Phương pháp nghiên cứu Nội dung: -Phân tích đặc điểm dịch tễ về bệnh Dại tại Phú Thọ trong giai đoạn 2011 - 2016; - Xác định và theo dõi, quản lý chó cắn người từ thông tin về các trường
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:1 TS Trương Hà Thái
2 TS Phan Quang Minh
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan
và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, Ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Phạm Hùng
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài ngoài sự lỗ lực cố gắng của bản thân tôi luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của quý thầy, cô cũng như bạn bè đồng nghiệp và sự giúp đỡ của nhiều cá nhân tập thể trong và ngoài trường Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến quý thầy,
cô cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Trước hết tôi xin cảm ơn chân thành nhất tới TS Trương Hà Thái và
TS Phan Quang Minh đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ bảo ân cần của các thầy,
cô giáo trong khoa Thú y; Ban quản lý đào tạo và các thầy, cô giáo trong thời gian tôi học tập tại Học viện.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, cùng cán bộ công chức Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Ban quản lý Dự án “Những nghiên cứu về cúm ở góc độ tương tác giữa người và động vật và những bệnh chung khác” do Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) tài trợ.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Long, Trưởng phòng Thú y Thủy sản, Cục Thú y; Chi cục Thú y tỉnh Phú Thọ và đặc biệt là anh Nguyễn Xuân Thìn, Trưởng phòng Dịch tễ Thú y đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Một lần nữa cho em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này.
Hà Nội, Ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Phạm Hùng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm chung của bệnh dại 3
2.1.1 Căn bệnh 3
2.1.2 Dịch tễ học 5
2.1.3 Triệu chứng 7
2.1.4 Bệnh tích 9
2.1.5 Chẩn đoán 9
2.1.6 Phòng bệnh 12
2.1.7 Điều trị 16
2.2 Tình hình bệnh dại trên thế giới và khu vực châu Á 16
2.3 Tình hình bệnh dại ở Việt Nam 17
2.3.1 Tình hình bệnh Dại trên người 18
2.3.2 Tình hình bệnh Dại ở động vật 22
2.4 Công tác giám sát và phòng chống bệnh dại ở việt nam 25
2.4.1 Kết quả đạt được 25
2.4.2 Những khó khăn, thách thức 26
Trang 5Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 29
3.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Thời gia nghiên cứu 29
3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên cứu 29
3.4 Nội dung nghiên cứu 29
3.4.1 Điều tra tình hình nuôi chó trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai đoạn 2011 – 2016 29 3.4.2 Điều tra tình hình tiêm phòng bệnh Dại cho chó trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai đoạn 2011 – 2016 29
3.4.3 Điều tra tình hình bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai đoạn 2011 – 2016 29 3.4.4 Giám sát bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú thọ năm 2016 29
3.5 Phương pháp nghiên cứu 30
3.5.1 Phương pháp điều tra 30
3.5.2 Phương pháp xét nghiệm 31
Phần 4 Kết quả và thảo luận 33
4.1 Tình hình quản lý chó nuôi tại tỉnh Phú Thọ 33
4.2 Kết quả tiêm phòng vắc xin Dại cho chó 37
4.2.1 Kết quả tiêm phòng cho đàn chó từ năm 2011 - 2015 37
4.2.2 Kết quả tiêm phòng khẩn cấp bao vây ổ dịch 38
4.3 Tình hình bệnh dại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 41
4.3.1 Tình hình bệnh Dại trên người 41
4.3.2 Tình hình bệnh Dại trên động vật 43
4.4.1 Công tác tiếp nhận thông tin, điều tra, báo cáo, tổ chức chống dịch 45 4.4.2 Điều tra các ca điều trị dự phòng bệnh Dại tại các Trung tâm Y tế.46 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 58
Tài liệu tham khảo 59
Phụ lục 63
Trang 7Bảng 2.3 Bệnh dại trên động vật ở Việt Nam giai đoạn 2008-2015 22
Bảng 2.4 Tình hình tiêm phòng Dại trên chó của Việt Nam 24
Bảng 4.1 Kết quả tiêm phòng vắc-xin Dại tại các xã ổ dịch Dại năm 2016
38
Bảng 4.2 Tình hình dịch bệnh tại Phú Thọ từ năm 2011-2016 41
Bảng 4.3 Điều tra phát hiện ổ dịch 44
Bảng 4.4 Kết quả điều tra tình hình số người bị chó nghi Dại cắn theo các
phương thức nuôi khác nhau 48
Bảng 4.5 Kết quả điều tra tình hình số người bị chó nghi Dại cắn theo thời
gian khác nhau tại tỉnh Phú Thọ năm 2016 50
Bảng 4.6 Kết quả điều tra tình hình tiêm phòng Dại ở những chó cắn người
trong năm 2016 tại tỉnh Phú Thọ 53
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán các mẫu nghi Dại lấy từ chó cắn người tại tỉnh
Phú Thọ năm 2016 55
Trang 8DANH MỤC HÌNH
trên thế giới – WHO 2013
Hình 2.2 Số trường hợp tử vong do Dại ở người theo khu vực ở Việt Nam, giai đoạn 1995-2015
Hình 2.3 Tỉnh có số người tử vong vì bệnh Dại cao nhất ở Việt Nam (2011– 2015)
Hình 2.4 Số người đi tiêm vắc xin phòng Dại theo khu vực ở Việt Nam giai đoạn 1996-2015
Hình 2.5 Phân bố loại động vật cắn ở người đến tiêm vắc xin phòng Dại ở Việt Nam
Hình 2.6 Bản đồ phân bố các tỉnh có bệnh Dại trên chó tại Việt Nam giai đoạn 2011-2014
Hình 2.7 Bản đồ phân bố chó nuôi và tỷ lệ tiêm phòng Dại cho chó ở Việt Nam năm 2015
Hình 3.1 Mô hình điều tra
Hình 3.2 Thời gian điều tra giám sát
Hình 4.1 Số lượng tổng đàn chó theo xã trung bình từ năm 2011 - 2016
Hình 4.2 Tỷ lệ hộ nuôi chó được quản lý trung bình từ năm 2011 - 2016
Hình 4.3 Tỷ lệ chó nuôi được quản lý từ năm 2011 - 2016
Hình 4.4 So sánh kết quả tiêm phòng qua các năm 2011 – 2016
Hình 4.5 Tỷ lệ tiêm phòng cho đàn chó từ năm 2011 - 2016
Hình 4.6 Số người phơi nhiễm đến các trung tâm y tế điều trị
Hình 4.7 Số ca tử vong do bệnh Dại
Hình 4.8 Điều tra phát hiện ổ dịch
Hình 4.9 Số người phải đi điều trị dự phòng trung bình từ năm 2011 - 2016
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Hùng
Tên luận văn: “Giám sát bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2016”
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp
Việt Nam Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng về tình hình nuôi và công tác quản lý đàn chó nuôi, tỷ lệ tiêm phòng bệnh Dại trên đàn chó nuôi tại tỉnh Phú Thọ;
-Hiểu rõ đặc điểm dịch tễ bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ;
- Tăng cường năng lực giám sát và chẩn đoán bệnh Dại trên động vật tại tỉnh
Phú Thọ.
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung:
-Phân tích đặc điểm dịch tễ về bệnh Dại tại Phú Thọ trong giai đoạn 2011 - 2016;
- Xác định và theo dõi, quản lý chó cắn người từ thông tin về các trường hợp người đi tiêm phòng bệnh Dại;
- Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, tập trung chủ yếu 03 huyện Phù Ninh, Thanh Ba và thành phố Việt Trì.
Phương pháp xét nghiệm:
- Xét nghiệm bằng phương pháp DFA (Kháng thể huỳnh quang trực tiếp) để sàng lọc các mẫu dương tính với bệnh Dại.
Kết quả chính và kết luận
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
1 Tình hình quản lý chó nuôi trên địa bàn tỉnh Phú thọ
Tỉnh Phú Thọ có khoảng 123.686 hộ nuôi chó, chiếm khoảng trên 40% số hộ toàn tỉnh với tổng đàn chó là 264.709 con (khoảng 2,1 con chó/01hộ) Phần lớn (89%) chó được nuôi để giữ nhà Chó chủ yếu nuôi theo phương thức thả rông, không xích nhốt Số hộ nuôi xích nhốt chó khoảng 38.629 hộ (chiếm 31,23% số hộ nuôi chó) Chó thả rông dễ gây tai nạn giao thông và ô nhiễm môi trường Giống chó địa phương là phổ biến nhất (chiếm 87%); nguồn con giống được cung cấp trong vùng (45%).
