1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giám sát sự lưu hành của virus cúm gia cầm type a h5n6 tại một số chợ buôn bán gia cầm sống, phân tích một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch cúm gia cầm tại tỉnh lạng sơn giai đoạn 2016

92 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 7,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAMTRẦN ĐỨC TRỌNG GIÁM SÁT SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS CÚM GIA CẦM TYPE A/H5N6 TẠI MỘT SỐ CHỢ BUÔN BÁN GIA CẦM SỐNG, PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BÙNG PHÁT DỊC

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN ĐỨC TRỌNG

GIÁM SÁT SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS CÚM GIA CẦM TYPE A/H5N6 TẠI MỘT SỐ CHỢ BUÔN BÁN GIA CẦM SỐNG, PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BÙNG PHÁT DỊCH CÚM GIA CẦM TẠI TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2016-2017”

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ thực hiện luận án đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Đức Trọng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Thú y đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trịnh Đình Thâu, PGS TS Tô Long Thành là những người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Giải phẫu - Tổ chức, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp

đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Cơ quan Thú y vùng II, cùng tập thể cán bộ, công nhân viên Phòng Dịch tễ, Trạm Chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật - Cơ quan Thú

y vùng II; Phòng Dịch tễ - Cục Thú y; Chi cục thú y tỉnh Lạng Sơn đã tạo mọi điều kiện tốt nhất và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu.

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này.

Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Đức Trọng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tai 2

1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Khái niệm bệnh cúm gia cầm 3

2.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm trên thế giới 3

2.2.1 Tình hình chung 3

2.2.2 Tình hình dịch cúm H5N6 trên thế giới 7

2.2.3 Tình hình dịch cúm H7N9 trên thế giới 8

2.3 Tình hình bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam 8

2.3.1 Tình hình chung 8

2.3.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm H5N6 10

2.4 Căn bệnh 12

2.4.1 Đặc điểm sinh học phân tử của virus cúm gia cầm 12

2.4.2 Kháng nguyên của virus cúm gia cầm 14

2.4.3 Tính thích ứng đa vật chủ của virus cúm 17

2.4.4. Cơ chế xâm nhiễm gây bệnh của virus cúm A trong tế bào vật chủ 17

2.4.5 Độc lực và khả năng gây bệnh của virus cúm gia cầm 19

2.4.6 Triệu chứng 19

2.4.7 Bệnh tích 19

2.4.8 Chẩn đoán bệnh 20

Trang 5

2.5 Hoạt động giám sát cúm gia cầm tại Việt Nam 21

2.5.1 Kết quả giám sát 21

2.5.2 Kết quả phân tích virus cúm gia cầm tại Việt Nam 22

2.6 Công tác phòng, chống bệnh cúm gia cầm 22

2.7 Nguyên lý kỹ thuật realtime PCR 23

2.8 Yếu tố nguy cơ 25

2.8.1 Khái niệm 25

2.8.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ 25

2.8.3 Tỷ số chênh OR (Odds Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu .25 2.8.4 Lựa chọn đối chứng. 26

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.2 Nội dung nghiên cứu 27

3.2.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2010-2016 27

3.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Lạng Sơn, giai đoạn 2011-2017. 27

3.2.3. Nghiên cứu bệnh chứng để xác định các yếu tố nguy cơ làm phát sinh dịch cúm gia cầm. 27

3.2.4. Nghiên cứu lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ gia cầm sống 27

3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học hồi cứu 28

3.3.2. Phương pháp nghiên cứu bệnh chứng (case - control study) để xác định các yếu tố nguy cơ làm phát sinh dịch cúm gia cầm. 28

3.3.3. Phương pháp Nghiên cứu lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ gia cầm sống và kỹ thuật chẩn đoán bệnh cúm gia cầm trong phòng thí nghiệm bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) 33

Phần 4 Kết quả và thảo luận 36

4.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn từ năm 2010 -2016 36 4.2 Tình hình dịch cúm gia cầm tại lạng sơn từ năm 2011- 2017 40

4.3. Phân tích một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch cúm gia cầm 43

4.3.1 Phân tích yếu tố nguy cơ nuôi hỗn hợp nhiều loại gia cầm 43

4.3.2 Phân tích yếu tố vệ sinh khử trùng chuồng trại bằng hóa chất. .44

4.3.3. Phân tích yếu tố nguy cơ trại chăn nuôi gần chợ buôn bán gia cầm sống 45

Trang 6

4.3.4 Phân tích yếu tố nguy cơ không áp dụng tiêm phòng. 45

4.3.5. Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ giết mổ gia cầm gần khu vực chăn nuôi 46

4.4. Kết quả giám sát virus cúm a/h5n6 tại các chợ gia cầm sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 47

4.4.1 Kết quả lấy mẫu tại các chợ 47

4.4.2 Tỷ lệ nhiễm virus cúm type A trong các mẫu bệnh phẩm 49

4.4.3 Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype H5 trong các mẫu bệnh phẩm 50

4.4.4 Tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype N6 trong các mẫu giám sát 52

4.4.5 Lưu hành virus cúm A/H5N6 qua các vòng lấy mẫu 53

4.4.6 Lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ lấy mẫu 55

Phần 5 Kết luận và đề nghị 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Đề nghị 58

Tài liệu tham khảo 59

Phụ lục 64

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 - 2017

5

Bảng 2.2. Tóm tắt các chủng virus cúm gia cầm tại Việt Nam, 2003 - 2016 22

Bảng 3.1 Số lượng phiếu điều tra trong nghiên cứu bệnh chứng 31

Bảng 4.1. Bảng so sánh mật độ chăn nuôi gia cầm của Lạng Sơn với một số tỉnh 37 Bảng 4.2. Bảng so sánh mật độ chăn nuôi gia cầm giữa các huyện của tỉnh Lạng Sơn 38

Bảng 4.3 Tình hình dịch bệnh tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2017 41

Bảng 4.4. Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ nuôi hỗn hợp nhiều loại gia cầm 43 Bảng 4.5. Kết quả phân tích vệ sinh khử trùng chuồng trại định kỳ hàng tuần 44 Bảng 4.6. Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ trại chăn nuôi gần chợ buôn bán gia cầm sống 45

Bảng 4.7. Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ không áp dụng tiêm phòng trong chăn nuôi gia cầm. 46

Bảng 4.8. Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ giết mổ gia cầm gần khu vực chăn nuôi 46 Bảng 4.9 Kết quả lấy mẫu tại các chợ 48

Bảng 4.10 Tỷ lệ nhiễm virus cúm type A trong các loại mẫu 49

Bảng 4.11 Tỷ lệ nhiễm virus cúm Subtype H5 trong các loại mẫu 50

Bảng 4.12 Tỷ lệ nhiễm virus cúm Subtype N6 trong các loại mẫu 52

Bảng 4.13 Lưu hành virus cúm A/H5N6 qua các tháng lấy mẫu 54

Bảng 4.14 Tỷ lệ nhiễm virus cúm A giữa các chợ lấy mẫu 56

Bảng 4.15 Tỷ lệ nhiễm virus cúm Subtype H5 giữa các chợ lấy mẫu 56

Bảng 4.16 Tỷ lệ nhiễm virus cúm Subtype N6 giữa các chợ lấy mẫu 57

Trang 9

vii

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Lịch sử đại dịch cúm ở người (Phạm Thành Long, 2016) 4

Hình 2.2. Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 – 2017 (cập nhật 04/04/2017) 6

Hình 2.3 Tình hình bệnh cúm H5N1 ở người giai đoan 2003 - 2016 7

Hình 2.4 Bản đồ dịch cúm gia cầm năm 2015 – 2016 11

Hình 2.5 Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm 13

Hình 2.6 Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A 13

Hình 2.7. Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A ở tế bào chủ 18

Hình 2.8 Sơ đồ cơ chế hoạt động của Taqman probe 24

Hình 3.1 Lấy mẫu ngẫu nhiên bằng phần mềm Epcals 2000 29

Hình 3.2 Lấy mẫu ngẫu nhiên bằng phần mềm Epcals 2000 30

Hình 3.3 Lấy mẫu ngẫu nhiên bằng phần mềm Epcals 2000 31

Hình 3.4. Dùng phần mềm Epicals 2000 tính tỷ suất chênh (OR) và P-value 33

Hình 3.5 Sơ đồ quy trình xét nghiệm phát hiện virus cúm A/H5N6 35

Hình 4.1 bản đồ tỉnh Lạng Sơn 36

Hình 4.2. Biểu đồ so sánh mật độ chăn nuôi gia cầm của Lạng Sơn với một số tỉnh 37 Hình 4.3. Biểu đồ so sánh tỷ lệ chăn nuôi gia cầm giữa các huyện của tỉnh Lạng Sơn 39 Hình 4.4. Biểu đồ so sánh mật độ chăn nuôi gia cầm giữa các huyện của tỉnh Lạng Sơn 39

Hình 4.5 Hình thể hiện dịch cúm gia cầm tại Lang Sơn theo thời gian 41

Hình 4.6. Bản đồ tình hình dịch cúm gia cầm tại Lạng Sơn giai đoạn 2011-2017 42 Hình 4.7. Bản đồ thể hiện Các chợ buôn bán gia cầm sống được lấy mẫu theo không gian 47

Hình 4.8 So sánh tỷ lệ mắc cúm A giữa các loại mẫu 50

Hình 4.9 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm cúm Subtype H5 giữa các loại mẫu 51 Hình 4.10 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm cúm Subtype N6 giữa các loại mẫu 52

Hình 4.11 Lưu hành virus cúm A/H5N6 qua các tháng lấy mẫu 54

Hình 4.12 Lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ lấy mẫu 55

Hình 4.13 Lưu hành virus cúm A/H5 giữa các chợ giám sát 56

Trang 11

viii

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Trần Đức Trọng

Tên luận văn: “Giám sát sự lưu hành của virus cúm gia cầm type A/H5N6 tại một số chợ buôn bán gia cầm sống, phân tích một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch cúm gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2017”.

