TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Bùi Thị Thu Thủy Tên Luận văn: Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh N
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI THỊ THU THỦY
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI KHU CÔNG NGHIỆP TRẢNG BÀNG – HUYỆN TRẢNG BÀNG –
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Khoa Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học cao học trong suốt 2 năm qua
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Phan Trung Quý đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Tây Ninh, Công
ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Tây Ninh và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Trảng Bàng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin, tài liệu cần thiết cho đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày …tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Giả thuyết khoa học 2
1.3 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở lý thuyết về chất thải nguy hại 3
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại 5
2.1.3 Phân loại chất thải nguy hại 8
2.1.4 Các dấu hiệu cảnh bảo chất thải nguy hại 11
2.1.5 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với con người và môi trường sinh thái 13
2.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại 22
2.2.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại trên thế giới 22
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 26
2.2.3 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại tại tỉnh Tây Ninh 36
2.3 Lợi ích trong quản lý chất thải nguy hại 39
2.3.1 Lợi ích trong ngăn ngừa phát sinh và tái chế, tái sử dụng CTNH 39
2.3.2 Lợi ích trong quản lý tổng hợp chất thải nguy hại 40
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
3.1 Địa điểm nghiên cứu 41
Trang 53.2 Thời gian nghiên cứu 41
3.3 Đối tượng nghiên cứu 41
3.4 Nội dung nghiên cứu 41
3.5 Phương pháp nghiên cứu 41
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 41
3.5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế 42
3.5.3 Phương pháp phỏng vấn 42
3.5.4 Phương pháp lấy mẫu 43
3.5.5 Phương pháp chuyên gia 46
3.5.6 Phương pháp xử lý số liệu 46
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Khái quát về KCN Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh 47
4.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên KCN Trảng Bàng 47
4.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội 51
4.1.3 Cơ sở hạ tầng 51
4.1.4 Đặc điểm KCN Trảng Bàng 52
4.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại tại KCN Trảng Bàng 53
4.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải nguy hại tại KCN Trảng Bàng 53
4.2.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại tại KCN Trảng Bàng 58
4.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải nguy hại tại KCN Trảng Bàng 76
4.3.1 Tăng cường tái sử dụng, giảm thiểu chất thải nguy hại tại nguồn 76
4.3.2 Công tác phân loại, thu gom chất thải nguy hại 76
4.3.3 Lưu giữ chất thải nguy hại 77
4.3.4 Công tác xử lý chất thải nguy hại 78
4.3.5 Cán bộ phụ trách môi trường 80
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
5.1 Kết luận 81
5.2 Kiến nghị 82
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục 86
Trang 6DANH MỤC CHỮ VİẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
QCKTMT Quy chuẩn kỹ thuật môi trường
QLCTNH Quản lý chất thải nguy hại
SMEWW Standard Methods for the Examination of
Water and Waste water
TC VSLĐ Tiêu chuẩn vệ sinh lao động
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số loại chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công nghiệp 7 Bảng 2.2 Phân loại chất thải nguy hại theo đặc tính nguy hại 8 Bảng 2.3 Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa đối với CTNH 12 Bảng 2.4 Các mối nguy hại theo các đặc tính của CTNH đối với môi trường
và con người 14 Bảng 2.5 Chất thải công nghiệp phát sinh tại một số tỉnh, thành phố năm 2010 28 Bảng 2.6 Khối lượng CTR công nghiệp nguy hại từ một số ngành công nghiệp
điển hình tại các KCN thuộc vùng KTTĐ phía nam 29 Bảng 2.7 Một số CTNH chính phát sinh tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại
tỉnh Tây Ninh 37 Bảng 3.1 Phương pháp xác định giá trị các thông số ô nhiễm trong nước thải
công nghiệp 44 Bảng 3.2 Phương pháp xác định giá trị các thông số ô nhiễm trong không khí
khu vực xử lý 45 Bảng 3.3 Phương pháp xác định giá trị các thông số ô nhiễm trong khí thải lò
đốt chất thải công nghiệp 45 Bảng 4.1 Các ngành nghề hoạt động trong KCN 52 Bảng 4.2 Lượng CTNH phát sinh của các doanh nghiệp may mặc, dệt nhuộm
năm 2015 54 Bảng 4.3 Lượng CTNH phát sinh của các doanh nghiệp sản xuất từ nhựa
Plastic năm 2015 54 Bảng 4.4 Lượng CTNH phát sinh của các doanh nghiệp ngành cơ khí năm
2015 55 Bảng 4.5 Lượng CTNH phát sinh của doanh nghiệp chế biến gỗ và sản phẩm
từ gỗ năm 2015 55 Bảng 4.6 Lượng CTNH phát sinh của công ty CP Môi trường Xanh Việt Nam
năm 2015 56 Bảng 4.7 Thống kê khối lượng CTNH phát sinh trung bình 1 tháng tại Công ty
CP Môi Trường Xanh Việt Nam 58 Bảng 4.8 Tổng hợp công tác quản lý CTNH của 19 doanh nghiệp sản xuất
theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT 60
Trang 8Bảng 4.9 Tình hình đăng ký chủ nguồn thải CTNH 66
Bảng 4.10 Kết quả phân tích chất lượng không khí 71
Bảng 4.11 Kết quả phân tích chất lượng khí thải ống khói lò đốt rác 72
Bảng 4.12 Chất lượng xỉ thải sau hệ thống lò đốt CTNH 73
Bảng 4.13 Kết quả phân tích chất lượng nước thải của các dây chuyền xử lý CTNH 74
Bảng 4.14 Những hạn chế tồn tại trong công tác phân loại, thu gom CTNH và giải pháp khắc phục 77
Bảng 4.15 Những hạn chế tồn tại trong kho lưu giữ CTNH và giải pháp khắc phục 78
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Phân loại chất thải theo danh mục luật định của EPA (Mỹ) 11
Hình 2.2 Sơ đồ các tuyến xâm nhập của CTNH vào cơ thể con người và môi trường sinh thái 18
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí KCN Trảng Bàng 48
Hình 4.2 Mô hình quản lý môi trường trong KCN Trảng Bàng 53
Hình 4.3 Quy trình quản lý CTNH tại các doanh nghiệp 58
Hình 4.4 Sơ đồ thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý CTNH 69
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Bùi Thị Thu Thủy
Tên Luận văn: Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
Ngành: Khoa Học Môi Trường Mã số: 60.44.03.01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp lấy mẫu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả chính và kết luận
Khối lượng CTNH phát sinh khoảng 500 tấn/năm trong đó 200 tấn/năm là của
19 doanh nghiệp sản xuất (tập trung chủ yếu ở các loại hình sản xuất như: may mặc, dệt sợi, cơ khí), 300 tấn/năm là của Công ty CP Môi Trường Xanh Việt Nam
Công tác quản lý CTNH của các doanh nghiệp ngày càng có tiến bộ, hầu hết các doanh nghiệp đã có ý thức, trách nhiệm hơn trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý CTNH Tuy nhiên vẫn còn một số doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác quản lý CTNH như: kho lưu giữ chưa đạt yêu cầu theo quy định Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, công tác phân loại chưa hiệu quả, một số CTNH chưa được thu gom triệt để
Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTNH như: tăng cường tái sử dụng và giảm thiểu tại nguồn, tăng cường công tác đào tạo và nâng cao nhận thức về quản lý CTNH cho đội ngũ cán bộ phụ trách công tác quản lý CTNH và đề xuất các giải pháp cụ thể đối với từng vấn đề tồn tại trong công tác quản lý CTNH
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Bui Thi Thu Thuy
Thesis title: Assessing the status of hazardous waste management in Trang Bang Industrial Zone, Trang Bang District, Tay Ninh Province