Trang 102. Điều tra tình hình tiêm phòng bệnh Dại cho chó trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai đoạn 2011 – 2016
Công tác điều tra, giám sát và phòng chống bệnh Dại địa bàn tỉnh Phú Thọ đã được nâng cao qua các năm trong giai đoạn nghiên cứu: Năm 2011 (tiêm được 39.588/119.784 con, đạt 33,05%); năm 2012 (tiêm được 49.477/135.618con, đạt 36,46%); năm 2013 (tiêm được 109.602/163.388 con, đạt 67,08%); năm 2014 (tiêm được 124.110/134.140 con, đạt 92,52%); năm 2015 (tiêm được 78.800/110.736 con, đạt 71,16%); năm 2016 (tiêm được 74.338/88.888 con, đạt 83,69%).
3. Điều tra tình hình bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai đoạn 2011 – 2016
Từ năm 2011- 2016 qua công tác điều tra, giám sát đã phát hiện
59 ổ dịch Dại trên động vật, với 78 con chó mắc bệnh.
Công tác điều tra, giám sát và phòng chống bệnh Dại địa bàn tỉnh Phú Thọ, góp phần làm giảm số ca tử vong vì bệnh Dại trên địa bàn (năm 2016, tỉnh Phú Thọ có 7.300 trường hợp người điều trị dự phòng bệnh Dại, tăng 1.820 trường hợp so với 2015; có 02 ca tử vong, giảm 01
ca so với năm 2015 và giảm nhiều so với những năm trước đó).
4 Giám sát bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú thọ trong năm 2016
Công tác điều tra, giám sát chủ động bệnh Dại năm 2016 với Kết quả giám sát bệnh Dại trên đàn chó nuôi cho thấy sự lưu hành virus Dại trên các trường hợp chó nghi mắc Dại tại địa bàn tỉnh Phú Thọ là rất cao ( 45/100 trường hợp chó cắn người mắc bệnh Dại, chiếm 45%) Tuy nhiên, với nỗ lực của ngành Thú y và ngành Y
tế, số người phơi nhiễm đi điều trị dự phòng bệnh Dại tăng cao, đồng thời số người
tử vong trên địa bàn giảm nhiều so với những năm trước.
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Pham Hung
Thesis title: "Surveillance of rabies in Phu Tho province in 2011-2016"
Educational organization: Vietnam Agriculture
Academy Research Objectives
- Evaluate the status of raising and management of breeding herds, the rate of vaccination against wild dogs in Phu Tho province;
-Better understand epidemiology patterns of rabies in Phu Tho province;
- Strengthen surveillance and diagnostic capacity of animal rabies
in Phu Tho province.
Materials and Methods
•Contents :
- Analyse epidemiology patterns of animal rabies in Phu Tho during the period from 2011 to 2016;
-Identify, monitore and manage dogs those had bitten humans;
- The study area is Phu Tho province, mainly in Phu Ninh, Thanh Ba and Viet Tri districts.
•Methodology:
- DFA (direct fluorescent antibody) assay for screening for positive specimens at the National Center for Veterinary Diagnosis.
rabies-Main findings and conclusions
Research resultsshowed that:
1 Situation of management of breeding dogs in Phu Tho province
Phu Tho Province has about 123,686 dog breeders, accounting for over 40% of the province with a total of 264,709 dogs (about 2.1 dogs / 01 breed) The majority (89%) of the dogs were raised to keep the house Dogs are mainly raised by free-range, not chained Number of hatching dogs is 38,629 (31.23% of dogs) Dogs can easily cause traffic accidents and environmental pollution Local breeds are the most common (accounting for 87%); Seed supply is available in the region (45%).
Trang 122. Investigate the situation of wild dog vaccination in Phu Tho
province in the period of 2011 – 2016
Survey, surveillance and prevention of wild-type diseases Phu Tho province has been improved over the years in the research period: In 2011 (injected 39.588 / 119.784 children, reaching 33.05%); in 2012 (injected 49.477 / 135.618con, reaching 36.46%); in 2013 (injected 109,602 / 163,388 children, reaching 67.08%); in
2014 (124,110 / 134,140 inoculation, reaching 92.52%); in 2015 (injected 78,800
/ 110,736 children, reaching 71.16%); In 2016 (injected 74,388 /88,888 children, reaching 83.69%).
3. Investigate the situation of rabies in Phu Tho province in the period of 2011 - 2016
From 2011 to 2016, through the investigation and surveillance,
59 outbreaks were detected in wild animals, with 78 infected dogs.
Survey, surveillance and prevention of wild type diseases in Phu Tho province, contributing to reducing the number of deaths from wild disease in the area (in 2016, Phu Tho province has 7,300 cases of preventive disease patients This is an increase of 1,820 cases compared to 2015, two deaths, one reduction compared to 2015 and much lower than in the previous years.
4 Surveillance of rabies in Phu Tho province in 2016
Active surveillance and surveillance of wildtypes in 2016 with surveillance results in wild dogs showed wild rabies in wild dogs suspected of wild rabies in Phu Tho province high (45/100 cases of dog bite disease, accounting for 45%) However, with the efforts of the veterinary sector and the health sector, the number of people exposed to treatment increased wild disease, while the number of deaths in the area decreased significantly compared to previous years.
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh Dại là một trong những bệnh được ghi nhận từ thời cổ xưa, cách đây hơn 3.000 năm và là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm truyền lây từ động vật sang người Bệnh có thể gặp ở tất cả động vật có vú, virus có nhiều trong nước dãi của con vật mắc Bệnh lây truyền sang người hoặc động vật khác chủ yếu do các chất tiết bị nhiễm, thường do vết cắn, vết liếm, vết cào ở
da của động vật mắc bệnh Dại rồi tác động vào hệ thống thần kinh gây ra các triệu chứng đặc trưng là rối loạn thần kinh, điên cuồng, cắn xé dẫn đến tê liệt toàn thân và chết (Tổ chức thú y thế giới OIE, 2003).
Mặc dù đã có vắc xin điều trị dự phòng, tuy nhiên cho đến nay, bệnh vẫn là vấn đề y tế công cộng toàn cầu Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2001): Hàng năm, trên Thế giới có khoảng 60.000 người tử vong
do bệnh Dại Phần lớn các ca tử vong do Dại tập trung ở các châu lục như Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ Theo WHO, tỷ lệ chết vì bệnh Dại ở các Châu lục này chiếm 90% số tử vong trên toàn thế giới, 30-60% số người tử vong là trẻ
em dưới 15 tuổi với phí tổn hàng năm lên tới hàng tỷ đô la (Bộ Y tế, 2006).
Tại Việt Nam, hiện nay bệnh vẫn lưu hành và lây lan khắp mọi miền đất nước.
Tỷ lệ người tử vong ở Việt Nam do Dại đứng thứ 14 trên Thế giới Bệnh xuất hiện đỉnh điểm năm 1995 với 505 trường hợp tử vong Ngay sau đó, Thủ tướng chính phủ
đã ra Chỉ thị 92/TTg về phòng chống bệnh Dại (PCBD), nhờ đó công tác giám sát và truyền thông nâng cao, việc quản lý và tiêm phòng cho đàn chó được chú trọng, nhận thức người dân đã được cải thiện đáng kể, số ca tử vong do Dại đã giảm xuống một cách rõ rệt vào năm 2003 chỉ còn 34 bệnh nhân (Bộ Y tế, 2009) Tuy nhiên, những năm gần đây cùng với sự gia tăng bệnh Dại ở các nước Châu Á, số bệnh nhân tử vong do Dại ở Việt Nam cũng đã và đang gia tăng cả về số lượng, địa dư và
có diễn biến ngày càng phức tạp Miền Bắc là nơi có tỷ lệ tử vong cao nhất và tỷ lệ tiêm phòng thấp nhất trong các khu vực, ngược lại miền Nam có tỷ lệ tử vong thấp nhất và tỷ lệ tiêm vắc xin phòng Dại cao nhất Tỷ lệ tử vong ở lứa tuổi lao động cao nhất, ở nhóm nam cao hơn nữ, nhóm dân tộc thiểu số cao hơn so với người Kinh Hầu hết (85%) ca tử vong xảy ra ở vùng nông thôn, 100% có tiền sử phơi nhiễm với chó, hầu hết chó cắn người không được tiêm
Trang 14phòng 98% số người chết do không đi tiêm vắc xin phòng Dại sau khi bị động vật cắn, 54% số này do chủ quan, 23% bệnh nhân thiếu hiểu biết không tiêm vắc xin phòng Dại Bệnh Dại có thể xảy ra quanh năm, tuy nhiên vào các tháng mùa
hè thì số lượng BN có tăng hơn các mùa khác (Hoàng Văn Tân và cs., 2013).
