định rằng đây là vấn đề đáng chú trọng trong tình trạng tội phạm công nghệ cao ngày càng phát triển
và tinh vi hơn
(2) Vấn đề pháp lý:
(i) Về mặt cơ chế, chính sách, hiện vẫn chưa có văn bản pháp lý quy định rõ trách nhiệm sử dụng, bảo quản chứng thư số, hoặc lưu trữ hồ sơ khai thuế điện tử khi kê khai qua mạng Dẫn tới nhiều bất cập làm giảm đi tính hữu dụng của ứng dụng (ii) Theo Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2005, Chữ ký số được sử dụng thay cho con dấu và có giá trị pháp lý như con dấu của doanh nghiệp.Tuy nhiên thì tại thời điểm hiện tại nhiều doanh nghiệp còn chưa hiểu rõ và chưa tin tưởng Cơ quan thuế nên tăng cường công tác tuyên truyền về văn bản này
(3) Chất lượng hệ thống máy tính và đường truyền:
Khi thiết lập hệ thống kê khai qua mạng cần xây dựng hệ thống máy tính và đường truyền đủ mạnh để có thể tiếp nhận một số lượng rất lớn tờ khai từ phía NNT Hệ thống này không chỉ phải có khả năng phục vụ cho số lượng NNT hiện tại mà còn trong nhiều năm tới Việc gặp sự cố nghẽn đường truyền trong những ngày gần tới hạn chót nộp tờ khai đã từng xảy ra và gây ra nhiều hậu quả:
(i) Về phía NNT khi không nộp được tờ khai qua mạng lo lắng và in hồ sơ giấy mang tới nộp trực tiếp tại cơ quan thuế gây nên tình trạng ách tắc tại cơ quan Nghiêm trọng hơn là, NNT mất niềm tin với cơ quan thuế
Trang 13(ii) Về phía cơ quan thuế trong giai đoạn bị tắc nghẽn cán bộ thuế không thể tiếp nhận và xử lý tờ khai không thể làm việc Khi hệ thống hoạt động bình thường trở lại thì lại có quá nhiều việc cần xử lý ngay
2.4 Các phương thức kê khai thuế
(1) Phương thức kê khai thuế bằng hồ sơ giấy:
Sau đăng ký kinh doanh và đăng ký hồ sơ đăng ký ban đầu NNT1 sẽ được cấp mã số thuế NNT đã được chấp nhận sử dụng kê khai thuế bằng hồ sơ giấy Bằng phương thức này NNT sẽ chuẩn bị các tờ khai thuế dưới dạng hồ sơ giấy Hàng tháng, quí, năm trước thời hạn chót nộp tờ khai, trong giờ hành chính NNT có thể nộp hồ sơ kê khai thuế bằng một trong hai cách:
(i) Gửi qua đường bưu điện tới cơ quan thuế: Gồm hai bộ tờ khai, kèm theo phong
bì và tem ghi rõ địa chỉ, số điện thoại của NNT, cơ quan thuế đóng dấu đã nhận tờ khai và gửi trả lại cho NNT một bộ và lưu giữ một bộ tại cơ quan Hình thức này tiện lợi cho NNT nhưng không an toàn và không kịp thời Chính vì vậy, có rất ít NNT sử dụng hình thức này
(ii) NNT trực tiếp tới nộp tại phòng cơ chế một cửa của cơ quan thuế: Cơ quan thuế đóng dấu đã nhận tờ khai và trả lại cho NNT một bộ và lưu giữ một bộ tại cơ quan Hình thức này an toàn tuy nhiên tốn kém nhiều thời gian và chi phí cho NNT Sau khi tiếp nhận hồ sơ, bộ phận tiếp nhận sẽ chuyển tờ khai sang bộ phận xử lý tờ khai kiểm tra xem có thiếu sót và liên hệ với NNT để bổ xung Sau đó, NNT chuyển tiền vào ngân sách nhà nước có thể thông qua ngân hàng hoặc tới nộp trực tiếp bằng tiền mặt tại kho bạc nhà nước
(2) Phương thức Kê Khai Thuế Qua Mạng:
Sau khi đăng ký sử dụng thành công hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng, NNT sẽ được cấp một mã số thuế riêng, được cấp chữ ký số và thực hiện nộp tờ khai thuế qua mạng máy tính Trước thời hạn chót nộp tờ khai, NNT có thể thực hiện nộp tờ khai ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào Sau đó, NNT sẽ nhận được thư điện tử của
1
Nếu NNT là cá nhân chỉ cần đăng ký mã số thuế là có thể thực hiện nộp tờ khai thuế bằng hồ sơ giấy
Trang 14cơ quan quản lý thuế thông báo đã nhận được tờ khai Cuối cùng NNT thực hiện chuyển khoản số thuế phải nộp qua ngân hàng hoặc tới nộp trực tiếp tại kho bạc nhà nước vào ngân sách nhà nước Nếu trong quá trình kê khai có sai sót hoặc nhầm lẫn
tờ khai thì NNT thực hiện gửi tờ khai bổ sung qua mạng máy tính trước thời hạn chót nộp tờ khai Hình thức này vừa an toàn, tiện lợi, kịp thời và tiết kiệm cho NNT
(3) So sánh sự khác biệt giữa hai phương pháp kê khai thuế:
Về cơ bản hai phương thức kê khai này hoàn toàn giống nhau về qui trình chung và kết quả Tuy nhiên, sự khác biệt là ở chỗ cách thức thực hiện nộp tờ khai từ đó dẫn tới những khác biệt sau:
Bảng 2.1: So sánh sự khác biệt giữa Kê Khai Thuế Qua Mạng và kê khai thuế
Sự chủ động
NNT có thể chủ động nộp tờ khai, sửa đổi và bổ xung vào thời gian phù hợp nhất Cơ quan thuế có thể chủ động phân bổ nhận tờ khai trong một khoảng thời gian khá dài
NNT phải nộp tờ khai vào giờ hành chính, trong ngày làm việc và gặp trực tiếp cơ quan thuế Cơ quan thuế phải tiếp nhận và xử lý một số thông tin ngay khi NNT nộp tờ khai