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Xác định sự lưu hành của chủng virus cúm gia cầm A/H5N6, xác định một số yếu

tố nguy cơ gây bùng phát dịch trên địa bàn các tỉnh nghiên cứu nhằm cảnh báo sớm dịch cúm gia cầm và điều chỉnh các biện pháp phòng, chống dịch cho phù hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả, dịch tễ học phân tích đối với điều tra tình hình chăn nuôi gia cầm, tình hình dịch cúm gia cầm tại các tỉnh trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017.

Sử dụng nghiên cứu Bệnh-chứng để xác định một số yếu tố nguy

cơ gây bùng phát dịch cúm.

Sử dụng quy trình Hướng dẫn giám sát ban hành bởi Cục thú y để xét nghiệm lưu hành virus cúm A/H5N6 trong các mẫu giám sát thu được.

Kết quả nghiên cứu.

Tình hình chăn nuôi gia cầm tại các huyện từ 2010 đến 2016.

Tình hình dịch cúm gia cầm tại các huyện từ 2011 đến 2017.

Kết quả đánh giá một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch bệnh Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm virus cúm type A trong các mẫu giám sát.Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype H5 trong các mẫu giám sát Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm virus cúm subtype N6 trong các mẫu giám sát.Nghiên cứu lưu hành virus cúm A/H5N6 qua các vòng lấy mẫu Nghiên cứu lưu hành virus cúm A/H5N6 tại các chợ lấy mẫu.

Kết luận

Qua nghiên cứu, điều tra để xác định yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch: Yếu tố Chăn nuôi hỗn hợp, Yếu tố không áp dụng tiêm phòng, Yếu tố Giết mổ gia cầm tại khu chăn nuôi, Yếu tố không vệ sinh khử trùng định kỳ, Yếu tố chăn nuôi gần chợ gia cầm

Trang 13

sống đều là những yếu tố làm tăng nguy cơ gây bùng phát dịch.

Tỷ lệ dương tính với virus cúm A trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2017 là 29.86%.

Tỷ lệ dương tính với virus cúm subtype H5 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2017 là 6,71%.

Tỷ lệ dương tính với virus cúm subtype N6 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2017 là 4,4%.

Tổng đàn gia cầm của Lạng Sơn khoảng 3.8-4.4 triệu con, mật độ chăn nuôi

ở mức thấp 491 con/Km 2 (mức trung bình của cả nước là 1096 con/Km 2 , Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là chăn nuôi nông hộ, gia trại, có rất ít trang trại chăn nuôi lớn.

Tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ổn định trong giai đoạn 2011-2017;

Tỷ lệ dương tính với virus cúm subtype N6 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2017 là 4.4%.

Phát hiện 4/4 (100%) chợ có lưu hành virus cúm type A, tại 4/4 (100%) chợ giám sát có sự lưu hành virus cúm subtype H5 và 3/4 (75%) có chủng lưu hành subtype N6 Trong đó chợ Hội Hoan là chợ có tỷ lệ Dương tính với H5N6 cao nhất (12.04%).

Trang 14

THESIS ABSTRACT

The writer: Tran Duc Trong

The master thesis: “Study of circulation of A/H5N6 avian influenza virus

at some live bird markets, Analyze some risk factors for avian influenza outbreaks in Lang Son province from 2016-2017”.

Training facility: Vietnam National University and

Agriculture Research purpose

In oder to detemine circulation of A/H5N6 avian influenza virus in studied provinces aimed at raising early warning and finding out the most suitable control and prevention measures.

Methods of studying

Descriptive and analytical epidemiology are used to investigate status of poultry husbandry, vaccination against avian influenza and HPAI outbreaks at studied provinces between 2011 and 2017.

Use Case - Control study to Analyze some risk factors for avian influenza outbreaks.

Application of realtime RT-PCR technique (From Department Animal Health guide) to detect A/H5N6 virus from samples collected from live bird markets at studied provinces.

Main results

- Poultry production situation of studied districts during 2010-2016

- HPAI oubreak status at studied districts during study period

- Result from study Analyzing some risk factors for avian influenza outbreaks

- Infection rate of avian influenza type A virus detected from tested samples

- Infection rate of avian influenza subtype H5 virus detected from tested samples

- Infection rate of avian influenza subtype N6 virus detected from tested samples

- Circulation of A/H5N6 virus through sampling rounds

- Circulation of A/H5N6 virus at live bird markets during surveillance period.Conclusions

According to study analysising risk factors for avian influenza outbreaks indicate: no inoculation vac xin, no Periodic sterilization, kill chicken in farm, T

Trang 15

farm near by Live birb market, raise many kind of poultry in farm Increased risk of disease outbreak.

Detection rate of samples of Influenza A in Lang Son from 2016 to

Detection 4/4 district positive with Type A (100%); Detection 4/4 district positive with Subtype H5 (100%); Detection 34 district positive with Subtype N6 (75%).

Hoi Hoan market has hight positive rate with H5N6 in Lang Son (12.04%).

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam; cách thủ đô Hà Nội 154 km đường bộ và 165 km đường sắt; phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía đông bắc giáp Trung quốc, phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía tây giáp tỉnh Bắc Kạn, với địa hình 80% là đồi núi nên rất khó khăn trong lĩnh vực phát triển kinh tế Trong chiến lược phát triển của tỉnh Phát triển Nông nghiệp vẫn luôn là yêu tiên hàng đầu và về kinh tế GDP của ngành Nông nghiệp luôn chiếm trên 30% GDP của cả tỉnh.

Ngày nay, bệnh cúm gia cầm đã và đang xảy ra khắp nơi trên thế giới, gây thiệt hại nặng nề về mặt kinh tế, chính trị và xã hội do đó nó là mối quan tâm và đáng lo ngại của toàn cầu Từ khi dịch xuất hiện đến nay đã có 75 quốc gia và vùng lãnh thổ thế giới xuất hiện dịch khiến hàng trăm triệu gia cầm ốm chết, phải tiêu hủy và đã có 449 người tại 16 quốc gia chết vì H5N1, 6 /10 ca chết vì H5N6, 534/1393 ca chết vì H7N9 diễn biến dịch ngày càng phức tạp.

Tháng 4 năm 2014, virus cúm H5N6 được phát gây bệnh trên gia cầm

và gây chết người tại tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc và đã có 6 người chết do H5N6 trong tổng số 10 ca mắc Tháng 8 năm 2014, Cục Thú y cũng lần đầu tiên phát hiện cúm A/H5N6 trên lãnh thổ Việt Nam, cụ thể trên đàn gà 80 con tại xã Chi Lăng huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và trên đàn vịt tại huyện

Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Trước đó, chủng virus này đã được phát hiện ở vịt trời và chim hoang dã tại Thuỵ Điển, Đức, Mỹ, Trung Quốc Đáng lo ngại là kết quả giải trình tự gen của các mẫu virus cúm A/H5N6 phát hiện ở Việt Nam cho thấy có sự tương đồng đến 99% về kiều gen với chủng virus cúm A/H5N6 gây tử vong đầu tiên trên người tại Trung Quốc Từ đó đến nay, virus cúm A/H5N6 tiếp tục được phát hiện tại nhiều tỉnh trong cả nước trong đó có các tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh và các tỉnh khác: Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tuyên Quang,

Dịch cúm xảy ra trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong những năm vừa qua tuy là những ổ dịch nhỏ lẻ, tuy nhiên năm nào cũng xảy ra gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế Nông nghiệp, Du lịch của địa phương.