Major: Environmental science Code: 60.44.03.01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
- Assessment of the status of hazardous waste management in Trang Bang Industrial Zone
- Propose appropriate management solutions, improve the efficiency of hazardous waste management in the industrial zone in the future
Materials and Methods
- Method of secondary data collection
- Survey method
- Interviewing method
- Sampling method
- Expert method
- Data processing method
Main findings and conclusions
- The volume of hazardous waste generated is around 500 tons/year, of which
200 tons/year is from 19 manufacturing enterprises (mainly garment, textile, Mechanical), 300 tons per year of Green Environment Joint Stock Company Việt Nam
- The management of hazardous waste by enterprises increasingly advanced, most businesses were conscious, more responsible in implementing the provisions of the law on the management of hazardous waste
However there are still some businesses have not done well the management of hazardous waste, such as: The storage area is not up to the requirements of Circular
No 36/2015/TT-BTNMT, the classification is not effective, some hazardous wastes have not been thoroughly collected
On that basis, the subject has proposed measures to improve the effectiveness of hazardous waste management such as: increased reuse and reduction at source, training and awareness raising on hazardous waste management for staff managing the hazardous waste and proposing specific solutions to each of the problems that exist in hazardous waste management
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THİẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 02 khu Kinh tế Cửa khẩu là Mộc Bài và Xa Mát, 09 khu công nghiệp và 08 cụm công nghiệp Các khu kinh tế, khu công nghiệp và cụm công nghiệp đã đóng góp một phần quan trọng vào tỷ trọng phát triển kinh tế công nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động, thực hiện xóa đói, giảm nghèo trên địa địa bàn toàn Tỉnh
Song, việc tập trung các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã tạo ra một lượng lớn chất thải như: chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn sản xuất, nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và đặc biệt là CTNH nếu không được thu gom, xử
lý triệt để sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động và đến người dân xung quanh khu công nghiệp
Khu công nghiệp Trảng Bàng là khu công nghiệp tập trung đầu tiên của tỉnh Tây Ninh được thành lập theo quyết định số 100/QĐ-TTg ngày 09/02/1999 của Thủ tướng Chính phủ, là một khu vực riêng biệt dành riêng cho sản xuất công nghiệp, dịch vụ và có nhiều đóng góp cho nền công nghiệp nước ta, góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa - xã hội cho tỉnh Tây Ninh nói riêng và nước nhà nói chung Bên cạnh sự phát triển đó thì nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tự nhiên Công tác quản lý môi trường tại khu công nghiệp đã và đang được tiến hành, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế và bất cập trong công tác quản lý đặc biệt là trong công tác quản lý CTNH
Hiện tại, công tác quản lý CTNH của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được thực hiện theo Thông tư 36/2015/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số doanh nghiệp chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật như kho lưu trữ chưa đạt yêu cầu theo quy định của Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, kho bị trũng, thấp, không có gờ chống tràn đối với chất thải lỏng, không phân ô Công tác phân loại chưa thực hiện tốt, vẫn còn hiện tượng để lẫn các loại CTNH với nhau, CTNH thu gom chưa triệt để Bên cạnh đó, nguồn nhân lực làm công tác môi trường còn hạn chế, cán bộ môi trường chủ yếu là kiêm nhiệm Ban quản lý khu công nghiệp chưa giám sát chặt chẽ quá trình sản xuất, xử lý CTNH của các doanh nghiệp tại KCN Ngoài ra, cơ quan quản lý chưa giám sát được chính xác số lượng CTNH phát sinh, chủng loại
Trang 13tự báo cáo của doanh nghiệp và đơn vị xử lý
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm đưa ra một số giải pháp hữu hiệu trong công tác quản lý CTNH tại khu công nghiệp Trảng Bàng – huyện Trảng Bàng nói riêng và trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói chung, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp Trảng Bàng – huyện Trảng Bàng – tỉnh Tây Ninh”
1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Công tác quản lý CTNH tại khu công nghiệp chưa đạt hiệu quả cao và có
sự tác động đến sức khỏe con người và môi trường Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý CTNH tại địa bàn nghiên cứu
1.3 MỤC ĐÍCH NGHİÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng tình hình quản lý CTNH tại KCN Trảng Bàng
- Đề xuất giải pháp quản lý phù hợp, nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTNH tại KCN Trảng Bàng trong thời gian tới
Phản ánh được thực trạng phát sinh CTNH tại KCN Trảng Bàng
Chỉ ra được những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý CTNH của cơ quan quản lý và các đơn vị sản xuất
Đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình tại KCN Trảng Bàng và có tính khả thi Đặc biệt, luận văn đã đề xuất các biện pháp xây dựng KCN Trảng Bảng thành KCN thân thiện với môi trường
Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu, báo cáo về công tác quản lý CTNH tại KCN Trảng Bàng nói riêng và về lĩnh vực CTNH tại KCN nói chung
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT THẢİ NGUY HẠİ
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm chất thải
Theo Luật Bảo vệ môi trường (2014): “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.”
- Khái niệm chất thải nguy hại
Khái niệm về thuật ngữ “Chất thải nguy hại” lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỉ trước tại các nước Âu – Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về CTNH trong luật và các văn bản dưới luật về môi trường Chẳng hạn như:
Theo UNEP
Chất thải độc hại là những chất thải (không kể chất thải phóng xạ) có hoạt tính hóa học hoặc có tính độc hại, cháy nổ, ăn mòn gây nguy hiểm hoặc có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe hoặc môi trường khi hình thành hoặc tiếp xúc với các chất thải khác (Võ Đình Long và Nguyễn Văn Sơn, 2008)
Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (US-EPA)
Chất thải được cho là nguy hại theo quy định của pháp luật nếu có một hoặc một số tính chất sau:
- Thể hiện đặc tính dễ bắt lửa, ăn mòn, phản ứng, và/hoặc độc hại
- Là chất thải xuất phát từ nguồn không đặc trưng (chất thải nói chung từ quy trình công nghệ)
- Là chất thải xuất phát từ nguồn đặc trưng (từ các ngành công nghiệp độc)
- Là các hóa chất thương phẩm độc hại hoặc sản phẩm trung gian
- Là hỗn hợp có chứa một chất thải nguy hại đã được liệt kê
- Là một chất được qui định trong RCRA
- Phụ phẩm của quá trình xử lý CTNH cũng được coi là CTNH trừ khi
Trang 15Theo Luật khôi phục và bảo vệ tài nguyên của Mỹ (RCRA)
CTNH là chất rắn hoặc hỗn hợp chất rắn có khối lượng, nồng độ, hoặc các tính chất vật lý, hóa học, lây nhiễm mà khi xử lý, vận chuyển, thải bỏ, hoặc bằng những cách quản lý khác nó có thể: Gây ra nguy hiểm hoặc tiếp tục tăng nguy hiểm hoặc làm tăng đáng kể số tử vong, hoặc làm mất khả năng hồi phục sức khỏe của người bệnh Làm phát sinh hiểm họa lớn cho con người hoặc môi trường ở hiện tại hoặc tương lai (Võ Đình Long và Nguyễn Văn Sơn, 2008)
Theo Luật Bảo vệ môi trường (2014) ở Việt Nam: “Chất thải nguy hại (CTNH) là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”
Tuy có sự khác nhau về từ ngữ nhưng tất cả các định nghĩa đều có nội dung tương tự nhau, đó là nêu lên đặc tính gây huy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại
- Khái niệm quản lý chất thải
Theo Luật Bảo vệ môi trường (2014): “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải”
- Khái niệm quản lý chất thải nguy hại
Theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại số 155/1999/QĐ – TTg: “Quản
lý chất thải nguy hại là các hoạt động kiểm soát CTNH trong suốt quá trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy CTNH”
Quản lý CTNH hiện nay đang là vấn đề then chốt để tiến tới giảm thiểu ô nhiễm môi trường một cách triệt để
Hoạt động quản lý CTNH được đặt ra và tiến hành theo một chu trình chặt chẽ bao gồm phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ,
xử lý CTNH Ngay từ khâu đầu tiên (Phòng ngừa, giảm thiểu) hoạt động quản lý CTNH đã được đặt ra nhằm hạn chế số lượng CTNH phát sinh cho đến khâu kết thúc là khâu xử lý để tiêu hủy triệt để lượng CTNH, nhờ đó mà khối lượng CTNH được thải ra không thể phát huy tính độc, tính gây hại cho môi trường, sức khỏe con người và hệ sinh thái động thực vật
Trang 16Quản lý CTNH là một hoạt động khó, tốn kém, có tính nguy hiểm cao (Do liên quan đến các chất nguy hại) đòi hỏi có sự đầu tư đồng bộ về khoa học kỹ thuật, đào tạo trình độ, nâng cao năng lực…thì hoạt động quản lý mới có thể đạt được hiệu quả cao
Bên cạnh đó, quản lý CTNH cần có sự phối hợp đồng bộ của tất cả các cơ quan nhà nước từ cơ quan Trung ương đến cơ quan địa phương trong việc đưa ra các chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường; trong việc giám sát, kiểm tra, phát hiện, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm pháp luật về quản lý CTNH; trong công tác tuyên truyền giáo dục ý thức của toàn thể nhân dân trong việc bảo vệ môi trường nói chung và quản lý CTNH nói riêng
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại
Do tính đa dạng của các loại hình sản xuất công nghiệp, các hoạt động thương mại dịch vụ, các hoạt động trong cuộc sống hay các hoạt động công nghiệp mà chất thải nguy hại phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau Việc phát thải
có thể do bản chất của công nghệ, hay do trình độ dân trí dẫn đến việc thải chất thải có thể là vô tình hay cố ý Tùy theo cách nhìn nhận mà có thể phân thành các nguồn thải khác nhau, nhìn chung có thể chia các nguồn phát sinh chất thải nguy hại thành các nguồn chính như sau:
- Từ các hoạt động công nghiệp: Đây là nguồn phát sinh CTNH đa dạng, với số lượng lớn chiếm trên 80% khối lượng CTNH trong tổng khối lượng CTNH phát thải
- Từ hoạt động nông nghiệp: Chủ yếu sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, … phục vụ cho hoạt động nông nghiệp
CTNH điển hình phát sinh là các bao bì thải, chai lọ thủy tinh; thùng nhựa; bao nylon ,… còn chứa hoặc nhiễm thuốc bảo vệ thực vật
- Từ Kinh doanh - Thương mại - Dịch vụ: Nhập xuất khẩu các hàng hóa
có tính chất độc hại không đạt yêu cầu hoặc để tồn lưu hàng hóa đến hết hạn sử dụng, biến đổi chất, dẫn đến phát sinh lượng lớn chất thải cần xử lý
- Từ hoạt động liên quan về y tế: Các chất thải nguy hại phát sinh chủ yếu
là chất thải chứa các tác nhân lây nhiễm (Kim tiêm, bình truyền dịch, bệnh phẩm ,…); hóa chất thải chứa thành phần nguy hại; các loại dược phẩm gây độc tế bào
Trang 17- Từ hoạt động giáo dục- nghiên cứu: Do sử dụng hóa chất trong các phòng thí nghiệm để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên môn nên có phát sinh CTNH
- Từ sinh hoạt: Trong sinh hoạt cũng phát sinh chất thải nguy hại, điển hình có thể kể đến các chất thải như : pin, ac quy, bóng đèn huỳnh quang thải, hóa chất khử khuẩn, diệt côn trùng
Trong các nguồn thải trên thì hoạt động công nghiệp là nguồn phát sinh CTNH lớn nhất và thành phần CTNH thì rất đa dạng tùy thuộc vào loại ngành công nghiệp So với các nguồn phát thải khác thì đây là nguồn phát thải mang tính thường xuyên và ổn định nhất Các nguồn phát thải từ thương mại hay sinh hoạt thì khối lượng CTNH không nhiều, tương đối nhỏ, mang tính sự cố hay do trình độ nhận thức của người dân Các nguồn thải từ hoạt động nông nghiệp mang tính phát tán dạng rộng, đây là nguồn rất khó kiểm soát và thu gom, lượng thải này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức cũng như trình độ dân trí của người dân trong khu vực (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)
Ở Việt Nam, một số ngành công nghiệp điển hình phát sinh CTNH như: công nghiệp hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật, công nghiệp chế biến dầu mỏ, công nghiệp luyện kim, ngành xi mạ, ngành sản xuất xây dựng, ngành điện tử và
ắc quy, ngành sản xuất giày dép, ngành dệt nhuộm, ngành thuộc da, ngành sản xuất giấy, ngành sản xuất điện, Sau đây là các dạng chất thải nguy hại đặc trưng từ một số ngành công nghiệp tiêu biểu được thể hiện ở bảng 2.1
Ngoài ra CTNH còn kể đến một lượng lớn bùn cặn (Hoặc chất nổi) sinh
ra trong quá trình xử lý nước thải Trong một số trường hợp (Bùn từ XLNT xi mạ, váng dầu từ nước thải chế biến hạt điều) lượng bùn cặn này còn chứa nhiều yếu tố độc hại (Kim loại nặng, phenol và các dẫn xuất của chúng) và được xem như là một dạng ô nhiễm thứ cấp
Trang 18Bảng 2.1 Một số loại chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công nghiệp
STT Các ngành công nghiệp
tiêu biểu Loại chất thải nguy hại điển hình
01 Sản xuất hóa chất
Axit và kiềm: HCl, H 2 SO 4 , HNO 3 , NaOH…
Dung môi thải và cặn chưng cất: bezen, toluen, axetol… Chất thải phản ứng, chất oxy hóa: pemanganat kali; hypoclorit; sulphit kali; sulphit natri
Sản phẩm hóa chất thương mại loại bỏ Bùn cặn từ xử lý nước thải
02 Công nghiệp xây dựng Sơn thải, dung môi đã sử dụng
Axit mạnh và kiềm
03
Công nghiệp thực phẩm
Rượu, bia, nước giải khát Phenol, bã lên men
Mì ăn liền Dầu thực vật
Chế biến hạt điều Phenol và các dẫn xuất của chúng
Tinh bột khoai mì Xyanua
Chế biến thịt, cá, thủy, hải sản Chlorine dư
04 Công nghiệp giấy, bột giấy và bông băng Dung môi hữu cơ chứa Clo như CH3Cl, CH2Cl2…;
Chất thải ăn mòn: axít vô cơ, sơn phế thải (tạo màu cho giấy)…
05 Công nghiệp sơi- dệt - nhuộm Phẩm nhuộm và các sản phẩm trợ nhuộm, kim loại nặng,
axit, kiềm
06 Công nghiệp thuộc da Nước thải chứa crom
07 Công nghiệp điện tử Nước thải xi mạ chứa kim loại nặng
08 Công nghiệp in Phim nhựa tráng hỏng, xyanua, hydroquynua, thuốc ảnh và
các dạng thuốc màu khác
09 Công nghiệp luyện kim
Bụi và các loại khí trong quá trình đốt như dioxin, furan, PCB…
Chất thải xi mạ như kim loại nặng, axít bazơ mạnh…
Chất thải có chứa xyanua
10 Công nghiệp chế biến gỗ Hơi dung môi hữu cơ, keo dán gỗ, formaldehyde
Nguồn: Lâm Minh Triết; Lê Thanh Hải (2006) và Nguyễn Thị Kim Thái (2011)
Trang 192.1.3 Phân loại chất thải nguy hại
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều cách phân loại CTNH: Theo đặc tính, nguồn gốc, cách quản lý, mức độc … Có thể nêu một số cách như sau:
Dễ cháy C
- Chất thải lỏng dễ cháy: Các chất thải ở thể lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng, có nhiệt độ chớp cháy thấp theo QCKTMT về ngưỡng CTNH
- Chất thải rắn dễ cháy: Các chất thải rắn có khả năng tự bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển
- Chất thải có khả năng tự bốc cháy: Các chất thải rắn hoặc lỏng có thể
tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên
do tiếp xúc với không khí và có khả năng bốc cháy
- Chất thải tạo ra khí dễ cháy: Các chất thải khi tiếp xúc với nước có khả năng tự cháy hoặc tạo ra khí dễ cháy
Oxy hoá OH
Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó
Ăn mòn AM
Các chất thải thông qua phản ứng hoá học gây tổn thương nghiêm trọng các mô sống hoặc phá huỷ các loại vật liệu, hàng hoá và phương tiện vận chuyển Thông thường đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh hoặc kiềm mạnh theo QCKTMT về ngưỡng CTNH