An toàn thông
tin
An toàn về thông tin Tuy nhiên,
cơ quan thuế và NNT cần phải đề phòng nguy cơ từ mạng máy tính
Chậm hơn và tờ khai có thể chịu ảnh hưởng bởi hư hao lý hoá
Tiếp xúc với
cơ quan thuế
Tăng cường tiếp xúc giữa cơ quan thuế và NNT thông qua mạng máy tính
NNT khó khăn hơn khi tiếp xúc trực tiếp với cơ quan thuế
Trang 15Yêu cầu về khả năng sử dụng công nghệ thấp hơn
Thông tin Chính xác và kịp thời Chậm và kém kịp thời
Tác giả tham khảo mô hình chấp nhận công nghệ (TAM2 - Fred Davis, 1989) Mô hình này đưa ra giả thuyết có hai yếu tố tác động tới quyết định sử dụng công nghệ mới đó là: (1) Mức độ hữu dụng - (PU) và (2) Mức độ dễ dàng sử dụng - (PEOU) công nghệ mới Theo định nghĩa Nhà nghiên cứu Davis, Mức độ hữu dụng là: “ Mức độ một người tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ làm gia tăng hiệu suất
2
TAM: Technology Accepted model
Trang 16trong công việc của họ.” Mức độ dễ dàng sử dụng là: “Mức độ một người tin rằng
sử dụng một hệ thống cụ thể mà không cần cố gắng.” Kết luận cả hai đều tác động mạnh tới việc sử dụng hệ thống công nghệ Mô hình TAM có ưu điểm là tính đáng tin cậy cao3 Có một số chỉ trích đối với mô hình TAM như: Hạn chế tính mở rộng, khả năng dự đoán và thiếu giá trị thực tế4 Tuy nhiên, với độ tin cậy cao mô hình này vẫn được nhiều nhà khoa học trên thế giới tin tưởng và sử dụng Tất cả các bài nghiên cứu sau đây đều sử dụng TAM như là cơ sở lý thuyết và phát triển thêm những lý thuyết mới của mình Sau đây là một số nghiên cứu cụ thể:
Tác giả Lê Thị Kim Tuyết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Internet Banking tại Việt Nam Nghiên cứu đề xuất thêm hai nhân tố mới là Sự tin cậy cảm nhận và Sự tự tin cảm nhận Kết quả phân tích cuối cùng cho thấy tại Việt Nam có ba nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ Internet Banking là Sự hữu ích cảm nhận, Khả năng sử dụng và Sự tin cậy cảm nhận
Hai nhà Nghiên Cứu Suhani Anuar và Radiah Othman, 2010 thực hiện nghiên cứu
đề tài “ Xác Định Nhân Tố Tác Động Tới Việc Sử Dụng Phần Mềm Nộp Thuế Qua Mạng, E-Bayaran” tại Malaysia Họ đã đưa ra thêm bốn yếu tố tác động tới việc sử dụng phần mềm nộp thuế qua mạng E-Bayaran tại Malaysia đó là: Yếu tố xã hội, Mức độ tin tưởng, Khả năng sử dụng công nghệ tin học, Thông tin về công nghệ mới Sau đó, thực hiện khảo sát tại Malaysia, kết quả phân tích cho thấy có việc sử dụng E-Bayaran chịu tác động của Mức độ hữu dụng, Yếu tố xã hội và Khả năng sử dụng công nghệ tin học Các yếu tố còn lại không có tác động mạnh
Theo nhóm nhà Nghiên Cứu Henny Medyawati et al., 2011, với các giả thuyết các biến ảnh hưởng tới việc chấp nhận hệ thống E-Banking gồm 2 nhân tố chính là: Mức độ hữu dụng và Mức độ dễ sử dụng Nhóm đã đi nghiên cứu sâu hơn đâu là yếu tố tác động tới 2 nhân tố này Trong hai nhân tố này đâu là nhân tố ảnh hưởng tới Thái độ sử dụng hệ thống Tiếp theo, Thái độ khi sử dụng hệ thống ảnh hưởng như thế nào tới thói quen sử dụng và chấp nhận hệ thống
Trang 17Kết quả phân tích cho thấy nhân tố Khả năng sử dụng máy tính, Thiết kế giao diện không có ảnh hưởng đáng kể tới nhân tố Mức độ dễ dàng sử dụng Kinh nghiệm sử dụng máy tính, Sự quan trọng của ứng dụng, Bảo mật và Yếu tố cá nhân có ảnh huởng mạnh tới Mức độ dễ sử dụng Sự quan trọng của ứng dụng không có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ hữu dụng của hệ thống Thiết kế giao diện, Mức độ dễ sử dụng có ảnh hưởng đáng kể tới Mức độ hữu dụng của hế thống Mức độ dễ dàng sử dụng ảnh hưởng đáng kể tới thái độ sử dụng hệ thống Nhận thức về Mức độ hữu dụng không có ảnh hưởng đáng kể tới Thái độ sử dụng hệ thống Thái độ khi sử dụng hệ thống ảnh hưởng trực tiếp tới thói quen sử dụng và chấp nhận hệ thống Như vậy, có hai kết luận quan trọng là: Thứ nhất, Mức độ Dễ dàng sử dụng bị ảnh hưởng đáng kể bởi các nhân tố sau Kinh nghiệm sử dụng máy tính, Sự quan trọng của ứng dụng, Bảo mật và Yếu tố cá nhân Thứ hai, Mức độ dễ dàng sử dụng có ảnh hưởng đáng kể tới việc chấp nhận công nghệ mới thông qua Thái độ sử dụng hệ thống
Sau đây là một số nghiên cứu khác, Theo nhà nghiên cứu Hanudin Amin, 2008, đã thực hiện khảo sát xác định yếu tố tác động tới việc sử dụng hệ thống thẻ tín dụng qua điện thoại tại Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy Mức độ hữu dụng, Mức