Trang 17

Chợ buôn bán gia cầm sống rất phổ biến tại nước ta, người dân có thói quen mua gia cầm sống và giết mổ tại chợ Gia cầm đến từ nhiều nguồn khác nhau

và có nhiều loài gia cầm khác nhau được bán tại chợ Nơi bán và giết mổ cùng một chỗ, không được vệ sinh tiêu độc khử trùngthường xuyên, người buôn bán, người mua tiếp xúc trực tiếp với gia cầm do đó nguy cơ virus cúm gia cầm nói chung và virus cúm A/H5N6 nói riêng từ gia cầm xâm nhập và lây nhiễm cho người là rất cao.

Để phát hiện lưu hành virus tại các chợ buôn bán gia cầm sống , nhận diện một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch nhằm cảnh bảo sớm dịch cúm gia cầm và điều chỉnh các biện pháp phòng chống dịch cho phù hợp, tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“giám sát sự lưu hành của virus cúm gia cầm type A/H5N6 tại một số chợ buôn bán gia cầm sống, phân tích một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch cúm gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2017”.

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TAI

Xác định được sự lưu hành của chủng virus cúm gia cầm A/H5N6 trên các đối tượng mẫu khác nhau, trong các vòng lấy mẫu khác nhau.

Nhận diện được một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nhằm cảnh báo sớm dịch cúm gia cầm và điều chỉnh các biện pháp phòng, chống dịch cho phù hợp.

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả xác định tỷ lệ lưu hành virus cúm gia cầm A/H5N6, nhận diện được một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch trên tỉnh Lạng Sơn kết hợp với các số liệu giám sát do Cục Thú y đã triển khai trước đó sẽ giúp các ban, ngành chức năng của địa phương có cái nhìn tổng thể về sự xuất hiện, lưu hành chủng virus gây bệnh trên địa bàn, từ đó có các giải pháp cụ thể phòng, chống lây bệnh cúm ở gia cầm và biện phòng tránh lây nhiễm bệnh cúm từ động vật sang người.

Trang 18

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 KHÁI NIỆM BỆNH CÚM GIA CẦM

Cúm gia cầm (Avian Influenza – AI) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính

ở gia cầm, do nhóm virus cúm typ A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Đây là nhóm virus có biên độ vật chủ rộng, được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên hai kháng nguyên bề mặt capsid của hạt virus

là HA và NA (De Wit, 2008) Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 Subtype NA (từ N1 đến N9) Sự tổ hợp giữa các subtype HA và NA

sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau Mặt khác, virus cúm A có đặc tính quan trọng là dễ dàng đột biến trong gen/hệ gen (đặc biệt ở gen NA và HA) hoặc trao đổi các gen với nhau, trong quá trình xâm nhiễm và tồn tại lây truyền giữa các loài vật chủ, dẫn đến việc tạo nên nhiều Subtype có độc tính và khả năng gây bệnh khác nhau (Nguyễn Bá Hiên cs., 2014).

2.2 TÌNH HÌNH BỆNH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI

2.2.1 Tình hình chung

Cúm gia cầm lần đầu được phát hiện ở Italia vào năm 1878 với tên gọi là dịch hạch gà (Fowl plague) nhưng tới năm 1901 mới xác định được yếu tố gây bệnh là căn nguyên siêu nhỏ có khả năng qua màng lọc và tới năm 1955 xác định được nguyên nhân chính xác nguyên nhân gây bệnh cúm gia cầm là virus cúm type A thông qua kháng thể bề mặt A/H7N1 và A/H7N7 gây chết nhiều ở gà

và gà tây và các loại động vật khác (Beard et al, 1998).

Bên cạnh đó virus cúm gia cầm còn lây lan và tạo ra các đại dịch gây tử vong rất lớn trên người Lịch sử các đại dịch cúm ở người xảy ra trên thế giới được mô tả theo hình 2.1.

Từ năm 1889 – 1890 đã xảy ra 1 đợt dịch cúm làm chết khoảng

1 triệu người trên thế giới Nguyên nhân được xác định có thế do 2 chủng virus cúm H3N8 hoặc H2N2 (Valleron, 2010).

Năm 1918 – 1919, một đại dịch cúm (cúm Tây Ban Nha) đã nổ ra với mức độ trầm trọng đã gây tử vong khoảng 20 – 100 triệu người trên toàn thế giới Các nghiên cứu sau này đã chứng minh được virus gây ra đại dịch này là H1N1 (Taubenberger et al., 1997).

Trang 19

Cúm Châu Á hay cúm Nga xảy ra trong giai đoạn 1889 - 1890 do virus cúm type A/H2N2 gây nên, bắt đầu từ Hong Kong năm 1957 Số người tử vong ước tính từ 1 đến 1,5 triệu người.

Chủng virus cúm A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên

gà tại Scotland vào năm 1959 và có thể là biến thể H5N1 đầu tiên trên thế giới.

Năm 1997 ở Hong Kong, lần đầu tiên virus cúm gia cầm H5N1 đã gây

ra ổ dịch trên gia cầm và lây sang người làm 18 người nhiễm bệnh, 6 người chết và hàng triệu gia cầm đã bị tiêu hủy nhằm ngăn chặn dịch lây lan Đây

là lần đầu tiên virus cúm A/H5N1 gây bệnh trên người (Wu et al., 2008).

Từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2004, bệnh cúm gia cầm đã liên tiếp xảy

Trang 20

ra với quy mô lớn ở 11 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á Sự lây lan nhanh chóng dịch cúm gia cầm xảy ra đồng thời ở một số nước đã trở thành mối quan tâm lớn trên toàn cầu Các chủng virus gia cầm độc lực cao đã được phân lập và định type là chủng H5N1, ở Đài Loan là chủng H5N2 (Bùi Quang Anh, 2005; Nguyễn Tiến Dũng et al., 2004; Phạm Sỹ Lăng, 2004; Tô Long Thành, 2004) Từ đó đến nay, hàng năm dịch đều xảy ra tại nhiều nước trên thế giới với nhiều chủng virus khác nhau.

Tính đến hết tháng 12 năm 2016, dịch cúm gia cầm đã xảy ra tại 53 quốc gia

và vùng lãnh thổ tại tất cả các châu lục trong đó chủ yếu tại các quốc gia châu

Á (http://www.oie.int) Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 –

2016 được thể hiện theo Hình 1.2 và bảng 1.1:

Bảng 2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 - 2017

Từ khi dịch cúm gia cầm tái bùng phát trở lại tới nay, hàng năm vẫn

có rất nhiều quốc gia giới thông báo đã xảy ra các ổ dịch cúm gia cầm.

Các quốc gia thuộc Châu Á đặc biệt là khu vực Đông Á và Đông Nam

Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Camphuchia, Indonesia, Việt Nam Được coi là khu vực tồn tại lâu dài các ổ dịch do có nhiều điều kiện thuận lợi cho mầm

Trang 21

bệnh lưu hành như tổng đàn gia cầm lớn, phương thức chăn nuôi, buôn bán, giết mổ lạc hậu.

Hình 2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2004 –

2017 (cập nhật 04/04/2017)Không chỉ gây bệnh cho gia cầm, các chủng virus cúm đã lây sang người gây tỷ lệ tử vong rất cao có khi lên tới 100% Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, từ năm 2003 đến tháng 2/2016, trên toàn thế giới đã có 844 trường hợp bệnh nhân mắc bệnh cúm gia cầm H5N1 trong đó có 449 trường hợp tử vong chiếm tỷ lệ 53,20% tại 16 quốc gia trên thế giới trong đó nghiêm trọng nhất là ở giai đoạn 2003 – 2009 với 468 ca mắc, 282 ca tử vong tại 15 quốc gia, giai đoạn 2010 – 2015 với 376

ca mắc, 167 ca tử vong tại 7 quốc gia (http://www.who.int).

Tình hình bệnh cúm gia cầm H5N1 ở người trên thế giới giai đoạn 2003 - 2016 cụ thể theo Hình 2.3.

Năm 2013, tại Trung Quốc đã xảy ra dịch cúm A/H7N9 trên người nhiều tỉnh thành trong cả nước sau đó dịch tiếp tục được phát hiện tại một số quốc gia khác như Hồng Kong, Đài Loan, Canada và Malaysia Đến tháng 3/2016 đã ghi nhận 766 trường hợp dương tính với cúm A(H7N9) ở người trong đó Trung Quốc là quốc gia ghi nhận nhiều nhất (747 người), Đài Loan (4 người), Hồng Kông (12 người), Malaysia (1 người) và Canada (2 người) Số trường hợp tử vong là 296 người Hiện tình hình dịch cúm A/H7N9 trên người tại Trung Quốc vẫn diến biến phức tạp Đặc tính của virus cúm A/H7N9 là dễ biến đổi, thích nghi cao với động vật có vú, có khả năng lây lan rộng Tuy nhiên, đến nay chưa

Trang 22

có hiểu biết đầy đủ các nguồn lây bệnh Đặc biệt biểu hiện cúm A/H7N9 ở gia cầm không rõ ràng (http://www.vncdc.gov.vn).

