Nghiên cứu được tiến hành nhằm phân tích thựctrạng và kết quả triển khai các giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu trên địa bànhuyện Hải Hậu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn với địa
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HÙNG MẠNH
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY DƯỢC
LIỆU
Ở HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Viết Đăng
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Hùng Mạnh
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Hải Hậu, Phòng Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, Chi cục Thống kê huyện Hải Hậu; Sở Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn tỉnh Nam Định và nhân dân địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôitrong quá trình nghiên cứu luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã
cổ vũ động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Hùng Mạnh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình, hộp viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất cây dược liệu 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan 5
2.1.2 Đặc điểm và vai trò của cây dược liệu 9
2.1.3 Nội dung nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu 12
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây dược liệu 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Thực tiễn phát triển sản xuất cây dược liệu ở một số quốc gia trên thế giới 17
2.2.2 Thực tiễn sản xuất cây dược liệu tại Việt Nam 19
2.2.3 Bài học rút ra từ thực tiễn sản xuất cây dược liệu trên thế giới và tại Việt Nam 21 Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Đặc điểm địa bàn 24
Trang 63.1.1 Đặc điểm tự nhiên 24
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của huyện 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 34
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 35
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 39
4.1 Thực trạng thực hiện các giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu tại huyện Hải Hậu 39
4.1.1 Giải pháp quy hoạch vùng sản xuất dược liệu 39
4.1.2 Giải pháp về đầu tư tăng cường hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu 46
4.1.3 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng lao động cho phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu 51
4.1.4 Giải pháp về liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm cây dược liệu ở huyện Hải Hậu 56
4.1.5 Kết quả và hiệu quả sản xuất cây dược liệu tại huyện Hải Hậu 59
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 61
4.2.1 Yếu tố về cơ chế chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới 61
4.2.2 Yếu tố về năng lực của các hộ sản xuất cây dược liệu 63
4.2.3 Yếu tố về năng lực của cán bộ địa phương và cơ sở về tổ chức thực hiện các giải pháp 65
4.2.4 Yếu tố thuộc về nguồn lực của địa phương trong tổ chức thực hiện các giải pháp 65
4.2.5 Các nhân tố khác 66
4.3 Một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 66
4.3.1 Hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất 66
4.3.2 Tăng cường liên kết, hợp tác trong phát triển sản xuất cây dược liệu 67
Trang 74.3.3 Phát triển thị trường tiêu thụ cây dược liệu 68
4.3.4 Giải pháp nâng cao năng lực tổ chức sản xuất của hộ 68
4.3.5 Giải pháp về quản lý thị trường 69
Phần 5 Kết luận và khuyến nghị 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Khuyến nghị 71
5.2.1 Về phía Nhà nước 71
5.2.2 Về phía tỉnh Nam Định 71
Tài liệu tham khảo 73
Phụ lục 75
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
GACP-WHO Thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu theo khuyến
cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO)
VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices) Thực hành sản
xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Hải Hậu năm 2014 - 2016 27
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện giai đoạn 2014 – 2016 29
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở vật chất của huyện Hải Hậu năm 2017 30
Bảng 3.4 Tổng giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế huyện Hải Hậu giai đoạn 2014-2016 31
Bảng 3.5 Bảng phân bổ số lượng mẫu điều tra 35
Bảng 4.1 Quy hoạch bố trí đất trồng dược liệu các xã, thị trấn 40
Bảng 4.2 Kết quả phát triển sản xuất cây dược liệu huyện Hải Hậu năm 2017 41
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện Quy hoạch phát triển sản xuất dược liệu trên địa bàn huyện Hải Hậu so với quy hoạch 42
Bảng 4.4 Đánh giá quy hoạch phát triển sản xuất cây dược liệu huyện Hải Hậu 45
Bảng 4.5 Khái quát một số chính sách thu hút đầu tư cho sản xuất dược liệu của huyện Hải Hậu 47
Bảng 4.6 Cơ sở hạ tầng cho sản xuất dược liệu huyện Hải Hậu năm 2017 48
Bảng 4.7 Đánh giá của người dân về kết quả các chính sách hỗ trợ CSHT cho sản xuất dược liệu trên địa bàn Hải Hậu 49
Bảng 4.8 Nhu cầu đầu tư CSHT cho phát triển sản xuất dược liệu 51
Bảng 4.9 Kết quả tập huấn nhân lực cho sản xuất cây dược liệu huyện Hải Hậu 53
Bảng 4.10 Tình hình khuyến nông trong sản xuất dược liệu huyện Hải Hậu 54
Bảng 4.11 Kết quả thực hiện giải pháp liên kết sản xuất – tiêu thụ cây dược liệu huyện Hải Hậu năm 2017 56
Bảng 4.12 Kết quả liên kết doanh nghiệp và người dân sản xuất dược liệu 57
Bảng 4.13 Lợi ích các bên nhận được khi tham gia liên kết 58
Bảng 4.14 Diện tích và một số đặc điểm của các loại cây dược liệu trên địa bàn huyện Hải Hậu năm 2017 60
Bảng 4.15 Kết quả và hiệu quả sản xuất cây dược liệu tại các xã điều tra (tính bình quân 1 sào/năm) 61
Bảng 4.16 Đánh giá của các doanh nghiệp, cơ sở thu gom về chính sách hỗ trợ phát triển 62
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của vốn sản xuất đến bình quân diện tích, sản lượng dược liệu của hộ trên địa bàn huyện Hải Hậu năm 2017 64
Bảng 4.18 Thông tin cơ bản về cán bộ điều tra 65
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP
Hình 3.1 Bản đồ huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 24
Hình 4.1 Sơ đồ kênh tiêu thụ sản phẩm dược liệu huyện Hải Hậu, 2017 57
Hộp 4.1 Quy hoạch phát triển sản xuất cây dược liệu huyện Hải Hậu khá tốt 45
Hộp 4.2 Trồng thìa canh chúng tôi được hỗ trợ nhiều lắm 51
Hộp 4.3 Ý kiến của người dân về khuyến nông địa phương 56
Hộp 4.4 Liên kết với hộ dân không cần hợp đồng nhưng vẫn chắc chắn 59
Hộp 4.5 Chúng tôi hầu như không nhận được hỗ trợ nào cả 63
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1. Tên tác giả: Nguyễn Hùng Mạnh
2. Tên luận văn: Giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh
Nam Định
3 Chuyên ngành: Kinh Tế Nông Nghiệp Mã số: 8620115
4. Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
5. Kết quả nghiên cứu chính
Dược liệu là cây trồng truyền thống, chủ lực của huyện Hải Hậu những nămgần đây, góp phần nâng cao thu nhập của hộ gia đình và phát triển kinh tế nông thônhiệu quả Tuy nhiên việc phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện còn tồn tại nhiềuvấn đề như việc phát triển ngoài quy hoạch còn diễn ra, quá trình sơ chế sản phẩmchưa thực sự hiệu quả, việc tiêu thụ sản phẩm chưa thống nhất, còn gặp nhiều khókhăn Do đó việc triển khai các giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu trên địa bànhuyện Hải Hậu là vô cùng cần thiết Nghiên cứu được tiến hành nhằm phân tích thựctrạng và kết quả triển khai các giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu trên địa bànhuyện Hải Hậu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn với địa phương
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tíchcác nhân tố ảnh hưởng tới triển khai các giải pháp phát triển cây dược liệu từ đó đềxuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các giải pháp phát triển cây dượcliệu ở huyện Hải Hậu trong những năm tới
Luận văn đã góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn có liênquan đến đề tài như: Khái niệm có liên quan tới phát triển cây dược liệu, vai trò và đặcđiểm của cây dược liệu, nội dung nghiên cứu các giải pháp phát triển cây dược liệucũng như các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất cây dược liệu Khái quát đượcmột số kinh nghiệm trên thế giới và Việt Nam từ đó rút ra bài học cho huyện Hải Hậutrong việc thực hiện các giải pháp phát triển cây dược liệu trong tương lai
Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn bao gồm phương:phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện các giải pháp phát triển cây dược liệu trên địa bàn huyện Hải Hậu thời gian qua được triển khai tập trung vào các nhóm giải pháp chính gồm quy hoạch vùng sản xuất dược liệu, giải pháp tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng lao động cũng như giải pháp về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cây dược liệu Kết quả thực hiện các giải pháp này đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại gồm
Trang 12điện, đường, thủy lợi, bể chứa rác thải cho khu vực trồng dược liệu, tổ chức mỗi năm
02 lớp tập huấn cho người dân ở các địa phương về sản xuất dược liệu, liên kết giữangười nông dân trồng dược liệu với 2 doanh nghiệp, 20 cơ sở kinh doanh, 1 HTX và 2
tổ hợp tác để tiến hành sản xuất và tiêu thụ dược liệu thuận lợi Kết quả triển khai cácgiải pháp là tổng diện tích trồng cây dược liệu của huyện tăng lên 640ha (2018), trong
đó chủ yếu hiệu quả kinh tế cao nhất là đinh lăng, thìa canh với giá trị sản xuất đạt hơn
20 triệu/ sào/ năm Hiệu quả sản xuất 2 loại dược liệu này khá cao, với chỉ tiêu thunhập hỗn hợp trên công lao động gia đình là 1,4 – 2,1 triệu đồng/ công/ năm
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bao gồm: cơ chế chính sách và quy hoạch của địa phương, năng lực của các hộ sản xuất dược liệu, năng lực cán bộ địa phương trong tổ chức thực hiện các giải pháp, nguồn lực thực hiện các giải pháp và các nhân tố khác.
Để thực hiện tốt các giải pháp phát triển cây dược liệu huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp, bao gồm: Hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất; Tăng cường liên kết hợp tác trong phát triển sản xuất cây dược liệu; Quản
lý và phát triển thị trường tiêu thụ; nâng cao năng lực tổ chức sản xuất của hộ.