Tại Phú Thọ, công tác tiêm phòng cho đàn chó cũng đã được triển khai hàng năm Tuy nhiên, người dân vẫn có thói quen nuôi chó thả rông,
cơ quan Thú y vẫn chưa quản lý được tổng đàn chó dẫn tới vẫn còn chó mắc Dại cắn người Từ năm 2011 đến nay có 37 người tử vong do bệnh Dại Do đó, công tác phòng chống bệnh Dại rất cần sự quan tâm chung tay của Đảng, đoàn thể và chính quyền các cấp và cộng đồng.
Trong thời gian 2015 – 2016, Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) đã giúp đỡ tỉnh Phú Thọ quản lý, điều tra và giám sát bệnh Dại nhằm phát hiện sớm, nắm bắt được các trường hợp chó Dại cắn người và tăng cường quản lý, tiêm phòng cho đàn chó tại tỉnh Phú Thọ Với những lý do nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Giám sát bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2016 ”.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được thực trạng về tình hình nuôi và công tác quản lý đàn chó nuôi, tỷ lệ tiêm phòng bệnh Dại trên đàn chó nuôi tại tỉnh Phú Thọ;
- Hiểu rõ đặc điểm dịch tễ bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ;
- Tăng cường năng lực giám sát và chẩn đoán bệnh Dại trên động vật tại tỉnh Phú Thọ.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tiến hành điều tra, giám sát bệnh Dại trên đàn chó nuôi tại tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2011 – 2016.
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu, điều tra, giám sát và phòng chống bệnh Dại sẽ góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân về bệnh Dại; chủ động, kịp thời phát hiện và xử lý nhanh các ổ dịch Dại trên đàn chó; đưa ra các giải pháp phòng, chống bệnh Dại và tiến tới khống chế
và thanh toán bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đạt hiệu quả cao.
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH DẠI
Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính chung cho nhiều loại động vật máu nóng và người do một loại virus hướng thần kinh gây nên Do virus tác động vào não bộ nên con vật có những tác loạn thần kinh như: điên cuồng, lồng lộn, bại liệt rồi chết.
2.1.1 Căn bệnh
2.1.1.1 Phân loại
Bệnh dại do virus giống Lyssavirus, họ Rhabdoviridae Lyssavirus được chia thành 7 loài căn cứ vào phản ứng gây miễn dịch chéo hoặc bằng kỹ thuật sinh học phân tử, bao gồm virus dại và những virus có quan hệ gần {virus serotyp từ 2 - 4, EBLV và ABLV, có thể gây nên bệnh giống như dại (rabies - like) ở người và động vật}
Bằng phương pháp sử dụng kháng thể đơn dòng, kỹ thuật giải trình
tự gen, người ta có thể phát hiện được nhiều subtyp trong mỗi một serotyp Lyssavirus gây nên bệnh có triệu chứng lâm sàng có thể phân biệt được với bệnh Dại cổ điển Giữa RABV có thể có miễn dịch chéo với DUUV, EBLV và ABLV; nhưng MOKV hay LBV thì không có hoặc rất ít.
Thể Negri do nhà bác học Adelchi Negri (Italia) phát hiện ra năm 1903 ở trong não của súc vật chết vì bệnh dại Thể Negri có hình dạng thay đổi (nhỏ, hình tròn hoặc hình trứng, hình bầu dục), kích thước từ 0,5 – 30 µm, thường định vị trong bào tương của noron thần kinh, chủ yếu là ở sừng Amon, trong
tế bào tiểu não ít hơn Bản chất tiểu thể Negri đến nay chưa rõ:
- Có ý kiến cho rằng đó là "khuẩn lạc", là tập hợp các hạt virus hình thành trong quá trình nhân lên của virus.
- Cũng có ý kiến cho rằng đó là bệnh tích trong tế bào thần kinh do virus gây nên.
Điều quan trọng là thể Negri chỉ phát hiện trong não động vật mắc bệnh dại mà không phát hiện thấy trong các bệnh khác Có thể nhuộm tiểu thể Negri bằng phương pháp nhuộm Giemsa, Mann's, Seller's.
Trang 162.1.1.2 Hình thái, cấu trúc
Virus dại có hình viên đạn, kích thước 70 - 80 x 130 - 240 nm; là virus có vỏ bọc bên ngoài với các đầu nhọn dài 6 - 7 nm.
Virus dại có cấu trúc nhân là ARN sợi đơn, có 5 loại protein là
I, G, N, M 1 và M 2 , trong đó protein G ở trên bề mặt có thể chia thành
G 1 và G 2 có vai trò chính trong tính gây bệnh của virus.
Những chủng virus dại phân lập từ bệnh phẩm tự nhiên gọi là "virus dại đường phố" (street virus): đây là chủng virus dại cường độc có khả năng gây bệnh cho người và động vật (thời gian nung bệnh ở thỏ là 17 ngày, ở người là 40 ngày) Nếu đem virus này tiêm truyền nhiều lần qua thỏ, sau mỗi lần tiêm truyền, thời gian ủ bệnh rút ngắn lại (chỉ còn 3 - 5 ngày), khi tiêm cho người và động vật sẽ không mắc bệnh mà tạo được miễn dịch, được gọi là chủng virus dại cố định "fixed virus".
2.1.1.3 Tính chất nuôi cấy
Virus dại phát triển trong tế bào thần kinh của tất cả các loài động vật máu nóng và một số động vật máu lạnh Thỏ là động vật đầu tiên được dùng để tiêm truyền bệnh dại, đến nay chuột sơ sinh được coi là động vật mẫn cảm nhất và được dùng để chẩn đoán bệnh.
Virus có thể nhân lên khi nuôi cấy trên phôi gà, phôi vịt, một số tế bào loại tế bào dòng, đặc biệt là tế bàoVero (African green monkey kidney), tế bào BHK-21 (baby hamster kidney) và tế bào lưỡng bội của người.
2.1.1.4 Sức đề kháng
Virus dại có sức đề kháng yếu với điều kiện ngoại cảnh Ở nhiệt độ 56°C, virus bị diệt sau 30 phút; nhiệt độ 70°C, virus bị chết ngay Các chất sát trùng như formol 1%, cresol 3% và beta- propiolactone 0,1% đều có khả năng diệt virus.
Tuy nhiên, virus có thể nằm trong não động vật bị bệnh dại 10 ngày ở nhiệt độ phòng, vài tuần ở 4°C và 3 - 4 năm ở nhiệt độ âm.
Nếu lấy não động vật mắc bệnh dại cho vào dung dịch phenol 0,5% có thể bảo quản virus từ 1 - 2 tuần; điều này cho phép gửi bệnh phẩm đi chẩn đoán tránh bị thối rữa.
Trang 172.1.2 Dịch tễ học
2.1.2.1 Loài vật mắc bệnh
Trong thiên nhiên, mọi động vật máu nóng đều mắc bệnh, nhất là chó, chó sói, cáo, mèo Người cũng rất mẫn cảm với bệnh Động vật nuôi khác dễ nhiễm bệnh dại bao gồm trâu, bò, ngựa, lợn, lạc đà, khỉ.
Bệnh dại phát hiện chủ yếu ở đàn chó nhưng ở nhiều nước, bệnh lây lan mạnh trong động vật hoang dã Ở Châu Âu, bệnh xảy ra ở đàn cáo, chó sói, chó rừng Khi động vật hoang dã mắc bệnh không những làm cho chúng bị chết hàng loạt mà còn gây nhiễm cho con người và động vật thuần hóa Ở Châu Mỹ, chồn và dơi là loài động vật mang và tàng trữ bệnh dại Đối với Châu Á và Việt Nam, chó nuôi được coi là vật mắc bệnh chính đồng thời cũng là động vật tàng trữ mầm bệnh.
Con vật mắc bệnh ở mọi lứa tuổi.
Trong phòng thí nghiệm, dùng nước bọt động vật mắc bệnh dại (hoặc chất nghiền não) có thể gây bệnh cho hầu hết động vật có vú Cách gây bệnh chắc chắn nhất là tiêm vào bên trong màng cứng của não, tủy sống, vào hốc mắt và tiêm bắp Tiêm dưới da hầu như không gây bệnh cho chó, chỉ gây bệnh cho 75% thỏ Nếu cùng làm tổn thương cơ và dây thần kinh, bôi xoa hỗn dịch virus lên vết thương trên da việc gây bệnh thực nghiệm chỉ đạt 50% ở thỏ và chó.