độ dễ sử dụng, Mức độ tin tưởng và Thông tin về ứng dụng mới là các yếu tố tác động mạnh tới thái độ của người dùng Theo nghiên cứu của tác giả Adesina Aderonke, 2000, Mức độ tin tưởng có ảnh hưởng lớn tới việc sử dụng ứng dụng công nghệ mới E-Banking tại Nigeria Nhóm tác giả Ali Dashti et al., 2010 kết luận rằng ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý nhà nước chịu ảnh hưởng của Mức độ tin tưởng và Cảm nhận nhận mức độ tin tưởng từ người sử dụng Theo nhà nghiên cứu Yusniza Kamarulzaman và Anna A Che Azmi, 2010, Mức độ tin tưởng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới quyết định sử dụng E-Filing tại Malaysia
Áp dụng cho hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng tại VN, Tôi đưa ra giả thuyết là việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng chịu tác động của các yếu tố sau: (1) Mức độ dễ sử dụng, (2) Mức độ hữu dụng, (3) Mức độ tin tưởng, (4) Thông tin
Trang 18về công nghệ mới, (5) Khả năng ứng dụng công nghệ của người sử dụng, (6) Yếu tố
(1) Mức độ dễ dàng sử dụng (PEOU - Perceived ease of use):
Mức độ dễ dàng sử dụng: Là mức độ một người tin rằng sử dụng một hệ thống cụ
thể mà không cần cố gắng (Fred Davis, 1989) Việc một công nghệ khi mới đưa vào triển khai thì người sử dụng có dễ dàng sử dụng và sử dụng thành thạo công nghệ Thời gian người sử dụng làm quen và sử dụng được công nghệ mới ngắn Dễ sử dụng trong Kê Khai Thuế Qua Mạng thể hiện qua việc NNT nhanh chóng học được cách sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng và dễ dàng xử lý được những trục trặc gặp phải khi kê khai thuế, nhanh chóng trở nên chuyên nghiệp khi sử dụng hệ thống mà không cần phải quá nỗ lực
(2) Mức độ hữu dụng (PU - Perceived usefulness):
Mức độ hữu dụng: Mức độ một người tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ
làm gia tăng hiệu suất trong công việc của họ (Fred Davis, 1989) Việc sử dụng một ứng dụng công nghệ vào thực tế đem lại những lợi ích cho người sử dụng so với khi không có ứng dụng đó Với hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng Mức độ hữu dụng được tác giả đo lường bằng việc hệ thống này sẽ giúp tiết kiệm cho NNT chi phí về thời gian để thực hiện lên tờ khai, nộp tờ khai và bổ sung tờ khai Khi Kê Khai Thuế Qua Mạng NNT không cần phải trực tiếp tới cơ quan thuế mà có thể thực hiện nộp
tờ khai ở bất kỳ nơi nào có máy tính kết nối mạng Từ đó, năng suất công việc của NNT được gia tăng
(3) Mức độ tin cậy (PC - Perceived credibility):
Mức độ tin cậy: Gồm hai yếu tố: (1) Tính bảo mật của công nghệ mới khi đưa vào
triển khai (2) Người tiêu dùng đặt tin tưởng vào chất lượng của công nghệ mới
Trang 19(Wang et al, 2003 theo Suhani Anuar và Radiah Othman, 2010) Thứ nhất, Mức độ tin cậy của người tiêu dùng vào hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng được tác giả đo lường dựa vào tính bảo mật của hệ thống NNT tin tưởng rằng hệ thống sẽ không gây ra thất lạc hoặc bị đánh cắp mất tờ khai Thứ hai, mức độ tin cậy được đo lường bằng sự chính xác, kịp thời của thông tin NNT muốn gửi tới cho cơ quan thuế NNT tin tưởng vào việc hệ thống này sẽ hoạt động hiệu quả
(4) Thông tin về công nghệ mới (AOI - Amount of information):
Thông tin về công nghệ mới: Bao gồm tất cả các thông tin được cung cấp để có
anh hưởng tới ý định sử dụng (Suhani Anuar và Radiah Othman, 2010) Người sử dụng được tiếp cận với thông tin, biết được lợi ích và dễ dàng tìm kiếm những thông tin liên quan khác về công nghệ mới Đo lường tác động của thông tin về hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng đối với NNT là việc xem xét NNT có được cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, biết được những lợi ích và dễ dàng tiếp cận được những thông tin từ nhiều kênh khác nhau về hệ thống
(5) Khả năng ứng dụng công nghệ (CSE - Computer Self-Efficacy):
Khả năng ứng dụng công nghệ: Ám chỉ niềm tin rằng người nộp thuế có khả năng
tự chủ trong việc thực hiện kê khai thuế qua mạng (Suhani Anuar và Radiah Othman, 2010) Khi không có khả năng về công nghệ thì người sử dụng sẽ không quan tâm nhiều tới lợi ích của công nghệ mới và dẫn đến việc không sử dụng công nghệ này Để có thể sử dụng phần mềm Kê Khai Thuế Qua Mạng một cách nhanh chóng và thuần thục người sử dụng cần có những kiến thức cơ bản về máy tính sử dụng được các phần mềm kế toán – thuế, sử dụng tốt mạng máy tính
(6) Yếu tố xã hội (SN - Subjective norms):