Trang 13THESIS ABSTRACT
1. Author: Nguyen Hung Manh
2. Thesis title: Solution to develop medicinial plants in Hai Hau district, Nam Dinh province
4. Academic Institute: Vietnam National University of Agriculture
5. Results
Medicinal plants are the traditional and mainplant of Hai Hau district in recent years, which are contributing to increase the income of the household and develop the rural economy effectively However, the development of medicinal plants in the district
still has many problems such as the development outside the planning, preliminary
processing of products has not really effective, the consumption of products are not uniform and have many difficulties Therefore, the implementation solution to develop medicinal plants in Hai Hau district is very necessary The research was carried out to analyze the current status and results of implementation of solutions to develop medicinal plants in Hai Hau district with theoretical and practical implications.
The research objective is to assess the current situation and analyze the factorsaffecting the development of medicinal plant and propose solutions to improve theeffectiveness of the medicinal plant development in this district in the future
The thesis has contributed to the systematization of theoretical and practicalissues related to the topic such as: Concept related to the development of medicinalplants, roles and characteristics of medicinal plants, research content as well as factorsaffecting the development of medicinal plants Based on the experience in the worldand Vietnam, this thesis draws the lessons for Hai Hau district in the implementation
of solutions to develop medicinal plants in the future
The methods used include the method of descriptive statistics, the analyticalmethod, the comparison method
Research results show that the implementation of solutions to develop medicinal herbs in Hai Hau district in the past time has been focused on the main groups of solutions include planning pharmaceutical production areas, investment in technical infrastructure, solutions for training human resources and improving the quality of labor as well as solutions for linking in production and consumption of medicinal plants The implementation of these solutions has built up a modern infrastructure system including electricity, roads, irrigation, garbage storage for the medicinal plant area, organized two training courses for household every year, the association between the farmers with two
Trang 14pharmaceutical companies, 20 business establishments, 1 cooperative and 2 cooperative groups for the production and consumption of medicinal herbs As a result, the total area
of medicinal plant growing in the district increased to 640 hectares (2018), of which the highest economic efficiency was the production of polyscias and gymnema sylvestre with
a production value of more than 20 million / sao / year The production of these two drugs
is quite high, with a marginal income of 1.4 - 2.1 million VND / person / year.
Factors influencing the implementation of solutions for the development ofmedicinal plants in Hai Hau district, Nam Dinh province include: local policies andplanning, capacity of pharmaceutical producers, the capacity of local officials inorganizing the implementation of solutions, resources for implementation of solutionsand other factors
In order to successfully implement medicinal plant development solutions inHai Hau district, Nam Dinh province, a number of solutions should be implemented,including: complete medicinal planning area, strengthen cooperation in thedevelopment of medicinal plants; To manage and develop the consumption market;improve the capacity of production organization of the household
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam có một vị trí tự nhiên hiếm có, một mặt gắn liền với lục địa, mặtkhác lại thông với đại dương và nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu cónhiều nét độc đáo và đa dạng, thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ởvùng núi thấp phía Nam nên khí hậu mang tính chất Á - nhiệt đới vùng núi cao ởcác tỉnh phía Bắc Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự ưu đãi cho đất nước và conngười Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, thuận lợi cho phát triểnnguồn tài nguyên dược liệu Cộng đồng các dân tộc có nhiều kinh nghiệm nuôitrồng và sử dụng các loài cây, con làm thuốc Với trên 5.000 loài cây thuốc và vốntri thức bản địa sẽ là một kho tàng quý báu để triển khai các nghiên cứu nhằm tạo
ra các sản phẩm từ dược liệu
Nền y học cổ truyền Việt Nam vô cùng độc đáo đã bảo vệ sức khỏe cho dântộc ta suốt chiều dài lịch sử với phương châm “Nam dược trị nam nhân” Theo tổchức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số nông thôn và các nước đang pháttriển vẫn dựa vào thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe cộng đồng Ở các nước
có nền công nghiệp phát triển, ¼ số thuốc thống kê trong các đơn đều có chứa hoạtchất thảo mộc Còn tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục quản lý dược – Bộ Y tế,mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 50 – 60 nghìn tấn các loại dược liệu khác nhau,
sử dụng vào việc chế biến vị thuốc Y học cổ truyền, nguyên liệu ngành côngnghiệp dược hoặc xuất khẩu Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị KimTiến, mặc dù có tiềm năng thế mạnh rất lớn về tài nguyên dược liệu nhưng có mộtnghịch lý là hiện nay chúng ta mới chủ động được 25% nhu cầu, còn 75% còn lạichúng ta phải phụ thuộc nguồn nhập khẩu Hiện nay, với giá trị kinh tế to lớn, câydược liệu vừa được chú trọng khai thác tự nhiên và đưa vào sản xuất hàng năm ởnhiều khu vực miền núi, nông thôn vừa phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, lạivừa góp phần bảo vệ môi trường, gìn giữ nguồn dược liệu quý của dân tộc
Trên địa bàn tỉnh Nam Định hiện nay một số loại dược liệu chủ yếu nhưđinh lăng được trồng ở các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy, cây ngưu tấtđược trồng ở Vụ Bản, cây dây thìa canh được trồng ở các xã Hải Lộc, Hải Toàn(Hải Hậu)… Ngoài ra, cây hoa hòe trồng ở một số xã của các huyện: Giao Thủy,Xuân Trường…, cát cánh, đương quy, bạch truật được trồng tại Vụ Bản,
Trang 16Hải Hậu, hương nhu, bạc hà trồng tại các huyện Nam Trực, Trực Ninh… Với tiềmnăng sẵn có cùng với việc trên địa bàn tỉnh có nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất thuốc
từ thảo dược như Công ty CP Dược phẩm Nam Hà, Công ty TNHH Nam Dược,công ty TNHH Dược phẩm Hoa Sen, Chi nhánh công ty CP Dược phẩm TrườngThọ, công ty TNHH Dược Phẩm Hoàng Liên, công ty CP Dược phẩm PQA nênnhu cầu về nguồn cung nguyên liệu thảo dược là rất lớn Ngoài ra, trên địa bàn tỉnhhiện có 3 công ty và 20 hộ kinh doanh dược liệu… cũng là một trong những tiềmnăng lớn thúc đẩy sự phát triển các vùng trồng dược liệu của tỉnh
Huyện Hải Hậu là huyện ven biển của tỉnh Nam Định với diện tích 226
km2, là một trong những huyện đầu tiên đạt tiêu chí huyện nông thôn mới Nhậnthấy vai trò và tầm quan trọng của sản xuất cây dược liệu đối với đời sống, ngườidân huyện Hải Hậu đã bắt đầu chú trọng hơn đến mô hình phát triển kinh tế nàyvới các sản phẩm chủ lực là cây đinh lăng, thìa canh, hiện đang là nơi cung cấpnguồn dược liệu lớn cho các doanh nghiệp, như Công ty CP Traphaco, công tyTNHH Nam Dược Hiện nay diện tích trồng dược liệu trên địa bàn Hải Hậu là640ha, phân bổ rộng khắp trên địa bàn các xã, thị trấn trong đó tập trung chủ yếuvào các loại cây có giá trị kinh tế cao như đinh lăng, thìa canh, Hệ thống cơ sở hạtầng cho phát triển cây dược liệu của huyện đã được hoàn thiện hiện đại gồm điện,đường, thủy lợi, bể chứa rác thải cho khu vực trồng dược liệu Hàng năm, các xã,thị trấn tổ chức 02 lớp tập huấn cho người dân ở các địa phương về sản xuất dượcliệu đồng thời thúc đẩy mối liên kết giữa người nông dân trồng dược liệu với 2doanh nghiệp, 20 cơ sở kinh doanh, 1 HTX và 2 tổ hợp tác thành công đã góp phầnrất lớn trong việc phát triển sản xuất cây dược liệu trên toàn huyện thành công Kếtquả triển khai các giải pháp tổng thể cho phát triển cây dược liệu trên địa bànhuyện đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng, đặc biệt với hai nhóm câyđinh lăng, thìa canh với giá trị sản xuất đạt hơn 20 triệu/ sào/ năm, thu nhập hỗnhợp trên công lao động gia đình là 1,4 – 2,1 triệu đồng/ công/ năm Tuy nhiên, hiệnnay việc trồng và sản xuất cây dược liệu trên địa bàn huyện cũng gặp phải nhiềuvấn đề như việc phát triển ngoài quy hoạch của xã, thị trấn về cây dược liệu, việc
sơ chế sản phẩm còn thực hiện chưa thực sự hiệu quả, quá trình tiêu thụ sản phẩmcòn chưa thống nhất Để trả lời cho những câu hỏi trên, tác giả tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu ở
huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” nhằm tìm hiểu các giải pháp đã và đang triển
khai trên địa bàn huyện Hải Hậu để phát triển sản xuất cây dược liệu, từ đó đánh
Trang 17giá kết quả thực hiện các giải pháp và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiệncác giải pháp này trong thời gian tới nhằm ổn định và phát triển hơn nữa nghềtrồng cây dược liệu của Hải Hậu trong thời gian tới.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện các giải pháp phát triển sản xuất câydược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định thời gian qua, từ đó đề xuất những giảipháp chủ yếu để mỏ rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất cây dược liệu ở huyện HảiHậu, tỉnh Nam Định trong thời gian tới
-Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả và mở rộng sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu
ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung:
Nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu các giải pháp phát triển sản xuấtcây dược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bao gồm giải pháp quy hoạch vùngsản xuất, giải pháp đầu tư cơ sở hạ tầng, giải pháp về nhân lực, giải pháp về liênkết sản xuất và tiêu thụ dược liệu
Trang 18Số liệu thu thập thứ cấp được thu thập qua các năm 2015, 2016, 2017, sốliệu sơ cấp được tiến hành thu thập trong năm 2018.
