1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã trung thành, huyện đà bắc, tỉnh hòa bình

80 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công cuộc xây dựng Nông thôn mới từ năm 2011 Xã Trung Thành đã đạt được một số thành tựu nhất định trong phát triển nông thôn cũng như cải thiện đời sống của nhân dân.. 1.3.2 Ý nghĩa thự

Trang 1

HÀ THỊ HOA

Tên đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRUNG THÀNH, HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Khoa: Kinh tế và PTNT Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

HÀ THỊ HOA

Tên đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRUNG THÀNH, HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Lớp: K47 - PTNT - NO1 Khoa: Kinh tế và PTNT Khóa học: 2015 - 2019

Giảng viên HD: TS.Hà Quang Trung Cán bộ hướng dẫn: Hà Văn Thủy

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

Em cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các cán bộ tại Ủy ban nhân dân xã Trung Thành và toàn bộ người dân trong xã đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập, điều tra và nghiên cứu tại cơ sở

Trong quá trình nghiên cứu do có những lý do chủ quan và khách quan nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để giúp em hoàn thành khoá luận được tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Hà Thị Hoa

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa học tập 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở lý luận về đề tài 4

2.1.1 Các khái niệm cơ bản về nông thôn và phát triển nông thôn 4

2.1.1.1 Khái niệm về nông thôn 4

2.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới 8

2.1.3 Các bước xây dựng nông thôn mới 9

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 10

2.2.1 Xây dựng nông thôn mới tại Hòa Bình 10

2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại một số tỉnh 10

2.2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Điện Biên 11

2.2.3 Bài học kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới tại một số xã 12

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

Trang 5

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 16

3.2 Nội dung nghiên cứu 16

3.3 Phương pháp nghiên cứu 16

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 16

3.3.1.1 Phương pháp thu tập số liệu thứ cấp 16

3.3.2 Phương pháp phân tích thông tin số liệu 17

3.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 18

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19

4.1 Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu và thủy văn 19

4.1.1 Vị trí địa lý 19

4.1 2 Điều kiện khí hậu và thủy văn 19

4.2 Điều kiện kinh tế-xã hội của xã Trung Thành 20

4.2.1.Điều kiện kinh tế-xã hội 20

4.2.2.Nguồn tài nguyên 23

4.3 Thuận lợi và khó khăn về điều kiện KT - XH trong tiến trình xây dựng NTM 27

4.4 Thực trạng xây dựng Nông thôn mới tại xã Trung Thành 28

4.4.1.Thành lập bộ máy chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã 28

4.4.2 Kết quả tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới [Phụ lục 1] 29

4.4 Đánh giá của người dân về xây dựng nông thôn mới 35

4.5 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã Trung Thành 41

4.5.1 Điểm mạnh 41

4.5.2 Điểm yếu 41

4.5.3 Cơ hội 41

Trang 6

4.5.4 Thách thức 41

4.6 Giải pháp phát triển xây dựng NTM tại xã Trung Thành trong giai đoạn tới 42

4.6.1 Giải pháp chung 42

4.6.2 Giải pháp cụ thể 46

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

VH – TT - DL : Văn hóa – Thể thao – Du lịch

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Dân số, lao động, hộ nghèo xã Trung Thành năm 2017 21

Bảng 4.2 Tình hình sản xuất 1 số cây trồng chính của xã Trung Thành qua 3 năm 22

Bảng 4.3 Kết quả chăn nuôi của xã Trung Thành 3 năm qua 23

Bảng 4.5 Số hộ dân được tiếp cận thông tin về chương trình NTM 36

Bảng 4.6 Ý kiến của người nông dân về chương trình xây dựng NTM 36

Bảng 4.7 Những công việc người dân tham gia vào xây dựng NTM 37

Bảng 4.8 Ý kiến của người dân về chất lượng điều kiện cơ sở hạ tầng tại địa phương 38

Bảng 4.9 Ý kiến của cán bộ UBND xã Trung Thành về xây dựng nông thôn mới (N=22) 38

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với quá trình Công nghiệp hóa Hiện đại hóa đất nước bộ mặt của đất nước có nhiều thay đổi Đất nước phát triển hơn, đời sống nhân dân ấm no hạnh phúc hơn Tuy nhiên, bên cạnh đó kéo theo sự chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực, nhất là khu vực thành thị và khu vực nông thôn Phần lớn hoạt động sản xuất ở khu vực nông thôn là sản xuất manh mún, nhỏ

lẻ, sử dụng công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu Dẫn đến việc đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Nhiều nhu cầu phát sinh ở khu vực nông thôn cần giải quyết như thiếu việc làm, y tế, giáo dục…Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986), chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn của Nhà nước đã có những thay đổi căn bản, song nhìn chung các chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chưa thật sự hiệu quả, và còn thiếu tính bền vững Từ năm 2001 đến năm 2006 cả nước đã triển khai Đề án thí

điểm “Xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã theo hướng CNH, HĐH, hợp tác

hóa, dân chủ hóa” do Ban kinh tế Trung Ương và Bộ Nông nghiệp và phát triển

nông thôn chỉ đạo trên 200 làng điểm ở các địa phương Những thử nghiệm này tuy rất quan trọng và có ý nghĩa nhưng vẫn chưa xác định được đầy đủ những tiêu chí, cấu trúc, khả năng áp dụng của mô hình nông thôn mới

Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa X đã ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nghị Quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020[1]

Để thực hiện nhiệm vụ mà Nghị Quyết 26-NQ/TW đề ra, Chính phủ đã

có quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 Ban hành bộ tiêu chí quốc gia

Trang 10

về nông thôn mới[2] và Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt trương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 2010 – 2020[3]

Nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng Nông thôn mới trên cả nước Cùng với quá trình thực hiện đầy đủ chủ trương của Đảng về Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình đã tiến hành xây dựng mô hình Nông thôn mới xây dựng làng xã có cuộc sống mới ấm no ổn định Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