Yếu tố xã hội: Được định nghĩa như sự nhận thức của một người rằng hầu hết mọi
người xung quanh anh ta nghĩ rằng anh ta nên hoặc không nên thể hiện thái độ được nói đến (Suhani Anuar và Radiah Othman, 2010) Các yếu tố xã hội từ bên ngoài tác động tới quyết định sử dụng công nghệ mới mà không liên quan tới chất lượng hoặc tính năng của công nghệ mới Khi có nhiều người sử dụng công nghệ mới thì những người còn lại bị ảnh hưởng bởi đám đông và có mong muốn sử dụng Trong Kê
Trang 20Khai Thuế Qua Mạng tác động từ bên ngoài là tác động từ các yếu tố như tác động
từ bạn bè, người thân, các kênh truyền thông hoặc khi đã có một số lượng lớn NNT
sử dụng hệ thống này thì phần những người còn lại chịu tác động tâm lý và có mong muốn sử dụng
Bảng 2.2: Tóm tắt nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế
Qua Mạng
I Dễ dàng sử dụng
1 Nhanh chóng học được cách sử dụng
2 Dễ dàng trong khi Kê Khai Thuế Qua Mạng
3 Giao diện của phần mềm rõ rang
4 Dễ dàng trong việc lập tờ khai
5 NNT nhanh chóng thành thạo
II Hữu dụng
6 Hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng có thể kê khai nhiều loại thuế
7 Rút ngắn thời gian làm tờ kê khai thuế
8 Rút ngắn thời gian đi nộp thuế
III Mức độ tin tưởng
9 Sự bảo mật về thông tin
10 Kê khai qua mạng đáng được mọi người tin cậy
11 Kê Khai Thuế Qua Mạng sẽ hạn chế lỗi
12 Kê khai qua mạng sẽ hạn chế thủ tục
IV Thông tin
13 Nhận được đầy đủ thông tin về kê khai qua mạng
14 Được cung cấp đầy đủ thông tin về lợi ích của kê khai qua mạng
15 Dễ dàng tìm kiếm những thông tin về hệ thống kê khai qua mạng
V Khả năng ứng dụng công nghệ
Trang 2116 Thoải mái khi sử dụng Kê Khai Thuế Qua Mạng
17 Có thể tự mình Kê Khai Thuế Qua Mạng
18 Có thể Kê Khai Thuế Qua Mạng khi không có hướng dẫn sử dụng
VI Yếu tố xã hội
19 Ảnh hưởng từ người thân như: Bạn bè, đồng nghiệp
20 Ảnh hưởng từ những người không thân thiết
21 Ảnh hưởng từ Các phương tiện truyền thông
Nguồn: Suhani Anuar và Radiah Othman (2010)
Việc sự dụng hệ thống kê khai qua mạng chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau Dựa vào lý thuyết từ những bài nghiên cứu trước đây, tác giả đưa ra giả thuyết có sáu yếu tố tác động tới việc Kê Khai Thuế Qua Mạng Từ đó tác giả thực hiện phân tích bằng phần mềm SPSS nhằm tìm ra đâu là yếu tố tác động mạnh tới việc Kê Khai Thuế Qua Mạng để có thể đề xuất những giải pháp thiết thực và có căn cứ giúp cải thiện hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng
2.7 Mô hình khảo sát và các giả thuyết
(4) Thông tin về công nghệ mới
(5) Khả năng ứng dụng công nghệ của người sử dụng
Trang 22Hình vẽ 2.1: Mô hình các nhân tố tác động tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai
Thuế Qua Mạng
Nguồn: Tác giả đề xuất
Từ mô hình tác giả đưa ra các giả thuyết sau:
(2) Các giả thuyết:
H 1 : Mức độ dễ sử dụng có tác động tới việc Kê Khai Thuế Qua Mạng
H 2 : Mức độ hữu dụng có tác động tới việc Kê Khai Thuế Qua Mạng
H 3 : Mức độ tin cậy có tác động tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng
H 4 : Thông tin về hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng có tác động tới việc sử dụng hệ
thống
H 5 : Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin có tác động tới việc sử dụng hệ thống
Kê Khai Thuế Qua Mạng
H 6 : Yếu tố xã hội có tác động tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng
Kết luận chương 2
Kết thúc chương 2 tác giả nghiên cứu về mặt lý thuyết những khía cạnh trọng yếu
về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Kê Khai Thuế Qua Mạng Tham khảo từ những bài nghiên cứu trước và ứng dụng vào hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng của VN, tác giả đã đưa ra và giới thiệu về sáu yếu tố tác động tới việc sử dụng phần mềm Kê Khai Thuế Qua Mạng Đó là: (1) Mức độ dễ sử dụng, (2) Mức
độ hữu dụng, (3) Mức độ tin tưởng, (4) Thông tin về công nghệ mới, (5) Khả năng ứng dụng công nghệ và (6) Yếu tố xã hội Đó là cơ sở để tác giả phân tích sâu hơn
Trang 23tìm ra đâu là nhân tố chính tác động tới việc sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng trong chương 4
Trang 24Chương 3 THỰC TRẠNG KÊ KHAI THUẾ QUA MẠNG TẠI CỤC THUẾ TP.HCM
3.1 Vị trí của VN về ứng dụng công nghệ thông tin