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
Về lý luận, luận văn tập hợp, hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về phát triển sản xuất cây dược liệu trên các khía cạnh: Khái niệm và bản chất pháttriển sản xuất cây dược liệu, vai trò của phát triển sản xuất cây dược liệu, đặc điểmphát triển sản xuất cây dược liệu, nội dung phát triển sản xuất cây dược liệu, cácyếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây dược liệu và vận dụng vào nghiêncứu phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Về thựctiễn, luận văn đã trình bày với nhiều dẫn liệu và minh chứng về các nội dung pháttriển sản xuất cây dược liệu ở các nước: Trung Quốc, Thái Lan, cũng như ở ViệtNam nói chung và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển sản xuất câydược liệu ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Luận văn phân tích thực trạng việc thực hiện các giải pháp cho phát triểnsản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu; đánh giá kết quả và hiệu quả việc thựchiện các giải pháp; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các giảipháp, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất cây dược liệu ởhuyện Hải Hậu phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
TRIỂN SẢN XUẤT CÂY DƯỢC LIỆU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Cây dược liệu
Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặcbồi bổ cơ thể khi con người sử dụng Những loại cây này có khả năng tự sản sinhcác chất hóa học đa dạng để tồn tại ngoài tự nhiên tránh khỏi mọi đe dọa của côntrùng, nấm hay các động vật ăn thực vật Chính những hợp chất hóa học trong câylại đem lại các tác động có lợi lên cơ thể người Và có chứa nhiều dược tính tươngđương với các phương thuốc Tây tiên tiến ngày nay
Việc dùng cây dược liệu trong nhân dân ta đã có từ lâu đời Từ thời nguyênthủy, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinhnôn mửa hoặc rối loạn tiêu hóa, hoặc hôn mê có khi chết người, do đó cần có nhậnthức phân biệt được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được Kinhnghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài người biết lợi dụng tính chấtcủa cây cỏ để làm thức ăn mà còn dùng để dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùngnhững vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay trong lúc tự vệchống ngoại xâm Lịch sử nước ta cho biết ngay từ khi lập nước nhân dân ta đãbiết chế tạo và sử dụng tên độc để chống lại kẻ thù
Có thể thấy, việc phát minh ra thuốc đã có từ thời thượng cổ, trong quátrình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được Nguồn gốc tìm ra thức
ăn, thuốc và cây có chất độc chỉ là một Về sau dần dần con người mới biết tổngkết và đặt ra lý luận Hiện nay đi sâu và tìm hiểu những kinh nghiệm trong nhândân Việt Nam cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, con người đã sử dụnghàng vạn loài thực vật để làm thuốc Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm
và hiểu biết của con người, đến ngày nay đã hình thành các khuynh hướng khácnhau, chúng ta có thể phân biệt hai loại người làm thuốc Một loại chỉ có kinhnghiệm chữa bệnh, không biết hoặc ít biết lý luận Kinh nghiệm đó cứ cha truyềncon nối mà tồn tại, mà phát huy Những người có khuynh hướng này chiếm chủyếu tại các vùng dân tộc ít người Khuynh hướng thứ hai là những
Trang 20người có kinh nghiệm và có thêm phần lí luận, những người này chiếm chủ yếu ởthành thị và những người có cơ sở lí luận cho rằng vị Thần Nông là người phátminh ra thuốc Truyền thuyết kể rằng: “Một ngày ông nếm 100 loài cây cỏ để tìmthuốc, ông đã gặp phải rất nhiều loài cây có độc nên có khi một ngày ngộ độc đến
70 lần”, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là “Thần Nông bản thảo” Trong bộ này
có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là bộ sách thuốc cổ nhất Đông Y (chừng 4000năm nay) (Vũ Tuấn Minh, 2009)
Như vậy, trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm từ xưa cho đến ngày
nay chúng ta đã tìm ra rất nhiều loại cây thuốc quý với các tác dụng vừa có thể bồi
bổ tăng cường sức khỏe vừa chữa bệnh Thậm chí nhiều cây thuốc sở hữu dượctính có ích giúp điều trì các bệnh nan y, hiểm nghèo khó chữa Và trong thời đạinày do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ với các công cụ hỗ trợ hiệnđại, chúng ta đã có thể nghiên cứu và phân tích chính xác mọi thành phần có trongcây thuốc một cách chuẩn xác
2.1.1.2 Khái niệm phát triển
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh mộtcách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Theo Ngân hàng thế giới (WB): Phát triển trước hết là sự tăng trưởng vềkinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặcbiệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của conngười (World Bank, 1992)
Theo MITRE (2007), Phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bảntrong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành côngnghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trongquá trình tạo ra các thay đổi trên
Theo Air Force Policy Directive (2012), phát triển là một quá trình thay đổiliên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng nhữngthành quả tăng trưởng trong xã hội
Theo Amartya Sen (1988), Phát triển hay nói một cách đầy đủ hơn là pháttriển kinh tế xã hội của con người là phát triển nâng cao về đời sống vật chất vàtinh thần bằng phát triển sản xuất, tăng cường chất lượng các hoạt động văn hóa
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất,
Trang 21nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và
xã hội ở mỗi quốc gia
Tuy có rất nhiều những quan điểm khác nhau về sự phát triển, nhưng tómchung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất,phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị con người Mục tiêu chung củaphát triển là nâng cao các quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền tự
do công dân của mọi người dân
2.1.2.3 Sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất
- Khái niệm sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyênhoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Nếugiả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng các đầuvào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sốsản xuất:
Q = f(X1,X2,X3,….,Xn )
Trong đó: Q là số lượng một loại sản phẩm nhất định;
X1,X2,X3,….,Xn là lượng của một số yếu tố đầu vào
- Có hai phương thức sản xuất là:
Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấpcủa các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủyếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thịtrường
Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, sảnphẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy
mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh
và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao
Phát triển kinh tế thị trường phải hướng theo phương thức thứ hai Nhưngcho dù sản xuất theo hướng nào thì người sản xuất cũng phải trả lời được ba câuhỏi cơ bản là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?
Theo Mac, Lenin: Sản xuất hàng hóa dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tếtrong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùngcủa chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
Trang 22của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Hay nói một cách khác, sản xuấthàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán.
Tóm lại, sản xuất là quá trình tác động của con người và các đối tượng sảnxuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụđời sống con người
-Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
+ Vốn sản xuất: Vốn đối với quá trình sản xuất là vô cùng quan trọng.
Trong điều kiện năng suất lao động không đổi, khi tăng tổng số vốn sẽ dẫn tới tăngthêm sản lượng sản phẩm hàng hóa
+ Lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất.
Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là ngườilao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó, chất lượnglao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất
+ Đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với ngành
nông nghiệp, mà còn rất quan trọng trong ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ.Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đầu tư thêmvốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai
+ Khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sảnxuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho con người lao động vàtạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội
+ Một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất, mối
quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, các thành phần kinh tế,các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm… cũng có tácđộng đến quá trình sản xuất
2.1.2.4 Phát triển sản xuất cây dược liệu
Với những phân tích khái niệm trên, có thể hiểu phát triển sản xuất câydược liệu là quá trình tác động của con người nhằm tăng quy mô và chất lượng câydược liệu đáp ứng cho nhu cầu đời sống của con người
Cây dược liệu được khai thác từ hai nguồn: nguồn khai thác tự nhiên vàtrồng trọt Với khai thác tự nhiên, dược liệu được xếp vào “lâm sản ngoài gỗ”,
Trang 23với trồng trọt, cây dược liệu là một loại “nông sản” đặc biệt, bên cạnh những đặcđiểm chung của các các sản phẩm nông sản ra nó còn mang những đặc điểm riêngnhư sau :