Dùng não, nước bọt vật mắc bệnh để gây bệnh bằng đường miệng (cho ăn) hầu như không đạt kết quả Tuy nhiên, người ta gây bệnh thực nghiệm thành công cho thỏ bằng cách nhỏ virus cường độc vào niêm mạc mắt hoặc niêm mạc mũi lành lặn Gây bệnh thực nghiệm bằng cách tiêm vào não bao giờ con vật cũng thể hiện ở thể dại điên cuồng.
Tiêm xoang bụng có thể gây bệnh được cho chuột.
Trang 18cần theo dõi chó ít nhất 14 ngày sau khi chó cắn người mới được coi là an toàn với bệnh.
Đối với dơi, thời gian xác định có virus trong nước bọt là 135 ngày trước khi con vật phát bệnh lâm sàng Đây là một loại động vật nguy hiểm vì chúng có thể di chuyển xa hàng trăm kilomet.
Mắt, nhất là giác mạc thường có virus Nước tiểu, gan, lách, tuyến thượng thận, phổi có thể chứa virus nhưng không thường xuyên.
2.1.2.3 Phương thức truyền lây
Phần lớn các trường hợp bệnh dại phát ra sau khi bị động vật mắc bệnh dại cắn, một số trường hợp hãn hữu là do virus rơi vào niêm mạc hoặc vết thương hở.
Có trường hợp, bệnh dại xảy ra do hít phải không khí có virus trong hang dơi hoặc do tiếp xúc với niêm mạc Ở người, một số ca bệnh dại xảy ra sau khi nhận giác mạc của người bị bệnh.
Chú ý: Động vật bị động vật khác mắc dại cắn có khả năng phát bệnh dại 30 - 40% Điều đó có nghĩa là không phải 100% động vật bị cắn bởi con vật mắc bệnh dại sẽ phát bệnh Nguyên nhân có thể giải thích như sau:
- Sự phát bệnh tùy thuộc vào vết cắn, nếu vết cắn sâu, rộng thì khả năng phát bệnh dại lớn Chó và chó sói mắc bệnh dại cắn sâu
và rộng hơn các động vật khác, mèo thường cắn vết nhỏ nhưng sâu Do vậy, khi bị các động vật này cắn thì khả năng phát dại cao.
- Nếu vết thương chảy máu có thể coi đó là quá trình tự rửa, đẩy virus trôi ra ngoài: con vật bị cắn ít có khả năng phát dại.
- Người hay vật bị cắn có lớp bao phủ (quần áo dày ở người, lông dày ở cừu ) sẽ thấm nước bọt, làm giảm đi lượng virus vào vết thương.
- Người bị chó dại cắn nếu ngay lập tức tẩy rửa và bôi thuốc sát trùng sẽ giảm khả năng phát dại.
- Virus sau khi vào cơ thể bị cơ thể chống lại bằng các phản ứng không đặc hiệu.
- Một số trường hợp (động vật và người) sau khi virus vào cơ thể sẽ nằm tiềm ẩn trong đó rất lâu, đến khi cơ thể yếu đi, do các tác nhân độc hoặc stress sẽ phát bệnh Điều này giải thích kỷ lục ủ bệnh ở người là 7 năm sau khi bị chó dại cắn mới phát bệnh.
Trang 192.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh
Khi vào cơ thể qua vết cắn, virus tồn tại ở đó một thời gian (vài giờ hoặc vài ngày) rồi vào tế bào thần kinh ngoại biên và di chuyển hướng tâm đến hạch tủy sống, não bộ Người ta tính được tốc độ di chuyển của virus trong dây thần kinh là 0,5 - 1mm/giờ Tại não bộ, virus lại theo dây thần kinh di chuyển đến các nơi khác (ví dụ như tuyến nước bọt ), lúc này người ta gọi virus di chuyển theo hướng li tâm.
- Thời kỳ đầu, virus mới nhân lên ở não bộ, phá hủy một lượng
ít noron thần kinh nên con vật chưa có biểu hiện bệnh dại.
- Giai đoạn sau, virus nhân lên, phá hủy các tế bào thần kinh, con vật xuất hiện triệu chứng thần kinh: điên cuồng, lồng lộn, cắn xé, rối loạn tâm lý.
- Sau đó, các noron bị phá hủy nghiêm trọng, con vật bị bại liệt rồi chết Phần lớn chết do liệt thần kinh hô hấp.
Bệnh Dại ở chó
Bệnh Dại chia làm hai thể: thể dại điên cuồng và thể dại bại liệt (hay thể dại câm).
2.1.3.1 Thể dại điên cuồng
Chiếm từ 15 - 20% chó bị dại (ở các nước nhiệt đới, tỷ lệ này cao hơn: 70%) Biểu hiện lâm sàng của chó chia làm 3 thời kỳ:
2.1.3.1.1 Thời kỳ mở đầu
Thời kỳ này rất khó phát hiện Chó có các biểu hiện khác thường, chủ yếu thay đổi về tính nết như: trốn vào một góc kín (sau tủ, gầm giường, chỗ tối ), khi chủ gọi chạy đến một cách miễn cưỡng; hoặc biểu hiện vui mừng quá hơn bình thường (liếm chân tay chủ, vẫy đuôi nhanh hơn ).
Trang 20Thỉnh thoảng cắn sủa vu vơ lên không khí hoặc cắn lên không khí (đớp ruồi), vẻ bồn chồn.
2.1.3.1.2 Thời kỳ kích thích
Biểu hiện chính của thời kỳ này là các phản xạ thông thường của chó bị kích thích mạnh:
- Đang ngồi dưới đất đứng dậy, nhảy lên
- Chủ gọi, lao ngay đến liếm chân, liếm tay chủ
- Thấy người lạ xông ra cắn sủa dữ dội
- Chó có phản ứng quá mức đối với tiến động và ánh sáng: tiếng động nhẹ, bật đèn lao đến cắn sủa dữ dội.
- Nơi bị cắn ngứa, chó thường liếm, cắn, cọ sát vào chỗ này, nhiều khi rụng hết lông, chảy máu.
- Thỉnh thoảng con ngươi mắt mở to (đây là triệu chứng quan trọng để kết luận bệnh dại) Chó ngồi đờ đẫn, khi có kích thích bên cạnh thì giật mình.
- Chó bỏ ăn, nuốt khó khăn, phải vươn cổ ra để nuốt, cắn các vật lạ; khát nước, uống liên tục nhưng chỉ uống được rất ít.
- Chó bắt đầu chảy nước dãi, sùi bọt mép
Sau khi phát bệnh 2 - 3 ngày:
- Bộ mặt chó dại đặc trưng: mắt đỏ ngầu, hai tai dựng ngược, mồm há hốc ra, hàm dưới trễ hẳn xuống, nước dãi chảy thành dòng, bụng thóp lại.
- Tiếng sủa đặc trưng: dây thần kinh họng bắt đầu bị liệt, chó phát ra tiếng hú nghe như thiếu hơi, xa xôi.
- Nếu chó không bị nhốt giữ sẽ bỏ nhà ra đi, thường không bao giờ quay
về nữa Trong trường hợp có xích buộc, tìm mọi cách cắn cào giựt xích để đi Sau khi bỏ nhà đi, chó lang thang ngoài đường; không chạy thẳng mà chạy theo hình chữ chi Nếu gặp chó khác, nó không sủa, không phát ra riếng kêu mà xông vào cắn, nhất là tìm cách cắn vào đầu (khác chó cắn trộm, xông vào cắn phía sau) Khi chó lành bỏ chạy thì không đuổi theo, nhưng nếu không chạy mà kháng cự ta sẽ thấy hai chó cắn nhau, một con bị dại cắn điên cuồng nhưng không kêu, trong khi đó chó lành bị tấn công thì gầm gừ sủa, kêu la.
Trang 21Đối với người, chó dại thường chạy trốn, ít khi tấn công trừ khi bị đe dọa.
- Khi lên cơn, nhiều khi chó cắn cả vật bất động cho đến khi gãy cả răng, chảy máu miệng Cần chú ý là trong khi cắn như vậy chúng không hề phát ra tiếng kêu.
Các cơn dại thường xen kẽ với cơn trầm uất, chó ngồi lặng lẽ, nét mặt đờ dại trông vẻ sợ sệt.
2.1.3.1.3 Thời kỳ bại liệt
Con vật bị liệt mặt, không ăn và nuốt được, nước bọt chảy ra nhiều, hàm dưới trễ hẳn xuống; sau đó liệt các cơ vận động và chết do liệt hô hấp hoặc vì kiệt sức do sự vận động của cơn dại và không ăn uống gì.