VN là một quốc gia có thể chế chính trị tốt, cơ quan nhà nước làm việc hiệu quả và luôn luôn hướng tới mục đích phục vụ nhân dân tốt nhất, lấy người dân làm gốc, các ứng dụng công nghệ thông tin của VN vào quản lý nhà nước ngày càng phục vụ tốt nhu cầu của người dân và chứng tỏ hiệu quả Việc cung cấp tốt các dịch vụ công sẽ góp phần nâng cao lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của chính quyền nhà nước, chứng minh cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta Nước ta đầu tư rất nhiều ngân sách nhằm hiện đại hoá hệ thống quản lý nhà nước và nguồn ngân sách này đang được triển khai rất hiệu quả Chính vì vậy, vị thế của VN trong ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý nhà nước ngày càng nâng cao
Bảng 3.1: Xếp hạng ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước tại các quốc
gia trong khu vực Đông Nam Á
Nguồn: E-Government Adoption in Developing Countries; the Case of Indonesia –
tác giả: Ali Rokhman
Trang 25Đây là khảo sát của về chính phủ điện tử được thực hiện bởi chính phủ Mỹ (United Nations E-Government Survey) trên phạm vi toàn thế giới Vị thế trong bảng xếp hạng ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước của VN tăng qua các năm và tăng được 22 bậc trong vòng 6 năm Đây là con số cực kỳ ấn tượng, bởi vì trong khi các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á khác có xu thế giảm (chỉ có Malaysia tăng được 11 bậc và Đông Timor tăng được 12 bậc) trong khi nước ta lại luôn duy trì tốc
độ tăng rất cao Đặc biệt, trong giai đoạn năm 2005 – 2008 chúng ta tăng được 14 bậc
Biểu đồ 3.1: Xếp hạng vị trí ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước tại
các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
Nguồn: Tác giả tự vẽ biểu đồ lấy số liệu từ E-Government Adoption in Developing
Countries; the Case of Indonesia – tác giả: Ali Rokhman
Bảng số liệu tính theo vị trí các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á khi so sánh về ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước Nhìn chung trong toàn khu vực thì việc ứng dụng công nghệ vào quản lý nhà nước còn chậm hơn so với các khu vực khác Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy hầu hết các nước đều tụt hạng chỉ có 3 nước là VN, Malaysia và Đông Timor là những trường hợp đặc biệt có vị trí ngày càng cao Biểu đồ cho thấy tiến triển tại VN là rất đáng khích lệ và đang trong đà
Trang 26ngày càng tốt đẹp Trước năm 2006, VN luôn nằm ở vị trí thứ 7 tại khu vực Cạnh tranh vị trí này với nước láng giềng Indonesia và vào khoảng năm 2006 VN đã vượt qua quốc gia này lên giữ vị trí thứ 6 Trong khoảng thời gian 6 năm từ 2004 tới
2010, Singapore vẫn luôn được đánh giá ở vị trí cao nhất về ứng dụng công nghệ vào quản lý nhà nước Cuối cùng là Đông Timor là quốc gia yếu kém nhất trong khu vực này
Đó là về ứng dụng công nghệ trong quản lý Khó khăn lớn của nước ta là năng lực cạnh tranh của DN VN về công nghệ rất yếu Năm 2011, tỷ lệ DN VN ứng dụng công nghệ cao chỉ là 2%, trong khi tỷ lệ này ở Thái Lan là 30%, Malaysia là 51%, Singaporee là 73%5 Nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta còn thiếu rất nhiều Khi triển khai các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin mới vào trong quản lý nhà nước thì người dân còn e dè và phải mất khá nhiều thời gian mới làm quen, học cách sử dụng Đây là khó khăn rất lớn khi đưa vào triển khai hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng Thực tế, các nước láng giềng như Malaysia và Singapore đã triển khai thành công Mặc dù, còn có nhiều khác biệt về kinh tế, chính trị và xã hộ, triển khai Kê Khai Thuế Qua Mạng là cấp bách và cần thiết tại nước ta Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn nữa vào hệ thống này nhằm phục vụ tốt hơn nữa cho NNT Trong thời gian qua, đặc biệt là từ sau năm 2004 ngành thuế đã có những cải cách đem lại nhiều kết quả rất tốt và góp phần cải thiện vị trí của VN trong bảng xếp hạng về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính
3.2 Tình hình thực hiện quản lý và Kê Khai Thuế Qua Mạng
3.2.1 Kết quả thực hiện chung
Cho tới tháng 6/2011 Tổng cục thuế đã tổ chức sơ kết công tác triển khai hệ thống khai thuế qua mạng tại 19 tỉnh, thành phố bao gồm: TP Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Ninh Bình, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Thuận, Bà rịa- Vũng Tàu và Cần Thơ
5
http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/561200/Chi-phi-san-xuat-tai-VN-cao-gap-nhieu-lan-nuoc-ngoai-tpp.html