Hình 2.3 Tình hình bệnh cúm H5N1 ở người giai đoạn 2003 - 2016 Cũng vào cuối năm 2013 tại tỉnh Giang Tây - Trung Quốc đã phát hiện 1

ca mắc và tử vong do virus bệnh cúm A/H10N8 kết quả nghiên cứu cho thấy đã tìm thấy virus trên các loài chim hoang dã, đã có biến đổi và lây sang người.2.2.2 Tình hình dịch cúm H5N6 trên thế giới

Chủng virus cúm type A/H5N6 đã từng được phát hiện ở vịt trời và chim hoang dã tại Thụy Điển, Đức, Mỹ và Đài Loan tuy nhiên chưa ghi nhận các ổ dịch trên gia cầm Chủng virus này lần đầu được phát hiện gây bệnh trên gia cầm vào tháng 4 năm 2014 tại Tứ Xuyên, Tây Nam, Trung Quốc, cơ quan chức năng đã phải tiêu hủy 1.338 con gà Cũng tại đây, lần đầu tiên một người đàn ông 49 tuổi tử vong do nhiễm virus cúm A/H5N6.

Vào tháng 7 năm 2014, tại tỉnh Luang Phabang, Lào cũng đã phát hiện ổ dịch cúm A/H5N6 trên đàn gia cầm 200 con của 1 hộ chăn nuôi (WWW.oie.int).

Tháng 9/2014, tiếp tục phát hiện các ổ dịch cúm A/H5N6 tại thành phố Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc với hơn 86 nghìn con ngỗng đã bị tiêu hủy bắt buộc (WWW.oie.int).

Trang 23

Đầu năm 2015 xuất hiện 1 trường hợp bệnh nhân nam 44 tuổi, sống ở Khu tự trị Tây Tạng, tỉnh Vân Nam – Trung Quốc có tiền sử tiếp xúc với chim hoang dã chết Mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân được xét nghiệm cho kết quả dương tính với cúm A/H5N6 Như vậy, tính tới tháng 6/2016, trên lãnh thổ Trung Quốc đã xảy ra 35 ổ dịch cúm gia cầm H5N6 với gần 52 nghìn con mắc bệnh, số gia cầm phải tiêu hủy lên tới 273 nghìn con và 2 trường hợp mắc bệnh trên người trong đó có 1 trường hợp tử vong (http://www.vncdc.gov.vn).

Tháng 1 - 2 năm 2016, thông qua chương trình giám sát chủ động, các nhà khoa học Hồng Kong đã phát hiện virus H5N6 trên mẫu bệnh phẩm thu thập từ chim hoang dã (WWW.oie.int) Cũng Theo Tổ chức Thú y thế giới, virus cúm A/H5N6 là chủng virus có độc cao nhưng chưa có bằng chứng lây truyền từ người sang người.

2.2.3 Tình hình dịch cúm H7N9 trên thế giới

Theo thông báo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của liên hiệp quốc (FAO): Từ cuối tháng 3 năm 2013 đến ngày 20 tháng 4 năm 2017

đã có 1.394 người Trung Quốc bị nhiễm vi rus cúm A/H7N9, trong đó có 534

ca tử vong Đặc biệt trong gần 3 tháng đầu năm 2017, Trung Quốc đã ghi nhận 533 người bị nhiễm vi rus cúm A/H7N9, trong đó các tỉnh có chung biên giới với nước ta là Quảng Tây có 17 người bị nhiễm cúm A/H7N9 đo tiếp xúc với gia cầm bán tại chợ và tỉnh Vân Nam có 2 người mắc bệnh Đồng thời trung quốc đã phát hiện trên 2000 mẫu dương với vi rus cúm A/ H7N9 trên gia cầm và môi trường tai các chợ gia cầm và một số trường hợp

ở trại gia cầm nuôi thương phẩm, gia cầm giống.

2.3 TÌNH HÌNH BỆNH CÚM GIA CẦM Ở VIỆT NAM

2.3.1 Tình hình chung

Bệnh cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 do virus cúm gia cầm H5N1 độc lực cao (HPAI) gây ra Kể từ khi dịch xuất hiện, đến năm 2015 đã có 5.611 ổ dịch cúm gia cầm với khoảng 60 triệu con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy bắt buộc Nghiêm trọng hơn, virus cúm đã lây sang người làm 127 người mắc bệnh, số bệnh nhân tử vong là

64 người (Phạm Thành Long, 2016) Diễn biến tình hình dịch cúm gia cầm H5N1 tại Việt Nam giai đoạn 2003 – 2008 được chia thành 6 đợt chính:

- Đợt 1: từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2004, dịch đã xảy ra ở 2.574 xã,

Trang 24

381 huyện thuộc 57 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 45 triệu con chiếm khoảng 16% tổng đàn gia cầm cả nước Trong năm 2003 có 3 ca mắc và tử vong ở người do virus cúm H5N1.

- Đợt 2: từ tháng 4 đến tháng 11/2004, dịch xuất hiện ở 46 xã tại 32 huyện thuộc 17 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 84.078 con Trong năm 2004, có 29 ca H5N1 ở người, trong đó số tử vong là 20 người.

xã, 182 huyện thuộc 36 tỉnh Số gia cầm tiêu huỷ là 1.296.184 con bao gồm 470.495 con gà và 825.689 thủy cầm Trong năm 2005, có 61 ca H5N1 ở người, trong đó có 19 ca tử vong.

Tổng số gia cầm tiêu huỷ là 3.972.763 con trong đó gà 1.338.523 con, thuỷ cầm và loài khác là 2.634.24 con.

- Đợt 5: bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007, đã xảy ra 269 ổ dịch tại

33 tỉnh thành trong cả nước làm ốm chết và phải tiêu hủy bắt buộc là 397.943 con Trong năm 2007 có 8 ca H5N1 ở người, trong đó số người chết là 5 ca.

- Đợt 6: từ đầu năm 2008: xảy ra rải rác tại 57 xã của 40 huyện thuộc 21 tỉnh Tổng số gia cầm tiêu huỷ là 60.090 con, trong đó có 23.498 gà, 36.592 thuỷ cầm Năm 2008 có 6 ca mắc cúm H5N1 ở người và 5 trong số 6 ca đã tử vong.

Năm 2009, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 68 xã của 34 huyện thuộc

17 tỉnh với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy trên 127.000 con Năm 2009 có 5 ca mắc H5N1 ở người và tỷ lệ tử vong là 100%.

Năm 2010, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 46 xã của 24 tỉnh làm 42.614 con gia cầm mắc bệnh, chết và phải tiêu hủy bắt buộc Trong năm 2010, có 7 ca mắc H5N1 ở người và có 2 ca tử vong.

Trong năm 2011 có 82 xã, 43 huyện thuộc 22 tỉnh có dịch Tổng số gia cầm mắc bệnh 110.311 con, số tiêu hủy là 151.356 con (Nguyễn Ngọc Tiến, 2013).

Năm 2012 đã xảy ra 296 ổ dịch ở 112 huyện, 32 tỉnh làm ốm chết

và phải tiêu hủy 616.109 con trong đó có 117.946 con gà, 479.859 vịt

và 18.304 ngan (Nguyễn Ngọc Tiến, 2013) Trong năm này có 4 ca mắc bệnh trên người và có 2 ca tử vong.

Năm 2013 đã xảy ra 104 ổ dịch cúm gia cầm tại 64 huyện, 31 tỉnh Số gia cầm ốm chết phải tiêu hủy bắt buộc là 141.687 con Ngoài việc xảy ra trên

Trang 25

đàn gia cầm, trong năm 2013 còn phát hiện ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 trên chim yến tại Ninh Thuận làm ốm chết và tiêu hủy hơn 4.000 con và trên chim cút tại Tiền Giang với hơn 30.000 con chim cút phải tiêu hủy Trong năm này có 2 ca mắc bệnh và tử vong 1 người.

Trong năm 2014 đã xảy ra 181 ổ dịch tại 96 huyện, 33 tỉnh trong

cả nước, số gia cầm phải tiêu hủy là 212.780 con Trong năm này có 2

ca mắc bệnh ở người và đều đã tử vong (Cục Thú y, 2014).

Năm 2015 cả nước xảy ra 19 ổ dịch nhỏ lẻ tại 17 huyện, 12 tỉnh thành trong cả nước với số gia cầm phải tiêu hủy là 58.128 con (Cục Thú y, 2015).

Trong năm 2016, dịch xảy ra tại 07 xã, phường của 06 huyện, thị xã thuộc 03 tỉnh, thành phố (Nghệ An, thành phố Cần Thơ và Cà Mau) Số gia cầm mắc bệnh là 4.767 con (gà 1.517 con, chiếm 31,8% tổng số mắc bệnh, vịt 2.720 con, chiếm 57,1% và ngan 530 con, chiếm 11,1%); trong đó số tiêu huỷ là 6.182 con, bao gồm cả gia cầm khỏe mạnh trong cùng đàn mắc bệnh (gà chiếm 35% trong tổng số chết, vịt chiếm 55,3% và ngan chiếm 9,7%).