Thứ nhất, mục đích sử dụng của cây dược liệu là để điều trị và hỗ trợ điều
trị bệnh
Thứ hai, chỉ tiêu đánh giá chất lượng của cây dược liệu là thông qua các
hàm lượng hoạt chất là những thành phần hóa học thường có tỷ lệ rất nhỏ trongdược liệu nhưng lại quyết định tác dụng của dược liệu
Thứ ba, diện tích trồng dược liệu thường rất nhỏ so với các cây nông sản
khác cũng đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng cho ngành Dược
Thứ tư, dược liệu là hàng hóa đặc biệt, khi thiếu thì giá bao nhiêu cũng
phải mua; khi thừa thì rất khó chuyển đổi mục đích sử dụng và tiêu hủy cũng rấtkhó khăn do ảnh hưởng đến môi trường (Vũ Tuấn Minh, 2009)
2.1.2 Đặc điểm và vai trò của cây dược liệu
2.1.2.1 Đặc điểm của cây dược liệu
Theo Vũ Tuấn Minh, 2009, cây dược liệu có các đặc điểm cơ bản sau:
Đa dạng về hình thức sử dụng: Các cây dược liệu được chia làm ba nhóm
(i) Nhóm cây cỏ được sử dụng trực tiếp để chữa trị bệnh Ví dụ: Rau má, gừng, lálốt, mã đề, kinh giới, tía tô (ii) Nhóm cây cỏ trước sử dụng qua bào chế Ví dụ:Cây sinh địa (địa hoàng), sâm, gừng, hà thủ ô, tam thất (iii) Nhóm cây cỏ làmnguyên liệu chiết xuất các chất có hoạt tính cao Ví dụ: Thanh cao hoa vàng, bạc
hà, hoa hòe
Đa dạng về chu kỳ sống: (i) Cây 1 năm: gừng, ngải cứu, sinh địa (ii) Cây 2
năm: mạch môn, cát cánh, bạch truột, nga truột (iii) Cây lâu năm: Cam, quýt,hồi, sứ, duối, gáo, thông, xoài…
Đa dạng về dạng cây: (i) Thân thảo mềm yếu: mã đề, lá lốt, ba kích, hà thủ
ô, bồ công anh (ii) Thân bụi: đinh lăng, nhân trần, hoàn ngọc (iii) Thân gỗ nhỏ:nhóm Citrus, hoa hòe, (iv) Thân gỗ lớn: hồi, quế, đỗ trọng, long não, canhkina
Đa dạng về phân bố: (i) Cây dược liệu phân bố trên nhiều địa hình, (ii)
Vùng ven biển: dừa cạn, hương phụ (iii) Vùng đồng bằng: bạc hà, hương nhu,bạch chỉ, sâm đại hành (iv) Vùng giáp ranh đồng bằng và trung du: sả, ngưu tất,
Trang 24rau má (v) Trung du: quế, hồi, sa nhân (vi) Núi cao: sâm, tam thất, đỗ trọng, sinh địa
Đa dạng về bộ phận sử dụng (phương pháp khai thác, thu hái) (i) Các cây
dược liệu khai thác rễ củ: sinh địa, hoài sơn, tam thất, sâm đại hành, trinh nữ, cỏtranh, ngưu tất (ii) Các cây dược liệu khai thác thân cành: quế, long não, (iii)Khai thác để chưng cất tinh dầu: bạc hà, xuyên tâm liên, thanh cao hoa vàng (iv) Khai thác nụ hoa quả: hoa hòe, hoa hồi, bồ kết
Cây dược liệu góp phần không nhỏ giúp chăm sóc, tăng cường sức khỏe,bồi bổ cơ thể và cả điều trị nhiều loại bệnh Với các loài cây có sẵn trong tự nhiên,bằng những kinh nghiệm đúc rút từ đời này qua đời khác con người đã để lại chohiện tại một kho tàng kinh nghiệm sử dụng cây dược liệu hết sức phong phú vàhiệu quả Trong phạm vi riêng biệt của ngành dược, các phương thức sử dụng câydược liệu cũng rất phong phú Ngoài việc sử dụng cổ truyền dùng nguyên dạnghay ở dạng bào chế, càng ngày các cây cỏ càng được sử dụng nhiều để chiết xuấtcác chất có tác dụng sinh lý hoặc có thể chuyển thành thuốc Hiện nay 80% thànhphần dược tính có trong các cây thuốc được triết xuất để làm một số phương thuốcTây như aspirin, mao địa hoàng, quinine… Xu hướng sử dụng các sản phẩm thuốc
và thực phẩm chức năng từ thiên nhiên để phòng và chữa bệnh đang dần trở nênphổ biến gần đây Nói chung việc chiết xuất các cây trong tự nhiên dễ dàng hơn và
rẻ tiền hơn việc tổng hợp hoàn toàn các chất đó Trong nhiều trường hợp, người tatìm đến các phương pháp bán tổng hợp Các cây dược liệu có vô số chất tổng hợp
mà việc chiết xuất thì mới bắt đầu được đề cập đến Người ta chỉ mới bắt đầuhướng việc sản xuất (chọn giống, dùng các chất tiền hoạt chất) ở các thực vật hạđẳng Ở các thực vật thượng đẳng chỉ mới được nghiên cứu ở một số ít loài Mặtkhác việc thống kê phân loại hệ thực vật ứng dụng trong y học còn thiếu tính hệthống, trong tương lai sẽ có nhiều triễn vọng và đem lại hiệu quả cao
Ngày nay, chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của việc điềutrị bằng hoá học nhưng đồng thời chúng ta vẫn phải công nhận rằng việc điều trịbằng cây cỏ theo nghĩa rộng có giá trị gần bằng hoá trị liệu ngay ở những nướcđược coi là tiên tiến nhất Và cho dù thuốc tân dược được dùng chủ yếu trong việcđiều trị bệnh hiện nay, thì vai trò của dược liệu trong việc chăm sóc sức khỏe cũngquan trọng không kém từ xưa cho đến nay Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấynhững cây thuốc trong tự nhiên và có thể sử dụng hàng ngày để
Trang 25tăng cường sức đề kháng, đồng thời có thể phòng và chữa bệnh Do vậy, việc điềutrị bệnh bằng phương pháp kết hợp đông, tây dưỡng đang được áp dụng ở hầu hếtcác châu lục, đặc biệt ở các nước Châu Á có hiệu quả rất cao Và ở Việt Nam cũngvậy, sử dụng các cây thuốc dược liệu trong việc hỗ trợ chữa bệnh giúp giảm thiểutác dụng phụ của các liệu trình thuốc Tân dược.
2.1.2.2 Vai trò của phát triển sản xuất cây dược liệu
Theo Nguyễn Hoàng Sơn (2014), phát triển sản xuất dược liệu và sản phẩm
từ dược liệu tại Việt Nam là cần thiết bởi nó có nhiều vai trò quan trọng cả về kinh
tế, văn hóa và xã hội bao gồm :
Thứ nhất, Đất nước ta, với một vị trí tự nhiên hiếm có, một mặt gắn liền với
lục địa, mặt khác lại thông với đại dương và nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa,khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đớiđiển hình ở vùng núi thấp phía Nam, đến khí hậu mang tính chất Á - nhiệt đớivùng núi cao ở các tỉnh phía Bắc Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự ưu đãi cho đấtnước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một tiềmnăng to lớn về tài nguyên cây thuốc nói riêng và tài nguyên d-ược liệu nói chung
Theo kết quả điều tra khảo sát của các nhà nghiên cứu khoa học đa ngànhkhác nhau cho biết, Việt Nam có được sự giầu có về đa dạng sinh học bao gồm 275loài có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài vừa ở cạn vừa
ở nước, 2.500 loài cá, 5.500 loài côn trùng Việt Nam có khoảng 12.000 loài thựcvật bậc cao có mạch (đã xác định tên của 8.000 loài), 600 loài nấm, 800 loài rêu vàhàng trăm các loài tảo lớn Trong đó có tới gần 4.000 loài thực vật bậc cao và bậcthấp được dùng làm thuốc, chúng được phân bố rộng khắp cả nước Với chiều dàihơn 3.260 km bờ biển, có nguồn tài nguyên sinh vật biển nhiệt đới rất phong phú
đa dạng về số lượng, giàu về hàm lượng Môi trường biển là cái kho ngoại hạngcung cấp các hoạt chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học cao, mà nhiều chất chothấy những đặc điểm cấu trúc chưa hề gặp ở các hợp chất thiên nhiên trên cạn
Thứ hai, Việt Nam có một nền y học dân tộc lâu đời với các tri thức sử
dụng các loại dược liệu, các bài thuốc có giá trị dùng để chữa các bệnh thôngthường và nan y Nền y học cổ truyền độc đáo đó bảo vệ sức khỏe cho dân tộc ta
Trang 26suốt chiều dài lịch sử với phương châm "Nam dược trị nam nhân", nếu chúng tabiết phát huy thì có thể nói có một nền tảng vững chắc để phát triển.
Thứ ba, hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, với xu hướng "Trở
về thiên nhiên" thì việc sử dụng các thuốc từ dược liệu của người dân ngày cànggia tăng, ít có những tác động có hại và phù hợp với qui luật sinh lý của cơ thểhơn Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giớivẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng(Akérelé) Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và "Hướng dẫn đánh giá y học
cổ truyền" năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chămsóc sức khoẻ ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả cũng như bảo đảmnguồn cung cấp những thuốc này
Thứ tư, dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng có giá trị kinh tế to lớn
hơn bất kỳ cây lương thực, thực phẩm nào (Có thể thu nhận trên 100 triệuđồng/ha) Trong mấy thập niên qua, hàng chục ngàn tấn dược liệu đã được khaithác tự nhiên và trồng trọt hàng năm, đem lại lợi nhuận lớn Cây thuốc được pháttriển có thể giúp cho nhiều vùng nông thôn, miền núi xóa đói giảm nghèo, pháttriển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường
Thứ năm, dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng tồn tại cùng với thế hệ
sinh thái rừng, nông nghiệp và nông thôn, lại có mối tương quan chặt chẽ giữa đadạng sinh học cây thuốc và đa dạng văn hóa, y học cổ truyền, gắn với tri thức ydược học của 54 dân tộc, là bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam
Thế kỷ 21 là thế kỷ sinh học và công nghệ sinh học Dược liệu và tàinguyên di truyền – tài nguyên tái tạo Nắm được, phát huy được tài nguyên ditruyền là nắm kinh tế, nắm tương lai; dùng thế mạnh dược liệu đẩy mạnh côngnghiệp dược trở thành ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn, làm cho nhân dân ta có đủthuốc tốt, khỏe mạnh và giàu có, đất nước ta kinh tế - xã hội phát triển, tạo nênhình ảnh Việt Nam – một cường quốc về dược liệu đó là ý nguyện của Dân tộc
2.1.3 Nội dung nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất cây dược liệu
2.1.3.1 Giải pháp quy hoạch vùng sản xuất cây dược liệu
Nghiên cứu nội dung này nhằm chỉ rõ hiện nay huyện đã có quy hoạch gì, nộidung quy hoạch về diện tích đất trồng cây dược liệu, diện tích đất theo loại cây,
Trang 27diện tích đất theo xã, quy hoạch vùng sản xuất tập trung được thực hiện ra sao.Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhất để có thể đưa phát triển dượcliệu trên địa bàn huyện Hải Hậu thích hợp với sự phát triển của thị trường.