Trang 27Theo số liệu thống kê đến tháng 6/2011 đã có trên 20.000 DN đăng ký khai thuế qua mạng, 18.000 DN thực hiện Kê Khai Thuế Qua Mạng Mỗi tháng có trên 50.000 hồ sơ khai thuế, báo cáo sử dụng hóa đơn được gửi qua mạng Internet Trong 6 tháng cuối năm 2011, Tổng cục thuế tiếp tục chỉ đạo triển khai hệ thống khai thuế qua mạng tới 22 tỉnh, thành phố, đưa tổng số địa phương triển khai hệ thống khai thuế qua mạng lên 41, với hơn 100 Chi cục Thuế triển khai Kê Khai Thuế Qua Mạng Các tỉnh triển khai đợt 2 bao gồm: Bến tre, Gia Lai, Thái Nguyên, Hải Dương, Tây Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang, Sóc Trăng, Long An, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Kiên Giang, Bình Định, Tiền Giang, Kon Tum, Lạng Sơn, Đăk Lăk, Thái Bình, Ninh Thuận, An Giang, Đăk Nông
Bảng 3.2: Số lượng DN sử dụng hệ thống Kê Khai Thuế Qua Mạng năm 2011
Số lượng NNT sử dụng (Đv: DN) 18.000 56.000 58.000
Số lượng tờ Khai luỹ kế từ khi triển khai (Đv: Tờ) 50.000 719.000
Tác giả tổng hợp dựa trên số liệu từ website: http://www.taichinhdientu.vn
Năm 2011, chứng kiến sự vào cuộc của nhiều địa phương dù mới triển khai khai thuế qua mạng thí điểm lần đầu Tổng Cục Thuế đã triển khai mở rộng hệ thống nhận tờ khai thuế qua mạng và khai thuế trực tuyến cho khoảng 60.000 DN Theo
số liệu thống kê từ Tổng Cục Thuế chỉ trong tháng 2 đã có thêm khoảng hơn 5.000 NNT được cấp dịch vụ Kê Khai Thuế Qua Mạng Tổng số lượng tờ khai luỹ kế cho tới 27/02/2012 là 1.294.977 tờ khai và luỹ kế tổng số NNT gửi tờ khai cho cơ quan thuế qua mạng tăng hơn 8.000 trong tháng 2
Trang 28Bảng 3.3: Số liệu báo cáo tình hình Kê Khai Thuế Qua Mạng tháng 2 năm
2012 Thời
Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ báo cáo của Tổng Cục Thuế
Số NNT qua mạng tập trung chủ yếu ở các tỉnh thành lớn nơi mà hoạt động tuyên truyền tốt, NNT có kiến thức về công nghệ cao như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng
Bảng 3.4: Số NNT qua mạng luỹ kế tại một số tỉnh thành tiêu biểu cho tới
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu báo cáo của Cục Thuế Tp.HCM
TP.HCM là đơn vị đi đầu với số lượng doanh ngiệp kê khai qua mạng khá lớn chiến gần 50% tổng số NNT của cả nước Ngoài lợi ích mang lại từ hệ thống kê khai qua mạng, có được kết quả này là do tác động từ yếu tố sau Thứ nhất, do Cục Thuế và các Chi Cục Thuế kết hợp với cơ quan truyền thông đẩy công tác tuyên truyền tới
DN để cung cấp đầy đủ thông tin về hệ thống kê khai qua mạng Thứ hai, do số lượng DN tại TP.HCM khá lớn, rất năng động và có khả năng ứng dụng công nghệ cao
Trang 29Biểu đồ 3.2: Cơ cấu số NNT qua mạng luỹ kế tại một số tỉnh thành tiêu biểu
cho tới 27/02/2012
Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên số liệu được cung cấp từ Tổng Cục Thuế
Năm 2012, ngoài công tác đẩy mạnh tuyên truyền cho các NNT, sự vào cuộc của lãnh đạo các địa phương, lãnh đạo Tổng cục Thuế cam kết sẽ nâng cấp đường truyền, hạ tầng tiếp nhận tờ khai của NNT, tránh hiện tượng tắc nghẽn mạng, tránh rủi ro cho NNT khi kê khai thuế
3.2.2 Kết quả thực hiện theo phương thức kê khai thuế
Trong quá trình kê khai NNT sẽ được lựa chọn một trong hai phương thức Phương thức thứ nhất là nộp thuế thông qua sự hỗ trợ của hệ thống DN cung cấp dịch vụ T-VAN Phương thức thứ hai là thông qua dịch vụ khai thuế qua mạng của tổng cục thuế cung cấp IHTKK
(1) Nộp thuế thông qua sự hỗ trợ của hệ thống DN cung cấp dịch vụ T-VAN:
Khi NNT lựa chọn hình thức này sẽ ký hợp đồng riêng với các nhà cung cấp dịch vụ T-VAN đã được tổng cục thuế cấp phép Hiện tại có sáu DN được cấp phép cung cấp dịch vụ T-VAN là: VDC, Viettel, FPT, Nacencom, BKAV, CK Danh sách này thường xuyên được cập nhật và công bố trên website của Tổng Cục Thuế
Trang 30(ii) NNT sẽ phải trả chi phí sử dụng chứng thư số và chi phí cung cấp dịch vụ VAN
T-(2) Dịch vụ khai thuế qua mạng của Tổng Cục Thuế cung cấp IHTKK:
Đây là cổng thông tin miễn phí do tổng cục thuế cung cấp Đối với phương thức này, sẽ có những ưu điểm và nhược điểm chính sau
Trang 31Bên cạnh đó, Tổng Cục Thuế thường xuyên nâng cấp cải thiện hệ thống phần mềm giúp NNT thuận tiện hơn trong việc Kê Khai Thuế Qua Mạng hoặc để phù hợp với các văn bản luật mới.Sự thay đổi này lại gây cho khó khăn cho NNT vì họ phải thường xuyên cập nhật, sử dụng những tính năng mới
Bảng 3.5: Số lượng NNT thông qua IHTKK và DN T-VAN cho tới ngày
27/02/2012
Số lượng NNT được cung cấp dịch vụ (ĐV: NNT) 80,981 22,073