đã có 50 xã đạt 19/19 tiêu chí Nông thôn mới chiếm 26,2% có 14 xã đạt 15-18 tiêu chí (chiếm 7,3%) trung bình đạt 12 tiêu chí[9]

Công cuộc xây dựng Nông thôn mới từ năm 2011 Xã Trung Thành đã đạt được một số thành tựu nhất định trong phát triển nông thôn cũng như cải thiện đời sống của nhân dân Tuy nhiên do đặc thù là vùng miền núi khó khăn,trình độ dân chí chưa cao và một số khó khăn khác nên xã Trung Thành vừa đạt 9/19 tiêu chí về Nông thôn mới Để tháo gỡ những khó khăn, bất cập

trong quá trình xây dựng nông thôn mới em đã chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Phân tích những nguyên nhân các tồn tại trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã

Trang 11

- Đề xuất giải pháp nhằm xây dựng Nông thôn mới tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa học tập

- Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên tổng hợp và củng cố những kiến thức đã được học

- Có được tư duy một cách lôgic và biết cách vận dụng những kiến thức

đã học vào thực tiễn, đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong thực tế

và cũng là cơ hội gặp gỡ, học tập trao đổi kiến thức với những người có kinh nghiệm và người dân địa phương

- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên

- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các

cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo địa phương đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm xây dựng Nông thôn mới hợp

lý, hiệu quả để nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân tại

xã Trung Thành nói riêng và người dân nông thôn nói chung

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về đề tài

2.1.1 Các khái niệm cơ bản về nông thôn và phát triển nông thôn

2.1.1.1 Khái niệm về nông thôn

Cho đến nay, vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về nông thôn,

và khi nói về nông thôn người ta thường đặt nó trong mối tương quan với đô thị

Trong từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học, nông thôn được định nghĩa “là khu vực tập trung chủ yếu dân cư làm nghề nông” Thành thị được định nghĩa “là khu vực dân cư làm các ngành nghề ngoài nông nghiệp” Hai định nghĩa nêu trên mới chỉ nói lên một đặc điểm cơ bản khác nhau giữa nông thôn và thành thị[4]

Thực tế sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị không phải chỉ ở đặc điểm nghề nghiệp của dân cư, mà còn khác nhau về mặt tự nhiên, kinh

tế và xã hội

Về tự nhiên, nông thôn là vùng đất đai rộng lớn, thường bao quanh các đô thị Những vùng đất đai này khác nhau về địa hình, khí hậu, thủy văn Về kinh tế, nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp Cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn lạc hậu, thấp kém hơn đô thị Trình độ phát triển cơ sở vật chất và kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa cũng kém hơn đô thị

Về xã hội, trình độ học vấn, điều kiện cho giáo dục, y tế, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn thấp hơn dân cư thành thị Tuy nhiên những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn lại thường phong phú hơn thành thị

Quan điểm khác lại nêu ra chỉ cần dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường Nhưng có ý kiến khác

Trang 13

lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp chủ yếu, tức nguồn sinh kế chính của dân cư trong vùng đều từ sản xuất nông nghiệp Những quan điểm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối theo thời gian, theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội

Khái niệm về nông thôn chỉ có tích chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì: “Nông thôn là vùng sinh

sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [4]

Như vậy khi nói về nông thôn người ta nghĩ ngay đến các hoạt động nông nghiệp và những hoạt động, tổ chức liên quan đến nông nghiệp

* Khái niệm về phát triển nông thôn:

Phát triển vùng nông thôn phải đảm bảo sự bền vững về môi trường, ngày nay vấn đề phát triển nông thôn bền vững được đặt ra nhằm tạo ra sự phát triển lâu dài, ổn định không những cho các vùng nông thôn mà còn đối với cả quốc gia Có thể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn gọn là sự phát triển tập trung vào người dân (tiếp cận từ dưới lên), đồng thời phải phát triển đa ngành và giải quyết thích đáng mối liên hệ đa ngành (tiếp cận tổng hợp) và phát triển đảm bảo sự cân xứng với việc quản lý môi trường (tiếp cận quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên)

Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động

có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hoá, xã hội, thể chất và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của các vùng nông thôn sự đóng góp

Trang 14

tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của

cả đất nước

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì: Phát triển nông

thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự

hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác[4]

2.1.1.2 Khái niệm về nông thôn mới

Phát triển vùng nông thôn phải đảm bảo sự bền vững về môi trường, ngày nay vấn đề phát triển nông thôn bền vững được đặt ra nhằm tạo ra sự phát triển lâu dài, ổn định không những cho các vùng nông thôn mà còn đối với cả quốc gia Có thể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn gọn là sự phát triển tập trung vào người dân (tiếp cận từ dưới lên), đồng thời phải phát triển đa ngành và giải quyết thích đáng mối liên hệ đa ngành (tiếp cận tổng hợp) và phát triển đảm bảo sự cân xứng với việc quản lý môi trường (tiếp cận quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên)

Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động

có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hoá, xã hội, thể chất và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của các vùng nông thôn sự đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của

cả đất nước

Khái niện về phát triển nông thôn có thể được hiểu như sau: Phát triển

nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và

Trang 15

có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác [4]

* Khái niệm Nông thôn mới:

Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự

xã hội

* Khái niệm xây dựng nông thôn mới:

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh [4]

* Đặc trưng của nông thôn mới:

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản

Lao động 2010)[5], đặc trưng của nông thôn mới thời kỳ CNH - HĐH, giai

Trang 16

đoạn 2010 – 2020, bao gồm:

Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn

được nâng cao

Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ

Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

An ninh tốt, quản lý dân chủ

Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao…

2.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới

Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất

về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ

sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển

Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ

Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao,

Trang 17

cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao

Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục…); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế – xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch

Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cần

3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa

Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó

2.1.3 Các bước xây dựng nông thôn mới

Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư,

Bộ Tài chính[6] quy định các bước xây dựng nông thôn mới như sau:

Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện

Bước 2: Tổ chức thông tin tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã

Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã

Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án

Bước 7: Giám sát đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện

Chương trình

Trang 18

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Xây dựng nông thôn mới tại Hòa Bình

Giai đoạn 2016 - 2018 tổng nguồn vốn huy động để thực hiện chương trình MTQG về xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh khoảng 6.600 tỷ đồng trong

đó vốn ngân sách nhà nước là hơn 2.000 tỷ đồng; vốn lồng ghép từ các chương trình dự án 1.287,3 tỷ đồng; vốn tín dụng 2.847,2 tỷ đồng; vốn huy động từ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế 143,1 tỷ đồng; vốn huy động đóng góp của cộng đồng dân cư 343,3 tỷ đồng Đến nay, toàn tỉnh có 51 xã đạt chuẩn NTM, bình quân số tiêu chí các xã đạt được là 12,62 tiêu chí Không còn xã đạt dưới 10 tiêu chí Bộ mặt nông thôn thay đổi toàn diện, từng bước phát triển theo quy hoạch với 100% số xã hoàn thành quy hoạch chung, quy hoạch phát triển sản xuất Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện nâng cao Đời sống vật chất và tinh thần nông dân nông thôn nhìn chung được cải thiện rõ rệt Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2018 ước đạt 24,8 triệu đồng/người Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn trên 21% Công tác y

tế chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao 100% trạm y tế xã đã có bác sỹ, các thiết chế văn hóa cơ sở giáo dục, hệ thống cơ sở hạ tầng văn hóa xã hội được quan tâm đầu tư, chất lượng và hoạt động hiệu quả được nâng cao[7]

2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại một số tỉnh

2.2.2.1 Kinh nghiệp xây dựng nông thôn mới tại Cao Bằng

Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành và sự đồng thuận của

người dân các địa phương trong tỉnh, năm 2017 toàn tỉnh có thêm 5 xã về đích xây dựng nông thôn mới, nâng số xã đạt chuẩn lên 10 xã

Đó là các xã: Nam Tuấn, Hồng Việt (huyện Hòa An), Cao Chương (Trà Lĩnh), Đào Ngạn (Hà Quảng) và Đức Long (Thạch An) Riêng xã Đức Long đạt chuẩn NTM trước thời hạn 1 năm, đó là nhờ sự nỗ lực và quyết tâm của

Trang 19

địa phương trong việc thu hút kêu gọi nguồn lực chung sức xây dựng nông thôn mới Đồng thời, các địa phương trong tỉnh tiếp tục phấn đấu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM Trong đó đặc biệt quan tâm đến tiêu chí thu nhập, phát triển sản xuất, cải thiện môi trường nông thôn

và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân Đến nay, toàn tỉnh có

25 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí, 129 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí và 13 xã đạt dưới 5 tiêu chí

Ngoài việc phấn đấu đưa các xã về đích xây dựng nông thôn mới và tăng dần các tiêu chí đối với các xã chưa đạt Năm 2017, các huyện, thành phố tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đối với các xã đạt chuẩn năm

2016 Hoàn thành phê duyệt Đồ án quy hoạch và Đề án nông thôn mới xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh Bên cạnh đó tăng cường tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ phụ trách chương trình xây dựng nông thôn mới; triển khai và thực hiện Chương trình quốc gia “Mỗi xã một sản phẩm nông sản” để đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường tiêu thụ; liên kết chuỗi giá trị và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hiệu quả và bền vững Phấn đấu đưa thêm 5

xã về đích nông thôn mới trong năm 2018[8]

2.2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Điện Biên

Điện Biên là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo thuộc nhóm cao nhất toàn quốc, trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Điện Biên đã từng bước khắc phục khó khăn và đạt được một số kết quả cụ thể trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới

Đến năm 2017, toàn tỉnh Điện Biên có 8/116 xã đã nhận Quyết định công nhận xã đạt chuẩn NTM và xã cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 6,88% Trong đó, 04/116 xã đạt chuẩn NTM 19/19 tiêu chí, 04/116 xã cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới đạt từ 15 - 18 tiêu chí Có 13 xã đạt từ 10 - 14 tiêu

Trang 20

chí, chiếm 11,20%; 54 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí, chiếm 46,55%; 41 xã đạt dưới 5 tiêu chí, chiếm 35,34%; số tiêu chí đạt bình quân/xã là 6,29 tiêu chí/xã, tăng 0,14 tiêu chí/xã so với năm 2016

Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh Điện Biên có 2 huyện dẫn đầu trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên

Đối với thành phố Điện Biên Phủ, có 2 xã Thanh Minh, Tả Lèng đã thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, đến tháng 9/2017 kết quả thực hiện bộ tiêu chí của thành phố đạt 30 tiêu chí, bình quân đạt 15 tiêu chí/xã

Đối với huyện Điện Biên, có 25 xã trong đó có 02 xã là Thanh Chăn và Noong Hẹt đã có Quyết định công nhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 19/19 tiêu chí; 03 xã cơ bản đạt chuẩn từ 15 - 18 tiêu chí

Tuy nhiên, là một tỉnh nghèo, địa bàn rộng, đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhu cầu vốn cho xây dựng nông thôn mới tại Điện Biên là rất lớn, nhất

là cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất Trong khi đó, nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng được nhu cầu, năng lực của một số cán bộ còn hạn chế, nhất là cấp cơ sở… Đây cũng là những khó khăn, thách thức lớn đối với Điện Biên trong quá trình xây dựng nông thôn mới[9]

2.2.3 Bài học kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới tại một số xã

2.2.3.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại xã Yên Mông, Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

Xã Yên Mông – thành phố Hòa Bình là 1 trong 11 xã được lựa chọn làm điểm của tỉnh trong Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Xác định được vai trò, tầm quan trọng trong việc xây dựng kinh nghiệm, bài học trong xây dựng nông thôn mới, ngay trong những ngày đầu khởi động chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Hòa Bình đã