Nghiên cứu cũng sẽ tìm hiểu kết quả thực hiện quy hoạch sản xuất cây dượcliệu: Diện tích sản xuất cây dược liệu nằm trong quy hoạch; diện tích sản xuất câydược liệu nằm ngoài quy hoạch từ đó có thể thấy được kết quả công tác quy hoạchsản xuất cây dược liệu của huyện Hải Hậu hiện nay đang ở giai đoạn nào và cầnphải điều chỉnh ra sao để đạt hiệu quả trong thời gian tới, đồng thời nhận diện cácvấn đề bất cập về quy hoạch sản xuất cây dược liệu từ kết quả phân tích thực trạngquy hoạch, kết quả thực hiện quy hoạch và kết quả điều tra, phỏng vấn nông dân -cán bộ xã -cán bộ huyện
2.1.3.2 Giải pháp về đầu tư tăng cường hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu
Cơ chế chính sách của huyện, tỉnh, doanh nghiệp, về khuyến khích, hỗ trợđầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng cho phát triển sản xuất cây dược liệu là một trongnhững giải pháp có vai trò vô cùng quan trọng quyết định đến việc phát triển sảnxuất dược liệu, đặc biệt là thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, cơ sở thu gom, chếbiến và tiêu thụ dược liệu trên địa bàn các xã, thị trấn Thực trạng cơ sở hạ tầngcho phát triển sản xuất cây dược liệu của huyện Hải Hậu bao gồm các nhân tố nhưGiao thông, thuỷ lợi cho vùng sản xuất cây dược liệu, phương tiện vận chuyển,khu tập kết sản phẩm cây dược liệu, kho chứa, hệ thống phơi, sấy; thiết bị bảoquản, Nếu như cơ sở hạ tầng cho phát triển sản xuất cây dược liệu được phát triểntốt, đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy đầu tư, nhân rộng các hình thức sảnxuất dược liệu nhất là các cây dược liệu chính, từ đó góp phần tăng thu nhập chongười dân và phát triển kinh tế địa phương
2.1.3.3 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng lao động cho phát triển sản xuất cây dược liệu ở huyện Hải Hậu
Nhân lực có vai trò là động lực cũng là nhân tố quyết định việc phát triển câydược liệu cả về số lượng và chất lượng Nếu nhân lực cho sản xuất dược liệu đôngđảo, có trình độ, tay nghề cao thì sẽ hạn chế được rủi ro và tăng giá trị sản xuất củacác loại cây trồng dược liệu và ngược lại Do đó, nghiên cứu sẽ tiến hành tổng hợpcác chương trình, dự án có liên quan đến đào tạo nhân
Trang 28lực, tập huấn kỹ thuật sản xuất cây dược liệu, hội nghị đầu bờ, đã được triển khai
ở huyện Hải Hậu (chương trình của Hội nông dân, Sở Nông nghiệp và PTNT, Cácdoanh nghiệp liên kết sản xuất, tiêu thụ cây dược liệu) từ năm 2015-2017 từ đólàm rõ kết quả và hiệu quả các chương trình, dự án này trong thực tế triển khai tạicác xã, thị trấn trên địa bàn huyện Bên cạnh đó, cần đánh giá được thực trạng taynghề, trình độ kỹ thuật sản xuất cây dược liệu, số năm kinh nghiệm sản xuất câydược liệu; nguồn thông tin để học hỏi kỹ thuật sản xuất cây dược liệu trong các hộđiều tra; mức độ ứng dụng KHCN trong sản xuất cây dược liệu, để làm rõ hiệuquả của sản xuất cây dược liệu hiện nay
2.1.3.4 Giải pháp về liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm cây dược liệu ở huyện Hải Hậu
Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ dược liệu nói riêng, nông sản hàng hóanói chung là nhu cầu thiết yếu trong giai đoạn hiện nay để đảm bảo cho sự ổn địnhcủa cả thị trường đầu vào và đầu ra cho sản xuất dược liệu, các loại nông sản khác
Vì vậy, nó có vai trò rất lớn trong ổn định sản xuất, tiết kiệm chi phí và hỗ trợ chongười sản xuất dược liệu cũng như ổn định nguồn cung cấp dược liệu cho cácdoanh nghiệp, cơ sở thu gom chế biến Nghiên cứu sẽ tiến hành thu thập, tổng hợpcác thông tin về việc triển khai giải pháp ở huyện Hải Hậu về liên kết sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm cây dược liệu như: Tổ chức hội nghị thu hút doanh nghiệp sảnxuất và tiêu thụ cây dược liệu huyện; Thành lập các HTX, THT chuyên ngành vềsản xuất và tiêu thụ cây dược liệu; vai trò của chính quyền địa phương trong việcthực hiện các giải pháp này và hiệu quả của nó đối với phát triển sản xuất dượcliệu nói chung trên địa bàn xã, thị trấn của Hải Hậu
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây dược liệu
2.1.4.1 Yếu tố về cơ chế chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Sự hỗ trợ của nhà nước cho việc phát triển ngành nông nghiệp nói chung vàphát triển dược liệu nói riêng luôn là điều được các cá nhân, tổ chức kinh doanhmong muốn Ngoài ra cây dược liệu là ngành truyền thống, có giá trị kinh tế cao,góp phần lớn vào sự phát triển của kinh tế nông thôn, vì thế sự hỗ trợ đó lại càngquan trọng hơn bao giờ hết
Phát triển khu trồng dược liệu tại địa phương gắn liền tới đất đai khu vực
đó, nên những chính sách về đất đai rất quan trong cho việc phát triển dược liệu
Trang 29Chính sách vể chuyển đổi mục đích sử dụng đất kém hiệu quả sang trồng dượcliệu, chính sách về đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến chuyển đổimục đích sử dụng đất, thuế đất nông nghiệp, chính sách về khuyến nông, khuyếncông… đều có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của loại cây trồng này.
Nói tóm lại, một chính sách được ban hành có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và lĩnh vực sản xuất dược liệu nóiriêng
Việc quy hoạch vùng sản xuất dược liệu nói chung của Việt Nam phụ thuộcvào quy hoạch phát triển nông nghiệp của địa phương và toàn huyện Như vậy việc
mở rộng, phát triển sản xuất cây dược liệu đều phụ thuộc rất lớn vào quy hoạchchung phát triển nông nghiệp địa phương Quy hoạch cấp xã, huyện về dược liệukhông được mâu thuẫn với quy hoạch chung của tỉnh và ngành về phát triển nôngnghiệp (Khuyết danh, 2016)
2.1.4.2 Yếu tố về năng lực của các hộ sản xuất cây dược liệu
- Vốn: Bất kỳ một ngành sản xuất nào cũng cần đến vốn để đầu tư và mở rộng
quy mô sản xuất Các hộ nông dân cũng không nằm ngoài quy luật này, đủ vốn họ sẽ
có đủ điều kiện để đầu tư mua sắm các yếu tố đầu vào như giống, máy móc, trang thiết
bị, đầu tư cho nhân công, nhà xưởng Vốn mà hộ nông dân bỏ qua không nhất thiết làvốn hộ tự có mà đó có thể là vốn đi vay từ bạn bè, anh chị em hàng xóm, người thân;vốn chung với các thành viên khác hoặc hộ nông dân khác đối với các hộ liên kết vớinhau cùng tiến hành sản xuất; vốn vay ngân hàng hoặc vốn được hỗ trợ từ các công ty
mà hộ trực tiếp liên kết như công ty, cơ sở kinh doanh
- Quy mô và phương thức sản xuất: Các hộ nông dân khác nhau có diện
tích, quy mô sản xuất khác nhau Đất có thể là đất được giao, đất cho thuê giữa các
hộ hoặc đất thổ cư được hộ nông dân san lấp, cải tạo nên Diện tích đất càng lớnthì lượng vốn bỏ ra cho giống, trụ cột, nhân công lao động,… càng lớn nhưng đicùng với đó là lợi nhuận cũng sẽ lớn theo Do vậy quy mô sản xuất có ảnh hưởngtrực tiếp đến phát triển sản xuất cây dược liệu của hộ nông dân
Một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển sản xuất câydược liệu đó là vị trí và chất đất Vị trí có ảnh hưởng rất lớn tới việc có thể pháttriển mô hình sản xuất dược liệu trên quy mô lớn được hay không, có thuận lợitrong việc mở rộng diện tích trồng cây dược liệu hay không Chất đất có ảnhhưởng lớn tới việc chất lượng cây dược liệu so với nhu cầu của thị trường và nhàsản xuất dược liệu như thế nào
Trang 30- Kỹ thuật sản xuất: các hộ nông dân với kỹ thuật sản xuất áp dụng
trong việc trồng dược liệu khác nhau sẽ đem lại kết quả và hiệu quả khác nhau.Nếu hộ áp dụng kỹ thuật sản xuất mới, tiến bộ, tuân thủ theo các quy chuẩn kỹthuật mới, khắt khe của thị trường trong và ngoài nước sẽ tạo điều kiện thuận lợicho cây dược liệu phát triển vươn ra thị trường rộng hơn và ngược lại
- Trình độ chyên môn năng lực của các chủ thể sản xuất: Đây là yếu tố
có ảnh hưởng trực tiếp quan trọng đến quá trình và quyết định sản xuất của hộnông dân Năng lực của các chủ thể quản lý được thể hiện qua: trình độ quản lý tàisản, nhân công lao động; khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất ; khả năng ứng xử trước các biến động về thị trường, các rủi ro; khả năng vềvốn và trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật…
Trình độ chuyên môn của các hộ nông dân sản xuất dược liệu phụ thuộc vàorất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như về việc hộ có tham gia đầy đủ các lớptập huấn của xã về trồng và chế biến bảo quản cây dược liệu hay không ? kinhnghiệm sản xuất của hộ ,… Đây là yếu tố ảnh hưởng “tỷ lệ thuận” với việc pháttriển sản xuất dược liệu của hộ, trình độ càng cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật càng tốt thì hộ càng có cơ hội và khả năng phát triển sản xuất mô hình củamình và ngược lại
2.1.4.3 Yếu tố về năng lực của cán bộ địa phương và cơ sở về tổ chức thực hiện các giải pháp
Từ những chính sách của Đảng và nhà nước đã đề ra nhằm hỗ trợ sự pháttriển ngành nghề thì năng lực của các cán bộ địa phương là một trong những yếu tốảnh hưởng lớn tới hoạt động giải pháp phát triển sản xuất dược liệu cũng nhưnhững lĩnh vực Nông nghiệp- Thủy sản khác
Đội ngũ cán bộ địa phương có tuổi đời trẻ, có trình độ văn hóa và chuyênmôn cao cũng là một yếu tố rất quan trọng trong việc học hỏi và nâng cao kinhnghiệm quản lý, sáng tạo đổi mới cách làm phù hợp với xu thế chung, và đặc điểmcủa địa phương
Năng lực của cán bộ khuyến nông: đây là bộ phận luôn đi đầu về việc tuyêntruyền, vận động cũng như giải đáp các thắc mắc của người dân trong quá trình sảnxuất Họ là người sẽ chuyển giao khoa học công nghệ, ứng dụng tiến bộ mới tớingười dân, vì vậy yêu cầu đối với cán bộ khuyến nông là rất cao, đặc biệt trongthời đại mới này, khi mà công nghệ đổi mới từng ngày thì nhiệm vụ của họ
Trang 31càng quan trọng là cập nhật những công nghệ phù hợp giúp người dân trong việcsản xuất, sơ chế.