2.1.3.2 Thể dại bại liệt
Hay còn gọi là thể dại lặng Con vật không có các biểu hiện lên cơn cuồng nộ, còn lại các biểu hiện khác tương tự như đã trình bày.
Do con vật không cắn, không sủa nên còn gọi là dại câm Chó con thường
bị bệnh dại ở thể lặng, nhiều người cho rằng chó con ốm "sài đẹn" mà chết Do không thấy lên cơn điên cuồng nên dù bị cắn cũng không nghi là bệnh dại Sau khi lên cơn dại, đa số trường hợp bệnh kéo dài 5 - 7 ngày, có khi hãn hữu chỉ 2 ngày hoặc có trường hợp 14 ngày Một số trường hợp chó bị bệnh có thể khỏi (5 - 6%), virus có thể tồn tại trong cơ thể sau đó một thời gian dài.
Tìm thấy tiểu thể Negri ở não, đặc biệt là sừng Amon.
2.1.5 Chẩn đoán
2.1.5.1 Chẩn đoán lâm sàng
Do tính chất nguy hiểm của bệnh dại đối với con người; mặt khác, do yêu cầu khách quan của khoa học đòi hỏi sự chính xác, người ta đưa ra khái niệm chó
Trang 22nghi bệnh dại mà không đòi hỏi nhất thiết một cách chính xác chó có bị bệnh dại hay không Nói cách khác, khi chó bị nghi dại cần phải xử lý như chó bị dại Do đó, bất kỳ một biểu hiện thần kinh không bình thường nào của chó đều được coi là nghi bệnh dại Thậm chí, ở một số nước phương Tây, gần như luật pháp cấm thú y chữa chạy cho chó có biểu hiện triệu chứng thần kinh do đề phòng bệnh dại.
* Chẩn đoán khẳng định: cho phép khẳng định nhầm con vật bị bệnh dại nhưng không cho phép khẳng định nhầm là con vật không
bị bệnh dại, vì lý do sức khỏe và tính mạng con người.
2.1.5.2 Các phương pháp chẩn đoán thường quy
Có 3 phương pháp chẩn đoán cơ bản và bắt buộc phải tiến hành đồng thời là:
- Tìm thể Negri
- Chẩn đoán huỳnh quang
- Chẩn đoán bằng phương pháp nuôi cấy virus
Kết quả ba phương pháp bổ sung cho nhau; chỉ một phương pháp có kết quả dương tính, con vật được coi là mắc bệnh dại.
Bệnh phẩm có thể lấy là não, tuyến nước bọt của con vật nghi mắc bệnh Do formol có khả năng giết chết virus nên chỉ sử dụng với những phản ứng như miễn dịch huỳnh quang trực tiếp hoặc miễn dịch bệnh lý, với các chẩn đoán khác cần bảo quản bệnh phẩm trong dung dịch glyxerin/PBS 50% (PBS = Phosphate buffered saline), tốt nhất là bảo quản lạnh.
2.1.5.3 Phương pháp tìm tiểu thể Negri
Thể Negri là tập hợp các hạt virus hình thành trong quá trình nhân lên của virus, chỉ phát hiện trong não động vật mắc bệnh dại
mà không phát hiện thấy trong các bệnh khác Có thể nhuộm tiểu thể Negri bằng phương pháp nhuộm Giemsa, Mann's, Seller's.
Sau khi làm tiêu bản bằng cách áp kính vào lát cắt vùng sừng amon, nhuộm Giemsa hoặc Seller's, tiểu thể Negri bắt màu đỏ thẫm, có hình đa dạng.
Phương pháp nhuộm Mann's được thực hiện sau khi đã gắn bệnh phẩm vào paraffin, sau 3 ngày mới cho kết quả.
Các phương pháp làm tiêu bản tổ chức này có ưu điểm là có thể áp dụng ở
Trang 23những phòng thí nghiệm không được trang bị hiện đại; tuy nhiên, do độ nhạy thấp (đặc biệt phương pháp Seller's) nên sẽ ít hoặc bị cấm sử dụng Phương pháp này cho kết quả nhanh trong trường hợp dương tính Nói cách khác đây là phản ứng không cho kết quả dương tính giả; nhưng thường cho kết quả âm tính giả, nghĩa là khi không quan sát thấy thể Negri không có nghĩa con vật không mắc bệnh dại Cần làm các phản ứng khác để khẳng định. 2.1.5.4 Chẩn đoán huyết thanh học
Người ta dùng phản ứng miễn dịch huỳnh quang (FAT) để chẩn đoán bệnh dại vì đây là phản ứng có độ nhạy và chính xác cao (95 - 99%), cho kết quả sau vài giờ.
Phản ứng có thể tiến hành trực tiếp trên tiêu bản bệnh phẩm hoặc có thể dùng để xác định sự có mặt của kháng nguyên virus dại trong tế bào nuôi cấy hoặc trong não chuột gây nhiễm virus.
Để làm phản ứng trực tiếp, lấy bệnh phẩm là nước bọt hoặc não con vật nghi mắc bệnh, áp lên trên phiến kính, cố định bằng axeton Nhỏ 1 giọt kháng thể đặc hiệu có conjugate là fluorescein isothiocyanate (FITC), để 1 giờ rồi xem kết quả dưới kính hiển vi huỳnh quang.
- Phản ứng (+): tiêu bản phát màu xanh lá cây, con vật bị dại
- Phản ứng (-): không có phát sáng
Phản ứng FAT có độ nhạy cao hơn phương pháp tìm tiểu thể Negri; tuy nhiên, FAT khi cho kết quả âm tính chưa thể kết luận con vật không mắc bệnh dại Nguyên nhân là do nhiều khi lượng virus trong não động vật quá ít Do vậy, cần phải sử dụng phương pháp nuôi cấy virus.
2.1.5.5 Chẩn đoán bằng phương pháp nuôi cấy virus
- Nuôi cấy trên chuột: dùng 5 - 10 chuột 3 - 4 tuần tuổi (12 - 14g), hoặc chuột mới đẻ 2 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào não (nếu có thể, sử dụng chuột sạch bệnh SPF - specific pathogen free), mỗi con 0,05ml.
+ Chuẩn bị: lấy não của con vật nghi mắc bệnh, nghiền với nước sinh lý thành nồng độ 20%, bổ sung kháng sinh.
+ Chuột lớn theo dõi trong 28 ngày, chuột liệt và chết mỗi ngày được kiểm tra lại bằng phản ứng FAT Với chủng virus dại đường phố, thường gây chết chuột sau 9 ngày Nếu chuột phát triển bình thường, kết quả âm tính.
Trang 24+ Với chuột nhỏ, có thể kiểm tra mỗi chuột ở các ngày 5, 7, 9 và
11 sau khi gây bệnh.
+ Nhược điểm của phương pháp là tốn kém, nhưng có ưu điểm
sẽ thu được một lượng lớn virus để định typ và có thể thực hiện ở các phòng thí nghiệm thông thường.
- Nuôi cấy trên tế bào:
Người ta thường sử dụng các loại tế bào như CCL131 (tế bào não phôi Neuroblastoma cell line), tế bào BHK-21 Các tế bào được nuôi trong môi trường nuôi cấy tế bào Dulbecco's modified Eagle's medium (DMEM) bổ sung 5% huyết thanh bào thai bê (FCS - fetal calf serum) trong tủ ấm 36°C có 5% CO 2
-Virus dại đường phố có thể thích nghi ngay trên môi trường tế bào, cho kết quả sau 18 giờ, nhưng các phòng thí nghiệm thường nuôi cấy virus 48 - 96 giờ Sự
có mặt của virus trong môi trường nuôi cấy tế bào có thể khẳng định bằng FAT.
Đây là phương pháp chẩn đoán cho kết quả chính xác, không tốn kém như phương pháp tiêm chuột, cùng một lúc có thể tiến hành với nhiều mẫu 2.1.5.6 Phương pháp chẩn đoán khác
Ngoài ra, có thể sử dụng các phương pháp chẩn đoán như: ELISA gián tiếp (enzyme- linked immunosorbent assay), Viral genomic sequencing, RT - PCR (reverse transcriptase polymerase chain reaction), phản ứng trung hòa (virus neutralisation).