Trang 21

xây dựng kế hoạch, tập trung nguồn lực đầu tư cho xã làm điểm của tỉnh là Yên Mông và xã Dân Chủ là xã làm điểm cho thành phố Dưới sự hỗ trợ đầu

tư và sự chỉ đạo của tỉnh và thành phố, sau 5 năm xây dựng nông thôn mới Ngày 30/06/2015, xã Yên Mông, thành phố Hòa Bình đã được UBND tỉnh ra Quyết định công nhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới Bộ mặt nông thôn mới tại xã Yên Mông không có sự nặng nề của những khối bê tông, đường làng, ngõ xóm, những ngôi nhà xây mái ngói, vườn cây… tất cả đều được quy hoạch ngăn nắp, đồng bộ và tính đến yếu tố môi trường Với tổng mức đầu tư trong 5 năm xây dựng nông thôn mới là trên 95 tỷ đồng Xã Yên Mông đã bê tông hóa, cứng hóa được trên 95% tổng diện tích đường giao thông trên địa bàn; trên 3 tỷ đồng được đầu tư xây mới Trạm y tế; 2/3 trường học trên địa bàn xã đã đạt chuẩn Quốc gia; 9/9 xóm đã xây dựng được cổng làng và có nhà văn hóa cộng đồng Với phương trâm “xây dựng nông thôn mới không chỉ xây dựng những cây cầu mới, những con đường mới mà xây dựng nông thôn mới phải tạo được nguồn thu nhập mới cho nhân dân” Do đó tiêu trí tổ chức sản xuất đã và đang được thành phố Hòa Bình nói chung và xã Yên Mông nói riêng tập trung thực hiện, bằng việc xây dựng thí điểm các mô hình kinh tế và nhân ra diện rộng với những mô hình sản xuất hiệu quả Xã Yên Mông đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, đưa những cây trồng mới có năng xuất cao vào sản xuất như các giống lúa lai, phát triển rau tập trung, cải tạo vườn tạp, mở rộng chăn nuôi… Từng bước mở rộng diện tích cây có múi trên địa bàn xã, hiện nay toàn xã có gần 60ha bưởi của trên 50 hộ gia đình, nhờ đa đạng hóa các hình thức phát triển kinh tế trong nhân dân nên thu nhập bình quân đầu người tại xã ngày một tăng Năm 2010 thu nhập bình quân đầu người tại xã Yên Mông là 11 triệu đồng/người/năm, đến năm 2015 đã tăng lên 28,6 triệu đồng/người/năm; Tỷ lệ

hộ nghèo giảm xuống còn 1,3%; Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt 81%, an ninh

Trang 22

chính chị trật tự an toàn xã hội được đảm bảo nhân dân yên tâm lao động sản xuất Trong 5 năm xây dựng nông thôn mới nhân dân xã Yên Mông đã hiến trên 45.000 m2 đất các loại để xây dựng các công trình phúc lợi, trong đó có 17.000m2 đất để làm được giao thông nông thôn, nhân dân đóng góp bằng ngày công lao động với tổng trị giá trên 3 tỷ đồng để xây dựng các công trình giao thông nông thôn, tạo bước đột phá và tô đẹp thêm những đổi thay ngay chính quê hương mình.[10].

Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Thực hiện phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2010 – 2015 trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu trong việc đổi mới phong trào thi đua và đã đạt được nhiều thành tích góp phần đưa phong trào thi đua yếu nước của tỉnh sâu rộng thiết thực thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh Trong phong trào thi đua thực hiện chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới đã có nhiều địa phương có những cách làm hay, sáng tạo đạt hiệu quả trong công tác lãnh đạo nhân dân tích cực hưởng ứng Chương trình, xã Thanh Xương, huyện Điện Biên là một điển hình Thực hiện Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ xã Thanh Xương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, Ban chỉ đạo, Ban quản lý xây dựng nông thôn mới của xã, các Ban phát triển thôn, bản tích cực tuyên truyền phổ biến chủ trương của Đảng, các văn bản của nhà nước tới cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân; xây dựng quy hoạch tổng thể, hạ tầng kinh tế xã hội từng bước được đầu tư xây dựng, hệ thống chính trị vững mạnh, năng lực cán bộ được nâng lên, an ninh trật tự được giữ vững, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể, môi trường sinh thái được bảo vệ Đến thời điểm này, xã đã hoàn thành 13/19 tiêu chí theo Bộ tiêu chí quốc gia quy định Là một trong những địa phương điển hình

Trang 23

của huyện và tỉnh có kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới.Nhờ có chủ trương, định hướng, chính sách đúng đắn của Nhà nước, nhất là chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới, cơ cấu kinh tế của Thanh Xương chuyển biến nhanh Cơ cấu ngành nông nghiệp

có xu hướng dịch chuyển giảm, cơ cấu ngành tiểu thủ công nghiệp – xây dựng, ngành nghề nông thôn có chiều hướng tăng, cơ cấu thương mại dịch vụ

có bước tiến mạnh Bình quân lương thực đầu người 760 kg/ người/năm Hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Xã xác định mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm tiếp theo tập trung vào các tiêu trí: Xây dựng nhà ở dân cư; giao thông; thủy lợi

và hệ thống chính trị Đảng bộ xã xây dựng các giải pháp trọng tâm tập trung lãnh đạo nhân dân chung sức đồng lòng sớm về đích chương trình xây dựng nông thôn mới[11]

Trang 24

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các nội dung liên quan đến xây dựng nông thôn mới tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, Tỉnh Hòa Bình

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm: Xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, Tỉnh Hòa Bình

- Thời gian lấy số liệu sơ cấp: Từ năm 2015 - 2017

- Thời gian lấy số liệu thứ cấp: Từ 13/8 đến 23/12/2018

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Thực trạng xây dưng nông thôn mới tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