Do vậy, việc đào tạo bồi dưỡng năng lực tổ chức, quản lý cho đội ngũ cán
bộ địa phương là cực kỳ quan trọng, đây là đội ngũ thường trực tại địa phương,hiểu rõ hơn cả thực trạng của vùng, vì vậy cần có sự đào tạo, nâng cao trình độ cho
họ để việc triển khai thực hiện nhiệm vụ tại địa phương có hiệu quả
2.1.4.4 Yếu tố về nguồn lực của địa phương trong tổ chức thực hiện các giải pháp
Việc triển khai thực hiện các giải pháp phát triển dược liệu thành công haykhông trên địa bàn các xã, thị trấn phụ thuộc rất lớn vào nguồn lực tài chính củacác địa phương Nguồn lực này phụ thuộc vào hai nguồn chính: ngân sách địaphương và khoản đầu tư của các doanh nghiệp trong việc triển khai các hoạt độngcho sản xuất nông nghiệp nói chung cũng như cho việc phát triển sản xuất dượcliệu nói riêng trong địa bàn nghiên cứu Nhân tố này đóng vai trò vô cùng quantrọng trong triển khai thực hiện các giải pháp ở các xã, thị trấn bởi vì nếu nguồnlực tài chính dồi dào, nhân lực triển khai giải pháp có hiểu biết về phát triển câydược liệu thì sẽ giúp cho việc triển khai thực hiện các giải pháp diễn ra nhanh hơn,thuận lợi hơn và ngược lại
2.1.4.5 Các yếu tố khác
Nhóm các yếu tố khác ảnh hưởng tới việc triển khai các giải pháp phát triểncây dược liệu gồm rất nhiều yếu tố có ảnh hưởng khác nhau tới sự phát triển câydược liệu như điều kiện tự nhiên khí hậu, vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng cho phát triểndược liệu…ngoài ra còn các nhân tố khác như phong tục tập quán trong sản xuấtnông nghiệp nói chung và sản xuất dược liệu nói riêng, việc tham gia vào các tổchức hợp tác trên địa bàn để chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất và kinh doanhdược liệu của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Thực tiễn phát triển sản xuất cây dược liệu ở một số quốc gia trên thế giới
2.2.1.1 Liên kết trong sản xuất cây dược liệu tại Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có nền Y học cổ truyền lâu đời nhất thế giới (hơn
4000 năm phát triển) và cũng là quốc gia xuất khẩu dược liệu lớn nhất thế giới
Trang 32Nhà nước Trung Quốc đã chủ trương quy hoạch những vùng, miền mà điềukiện thiên nhiên phù hợp nhất với cây dược liệu đồng thời có những chính sáchquản lý và thúc đẩy phát triển bền vững nguồn dược liệu như:
- Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân địa phương vềtầm quan trọng sử dụng bền vững nguồn dược liệu và giá trị kinh tế
- Thu hoạch nguồn tài nguyên dược liệu một cách bền vững trên cơ sở có kếhoạch quản lý, dự trữ, bảo quản lâu bền và quy định xuất khẩu hàng năm hợp lý
- Phát triển những chương trình nghiên cứu khoa học về trồng trọt, thu hái,
sơ chế, bảo quản, sử dụng dược liệu
Từ những năm 1980, lượng gieo trồng cây dược liệu đã tăng lên nhanhchóng tại Trung Quốc Hiện nay có khoảng 340.000 nông dân tham gia vào canhtác cây dược liệu trên diện tích khoảng 137.594 ha với 250 loài cây dược liệu
Về xuất khẩu, Trung Quốc đứng đầu danh sách 12 nước xuất khẩu dược liệunhiều nhất thế giới Tổng sản lượng xuất khẩu cây dược liệu trung bình một nămgiai đoạn 1991-2003 của Trung Quốc đạt khoảng 150.600 tấn, chiếm 1/3 tổng giátrịxuất khẩu toàn cầu
2.2.1.2 Thực tiễn trong sản xuất cây dược liệu tại Thái Lan
Chính phủ Thái Lan đã phê duyệt kế hoạch Chiến lược phát triển côngnghiệp sản phẩm dược liệu giai đoạn 2005 - 2009 thành kế hoạch quốc gia vào29/6/2004 Kế hoạch đã chỉ định một số Văn phòng Chính phủ thuộc các BộNgành và trường Đại học khác nhau chịu trách nhiệm thực hiện và hoàn thànhnhững mục tiêu trong mỗi giai đoạn phát triển
Cơ quan phát triển Y học cổ truyền và Y học thay thế Thái Lan (DTAM) phốihợp với các tổ chức liên quan khác chịu trách nhiệm thực thi các chính sách của nhànước thông qua các hoạt động: củng cố kiến thức y học cổ truyền, dược liệu thông quanghiên cứu phát triển; chuyển giao kiến thức cho cộng đồng và nhân viên y tế thôngqua đào tạo, triển lãm và nhiều kênh truyền thông khác; phát triển nhiều sản phẩm từdược liệu và dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ y học cổ truyền; sản xuất dược liệu trongngành công nghiệp dược phẩm và trong các bệnh viện
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhu cầu dược liệu và thuốc từ dược liệutại Thái Lan tăng lên rõ rệt Tồng số lượng các nhà máy sản xuất thuốc từ dượcliệu tăng lên 39,6% từ con số 616 năm 1997 lên 861 năm 2003
Trang 33Thái Lan cũng chủ trương sản xuất cây dược liệu tại các bệnh viện, năm
2000 có 168 bệnh viện cộng đồng, 22 trung tâm y tếvà 7 bênh viện đa khoa cấpvùng tiến hành trồng cây dược liệu và sản xuất thuốc từ dược liệu để phục vụ nhucầu sử dụng của cộng đồng trong vùng Bệnh viện có những hợp đồng sản xuất vớinhững nông dân ở các vùng lân cận để trồng cây dược liệu Điều này không nhữngcung cấp dược dược liệu cho bệnh viện mà đồng thời tạo ra công ăn việc làm chongười lao động
Tuy nhiên, so với thuốc Tân dược, thuốc từ dược liệu tại Thái Lan chỉchiếm con số rất nhỏ (năm 2001 khoảng 2%) Một phần nguyên nhân là do hầu hếtcác nhà máy sản xuất thuốc từ dược liệu tại Thái Lan đều hoạt động trên quy mônhỏ và vừa, rất ít phát triển thành công nghiệp quy mô lớn
2.2.2 Thực tiễn sản xuất cây dược liệu tại Việt Nam
Việt Nam là nước được thiên nhiên ưu đãivới 5000 loài cây làm thuốc.Trong khoảng 50 năm trở lại đây, Việt Nam đã tiến hành nhập nội khoảng 300 loàicây thuốc từ nhiều nước trên thế giới, trong đó có khoảng 60 loài trở thành hànghóa như Actiso, Đương quy, Bạch chỉ
Theo số liệu báo cáo tại Hội nghị dược liệu Toàn quốc lần thứ II (2007),nhu cầu dược liệu tại Việt Nam hàng năm khoảng 120.000 tấn, trong đó phục vụcho công nghiệp dược khoảng 50.00 tấn, cho Y học cổ truyền khoảng 50.000 tấn
và xuất khẩu khoảng 20.000 tấn Tuy nhiên, lượng dược liệu nhập khẩu hàng nămtại nước ta khoảng 90% và chủ yếu từ Trung Quốc
Nguồn dược liệu ở nước ta được khai thác từ hai nguồn là thu hái tự nhiên
và trồng trọt Trong đó, có khoảng 136 loài cây thuốc được trồng trọt với khả năngcung khoảng 15.500 tấn
Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích thúc đẩy pháttriển cây dược liệu như quyết định 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030; Chỉ thị25/1999/CT-TTg về đẩy mạnh công tác phát triển Y dượchọc cổ truyền; Quyết định 35/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược chămsóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010
Tuy nhiên, trên thực tế, diện tích trồng dược liệu trên cả nước còn rất nhỏ.Mặc dù chưa có những thống kê, nhưng nguồn dược liệu trồng hầu như chưa
Trang 34phục vụ đủ nhu cầu sản xuất trong nước mà vẫn phải nhập khẩu như Cúc hoa,Đương quy, Ngưu tất Các mô hình trồng dược liệu còn nhỏ lẻ, mang tính tự pháthoặc do đặt hàng của doanh nghiệp với quy mô nhỏ.