2.1.6 Phòng bệnh
2.1.6.1 Biện pháp đối với đàn chó
Về mặt dịch tễ học, cần phải chú ý đến nguồn bệnh, nguồn dự trữ mầm bệnh (reservoir) và cách lây truyền Trên cơ sở đó, loại bỏ những mắt xích liên quan đến nhau trong quá trình phát sinh của bệnh thì việc phòng chống mới có hiệu quả Tại một số nước Âu Mỹ, mầm bệnh dại có thể lưu trữ trong động vật hoang dã, trong khi ở nước ta chỉ xảy ra ở chó và động vật thuần hóa Như vậy, ở Việt Nam chó nuôi là nguồn dự trữ mầm bệnh.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng, trong mọi biện pháp phòng chống bệnh dại thì quản lý đàn chó là phương pháp hữu hiệu nhất Trong việc quản lý đàn chó thì các biện pháp sau đây có ý nghĩa hơn cả:
- Đăng ký nuôi chó, phạt hoặc giết chó thả rông
Trang 25- Tiêm phòng bắt buộc bệnh dại cho chó
- Giết chết những động vật mắc và nghi bệnh dại, bắt nhốt hoặc giết chó vô chủ Tại nơi có chó, mèo dại phải diệt hết đàn chó, mèo
đã tiếp xúc với con vật bị dại Nghiêm cấm bán chó, mèo nơi đang
có dịch dại sang nơi khác để hạn chế lây lan dịch.
- Các biện pháp như đeo rọ mõm, dây xích chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với các biện pháp trên và chỉ thực hiện ở thành thị.
2.1.6.2 Phòng bệnh bằng vacxin
Khi nói đến tiêm phòng bệnh dại cần chú ý phân biệt 2 khái niệm: tiêm phòng sau khi nhiễm và tiêm phòng trước khi nhiễm 2.1.6.2.1 Tiêm phòng sau khi nhiễm
Là tiêm vacxin sau khi động vật dại cắn Phương pháp này chỉ áp dụng cho người, ít hoặc bị cấm áp dụng cho động vật (cách sử dụng xem
cụ thể phần giới thiệu vacxin và bảng hướng dẫn xử lý khi bị cho cắn).
2.1.6.2.2 Tiêm phòng trước khi nhiễm
2.1.6.2.2.1 Tiêm phòng trước khi nhiễm cho người
Một số trường hợp người ta tiêm phòng vacxin dại cho người như: những người làm công tác thú y, những người làm trong các phòng thí nghiệm liên quan đến bệnh dại, cán bộ kiểm lâm, người hay săn bắn hoặc những khách du lịch đến những nơi tiềm tàng mầm bệnh
Lần đầu: tiêm 3 mũi vào các ngày 0, 7 và 30 Liều lượng tiêm: 1ml/lần Lần
2: 1 năm sau tiêm nhắc lại Liều lượng tiêm: 1ml/lần Sau đó cứ 3 năm tiêm nhắc lại một lần Liều lượng tiêm: 1ml/lần
+ Vacxin phòng dại chính là các virus dại cố định được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, sau đó bị bất hoạt Các loại vacxin phòng bệnh dại cho người gồm nhiều loại, sử dụng tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng quốc gia Vacxin Fuenzalida: được sản xuất từ việc nuôi cấy virus trên não chuột Trong quá trình chiết tách virus rất khó loại bỏ được tất cả các thành phần không cần thiết như protein và myelin của não chuột Chính các thành phần tồn
dư này, đặc biệt là lượng myelin (một thành phần chính của sợi thần kinh) tồn
dư , có thể gây tổn thương hệ thần kinh của người được tiêm phòng như: viêm não - màng não, viêm tủy - màng não, viêm tủy cắt ngang Những tổn
Trang 26thương này có thể xảy ra với tỷ lệ khoảng 1/8.000 - 1/27.000 trường hợp được tiêm vacxin này.
Người lớn tiêm 6 mũi cách 2 ngày tiêm một lần; Liều lượng: 0,2ml/lần; tiêm trong da Tiêm nhắc lại 2 mũi vào ngày 21 và 30 sau khi tiêm mũi thứ nhất.
Trẻ em < 15 tuổi: tiêm 6 mũi cách 2 ngày tiêm một lần; liều lượng 0,1ml/lần, tiêm trong da Tiêm nhắc lại 2 mũi vào ngày 21 và
30 sau mũi tiêm thứ nhất.
Trong 6 tháng nếu tiêm 2 lần, số lượng lần tiêm thứ 2 sẽ giảm 20 50% tùy theo vết cắn và thời gian bị cắn lần trước, do bác sỹ quyết định Vacxin được sản xuất từ việc nuôi cấy virus trên tế bào, ví dụ như vacxin Verorab của Pháp được sản xuất bằng cách nuôi cấy virus dại trên tế bào Vero;
-do đó sẽ không còn lượng myelin tồn dư và -do đó không gây ra các bệnh lý não sau khi tiêm phòng Người lớn tiêm 5 mũi vào các ngày 0, 3, 7, 14 và 28 sau khi
bị động vật dại cắn; liều lượng 1ml/lần vào cơ delta cánh tay.
Vacxin Vnukovo: nuôi cấy chủng virus dại Vnukovo - 32 trên môi trường tế bào thận chuột hamster Syrian (Syrian hamster kidney cell), sau 30 - 38 lần cấy chuyển vô hoạt virus bằng tia cực tím Liều lượng: 1ml vào các ngày 0, 3, 7, 14 , 30 và 90 sau khi bị động vật dại cắn Người lớn: tiêm vào trong cơ delta; trẻ em < 5 tuổi: tiêm bắp đùi trước Vacxin này tuyệt đối không được tiêm vào mông.
Trong những năm gần đây, WHO khuyến cáo các nước nên chuyển dần sang việc sử dụng vacxin phòng dại cấy trên tế bào, ngưng việc sử dụng vacxin fuenzalida Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, tại nước ta vẫn đang sử dụng cả 2 loại vacxin kể trên để người dân lựa chọn.
2.1.6.2.2.2 Tiêm phòng trước khi nhiễm cho động vật
Tiêm phòng trước khi nhiễm nhằm mục đích ngăn ngừa bệnh dại xảy ra ở động vật, nhất là cho chó.
+ Nếu không nắm vững tình hình dịch tễ thì đòi hỏi tiêm phòng bắt buộc trong cả nước Ngược lại, chỉ tiêm ở những vùng có bệnh dại lưu hành Khi các biện pháp quản lý đàn chó được thực hiện đầy
đủ thì việc tiêm phòng không còn mang tính chất bắt buộc nữa.
+ Vacxin dùng cho động vật bao gồm nhiều loại được sản xuất bằng cách
Trang 27giảm độc virus dại qua động vật, qua phôi hoặc qua tế bào nuôi cấy Vacxin Flury LEP (LEP = low egg passage): dùng chủng virus dại Flury cấy truyền 50 - 60 đời qua phôi gà, độc lực của virus giảm
đi Do vẫn còn độc nên chỉ sử dụng vacxin cho chó > 2 tháng tuổi, liều lượng 3 - 5 ml/con, miễn dịch 1 năm.
Vacxin Flury HEP (HEP = high egg passage): tiếp truyền virus dại chủng Flury liên tiếp 300 đời qua phôi gà Vacxin rất an toàn nên có thể sử dụng cho chó con, mèo mà không có phản ứng Liều tiêm cho chó: 3ml/con; mèo: 1 - 2 ml/con; đại gia súc: 5ml/con; Miễn dịch khoảng 1 năm.
Vacxin Rabisin (hãng Merial - Pháp): là vacxin vô hoạt dùng để phòng bệnh dại cho chó, mèo, ngựa, trâu bò, dê và cừu; có thể tiêm khi gia súc từ 4 tuần tuổi trở lên.
Vacxin được sản xuất trên môi trường tế bào, vô hoạt bằng betapropiolactone, bổ trợ aluminium hydroxide Tiêm dưới da hoặc tiêm bắp Liều lượng: 1ml/con.
2.1.6.3 Biện pháp xử lý đối với người khi bị chó cắn
Khi bị chó cắn, cần tẩy rửa vết thương ngay lập tức và kỹ lưỡng bằng xà phòng và thuốc sát trùng (ví dụ: cồn 70° và cồn iod 5%).
Nếu vết cắn, liếm rất nhẹ và xa thần kinh trung ương và tại thời điểm cắn người, con vật đó vẫn sống bình thường, hoàn toàn không
có biểu hiện nghi ngờ dại thì không cần tiêm phòng Tuy nhiên, phải theo dõi con vật 10 - 15 ngày Trong thời gian đó, nếu thấy con vật có biểu hiện không bình thường như: ốm, bỏ ăn, chết, mất tích, bán hoặc
mổ thịt thì phải đi tiêm phòng dại ngay Nếu sau 15 ngày kể từ khi cắn người mà con vật vẫn sống bình thường thì không cần tiêm phòng.