- Những thuận lợi và khó khăn trong viêc xây dựng nông thôn mới tại

xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

- Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

3.3.1.1 Phương pháp thu tập số liệu thứ cấp

- Thu thập thông tin từ các báo cáo tổng kết, các bài viết liên quan đến nông thôn mới

- Là những thông tin được thu thập thông qua các tài liệu có sẵn như: Các báo cáo thông kê, các thông tin trên internet, các thông tin trên sách, báo,

- Đối với các thông tin liên quan với địa bàn nghiên cứu: Lấy thông tin tại UBND xã Trung Thành

Trang 25

- Đối với các thông tin về cơ sở lý luận, thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam được thu thập chủ yếu qua ấn phẩm và sách báo, trên internet… sau đó tiến hành tổng hợp, chọn lọc các vấn đề liên quan đến đề tài

3.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Điều tra phỏng vấn thu thập tại xã Trung Thành huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình bằng các phương pháp phỏng vấn nhanh người dân về quá trình xây dưng nông thôn mới tại địa bàn Gặp gỡ cán bộ địa phương trao đổi về tình hình chung của xã Cùng cán bộ địa phương có chuyên môn,tham khảo ý kiến của một số người dân bản địa có kinh nghiệm trong sản xuất để đánh giá tình hình triển khai chương trình nông thôn mới

- Phương pháp quan sát: Là phương pháp quan sát trực tiếp hay gián tiếp bằng các dụng cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp chọn mẫu Do điều kiện của các xóm nghiên cứu tương đồng với nhau nên lựa chọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Đề tài được thực hiện 3/6 xóm (Thượng, Hạ, Búa) tại xã Trung Thành Huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình Với tổng số hộ là 449 hộ Mỗi xóm chọn điều tra 20 hộ theo danh sách của xóm theo tiêu chí thu nhập của xóm và từ thấp đến cao Và khoảng cách lựa chọn theo danh sách là 5 hộ và lấy hộ thứ 6 cho dến khi đủ 20 hộ trên xóm Và 3 xóm này đại diện về đặc điểm địa hình, điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và thực trạng xây dưng NTM trong cho toàn xã

- Phương pháp chọn mẫu toàn bộ: Chọn điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên, phỏng vấn 16 cán bộ trong UBND xã Trung Thành và 6 trưởng thôn nghiên cứu

3.3.2 Phương pháp phân tích thông tin số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả các chỉ số lớn nhất, nhỏ nhất, tổng số, khối lượng thực hiện được các tiêu chí nông thôn mới của xã

Trang 26

- Phương pháp so sánh: Là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu Thông qua phương pháp này mà ta rút ra được các kết luận về hiệu quả công tác hiệu quả việc xây dựng nông thôn mới

- Phương pháp SWOT: Phân tích các thuận lợi, khó khăn, những cơ hội

và thách thức khi thực hiện xây dựng nông thôn mới từ đó đưa ra những giải pháp phát triển phù hợp với tiềm năng và lợi thế của xã

3.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

- Tỷ lệ km trục xã, liên xã được nhựa hóa hoạc bê tông hóa:

𝑆ố 𝑘𝑚 đườ𝑛𝑔 𝑙𝑖ê𝑛 𝑥ã đượ𝑐 𝑛ℎự𝑎 ℎó𝑎 ℎ𝑜ặ𝑐 𝑏ê 𝐵𝑇 ℎó𝑎

- Tỷ lệ km trục thôn, xóm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa:

𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑘𝑚 đườ𝑛𝑔 𝑡𝑟ụ𝑐 𝑡ℎô𝑛, 𝑥ó𝑚 đượ𝑐 𝑛ℎự𝑎 ℎó𝑎 ℎ𝑜ặ𝑐 𝐵𝑇 ℎó𝑎

-Tỷ lệ kênh mương:

𝐶ℎ𝑖ề𝑢 𝑑à𝑖 𝑘ê𝑛ℎ 𝑚ươ𝑛𝑔 đã 𝑘𝑖ê𝑛 𝑐ố𝑇ổ𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑖ề𝑢 𝑑à𝑖 𝑘ê𝑛ℎ 𝑚ươ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑥ã× 100%

- Tỷ lệ km đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa:

𝑆ố 𝑘𝑚 đườ𝑛𝑔 𝑛𝑔õ 𝑥ó𝑚 𝑠ạ𝑐ℎ 𝑣à 𝑘ℎô𝑛𝑔 𝑙ầ𝑦 𝑣à𝑜 𝑚ù𝑎 𝑚ư𝑎

- Số chỉ tiêu cần đạt được: Xã dự kiến đến năm 2018 sẽ đạt được tiêu chí số 17 môi trường, và đạt được tiêu chí số 15 y tế

Trang 27

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu và thủy văn

4.1.1 Vị trí địa lý

Trung Thành nằm phía tây huyện Đà Bắc, là xã vùng xâu vùng xa của huyện có vị trí như sau:

- Phía Đông giáp xã Tân Minh

- Phía Bắc giáp xã Cao Sơn

- Phía Nam giáp xã Yên Hòa

- Phía Tây giáp Đoàn Kết

4.1 2 Điều kiện khí hậu và thủy văn

 Khí hậu:

Xã Trung Thành nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân thành

2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô:

- Mùa mưa: Được bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9

- Mùa khô: Kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt

độ giảm dần, thường có sương mù và sương muối, nhiệt độ trung bình từ 150C

- 200C

- Nhiệt độ trung bình năm là 180C; Nhiệt độ cao nhất là 380C

- Độ ẩm trung bình là 81%

- Lượng mưa trung bình năm 1.665,5 mm; Lượng mưa lớn nhất 286,3 mm

- Nhìn chung khí hậu và thời tiết của xã tương đối thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi

Trang 28

 Thủy văn:

Về thủy văn ở xóm Thượng, xóm Hạ , xóm Tằm và xóm Sổ có suối chảy qua và một số mạch nước nguồn cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ cho việc tưới tiêu