So với năm 2015, tình hình dịch bệnh CGC A/H5N1 đã giảm cả

về diện dịch và mức độ dịch, cụ thể: số xã có dịch giảm 2,57 lần, số huyện có dịch giảm 2,83 lần, số tỉnh có dịch giảm 3,67 lần, số gia cầm chết và tiêu huỷ giảm 2,6 lần (Cục thú y 2016).

2.3.2 Tình hình bệnh cúm gia cầm H5N6

Tháng 8/2014, phát hiện ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 đầu tiên ở nước ta trên đàn gà 80 con của 1 hộ chăn nuôi tại xã Chi Lãng, huyện Tràng Ðịnh, tỉnh Lạng Sơn Sau đó các ổ dịch cúm H5N6 tiếp tục được phát hiện tại các tỉnh khác trong cả nước Ðến cuối tháng 12/2014, cả nước đã xảy ra 7 ổ dịch cúm A/H5N6 tại 6 xã, 6 huyện của 6 tỉnh là Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Lào Cai, Quảng Trị, Quảng Ngãi và Quảng Nam làm 17.188 con gia cầm mắc bệnh phải tiêu hủy bắt buộc Ngoài ra trong quá trình giám sát chủ động, virus cúm A/H5N6 cũng được phát hiện tại các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam (Cục Thú y, 2014).

Năm 2015, dịch cúm gia cầm H5N6 đã xảy ra tại 23 xã, 18 huyện của 12 tỉnh trong cả nước là Đắk Nông, Hà Nam, Lai Châu, Lào Cai, Nam Định, Nghệ

An, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Hải Phòng, Sơn La, Lạng Sơn và Tuyên Quang làm ốm chết và phải tiêu hủy bắt buộc 34.624 con gia cầm các loại trong đó có 17.509 con gà, 7.052 thủy cầm và 10.063 con chim cút (Cục Thú y, 2015).

Trang 26

So năm 2015, tình hình dịch bệnh Cúm gia cầm A/H5N6 đã giảm cả

về diện dịch và mức độ dịch, cụ thể: số xã có dịch giảm 3 lần, số huyện

có dịch giảm 2,83 lần, số tỉnh có dịch giảm 2,2 lần và số gia cầm chết và tiêu huỷ giảm 2,13 lần Phân bố các ổ dịch cúm gia cầm trong cả nước từ trước tới nay được thể hiện qua các bản ở trên (hình 2.4):

Qua các diễn biến dịch và phân bố không gian của các ổ dịch cúm gia cầm tại nước ta trong thời gian qua cho thấy:

Thời gian xảy ra các ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 thường tập trung vào các tháng cuối năm và kéo dài tới các tháng đầu năm đặc biệt thường tập trung

Trang 27

vào dịp Tết nguyên đán Điều này cũng phù hợp với thực tế tại nước ta đây là giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thuận lợi; Hoạt động chăn nuôi, vận chuyển buôn bán gia cầm diễn nhộn nhịp để phục vụ nhu cầu thịt gia cầm rất cao của người dân trong dịp Tết đã tạo điều kiện lý tưởng cho mầm bệnh phát triển và lây lan.

Các ổ dịch thường tập trung chủ yếu tại các tỉnh thuộc 3 vùng đồng bằng lớn của cả nước là đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh duyên hải Miền trung và các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm đây là những vùng có tổng đàn gia cầm lớn, mật độ chăn nuôi gia cầm rất cao, hoạt động buôn bán, vận chuyển gia cầm và các sản phẩm gia cầm rất nhộn nhịp, tình trạng buôn bán gia cầm nhập lậu qua biên giới tại các tỉnh phía Bắc, hoạt động nuôi vịt chạy đồng tại các tỉnh phía Nam do đó có nhiều cơ hội thuận lợi cho virus cúm phát tán và lây bệnh cho gia cầm.

2.4 CĂN BỆNH

Cúm gia cầm (Avian Influenza – AI) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở gia cầm, do nhóm virus cúm typ A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Đây là nhóm virus có biên độ vật chủ rộng, được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên hai kháng nguyên bề mặt capsid của hạt virus là HA và NA Nhóm virus cúm A

có 16 Subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 Subtype NA (từ N1 đến N9) Sự tổ hợp giữa các subtype HA và NA sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau.

2.4.1 Đặc điểm sinh học phân tử của virus cúm gia cầm

Hình thái và cấu trúc của virus cúm gia cầm type A qua kính hiển vi điện tử, virus có dạng hình khối tròn, hình trứng hoặc dạng khối dài, đường kính khoảng 80 – 120 nm Virus có vỏ bọc ngoài, phân tử lượng của hạt virus khoảng 250 triệu Da.

Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền RNA của virus, bản chất cấu tạo là màng lipit kép có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm được đặc hiệu hóa gắn vào các protein màng của virus Trên bề mặt có khoảng

500 “gai mấu” nhô ra và phân bố dày đặc, mỗi gai mấu dài khoảng 10 – 14 nm

có đường glycoprotein gồm: HA, NA, M1 (matrix) và các dấu ấn khác của virus (Bender et al., 1999; Zhao et al., 2008) Có sự phân bố không đồng đều giữa các phân tử NA và HA (tỷ lệ khoảng 1NA/4HA), đây là 2 loại protein kháng nguyên

có vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm của virus ở tế bào cảm nhiễm (Murphy and Webster, 1996; Uiprasertkul et al., 2007).

Trang 28

Hình 2.5 Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm

Nguồn: http://micro.magnet.fsu.edu/cells/viruses/influenzavirus.html

Hệ gen của virus cúm A là RNA sợi đơn âm (viêt tắt là (-) ssRNA), gồm 8 phân đoạn riêng biệt (HA, NA, M, NS, NP, PA, PB1 và PB2) nối với nhau thành 1 sợi duy nhất bên trong vỏ capsid, mã hóa cho 11 protein tương ứng của virus (Ito et al., 1998; Conenello et al., 2007).

Hình 2.6 Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A

Nguồn: Murphy and Webster (1996)

Trang 29

Virus cúm A có hệ gen được cấu trúc từ 8 phân đoạn riêng biệt và không

có gen mã hóa enzyme sửa chữa RNA, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện các đột biến điểm trong các phân đoạn gen/hệ gen qua quá trình sao chép nhân lên của virus, hoặc trao đổi các phân đoạn gen giữa các chủng virus cúm đồng nhiễm trên cùng một tế bào, rất có thể dẫn đến thay đổi tính kháng nguyên tạo nên chủng virus cúm A mới (Suarez and Schultz-Cherry, 2000).

2.4.2 Kháng nguyên của virus cúm gia cầm

Protein HA (Hemagglutinin)

Protein hemagglutinin là một glycoprotein có khả năng gây ngưng kết hồng cầu gà trong ống nghiệm (invitro), kháng thể đặc hiệu với HA có thế phong tỏa sự ngưng kết đó, được gọi là kháng thể ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI – Hemagglutinin Inhibitory antibody) Có 16 subtype HA đã được phát hiện (H1 – H16) Có khoảng 400 phân tử HA trên bề mặt capsid của một virus có vai trò quan trọng trong quá trình nhận diện virus và khởi động quá trình xâm nhiễm của virus vào tế bào chủ (Bender et al., 1999; Wagner et al., 2002) Phân

tử HA có dạng hình trụ, dài khoảng 130 ăngstron (Å), cấu tạo gồm 3 đơn phân (trimer), mỗi đơn phân (monomer) được tạo thành từ 2 tiểu đơn vị HA1 (36 kDa)

và HA2 (27 kDa), liên kết với nhau bởi các cầu nối disulfide (-S-S-) Các đơn phân sau khi tổng hợp đã được glycosyl hóa (glycosylation) và ngắn vào mặt ngoài capsid là tiểu đơn vị HA2, phần đầu tự do hình chỏm cầu được tạo bởi dưới đơn vị HA1 chứa đựng vị trí gắn với thụ thể thích hợp của HA trên bề mặt màng tế bào đích (Bosch et al., 1981; Wagner et al., 2002).

Protein HA là kháng nguyên bề mặt quan trọng của virus cúm A, kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng type HA

và tham gia vào phản ứng trung hòa virus, được coi là protein vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus, là đích đến của bảo vệ miễn dịch học nhằm ngăn chặn sự xâm nhiễm của virus ở cơ thể nhiễm, cơ sở điều chế các vac xin phòng cúm hiện nay (Bosch et al., 1998).Protein NA (Neuraminidase)

Protein Neurominidase là một protein enzyme có bản chất là glycoprotein được gắn trên bề mặt capsid của virus cúm A, mang tính kháng nguyên đặc trưng theo từng saubtype NA Có 9 subtype (từ N1 - N9) được phát hiện ở virus cúm

Trang 30

gia cầm, hai subtype N1 và N2 được tìm thấy ở virus cúm người liên quan đến các đại dịch cúm trong lịch sử (Wasilenko et al., 2008) Có khoảng 100 phân tử NA xen giữa các phân tử HA trên bề mặt capsid hạt virus Phân tử NA có dạng nút nồi hình nấm, đầu tự do (chứa vùng hoạt động) gồm 4 dưới đơn vị giống như hình cầu nằm trên cùng một mặt phẳng và phần kị nước gắn vào vỏ capsid (Uiprasertkul et al., 2007).