Phải đi tiêm phòng dại ngay trong các trường hợp sau:
- Con vật lên cơn dại hoặc nghi dại
- Vết cắn gần thần kinh trung ương như tủy sống, đầu, mặt, cổ, đầu chi, bộ phận sinh dục và nhiều vết cắn nguy hiểm.
- Không theo dõi được con vật.
Khi tiêm phòng bệnh dại cần lưu ý: vacxin phòng dại có thể gây một số phản ứng nhẹ tại chỗ tiêm như ngứa, tấy đỏ nhưng vài ngày sau sẽ hết Những
Trang 28người có cơ địa dị ứng, bệnh mạn tính hay nghiện rượu có thể bị sốt nhẹ, nhức đầu, buồn nôn, chóng mặt (thường xảy ra sau mũi tiêm thứ 3 trở đi).
Tuy nhiên, tỷ lệ người có những phản ứng phụ nói trên rất thấp, khoảng 1-2 phần vạn Khi có các triệu chứng nêu trên, bệnh nhân phải báo cho bác sĩ ở phòng tiêm để có biện pháp xử lý kịp thời 2.1.7 Điều trị
Gia súc bị dại không tiến hành chữa trị, cần tiêu diệt ngay (ở một số nước phương Tây cấm điều trị cho gia súc có triệu chứng thần kinh).
Người bị chó dại cắn cần tiêm kháng huyết thanh càng sớm càng tốt (trước 72 giờ sau khi bị cắn) Liều lượng tiêm: 40UI/kg TT.
- Tiêm vacxin phòng dại
- Người ta đã thống kê được rằng tỷ lệ tử vong trong bệnh dại tùy thuộc vào vị trí vết cắn: nếu cắn vùng đầu, cổ thì tỷ lệ tử vong là 10 - 60%; nhưng nếu cắn vùng chân, tay tỷ lệ tử vong chỉ khoảng 5%.
2.2 TÌNH HÌNH BỆNH DẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC CHÂU Á
Bệnh Dại thường lưu hành ở các nước thuộc khu vực Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ la tinh Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2001) hằng năm có khoảng 60.000 người chết vì bệnh Dại và gây tổn thất cho các nền kinh tế toàn cầu với chi phí ước tính là 8,6 tỷ đô la mỗi năm Cũng theo WHO, nếu không được điều trị dự phòng con số tử vong có thể lên tới 330.304 người mỗi năm Số ca tử vong tập trung ở các nước đang phát triển thuộc khu vực Châu Phi (44%), Châu Á (56%) Các nước có số ca tử vong do Dại cao ở Châu Á là Ấn Độ (20.000 người), Trung Quốc (3.300), Băng-la-đét (1.500), Nê-pan (200) Ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, 8/11 nước có lưu hành bệnh Dại (trừ Singapor, Malaysia và Brunei Darusalam) Từ năm
2004 đến nay bệnh Dại tại các nước Châu Á, Đông Nam Châu Á đang có chiều hướng tăng lên và có diễn biến phức tạp Ở các nước Châu Á mỗi năm
có khoảng 26 triệu người được điều trị sau phơi nhiễm, tính riêng Trung Quốc, con số người đi điều trị dự phòng là 15 triệu Trong khi đó tại các nước Châu Âu, số lượng người đi tiêm phòng Dại hàng năm chỉ trên 71.500 người Chủ yếu là các trường hợp tiêm vắc xin điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (Châu Á 99%, Châu Âu: 94%, Châu Phi: 91%).
Trang 29Bảng 2.1 Tình hình bệnh Dại trên người và động vật ở các nước Châu Á
Hình 2.1 Bản đồ phân bố các nước hay khu vực có nguy cơ
mắc bệnh Dại trên thế giới – WHO 2013
Trang 3017
Trang 312.3 TÌNH HÌNH BỆNH DẠI Ở VIỆT NAM
2.3.1 Tình hình bệnh Dại trên người
Ở Việt Nam bệnh, Dại đã lưu hành nhiều năm nay và được báo cáo từ những năm 1974 Công tác tiêm phòng Dại cho người sau khi bị động vật nghi Dại cắn cũng đã được tổ chức thực hiện ở các tuyến cơ
sở cấp tỉnh/thành phố, huyện/quận Tuy nhiên, những thiếu thông tin
về tình hình Dại những năm trước năm 1990 do công tác giám sát, thống kê, báo cáo chưa thực hiện thường xuyên (Bảng 2.2.).
Bảng 2.2 Số người tiêm vắc xin Dại và số ca tử vong do bệnh dại ở
Việt Nam từ năm 1991 – 2015
Trang 32so với số ca tử vong của các bệnh truyền nhiễm gây dịch ở Việt Nam:
- Trong các năm từ 1991-1995, tính trung bình mỗi năm có 400 người chết do bệnh Dại (cao gấp 8 lần số người chết do bệnh viêm não vi rút và gấp 4 lần so với số người chết do bệnh sốt xuất huyết Dengue) Tỉnh có số ca tử vong do Dại cao nhất là 131 ca/năm và trên 10 tỉnh/thành phố có từ 45-131 ca tử vong do Dại/năm.
- Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 92/TTg về tăng cường phòng chống bệnh Dại (PCBD), từ đó công tác PCBD được các cấp Chính quyền quan tâm hơn và hệ thống tiêm vắc xin Dại cho người bị chó cắn được tổ chức với quy mô rộng tới nhiều quận/huyện Đến đầu năm 2007
cả nước đã có 936 điểm tiêm phòng Dại cho người và tại các điểm tiêm đã có
sổ sách theo dõi, quản lý và báo cáo thường xuyên theo hệ thống Y tế Dự phòng Nhờ đó số ca tử vong do bệnh Dại đã giảm đi rõ rệt, đến năm 2003 cả nước chỉ còn có 34 người bị chết do bệnh Dại và tỉnh có số chết cao nhất là 5 người Như vậy, trong 12 năm từ 1996-2007, trung bình hàng năm có 107 ca
tử vong do Dại, giảm mỗi năm 293 ca so với thời kỳ 1991-1995 Tuy nhiên, số người chết do bệnh Dại vẫn còn cao hơn rất nhiều so với số chết của các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm khác ở Việt Nam.
- Giai đoạn 2011-2014, là giai đoạn triển khai thực hiện chương trình quốc gia khống chế bệnh Dại Trong giai đoạn này, số ca tử vong có giảm xuống với trung bình khoảng 95 ca tử vong/năm, với khoảng 380.000 người bị chó cắn phải đi tiêm mỗi năm.
Trang 3395 96 97 98 99 '00 '01 '02 '03 '04 '05 '06 '07 "08 '09 '10 '11 '12 '13 '14 15
Hình 2.2 Số trường hợp tử vong do Dại ở người theo khu vực ở
Việt Nam, giai đoạn 1995-2015
Nguồn: Bộ NN&PTNT và Bộ Y tế (2017)
Trong năm 2015, cả nước đã có 78 trường hợp người bị tử vong do bệnh Dại Báo cáo tình hình bệnh Dại những năm gần đây cho thấy bệnh Dại gây tử vong cho con người nhiều nhất ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ (Sơn La, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Lạng Sơn, Phú Thọ, Nghệ An, Cao Bằng, Hà Giang, Điện Biên, Tuyên Quang, Hoà Bình, Thái Nguyên, Quảng Nam, Vĩnh Phúc và Bình Phước) (Bộ Y tế, 2015).
50 47 44
45
40 35 30 25 20 15 10 5
0
Trang 34Hình 2.3 Tỉnh có số người tử vong vì bệnh Dại cao nhất ở Việt Nam
(2011– 2015) Nguồn: Bộ NN&PTNT và Bộ Y tế (2017)
20
Trang 35Kết quả theo dõi và giám sát bệnh Dại trên người trong các năm cho thấy, trong số người đến tiêm vắc xin Dại có 89,2% là do chó nhà cắn ; 8,7% do mèo cắn; 1,6% do tiếp xúc với chó và 0,5% là
do các con vật khác như chuột, khỉ cắn.
Hình 2.4 Số người đi tiêm vắc xin phòng Dại theo khu vực ở Việt Nam giai đoạn 1996-2015
Nguồn: Bộ NN&PTNT và Bộ Y tế (2017)
Chó Mèo Tiếp xúc Động vật khác
89.2%
Hình 2.5 Phân bố loại động vật cắn ở người đến tiêm vắc xin phòng
Dại ở Việt Nam Nguồn: Bộ NN&PTNT và Bộ Y tế (2017) Kết quả giám sát cho thấy, bệnh Dại có thể xảy ra quanh năm, bệnh thường tăng cao vào mùa
nắng nóng từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm Bệnh gặp
ở mọi lứa tuổi, nhưng nhiều nhất là ở trẻ em dưới 15 tuổi (chiếm trên 40%) và hầu hết các trường hợp chết do bệnh Dại đều không tiêm vắc xin và 98% số ca
Trang 36mắc bệnh này là do bị chó nhà cắn hoặc do tiếp xúc như chăm sóc chó
ốm, mổ chó Số còn lại là do mèo Dại cắn và cho đến nay chưa phát hiện được trường hợp tử vong nào do động vật hoang dã gây nên.