Tuy nhiên khu vực xóm Bay và xóm Búa là những khu vực thường xuyên thiếu nước sinh hoạt và nước tưới tiêu do hệ thống sông bị thiếu nước vào nhũng mùa trọng điểm như mùa khô Một số diện tích ruộng lúa phải chuyển đổi sang trồng ngô

4.2 Điều kiện kinh tế-xã hội của xã Trung Thành

4.2.1.Điều kiện kinh tế-xã hội

4.2.1.1 Tình hình xã hội

- Dân số: Xã Trung Thành có tổng số dân là 1828 người Chủ yếu là

dân tộc Tày Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình trong những năm qua luôn được thực hiện tốt góp phần ổn định dân số, phát triển kinh tế - xã hội Dân cư nông thôn của xã được hình thành từ lâu đời, sống tập trung thành làng bản

- Lao động, việc làm và thu nhập: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi chiếm

63,24 % tổng dân số Lao động nông nghiệp tại xã Trung Thành vẫn chiếm tỷ

lệ cao Dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là 988 người chiếm 98,7 %

Số hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp là 13 người chiếm 1,3 %

Lao động dồi dào nhưng số lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ

chưa cao sản xuất theo kinh nghiệm là chính

Trang 29

Bảng 4.1 Dân số, lao động, hộ nghèo xã Trung Thành năm 2017

STT Tên xóm Số hộ Số khẩu lao động chính Số Hộ nghèo cận nghèo Hộ

* Về Nông lâm nghiệp

Ngành nông lâm nghiệp có vai trò quan trong trong việc phát triển kinh

tế của địa phương:

 Trồng trọt

Sản lượng cây lương thực có hạt 1.045,36 tấn Cây lúa chiêm xuân là 49,3ha,năng xuất đạt được 62 tạ/ha đạt 305,66 tấn Diện tích cây ngô 105,7 ha, năng xuất đạt được 70 tạ/ha đạt 739,7 tấn Diện tích trồng sắn và cây khác là

120 ha

Trang 30

Bảng 4.2 Tình hình sản xuất 1 số cây trồng chính của xã Trung Thành

qua 3 năm

(Nguồn: UBND xã Trung Thành năm 2018)

Qua bảng trên ta có thể thấy, tình hình sản xuất nông nghiệp của xã tương đối ổn định Có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng cụ thể diện tích lúa năm 2015 là 60 ha nhưng đến năm 2017 là 49,3 ha Có sự chuyển dịch vậy là

do những diện tích không có nước canh tác đã chuyển sang trồng ngô dẫn đến diện tích trồng ngô tăng từ 98 ha lên 105,7 ha.Và kéo theo đó là tăng của sản lượng từ 66,64 tấn năm 2015 lên 73,97 tấn năm 2017 Còn diện tích sắn giảm mạnh do có sự biến động giá cả thị trường nên người dân chuyển đổi sang trồng loại cây khác Ngoài ra ta có thể thấy năng suất tăng do có sự thay đổi

về giống cây trồng và chú trọng chăm bón

 Chăn nuôi

Trong lĩnh vực chăn nuôi được sự quan tâm chỉ đạo, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác chăn nuôi, chăm sóc bảo vệ đàn gia súc, gia cầm Tổng đàn gia súc, gia cầm đã thống kê được của 3 năm như sau :

Trang 31

Bảng 4.3 Kết quả chăn nuôi của xã Trung Thành 3 năm qua

(Nguồn :UBND xã Trung Thành năm 2018)

Qua bảng trên ta có thể thấy tình hình chăn nuôi của xã tăng nhanh về tổng đàn qua các năm cụ thể đàn trâu tăng từ 201 con năm 2015 lên 406 con năm 2107 Đà bò tăng từ 201 con năm 2015 lên 235 con năm 2017 Tổng đàn lơn tăng từ 700 con lên 733 con năm 2017 Tăng nhiều nhất là tổng đà gia cầm từ 16551 con năm 2015 lên 18567 con năm 2017.Có sự tăng trưởng như vậy do bà con đã ý thức hơn về phát triển kinh tế mạnh dạn đầu tư cho đàn gia súc và gia cầm

* Về ngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản

Xã hầu như chưa phát triển về ngành này

Trang 32

Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng đất xã Trung Thành năm 2017

(ha)

Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất của đơn vị hành chính (1+2+3) 3.002,27 100

2.3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng 14 20,06

(Nguồn: UBND xã Trung Thành, năm 2018)

Qua bảng trên ta có thể thấy tổng diện tích đất của xã là là 3.002,27 ha Trong đó có 3 nhóm đất chính là nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng Nhóm đất nông nghiệp có diện tích là 2893,53 ha chiếm 96% tổng diện tích, trong nhóm đất nông nghiệp có những

Trang 33

nhóm đất chính là đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp,đất nuôi trồng thủy sản Nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích 69,78 ha chiếm 2,3% Cuối cùng là nhóm đất chưa sử dụng là 38,75 ha chiếm 1,7% có thể thấy nhóm đất này chiếm tỷ trọng thấp nhất

4.2.2.2 Tài nguyên nước

Do điều kiện địa hình, tài nguyên nước của xã Trung Thành khá nghèo nàn Trên địa bàn chỉ có ít suối nhỏ, tập trung chủ yếu ở phía Bắc của xã Nước dùng cho sinh hoạt và canh tác chủ yếu dựa vào nước mưa, nước mỏ, nước ngầm

- Nước mặt: Chủ yếu là nước mưa, nước mỏ, nước ngầm là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong xã

Lượng mưa: Trung bình khoảng 1.665,5 mm/năm, lượng mưa lớn nhất: 286,3 mm Trong mùa mưa, lưu lượng nước và mực nước ở các con suối, mạch nước ngầm tăng nhanh, ngập úng cục bộ, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Môi trường nước mặt của xã Trung Thành nhìn chung là hợp vệ sinh, ít bị ô nhiễm, chưa có thay đổi gì lớn về môi trường nước