Protein NA có vai trò là một enzyme cắ đứt liên kết giữa các gốc acid sialic của màng tế bào nhiễm với phân tử cacbonhydrate của protein HA, giải phóng hạt virus ra khỏi màng tế bào nhiễm, đẩy nhanh sự lây nhiễm của virus trong cơ thể vật chủ Mặt khác, NA tham gia vào phân cắt liên kết này trong giai đoạn “hòa màng”, đẩy nhanh quá trình cởi áo “uncoating” giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương tế bào nhiễm, giúp cho quá trình nhân lên của virus nhanh hơn (Uiprasertkul et al., 2007) Ngoài ra, NA còn phân cắt các liên kết glycoside, giải phóng neuraminic acid làm tan loãng màng nhầy bề mặt biểu

mô đường hô hấp, tạo điều kiện cho virus nhanh chóng tiếp cận tế bào biểu mô

và thoát khỏi các chất ức chế không đặc hiệu Cùng với vai trò của kháng nguyên HA, cả 3 khâu tác động trên của NA đều tham gia làm tăng độc lực gây bệnh của virus cúm A ở cơ thể vật chủ Do đó, NA là đích tác động của các thuốc, hóa dược ức chế virrus không đặc hiệu hiện nay (Aoki et al., 2007).

Bên cạnh đó, NA còn là một kháng nguyên bề mặt virus, tham gia kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể chủ, sinh ra kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên NA của các chủng virus đương nhiễm có tác dụng phong tỏa protein NA Như vậy, kháng nguyên NA cùng với kháng nguyên HA của virus là các đích chủ yếu của cơ chế bảo hộ miễn dịch của cở thể với virus cúm A và là cơ sở điều chế các vac xin phòng cúm hiện nay cho người và gia cầm (Suarez and Schultz-Cherry, 2000; Wu et al., 2008).

Các phương thức biến đổi kháng nguyên

a Hiện tượng lệch kháng nguyên

Lệch kháng nguyên (antigenic drift) thực chất là các đột biến điểm xảy ra các phân đoạn gen/hệ gen của virus Do virus cúm A ký sinh nội bào bắt buộc, không có cơ chế “đọc và sửa bản sao – proof reading” trong quá trình phiên mã và sao chép ở nhân tế bào đích Sự thiếu hụt enzyme sửa chữa RNA dẫn đến các enzyme sao chép phụ thuộc RNA sẽ có thế “gài” thêm (đột biến giãn nở), làm mất

đi hoặc thay thế (đột biến trượt-xóa) một hay nhiều nucleotide mà không

Trang 31

được sửa chữa trong phân tử RNA chuỗi đơn mới của virus (Lê Thanh Hòa

và cs., 2006) Tùy thuộc vị trí xảy ra các đột biến trong bộ ba mã hóa, mà có thể trực tiếp làm thay đổi các amino acid trong trình tự của protein được mã hóa biểu hiện, dẫn đến thay đổi thuộc tính của protein, hoặc được tích lũy trong phân đoạn gen xảy ra đột biến (đột biến điểm) Tần xuất xảy ra đột biến điểm rất cao, cứ mỗi 10.000 nucleotide (tương ứng với độ dài của RNA

hệ gen của virus cúm A) thì có 1 nucleotide sai khác (Wagner et al., 2002).

Hiện tượng này thường xảy ra ở các phân đoạn gen kháng nguyên NA và

HA, tạo ra các bộ mã tổng hợp các amino acid mới, hoặc làm thay đổi cấu trúc, thay đổi đặc tính của protein đó, hoặc có khả năng glycosyl hóa rất cao trong cấu trúc chuỗi polypeptide kháng nguyên, tạo ra một biến thể virus mới thay đổi độc lực gây bệnh hay đặc tính kháng nguyên mới (Wasilenko et al., 2008).

b Hiện tượng trộn kháng nguyên

Hiện tương trộng kháng nguyên (còn gọi là trao đổi hay tái tổ hợp) các gen kháng nguyên (antigenic shift) chỉ có ở virus cúm và rất ít ở một số virus RNA gây bệnh gia cầm khác, cho phép 2 chủng virus cúm A khác nhau khi đồng nhiễm trong một tế bào có thể xảy ra sự hòa trộn (reassort) hoặc trao đổi (swap) các phân đoạn gen của 2 chủng virus đó trong quá trình kết hợp lại RNA

hệ gen, tạo ra các trạng thái khác nhau của RNA hệ gen của các hạt virus mới

từ hai RNA hệ gen của những virus ban đầu Kết quả là đã tạo ra thế hệ virus mới có các phân đoạn gen kết hợp và đôi khi giúp cho chúng có khả năng lây nhiễm ở loài vật chủ mới hoặc gia tăng độc lực gây bệnh (Chen et al., 2006).

c Hiện tượng glycosyl hóa

Glycosyl hóa (glycosiylation) là sự gắn kết của một chuỗi carbonhydrate (oligosaccharide) vào với amino acid Asparagine (N) ở một số vị trí nhất định trong chuỗi polypeptide HA và NA, hay một số polypeptide khác của virus cúm Thông thườn chuỗi oligosaccharide được gứn tại vị trí N-X-S/T (N = Asparagine; X = amino acid bất kỳ, trừ Proline; S/T = Serine hoặc Threonine) Đây là những vị trí đựơc cho

là gắn kết với các kháng thể được cơ thể sinh ra do kích thích cuả kháng nguyên nhằm bảo vệ cơ thể nhiễm Hiện tượng lệch kháng nguyên sinh ra đột biến điển hình thành bộ mã của Asparagine tạo tiền đề cho hiện tượng glycosyl hóa xảy ra khi tổng hợp chuỗi polypeptide HA hay NA làm thay đổi biểu hiện đặc tính kháng nguyên của HA và NA, làm cho virus thoát khỏi tác

Trang 32

động miễn dịch bảo hộ của cơ thể chủ và điều hòa sự nhân lên của virus (Baigent and Mc Cauley, 2001).

2.4.3 Tính thích ứng đa vật chủ của virus cúm

Vật chủ tự nhiên của tất cả các chủng virus cúm A là chim hoang dã (chủ yếu là vịt trời), đây là nguyên nhân lan truyền virus trong tự nhiên rất khó kiểm soát Virus cúm A có khả năng gia tăng biên độ vật chủ của chúng trong quá trình lây truyền ở tự nhiên (De Wit, 2008) Đặc điểm thích ứng vật chủ này là điều kiện thuận lợi để virus cúm A trao đổi, tái tổ hợp các phân đoạn gen, đặc biệt là các phân đoạn gen kháng nguyên (gen “độc” HA và NA) giữa các chủng tạo ra các chủng virus cúm mới có khả năng thích ứng xâm nhiễm ở các loài vật chủ mới đặc biệt khi chúng vượt qua được “rào cản loài” dễ dàng thích ứng lây nhiễm gây bệnh từ gia cầm sang người và giữa người với người (Webster et al., 2002).

2.4.4 Cơ chế xâm nhiễm gây bệnh của virus cúm A trong tế bào vật chủ Virus cúm A/H5N1 kí sinh nội bào bắt buộc, quá trình xâm nhiễm và nhân lên của virus xảy ra chủ yếu ở các tế bào biểu mô đường hô hấp, đường tiêu hóa của

cơ thể nhiễm (Murphy and Webster, 1996) có những nét đặc trưng như sau:

- Quá trình xâm nhiễm của virus cúm A được mở đầu bằng sự kết hợp của HA và thị thể thích ứng của nó trên bề mặt các tế bào này và cuối cùng là giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bào nhiễm.

- Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt so với các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất) và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzyme neuraminidae Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giải phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng vài giờ (trung bình 6h) Sự tạo thành các hạt virus mời không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử và rơi vào quá trình chết theo chương trình (apopyosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ (Beard, 1998).

- Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào, hệ gen của virus sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển, RNA phụ thuộc (RNA-transcription, RNA-dependent) Phức hợp protein– RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào (Beard, 1998).

Trang 33

Hình 2.7 Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A ở tế bào chủ

Nguồn: Beard (1998)

Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp các sợi dương

từ khuôn là sợi âm của hệ gen virus, từ các sợi dương này chúng tổng hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNA-poymerase Các sợi này không được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine – gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết hợp với nucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bào tương tế bào Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phân đoạn gen của virus và được enzyme PB2 gắn thêm 10 – 20 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó được vận chuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nộ bào

có hạt để tổng hợp nên các protein của virus.

- Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển gắn lên mặt ngoài của màng tế bào nhiễm nhờ nộ máy Golgi, goi là hiện tượng

“ nảy chồi” của virus NP sau khi tổng hợp được vận chuyển trở lại nhân lên tế bào để kết hợp cới RNA thành RNP của virus Sau cùng các RNP của virus được hợp nhất với cùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế bào chủ bởi liên kết giữa HA với thụ thể chứa sialic acid Các NA phân cắt các liên kết này và giải phòng các hạt virus trưởng thành tiếp tục xâm nhiễm các tế bào khác (Murphy and Webster, 1996).

Trang 34

2.4.5 Độc lực và khả năng gây bệnh của virus cúm gia cầm

Trong thực tế người ta chia virus cúm ra làm 2 loại: Loại virus độc lực thấp – LPAI và loại có độc lực cao - HPAI.

- LPAI là loại virus khi phát triển trong cơ thể nhiễm, có thể gây bệnh cúm nhẹ không có triệu chứng lâm sàng điển hình và không làm chết vật chủ Đây là loại virus lây nhiễm rộng rãi và tạo nên các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trêm cùng một tế bào và trở thành một lọai virus HPAL nguy hiểm.

- HPAL là loại virus cúm A có khả năng gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể nhiễm, trên gia cầm chúng thường gây chết 100% số gia cầm bị nhiễm trong vòng 48-72h sau nhiễm Virus loại HPAI phát triển tốt trên tế bào xơ phôi gà, tế bào thận chó (MDCK) không có trypsin Các vị dịch lớn đều

do virus HPAI gây ra, thường là virus có kháng nguyên H5 và H7.

Virus cúm A có tính thích ứng lây nhiễm cao với biểu mô đường hô hấp và cũng có thể tác động gây tổn thương nhiều cơ quan khác trong cơ thể của động vật cảm nhiễm, do đó còn được gọi là virus hướng đa phủ tạng Khả năng gây bệnh của virus cúm A phụ thuộc vào độc lực vào độc lực và tính thích nghi vật chủ của từng chủng virus ( De Wit, 2008).

2.4.6 Triệu chứng

Biểu hiện lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng virus, loài nhiễm bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi, chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm virus …(Nguyễn Tiến Dũng, 2004).

Triệu chứng điển hình là gia cầm chết đột ngột, chết nhiều với tỷ lệ chết

từ 20-100% Con vật sốt cao, ủ rũ, bỏ ăn uống, giảm đẻ, suy yếu và đứng tụm lại thành từng đám, lông xù, xơ xác, chảy nước mũi, dịch mũi nhày màu xám, khó thở, vươn cổ để thở, thở khò khè, hắt hơi, chảy nước mắt, viêm kết mạc mắt, nhắm mắt, sưng phù đầu, mào tích sưng phù, màu tím sẫm Con vật có triệu chứng thần kinh như co giật, mất thăng bằng, vận động xoay tròn.

2.4.7 Bệnh tích

Bệnh tích đại thể

Bệnh tích thường gặp là mào, tích sưng to, tím tái phù quanh mí mắt Xuất huyết dưới da ống chân hoặc kẽ ngón chân thành vệt đỏ rất rõ Xuất huyết điểm trên bề mặt niên mạc và tương mạc nội tạng Xuất huyết hầu hết toàn bộ đường

Trang 35

tiêu hóa, đặc biệt thấy rõ ở manh tràng và dạ dày tuyến Túi Fabricius xung huyết và xuất huyết (Lê Văn Năm, 2004; Alexander, 2007).

Bệnh tích vi thể

Bệnh tích vi thể chủ yếu là xung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm bạch cầu đơn nhân ở não và một số cơ quan khác Mạch quản của cơ quan như mào, tích, gan, lách, phổi, thận, cơ tìm, cơ vân, não bị giãn rộng và thâm nhiễm tế bào (Beard, 1998).

2.4.8 Chẩn đoán bệnh

Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học

Căn cứ vào các yếu tố dịch tễ học như bệnh lây lan nhanh, gia cầm mọi lứa tuổi, nhiều loại gia cầm mắc bệnh, tỷ lệ chết cao lên tới 100% số gia cầm mắc bệnh, những vùng có ổ dịch cũ, những nơi gia cầm chưa được tiêm phòng vac xin cúm hoặc tiêm phòng chưa đủ thời gian đáp ứng miễn dịch, hoặc đã tiêm phòng nhưng qua khảo sát hiệu giá kháng thể bảo hộ chỉ đạt mức thấp.Chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích

Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích để chẩn đoán Lưu ý các đặc điểm chính như gia cầm bệnh chảy nhiều nước mắt, viên xoang mũi, mào tích tím tái, phù đầu và mí mắt, có triệu chứng thần kinh, da chân vùng không lông xuất huyết.

Căn cứ những bệnh tích điển hình như phổi, gan, thận, lách sưng to Xuất huyết mỡ vành tim, ruột viêm cata, xuất huyết Xuất huyết dạ dày cơ,

dạ dày tuyến giống bệnh Newcastle Túi fabricius xuất huyết điểm, lỗ huyệt xuất huyết … (Alexander, 2007; Baigent and Mc Cauley, 2001).

Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Chẩn đoán virus học: nuôi cấy, phân lập virus trên rứng gà có phôi

ấp 9 – 10 ngày tuổi hoặc trên môi trường tế bào xơ phôi gà hoặc tế bào thận chó MDCK Giám định virus trong dịch nuôi cấy bằng các phản ứng HA, HI.

Chẩn đoán virus bằng kỹ thuật Realtime RT-PCR: cho phép xác định virus với lượng rất nhỏ Khẳng định chắc chắn subtype H5 và N1, N6 căn cứ vào primer và probe được thiết kế đặc hiệu.

Chẩn đoán huyết thanh học: dùng phản ứng HI để phát hiện và xác định hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gia cầm chưa tiêm phòng Ngoài ra có thể dùng phản ứng ELISA để phát hiện kháng thể.

Trang 36

2.5 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CÚM GIA CẦM TẠI VIỆT NAM

2.5.1 Kết quả giám sát

Kể từ khi xuất hiện tại nước ta, dịch cúm gia cầm đã ảnh hưởng rất nhiều tới nước ta kể về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Chính vì vậy việc chủ động các biện pháp phòng bệnh luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức trên thế giới như FAO, VAHIP, CDC, USAID, qua rất nhiều chương trình giám sát chủ động nhằm phát hiện sự lưu hành của các chủng virus trong cả nước qua đó điều chỉnh các biện pháp phòng chống dịch cho phù hợp Sơ lược kết quả hoạt động giám sát cúm gia cầm tại nước ta giai đoạn 2008 – 2016 như sau:

- Đối với hoạt động giám sát chủ động cúm gia cầm H5N1: Qua các dự

án và ở các giai đoạn khác nhau tại nước ta đều phát hiện có sự lưu hành của virus cúm gia cầm A/H5N1với tỷ lệ khá cao Cụ thể trong tổng số 48.349 mẫu xét nghiệm đã phát hiện 1.782 mẫu bệnh phẩm dương tính với virus cúm gia cầm A/H5N1 (3,69%) trong đó ở dự án VAHIP trong tổng số 22.745 mẫu bệnh phẩm có 680 mẫu dương tính với virus cúm A/H5N1 (2,99%); Ở dự án do FAO tài trợ có 1.102/25.604 mẫu bệnh phẩm dương tính với virus cúm A/H5N1 (4,3%) Từ tháng 12/2015 đến tháng 2/2016 tiếp tục lẫy 3.840 mẫu bệnh phẩm tại các chợ buôn bán gia cầm sống kết quả có 34/3.084 mẫu bệnh phẩm dương tính với virus cúm A/H5N1 (1,10%) (Phạm Thành Long, 2016).

- Đối với giám sát lưu hành virus cúm A/H7N9 trên đàn gia cầm nhập lậu

và tại các chợ buôn bán gia cầm sống: Từ tháng 6/2013 đến tháng 2/2015 đã xét nghiệm 171.250 mẫu bệnh phẩm tại các tỉnh Biên giới phía Bắc nước ta (Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh) và các điểm trung chuyển, chợ buôn bán gia cầm lớn tại Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang Kết quả chưa phát hiện mẫu bệnh phẩm nào dương tính với virus cúm A/H7N9 Từ tháng 12/2015 đến tháng 2/2016 tiếp tục lấy 3.084 mẫu bệnh phẩm tại các chợ buôn bán gia cầm sống kết quả vẫn chưa phát hiện sự có mặt của virus cúm A/H7N9 trên lãnh thổ Việt Nam (Phạm Thành Long, 2016).