Số lượng luỹ kế tờ khai đã nhận (Đv: Tờ) 1,174,811 120,166
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của Tổng Cục Thuế
Phần lớn NNT tin tưởng và sử dụng phẩn mềm IHTKK của Tổng Cục Thuế cung cấp Khoảng gần 80% NNT đăng ký sử dụng dịch vụ Kê Khai Thuế Qua Mạng thông qua cơ quan thuế thay vì đăng ký thông qua các NNT sử dụng dịch vụ DN T-VAN
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu số NNT được cung cấp dịch vụ nộp tờ khai qua mạng
thông qua IHTKK và T-VAN
Nguồn: Tác giả tự vẽ và tổng hợp số liệu từ báo cáo của Tổng Cục Thuế
Với số lượng tờ khai nộp thông qua DN T-VAN còn thấp hơn chỉ có 9% Chính vì những nhược điểm của việc sử dụng dịch vụ của DN T-VAN và đặc biệt là bởi vì NNT đã quen với việc giao dịch với cơ quan thuế, điều đó làm họ an tâm hơn mặc
dù Tổng Cục Thuế đã khuyến khích NNT sử dụng dịch vụ của DN T-VAN, chính
Trang 32phủ có nhiều hỗ trợ dành cho DN cung cấp dịch vụ T-VAN Việc phần lớn NNT sử dụng dịch đăng ký và nộp tờ khai thuế qua IHTKK làm gia tăng đáng kể công việc cho cơ quan thuế Rất hy vọng trong tương lai có nhiều hơn NNT sử dụng dịch vụ của DN T-VAN đúng như mong đợi của cơ quan thuế, chính phủ và các DN cung cấp dịch vụ T-VAN
Biểu đồ 3.4: Cơ cấu số lượng tờ khai nộp qua IHTKK và T-VAN
Nguồn: Tác giả tự vẽ và tổng hợp số liệu từ báo cáo của tổng cục thuế
3.3 Thuận lợi và khó khăn khi triển khai Kê Khai Thuế Qua Mạng
(1) Về phía cơ quan thuế:
Trong quá trình triển khai ứng dụng Kê Khai Thuế Qua Mạng vào thực tế găp rất nhiều thuận lợi và cũng gặp không ít khó khăn
Trang 33bạn, việc nộp hồ sơ kê khai thuế giá trị gia tăng nên được thực hiện theo phương pháp nào?”
Bảng 3.6: Thống kê ý kiến của NNT về các phương pháp nộp hồ sơ khai thuế
tháng 2 năm 2012
(Đv: Người) Cách thức Qua
mạng
Trực tiếp tại
cơ quan thuế
Qua đường bưu điện
Lưu hồ sơ vào ROM và nộp trực tiếp
CD-Tất
cả
Nguồn: Website Cục Thuế Tp.HCM
Từ kết quả khảo sát chúng ta có thể kết luậng rằng phần lớn NNT đều ủng hộ cho phương pháp Kê Khai Thuế Qua Mạng
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu ý kiến của NNT về các phương pháp nộp hồ sơ khai thuế
Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên số liệu từ tổng hợp từ tổng cục thuế -
http://www.hcmtax.gov.vn/hcmtax/khaosat/index.aspx
(ii) Nguồn nhân lực của cơ quan thuế có trình độ cao, khả năng ứng dụng công nghệ mới là điều kiện căn bản để triển khai ứng dụng
Trang 34(iii) Hoạt động ứng dụng công nghệ được đẩy mạnh Ngày càng có nhiều ứng dụng
từ công nghệ hiện đại từ việc quản lý NNT, thu thuế và quản lý sau thu thuế Nhà nước có nhiều chính sách đãi ngộ đối với cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực phát triển ứng dụng công nghệ như T-VAN
Khó khăn:
(i) Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của cơ quan thuế đủ mạnh dẫn đến tình trạng nghẽn mạng, rớt mạng trong thời gian cao điểm dẫn đến khó khăn cho cả NNT lẫn
cơ quan thuế và nhiều vấn đề khác Tuy nhiên, VN đang trong quá trình phát triển,
do vậy gặp nhiều khó khăn trong quá trình về vốn đầu tư cho việc áp nâng cao chất lượng hạ tầng kỹ thuật6 Muốn nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho cả ngành thuế trong một thời gian ngắn là điều rất khó nhất là trong giai đoạn kinh tế đang khủng hoảng, cắt giảm chi tiêu công như hiện nay
(ii) Về mặt cơ chế, chính sách, hiện vẫn chưa có văn bản pháp lý quy định rõ trách nhiệm sử dụng, bảo quản chứng thư số, hoặc lưu trữ hồ sơ khai thuế điện tử khi kê khai qua mạng Các NNT Kê Khai Thuế Qua Mạng vẫn đang phải in thêm hồ sơ giấy để lưu trữ phục vụ công tác thanh tra kiểm tra do một số cơ quan chức năng khi
đi thanh tra kiểm tra không đồng ý sử dụng hồ sơ điện tử
(iii) Phần mềm hỗ trợ kê khai thuế IHTKK chưa bao quát hết các loại tờ khai NNT phải nộp nên có tờ khai NNT nộp điện tử, có tờ khai vẫn phải nộp bằng bản giấy (tờ khai 07 - 09/TNNNT theo Thông tư 130, báo cáo ấn chỉ mẫu BC 08/AC theo Thông
tư 120, bảng kê excel kèm theo tờ khai Dự án đầu tư 02/GTGT ) Sự không đồng
bộ này gây nhiều khó khăn cho NNT trong việc Kê Khai Thuế Qua Mạng Bên cạnh
đó, Phần mềm hỗ trợ kê khai thuế lại thường xuyên được nâng cấp để phù hợp với
sự thay đổi của các cơ chế, chính sách thuế Việc cập nhật thường được thực hiện
6
Hạ tầng kỹ thuật: là tập hợp thiết bị tính toán (máy chủ, máy trạm), thiết bị ngoại vi, thiết
bị kết nối mạng, thiết bị phụ trợ, mạng nội bộ, mạng diện rộng.