2.3.2 Tình hình bệnh Dại ở động vật
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, kết quả giám sát bệnh Dại
ở động vật từ năm 1991-1995 có 2.600 ổ dịch Dại ở động vật nuôi (chó, mèo), riêng năm 1996 có 587 ổ dịch Dại làm chết 16.800 gia súc, trong đó 97% là chó, 3% là mèo và các gia súc khác.
Bảng 2.3 Bệnh dại trên động vật ở Việt Nam giai đoạn 2008-2015
ra trên người Số tỉnh báo cáo có bệnh Dại trên động vật còn thấp hơn nhiều so với số tỉnh, huyện, xã có bệnh Dại xảy ra trên người.
Trong nhiều năm qua, tỷ lệ tiêm vắc xin Dại trên tổng đàn chó ước tính vẫn còn thấp (dưới 50%) Theo số liệu báo cáo của các tỉnh, thành phố, trong năm 2015, cả nước có trên 09 triệu con chó nuôi, tuy nhiên chỉ tiêm phòng Dại cho chó được 3,89 triệu con (chiếm tỷ lệ 42,9%) Cả nước chỉ có 17/63 tỉnh, thành phố tiêm phòng đạt trên 70% đàn chó nuôi, 10/63 tỉnh tiêm phòng đạt từ 50
- 69% đàn chó nuôi, còn lại 36 tỉnh là tiêm phòng đạt dưới 50% tổng đàn chó, cá biệt có 8 tỉnh tiêm phòng chỉ đạt dưới 10% tổng đàn chó.
Trang 37Hình 2.6 Bản đồ phân bố các tỉnh có bệnh Dại trên chó tại Việt Nam giai đoạn 2011-2014
Nguồn: Bộ NN&PTNT và Bộ Y tế (2017)
Trang 38Bảng 2.4 Tình hình tiêm phòng Dại trên chó của Việt Nam
Hình 2.7 Bản đồ phân bố chó nuôi và tỷ lệ tiêm phòng Dại cho
chó ở Việt Nam năm 2015
Nguồn: Bộ NN&PTNT và Bộ Y tế (2017)
Trang 392.4 CÔNG TÁC GIÁM SÁT VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH DẠI Ở VIỆT NAM
2.4.1 Kết quả đạt được
Chương trình quốc gia khống chế và loại trừ bệnh Dại ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ của Chính phủ và Chính quyền các cấp Bên cạnh Luật Bảo vệ sức khỏe Nhân dân, Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm, Luật Thú y, nhiều văn bản pháp luật, hướng dẫn cho phòng chống bệnh Dại đã được ban hành Chính phủ đã có chỉ thỉ 92/TTg/1996 về phòng chống bệnh Dại, Nghị định 05/2007/NĐ-TTg về phòng chống bệnh Dại trên động vật; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành thông tư 48/2009/TT-BNN&PTNT ngày 8/4/2009 về hướng dẫn các biện phápphòng chống bệnh Dại ở động vật; Bộ Y tế đã ban hành quyết định 1622/QĐ/BYT ngày 8/4/2014 về hướng dẫn giám sát, phòng chống bệnh Dại trên người; Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và PTNT đồng ban hành thông tư liên bộ
số 16/TTLT-BYT-BNN&PTNT27/05/2013 về hướng dẫn phối hợp trong phòng chống bệnh từ động vật truyền sang người Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thành lập Ban quản lý Chương trình phòng chống bệnh Dại quốc gia và đã có chương trình phòng chống bệnh Dại giai đoạn 2011-2015 của từng Bộ.
Nhiều chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về xử
lý vết chó cắn, báo cáo trường hợp bị động vật cắn đã được thực hiện ở nhiều tỉnh, đặc biệt các tỉnh có nguy cơ cao Hoạt động truyền thông hưởng ứng ngày thế giới phòng chống bệnh Dại được thực hiện suốt 8 năm qua kể từ năm đầu tiên khởi xướng sự kiện này trên thế giới Kết qủa là nhận thức đối với cộng đồng, ngành y tế và thú y về phòng chống bệnh Dại đã từng bước được nâng cao Hoạt động phòng chống bệnh Dại đã được triển khai ở nhiều địa phương theo mô hình “Xã hội hoá” nên đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ Mô hình tăng cường năng lực và phối hợp liên ngành trong phòng chống bệnh Dại
đã được triển khai thí điểm ở một số tỉnh Nhiều tỉnh trọng điểm đã và đang triển khai các hoạt động tuyên truyền nâng cao trách nhiệm chủ nuôi chó trong quản
lý đàn chó, mèo và tiêm phòng Dại thường xuyên cho đàn chó.
Ngành Y tế và Thú y đã thiết lập được hệ thống giám sát bệnh Dại trên người
và động vật từ Trung ương đến các tỉnh/thành phố và quận/huyện, thu thập và phân tích dữ liệu những trường hợp chó Dại, chó nghi Dại cắn người và các ca bệnh Dại
ở người Các cán bộ y tế và thú y đã được đào tạo và đào tạo liên tục về giám sát, và phòng chống bệnh Dại Chẩn đoán bệnh Dại phòng thí nghiệm đã và
Trang 40đang được thực hiện tại 3 đơn vị (Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Trung tâm chẩn đoán Thú y Trung ương, và Chi cục thú y TP.HCM).
Từ năm 2000, nước ta đã nhập vắc xin Dại tế bào Rabisin tiêm cho chó của Công ty Merial (của Pháp dạng thành phẩm để đóng gói tại Việt Nam) Đây là vắc xin an toàn và có hiệu quả cao nên đã có giá trị trong việc gây miễn dịch cho đàn chó tương đối tốt Việc tiêm phòng cho đàn chó nuôi được tiến hành hàng năm, được triển khai 2 đợt trong một năm, đợt 1 vào tháng 3-4 và đợt 2 tháng 9-10, với các hình thức tiêm phòng tập trung theo chiến dịch, tiêm cuốn chiếu hay đến tận hộ gia đình.
Hệ thống các điểm tiêm vắc xin phòng Dại cho người đã được xây dựng và triển khai ở các huyện của Việt Nam, về cơ bản đáp ứng được khả năng tiếp cận về địa lý và vác xin cho những người bị phơi nhiễm với động vật nghi Dại Tính đến thời điệm hiện tại đã có 634 điểm tiêm/713 huyện Một số huyện không có điểm tiêm
vì gần với điểm tiêm phòng của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Vắc xin phòng Dại cho người đã được thay thế bằng vắc xin tế bào an toàn và có hiệu quả bảo vệ cao từ tháng 9/2007 Về cơ bản, vắc xin và các chế phẩm sinh học có chất lượng cao dùng điều trị dự phòng cho người đã được cung cấp đủ cho công tác phòng chống dịch Đây là vắc xin trong tiêm chủng dịch vụ cho nên mọi chi phí người dân phải tự chi trả Từ năm 2011 đến nay đã có một số tỉnh hỗ trợ tiêm vắc xin miễn phí cho người nghèo Kết quả là năm 2015 đã giảm được 75% số người chết do bệnh Dại so với giai đoạn 1991- 1995 Tuy nhiên, đôi khi có xảy ra tình trạng thiếu vắc xin và huyết thanh kháng Dại do có khó khăn từ nguồn cung cấp.
Việt Nam là nước được các tổ chức quốc tế đánh giá cao về kết quả PCBD trong những năm qua ASEAN đã đề nghị Việt Nam là nước dẫn đầu, là đầu mối cho các hoạt động phòng chống bệnh Dại trong khu vực, và sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong việc thực hiện Chương trình khống chế và loại trừ bệnh Dại.
2.4.2 Những khó khăn, thách thức
Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu to lớn như đã nêu ở trên, hiện Việt Nam vẫn đang còn nhiều khó khăn, thách thức trong việc đạt mục tiêu hướng tới khống chế và loại trừ bệnh Dại vào năm 2020:
- Mặc dù nhiều văn bản đã được ban hành nhưng chính quyền ở nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản này Thiếu giám sát, kiểm tra việc thực hiện các văn bản pháp quy (như Nghị định 05/NĐ-CP, thông tư 48/TT-BNN&PTNT về phòng chống bệnh Dại).