- Nước ngầm: Theo kết quả thăm dò trên địa bàn xã cho thấy nguồn nước ngầm trong, không mùi, chất lượng nước đảm bảo nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, tuy nhiên do địa hình cao nên giữ nước bị hạn chế

4.1.2.3 Tài nguyên rừng

Theo thống kê năm 2015, diện tích đất lâm nghiệp (đất rừng phòng hộ)

là 2566.88 ha chiếm tổng diện tích tự nhiên của xã

Những năm gần đây với chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc phát triển và bảo vệ rừng, xã đã tổ chức triển khai giao khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng tới từng hộ gia đình, từ đó nâng cao ý thức cũng như trách nhiệm của người dân trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng Do đó chất lượng rừng được tăng lên góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ đất chống xói mòn, hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra

Trang 34

Các loại cây lâm nghiệp có giá trị trên địa bàn xã như, xoan, keo, bồ đề Chủ yếu là mọc trên núi đá vôi, đã giao cho hộ gia đình quản lý khoanh nuôi bảo vệ

4.1.2.4 Tài nguyên nhân văn

Trên địa bàn xã có duy nhất một dân tộc Tày sinh sống, nên vẫn giữ được phong tục tập quán riêng, đặc trưng Hàng năm trên địa bàn xã có Lễ hội truyền thống (lồng tồng,mừng lúa mới…), đã tạo ra các hoạt động văn hóa phong phú, đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc Nhân dân có tinh thần đoàn kết, có đức tính cần cù, chăm chỉ, vượt qua mọi khó khăn để sản xuất và phát triển kinh tế và được chủ tịch nước tặng danh hiệu xã anh hùng thời

kỳ trong đổi mới

Ngoài ra trên địa bàn xã có khu di tích Mường Diềm là di tích lịch sử

cấp quốc gia

4.1.2.5.Thực trạng môi trường

Trong những năm gần đây với sự tăng nhanh về các phương tiện giao thông cũng như hình thành nhiều cơ sở sản xuất nhỏ, việc sử dụng ngày càng tăng lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp của nhân dân đã phần nào ảnh hưởng đến môi trường đất, nước ở các mức độ khác nhau như:

- Suy thoái môi trường đất: Môi trường đất đã và đang bị thoái hóa nguyên nhân chủ yếu là do mưa lớn làm ngập úng, đất bị rửa trôi, làm cho thảm thực vật bị phá vỡ, nguồn nước ngầm cạn kiệt, tác động xấu đến sản xuất, môi trường và đời sống của người dân

- Môi trường nước: Gồm nước mặt, nước ngầm, nước mưa được đánh giá chung là đạt về tiêu chuẩn lý, hóa nhưng hạn chế về trữ lượng

Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm như:

- Tập quán chăn nuôi gia súc, gia cầm dưới gầm nhà sàn

Trang 35

Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa lớn, dễ gây ra nhiều dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi ảnh hưởng đến năng suất, cũng như hiệu quả sản xuất

- Có hệ thống đường giao thông thông đến thị trấn và hiện đang được nâng cấp để phục vụ cho việc giao thương hàng hóa Ngoài ra có đường bê tông đến các xóm

- Có đất đai rộng lớn, dân cư thưa thớt thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trang trai, kinh tế tập chung, trồng cây lâm nghiệp cây ngắn ngày để nâng cao thu nhập

- Các công trình như UBND, trạm y tế, trường học…được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân

- Các công tác văn hóa giáo dục, y tế phát triển, và được chú trọng quan tâm Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp qua các cấp cao

Trang 36

- Chăn nuôi chủ yếu là hộ gia đình chưa có sự đầu tư lớn

- Trình độ cán bộ viên chức chưa đồng đều, năng lực quản lý còn hạn chế Để xây dựng nông thôn mới và đạt được các tiêu chí mà Chính phủ đề

ra, xã Trung Thành cần chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất trên cơ sở quy hoạch vùng sản xuất Tìm ra sản phẩn chủ lực của địa phương và tiến hành nhân rộng sản phẩm và quảng báo rộng rãi sản phẩm nhằm tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân

4.4.Thực trạng xây dựng Nông thôn mới tại xã Trung Thành

4.4.1.Thành lập bộ máy chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã

- Bộ máy quản lý, chỉ đạo thực hiện chương trình cấp xã, thôn được thành lập ngay từ khi triển khai chương trình từ năm 2011 và được củng cố kiện toàn qua các năm, đến nay, xã có 01 ban chỉ đạo do đồng chí chủ tịch UBND

xã là trưởng ban; thành viên là lãnh đạo UBND xã và ban ngành của xã; 01 ban quản lý xã do đồng chí phó chủ tịch UBND xã làm trưởng ban và 06 Ban phát triển thôn

- UBND xã đã phân công cán bộ địa chính NN xã kiêm nghiệm công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại

xã Ban quản lý xã hoạt động có hiệu quả góp phần đáng kể cho việc triển khai thực hiện chương trình.

- Thành lập Ban phát triển tại các thôn gồm Bí thư chi bộ, trưởng xóm,

Trang 37

các trưởng đoàn thể xóm, tổ chức tập huấn về các tiêu chí, phân loại và đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội của thôn, hướng dẫn nghiệp vụ , thu thập số liệu

để UBND xã có cơ sở đánh giá việc thực hiện các tiêu chí

- Đến nay 6/6 xóm trên địa bàn xã đã thành lập Ban phát triển thôn để vận động nhân dân thực hiện xây dựng nông thôn mới, đồng thời thực hiện giám sát quá trình xây dựng các nội dung về nông thôn mới ở xóm, bản

4.4.2 Kết quả tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới [Phụ lục 1]

4.4.2.1.Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch

Căn cứ nguồn vốn được phân bổ, UBND xã đã chỉ đạo các thôn hành xây dựng quy hoạch nông thôn mới, tính đến nay xã đã được phê duyệt Đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới, trong đó có quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết Đã tiến hành công bố quy hoạch xây dựng nông thôn mới vào ngày 10 tháng