- Gây độc từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có các thành phần nguy hại gây ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ một cách từ từ hoặc mãn tính
Trang 20- Gây độc cho sinh sản: Các chất thải có các thành phần nguy hại có khả năng gây tổn thương hoặc suy giảm khả năng sinh sản của con người thông qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da
- Gây đột biến gien: Các chất thải có các thành phần nguy hại gây ra hoặc tăng tỷ lệ tổn thương gen di truyền thông qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da
- Sinh khí độc: Các chất thải có các thành phần mà khi tiếp xúc với không khí hoặc với nước sẽ giải phóng ra khí độc, gây nguy hiểm đối với người và sinh vật
Có độc
tính sinh
thái
ĐS
Các chất thải có các thành phần nguy hại gây tác hại nhanh chóng hoặc
từ từ đối với môi trường và các hệ sinh vật thông qua tích luỹ sinh học
Đầu tiên căn cứ vào danh mục nhóm chất thải phân loại theo nhóm nguồn hoặc dòng thải chính tại Mục B Phụ lục 1 của Thông tư 36/2015/TT-BTNMT xem chất thải thuộc nhóm, nguồn dòng thải nào rồi so sánh với ngưỡng chất thải nguy hại, nếu là ký hiệu “*” thì có khả năng là CTNH Cần áp dụng ngưỡng CTNH (hay ngưỡng nguy hại của chất thải) theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật môi trường về ngưỡng CTNH để phân định có phải là CTNH hay không (so sánh với QCVN 07:2009/BTNMT hay QCVN 50: 2013/BTNMT) Nếu là ký hiệu
Trang 21Sau đây là danh mục nhóm chất thải được phân loại theo các nhóm nguồn hoặc dòng thải chính theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
- Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than
- Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng hoá chất vô
cơ
- Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng hoá chất hữu cơ
- Chất thải từ nhà máy nhiệt điện và các cơ sở đốt khác
- Chất thải từ ngành luyện kim và đúc kim loại
- Chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thuỷ tinh
- Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, gia công kim loại và các vật liệu khác
- Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), chất kết dính, chất bịt kín và mực in
- Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy
- Chất thải từ ngành chế biến da, lông và dệt nhuộm
- Chất thải xây dựng và phá dỡ (bao gồm cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm)
- Chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý chất thải, nước thải và xử lý nước cấp
- Chất thải từ ngành y tế và thú y (trừ chất thải sinh hoạt từ ngành này)
- Chất thải từ ngành nông nghiệp
- Thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng và chất thải
từ hoạt động phá dỡ, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện giao thông vận tải
- Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác
- Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy (propellant)
- Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ
- Các loại chất thải khác
Bên cạnh cách phân lọai đã trình bày ở trên, theo luật RCRA của Mỹ
Trang 22bên cạnh các đặc tính của chất thải, EPA còn liệt kê các chất thải nguy hại đặc trưng theo phân nhóm khác nhau K, F, U, P và việc phân loại được thực hiện theo một quy trình như sau:
Hình 2.1 Phân loại chất thải theo danh mục luật định của EPA (Mỹ) Theo quy trình trên, khi đó một chất thải đầu tiên sẽ được xem xét về khả năng nguy hại, nếu có khả năng nguy hại sẽ được kiểm tra trong các danh mục chất thải nguy hại F, K, U và P, nếu thuộc trong các danh mục này, thì chất thải
đó là chất thải nguy hại Nếu không thuộc các danh mục này, chất thải đó sẽ được mang đi kiểm tra xem có thuộc một trong bốn đặc tính nguy hại không Nếu chất thải có một trong 4 đặc tính nguy hại, chất thải đó là CTNH, còn không thì thuộc vào chất thải không nguy hại (Lâm Minh Triết và Lê Thanh Hải, 2006)
2.1.4 Các dấu hiệu cảnh bảo chất thải nguy hại
Dấu hiệu cảnh bảo phòng ngừa được sử dụng để báo trước cho người làm việc với CTNH và cho cộng đồng chú ý tới mối nguy hiểm trực tiếp hoặc mối nguy hiểm có thể xảy ra từ CTNH, nhắc nhở phải thực hiện những yêu cầu an
Danh mục K
Danh mục P +U
Không có danh mục
Các đặc tính của CTNH Danh mục F
Chất thải
Phân loại
Chất thải nguy hại Chất thải không nguy hại
Trang 23toàn khi tiếp cận với CTNH hoặc chỉ dẫn những thông tin cần thiết đã được quy định để phòng tránh các rủi ro, tai nạn cho con người và môi trường
Các dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa đối với CTNH gồm biểu tượng màu đen đặt trong hình tam giác đều viền đen, nền vàng, chữ màu đen để cảnh báo mối nguy hiểm có thể xảy ra
Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa đối với từng loại CTNH tương ứng theo quy định TCVN 6707:2009
Bảng 2.3 Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa đối với CTNH
STT
Dấu hiệu cảnh báo,
phòng ngừa đối với
CTNH
Biều tượng và lời Ý nghĩa
Lời: Chất thải nguy hại!
Cảnh báo chung về sự nguy hiểm của CTNH
Dễ nổ Cảnh báo về nguy cơ dễ nổ của chất thải
Dễ cháy Cảnh báo về nguy cơ dễ cháy của chất thải
4
Vòng tròn có ngọn lửa phía trên
Lời: Chất oxy hóa
Cảnh báo về chất thải có chứa chất oxy hóa
Trang 24STT
Dấu hiệu cảnh báo,
phòng ngừa đối với
CTNH
Biều tượng và lời Ý nghĩa
5 Xương sọ và hai khúc xương bắt chéo
Cảnh báo về chất thải có chứa các chất độc hại (CTNH)
Lời: Lây nhiễm trùng!
Cảnh báo về chất thải có chứa chất gây bệnh hoặc nguồn vi trùng gây bệnh
8
Bàn tay trần và mẫu kim loại bị chất lỏng từ hai ống nghiệm rơi xuống
Lời: Ăn mòn!
Cảnh báo về chất thải có chứa các chất ăn mòn
Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ (2009) 2.1.5 Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với con người và môi trường sinh thái
CTNH nếu không được quản lý chặt chẽ, không đảm bảo an toàn trong thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý thì xảy ra các rủi ro, sự cố sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng Tùy thuộc vào đặc tính và bản chất của chất thải mà khi thải vào môi trường sẽ gây nên các tác động khác nhau
Trang 25Bảng 2.4 Các mối nguy hại theo các đặc tính của CTNH
đối với môi trường và con người Nhóm
(*) nguy hại Đặc tính Nguy hại đối với người Nguy hại đối với môi trường
1 Chất dễ cháy nổ Gây tổn thương da , bỏng và có thể dẫn đên tử vong
Phá hủy vật liệu, phá hủy công trình
Từ quá trình cháy nổ, các chất dễ cháy
nổ hay sản phẩm của chúng cũng có đặc tính nguy hại, phát tán ra môi trường, gây ô nhiễm về nguồn nước, không khí, đất
2
Khí độc,
khí dễ
cháy
Gây hỏa hoạn, gây bỏng
Làm tăng cường sự cháy, làm thiếu oxy, gây ngạt Ảnh hưởng sức khỏe, gây
tử vong
Ảnh hưởng đến không khí (Ô nhiễm môi trường không khí)
3 Chất lỏng dễ cháy Cháy nổ gây bỏng có thể tử vong
Ô nhiễm không khí từ nhẹ đến nghiêm trọng
Gây ô nhiễm nước nghiêm trọng
4 Chất rắn dễ cháy Hỏa hoạn, gây bỏng có thể tử vong Thường giải phóng các sản phẩm cháy độc hại
5 Tác nhân ôxy hóa
Các phản ứng hóa học gây hỏa hoạn, cháy nổ, ảnh hưởng da, có thể gây
Ô nhiễm nước nghiêm trọng Hình thành những nguy cơ lan truyền bệnh tật
7 Chất ăn mòn Ăn mòn, cháy da, ảnh hưởng đến phổi và mắt
Ô nhiễm nước và không khí Gây hư hại vật liệu, công trình, thùng chứa, nhà kho
8 phóng xạ Chất
Tổn thương các tổ chức máu, gây các bệnh về máu, viêm da, hoại tử xương, đột biến gen,.v.v
Gây ô nhiễm đất, mức phóng xạ tăng
Trang 26lò đốt, từ hoạt động giao thông Tùy theo mức độ phát tán, phạm vi ảnh hưởng,
độ cố định hay di động để phân biệt người ta có thể phân ra như sau
- Nguồn điểm: ống khói lò đốt, khí bãi chôn lấp….(khối lượng/thời gian)
- Vùng (diện tích): chất bay hơi từ ao hồ, đầm chứa (khối lượng/thời gian.diện tích)
- Nhất thời (không thường xuyên) do các sự cố về tràn, đổ, rơi vãi của chất thải (khối lượng của tổng thải)
Khí ô nhiễm có thể sinh ra do quá trình bay hơi chất thải lỏng hay do quá trình sản xuất hoặc là do quá trình xử lý chất thải như quá trình đốt CTNH ví dụ như đốt bùn thải, chất hấp thụ nhiễm TPNH, Chất hữu cơ có thể bay hơi từ nước rò rỉ và di chuyển đến nước bề mặt Tốc độ bay hơi phụ thuộc vào nhiệt độ,
áp suất bay hơi của chất, sự chênh lệch giữa nồng độ trong pha lỏng và pha khí Các chất bay hơi trong môi trường có thể dịch chuyển trực tiếp vào khí quyển, đôi khi các chất này cũng trải qua các biến đổi pha mới đến khí quyển
Phát tán ở dạng rắn: chủ yếu từ hai nguồn: quá trình đốt và nguồn tức thời (từ bãi chôn lấp, công trường xử lý đất, bể ổn định chất thải Nguyên nhân chính gây nên phát tán là do tác động của gió và hoạt động của con người
Phát tán ở dạng lỏng: quá trình phát tán của chất thải ở dạng lỏng vào môi trường rất đa dạng về hình thức và luôn xảy ra không ngừng chẳng hạn như: đầu ra của hệ thống xử lý, nước từ các tháp xử lý khí thải lò đốt, nước rò rỉ sau
xử lý, nước rửa máy móc thiết bị….Do khả năng xử lý luôn nhỏ hơn 100% nên những nguồn này mặc dù được xử lý nhưng vẫn thải vào môi trường một lượng chất ô nhiễm dù là rất nhỏ Việc kiểm soát CTNH thải vào môi trường ít được thực hiện so với các vấn đề kiểm soát thông thường Vì hầu như việc kiểm soát, giám sát chỉ thực hiện dựa trên các chỉ tiêu thông thường và được thực hiện đối với các công trình cố định trên mặt đất mà chưa quan tâm đến các công trình ngầm hay những nguồn không thường xuyên Ví dụ điển hình: việc dùng thuốc bảo vệ thực vật, và các hệ thống cống rãnh ở nông thôn, cũng như dùng bể tự hoại trong nhà ở các đô thị Việc kiểm soát và giám sát các nguồn này hiện nay còn rất nhiều tranh luận và chưa đưa ra được biện pháp hiệu quả nhất Ngoài ra còn có những nguồn phát thải vào nước mặt và nước ngầm mà không thể kiểm soát được Những nguồn này có thể là nước mưa chảy tràn, nước rò rỉ trong bãi rác và các hoạt động của con người (làm đổ, tràn, gây rơi vãi) (Nguyễn Ngọc Châu, 2006)
Trang 27b Sự lan truyền của CTNH
- Môi trường đất
Trong đất, sự dịch chuyển của chất ô nhiễm phụ thuộc rất lớn vào dòng nước ngầm trong đất Không gian chứa nước và sự phân bổ của nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn đến sự lan truyền của chất ô nhiễm
Chất ô nhiễm trong đất tồn tại ở rất nhiều dạng (hay pha) khác nhau tùy theo bản chất lý hóa của chất ô nhiễm Chất ô nhiễm có thể hòa tan vào trong nước ngầm và dịch chuyển qua các lỗ xốp của đất Theo diện rộng, quá trình này
có thể mô hình hóa theo dòng chảy và hướng dòng chảy của nước ngầm, tuy nhiên xét trên phương diện hẹp, quá trình này liên quan trực tiếp đến kích thước hạt và độ xốp của đất Khi dịch chuyển trong đất, chất ô nhiễm (hay nói cách khác là dòng chứa chất ô nhiễm) không đi xuyên qua các hạt đất mà đi qua các khoảng trống trong đất (Nguyễn Ngọc Châu, 2006)
- Môi trường không khí
CTNH đi vào khí quyển, chúng sẽ lan truyền và phát tán trong không khí phụ thuộc rất nhiều vào gió, đặc tính của môi trường không khí, địa hình khu vực, bản chất chất ô nhiễm và nguồn phát thải Sau đó chất thải có
sự biến đổi trong môi trường không khí, sự biến đổi đó có thể là sự kết hợp với bụi, hơi nước, các thành phần khác có trong khí quyển Thời gian tồn tại cũng như điều kiện nhiệt độ, độ ẩm sẽ quyết định sự biến đổi của chất ô nhiễm Chất ô nhiễm có thể mất đi do biến đổi, sa lắng vào môi trưòng đất, nước hoặc sự hấp thụ của con người và động thực vật
CTNH đi vào không khí thông qua sự hóa hơi từ môi trường đất, nước (ao, hồ), hay hóa hơi từ sự thải bỏ trực tiếp chất thải lỏng hoặc CTNH được thải ra từ ống khói các nhà máy (Nguyễn Ngọc Châu, 2006)
- Môi trường nước
CTNH có trong môi trường nước mặt là do sự sa lắng từ không khí hoặc
do sự thải bỏ thẳng vào dòng nước CTNH khi vào môi trường có sự biến đổi mà
nó có thể gia tăng mức độ độc hay suy giảm
CTNH có trong nước ngầm là do đất bị ô nhiễm hay do tràn đổ hóa chất ngấm xuống mạch nước ngầm hoặc do khai thác nước ngầm không hợp lý hoặc
do sự rò rỉ từ các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh (Nguyễn Ngọc Châu, 2006)
Trang 282.1.5.2 Sự tiếp xúc và tích lũy CTNH đối với con người
CTNH xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các con đường: hô hấp, tiêu hóa và qua da
CTNH đi vào cơ thể con người thông qua việc con người sử dụng trực tiếp các thực phẩm bị nhiễm độc hoặc tiếp xúc bằng cách hít thở Mức độ gây độc của CTNH tùy thuộc vào bản chất của chất ô nhiễm và mức độ đào thải chất độc của
cơ thể con người
Sau đây là một số chất độc ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người cùng các tác động môi trường cụ thể:
- Dung môi:
Các dung môi hữu cơ có thể tan trong môi trường mỡ cũng như nước Các dung môi thân mỡ khi tan trong môi trường sẽ tích tụ trong mỡ bao gồm cả hệ thần kinh Hơi của dung môi rất dễ được hấp thu qua phổi Có nhiều loại dung môi hữu cơ gây độc tính cấp và mãn tính cho con người và động vật khi tiếp xúc
Một số dung môi hữu cơ thường gặp là benzen, toluen, xylen, etylbenzen, xyclohexan Các dung môi này có thể hấp thụ qua phổi và qua
da Khi tiếp xúc ở liều cao gây độc tính cấp suy giảm thần kinh trung ương, gây chóng mặt, nhức đầu, ngộp thở dẫn đến rối loạn tiêu hóa Benzen tích lũy trong các mô mỡ và tủy xương gây bệnh bạch cầu, xáo trộn AND di truyền Liều hấp thụ benzen từ 10-15 mg có thể tử vong Các dung môi kia
có tác dụng độc hại tương tự nhưng độc tính thấp hơn
- Các hydrrocacbon
Các chất halogen hóa chủ yếu là nhóm clo hữu cơ, chúng đều là các chất
dễ bay hơi và rất độc, đặc biệt chúng dễ gây mê, gây ngạt, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gan thận như triclometan, tetra clorocacbon, tricloroetylen…Các hợp chất phức tạp còn có khuynh hướng tích tụ trong cơ thể động thực vật khi hấp thu chúng như PCBs, DDT
- Các kim loại nặng
Các kim loại nặng gây hại đáng kể cho môi trường Với hàm lượng cao chúng gây rối loạn, ức chế hoạt động của sinh vật Tuy nhiên tác động nguy hại đáng quan tâm của chúng là lên sức khỏe con người Do sự xâm nhập của chúng vào cơ thể diễn ra trong thời gian dài nên khó có thể phát hiện và ngăn ngừa
Trang 29Một số kim loại nặng tiêu biểu là Cr (VI), thủy ngân, As, Cd
- Các chất có độc tính cao Các chất có độc tính cao gây ngộ độc hoặc gây tử vong cho người nếu xâm nhập và tích lũy trong cơ thể dù với lượng nhỏ Dưới đây là một
số độc chất thường gặp:
- Chất rắn: antimon, cadmi, chì, bery, asen, selen, muối cyanua và các hợp chất của chúng
- Chất lỏng: thủy ngân, dung dịch các chất rắn ở trên, hợp chất vòng thơm…
- Chất khí: hydrocyanua, photgen, khí halogen, dẫn xuất của halogen… Một số chất gây đột biến ở người và động vật hữu nhũ, gây ra các tác động lâu dài lên sức khỏe con người và môi trường như carcinogens, asbetos PCBs… (Võ Đình Long và Nguyễn Văn Sơn, 2008)
Sau đây là sơ đồ thể hiện các tuyến xâm nhập của CTNH đi vào trong cơ thể con người và môi trường sinh thái
Hình 2.2 Sơ đồ các tuyến xâm nhập của CTNH vào cơ thể con người và
môi trường sinh thái
CTNH
Không khí
Động thực vật
Nước mặt
Xâm nhập vào
cơ thể con người
Bị ô nhiễm
Sinh vật chết
Rò rỉ,
đất ô
nhiễm
Trang 302.1.5.3 Một số trường hợp sự cố môi trường do phát thải CTNH của các cơ sở sản xuất
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đô thị hóa, sự phát triển của các KCN, tình trạng xả thải trái phép gây ô nhiễm môi trường có chiều hướng gia tăng
Tại nhiều khu đô thị, KCN, khu chế xuất, chủ doanh nghiệp đang vô tình hoặc cố ý thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật môi trường Nhiều doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý chất thải, khí thải nhưng không vận hành hoặc chỉ vận hành để đối phó với cơ quan chức năng đang khiến cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng
Theo đánh giá của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường C49, hiện nay, hơn 70% lượng nước thải hằng ngày từ các khu, cụm công nghiệp đang xả thẳng ra nguồn tiếp nhận, không qua xử lý
Một số trường hợp sự cố môi trường do phát thải CTNH của các cơ sở sản xuất:
- Sáng 8/9/2008 lực lượng Cảnh sát môi trường, Bộ Công an và đoàn kiểm tra liên ngành của Bộ Tài nguyên Môi trường đã kiểm tra nhà máy sản xuất của Công ty cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam nằm tại huyện Long Thành, Đồng Nai Đoàn kiểm tra phát hiện công ty đã lắp đặt hệ thống bơm, đường ống kỹ thuật xả trực tiếp một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý xuống sông Thị Vải Chất thải bị đổ xuống sông chủ yếu là dịch thải lỏng chứa nước mật rỉ đường và các chất đặc sau khi chế biến từ các bể chứa lớn có dung tích 6.000-15.000m3
Hệ thống đường ống xả nước thải được thiết kế đi chìm, có trụ bơm cắm sâu xuống lòng sông Thị Vải (Minh Quang, 2008)
Ngoài ra, năm 2006, đoàn kiểm tra của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường từng đột xuất kiểm tra Công ty Vedan Vào thời điểm này, Công ty Vedan có ba
HT XLNT khác nhau: HT XLNT chế biến tinh bột biến tính bằng công nghệ UASB (gọi tắt là hệ thống UASB), xử lý nước thải chế biến tinh bột bằng hệ thống hồ sinh học tự nhiên, hệ thống xử lý nước thải sinh học sản xuất lysin từ mật rỉ đường Nước thải sau xử lý của 3 hệ thống này có hàm lượng Cyanua, BOD, COD, amoniac đều vượt chuẩn cho phép rất nhiều lần Cụ thể như: hệ thống UASB hàm lượng Cyanure vượt tiêu chuẩn cho phép thấp nhất là 7 lần và cao nhất 34 lần, trong khi TCVN giới hạn hàm lượng loại chất độc hại này có trong nước thải sau xử lý phải nhỏ hơn 0,1 mg/lít Trong nước thải sau xử lý của
Trang 31hệ thống hồ sinh học có hàm lượng chất Cyanure vượt TCVN 500 - 600 lần, BOD, COD, amoniac… đều vượt tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần Riêng tiêu chuẩn về vi sinh vật gây bệnh vượt tiêu chuẩn (mức cao nhất) đến 1.460 lần Ngoài ra, nước thải sau xử lý của HT XLNT sản xuất lysin còn hàm lượng Cyanure, BOD, COD… vượt tiêu chuẩn một vài lần (H.Mi và cs., 2008)
- Ngày 10/10/2008, Cảnh sát mô trường TP.HCM bắt quả tang Công ty thuộc da Hào Dương xả nước thải sản xuất chưa qua xử lý và bùn từ các họng cồng thoát của Công ty ra sông Đồng Điền, thuộc huyện Nhà Bè, TP.HCM Kết quả xét nghiệm nước thải tại hồ chứa và các cửa xả ra sông Đồng Điền của công
ty Hào Dương có hàm lượng Crôm VI - chất có khả năng gây ung thư, vượt 30 lần cho phép (Đức Quang và Kiên Cường, 2008)
- Ngày 30/10/2009, Phòng Cảnh sát môi trường - Công an tỉnh Bình Dương đã bắt giữ một chiếc xe tải vận chuyển trái phép 14 tấn bụi nhôm, bột chì và bột sắt Chủ lái xe đã khai nhận thu mua bột chì, nhôm và sắt thải ra của một số công ty ở KCN Mỹ Phước (Huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương) sau đó vận chuyển về Đồng Nai phân loại để bán cho các nhà nấu quặng (Báo Việt Báo, 2009)
- Sáng 31/8/2011, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (CP49) Công an tỉnh Bình Dương phối hợp với Sở TN&MT kiểm tra đột xuất Công ty TNHH Vina Rong Hsing chuyên gia công thuộc da, phát hiện một hồ chứa nước thải sản xuất thuộc da bốc mùi hôi nồng nặc, nước tràn ra hệ thống cống KCN Mỹ Phước đen kịt Một nhân viên khu XLNT thừa nhận: hệ thống xử
lý nước đã bị hư hỏng bể xử lý vi sinh cách đây hơn một năm Nước thải thuộc
da chỉ được xử lý hóa qua loa sau đó xả ra hệ thống cống KCN Mỹ Phước Quá trình sản xuất Công ty Rong Hsing phát sinh một số CTNH với khối lượng hơn
100 tấn bùn thải, da phế thải với hơn 40 tấn vứt bỏ xung quanh nhà máy Đại diện Công ty Rong Hsing thừa nhận, từ tháng 8/2010 đến nay, tất cả các nguồn
xả thải của công ty không được thu gom xử lý mà đã vứt xung quanh nhà máy Công ty tự ý gom bùn để khô chất hàng đống lớn tại bãi đất trống để trốn tránh việc xử lý môi trường (Dương Chí Tường, 2011)
- Tháng 11/2011, Công ty TNHH sản xuất ôtô JRD Việt Nam (Doanh nghiệp 100% vốn Malaysia) đặt tại xã An Mỹ, huyện Tuy An (Phú Yên) đã bơm
xả số lượng lớn dầu nhớt thải ra ngoài, làm cho hàng chục hécta lúa, hoa màu của nông dân có hiện tượng khô cháy, rũ lá và chết (Lưu Phong 2011)
Trang 32- Ngày 30/08/2011, UBND tỉnh Tây Ninh đã xử phạt doanh nghiệp tư nhân Thành Thái, địa chỉ ở xã Suối Ngô, huyện Tân Châu (chế biến tinh bột sắn)
và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quang Minh, địa chỉ ở xã Tân Hòa, huyện Tân Châu (chế biến nông sản), mỗi doanh nghiệp bị phạt 125 triệu đồng Lý do xử phạt là không phân loại CTNH, không bố trí nơi an toàn để lưu giữ tạm thời CTNH, không đáp ứng yêu cầu về an toàn kỹ thuật nên đã để chất thải rò rỉ, phát tán ra môi trường (Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, 2011)
- Ngày 06/11/2011, Cảnh sát môi trường và công an tỉnh Tây Ninh đã lập biên bản vi phạm đối với hành vi mua bán, vận chuyển trái phép 10 tấn CTNH (ắc quy chì) từ Campuchia về của bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (Báo mới, 2011)
- Ngày 9/5/2012, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường - Công an tỉnh Tây Ninh đã kiểm tra đột xuất khu vực xử lý nước thải, chất thải của Nhà máy đường Biên Hòa - Tây Ninh phát hiện Nhà máy đang xả nước thải chưa xử lý ra Suối Dộp (nguồn nước chảy ra sông Vàm Cỏ Đông); đồng thời để lẫn nhiều loại chất thải rắn nguy hại với nhau rơi vãi ra môi trường xung quanh
mà không đóng gói, bảo quản theo quy định Nhà máy đã bị xử phạt với số tiền phạt 171 triệu đồng (Lê Dức Hoành, 2012)
- Tháng 4/2016, ven biển 4 tỉnh miền Trung Việt Nam (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng, làm hải sản chết bất thường, gây thiệt hại lớn về kinh tế - xã hội, môi trường biển; ảnh hưởng xấu đến đời sống người dân, an ninh, trật tự an toàn xã hội Qua nghiên cứu, phân tích thí nghiệm (Lấy mẫu trầm tích đáy, phù du…) của trên 100 nhà khoa học về Hải dương học, môi trường, … đã xác định nguồn thải lớn nhất tại khu vực Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứa độc tố như phenol, Cyanua,… kết hợp với hidroxit sắt, tạo thành một dạng phức hỗn hợp (mixel), có tỷ trọng lớn hơn nước biển, theo dòng hải lưu di chuyển theo hướng Bắc-Nam từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế là nguyên nhân làm hải sản và sinh vật biển chết hàng loạt, nhất là ở tầng đáy Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã rà soát nguồn thải, thành lập đoàn kiểm tra và đã phát hiện Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh có một số hành vi vi phạm; xác định nước thải từ Công ty xả ra biển có chứa các độc tố phenol, Cyanua, hydroxit sắt vượt quá mức cho phép Ngày 30/6/2016, Chính phủ công bố việc xả thải của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh là nguyên nhân gây hiện tượng cá chết hàng loạt tại 4 tỉnh miền Trung Formosa cam kết bồi thường 500 triệu USD khắc phục hậu quả (Cầm Văn Kình, 2016; Vũ Hạnh, 2016)
Trang 33- Ngày 8/10/2016, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính 435,2 triệu đồng đối với Công ty CP Môi Trường Sao Việt về hành vi xả chất thải chưa qua xử lý ra môi trường Nước trong bể trung hòa có màu đen chứa CTNH là dầu thải, nhớt thải nối với hố thu gom nước mưa thải ra ngoài môi trường Qua phân tích các mẫu nước thu giữ tại hố thu gom nước mưa của Công ty, có 7/12 chỉ tiêu vượt quá quy chuẩn cho phép, trong đó Cyanua vượt 61,76 lần, COD vượt 45 lần, BOD5 vượt 29 lần, Nitơ-amoni vượt 20,46 lần (Đông Hà, 2016)
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢİ NGUY HẠİ 2.2.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại trên thế giới
Trên thế giới việc quản lý CTNH đã hình thành và có những thay đổi mạnh mẽ trong thập niên 60 và đã trở thành một vấn đề môi trường được quan tâm hàng đầu trong thập niên 80 của thế kỷ XX Điều này có thể thấy đây là hệ quả của cuộc cách mạng khao học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên toàn cầu
Hiện nay, trên thế giới các quốc gia đặc biệt là các nước tiên tiến như Châu Âu, Mỹ ,Nhật ,Úc…đều đưa ra các quy định pháp luật cụ thể về công tác quản lý CTNH để ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa các tác hại của CTNH Hơn nữa, các nước tiên tiến đã có hệ thống thông tin quản lý hoá chất hoàn chỉnh Hệ thống quản lý hoá chất (REACH) của Châu Âu có hiệu lực từ ngày 1/6/2007 REACH cung cấp thông tin miễn phí về mọi hoạt động hoá chất với nhiều thứ tiếng sử dụng trong cộng đồng Châu Âu: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Ý,
…Bên cạnh đó, trên thế giới ngày càng có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (Tổ chức đăng ký toàn cầu về hóa chất độc tiềm tàng), IPCS (Chương trình toàn cầu
về an toàn hóa chất), WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin về an toàn hóa chất (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
Tùy từng điều kiện kinh tế - xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùng với nhận thức về quản lý CTNH mà mỗi nước có những cách xử lý CTNH khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy rằng, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thuỵ Sỹ (33%),trong lúc đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%), Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh
Trang 34nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (Băng Cốc -84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%), Tây Ban Nha (80%) Dưới đây là những mô tả tổng quan về tình hình quản lý CTNH tại một số nước trong khu vực và thế giới (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
- Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Thổ Nhĩ Kỳ
Lượng phát sinh chất thải hàng năm của ngành công nghiệp sản xuất ở Thổ Nhĩ kỳ là 11,9 triệu tấn và nó tăng lên 17,49 triệu tấn vào năm 2004 Trong
đó ngành công nghiệp luyện kim chiếm nhiều nhất 44% Ngành Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá 25% Ngành hóa chất, than đá, cao su và các sản phẩm nhựa chiếm 12% Còn lại là các ngành khác Từ năm 2000 đến năm 2004 tại Thổ Nhĩ
Kỳ có 3,6 triệu tấn chất thải nguy hại được tạo ra nhưng chỉ có khoảng 400.000 tấn ( chiếm 11%) được tái chế còn lại là xử lý bằng phương pháp khác ( lưu kho, thải bừa bãi, chôn lấp, ném xuống biển hoặc sông,…) Theo thông tin của Viện Khảo sát phát triển Công nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ thì tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh năm 2004 khoảng 1,2 triệu tấn ( 370 cơ sở) Tuy nhiên đây chỉ là số liệu không hoàn toàn chính xác bởi vì nó chỉ dựa trên khảo sát của 1 phần các tỉnh và các ngành công nghiệp tạo ra chất thải Thực tế lượng chất thải nguy hại
có thể cao hơn rất (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
- Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Trung Quốc
Với công nghệ tái chế phát triển đã tận dụng lại một phần đáng kể CTNH, còn lại chất thải được xử lý thông thường là đưa vào các bãi rác hở, tuy nhiên có một số hố chôn lấp hợp vệ sinh
Phần lớn CTNH của các khu vực kinh tế, một số xí nghiệp có khả năng xử
lý tại chỗ Trung Quốc cũng đã đề ra Luật kiểm soát và phòng ngừa nhiễm bẩn
do chất thải rắn, trong đó quy định các ngành công nghiệp phải đăng ký việc phát sinh chất thải, nước thải, đồng thời phải đăng ký việc chứa đựng, xử lý và tiêu huỷ chất thải, liệt kê các chất thải từ các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp hoá chất (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
- Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Hồng Kông
Cơ sở xử lý CTNH tập trung được xây dựng từ năm 1987 đến năm1993 Với hệ thống thu gom vận chuyển và thiết bị xử lý hiện đại, công nghệ chủ yếu là
xử lý nhiệt và xử lý hoá/1ý đã xử lý được hầu hết lượng CTNH tại Hồng Kông Tại đây người ta cũng đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất quy chế chung về sự
Trang 35tiêu huỷ chất thải, đặc biệt là chất thải hoá học Nhờ hệ thống nghiền nhỏ để chôn lấp, hệ thống kiểm soát việc chôn lấp, kiểm soát nơi thu gom, vận chuyển xử lý
và tiêu huỷ 100 chất thải, nhất là CTNH đã góp phần nâng cao chất lượng quản
lý chất thải nói chung và CTNH nói riêng tại Hồng Kông (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
- Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Singapore
Hiện tại chất thải được phân loại, một phần được tái chế, phần còn lại được đưa vào 4 nhà máy thiêu huỷ Hiện nay đã xây dựng nhà máy thứ 5 với công suất 2.500 tấn/ngày để xử lý chất thải Hệ thống xử lý được MARPOL phê duyệt bao gồm cả lò đốt sẽ góp phần giải quyết CTNH tại Singapore Nhiệt lượng trong quá trình thiêu huỷ được thu hồi để chạy máy phát điện Công nghệ thiêu huỷ chất thải đang được thay thế bằng các công nghệ hiện đại hơn, đảm bảo được các tiêu chuẩn về môi trường Dầu cặn, sơn thừa được tái chế sử dụng thì các nhà máy xí nghiệp phải chịu chi phí xử lý chúng Việc thu gom chất thải hầu hết do các công ty tư nhân đảm nhận, nhà nước hỗ trợ tiền xây đựng nhà máy xử
lý thiêu huỷ chất thải Các công ty thu gom chất thải đều chuyển sang hình thức
cổ phần hoá, Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việc quản lý chất thải trên phạm vi toàn quốc (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
- Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Thái Lan
Chất thải nguy hại tại Thái Lan đã được đưa vào hệ thống xử lý trung tâm,
hệ thống xử lý này được vận hành từ năm 1998 và phương thức xử lý chủ yếu là
xử lý hoá/lý ổn định và chôn lấp an toàn cùng với hệ thống phối trộn hữu cơ (Đốt trong lò xi măng) Ngoài ra phương thức xử lý hoá/lý kết hợp với đốt cũng được
áp dụng tại Thái Lan (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
- Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Pháp
Ở Pháp, văn bản quy định đầu tiên về những cơ sở sản xuất bị đưa vào danh sách xếp hạng gây ô nhiễm môi trường là một sắc lệnh Napoléon ký năm
1810, và từ năm 1917 trở đi văn bản này được liên tục sửa đổi, bổ sung Cũng chính tại Luật này đã đưa ra những công cụ và cơ chế để quản lý những loại hình rác thải đặc biệt (Chất thải nguy hại) Ngày 02/02/1995, Pháp lại có thêm một bộ luật mới là Bộ luật về tăng cường bảo vệ môi trường đã thiết lập thêm phụ phí đối với việc xử lý chất thải nguy hại, tương đương 40F (Frăng Pháp)/1 tấn chất thải được loại bỏ để lại trong một cơ sở xử lý, và sẽ được tăng gấp đôi
Trang 36nếu tấn chất thải đó được tích trong một bãi thải đặc biệt Phụ phí này do Cục Môi trường và quản lý năng lượng thu lại và trong vài năm tới sẽ tăng gấp đôi Năm 2011, ở Pháp phát thải 446 triệu tấn chất thải Trong đó chất thải nguy hại chiếm khoảng 13 triệu tấn Tổng lượng CTNH của các ngành công nghiệp, xây dựng và công trình công cộng chiếm 2/3 số lượng chất thải Một nửa số chất thải này được thu hồi tái chế hoặc đốt thu hồi năng lượng (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
- Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Hà Lan
Việc xử lý chất thải của Hà Lan được sự tham gia tổng lực của chính quyền, xã hội cũng như các cơ quan chuyên ngành CTNH được xử lý bằng nhiều cách khác nhau, trong đó phần lớn được thiêu huỷ, một phần được tái chế Trước đây, Hà Lan tiến hành thiêu huỷ CTNH ở ngoài biển, nhưng từ năm 1990 trở lại đây, Hà Lan đã tập trung xử lý CTNH tại 5 khu vực trên phạm vi toàn quốc, thường do các xí nghiệp tư nhân với sự tham gia của nhiều công ty tiến hành dưới sự giám sát của các cơ quan chuyên môn Hàng năm, Hà Lan có tới hơn 20 triệu tấn chất thải 60% trong số này được đổ ở các bãi chứa, phần còn lại được đưa vào các lò thiêu huỷ hoặc tái chế Để bảo vệ môi trường, Chính phủ Hà Lan
đã đề ra mục tiêu giảm khối lượng chất thải hàng năm để giảm chi phí xử lý Công nghệ xử lý CTNH chủ yếu được áp đụng là thiêu huỷ, nhiệt năng do các lò thiêu huỷ sinh ra sẽ được hoà nhập vào mạng lưới năng lượng chung của đất nước Ngoài ra Hà Lan còn đạt được bước chuyển biến lớn trong việc mở rộng chương trình giáo dục trong trường học, trong các xí nghiệp công nghiệp và những người nội trợ về những sự cần thiết phải đảm bảo môi trường sống được trong sạch ở nhiều nơi, các chất thải được phân loại ngay từ nguồn phát thải nhất
là đối với CTNH Việc thiêu huỷ CTNH được tiến hành ở những lò đốt hiện đại với kỹ thuật mới nhất, hoặc việc tổ chức sản xuất được ứng dụng những quy trình đặc biệt nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu mới, thuận lợi cho công việc chế biến (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
- Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Đức
Cộng hoà liên bang Đức đã đưa ra các biện pháp chiến lược để quản lý các CTNH như: ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm thiểu số lượng CTNH, xử lý và tái sử dụng chúng Trong vòng 20 năm lại đây, Cộng hoà liên bang Đức đã ban hành nhiều đạo luật về quản lý chất thải Có khoảng 2000 điều luật, quyết định,
Trang 37quy định về hành chính, với nội dung phân loại các chất độc hại trong chất thải khí, rắn, nước… về thu thập, vận chuyển, xác định biện pháp giải quyết chất thải Mỗi lần thay đổi luật, quy định mới lại khắt khe và chặt chẽ hơn
Pháp luật ở Đức rất nghiêm, đối với các trường hợp làm phát sinh các CTNH mà chưa xử lý hoặc quá giới hạn cho phép, có thể áp dụng biện pháp phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động của nhà máy, xí nghiệp hay cơ sở sản xuất đã vi phạm pháp luật, bắt bồi thường thiệt hại gây ra hoặc truy tố trước pháp luật Bên cạnh đó, pháp luật của Cộng hoà liên bang Đức khuyến khích việc đổi mới công nghệ và thiết bị (bằng cách thay thế từng phần hoặc toàn bộ) nhằm hướng tới một công nghệ không hoặc ít sinh ra CTNH Nhà nước cộng hoà Liên bang Đức giảm thuế hoặc cho vay tiền với lãi suất thấp trả dần nếu đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý CTNH Thêm vào đó, Nhà nước còn tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân nhận thức được tác hại nguy hiểm của loại chất thải này và chính nhân dân sẽ là người giúp cho các cơ quan nhà nước kiểm tra, phát hiện các nguồn phát sinh ra CTNH và nhanh chóng tìm ra biện pháp giải quyết (Trịnh Thị Thanh
và Nguyễn Khắc Kinh, 2005)
Qua nghiên cứu về tình hình quản lý CTNH ở một số quốc gia trên thế giới, có thể nhận thấy rằng các quốc gia trên thế giới đã chú trọng đến vấn đề quản lý CTNH từ rất sớm so với Việt Nam Đặc biệt, các quốc gia phát triển như: Đức, Pháp, Mỹ…đã đưa vấn đề quản lý CTNH lên một vị trí tương đối quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước Ở Việt Nam, tuy vấn đề quản lý CTNH mới được chú trọng những năm gần đây, nhưng chúng ta đã rất nỗ lực trong việc tìm các giải pháp khoa học – kỹ thuật, cũng như xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, do
sự khó khăn của nền kinh tế, cụ thể là vốn đầu tư cho các công tác QLCTNH còn
ít, việc áp dụng khoa học – kỹ thuật còn hạn chế nên tình hình QLCTNH trong những năm qua còn nhiều vấn đề cần quan tâm Việc nghiên cứu và học hỏi những kinh nghiệm quý báu của các quốc gia trên thế giới về QLCTNH là điều rất cần thiết đối với Việt Nam (Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh, 2005) 2.2.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình phát sinh chất thải công nghiệp nguy hại
Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, với sự hình thành, phát triển của các ngành nghề sản xuất, sự gia tăng nhu cầu
Trang 38tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, đi kèm với đó là nỗi lo về môi trường, đặc biệt vấn đề chất thải rắn như chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải y tế, chất thải xây dựng, chất thải nguy hại,
Việc thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn, đặc biệt là CTNH đã và đang trở thành một bài toán khó đối với các nhà quản lý tại hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, trong
đó có Việt Nam
Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lượng CTNH phát sinh trên toàn quốc khoảng 800 ngàn tấn/năm, chiếm khoảng 15% - 20% lượng CTR công nghiệp Tỷ lệ này thay đổi tùy loại hình công nghiệp, trong đó ngành cơ khí, điện, điện tử, hóa chất là những ngành có tỷ lệ CTNH cao Theo Báo cáo đánh giá phục vụ xây dựng Quy hoạch
xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, thành phần CTNH công nghiệp phát sinh ở một số ngành sản xuất tại Hà Nội như sau: CTR công nghiệp từ ngành cơ khí có khoảng 50% là chất thải độc hại chứa kim loại nặng, chất ăn mòn và dễ cháy; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp dệt, may mặc chứa khoảng 44,5% chất thải độc hại; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp điện, điện tử có trên 70% là chất thải độc hại chứa các cặn kim loại nặng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; CTR công nghiệp từ ngành hoá chất có khoảng 62% là chất thải độc hại dưới dạng vi sinh vật và kim loại hòa tan; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp thực phẩm có khoảng 20% chưa các vi khuẩn làm thối rữa; Các CTR công nghiệp khác như thuộc da, xà phòng, sản xuất tân dược cũng tạo ra chất thải độc hại Đây là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng rất đáng lo ngại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng (Bích Liên, 2016)
CTNH phát sinh chủ yếu tại các KCN, CCN, tuy nhiên các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ nằm ngoài KCN, CCN cũng là nguồn phát sinh CTNH không nhỏ Các cơ
sở sản xuất này nằm tập trung ở những tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương với các lĩnh vực sản xuất khác nhau như: Thực phẩm, mỹ phẩm, sản xuất hóa chất, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, sản xuất các mặt hàng điện tử, may mặc, giày da, chế biến gỗ, cơ khí đã tạo ra một lượng CTR công nghiệp nói chung và CTNH nói riêng khá lớn Việc quản lý các
Trang 39Bảng 2.5 Chất thải công nghiệp phát sinh tại một số tỉnh, thành phố năm 2010
Đơn vị tính: tấn/ngày Loại đô thị Tỉnh/TP CTR công nghiệp không nguy hại CTR công nghiệp nguy hại
Trang 40Mức độ phát sinh CTNH công nghiệp trong các KCN tùy thuộc vào loại hình sản xuất chủ yếu CTNH phát sinh từ các KCN của khu vực phía Nam khoảng 82.000 - 134.000 tấn/năm, cao hơn các khu vực khác (gấp 3 lần miền Bắc
và khoảng 20 lần miền Trung) Gần một nửa số lượng chất thải công nghiệp phát sinh ở các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là tại Tp.HCM, Biên Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương Thực tế lượng phát sinh CTNH này có thể lớn hơn, do chưa được quản lý đúng cách và thống kê đầy đủ, nhiều loại CTNH được thu gom cùng với rác sinh hoạt rồi đổ tập trung tại các bãi rác công cộng Bảng 2.6 Khối lượng CTR công nghiệp nguy hại từ một số ngành công nghiệp điển hình tại các KCN thuộc vùng KTTĐ phía nam
(tấn/năm)
2 Ngành luyện kim (sản xuất thép) 5.410 - 11.840
3 Ngành sản xuất phương tiện giao thông và dịch vụ sửa chữa 21.972 - 21.315
5 Ngành sản xuất vật liệu xây dựng 8.130 - 12.770
6 Ngành hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật 8.855 - 14.941
ký chủ nguồn thải CTNH còn thấp, đặc biệt đối với các cơ sở sản xuất quy mô