2.2.2.1 Trồng cây dây thìa canh tại huyện Nho Quan, Ninh Bình
Không có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, hơn 1 năm qua từ năm 2016,người dân Nho Quan đã đi đến nhiều địa phương để tham quan học hỏi các môhình, nắm bắt quy trình trồng chăm sóc các loại cây dược liệu, đặc biệt là kỹ thuậttrồng cà gai leo; tìm thuê đất; thương thảo với các đối tác để tạo chuỗi liên kết baotiêu sản phẩm đầu ra…Anh Trịnh Xuân Tiên một trong những thành viên tham giavào mô hình chia sẻ: Để đáp ứng nhu cầu về sản lượng lớn và chất lượng sản phẩmtheo đúng tiêu chuẩn chúng tôi đã khá vất vả Trước tiên là lựa chọn vùng trồng đểđảm bảo có nước nguồn sạch để tưới và xa khu dân cư, nhà máy, bệnh viện đểtránh ô nhiễm Cũng may mắn là nhóm đã chọn được khu đất tại xã Đồng Phongnày, tuy chất đất không được tốt lắm nhưng đảm bảo liền vùng, liền khoảnh, hơnnữa chính quyền, người dân địa phương cũng ủng hộ và tạo rất nhiều điều kiệnthuận lợi để chúng tôi triển khai mô hình
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, chúng tôi cũng phải đảm bảo để cây sinhtrưởng, phát triển gần giống với tự nhiên nhất, không phân hóa học, không thuốc trừsâu hay hóa chất độc hại Ngay từ cây giống đã phải lựa chọn kỹ càng, không có mầmbệnh; toàn bộ diện tích đất được phủ kín bằng nilon để tránh cỏ dại, sâu bệnh; phânbón hoàn toàn bằng phân hữu cơ; cỏ được làm bằng tay, do vậy rất tốn công laođộng…Ông Bùi Xuân Trường, Kiểm soát HTX Nông nghiệp Đồng Phong cho biết:Vùng trồng dược liệu này trước đây bà con HTX chủ yếu trồng lúa và một số cây màukhác, tuy nhiên đây là vùng đất cao, chất đất kém nên năng suất cây trồng thấp, hiệuquả kinh tế kém dẫn đến tình trạng nhiều hộ bỏ hoang không gieo cấy rước thực trạngnày, HTX đã đứng ra truyền thông về mục đích, ý nghĩa của mô hình trồng dược liệunày để bà con hiểu và đồng ý cho thuê lại diện tích cấy, trồng kém năng suất đó vớimức 1 tạ thóc/sào, thời hạn 6 năm Bước đầu, chúng tôi đánh giá mô hình triển khaikhá tốt, bà con nông dân đồng thuận, phấn khởi vì vừa có được tiền cho thuê ruộng,vừa có thêm thu nhập từ việc làm thêm cho đơn vị
Bà Trần Thị Mùi, thôn Phong Lai 2 cho hay: Nhà tôi có 7 sào ở vùng này,trước đây cấy lúa, vụ được, vụ mất, làm chẳng có công, giờ mỗi năm gia đình cầmchắc 1 tạ thóc, đã vậy chúng tôi còn có thêm công ăn việc làm, ngày 130-140nghìn đồng, tháng nào đi làm đều thì được 3-4 triệu đồng, công việc lại nhẹ
Trang 35nhàng, chỉ nhặt cỏ, vun cây, tưới thì có máy móc rồi Bà con chúng tôi rất vuimừng Sau bao nhiêu khó khăn, vất vả hiện nay 6,5 ha cà gai leo đã bắt đầu cholứa thu hoạch đầu tiên Năng suất dự kiến khoảng 3 tấn khô/ha/lứa, tương đươngsản lượng 18-19 tấn Sản phẩm được Công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ caoThăng Long ở Hà Nội bao tiêu toàn bộ Trước đó, Công ty đã hướng dẫn quy trìnhlàm đất, trồng cây và cách chăm sóc, lấy mẫu để kiểm nghiệm dược tính ở Việndược liệu Việt Nam cho kết quả rất khả quan, hàm lượng dược tính cao Với giá 40nghìn đồng/kg dự kiến riêng đợt thu đầu tiên này sẽ cho doanh thu khoảng 700triệu đồng Ngoài ra, giống cây cà gai này cho thu hoạch 3 lần/năm và thu khoảng
10 lứa mới phải trồng lại Như vậy, cây dược liệu này sẽ cho thu nhập cao hơn hẳn
so với các cây trồng khác
Được biết, để đáp ứng nhu cầu sản xuất lâu dài, hiện nay, nhóm hộ trồngdược liệu này đang tiếp tục đầu tư xây dựng nhà sơ chế, mua sắm hệ thống lò sấy,máy cắt và băm Họ cũng đang có dự định mở rộng vùng nguyên liệu, ngoài cây
cà gai leo sẽ đưa vào trồng một số cây dược liệu khác Tuy nhiên, qua thực tế sảnxuất, họ gặp khá nhiều khó khăn về vốn, khoa học công nghệ Ngoài ra, hiện tại, ởngay vùng đang sản xuất hệ thống tiêu nước không được nạo vét thường xuyên,vào mùa mưa, nước không tiêu thoát kịp dẫn tới một số diện tích trồng cà gai leo
bị thối rễ Anh Trịnh Xuân Tiên cho biết: Cái khó nhất là vấn đề đất đai, hiện naychúng tôi vẫn đang phải tự tìm kiếm, thương thảo với người dân, HTX để thuê đất
mà thời gian thuê được rất ngắn (Dân Việt, 2018)
2.2.2.2 Trồng cây dược liệu tại huyện Khoái Châu, Hưng Yên
Để nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất trồng cây ăn quả, nhiều nông dân củahuyện Khoái Châu đã trồng xen canh các loại cây dược liệu, rau, màu ngắn ngàydưới tán cây ăn quả Đây được xem là cách làm “lấy ngắn nuôi dài”, góp phần tăngthêm thu nhập cho nhiều hộ gia đình trong huyện, nhất là ở những diện tích cây ănquả mới trồng Hiện nay, huyện Khoái Châu có trên 3.500ha trồng các loại cây ănquả như: nhãn, chuối, cam, bưởi, táo… Trong đó, diện tích trồng xen canh câydược liệu, cây ngắn ngày dưới tán các cây ăn quả khoảng 350ha, tập trung chủ yếu
ở các xã Tân Dân, Dạ Trạch, Bình Minh, Tứ Dân, Tân Châu… Đối với cây dượcliệu được lựa chọn trồng xen chủ yếu là cây địa liền và tam thất; cây ngắn ngàychủ yếu là lạc, đỗ tương, rau, màu các loại
Cách đây 5 năm, anh Nguyễn Văn Lưu ở xã Tân Dân chuyển đổi gần 6 sàoruộng sang trồng cam đường canh, cũng từ đó anh bắt đầu trồng xen thêm cây địa
Trang 36liền bên dưới cam Địa liền thường xuống giống vào tháng Giêng đến tháng Chạpmới cho thu hoạch Năng suất củ địa liền của gia đình anh Lưu trung bình đạt 7 - 8tạ/sào (đạt 80% so với năng suất địa liền trồng thuần), được thương lái đến tận nơithu mua với giá 17.000 - 18.000 đồng/kg, trừ mọi chi phí cho thu lãi từ 9 - 10 triệuđồng/sào/năm Những năm mới trồng, cam đường canh chưa cho thu hoạch thìnguồn thu từ củ địa liền đã giúp gia đình anh có thêm thu nhập để “lấy ngắn nuôidài” Sau khi trồng 3 năm, cam đường canh cho quả, năm nay gia đình anh ước thu4,5 - 5 tấn quả Tính ra, tổng thu nhập từ cam và địa liền đạt 120 - 130 triệuđồng/năm, sau khi trừ mọi chi phí Cây nghệ có đặc tính củ giống có thời gian
“ngủ” trong đất khá dài, thường sau trồng 35 – 45 ngày mới mọc lên khỏi mặt đất,tranh thủ thời gian này nông dân xã Chí Tân đã trồng xen thêm vụ lạc xuân, nhưnglạc trồng trước nghệ 20 - 30 ngày Sang tháng 2 âm lịch, khi cây lạc đã phát triểnđược 3 - 5 lá, người dân tiến hành trồng nghệ vào giữa các hàng lạc
Không những vậy, nông dân ở đây còn trồng xen thêm hai hàng đỗ tươngvào mỗi luống nghệ Đậu tương là giống cây trồng ngắn ngày nên cho thu hoạchđầu tiên Mỗi sào đậu tương trồng xen cho năng suất khoảng 40kg Sau khi thuhoạch, thân, rễ cây đậu tương nông dân dùng để phủ vào gốc cây nghệ, còn hạt đậutương được nghiền nhỏ hoặc ngâm, ủ thành phân hữu cơ để bón cho cây nghệ Đếncuối tháng 5, đầu tháng 6, nông dân Chí Tân bắt đầu thu hoạch lạc Mặc dù trồngxen nhưng năng suất lạc vẫn bằng 80% năng suất so với lạc trồng thuần, nguồn thu
từ lạc đủ chi phí các loại vật tư cho trồng nghệ
Lạc, đậu tương trồng xen trong nghệ được coi là cây trồng phụ vừa tăngthêm thu nhập, vừa hạn chế cỏ dại phát triển, giữ ẩm, hạn chế rửa trôi dinh dưỡng,xói mòn đất và còn có vai trò hỗ trợ đáng kể làm phân bón cho cây trồng chính –cây nghệ, bởi lạc, đậu tương đều là cây họ đậu nên trong rễ, thân, lá có chứa vikhuẩn cố định đạm có thể bổ sung lượng đạm cho cây nghệ
Từ nhiều năm nay, chị Bùi Thị Nguyệt ở thôn Tân Hưng, xã Chí Tân đãtrồng nghệ theo cách như vậy Chị Nguyệt cho biết: “Gia đình tôi có 8 sào nghệtrồng xen lạc, đậu tương, cách làm này không chỉ tận dụng được quỹ đất mà còngiúp tận dụng được nguồn phân hữu cơ vi sinh bón cho nghệ, tiết kiệm được chiphí, công chăm sóc, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích Chính vìthế nên dù giá lạc cao hay thấp thì chúng tôi vẫn trồng xen với nghệ” (HươngGiang, 2017)
Trang 372.2.3 Bài học rút ra từ thực tiễn sản xuất cây dược liệu trên thế giới và tại Việt Nam
Thông qua nghiên cứu việc sản xuất cây dược liệu ở các nước trên Thếgiới và tại Việt Nam thời gian qua, nghiên cứu rút ra một số bài học cho doanhnghiệp khi liên kết với các "nhà" còn lại khi phát triển cây dược liệu như sau:
Thứ nhất, việc hoàn thiện chủ trương, chính sách thúc đẩy sản xuất cây
dược liệulà rất cần thiết và cấp bách Nhà nước cần xây dựng hành lang pháp lýnhằm quy định rõ cơ chế ràng buộc trách nhiệm gắn với cơ chế chia sẻ lợi ích giữacác bên tham gia quá trình sản xuất một cách hài hòa
Thứ hai, vai trò của cơ quan Nhà nước địa phương là nhân tố quan trọng
đảm bảo thành công Thể hiện rõ nhất là vai trò của Nhà nước trong việc quyhoạch, đầu tư và phát triển các vùng dược liệu
Thứ ba, các địa phương,vùng nên xác định thúc đẩy tiêu thụvà phát triển
cây dược liệu qua hợp đồng văn bản trước tiên đối với một số sản phẩm chủ lực,mang tính đặc trưng cho việc sản xuất
Thứ tư, để thúc đẩy sản xuất hiệu quả thì việc tuyên truyền và phổ biến lợi
ích cho các hộ nông dân trồng dược liệu là hết sức cần thiết
Thứ năm, cần tăng cường vai trò và có biện pháp cụ thể hỗ trợ sự phát triển
của HTX nông nghiệp, tổhợp tác, trang trại Các tổ chức này có vai trò là nhân tốtrung gian, làm cầu nối giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trong sản xuất, pháttriển cây dược liệu
Thứ sáu, công tác quy hoạch sản xuất và vùng dược liệu phải đi trước một
bước
Thứ bảy, các doanh nghiệp phải đi tiên phong trong ký và thực hiện hợp
đồng tiêu thụ dược liệu kết hợp đầu tư ứng trước cho nông dân về giống, vật tưphân bón, hướng dẫn kỹ thuật để nông dân sản xuất đúng quy trình kỹ thuật tạo rasản phẩm có chất lượng theo yêu cầu của hợp đồng
Trang 38PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hải Hậu là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Nam Định, có tọa độ địa
lý từ 190 59' đến 200 15' vĩ độ Bắc, 1060 11' đến 1060 21' kinh độ Đông, có vị trínhư sau:
Phía Bắc Giáp Với Huyện Trực Ninh Và Huyện Xuân Trường,
Phía Đông Giáp Huyện Giao Thủy Và Vịnh Bắc Bộ, Phía Tây
Giáp Huyện Nghĩa Hưng Và Huyện Trực Ninh, Phía Nam Giáp
Vịnh Bắc Bộ
Cực nam của huyện là cửa Lạch Giang của sông Ninh Cơ, nằm ở thị trấnThịnh Long Bờ biển Hải Hậu dài dọc theo thị trấn Thịnh Long và các xã Hải Hòa,Hải Triều, Hải Chính, Hải Lý, Hải Đông và giáp với huyện Giao Thủy Huyện HảiHậu có 2 mặt giáp sông và một mặt giáp biển tạo cho huyện có lợi thế về giaothông đường thủy và phát triển kinh tế biến
Hình 3.1 Bản đồ huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Trang 39Trên địa bàn huyện có 2 tuyến đường chính đi qua là Quốc lộ 21 từ thànhphố Nam Định chạy dọc từ phía Bắc xuống phía Nam huyện và đường tỉnh lộ 56chạy từ các huyện Vụ Bản, Ý Yên, qua huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, sang GiaoThủy Đây là điều kiện thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán cây dược liệu củahuyện với các huyện khác trong tỉnh hoặc với các thương nhân ở tỉnh ngoài tới địabàn để tham gia hoạt động chế biến, kinh doanh sản phẩm dược liệu trên địa bàncác xã, thị trấn trong huyện.
3.1.1.2 Thời tiết, khí hậu, thủy văn
Hải Hậu là một vùng đặc trưng cho kiểu vùng sinh thái ven biển của đồngbằng Sông Hồng, do vậy đặc điểm khí hậu của huyện là khí hậu gió mùa, một năm
Nhìn chung, khí hậu của huyện Hải Hậu thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp,
là một vùng ven biển với hệ thống ruộng chủ yếu là vàn cao và vàn thấp, chỉ có một sốdiện tích nhỏ bị nhiễm mặn vì vậy rất thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông nghiệpđặc biệt là các loại cây trồng Với đặc điểm này Hải Hậu có điều kiện thâm canh sảnxuất, tăng vụ với điều kiện được bố trí các loại cây trồng thích hợp cho từng hệ thốngcanh tác Tuy nhiên, do vị trí ven biển nên với điều kiện thời tiết hiện nay thì cũng gặpkhông ít khó khăn trong phát triển của sản xuất như thiên tai thường xuyên xảy ra do
đó khó có thể điều chỉnh lịch thời vụ cho phù hợp, đặc biệt là khó khăn trong tưới tiêunước khi vào mùa mưa và tình trạng nhiễm mặn xảy ra ngày càng thường xuyên Bêncạnh đó là tình trạng nước biển dâng, lấn vào bờ làm cho diện tích đất của huyện suygiảm 80ha từ năm 2014-2015
Điều kiện tự nhiên khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng đồngthời yêu cầu Hải Hậu cần phải có kế hoạch sản xuất thích hợp cũng như bố trí hệthống cây trồng vật nuôi thích hợp để tận dụng lợi thế tự nhiên
Hải Hậu là vùng đất cửa sông và giáp biển, được bao bọc bởi hệ thống sôngNinh Cơ và sông Sò, ngoài ra với 32km đê biển, 31km đê sông lớn với hàng chụcsông đào như sông Múc, sông Trệ, sông Cửa Khúc, sông Xẻ Giữa, sông Xẻ Tây, XẻĐông đã tạo nên cho huyện một hệ thống thuỷ lợi rất tốt thuận lợi cho việc phát
Trang 40triển sản xuất nông nghiệp Huyện còn có hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnhvới hệ thống sông xương cá đã tạo nên hệ thống tưới tiêu hoàn toàn bằng trọng lựcvới 100% diện tích được tưới tiêu chủ động Ngoài ra huyện còn có hệ thống đầumối cầu cống tưới tiêu đảm bảo tiêu thoát nhanh, tiếp nước tốt, hàng năm tiếp từ
17 - 18 lần thuỷ triều vào các chân ruộng giúp cải tạo đất Với hệ thống thuỷ lợinhư vậy, sản xuất nông nghiệp của huyện có được điều kiện để đẩy mạnh thâmcanh tăng năng suất và phát triển đa dạng hoá (UBND huyện Hải Hậu, 2016)
3.1.1.3 Tài nguyên đất đai
Hải Hậu có tổng diện tích đất tự nhiên là 22.895,59 ha, về thổ nhưỡng đất đaiHải Hậu là vùng đất trẻ, nhóm đất có diện tích lớn nhất là nhóm đất phù sa trẻ(Fluvisols) chiếm 56,1% diện tích tự nhiên, tiếp đến là nhóm đất mặn chiếm 19,4%,các loại đất khác có đất cát, đất phèn, đất có sản phẩm Feralitic chiếm diện tích nhỏ
Đánh giá chất lượng môi trường đất
Tiến hành lấy 14 mẫu đất của 8 xã trong toàn huyện đại diện cho 03 loạihình đất sản xuất có thể chuyển đổi sang trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tếcao nói chung và cây dược liệu theo định hướng của UBND huyện:
- Đất chuyên lúa: Đất trồng 2 vụ lúa hoặc 1 lúa – 1 màu Đây là diện tích
nằm trong vùng quy hoạch chuyển đổi sang các loại cây trồng khác của các xã
- Đất chuyên màu: Đất trồng màu được chia thành 2 nhóm: (i) Đất trồng
màu trong vườn nhà Đây là diện tích đất vườn của các hộ, trên diện tích này cónhiều loại rau màu, cây ăn quả cùng được trồng xen canh với nhau; (ii) Đất chuyênmàu ngoài đồng: là vùng đất vàn cao, không chủ động tưới tiêu, được người dânchuyên canh rau màu các loại
- Đất gò vườn (vượt ao): Tại các khu vực chuyển đổi từ trồng lúa hiệu quả
thấp, - chủ yếu là vùng trũng Các xã đã quy hoạch thành vùng chuyển đổi sangnuôi trồng thủy sản Diện tích đất gò được hình thành sau khi hệ thống ao nuôitrồng thủy sản được hình thành Diện tích gò và diện tích ao sau khi chuyển đổithường là 40 – 60% diện tích
Kết quả phân tích cho thấy 100% số mẫu đất đều có hàm lượng các kim loạidưới ngưỡng giới hạn tối đa cho phép theo QCVN 03:2008/BTNMT về Quy chuẩn
kỹ thuật Quốc gia về giới hạn cho phép của Kim loại nặng trong đất Đây là một
trong những thuận lợi ban đầu cho các doanh nghiệp muốn phát triển vùng trồngdược liệu theo tiêu chuẩn GACP – WHO
Hiện trạng sử dụng đất