5 năm 2013

Đề án xây dựng nông thôn mới xã Trung Thành được tiến hành và hoàn thành đúng tiến độ

Đánh giá về tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch: Đã đạt

4.4.2.2.Tiêu chí giao thông

Hiện trạng và thống kê chiều dài các tuyến đường giao thông trên địa bàn xã, cụ thể ;

- Đường xã, liên xã: Tổng số 11 km, trong đó:

+ Số km nhựa hóa hoặc bê tông hoá đạt chuẩn theo quy định của Bộ GTVT 11 km; đạt 100 % so với tổng số;

- Đường thôn, xóm: Tổng số 24 km, trong đó

+ Số km cứng hóa hoặc bê tông hoá đạt chuẩn theo quy định của Bộ GTVT 11 km; đạt 45 % so với tổng số

Trang 38

- Đường ngõ, xóm: Tổng số 10 km, số km sạch không lầy lội vào mùa mưa:4 km, đạt 40 % so với tổng số;

- Đường trục chính nội đồng: Tổng số 5km, số km được cứng hóa, xe

cơ giới đi lại thuận tiện: 0 km so với tổng số

Dự kiến xã sẽ hoàn thành tiêu chí vào năm 2019

Đánh giá tiêu chí về giao thông: Chưa đạt

4.4.2.2.Tiêu chí thủy lợi

- Hệ thống công trình thủy lợi bao gồm: tổng số là: 02 công trình, chiều dài kênh mương 10,35 km đã kiên cố hóa 8 km = 77%

-Trạm bơm

Xã không có trạm bơm nào

Đánh giá tiêu chí về thủy lợi: Đã đạt

4.4.2.4 Tiêu chí điện

Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện, luôn được duy

tu, bảo dưỡng; thay mới những đường dây cũ

Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện thường xuyên, an toàn là: 98% Số trạm biến áp là 6/6 trạm; số km đường dây cao thế, trung thế: 8,3 km Đường dây

hạ thế 12,45 km, đạt chuẩn

Đánh giá về tiêu chí điện: Đã đạt

4.4.2.5.Tiêu chí trường học

Tổng số trường học có 02 trường : Trường THCS,TH Trung Thành và

Trường mầm non Trung Thành

-Trường mần non

Gồm có 01 trường chi chính, và có 06 chỉ lẻ

Tuy nhiên còn thiếu nhà hiệu bộ của chi chính

Diện tích sân chơi, bãi tập đã có nhưng chưa đủ đáp ứng nhu cầu vui chơi của học sinh

Trang 39

Đánh giá về tiêu chí trường học: Chưa đạt

4.4.2.6 Tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa

Hiện nay, sở vật chất của xã còn thiếu Xã chưa có nhà văn hoá và khu thể thao, thiếu hội trường nhà đa năng, sân thể thao phục vụ văn hóa Xã chưa

có điểm vui chơi, giá trí và thể thao cho trẻ em người cao tuổi

Trong tổng số 6 xóm số xóm có nhà văn hóa đạt 5/6 xóm Nhà văn hóa và hội trường 1 số thôn không đảm bảo yêu cầu, cần tu sửa bổ sung nội thất bên trong để đảm bảo cho việc sinh hoạt, hoạt động Tỷ lệ xóm có nhà văn hoá đạt quy định của Bộ VH-TT-DL là 0%

Đánh giá về tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa: Chưa đạt

4.4.2.7.Tiêu chí chợ nông thôn

Xã Trung Thành có quy hoạch chợ nhưng chưa thực hiện được do chưa

có mặt bằng

Đánh giá về tiêu chí chợ nông thôn: Chưa đạt

4.4.2.8.Tiêu chí thông tin và truyền thông

Xã có 01 điểm phục vụ bưu chính viễn thông đáp ứng nhu cầu sử dụng của các tổ chức, cá nhân tại địa phương 100% số hộ gia đình trong xã có sử dụng dịch vụ viễn thông riêng 6/6 và có tủ sách pháp luật phục vụ tìm hiểu pháp luật của nhân dân

Trang 40

Xã có hệ thông loa, đài truyền thanh dẫn đến các xóm tuy nhiên đã xuống cấp

Tuy nhiên bưu điện xây dựng đã lâu cần xây mới

Đánh giá về tiêu chí bưu điện: Đã đạt

4.4.2.9.Tiêu chí nhà ở dân cư

Tính đến năm 2017: Trên đại bàn xã không có nhà tạm, nhà dột nát

Toàn xã có 449 hộ nhà ở, số nhà ở đạt tiêu chuẩn của bộ xây dựng là 75 nhà chiếm 15.5%

Đánh giá về tiêu chí nhà ở: Chưa đạt

4.4.2.10.Tiêu chí thu nhập

- Cơ cấu kinh tế

+ Nông, lâm, ngư nghiệp: 87% đạt 100% KH

+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: 3% đạt 100% KH

+ Dịch vụ, thương mại, du lịch: 10% đạt 100% KH

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 14% đạt 100% KH

- Thu nhập bình quân đầu người/năm: 12tr.đ/người/năm = 85% KH

Đánh giá về tiêu chí thu nhập: Chưa đạt

4.4.2.11.Tiêu chí hộ nghèo

- Tổng số hộ nghèo xã năm 2017 là 229 / 449 hộ

- Tỷ lệ hộ nghèo của xã là: = 51,00 %

Đánh giá tiêu chí hộ nghèo : Chưa đạt

4.4.2.12.Tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm

Số lao động trong độ tuổi lao động: 1.159 người

Số lao động có việc làm: 1.088 người

Tỷ lệ lao động có việc làm: của xã chiếm 98,8% dân số trong độ tuổi lao động

Đánh giá về tiêu chí tỷ lệ lao đông có việc làm: Đã đạt

Ngày đăng: 14/07/2021, 14:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm