Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 3/2018 - tháng 10/2019.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất nông nghiệp khác và đất chưa sử dụng, tập trung vào các đặc tính và tính chất của đất đai, cũng như các loại hình sử dụng đất tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
- Đánh giá điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thủy văn, của huyện Quế Võ.
Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội của huyện cần xem xét các yếu tố như dân số và lao động, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng và cơ cấu kinh tế Thực trạng sản xuất nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng, cùng với việc phân tích thị trường tiêu thụ nông sản để hiểu rõ hơn về tiềm năng phát triển kinh tế địa phương.
3.4.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Quế Võ
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2018 của huyện Quế Võ.
- Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Quế Võ.
3.4.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Quế Võ tỷ lệ 1/25.000
- Xác định và phân cấp các đặc tính và tính chất đất đai để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Quế Võ.
- Xây dựng các bản đồ chuyên đề từ các chỉ tiêu đã xác định.
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai.
- Mô tả các đơn vị đất đai.
3.4.4 Đề xuất hướng sử dụng và cải tạo các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện
- Cơ sở của việc đề xuất. Đề xuất hướng sử dụng và cải tạo các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện.
Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập tài liệu, số liệu và bản đồ từ các phòng ban như Thống kê, Tài nguyên và Môi trường, cũng như Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại huyện Quế là một bước quan trọng để đảm bảo thông tin chính xác và đầy đủ cho các nghiên cứu và phân tích liên quan đến phát triển địa phương.
Võ, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bắc Ninh, Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam, …
Chọn lọc số liệu là bước quan trọng trong việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và thống kê, giúp so sánh sự biến động chất đất theo thời gian nghiên cứu.
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp Điều tra dã ngoại trực tiếp ngoài thực địa, phục vụ xây dựng các bản đồ chuyên đề, điều tra xác định các LUT.
Kết hợp các phương pháp điều tra như điều tra trực tiếp, quan sát và khảo sát trực tuyến giúp thu thập thông tin chính xác và sát với thực tế nhất.
3.5.3 Phương pháp xây dựng các bản đồ chuyên đề
* Xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đất đai
Để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và đánh giá sự thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, cần lựa chọn các chỉ tiêu phân cấp như loại đất, địa hình tương đối, độ dày tầng canh tác, thành phần cơ giới, chế độ tưới và chế độ tiêu.
Loại đất là yếu tố tổng hợp phản ánh đặc tính chung của một khu vực đất, bao gồm các chỉ tiêu lý, hóa cơ bản và khả năng sử dụng Nghiên cứu này phân loại đất thành 7 loại chính tại huyện, bao gồm: Đất phù sa bồi hàng năm của hệ thống sông Hồng (Phb), Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng, Đất phù sa gley (Phg), Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, Đất phù sa úng nước (Pj), Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (B), và Đất xám bạc màu glây (by).
Địa hình tương đối (E) đóng vai trò quan trọng trong chế độ canh tác, ảnh hưởng đến các yếu tố như làm đất, tưới tiêu, khả năng giữ nước và tính chất đất Nó cũng liên quan đến việc bố trí cây trồng phù hợp Nghiên cứu này phân chia địa hình tương đối thành ba cấp độ: cao, vàn và thấp, phù hợp với đặc điểm địa hình của huyện Quế Võ.
Độ dày tầng canh tác (L) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng hấp thu dinh dưỡng của bộ rễ cây trồng, từ đó tác động đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng Đây cũng là chỉ tiêu cần thiết trong việc xây dựng bản đồ ĐVĐĐ Dựa vào đặc điểm thổ nhưỡng và kế thừa các nghiên cứu, độ dày tầng canh tác được phân chia thành ba cấp: trên 20 cm, từ 10 đến 20 cm và dưới 10 cm.
Thành phần cơ giới (C) có ảnh hưởng lớn đến yêu cầu sinh lý và sinh hóa của cây trồng, từ đó tác động đến việc áp dụng các công thức luân canh Nó cũng quyết định tính thấm nước, độ xốp và lượng khí trong đất, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình làm đất Trong nghiên cứu này, thành phần cơ giới được phân chia thành ba cấp độ: cơ giới nặng (sét, thịt nặng), cơ giới trung bình (thịt trung bình, thịt pha sét) và cơ giới nhẹ (cát, thịt pha cát, thịt nhẹ).
Chế độ tưới nước đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến năng suất và sự phát triển của cây trồng Nó được chia thành hai cấp độ khác nhau.
Tưới chủ động: Là những diện tích đất có hệ thống tưới đầy đủ, có thể chủ động được về nước tưới khi cần thiết.
Tưới bán chủ động là phương pháp tưới cho những diện tích đất mà hệ thống cống, kênh mương có khả năng cung cấp nước, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ từ bơm tát để đảm bảo hiệu quả tưới tiêu.
Chế độ tiêu (DR) có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và sự phát triển của cây trồng Hệ thống tưới được chia thành ba cấp độ khác nhau.
Tiêu chủ động: Là những diện tích đất có hệ thống tưới đầy đủ, có thể chủ động được về tiêu nước khi cần thiết.
Tiêu bán chủ động: Là những diện tích đất mà hệ thống cống, kênh mương có thể tiêu được nước nhưng cần phải có hỗ trợ của bơm tát.
Tiêu khó khăn: Là những diện tích đất khó khăn trong việc tiêu thoát nước, thường bị ngập úng trong thời gian dài.
* Xây dựng các bản đồ đơn tính
Dựa trên số liệu và tài liệu đã thu thập, bao gồm thông tin về hiện trạng sử dụng đất, phân tích các tính chất lý hóa của phẫu diện đất, cùng với các loại bản đồ như bản đồ nền tỷ lệ 1:25.000, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ thổ nhưỡng và bản đồ địa hình.
VN 2000…) đã thu thập của vùng nghiên cứu tiến hành xây dựng các loại bản đồ bằng việc ứng dụng phần mềm Arc GIS.
Theo điều tra năm 2002 của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, bản đồ đất huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã được xây dựng với tỷ lệ 1: 2.5000, kết hợp với điều tra bổ sung để hoàn thiện bản đồ loại đất của huyện này.
Dựa trên bản đồ đất tỉnh Bắc Ninh tỷ lệ 1:25000 năm 2002 của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, kết hợp với bản đồ địa hình huyện Quế Võ, nghiên cứu đã tiến hành gộp 5 cấp địa hình tương đối xuống còn 3 cấp chính: cao, bằng và trũng.
Kết quả nghiên cứu
Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới địa chính
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí huyện Quế Võ – Tỉnh Bắc Ninh
Huyện Quế Võ, thuộc tỉnh Bắc Ninh, nằm ở phía Đông trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng Huyện lỵ cách thành phố Bắc Ninh 10km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội 40km về phía Tây Nam, với tọa độ địa lý từ 21°04'00".
21 o 11’00” độ vĩ Bắc và từ 106 o 05’50” đến 106 o 17’30” độ kinh Đông; có diện tích 155,112 km2; vị trí tiếp giáp với các huyện sau:
- Phía Bắc giáp huyện Yên Dũng, Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
- Phía Nam giáp huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Đông giáp huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương;
- Phía Tây giáp huyện Tiên Du và thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Huyện Quế Võ nằm trên Quốc lộ 18, kéo dài 22km từ Nội Bài đến Quảng Ninh, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối phát triển kinh tế xã hội giữa huyện và các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Vĩnh Phúc.
Hệ thống sông ngòi tại tỉnh Bắc Ninh và huyện Quế Võ rất dày đặc, với mật độ lưới sông cao Huyện Quế Võ được bao quanh bởi ba con sông: sông Cầu ở phía bắc, tạo ranh giới với tỉnh Bắc Giang; sông Đuống ở phía nam, là ranh giới với huyện Gia Bình; và sông Thái Bình ở phía đông, phân định ranh giới với huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Quế Võ, nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, có địa hình chủ yếu bằng phẳng với độ dốc dưới 30 độ Một số đồi núi thấp như ở xã Phù Lương và Phù Lãng có độ cao từ 20-80m, nhưng chiếm diện tích nhỏ so với tổng diện tích tự nhiên Địa hình khu vực này nghiêng ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 3-5m.
Địa hình huyện thuận lợi cho việc phát triển giao thông, thủy lợi và cơ sở hạ tầng, từ đó mở rộng khu dân cư, khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Điều này tạo điều kiện cho việc xây dựng đồng ruộng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát triển rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
Quế Võ có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm nóng ẩm và lượng mưa dồi dào Nơi đây trải qua hai mùa rõ rệt trong năm: mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, với lượng mưa trung bình từ 100mm đến 312mm, thường không đồng đều qua các năm Trong mùa mưa, lượng mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa hàng năm, và nhiệt độ bình quân dao động từ 23,7 đến 29,1 độ C.
Mùa Khô: Lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 16
- 21 o C, lượng mưa/tháng biến động từ 20 - 56 mm Bình quân một năm có hai đợt rét nhiệt độ dưới 13 o C kéo dài từ 3 - 5 ngày.
Hàng năm, Việt Nam trải qua hai mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Gió mùa Đông Bắc diễn ra từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, trong khi gió mùa Đông Nam kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mang theo hơi ẩm và những cơn mưa rào.
Trung bình, khu vực này có khoảng 1.671,9 giờ nắng mỗi năm, với số giờ nắng thấp nhất vào tháng 2 (46,9 giờ) và cao nhất vào tháng 7 (202,8 giờ) Nhiệt độ trung bình hàng tháng dao động từ 23,4°C đến 29,9°C, với mùa nắng có nhiệt độ trung bình trên 23°C và mùa lạnh dưới 20°C Độ ẩm không khí trung bình là 83%, đạt mức cao nhất vào tháng 3 và tháng 4 (86% - 88%) và thấp nhất vào tháng 12 (77%).
Quế Võ có khí hậu thuận lợi cho nhiều loại cây trồng, góp phần phát triển nền nông nghiệp đa dạng Vào mùa đông, khu vực này có thể trồng các loại hoa màu ngắn ngày với giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, cần chú ý đến những hiện tượng thời tiết bất lợi như nắng nóng, lạnh, khô hạn và lượng mưa phân bố không đều, để có kế hoạch sản xuất hợp lý Một yếu tố hạn chế trong việc sử dụng đất là hiện tượng ngập úng do mưa lớn tập trung theo mùa, gây khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích canh tác.
Huyện Quế Võ nằm trong hệ thống thủy văn của Sông Thái Bình và Sông Hồng, với sự hiện diện của sông Tào Khê cùng mạng lưới kênh mương, hồ, và đầm phong phú.
Huyện sở hữu một hệ thống sông, kênh mương và hồ dày đặc với nguồn nước phong phú, đã được cải tạo đáng kể để phục vụ cho tưới tiêu, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống của người dân.
Toàn huyện có các loại đất:
- Đất phù sa được bồi hàng năm của hệ thống sông Hồng: được phân bố dọc theo sông Cầu, sông Đuống ở địa hình vàn và vàn thấp.
Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng có địa hình vàn cao và trung bình, với thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình Đất này ít chua, nghèo lân tổng số nhưng lại có lân dễ tiêu, kali tổng số và kali dễ tiêu ở mức cao, cùng với các chất dinh dưỡng khác ở mức trung bình Nhờ những đặc điểm này, loại đất này có khả năng thâm canh, mở rộng diện tích cây vụ đông và trồng lúa hiệu quả.
Đất phù sa gley của hệ thống sông Hồng nằm trên địa hình vàn thấp và vàn trũng, với thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng Để đạt năng suất cao và ổn định cho cây trồng, chủ yếu là lúa hai vụ, cần áp dụng biện pháp cải tạo hợp lý Việc chú trọng tiêu thoát nước, sử dụng vôi để khử chua và bón lân để tăng cường dinh dưỡng cho đất là rất quan trọng.
Đất phù sa có màu sắc đỏ vàng và có cấu trúc từ nhẹ đến trung bình, rất thích hợp cho việc trồng trọt Các loại cây trồng chính bao gồm hai vụ lúa và một vụ lúa kết hợp với một vụ rau màu có giá trị kinh tế cao Đặc biệt, việc quản lý nguồn nước tưới cho cây trồng là yếu tố quan trọng cần được chú trọng.
Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Quế Võ
Diện tích đất nông nghiệp là 9.454,68 ha, chiếm 60,95% diện tích tự nhiên Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: Đến 31/12/2018, đất trồng lúa có diện tích 8426,91 ha, chiếm 54,33% diện tích đất tự nhiên.
+ Đất trồng cây hàng năm diện tích 8294,77 ha, chiếm 53,08% diện tích đất tự nhiên.
+ Đất trồng cây lâu năm: tập trung chủ yếu tại các xã Phương Liễu, Nhân Hòa, Phù Lãng.
Cây lâu năm tại huyện chủ yếu được trồng rải rác ở các hộ gia đình hoặc kết hợp trong các trang trại nuôi trồng thủy sản, không có tính tập trung Tính đến ngày 31/12/2018, diện tích đất cây lâu năm là 132,14 ha, chiếm 0,85% tổng diện tích tự nhiên của huyện.
- Đất rừng phòng hộ: Toàn bộ là rừng phòng hộ diện tích 137,73 ha chiếm 0,89%, tập trung tại các xã Phù Lương, Châu Phong, Ngọc Xá, Phù Lãng.
- Đất nuôi trồng thủy sản là 884,54 ha, chiếm 23,47 % diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu tại các xã Cách Bi, Đức Long, Châu Phong, Phù Lương
- Đất nông nghiệp khác có diện tích 5,50 ha, chiếm 0,04 % tổng diện tích tự nhiên.
Bảng 4.1 thể hiện về hiện trạng sử dụng đất huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh năm 2018:
Bảng 4 1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Quế Võ năm 2018
I Tổng diện tích đất tự nhiên
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản
2.2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan
2.2.4 Đất xây dựng công trình sự nghiệp
2.2.5 Đất sản xuất, kinh doanh PNN
2.2.6 Đất có mục đích công cộng
2.3 Đất cơ sở tôn giáo
2.4 Đất cơ sở tín ngưỡng
2.5 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa
2.6 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối
2.7 Đất có mặt nước chuyên dùng
2.8 Đất phi nông nghiệp khác
3.1 Đất bằng chưa sử dụng
Nguồn Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Quế Võ (2018)
Bản đồ đơn vị đất đai huyện Quế Võ tỷ lệ 1/25.000
4.3.1 Xác định và phân cấp các đặc tính và tính chất đất đai để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trên địa bàn huyện Quế Võ
Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là cần thiết để đánh giá đất nông nghiệp, với yêu cầu các đơn vị đất đai phải phù hợp với loại hình sử dụng đất Việc lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu trong quá trình xây dựng bản đồ là rất quan trọng, nhằm đảm bảo các chỉ tiêu xác định đơn vị đất đai đáp ứng mục tiêu đánh giá mức độ thích hợp của chúng Theo FAO, các yếu tố trong xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cần tuân thủ các điều kiện cụ thể để đạt hiệu quả cao nhất.
- Có thể kế thừa trong các tài liệu hiện có hoặc có khả năng bổ sung và dễ dàng quan sát được trên thực tế.
- Có thể gộp thành các nhóm yếu tố, chỉ tiêu có mối quan hệ tương đối giống nhau đối với từng loại sử dụng đất.
Các yếu tố này có tính bền vững tương đối và ít có khả năng thay đổi nhanh chóng thông qua các biện pháp quản lý, trừ khi có những cải tạo lớn được thực hiện.
Cơ sở lựa chọn các chỉ tiêu và phân cấp trong chương trình đánh giá đất đai phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu và phạm vi sử dụng, đồng thời cần tuân thủ các nguyên tắc chung về xác định các LMU mà FAO đã đề ra.
Theo FAO, để đánh giá đặc tính đất đai trong vùng có diện tích nhỏ và khí hậu tương đồng, cần xem xét các yếu tố thổ nhưỡng như tính chất đất, địa hình, tình hình nước, và phân bố thực vật, động vật Những yếu tố này ảnh hưởng quyết định đến sức sản xuất và khả năng sử dụng đất, trong đó có yếu tố trội và yếu Việc sử dụng nhiều yếu tố để xác định đơn vị đất đai giúp tăng độ chính xác của các LMU và tạo ra nhiều bản đồ đất đai Tuy nhiên, điều này cũng gây khó khăn trong việc đánh giá và phân hạng do sự tồn tại quá nhiều đơn vị bản đồ với sự khác biệt không đáng kể về tính chất đất, không mang lại ý nghĩa lớn cho thực tiễn sử dụng đất.
Huyện Quế Võ, nằm trong vùng đồng bằng tỉnh Bắc Ninh, có địa hình bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Quế Võ, các chỉ tiêu phân cấp được xác định dựa trên điều kiện tự nhiên, đặc điểm và tính chất đất, cùng với nguồn dữ liệu có thể khai thác Các yêu cầu sử dụng đất trong vùng nghiên cứu được đối chiếu với thông tin về thổ nhưỡng, hiện trạng sử dụng đất và điều kiện tưới tiêu, đồng thời xem xét các yếu tố sinh thái như khí hậu và thủy văn Các chỉ tiêu trong bản đồ bao gồm loại đất, địa hình, độ dày tầng canh tác, thành phần cơ giới, chế độ tưới và chế độ tiêu, được thể hiện cụ thể trong bảng 4.2.
Bảng 4.2 Phân cấp chỉ tiêu phục vụ xây dựng bản đồ huyện Quế Võ Đặc tính đất đai
3.Độ dày tầng canh tác
4.3.2 Xây dựng các bản đồ đơn tính huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
4.3.2.1 Xây dựng bản đồ đơn tính huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh a Xây dựng bản đồ Loại đất (G)
Loại đất là yếu tố tổng hợp thể hiện đặc tính chung của vạt đất, phản ánh các chỉ tiêu lý, hóa, sinh học cơ bản Nó cung cấp khái niệm về khả năng sử dụng đất và các mức độ tốt xấu, đáp ứng nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Xây dựng bản đồ loại đất chủ yếu dựa vào phân loại đất, thông qua việc nghiên cứu các quá trình hình thành, đặc tính hình thái của các tầng chuẩn đoán và các tính chất của đất.
Theo kết quả điều tra bản đồ đất huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh năm 2002, đất huyện được phân chia thành 7 loại, với diện tích cụ thể của từng loại đất được trình bày trong bảng 4.3.
Bảng 4.3 Thống kê diện tích các loại đất của huyện Quế Võ
Đất phù sa của hệ thống sông Hồng được chia thành nhiều loại, bao gồm đất phù sa được bồi hàng năm, đất phù sa không được bồi, và đất phù sa glây Ngoài ra, còn có đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, đất phù sa úng nước, và đất xám bạc màu trên phù sa cổ Một loại khác là đất xám bạc màu glây, mỗi loại đất phù sa này đều có đặc điểm riêng biệt ảnh hưởng đến nông nghiệp và sinh thái khu vực.
Qua bảng số liệu 4.3, cho thấy:
Đất phù sa bồi hàng năm của hệ thống sông Hồng có diện tích 369,32 ha, chiếm 4,36% tổng diện tích đất được điều tra Loại đất này chủ yếu phân bố tại xã Hán Quảng và xã Đức Long.
Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng có tổng diện tích 905,97 ha, chiếm 10,68% tổng diện tích đất được điều tra Loại đất này chủ yếu phân bố tại xã Chi Lăng và xã Đào Viên.
Đất phù sa gley của hệ thống sông Hồng có tổng diện tích 3.373,65 ha, chiếm 39,79% tổng diện tích đất được điều tra Loại đất này chủ yếu phân bố ở các xã Bồng Lai, Đại Xuân và Ngọc Xá.
Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng chiếm 23,87% tổng diện tích 2.024,06 ha được điều tra, chủ yếu phân bố tại các xã Các Bi, Chi Lăng, Phù Lãng và Hàn Quảng.
- Đất phù sa úng nước: Diện tích 916,32 ha chiếm 10,81 % so với diện tích đất được điều tra Phân bố chính ở các xã Đại Xuân, Hán Quảng, Phù Lãng.
Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (B) có tổng diện tích 700,1 ha, chiếm 8,26% tổng diện tích đất được điều tra Khu vực này chủ yếu phân bố tại các xã Phương Liễu, Quế Tân và Nhân Hòa.
- Đất xám bạc màu glây: Diện tích 190,07 ha chiếm 2,24 % so với diện tích đất được điều tra Phân bố chính ở xã Bằng An và xã Chi Lăng.
Bảng 4.4 Phân bố loại đất theo các cấp hành chính tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Đơn vị
Địa hình tương đối có ảnh hưởng lớn đến chế độ canh tác, bao gồm làm đất, tưới tiêu, khả năng giữ nước và các tính chất khác của đất Nó cũng liên quan đến việc bố trí cây trồng hợp lý Huyện Quế Võ, nằm trong vùng đồng bằng, có địa hình tương đối được chia thành ba dạng rõ rệt: cao, vàn và trũng.
Qua quá trình điều tra, khảo sát và căn cứ vào bản đồ địa hình tỷ lệ
1/25.000 của huyện, đã xây dựng bản đồ địa hình tương đối của huyện Quế Võ với 3 cấp và diện tích theo phân cấp địa hình được trình bày ở bảng 4.5:
Bảng 4.5 Thống kê diện tích theo địa hình tương đối của huyện Quế Võ
Ký hiệu Địa hình tương đối
Qua bảng số liệu 4.5, cho thấy:
- Địa hình cao: có tổng diện tích 1.620,91 ha, chiếm 19,12 % diện tích đất điều tra trên địa bàn huyện Phân bố chính ở các xã Châu Phong, Đức Long, Phù
Đề xuất hướng sử dụng và cải tạo các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện
4.4.1 Cơ sở của việc đề xuất Đất đai là tư liệu sản xuất nông lâm nghiệp chủ yếu, là cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân Đây cũng chính là nền tảng tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Vì vậy, việc sử dụng tốt tài nguyên đất đai không chỉ góp phần đáp ứng mục tiêu an toàn lương thực mà còn quan hệ mật thiết đến sự phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị. Để thực hiện các nhiệm vụ trên việc đề xuất sử dụng đất cần quán triệt các quan điểm sau:
Việc khai thác đất đai cần phải được thực hiện một cách hợp lý, tiết kiệm và dựa trên cơ sở khoa học Sử dụng đất đúng mục đích không chỉ giúp đạt hiệu quả kinh tế cao mà còn đảm bảo sự phát triển sản xuất bền vững.
Để chống thoái hóa và phục hồi đất, cần chú trọng vào an toàn lương thực và cân bằng giữa dân số với áp lực tăng trưởng kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất bền vững Quản lý hiệu quả hệ thống nông nghiệp là yếu tố then chốt để tối đa hóa sản phẩm lâu dài và duy trì độ phì nhiêu của đất Đồng thời, cần sử dụng tài nguyên rừng một cách hợp lý để đáp ứng nhu cầu thương mại, chất đốt và xây dựng mà không gây thoái hóa đất và mất nguồn nước.
Nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp ngày càng gia tăng cả trong và ngoài khu vực, với yêu cầu chất lượng thực phẩm ngày càng cao Điều này tạo ra cả cơ hội và thách thức cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp trong tương lai.
Cần chú trọng nâng cao chất lượng thông qua các chương trình và dự án liên quan đến đa dạng sinh học, cải thiện cấu trúc thành phần đất, và tăng cường tỷ trọng các cây họ đậu cũng như cây bản địa, nhằm phù hợp với môi trường sinh thái của huyện.
4.4.2 Đề xuất hướng sử dụng và cải tạo các đơn vị đất đai trên địa bàn huyện
Cải tạo đất nhằm thay đổi các tính chất của đất theo hướng tích cực, phục vụ cho việc sử dụng hiệu quả Hiện nay, quyền sử dụng đất nông nghiệp tại huyện đã được giao cho người lao động, do đó, việc lựa chọn loại cây trồng phụ thuộc vào mục tiêu và khả năng của từng người sử dụng.
Việc định hướng sử dụng và cải thiện các LMU cần dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường và nhiệm vụ chính trị Cần đảm bảo sự phù hợp giữa mục tiêu phát triển chiến lược của Nhà nước, địa phương với yêu cầu của người sử dụng đất Mục tiêu cụ thể của huyện Quế Võ là đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ, cung cấp cho các huyện lân cận và đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi phù hợp với thị trường.
Từ các quan điểm và căn cứ khoa học cũng như thực tiễn, chúng tôi đề hướng sử dụng và cải tạo các LMU, được trình bày tại bảng 4.22:
Qua bảng trên cho ta thấy:
- Nhóm đất phù sa cần có những biện pháp cải tạo phải tăng cường bón phân vô cơ, bón vôi để khử chua, cải thiện hệ thống thủy lợi.
Để cải tạo nhóm đất xám, cần thực hiện các biện pháp như bón vôi, sử dụng phân hữu cơ và hóa học, xây dựng hệ thống thủy lợi hợp lý, và áp dụng phương pháp luân canh cây trồng.
Để cải tạo nhóm đất loang lổ, cần áp dụng biện pháp bón phân, đặc biệt là phân vô cơ, và xây dựng hệ thống thủy lợi hợp lý.
- Nhóm đất glây cần sử dụng biện pháp cải tạo đất là bón vôi, bón phân hữu cơ, xây dựng hệ thống thủy lợi.