- Đối với giám sát lưu hành virus cúm gia cầm A/H5N6: từ 12/2015 đến tháng 2/2016 đã triển khai chương trình giám sát lưu hành virus cúm gia cầm H5N6 tại 68 chợ buôn bán gia cầm ở 60 huyện, 32 tỉnh trong cả nước Tổng số mẫu bệnh phẩm thu thập là 3.084 mẫu (mẫu gộp) Kết quả xét nghiệm cho

Trang 37

thấy có 108/3.084 mẫu dương tính với virus cúm A/H5N6 (3,50%) (Phạm Thành Long, 2016).

2.5.2 Kết quả phân tích virus cúm gia cầm tại Việt Nam

Để làm tốt công tác phòng, chống bệnh cúm gia cầm độc lực cao, ngoài việc xác định tỷ lệ lưu hành tại các địa phương trong cả nước thì công tác nghiên cứu, giải trình tự gen của virus để qua đó lựa chọn loại vac xin phù hợp cho công tác tiêm phòng trong cả nước Kể từ khi dịch cúm gia cầm xuất hiện tại nước ta tới nay, virus cúm luôn luôn thay đổi về cấu trúc tạo ra các chủng virus mới có độc lực cao gây nhiều khó khăn cho công tác phòng chống dịch tại các địa phương Quá trình biến đổi của các chủng virus cúm tại Việt Nam từ 2003 đến nay được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.2 Tóm tắt các chủng virus cúm gia cầm tại Việt Nam, 2003 - 2016

Virus H5N1 xâm nhập vào Việt Nam Clade 1

Xuất hiện Clade 2.3.4 thay thế clade 1;

Clade 7 được phát hiện trên gà nhập lậu

Phát hiện được nhiều nhánh của clade 2.3.4

Xuất hiện clade 2.3.2 giống với chủng phát hiện tại Mông Cổ, Hong Kong.

Biến đổi từ clade 2.3.4 sang 2.3.2.1 với 3 nhánh phụ A, B, C

Clade 1 phổ biến và

có những biến đổi Clade 2.3.2/2.3.4 thỉnh thoảng được phát hiện.

2014

2015 - nay

Clade 2.3.2.1C là chủ yếuXuất hiện virus H5N6 (Clade 2.3.4.4)

H5N6 Clade 2.3.4.4 lưu hành chủ yếu

Clade 2.3.2.1C phổ biến Clade 1.1 có tại một vài ổ dịch H5N1 Clade 2.3.2.1C phổ biến

Nguồn: Phạm Thành Long (2016)

2.6 CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM

Tại nước ta hiện nay, bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao là 1 trong 5 bệnh ưu tiên phối hợp liên ngành giữa y tế và thú y trong việc điều tra, giám sát, chia sẻ thông tin và nghiên cứu khoa học theo Thông tư 16/2013/TTLT-BYT-

Trang 38

BNNPTNT Đối với công tác xử lý các ổ dịch cúm gia cầm thực hiện theo Thông tư 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn.

Đối với dịch cúm A/H7N9 thực hiện theo Quyết định số BNN-TY ngày 14/02/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Ban hành Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp với các chủng virus cúm nguy hiểm có khả năng lây lan sang người.

210/QĐ-Trong điều kiện chăn nuôi gia cầm như ở Việt Nam hiện nay, để kiểm soát dịch cúm gia cầm, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vac xin cho đàn gia cầm Theo kết quả nghiên cứu mới nhất, hiện nay tại nước ta lưu hành 2 chủng virus cúm gia cầm chủ yếu là virus cúm A/H5N1 thuộc nhánh 2.3.2.1C và virus cúm A/H5N6 thuộc nhánh 2.3.4.4 (Cục Thú y , 2016) Do đó các loại vac xin được sử dụng cho công tác tiêm phòng hiện nay là:

bệnh cúm gia cầm do virus cúm A/H5N1 nhánh 1, A/H5N1 nhánh 2.3.2.1C và A/H5N6 nhánh 2.3.4.4 gây ra.

do virus cúm A/H5N1 nhánh 2.3.2.1C gây ra.

cúm A/H5N1 nhánh 1 và virus cúm A/H5N6 nhánh 2.3.4.4 gây ra.

Bên cạnh đó cần tăng cường hoạt động giám sát chủ động đặc biệt là tại các tỉnh vùng biên giới, các chợ buôn bán, các điểm thu gom gia cầm sống để phát hiện thêm các chủng virus mới cũng như xác định

sự lưu hành của virus tại các địa phương qua đó đưa ra các cảnh báo sớm, các khuyến cáo kịp thời trong công tác phòng chống dịch.

2.7 NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT REALTIME PCR

Kỹ thuật Real time PCR là một kỹ thuật PCR sử dụng các đặc điểm của quá trình sao chép DNA Trong kỹ thuật PCR truyền thống, sản phẩm khuyếch đại được phát hiện qua phân tích điểm kết thúc bằng cách điện di DNA trên gel agarose khi phản ứng kết thúc Ngược lại, Realtime – PCR cho phép phát hiện và định lượng sự tích lũy DNA khuếch đại ngay khi phản ứng đang xảy ra Cúm gia cầm có vật chất di truyền là RNA nên trong kỹ thuật real time PCR có thêm quá

Trang 39

trình sao chép ngược từ RNA → DNA gọi là Reverse transcription nên phương pháp này được gọi là Real time RT – PCR.

Nguyên lí hoạt động của Probe: Có nhiều loại hóa chất phát huỳnh quang dựa trên Primer và Probe, hóa chất được sử dụng cho kỹ thuật Real time RT – PCR phát hiện virus Cúm gia cầm tại Cơ quan Thú y vùng II là Taqman Probe.

Taqman probe được sử dụng như một trình tự oligonucleotide đặc hiệu, gắn chất huỳnh quang gọi là mẫu dò Taqman probe, cùng với các primer.

Taqman probe gắn một chất phát huỳnh quang ở đầu 5’ (reporter) và một chất hấp phụ huỳnh quang ở đầu 3’ (quencher) Khi còn nguyên vẹn, tín hiệu của chất phát huỳnh quang bị hấp thụ do nó nằm gần chất hấp phụ Trong giai đoạn kết hợp bắt gặp và kéo dài DNA trong phản ứng khuếch đại, probe liên kết với trình tự đích và hoạt động 5’ – 3’ exonuclease đặc hiệu cho DNA mạch đôi của Taq sẽ cắt đứt đầu gắn chất huỳnh quang Kết quả chất huỳnh quang bị tách khỏi chất hấp phụ và tín hiệu huỳnh quang phát ra

tỷ lệ với lượng sản phẩm khuếch đại trong mẫu.

Hình 2.8 Sơ đồ cơ chế hoạt động của Taqman probe

Trang 40

2.8 YẾU TỐ NGUY CƠ

Trong nhiều ổ dịch, quần thể có nguy cơ là khó xác định, vì vậy nghiên cứu so sánh không khả thi Tuy nhiên, vì ca bệnh đã được phát hiện giai đoạn sớm của quá trình điều tra nên nghiên cứu bệnh- chứng là phù hợp Vì lẽ đó mà nghiên cứu bệnh - chứng thường phổ biến hơn nghiên cứu so sánh nhóm trong điều tra ổ dịch.

Nguy cơ xảy ra dịch bệnh không chỉ nói chung chung là nguy cơ cao mà phải xác định và tính toán để chứng minh rằng yếu tố đó chính là yếu tố nguy cơ Muốn vậy, ta phải tính xác suất xảy ra bệnh khi không có yếu tố nguy cơ đó Sau đó

so sánh 2 xác suất với nhau Có 3 con số so sánh xác xuất tùy theo phương pháp nghiên cứu dịch tễ Đó là Tỷ số của hai xác suất OR (Odds Ratio), Tỷ số tỷ lệ nhiễm

PR (prevalence Ratio) và nguy cơ tương quan RR (Realative Risk)

2.8.3 Tỷ số chênh OR (Odds Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu

Nghiên cứu (điều tra) hồi cứu là điều tra ngược thời gian để tìm ra yếu tố nguy cơ đã làm cho bệnh xảy ra Một cách làm nghiên cứu hồi cứu là nghiên cứu bệnh chứng (Case control - Study) Người ta chọn một số gia súc có bệnh gọi là nhóm bệnh và một số gia súc không bệnh gọi là nhóm đối chứng và so sánh xem giữa 2 nhóm này có những điểm gì khác biệt Nhưng sự khác biệt này chủ yếu là do các yếu tố tác động đến gia súc ở 2 nhóm Các yếu tố nói trên nếu có tác động vào gia súc thì gia súc đó được coi là đã phơi nhiễm và nếu không có tác động thì gia súc đó được coi là không phơi nhiễm với các yếu tố đó.

Phân tích hồi quy logic đa tầng, nhiều biến (multilevel analysis) được áp dụng để định lượng các yếu tố nguy cơ theo các phân tầng khác nhau (Dohoo I.R, 2003).

Ngày đăng: 14/07/2021, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w