Trang 35rất sát với thời hạn nộp tờ khai Đã có khá nhiều NNT chọn nhầm phiên bản cũ, không thể nộp tờ khai qua IHTKK vì không được chấp nhận mã vạch
(iv) Hệ thống kê khai qua mạng cho nội bộ cơ quan thuế và cho NNT còn hoạt động chưa ổn định, hay bị quá tải, nghẽn mạng trong một số thời điểm đặc biệt từ 18 - 20 hàng tháng (hạn chót nộp tờ khai thuế) Trong khoảng thời gian này số lượng tờ khai nhiều gấp hàng chục thậm chí hàng trăm lần so với những ngày bình thường
Dữ liệu khai thuế có thời điểm không thể chuyển được vào phần mềm ứng dụng quản lý thuế, cán bộ thuế vẫn phải in ra để nhập số liệu bằng tay Các báo cáo thống
kê chưa linh hoạt, chưa có dữ liệu đầu ra dạng excel nên khó xử lý, tổng hợp số liệu, chưa thuận lợi khi DN muốn thực hiện Kê Khai Thuế Qua Mạng đối với tất cả các chi nhánh hoặc khi DN chuyển địa bàn cơ quan thuế quản lý
(v) Nguồn nhân lực của cơ quan thuế chất lượng cao tuy nhiên còn thiếu rất nhiều Thứ nhất, cán bộ thuế cần phải thay đổi thông tin của người Kê Khai Thuế Qua Mạng vì cơ sở giữ liệu cũ dành cho NNT bằng hồ sơ giấy Thứ hai, phải thêm công việc tiếp nhận tờ khai qua mạng Thứ ba, phải giải quyết các thắc mắc của NNT về
Kê Khai Thuế Qua Mạng Cuối cùng, số lượng NNT thì tăng mạnh hơn nhiều so với
kê khai và nộp thuế họ có năng lực tương đối cao về công nghệ
(iii) Ứng dụng Kê Khai Thuế Qua Mạng tương đối đơn giản và NNT nhanh chóng
có thể sử dụng NNT dễ dàng tìm hiểu những thông tin hướng dẫn sử dụng
Trang 36Khó khăn:
(i) Một số NNT ngại thay đổi do chưa thấy rõ lợi ích, chưa nắm bắt được nhiều thông tin về hệ thống này Số NNT qua mạng chưa nhiều Dẫn đến tâm lý NNT lo ngại khi sử dụng Một số NNT sử dụng hệ thống phần mềm diệt virus, phần mềm bảo mật chặn thư điện tử thông báo cấp tài khoản và các thông tin về ứng dụng của
cơ quan thuế
(ii) Phần mềm mới, chưa hoàn thiện và chính sách thuế của nhà nước thường xuyên thay đổi nên còn nhiều khó khăn cho NNT trong quá trình sử dụng
(iii) Hệ thống kê khai qua mạng còn mới lạ tại VN Nên một số NNT đang còn rụt
dè chờ đợi sau một thời gian mới sử dụng Trình độ sử dụng công nghệ thông tin và
cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của một số NNT còn thấp nên khó khăn trong khi thực hiện kê khai
(iv) Đặc biệt là NNT lo ngại thông tin gửi qua mạng dễ bị mất mát, ảnh hưởng tới
an toàn thông tin của NNT, mặc dù thực tế cơ quan thuế đảm bảo về tính bảo mật của hệ thống này
(v) Chi phí mua chứng thư số còn cao so với các DN nhỏ, siêu nhỏ và cá nhân Mặc
dù, một chứng thư số có thể dùng để thực hiện rất nhiều giao dịch trong giao dịch kinh doanh chứ không chỉ trong lĩnh vực thuế nhưng với những đối tượng này, họ không phát sinh nhiều hoạt động kinh doanh Do vậy, mỗi năm DN phải chi mua chứng thư số khoảng 1.000.000 VNĐ là một khoản chi phí đáng kể
Kết luận chương 3
Kết thúc chương 3 tác giả đã trình bày những nội dung chính về vị trí của VN về ứng dụng công nghệ: VN có vị trí tương đối cao trong khu vực về ứng dụng cộng nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và đang ngày một cải thiện vị trí của mình trên bảng xếp hạng Sơ lược cải cách của ngành thuế tình hình triển khai kê khai thuế qua mạng: Trình bày những kết quả đạt được và phân tích ở các khía cạnh khác nhau Cuối cùng là những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện Trong Chương 4 tôi sẽ thực hiện các bước phân tích cần thiết nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới việc Kê Khai Thuế Qua Mạng